1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm truyện ngắn lưu trọng lư

119 315 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 842,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh các cây bút truyện ngắn đã thực sự khẳng định được tài năng và có một vị trí vững vàng trong nền văn học dân tộc và trong lòng công chúng, vẫn còn không ít tác giả mà

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

M ỤC LỤC

D ẪN NHẬP 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4 Mục đích nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Cấu trúc luận văn 12

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRUYỆN NGẮN CỦA LƯU TRỌNG LƯ 14

1.1 Truyện ngắn và truyện ngắn hiện đại Việt Nam trước năm 1945 14

1.1.1 Truy ện ngắn – khái niệm, đặc trưng 14

1.1.2 Vài nét v ề truyện ngắn hiện đại Việt Nam trước 1945 18

1.2 Lưu Trọng Lư và truyện ngắn của ông 23

1.2.1 Lưu Trọng Lư – tiểu sử, sự nghiệp sáng tác 23

1.2.2 V ị trí của truyện ngắn trong sáng tác của Lưu Trọng Lư 25

1.2.3 Ch ất thơ trong truyện ngắn của Lưu Trọng Lư 32

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA TRUYỆN NGẮN LƯU TRỌNG LƯ 38

2.1 Đề tài trong truyện ngắn Lưu Trọng Lư 38

2.2 Cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn Lưu Trọng Lư 40

2.2.1 C ảm hứng trữ tình 41

2.2.2 C ảm hứng thế sự 54

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TRUYỆN NGẮN LƯU TR ỌNG LƯ 69

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 69

3.2 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và tạo dựng tình huống truyện 77

3.2.1 T ổ chức cốt truyện 77

3.2.2 T ạo dựng tình huống truyện 79

3.3 Kết cấu 81

3.3.1 K ết cấu tuyến tính 81

3.3.2 K ết cấu phi tuyến tính 88

3.4 Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn Lưu Trọng Lư 94

3.5 Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Lưu Trọng Lư 100

K ẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 4

D ẪN NHẬP

1 Lí do ch ọn đề tài

Nền văn xuôi hiện đại Việt Nam ra đời từ khoảng cuối thế kỉ XIX đầu

thế kỉ XX Trong giai đoạn giao thời của nền văn học (từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1930), văn xuôi chưa có nhiều thành tựu nổi bật Nhưng bước sang giai đoạn 1930 – 1945, nó phát triển mạnh mẽ chưa từng có và gặt hái nhiều thành

ngắn phong tục của Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân; truyện ngắn viết về cái đẹp

một thời vang bóng của Nguyễn Tuân; truyện ngắn viết về người nông dân và người trí thức nghèo mang tư tưởng sâu sắc, ý nghĩa khái quát rộng lớn với

những trang miêu tả, phân tích tâm lí đạt tới trình độ bậc thầy của Nam Cao,… Mỗi nhà văn mỗi phong cách đã góp phần tạo nên một diện mạo đa

dạng và đầy sức sống của truyện ngắn Việt Nam hiện đại

Tuy nhiên, bên cạnh các cây bút truyện ngắn đã thực sự khẳng định được tài năng và có một vị trí vững vàng trong nền văn học dân tộc và trong lòng công chúng, vẫn còn không ít tác giả mà mấy chục năm qua, vì lí do này khác, ít được nhắc đến, chỉ tới gần đây một số mới được phát hiện lại như Xuân Diệu, Thế Lữ, Thanh Châu, Ngọc Giao, Trần Tiêu,…

Lưu Trọng Lư có lẽ cũng là một trường hợp như thế Ông vốn là một thi

sĩ nổi tiếng của phong trào Thơ mới Nhắc tới Lưu Trọng Lư, chúng ta không

thể không nhớ đến những vần thơ đa tình và ảo mộng, trong đó có Tiếng thu

từng làm thổn thức, ngân vang, vương vấn trái tim bao thế hệ

Trang 5

Không chỉ có một di sản thơ đặc sắc, Lưu Trọng Lư còn sáng tác một

khối lượng văn xuôi phong phú, trong đó có nhiều truyện ngắn Tuy nhiên, truyện ngắn của Lưu Trọng Lư, cũng như văn xuôi của ông nói chung, ít được chú ý so với thơ của ông Có lẽ vì thế mà có rất nhiều truyện ngắn của Lưu

