1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của phương thức tự sự trong truyện cổ dân gian việt nam đối với truyện kiều

44 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 703,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đáng tự hào và trân quí đó là Truyện Kiều đã du nhập vào đời sống giáo dục qua việc tác phẩm này được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông cũng như xuất hiện trong hệ thống chươ

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 4

I PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ TRONG TRUYỆN CỔ DÂN GIAN VIỆT NAM 4

1 Phương thức tự sự 4

1.1 Khái niệm 4

1.2 Đặc điểm 4

2 Phương thức tự sự trong truyện kể dân gian 5

2.1 Phương thức tự sự trong tác phẩm văn học nói chung 5

2.2 Phương thức tự sự trong truyện kể dân gian 6

II ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ TRONG TRUYỆN CỔ DÂN GIAN VIỆT NAM ĐỐI VỚI TRUYỆN KIỀU 8

1 Yếu tố tâm linh trong Truyện Kiều 8

1.1 Khái niệm tâm linh 8

1.2 Yếu tố tâm linh trong Truyện Kiều 9

1.2.1 Lễ hội 9

1.2.2 Hồn ma 11

1.2.3 Giấc mộng (chiêm bao) 14

1.2.4 Bói toán 18

2 Cách ứng xử trong Truyện Kiều 21

2.1 Văn hóa ứng xử trong quan hệ gia đình từ tư tưởng Nho giáo 21

2.1.1 Quan hệ cha con theo đạo hiếu 21

2.1.2 Quan hệ vợ chồng với Thúc Sinh và Từ Hải 23

2.2 Văn hóa ứng xử trong quan hệ gia đình từ đạo lí dân tộc 26

2.2.1 Tình cảm con cái - cha mẹ 26

2.2.2 Tình cảm chị em 27

3 Quan hệ xã hội trong Truyện Kiều 29

3.1 Quan hệ xã hội từ đạo lý dân tộc 29

Trang 2

3.2 Quan hệ xã hội từ tư tưởng Nho giáo 35

3.3 Quan hệ xã hội giữa quan và dân 37

PHẦN KẾT LUẬN 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du được xem là một thành tựu đỉnh cao của nền văn học dân tộc Trước niềm tự hào khôn xiết ấy, nhân lễ kỉ niệm ngày

mất của Tố Như vào năm 1924, trong tác phẩm Diễn thuyết về quốc văn, nhà văn

Phạm Quỳnh đã say sưa bộc bạch tình yêu của mình đối với kiệt phẩm ấy Nhà văn

xem Truyện Kiều là một kho tàng quí báu đã làm vẻ vang cho cả giống nòi: “Hiện nay suốt quốc dân ta, từ trên hàng thượng lưu học thức, dưới đến kẻ lam lũ làm ăn, bất cứ già, trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà, ai ai cũng biết Truyện Kiều, ai ai cũng kể Truyện Kiều, ai ai cũng ngâm Truyện Kiều” Với những giá trị to ấy, ngay từ khi ra

đời, Truyện Kiều đã được tiếp cận theo nhiều chiều hướng khác nhau Các nhà nghiên cứu đã thẩm định, phê bình, khảo cứu, nghiên cứu Truyện Kiều dưới góc độ thi pháp học, loại hình học, tiếp nhận văn học, so sánh văn học, Từ đó cho thấy tác phẩm của đại thi hào Nguyễn Du đã có một vị trí vững chãi trong lòng bao thế

hệ, nhận được biết bao sự ngưỡng mộ, quan tâm, khám phá của giới văn nghệ sĩ cũng như những nhà nghiên cứu khoa học văn chương

Điều đáng tự hào và trân quí đó là Truyện Kiều đã du nhập vào đời sống giáo dục qua việc tác phẩm này được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông cũng như xuất hiện trong hệ thống chương trình, các học phần của bậc cao đẳng, đại học Chúng tôi nhận thấy về số lượng thì các đoạn trích của tác phẩm được bình giảng ở trường phổ thông nhiều hơn cả so với các tác phẩm khác Chẳng hạn

ở bậc trung học cơ sở có đoạn trích Chị em Thúy Kiều, Cảnh ngày xuân, Kiều ở lầu Ngưng Bích, Thúy Kiều báo ân báo oán Lên tới bậc trung học phổ thông thì

đó là đoạn trích Trao duyên, Chí khí anh hùng, thậm chí ngay cả các văn bản đọc thêm như Nỗi thương mình, Thề nguyền Chúng tôi thực hiện thao tác tìm hiểu,

so sánh và nhận thấy trong sách giáo viên tại các trường phổ thông, định hướng của Bộ giáo dục và đào tạo từ trước tới nay trong việc giảng dạy Truyện Kiều vẫn thiên về bình giảng vẻ đẹp của ngôn từ, nghệ thuật khắc họa tính cách, nội tâm

Trang 4

nhân vật, như vậy chủ yếu gắn với bối cảnh xã hội của một thời kì trung đại Chúng tôi từ đó trăn trở một phần về hiện thực này, thiết nghĩ vấn đề nảy sinh và đáng suy ngẫm từ việc giảng dạy, tiếp cận Truyện Kiều và thậm chí từ thực tế quan sát, theo dõi, thực hiện công tác chấm trả bài viết cho học sinh trong các kì thi mang tính chất toàn quốc hay trong kì thi học sinh giỏi cấp quốc gia bộ môn Ngữ

Văn các cấp, chúng tôi băn khoăn: “Góc độ, phương pháp tiếp cận Truyện Kiều như thế nào để phù hợp và trọn vẹn với tư tưởng của nhà thơ và thể hiện sự am hiểu hết tinh túy của nền văn hóa dân tộc được phản ánh qua Truyện Kiều” Ngày

nay, việc dạy học tác phẩm chưa thật sự đi vào sâu nguồn cội, gốc rễ, khai thác các yếu tố kế thừa của một nền văn học trước đó trở nên phổ biến trong học đường Thiết nghĩ đây là một điểm khuyết, chưa được tròn đầy của người cầm phấn, những nhà sư phạm Ở đây, chúng tôi muốn nhắc đến folklore, văn học dân gian