Trọng Lư, sau lần đầu tiên công bố cách đây hơn nửa thế kỉ, đã rơi vào quên lãng Mãi đến năm 2011, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của tác giả, các truyện ngắn đó mới được sưu tầm và công bố lại đầy đủ Bấy giờ, độc giả mới được tiếp xúc gần như toàn bộ truyện ngắn Lưu Trọng Lư, từ đó chú ý hơn đến ông với tư cách một cây bút viết truyện ngắn

Truyện ngắn của Lưu Trọng Lư đã bị lãng quên trong một thời gian dài, có thể do chúng không thành công như thơ của ông hay cũng không đặc

sắc như truyện ngắn của các nhà văn cùng thời Nhưng dù sao đi chăng nữa,

việc tìm hiểu truyện ngắn Lưu Trọng Lư một cách toàn diện, hệ thống nhằm phát hiện và ghi nhận lại những giá trị của nó cũng là việc đáng làm Với suy

nghĩ như vậy, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài tìm hiểu Đặc điểm truyện

ng ắn Lưu Trọng Lư Đây cũng là cách chúng tôi bày tỏ tấm lòng yêu quý

trước tài năng đa dạng của ông và sự trân trọng đối với những di sản văn chương của dân tộc

2 L ịch sử vấn đề

Con đường hoạt động nghệ thuật của Lưu Trọng Lư trải dài hơn nửa

thế kỉ Ở đó, Lưu Trọng Lư nhận được nhiều sự yêu thương, quan tâm ưu ái

của độc giả, giới văn sĩ và những người nghiên cứu Cho nên, có nhiều công trình, bài viết đã nghiên cứu về quê hương, con người và cuộc đời nghệ thuật

của Lưu Trọng Lư Tuy nhiên, trong các công trình, bài viết này, hầu hết các nhà nghiên cứu đều tập trung, đi sâu vào những sáng tác thơ của Lưu Trọng

Lư, đặc biệt là thơ trước Cách mạng tháng Tám

Trang 6

Lưu Trọng Lư với tư cách một nhà thơ đã được ghi nhận và đánh giá

“Có thể tóm tắt tất cả những ý trong thơ của Lưu Trọng Lư vào hai chữ tình

và m ộng Lưu Trọng Lư là một thi sĩ đa tình và mơ mộng Ông say sưa tất cả

những cái đẹp của người và của tạo vật, tấm lòng ông lúc nào cũng thổn thức, trí não ông lúc nào cũng mơ màng, ông đem xáo trộn thực với mộng, mộng

với thực, thổ lộ nên những lời thơ huyền ảo vô cùng” [52, 672] Thơ Lưu

Trọng Lư còn là những vần thơ chứa đựng nhiều cảm xúc chân thành và rất giàu nhạc điệu: “Âm nhạc là đặc trưng nổi bật, là nhịp mạnh của Thơ mới Đó

là một sự sáng tạo kì diệu của nó Và trong Thơ mới, Lưu Trọng Lư là nhà thơ, nhạc sĩ hơn cả, thơ Lưu Trọng Lư hầu như chỉ là những bản nhạc thuần túy, những bản nhạc mờ ảo trên nền những bức tranh cũng mờ ảo” [27, 287-288] Về thơ Lưu Trọng Lư sáng tác sau năm 1945, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long nhận xét: “Lưu Trọng Lư là một trong số những nhà thơ lớp cũ đã

sớm tìm được tiếng nói mới cho thơ ở những ngày đầu kháng chiến Từ bỏ

những cảm xúc, những hình ảnh và ngôn từ quen thuộc của “thơ mới”, Lưu

Trọng Lư đưa thơ mình về gần với tâm tư, tiếng nói và cách diễn tả của quần chúng Trong xu hướng đại chúng hóa của thơ ca kháng chiến, Lưu Trọng Lư

đã sớm góp được tiếng thơ khỏe khoắn, chân thực” [27, 92]

So với thơ, truyện ngắn của Lưu Trọng Lư ít được quan tâm hơn Cho nên, hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào lấy truyện ngắn Lưu

Trọng Lư làm đối tượng nghiên cứu Truyện ngắn thường chỉ được nhắc đến cách rất sơ lược trong các bài viết về sự nghiệp sáng tác của Lưu Trọng Lư Các ý kiến nhận định cũng chỉ xoay quanh ba truyện ngắn đầu tay in trong tập

Người sơn nhân, còn những truyện ngắn viết sau đó hầu như không được

nhắc tới

Có thể điểm qua một số ý kiến của các nhà nghiên cứu nhận định về truyện ngắn của Lưu Trọng Lư, như sau:

Trang 7

Năm 1933, khi tập truyện Người sơn nhân ra mắt công chúng, Phan Khôi đã nhận định truyện ngắn Người sơn nhân (của Lưu Trọng Lư) và Hồn

bướm mơ tiên (của Khái Hưng) là hai tác phẩm văn học khá nhất trong năm

1933 [42, 5]

Trong loạt bài mang tiêu đề chung Văn học Việt Nam hiện đại đăng

nhiều kì trên tuần báo Loa ở Hà Nội từ tháng 7 đến tháng 10/1935, nhà phê bình Trương Tửu đánh giá cao các truyện ngắn Người sơn nhân, Ly Tao tuyệt

v ọng và coi Lưu Trọng Lư là một trong ba nhà văn có lối tả cảnh mới mẻ

nhất, tính đến thời điểm ấy “Bốn truyện Người sơn nhân, Tiếng địch trong

rừng sim, Hương giang sử, Ly Tao tuyệt vọng đã thiết lập cho ông một vị trí

chức sắc trong làng văn hiện đại” [56, 146]

Năm 1942, trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan cho rằng truyện

Người sơn nhân “cũng cảm động, nhưng cũng không phải tốt đẹp quá như lời

Phan Khôi đã phê bình” “Trong tập truyện ngắn của Lưu Trọng Lư, Người

sơn nhân có thể coi là một truyện kết cấu khéo léo Thế thôi Còn hai truyện

kia là thứ truyện tầm thường, không có gì đặc sắc cả Ngay những truyện

ngắn về sau này của Lưu Trọng Lư cũng đều tầm thường cả” [52, 684]

Mục từ “Lưu Trọng Lư” trong Từ điển văn học (1983) chỉ nhắc qua về

tập truyện ngắn Người sơn nhân: “1933, xuất bản tập Người sơn nhân, gồm

ba truyện ngắn và mười bài thơ, gây được chú ý” [18, 904]

Trong Thơ – những gương mặt, tác giả Thiếu Mai nhận xét: “Lưu

Trọng Lư, ngoài thơ ra còn viết nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn Truyện của anh phần lớn có tính chất hoài cổ (Chiếc cáng xanh, Dòng họ) hoặc đi sâu vào

tình ái lãng mạn (Huế, một buổi chiều, Cô gái hái dâu), hoặc miêu tả những

chuyện thần tiên ma quái (Huyền không động), nói chung thuộc xu hướng

lãng mạn tiêu cực Tuy vậy trong số đó nổi bật lên vài truyện phảng phất đôi

Trang 8

chút tinh thần dân tộc và ý thức phản kháng chế độ (Con voi già của vua Hàm

Nghi, Người sơn nhân), hoặc trân trọng đối với cuộc sống cay cực của người

nghèo (Con chim s ổ lồng, Khói lam chiều) [27, 208].

Trong Lời giới thiệu Lưu Trọng Lư tuyển tập (thơ, văn xuôi, kịch thơ)

năm 1987, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long có những nhận xét về ba truyện

ngắn trong tập Người sơn nhân: “Người sơn nhân là một tiếng nói phản

kháng, một khao khát tự do nhưng khá mơ hồ và bế tắc (…) Truyện Con chim

s ổ lồng có sự cảm thông với số phận của một đứa trẻ nghèo, bút pháp của

truyện gần với tả thực hơn, có pha một chút chua chát Ly Tao tuyệt vọng đậm

màu sắc lãng mạn huyền hoặc, nhưng mang được mối đồng cảm xót xa với thân phận những kẻ sĩ bạc mệnh” [39]

Trong T ừ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (từ cuối thế kỉ XIX đến 1945) xuất bản năm 2001 có bảy mục từ lược thuật bảy tác phẩm tự sự của