Chính đại thi hào Nguyễn Du đã từng khẳng định “Thôn ca sơ học tang ma ngữ”

Có nghĩa là chúng ta phải học tập ngôn ngữ từ những người nông dân trồng dâu, trồng gai giản dị, chân chất quê mùa Bởi ông nhận thức được rằng chính nhà thơ cũng phải kế thừa từ kho tàng văn học dân gian, những yếu tố từ dân gian như một dòng suối mát lạnh chảy trôi vô tận trong khí huyết nhà thơ và tạo nên thi hứng cho Truyện Kiều Thật vậy, điểm xuyến qua từng câu, từng chữ trong Truyện Kiều, chúng tôi nhận ra biết bao môi trường văn hóa, tín ngưỡng gắn với những phong tục tập quán của cha ông ngày trước, mọi cái hay, cái đẹp, cái tinh túy của nền văn học trước thời kì trung đại được Tố Như vận dụng rất nhuần nhuyễn, sáng tạo làm nên một vẻ đẹp rất riêng cho Truyện Kiều Như vậy, thử hình dung xem nếu chúng

ta bỏ qua việc tìm hiểu sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với Truyện Kiều và nhận thức sai lầm rằng toàn bộ vốn liếng ngôn từ ấy là sự sở hữu của đại thi hào Nguyễn Du thì có lẽ chúng ta hoàn toàn chưa hiểu cái qui luật kế thừa, phát huy truyền thống của từng giai đoạn văn học và một cách vô hình trung cách hiểu của chúng ta về tính cao nhã của tác phẩm cũng còn nhiều trúc trắc Việc dạy học một

Trang 5

tác phẩm có tầm vóc lớn lao như vậy tại trường phổ thông liệu có thực sự đúng với tinh thần của văn hóa, văn học dân tộc?

Từ cơ sở lí luận và từ những thực trạng trên, chúng tôi - những người thầy với những kinh nghiệm nhỏ bé trong giảng dạy và trong suốt quá trình học tập muốn hi vọng đem đến một nhận thức đầy đủ hơn về cách tiếp cận có chiều sâu Truyện Kiều của Nguyễn Du đặt trong mối tương quan giữa văn học dân gian và văn học trung đại Để từ đó, với các thao tác đối chiếu, so sánh giúp nhận ra những giá trị truyền thống được gìn giữ, cũng những cách tân sáng tạo, mới mẻ của Nguyễn Du Một lần nữa khẳng định trình độ ngôn từ đạt đến toàn bích, bậc thầy

của nhà thơ trong nền thi ca trung đại Với đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của phương thức tự sự trong truyện cổ dân gian đối với Truyện Kiều” với ước

nguyện được góp thêm những tri thức quí giá trên cơ sở học tập, kế thừa những kinh nghiệm của các bậc tiền nhân đi trước để việc tiếp cận, học tập, giảng dạy Truyện Kiều sẽ có sự khởi sắc hơn nữa Chúng tôi mong sẽ khơi dậy, hồi sinh lại những đam mê tâm huyết cho những người lái đò sư phạm cũng như phục sinh lại ngọn lửa yêu văn chương cho bao thế hệ học trò

Trang 6

- Nhân vật: Nhân vật trong văn tự sự là kẻ thực hiện các sự việc và là kẻ

được thể hiện trong văn bản Nhân vật chính đóng vai trò chủ yếu trong việc thể hiện tư tưởng của văn bản, nhân vật phụ chỉ giúp nhân vật chính hoạt động Nhân

vật được thể hiện qua các mặt: tên gọi, lai lịch, tính nết, hình dáng, việc làm,…

- Sự việc: Sự việc trong văn tự sự được trình bày một cách cụ thể: sự việc

xảy ra trong thời gian, địa điểm cụ thể, do nhân vật cụ thể thực hiện, có nguyên nhân, diễn biến, kết quả,… Sự việc trong văn tự sự được sắp xếp theo một trật tự,

diễn biến sao cho thể hiện được tư tưởng mà người kể muốn biểu đạt

- Chủ đề: Mỗi câu chuyện đều mang một ý nghĩa xã hội nhất định Ý nghĩa

đó được toát lên từ những sự việc, cốt truyện Mỗi văn bản tự sự thường có một

chủ đề; cũng có văn bản có nhiều chủ đề, trong đó có một chủ đề chính

- Lời văn tự sự: Chủ yếu là kể người, kể việc Khi kể người thì có thể giới

thiệu tên, lai lịch, tính tình, tài năng, ý nghĩa của nhân vật Khi kể việc thì kể các hành động, việc làm, kết quả và sự đổi thay do các hành động ấy đem lại Đoạn

trong văn tự sự thường là đoạn diễn dịch

- Thứ tự kể: Khi kể chuyện, có thể kể các sự việc liên tiếp nhau theo thứ tự

tự nhiên, việc gì xảy ra trước kể trước, việc gì xảy ra sau kể sau, cho đến hết Nhưng để gây bất ngờ, gây chú ý, hoặc thể hiện tình cảm nhân vật, người ta có thể đem kết quả hoặc sự việc hiện tại kể ra trước, sau đó mới dùng cách kể bổ sung

hoặc để nhân vật nhớ lại mà kể tiếp các việc đã xảy ra trước đó

Trang 7

- Ngôi kể: Người đứng ra kể chuyện có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức

khác nhau, với những ngôi kể khác nhau Ngôi kể trong văn tự sự có thể là ngôi thứ nhất, bộc lộ được những tâm tư tình cảm, suy nghĩ trực tiếp của nhân vật một cách sâu sắc; có thể được kể theo ngôi thứ ba, thể hiện được sự khách quan với câu chuyện được kể, phạm vi câu chuyện được kể trong không gian lớn hơn và có thể

cùng lúc Người kể giấu mình nhưng lại có mặt khắp nơi trong văn bản

Người kể chuyện có vai trò dẫn dắt người đọc đi vào câu chuyện, như giới thiệu nhân vật tình huống, tả người, tả cảnh, đưa ra các nhận xét, đánh giá hay bộc

lộ thái độ, cảm xúc trước những điều được kể

Mỗi ngôi kể đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, nên cần lựa chọn

ngôi kể cho phù hợp và có thể chuyển đổi ngôi kể trong câu chuyện

2 Phương thức tự sự trong truyện kể dân gian

2.1 Phương thức tự sự trong tác phẩm văn học nói chung

Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những sự khác biệt giữa hai phương thức tự sự và trữ tình trong văn học dân gian nói riêng và văn học nói chung Người đầu tiên phải kể đến là nhà triết học nổi tiếng Arixtot Theo Arixtot có ba phương thức mô phỏng hiện thực Đó là kể về một cái gì đó tách biệt với mình; người mô phỏng nói về mình mà không thay đổi ngôi xưng; hoặc là trình bày tất cả các nhân vật trong hành động Tên gọi lần lượt của ba dạng trên là: tự sự, trữ tình, kịch

Như vậy, ở dạng ban đầu, tự sự chỉ được coi là phương thức mô phỏng hiện thực Cho đến sau này, trong quá trình phân loại văn học, các nhà nghiên cứu mới

dựa vào ba phương thức trên để phân thành 3 loại hình văn học Lúc này, tự sự mới

xuất hiện là một loại hình Cũng trong cách phân loại đó, theo Belinxki: Tự sự bao gồm toàn bộ những tác phẩm biểu hiện đời sống thong qua miêu tả sự kiện Đặc

trưng quan trọng nhất, nổi bật nhất của tự sự chính là tính khách quan Cũng theo Belinxki,trong mối quan hệ với những loại hình còn lại, nếu tác phẩm trữ tình ưa

Trang 8

nói tới cái chủ quan, kịch là sự dung hợp giữa tự sự và trữ tình, thì đối tượng mà tự

sự hướng tới chính là tính khách quan của thế giới

Trong “Từ điển thuật ngữ văn học” các tác giả đã nhấn mạnh rằng: “Nếu

tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong cảm nhận chủ quan của nó thì tác phẩm tự sự tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó Tác phẩm tự

sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc sống con người Trong tác phẩm

tự sự, nhà văn cũng thể hiện tư tưởng tình cảm của mình Nhưng ở đây tư tưởng và tình cảm của nhân vật thâm nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động bên ngoài của con người tới mức giữa chúng dường như không có sự phân biệt nào cả”

Vậy yếu tố cơ bản trong phương thức tự sự là nhà văn kể lại, tả lại những gì bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới tạo hình đang tự phát triển

2.2 Phương thức tự sự trong truyện kể dân gian

Những sáng tác văn học dân gian sử dụng phương thức tái hiện, phản ánh đời sống thông qua những cốt truyện và nhân vật cụ thể sẽ là các sáng tác tự sự dân gian mà các nhà nghiên cứu gọi đó là loại hình tự sự dân gian Trong các loại hình,

tự sự dân gian là bộ phận có nhiều thể loại nhất, bao gồm: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện thơ

Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân được viết bằng thể tiểu thuyết chương hồi, đến Nguyễn Du, đại thi hào đã chuyển thể thành thể loại truyện thơ Nôm (một thể loại thuộc văn học dân gian)

Truyện Nôm là một bộ phận văn học độc đáo và thể hiện nét thẫm mỹ độc đáo của văn học phong kiến Việt Nam Đây là một loại hình tự sự có khả năng phản ánh hiện thực với một phạm vi tương đối rộng và cũng là một di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc ta

Trang 9

Giá trị của truyện Nôm được khẳng định qua sức mạnh trường tồn của nó và

sự hâm mộ của quần chúng nhân dân lao động nhiều thế hệ Ra đời và tồn tại với hình thái đầu tiên là truyện Nôm truyền khẩu, về sau các nhà Nho bình dân và bác học đã dựa trên cơ sở cốt truyện đã có ghi chép, tái tạo lại, vì thế truyện Nôm viết bắt đầu xuất hiện và sống mãi trong dân gian cho đến tận hôm nay Có rất nhiều

truyện thơ Nôm nổi tiếng như: Phạm Công – Cúc Hoa, Phạm Tải – Ngọc Hoa, Sơ kính tân trang, Tiễn dặn người yêu, Thoại Khanh Châu Tuấn,…

Kế thừa những yếu tố tự sự trong văn học dân gian, đại thi hào Nguyễn Du với tài năng của mình đã đưa thể loại truyện thơ Nôm phát triển đến đỉnh cao Nhìn bề ngoài, tưởng như đó là sự trần thuật khách quan, nhưng đằng sau đó

là tấm lòng xót thương, đau đớn, dõi theo của thi nhân dành cho nàng Kiều Ông

không chỉ miêu tả “con người khuôn mẫu”, “con người lí tưởng” mà miêu tả con người trong những “tình huống cụ thể” và ứng xử với tất cả những gì nó có,… Căn bản, đại thi hào đã tôn trọng sự thật khách quan, không nhào nặn “Kiều để làm rạng danh cho một đạo đức nào”, Kiều cũng có những lúc sai lầm, yếu đuối, thậm chí là tham “Lễ nhiều nói ngọt nghe lời dễ xiêu” Hay cũng có lúc tiếc nuối “Nhị đào thà bẻ cho người tình chung”, có chỗ không dứt khoát “duyên này thì giữ vật này của chung” khi “cậy” em thay mình gá nghĩa cùng Kim Trọng

Là tự sự, nhưng là một trình độ tự sự đỉnh cao, tự sự rất khách quan nhưng ta cảm nhận được nỗi đau của Nguyễn Du trong từng câu chữ:

Tiếc thay một đóa trà mi, Con ong đã tỏ đường đi lối về

Một cơn mưa gió nặng nề, Thương gì đến ngọc tiếc gì đến hương

Đêm xuân một giấc mơ màng, Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ

Trang 10

Nhà thơ kể lại, tả lại những gì bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới tạo hình đang tự phát triển, tồn tại ngoài nhà thơ, không phụ thuộc vào tình cảm của nhà thơ

II ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ TRONG TRUYỆN CỔ DÂN GIAN VIỆT NAM ĐỐI VỚI TRUYỆN KIỀU

1 Yếu tố tâm linh trong Truyện Kiều

1.1 Khái niệm tâm linh

Tâm linh gồm chữ tâm và chữ linh tạo nên Tâm là lòng, tấm lòng, thuộc về thế giới bên trong Linh có rất nhiều nét nghĩa như: linh trong linh hoạt, nhạy bén; linh trong thần linh; người chết cũng được gọi là linh; linh còn dùng để nói đến những ứng nghiệm, bói toán

Hoàng Phê cũng cho rằng tâm linh là “tâm hồn, tinh thần” hoặc là “khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm”

Vậy tâm linh là niềm tin của con người vào sự linh thiêng Một trong những xác định súc tích và khá chuẩn về tâm linh phải kể đến, là khái niệm tâm

linh của Nguyễn Đăng Duy: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm”

Tâm linh là một biểu hiện trong đời sống tinh thần của con người với tất cả

sự phong phú và phức tạp của nó Do đó không nên đơn giản hóa cho rằng tâm linh

là mê tín dị đoan, cũng không nên thần bí hóa, tuyệt đối hóa khái niệm tâm linh, gán cho nó những đặc tính cao siêu phi thường, coi đó là cứu cánh của nhân loại Tâm linh là phương diện quan trọng, rất cần thiết cho đời sống tinh thần của nhân loại Ở đó, con người tin vào tín ngưỡng, tôn giáo và có cả niềm tin về chính cuộc sống trần thế này

Trang 11

Ra đời và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, qua các thế hệ, các yếu tố tâm linh được gìn giữ và phát huy lên một tầm cao mới, nó không chỉ là một

bộ phận thiết yếu của cuộc sống mà còn góp phần làm thăng hoa đời sống tinh thần của người dân Việt Bởi nhu cầu tâm linh là nhu cầu chính đáng, không thể thiếu của con người Thể hiện niềm tin thiêng liêng của con người vào thế giới thiêng, niềm tin vào cái đẹp, cái cao cả trong cuộc sống đời thường Tuy rằng ngày nay, một số biểu hiện tâm linh được xem là hành động mê tín dị đoan, duy tâm, siêu hình nhưng xét cho cùng, nó sẽ rất cần thiết khi muốn đi sâu, khám phá hết những chiều kích phong phú của đời sống tâm linh con người Nói như vậy để thấy rằng, trong dòng chảy văn học Việt Nam, yếu tố tâm linh được thể hiện trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du thực sự giữ một vai trò quan trọng trong việc lưu giữ những giá trị truyền thống của dân tộc bên cạnh việc đi sâu vào nội tâm sâu thẳm

của con người thời trung đại

1.2 Yếu tố tâm linh trong Truyện Kiều

Mỗi một tác phẩm văn học đều mang trong nó tính văn hóa đặc trưng của dân tộc Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng như thế Mặc dù dựa trên tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng cơ sở nền tảng cho Truyện Kiều là tín ngưỡng truyền thống văn hóa Việt chứ không phải văn hóa Trung Quốc Tất nhiên truyền thống văn hóa của hai nước có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt Một trong những điểm khác biệt ấy phải kể đến thế giới tâm linh Thế giới tâm linh hiện lên rõ rệt trong Truyện Kiều, ở đó không chỉ có không khí lễ hội mà còn có trời, phật, thánh thần, hồn ma, nghĩa địa, không chỉ có chiêm bao (mộng mị) mà còn có bói toán, thề nguyền,…

1.2.1 Lễ hội

Tiết thanh minh và hội đạp thanh:

Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh

Trang 12

Theo lịch cổ truyền Trung Quốc, tiết thanh minh là một trong hai mươi bốn tiết trong năm, vào khoảng tháng ba âm lịch Ở nước ta, tiết thanh minh đã trở thành nét đẹp của truyền thống văn hóa Vì tảo mộ là hành vi tôn kính thiêng liêng gắn với tục thờ cúng tổ tiên

Nước ta có truyền thống đi viếng mộ vào tiết thanh minh Thời gian này tiết trời trong xanh, quang đãng, mát mẻ, mọi người ra nghĩa trang thăm viếng mộ phần của gia đình, quét dọn sửa sang mộ phần cho sạch sẽ Người đi viếng mộ còn phát quang và đắp thêm đất vào mộ Sau đó người ta thường sắm một lễ nhỏ gồm: hương, đèn, trầu cau, tiền vàng, rượu thịt, hoa quả rồi thắp hương khấn vái, đốt vàng bạc cho ông bà tổ tiên, người thân quá cố

Khi tảo mộ, những ngôi mộ có chủ thường được sửa sang, thường xuyên được hương khói, vong hồn người quá cố luôn được ấm áp, gần gũi với dương gian Còn những ngôi mộ vô chủ thì hương khói tàn lạnh, cỏ hoang mọc rậm, nấm đất thấp dần và có thể mất đi,… và có lẽ những người nằm dưới mộ rất buồn tủi, cô đơn Với tinh thần nhân ái, đoàn kết, người Việt mỗi khi viếng mộ, nếu phát hiện

mộ hoang, không chủ cũng động lòng từ tâm, cắm một nén hương cầu mong linh hồn người nằm trong mộ đỡ lạnh lẽo, bơ vơ

Sau buổi tảo mộ, con người thường ra về với một trạng thái bâng khuâng thơ

thẩn Lúc này, Kiều phát hiện ra nấm mồ hoang, nói đúng hơn là “nấm đất”, “sè sè” bên đường, nàng thảng thốt kêu lên:

Rằng nay: trong tiết Thanh minh

Mà sao hương khói vắng tanh thế này?