Lưu Trọng Lư, trong đó có đề cập đến tập truyện Người sơn nhân với ba

truyện ngắn Người sơn nhân, Con chim sổ lồng, Ly Tao tuyệt vọng Bên cạnh

việc tóm tắt ba câu chuyện trên, các tác giả còn nhận xét: “Trong tập truyện này, Người sơn nhân là truyện hay hơn cả Kết cấu của truyện khéo léo, chặt

chẽ, những đoạn đối thoại giữa ông cố đạo và ngươi sơn nhân giàu tính triết

lý và có kịch tính” [2, 236]

Trong bài viết Văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư in trong Lưu Trọng Lư,

tác ph ẩm truyện ngắn, tiểu thuyết (năm 2011), nhà nghiên cứu Lại Nguyên

Ân đã đưa ra một số nhận xét về mảng văn xuôi Lưu Trọng Lư viết trước năm

1945 Trước tiên, nhà nghiên cứu đã điểm lại lịch sử nghiên cứu, đánh giá văn xuôi của Lưu Trọng Lư từ trước đến nay Theo ông, “sự nghiệp văn nghệ của Lưu Trọng Lư với tư cách nhà thơ, nhà văn, nhà hoạt động sân khấu Việt Nam thế kỉ XX, thoạt nhìn, cho đến những năm đầu thế kỉ XXI, tưởng chừng

Trang 9

như được ghi nhận và đánh giá ổn thỏa; nhưng nhìn kỹ, ta lại thấy nhiều nét trái ngược Chẳng hạn, theo một nền nếp “phân vùng” có từ thời bao cấp, Lưu

Trọng Lư được nghiễm nhiên coi như một “nhân sự” thuộc giới sân khấu nên

giới chức quản lý văn học đôi khi tặc lưỡi bỏ qua ông, hoặc người ta xem ông

chỉ như nhà thơ để khỏi phải tính đến ông như người viết văn xuôi, viết truyện, bất chấp cái thực tế là: số truyện ngắn truyện dài của Lưu Trọng Lư đã

viết và đã in ra trong toàn bộ đời văn của mình nhiều gấp vài ba lần số tập thơ hay số vở kịch ông đã viết, đã dàn dựng” [42, 9] Kế đến, tác giả bài viết liệt

kê các nguồn tư liệu sách, báo mà ông và người bạn đã sử dụng trong công

việc sưu tầm các tác phẩm văn xuôi của Lưu Trọng Lư để hoàn thành bộ sưu

tập Lưu Trọng Lư tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết Cũng trong bài viết này, Lại Nguyên Ân đã đưa ra nhiều nhận xét đi sâu vào các phương diện nội dung và nghệ thuật của văn xuôi Lưu Trọng Lư Theo Lại Nguyên Ân, “thế

giới thơ của Lưu Trọng Lư thật ra không tách rời, mà ngược lại, có sự tiếp nối

với thế giới văn xuôi do ông sáng tạo, đó là cuộc sống trong các truyện ngắn, truyện dài ông viết” [42, 14] Truyện của Lưu Trọng Lư có nhiều loại: truyện

thần tiên, ma quái; truyện truyền thuyết, dã sử; truyện tâm lý xã hội hoặc truyện thế sự Trong những truyện thần tiên, ma quái, Lưu Trọng Lư thường dùng lời văn kể chuyện và lối mô tả khá ước lệ và gần gũi với giọng thơ lãng

mạn của ông; còn đề tài hầu hết những truyện thần tiên này là đề tài tình yêu,

những tình yêu không bị giới hạn bởi ranh giới tiên – tục, thần – người, thầy

tu – gái điếm Khả năng cảm nhận và biểu hiện đời sống đương thời của ngòi bút viết truyện Lưu Trọng Lư cũng được nhắc đến Theo tác giả bài viết,

những dáng nét đời sống đương thời, cụ thể như dáng nét của giới học sinh

Hà Thành những năm 1930, của nam nữ học sinh xứ Huế ở tác phẩm Lưu

Trọng Lư “có lẽ còn rõ rệt hơn thậm chí so với không ít tác phẩm của các tác gia trong Tự Lực văn đoàn, hoặc so với một vài đàn anh trong số những người

Trang 10

cùng cộng tác với nhà Tân Dân như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố” [42, 17] Về thế giới nhân vật trong truyện của Lưu Trọng Lư, theo Lại Nguyên

Ân, kiểu nhân vật nổi bật là những con người thất bại Sau cùng, Lại Nguyên

Ân khẳng định, lãng mạn là nét phong cách khá nổi bật ở văn xuôi tự sự trước

1945 của Lưu Trọng Lư

Trên đây là một số ý kiến nhận xét của các nhà nghiên cứu về những

vấn đề có liên quan đến đề tài Qua đó có thể khẳng định rằng chưa có một công trình nghiên cứu nào lấy truyện ngắn của Lưu Trọng Lư làm đối tượng nghiên cứu độc lập và toàn diện Những nhận định về truyện ngắn Lưu Trọng

Lư từ trước đến nay còn khá ít ỏi và mang tính sơ bộ Tuy nhiên, đáng ghi

nhận ở chỗ mặc dù các nhà nghiên cứu chưa hoàn toàn thống nhất trong việc đánh giá khả năng viết truyện ngắn của Lưu Trọng Lư, song đều công nhận

một số truyện ngắn của ông là khá đặc sắc Những ý kiến của nhà nghiên cứu

đi trước, đặc biệt ý kiến của Lại Nguyên Ân, là những định hướng quý báu cho việc tìm hiểu truyện ngắn Lưu Trọng Lư nói riêng, văn xuôi Lưu Trọng

Lư nói chung của những người nghiên cứu tiếp sau Trên cơ sở tiếp thu, kế

thừa những ý kiến và thành tựu nghiên cứu đó, chúng tôi sẽ nỗ lực khảo sát, phân tích những truyện ngắn của Lưu Trọng Lư nhằm phát hiện, lí giải, khái quát những đặc điểm nổi bật trong truyện ngắn của ông

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trước năm 1945, Lưu Trọng Lư sáng tác khá nhiều truyện ngắn Các truyện ngắn của ông được được in thành sách hoặc đăng trên các báo thời bấy

giờ Phần lớn truyện ngắn này được sưu tầm và tập hợp lại trong Lưu Trọng

Lư – tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết (tập 1) do Nhà xuất bản Lao động -

Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông tây phát hành năm 2011 Bao gồm 26

truyện ngắn: Người sơn nhân, Con chim sổ lồng, Ly tao tuyệt vọng, Cô bé hái

Trang 11

dâu, Chân ái tình, Cái đời hát xẩm, Anh Neo, Bạn tôi, Cái chết hiếu danh, Chiêm Thành, Con vú em, Thi s ỹ, Con sáo, Chiếc áo rét, Bó lan trắng, Người mua hoa, 15 truy ện ngắn, Nàng Vân may áo chồng, Sầm Sơn vui thú xiết bao, Tình trong giây lát, Cái vò s ữa của cô Perrette, Một lần tôi đi qua, Bạn tôi cưới vợ, Em hãy còn thơ, Cắm neo, Khỏi truông

Các truyện ngắn vừa kể trên là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài Trong quá trình nghiên cứu, để làm rõ những giá trị nổi bật của chúng, chúng tôi cũng sẽ so sánh, đối chiếu với một số sáng tác thơ và văn xuôi khác của Lưu Trọng Lư, cũng như truyện ngắn của một số nhà văn cùng thời như Khái Hưng, Thạch Lam, Xuân Diệu, Nam Cao…

Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung tìm hiểu một số phương

diện thuộc nội dung và hình thức nghệ thuật của truyện ngắn Lưu Trọng Lư như đề tài và cảm hứng nghệ thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, xây dựng

kết cấu và ngôn ngữ tác phẩm Những yếu tố này sẽ giúp chúng tôi thấy được

một cách tương đối khái quát những nét đặc sắc, riêng biệt trong truyện ngắn Lưu Trọng Lư

4 M ục đích nghiên cứu

Với đề tài nghiên cứu này, mục đích của chúng tôi là tìm kiếm, phát

hiện và ghi nhận lại những giá trị nổi bật của truyện ngắn Lưu Trọng Lư Chúng tôi hi vọng sẽ có những đóng góp nhất định trong việc đem đến một cái nhìn tương đối toàn diện và sâu sắc hơn về truyện ngắn Lưu Trọng Lư; góp phần làm phong phú những hiểu biết về Lưu Trọng Lư, không chỉ như nhà thơ tài năng mà còn như nhà viết truyện ngắn đặc sắc