Không như Vương Quan và Thúy Vân, khi thấy nấm mồ vô chủ lạnh lẽo, bơ

vơ, Kiều đã động lòng thương cảm Biết được người dưới mộ “nổi danh một thời”

tên Đạm Tiên ra đi trong sự lãng quên của người đời, càng khiến nàng xót xa

Đã không kẻ đoái người hoài Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương

Trang 13

Gọi là gặp gỡ giữa đường, Họa là người dưới suối vàng biết cho

Phải chăng Kiều hay chính Nguyễn Du đang vấn vương, chia sẻ niềm cảm thông đối với người bạc mệnh? Hành động của Thúy Kiều thể hiện tình cảm và thái độ trân trọng của người còn sống đối với người đã mất Điều này thể hiện được đặc trưng văn hóa của người Việt: sống và đối xử với nhau rất tình cảm, nhất

là đối với người đã mất Dù cho khi còn sống, họ là người thân hay sơ, độc ác hay hiền lành, đã gây nhiều tội lỗi hay gieo nhân tích đức thì lúc chết, họ vẫn được người sống tôn kính…

Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân Dập dìu tài tử giai nhân Ngựa xe như nước áo quần như nêm

Hội đạp thanh (dẫm lên cỏ mới) là dịp để con người hiện tại thể hiện những khát khao và hoài vọng trước cuộc đời Hội cuốn hút tất cả mọi người, nô nức tìm đến, trang phục lộng lẫy, đông đúc, chen chúc Đây còn là dịp nam thanh nữ tú, tài

tử giai nhân trò chuyện kết bạn với nhau Và trong hội đạp thanh ấy, Thúy Kiều đã gặp Kim Trọng Nguyễn Du đã sắp xếp cho Kiều tiếp xúc với mộ của Đạm Tiên rồi mới gặp Kim Trọng Cái buổi gặp gỡ ấy rất tình cờ Vì tình cờ nên luyến lưu, xao xuyến Buổi hội ngộ tình cờ mà đẹp đẽ, nên thơ giữa Thúy Kiều và Kim Trọng nhân tiết thanh minh như thế đã mở đầu cho một trong những mối tình đẹp nhất trong lịch sử văn học Việt Nam

Người Việt Nam có quan niệm: lễ trước hội sau Đến với phần lễ, con người dường như tuân theo các lễ tục thiêng liêng, làm tròn bổn phận của mình một cách

tự nguyện, thấm đẫm tình yêu thương và hơn hết là làm sống dậy mối giao cảm thiêng liêng với thế giới vô hình

1.2.2 Hồn ma

Trang 14

Tuy không phải là đấng tối cao có quyền lực vạn năng nhưng hồn ma cũng

có sức mạnh vô hình ghê gớm mà “người trần mắt thịt” như chúng ta không thể

lường biết được Đâu đó vẫn còn tồn tại hiện tượng linh hồn người chết nhập vào thân xác của người sống để gây bệnh tật, chết chóc hoặc linh hồn người đã khuất

có thể cư trú ở bất kì nơi nào đó để gây phiền nhiễu cho con người Hiện tượng này

dù có hay không có thật thì chí ít vẫn cho chúng ta thấy được người xưa hay người nay đều có niềm tin vào linh hồn người quá cố Cũng với niềm tin thiêng liêng về linh hồn sau khi chết vẫn còn tồn tại nên trong tâm thức người Việt cho rằng không phải lúc nào hồn người chết cũng chỉ biết gieo họa cho con người và ngược lại Tùy vào căn cơ, sự thành tâm thành ý của người sống, linh hồn người quá cố tìm cách báo mộng tin lành hay tin dữ, điềm xấu hay điềm tốt để họ có cách ứng xử trong cuộc sống

Trong Truyện Kiều, hồn ma không xuất hiện nhiều nhưng hình ảnh hồn ma Đạm Tiên là điểm nhấn để lại dư âm trong lòng người đọc Có ý kiến cho rằng hồn

ma của Đạm Tiên làm bước đệm cho Thúy Kiều lên ngôi vì ranh giới giữa thực và

ảo là quá nhỏ Bóng ma Đạm Tiên xuất hiện với tư cách là người đồng đẳng ngang hàng với Thúy Kiều, là hai chị em song sinh về mặt tâm linh Đạm Tiên là cái bóng của Thúy Kiều Chính nhân vật này làm nên cái tài tình mà Nguyễn Du xây dựng

để chia sẻ đời sống tâm linh, đời sống tinh thần và cả đời sống thực đọa đày của Kiều Nỗi đau của Kiều, của Đạm Tiên sẽ không còn là nỗi đau của một con người

cụ thể nữa mà được nâng lên thành “nỗi đau truyền kiếp” của thân phận người phụ

nữ tài sắc, tài tình trong xã hội phong kiến xưa Do đó, nếu không có hồn ma Đạm Tiên thì độ dày và độ sâu của hiện thực sẽ phần nào mất đi Từ đó, Nguyễn Du đã khái quát lên triết lí nhân sinh sâu sắc:

Đau đớn thay phận đàn bà Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu

Trang 15

Với hình ảnh hồn ma Đạm Tiên, thế giới nhân vật trong Truyện Kiều không chỉ là thế giới hiện hữu mà còn là thế giới do con người tưởng tượng ra – thế giới của những người đã khuất Từ đó, Truyện Kiều đã phần nào phản ánh được niềm tin tâm linh trong đời sống tinh thần của người xưa, một phương diện văn hóa tinh thần của con người Việt Nam

Hồn ma Đạm Tiên đã theo sát cuộc đời của nhân vật Thúy Kiều, hiển linh báo mộng cho nàng biết trước cuộc hành trình mười lăm năm lưu lạc, chìm nổi Người đọc có cảm giác như lạc vào không khí lung linh huyền ảo nửa thực nửa hư,

nửa như linh thiêng, nửa như ma quái của buổi chiều ngày thanh minh “ào ào đổ lộc rung cây” đến hình ảnh hồn ma Đạm Tiên hiển linh khi Kiều khấn vái và ba

lần trong giấc mộng

Lần đầu, bắt đầu đến để trước bạ tên nàng vào sổ đoạn trường:

Âu đành quá kiếp nhân duyên, Cũng người một hội một thuyền đâu xa

Lần thứ hai, đến để ngăn không cho nàng chết, bắt nàng phải sống mà trả hết tiền căn nghiệp báo:

Kĩ rằng: nhân quả dở dang,

Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao

Và lần thứ ba, đến để giữ sổ cho nàng:

Đoạn trường sổ rút tên ra, Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau

Sự xuất hiện của Đạm Tiên đã khiến Kiều mang theo một ám ảnh tâm linh sâu sắc về Đạm Tiên như là một sự đồng dạng đáng sợ Nó buộc Kiều phải tin vào

những điều mù mờ huyễn hoặc trong tương lai, phải làm theo như “ma đưa lối quỷ dẫn đường” chịu cảnh sống đọa thác đày Nỗi lo âu và sự ám ảnh hiển hiện trong

Kiều hoàn toàn không phải là niềm tin vào trời, số trời, mệnh trời mà thực sự thức dậy của tâm thức cộng đồng trước hồn ma Đạm Tiên

Trang 16

Người ta cho rằng linh hồn là sự nhận thức thế giới sơ khai, khoa học không chấp nhận nhưng rõ ràng tâm linh vẫn thừa nhận nó, với niềm tin vào sức mạnh của một quyền lực không được biết tới nhưng vẫn tồn tại trong thế giới chúng ta Hồn ma Đạm Tiên thực chất là chứng nhân cho lối tư duy bi quan yếm thế của Tố Như Kiều tin vào hồn ma Đạm Tiên nhưng không mù quáng nhắm mắt làm theo Kiều đã nhiều lần chống đối những chỉ bảo của Đạm Tiên Đầu tiên, Kiều không chỉ vượt qua bức tường thành kiên cố của phong kiến Nho giáo mà nàng còn vượt qua nỗi ám ảnh của bóng ma Đạm Tiên để toàn tâm, toàn ý, toàn hồn đến với Kim

Trọng “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” Tiếp theo đó là hàng loạt hành

động Kiều chống trả thế lực hữu hình mà thực chất là có thế lực vô hình đứng đằng sau điều khiển Ác nghiệt thay, Kiều càng vẫy vùng vượt thoát nỗi ám ảnh ghê gớm thì càng bị nhấn vào vòng xoáy của dòng sông định mệnh sâu hơn

Bởi tin có linh hồn, nên khi trao duyên cho Thúy Vân, Kiều tức tưởi coi mình là người đã chết, chết oan Mà chết oan thì không siêu thoát được

Có thể nói rằng hồn ma Đạm Tiên không chỉ xuất hiện bốn lần mà xem xét trong toàn truyện, Nguyễn Du đã dành tới 230 câu thơ để tả sự liên kết giữa Kiều

và hồn ma Đạm Tiên: Kiều gặp mộ Đạm Tiên (câu 51-116), Đạm Tiên hiện về (117-134), Kiều thương cho số phận Đạm Tiên (171-184), Kiều mơ gặp Đạm Tiên

và buồn cho số phận mình (185-242), Kiều tự tử, Đạm Tiên báo mộng (985-1004), Kiều tự tử được cứu, Đạm Tiên báo mộng (2695-2738)

1.2.3 Giấc mộng (chiêm bao)

Nói nôm na, mộng đối lập với thực Mộng được gọi bằng nhiều tên khác nhau: chiêm bao, chiêm mộng, mộng mị, giấc mộng, nhưng tựu chung cũng chỉ

nói đến những gì con người nhận được từ thế giới ảo mộng

Mộng là đỉnh điểm của nhớ thương, mong ngóng và cả trăn trở, suy tư, những gì làm người ta bận tâm nhiều thì sẽ gặp trong giấc mộng Mộng cũng được đặt trong mối tương thông giữa người sống với thế gới siêu nhiên như bụt, thần

Trang 17

thánh hay thế giới của cõi âm như ông bà cha mẹ quá cố hay người đã khuất nào

đó không có quan hệ về huyết thống để tiên báo trước sự việc xảy ra cho mỗi số

phận con người

Khi Thúy Kiều bước vào cõi người ta để nếm bao cay đắng, tủi nhục thì cũng là lúc nàng không nguôi nhớ về gia đình và Kim Trọng Dù Thúy Vân và Kim Trọng đã kết tóc se tơ nhưng Kim Trọng vẫn nặng lòng thương nhớ Kiều Thúy Vân cũng thế, nỗi nhớ chị không nói được bằng lời, những suy nghĩ, nhớ

thương của Vân đối với Kiều có thể thấy rõ trong giấc chiêm bao:

Phòng xuân trướng rũ hoa đào, Nàng Vân nằm, bỗng chiêm bao thấy nàng

Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng, Nghe lời, chàng cũng hai đàng: tin, nghi

Nọ Lâm Thanh với Lâm Tri, Khác nhau một chữ, hoặc khi có lầm

Nếu như giấc mộng của Thúy Vân xuất phát từ sự nhớ thương chị mà nên thì giấc mộng của Thúy Kiều lại là điềm báo cho những điều chẳng lành Ban ngày đi chơi gặp mộ Đạm Tiên, tối Kiều liền gặp chiêm bao Phải chăng người ta thường

nói “thấy người ta ra mình”, Thúy Kiều tự nhiên thắp hương cho Đạm Tiên và khóc cho số phận người dưới mồ để rồi “vin” vào mình: “Thấy người nằm đó biết sau thế nào?” Kiều mơ gặp Đạm Tiên:

Thoắt đâu thấy một tiểu kiều,

Có chiều phong vận có chiều thanh tân Sương in mặt tuyết pha thân, Sen vàng lãng đãng như gần như xa

Khi Kiều hỏi, Đạm Tiên trả lời:

Vâng trình hội chủ xem tường,

Mà sao trong sổ đoạn trường có tên

Trang 18

Âu đành quả kiếp nhân duyên, Cũng người một hội một thuyền đâu xa!

Từ đó dẫn đến việc đoán mộng, cho rằng đó là điềm hung:

Cứ trong mộng triệu mà suy, Thân con thôi có ra gì mai sau!

Như vậy, muốn biết được giấc mộng lành hay dữ, người ta lại đi tìm cách giải mộng Những giấc mộng do thế lực siêu hình đem đến, dù có thực hay không

có thực nhưng vẫn được dân gian tin vào, Nguyễn Du tin và Kiều cũng tin là có thật Kiều tin Đạm Tiên báo mộng cho nàng biết trước số phận nghiệt ngã của mình Trong cuộc đời mình, Kiều đã nằm mộng thấy Đạm Tiên ba lần hiện về mách bảo

Lần đầu, Kiều mộng thấy Đạm Tiên sau khi đi hội đạp thanh về:

Hữu tình ta lại gặp ta, Chớ nề u hiển mới là chị em

Đã lòng hiển hiện cho xem

… Thềm hoa khách đã trớ hài Nàng còn cầm lại một hai tự tình Gió đâu sịch bức mành mành Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao

Lần chiêm bao đầu tiên bao giờ cũng để lại nỗi ám ảnh sâu sắc đối với người nằm mộng, nó chi phối từ suy nghĩ đến hành động của Kiều

Lần thứ hai, khi Kiều rơi vào lầu xanh, toan tự tử, Kiều mộng thấy Đạm Tiên hiện về vừa nhắc nhở vừa khẳng định:

Rỉ rằng: “Nhân quả dở dang,

Ðã toan trốn nợ đoạn trường được sao?

Số còn nặng nghiệp má đào,

Trang 19

Người dầu muốn quyết trời nào đã cho!

Hãy xin hết kiếp liễu bồ, Sông Tiền Ðường sẽ hẹn hò về sau

Đạm Tiên hiển linh báo mộng cho Kiều biết rằng số mệnh truân chuyên của nàng chưa chấm dứt, nó còn bám riết Kiều cho tới tận sông Tiền Đường Dù Kiều

có muốn thoát thì trời cũng chẳng cho, Kiều chỉ có một lựa chọn duy nhất là phải chấp nhận nợ đoạn trường Mười lăm năm đoạn trường của Thúy Kiều là một minh chứng cho giấc mộng Đạm Tiên

Yếu tố mộng xuất hiện 32 lần, các từ “mộng”, “chiêm bao”, “cơn mê” lặp

lại 25 lần, không chỉ là hình thức thông linh giữa con người và giới thần linh mà còn là điềm trời, báo mộng vận số của thần linh đến với người trần

Như vậy, trong cuộc sống vô cùng đa dạng và phức tạp của con người, có những sự việc mà các nhà khoa học đã giải thích song cũng còn rất nhiều điều bí

ẩn đang mời gọi, thách đố khả năng khám phá của họ Vì lẽ đó, mà đến ngày nay,

dù khoa học đã phát triển nhưng tâm linh vẫn còn tồn tại và có ý nghĩa nhất định nào đó với con người

Đặc biệt đối với Truyện Kiều, chiêm mộng của Thúy Kiều về Đạm Tiên được liên kết thành mạch kể xuyên suốt cốt truyện Có mở đầu, phát triển và có kết

thúc Đạm Tiên “bám riết”, chi phối cuộc đời Kiều Tiên đoán, tiền định, hư hư,

thực thực,… là những tính chất, màu sắc đa dạng của chiêm mộng

Ranh giới giữa vô thức và hữu thức, trần thế và cõi thiêng vốn dĩ rất mờ mỏng Yếu tố chiêm mộng trong truyện thơ Nôm là một môtip xuất hiện gắn với những ý đồ nghệ thuật khác nhau của người cầm bút Nó nối tiếp dòng quan niệm

về hồn mộng của người Việt cổ kết hợp với ước vọng của con người Yếu tố chiêm mộng tham gia tiến triển của cốt truyện, số phận đường đời nhân vật Chiêm mộng

lý giải thái độ của con người trong ứng xử với tôn giáo, là bộ phận gắn với đời sống tâm linh của con người xưa nay

Trang 20

1.2.4 Bói toán

Những phương thuật tướng số, tử vi, bói toán,… thực chất có nguồn gốc từ Đạo giáo ở Trung Quốc và khi ảnh hưởng vào nước ta các biểu hiện này trở nên phổ biến trong tín ngưỡng người Việt Đa số người Việt không chỉ tin vào linh hồn còn tồn tại, chết chưa phải là hết mà còn tin vào thuật tướng số, bói toán Bói toán

là hình thức dự báo về con người, về một vấn đề nào đó liên quan tới cộng đồng

Và lời tiên đoán, dự báo của tướng sĩ vô tình gặp gỡ trong cuộc trò chuyện cùng Kim Trọng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Kiều:

Nhớ từ năm ấy thơ ngây

Có người tướng sĩ đoán ngay một lời Anh hoa phát tiết ra ngoài, Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa

Và quả thật, hậu vận của Kiều là cả một “thiên bạc mệnh” Chính bởi có khả

năng đoán định tương lai, hậu vận của người đời nên nhân vật tướng sĩ đã thu hút biết bao sự tò mò của dân gian muốn biết về bí mật của cuộc đời mình Vương ông, Vương bà cũng thế, họ cũng muốn biết trước số phận của Thúy Kiều nên mới mời thầy tướng số về xem Đáng chú ý hơn là Kiều đã nghe và đã tin tuyệt đối, tin đến nỗi những lời sấm truyền này đã nhập sâu vào tâm khảm, vào phần vô thức của nàng, ám ảnh chi phối tư tưởng và hành vi của Thúy Kiều

Sau lời tiên tri của thầy tướng số, Kiều đã gặp mộ Đạm Tiên, lại nghe

Vương Quan kể về tiểu sử tài sắc mà “thoắt đã gãy cành thiên hương” của người

ca nhi quá cố, thì chất keo bạc mệnh như kết tinh thành một khối vận mệnh của cuộc đời Thúy Kiều:

Sống làm vợ khắp người ta Hại thay thác xuống làm ma không chồng

Hay nhân vật đạo nhân được Thúc Sinh mời về lập đàn cầu đảo cầu siêu cho oan hồn Kiều đã phán rằng:

Trang 21

Người này nặng kiếp oan gia Còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho!

Mệnh cung đang mắc nạn to, Một năm nữa mới thăm dò được tin

Điều mà đạo nhân nói đã được chứng nghiệm về sau, cho dù lúc đó ai ai cũng cảm thấy đây chẳng qua chỉ là lời nói quàng xiên của đồng cốt Nhưng quả thật một thời gian sau, Kiều và Thúc Sinh đã gặp lại nhau trong cảnh trớ trêu như thầy đã phán:

Hai bên giáp mặt chiền chiền Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay!

Ngoài ra còn có nhân vật Tam Hợp đạo cô Nhân vật này vốn là tiên tri, xuất hiện hai lần trong tác phẩm Một lần là qua lời kể của sư Giác Duyên với Kiều, báo tin cho Kiều về lần hội ngộ sắp tới Tam Hợp đạo cô đưa ra lời tiên đoán cho cuộc đời Kiều trong tương lai:

Nhớ ngày hành cước phương xa Gặp sư Tam Hợp vốn là tiên tri Báo cho hội ngộ chi kì Năm nay là một nửa thì năm sau Mới hay tiền định chẳng lầm

Đã tin điều trước, ắt nhằm việc sau

Lần thứ hai là cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa Giác Duyên và Tam Hợp đạo cô Tại cuộc gặp gỡ này, sư đã hỏi đạo cô về trường hợp của Kiều Tam Hợp đạo cô đã đưa ra cách lí giải về thân phận và cuộc đời Kiều:

Trang 22

Lại mang lấy một chữ tình Khư khư mình buộc lấy mình vào trong Cho nên những chốn thong dong

Ở không yên ổn ngồi không vững vàng

Giác Duyên nghe nói rụng rời, đạo cô bèn trấn an ngay:

Sư rằng song chẳng hề chi Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều Mắc điều tình ái khói đường tà dâm Lấy tình thâm trả nghĩa thâm Bán mình đã động hiếu tâm đến trời Hại một người cứu muôn người Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng

Thừa công đức ấy ai bằng Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi Như vậy Kiều đã “đức năng thắng số” Đạo cô khuyên:

Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau Tiền Đường thả một bè lau rước người

Giác Duyên làm đúng lời của đạo cô Vì vậy đã cứu được Kiều khi nàng gieo mình xuống sông Tiền Đường Có thể thấy lời lí giải này rất quan trọng đối với Giác Duyên và đối với Kiều

Theo GS Phan Ngọc nhận xét: “Những lời đoán trước xuất hiện bốn lần trong Truyện Kiều, nhằm mục đích báo trước cho người đọc biết được cuộc đời sau này của nàng” Bói toán có tác dụng lớn trong việc cứu sống Kiều Chính sự

ứng nghiệm của những lời phán báo, do thế những người tinh thông phép thuật đã gây nên niềm tin cho con người Có thể nói, Nguyễn Du đã phản ánh một thực tế là người xưa tin vào tướng số, bói toán, tiên tri là điều có thật

Ngày đăng: 21/05/2020, 11:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2008), Từ điển Truyện Kiều, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Truyện Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2008
3. Lã Nhâm Thìn (2009), Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại
Tác giả: Lã Nhâm Thìn
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
4. Lê Nguyên Cẩn (2015), Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa, NXB Đại 5. Nguyễn Đăng Na (chủ biên) (2013), Văn học trung đại Việt Nam, tập 2, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa", NXB Đại 5. Nguyễn Đăng Na (chủ biên) (2013), "Văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn (2015), Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa, NXB Đại 5. Nguyễn Đăng Na (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại 5. Nguyễn Đăng Na (chủ biên) (2013)
Năm: 2013
6. Trần Đăng Suyền (2014), Phương pháp nghiên cứu và phân tích tác phẩm văn học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu và phân tích tác phẩm văn học
Tác giả: Trần Đăng Suyền
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
7. Trần Đình Sử (2005), Thi pháp văn học Trung đại Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn học Trung đại Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
2. Hoàng Thanh Xuân, Văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w