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi đã dựa trên quan điểm Mác-xít trong nghiên cứu văn học Đó là việc nghiên cứu văn học trong mối quan hệ với bối

Trang 12

cảnh lịch sử và hoàn cảnh xã hội; xem xét tác phẩm trong mối quan hệ giữa nhà văn – cuộc sống và bạn đọc; chú ý qui luật thống nhất nội tại giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học

Chúng tôi cũng vận dụng những thành tựu của các khoa học liên ngành như lý luận văn học, thi pháp học, phong cách học, phương pháp luận nghiên

cứu văn học,… trong quá trình nghiên cứu

Ngoài những vấn đề có tính chất phương pháp luận như trên, trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp

chủ yếu, cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích –tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong

luận văn Đi từ việc khảo sát, phân tích từng truyện ngắn, từng yếu tố nổi bật trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và nghệ thuật, chúng tôi sẽ đưa ra

những nhận xét khái quát về đặc điểm truyện ngắn Lưu Trọng Lư

- Phương pháp hệ thống: khi xem xét các yếu tố trong mỗi truyện ngắn

của Lưu Trọng Lư, chúng tôi luôn đặt chúng trong hệ thống chỉnh thể của tác

phẩm Đồng thời đặt mỗi tác phẩm trong hệ thống lớn hơn là những sáng tác cùng thể loại, rộng hơn nữa là toàn bộ sáng tác của tác giả để thấy được cái riêng của từng truyện cũng như cách viết truyện ngắn của tác giả

- Phương pháp so sánh cũng được chúng tôi sử dụng trong phạm vi

nhất định Để thấy cái riêng độc đáo và sự đóng góp của Lưu Trọng Lư trong

nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh với một số cây bút truyện ngắn khác như Thạch Lam, Thanh Tịnh,… về từng vấn đề có liên quan

Bên c ạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp tiếp cận thi pháp học, phương pháp lịch sử,…

Trang 13

6 C ấu trúc luận văn

Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, luận văn được trình bày thành ba

chương:

Chương 1: Khái quát về truyện ngắn của Lưu Trọng Lư Ở chương này,

ngoài vi ệc nhắc lại khái niệm truyện ngắn và vài nét về truyện ngắn Việt Nam hi ện đại trước 1945, chúng tôi sẽ tìm hiểu sơ lược về vị trí của truy ện ngắn trong toàn bộ di sản văn học của Lưu Trọng Lư

Chương 2: Đặc điểm nội dung của truyện ngắn Lưu Trọng Lư Ở chương

này, luận văn tập trung miêu tả đặc điểm của hai phương diện thuộc về

n ội dung của truyện ngắn Lưu Trọng Lư là đề tài và cảm hứng nghệ thu ật

Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn Lưu Trọng Lư Ở đây,

người viết sẽ tìm hiểu đặc điểm của cách xây dựng nhân vật, cốt truyện

và k ết cấu, ngôn ngữ nghệ thuật và không gian nghệ thuật trong truyện

ng ắn Lưu Trọng Lư

Trang 14

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRUYỆN NGẮN CỦA LƯU TRỌNG LƯ

1.1 Truy ện ngắn và truyện ngắn hiện đại Việt Nam trước năm 1945

1.1.1 Truyện ngắn – khái niệm, đặc trưng

Truyện ngắn là một thể loại không thể thiếu trong bất kì nền văn học dân tộc nào Đây là một thể loại hết sức gần gũi và có nhiều ý nghĩa đối với

sự phát triển toàn diện và vững chắc của văn học, cũng như đối với sự rèn luyện mài dũa ngòi bút của các nhà văn

Truyện ngắn là một khái niệm quen thuộc nhưng tìm một định nghĩa duy nhất, đầy đủ, chính xác về nó thì không dễ Trong Từ điển văn học bộ

mới, truyện ngắn được xác định là “một thể loại tự sự cỡ nhỏ, thường được

viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện đời sống của con người và

xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích

hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ” [18, 1846-1847] Mục truyện ngắn trong Từ điển thuật ngữ văn học ghi nhận

truyện ngắn là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một

mạch, đọc một hơi không nghỉ” [22, 370]

Các nhà văn, với trải nghiệm thực tế của mình, đã đưa ra những cảm

nhận cụ thể và một số đúc kết đa dạng Aimatov đã phát biểu: “Truyện ngắn

giống như một thứ tranh khắc gỗ, lao động nghệ thuật ở đây đòi hỏi chặt chẽ,

cô đúc, các phương tiện phải được tính toán một cách tinh tế, nét vẽ phải chính xác Đây là một việc vô cùng tinh tế Xoay xỏa trên một mảnh đất hẹp,

đó chính là chỗ để cho truyện ngắn phân biệt với các thể tài khác” [49, 146]

Trang 15

Nhấn mạnh đến chi tiết, Nguyễn Công Hoan cho rằng: “Truyện ngắn không

phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết” [63, 186]

Các quan niệm trên đều thống nhất nhận diện truyện ngắn ở những tiêu chí cốt lõi sau:

Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Hình thức “nhỏ”, “ngắn” là dấu

hiệu đầu tiên để người đọc nhận diện truyện ngắn Dung lượng truyện ngắn kéo dài từ vài chục chữ đến khoảng 20000 chữ Nếu tính theo số trang, dung lượng của một truyện ngắn thường co giãn khoảng từ 3 đến 50 trang Dưới con số 3 trang, người ta gọi là “truyện ngắn mini”, “truyện ngắn trong lòng bàn tay”; trên con số 50 trang, người ta gọi là truyện vừa; trên 100 trang là

tiểu thuyết Những cách gọi này tương ứng với các khái niệm “đoản thiên tiểu thuyết” (truyện ngắn), “trung thiên tiểu thuyết” (truyện vừa) và “trường thiên

tiểu thuyết” (tiểu thuyết) vốn phổ biến ở nước ta thời kì đầu văn xuôi tự sự

hiện đại Tuy nhiên, tính chất “nhỏ” của truyện ngắn không chỉ nằm trong dung lượng, mà quan trọng hơn là ở cách nắm bắt cuộc sống của thể loại Truyện ngắn không có tham vọng ôm vào mình một hiện thực rộng lớn, hoành tráng Ngắn ở đây đồng nghĩa với hàm súc, tinh lọc Nguyên tắc chung

nhất của truyện ngắn không cho phép dồn ép hoặc nhồi nhét rút gọn nội dung

của một truyện dài, hoặc một hình thức tương đương như thế, thành một truyện ngắn Như vậy, ngắn gọn trong truyện ngắn là cái ngắn gọn tinh lọc và

chặt chẽ Sekhov, một bậc thầy truyện ngắn thế giới đã ví: “Truyện ngắn cũng

y như trên boong tàu quân sự, ở đó tất cả phải đâu vào đấy, không có cái gì được thừa Khác với truyện dài và truyện vừa, truyện ngắn phải là “một lát cắt

gọn gẽ”, “toàn truyện là một vòng tròn khép kín không quá dài, không quá

ngắn, không xô đẩy xộc xệch, thậm chí không thừa một chi tiết nào” [60, 365]

Trang 16

Bên cạnh đặc điểm “ngắn”, các nhà nghiên cứu còn khu biệt truyện

ngắn ở tính chất giới hạn trong việc phản ánh đời sống và ở hiệu quả nghệ thuật mà nó tạo ra khi so sánh với một thể loại gần gũi là tiểu thuyết

Cùng thuộc về loại hình tự sự hư cấu, truyện ngắn gần gũi tiểu thuyết ở

chỗ nó cũng có khả năng phản ánh hầu hết các phương diện của đời sống như đời tư, thế sự hay sử thi Truyện ngắn có thể kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối

với cuộc đời

Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một

hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự

kiện phức tạp Và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân

vật của truyện ngắn là mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn thường không

nhắm tới việc khắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho

một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người Mặt khác, do đó truyện ngắn lại có thể mở rộng diện nắm bắt các kiểu

loại nhân vật đa dạng của cuộc sống, chẳng hạn như chức nghiệp, xuất thân, gia hệ, bạn bè,… những kiểu loại mà trong tiểu thuyết thường hiện ra thấp thoáng trong các nhân vật phụ

Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn định Nếu tiểu thuyết là cuộc đời trong sự trọn vẹn của nó thì truyện

ngắn lại là mặt cắt của dòng đời Nếu tiểu thuyết diễn tả một quá trình vận động của cuộc sống thì truyện ngắn lại tập trung vào một tình thế thể hiện một

Trang 17

bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm trạng nhân vật Truyện ngắn “khái quát cuộc sống theo chiều sâu, lấy điểm nối diện, lấy cái khoảnh khắc để nối cái vĩnh cửu” [62] Để đạt tới tầm cao và chiều sâu của ý tưởng mà vẫn sống động tự nhiên, truyện ngắn phải “lựa chọn được một cách nhìn và một điểm nhìn tập trung, giống như cái tiêu điểm của thấu kính, tập trung ánh sáng mặt

trời để có thể đốt cháy đám bùi nhùi” [73, 14] Cốt truyện của truyện ngắn có

thể nổi bật, hấp dẫn, nhưng chức năng của nó nói chung là để nhận ra một điều gì Cái chính của truyện là gây ra một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người

Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng nhiều tuyến như

tiểu thuyết mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Kết cấu của truyện ngắn đòi hỏi phải có sự chặt chẽ, sao cho chủ đề

tập trung, tư tưởng thống nhất và thấm sâu vào toàn bộ các bộ phận của tác

phẩm, kể cả những chi tiết nhỏ nhất, để có thể tạo nên hiệu quả nghệ thuật duy nhất, từ đó tạo nên một ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc “Cũng như kịch ngắn, truyện ngắn đòi hỏi người viết một công việc tổ chức và cấu trúc truyện hết sức nghiêm ngặt Quả thực có một thứ kĩ thuật tinh xảo – kĩ thuật viết truyện ngắn Nó cũng giống như kĩ thuật làm pháo, dồn nén tư tưởng vào trong một cốt truyện thật ngắn gọn, tự nhiên” [7, 251]

Chi tiết là yếu tố rất quan trọng trong truyện ngắn Chi tiết góp phần tạo

dựng cảnh trí, không khí, tình huống và khắc họa hành động, tính cách, tâm tư nhân vật Nhà văn Nguyên Ngọc khẳng định “Truyện ngắn có thể có cốt truyện, thậm chí cốt truyện li kì, gay cấn, kể được Truyện ngắn cũng có thể

chẳng có cốt truyện gì cả, không kể được nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết Nó sẽ như nước lã” [17, 33] Chi tiết trong truyện ngắn thường cô đúc

và có dung lượng lớn Cùng lối hành văn mang nhiều ẩn ý, chúng tạo cho tác

Trang 18

phẩm những chiều sâu chưa nói hết Chi tiết đắt giá có thể nâng tác phẩm lên đến “cấp độ tượng trưng, tạo sức ám ảnh” [63, 84].

Tóm lại, với những đặc điểm cơ bản vừa nêu, có thể khẳng định truyện

ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hằng ngày, lại súc tích, dễ đọc, có tác dụng và ảnh hưởng kịp thời trong đời sống

Từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một thời kì

rất quan trọng trong lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử văn học nói riêng

Với không đầy nửa thế kỉ, xã hội Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc chưa

từng thấy Vượt lên sự kìm hãm của các thế lực thực dân phong kiến, hòa

nhịp với sự lớn mạnh của dân tộc, nền văn học nước nhà đã phát triển theo hướng hiện đại hóa với tốc độ rất nhanh và đạt được những thành tựu to lớn Đặc biệt là ở giai đoạn 1930 – 1945, các đặc điểm của thời kì văn học đều được đẩy lên một bước cao nhất, sâu sắc nhất, toàn diện nhất, do đó cũng nổi

rõ nhất

Trong bức tranh đa dạng của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, truyện ngắn là một trong những mảng màu

chủ đạo

Nền truyện ngắn hiện đại Việt Nam được hình thành từ cuối thế kỉ XIX

với tác phẩm mở đầu là Thầy La-za-rô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản

Sáng tác văn xuôi quốc ngữ đầu tiên này tuy còn vụng về, non yếu nhưng lại

là “con chim lạ từ phương Tây đáp xuống một vùng đất còn vắng bóng đồng

loại”; “nổi lên như một ốc đảo chơi vơi vào nửa sau thế kỉ XIX, không riêng ở Nam Kì mà ở cả Việt Nam” [19, 303]

Trang 19

Bước sang những năm 1920 – 1930, với sự xuất hiện của hai cây bút truyện ngắn nổi bật là Phạm Duy Tốn và Nguyễn Bá Học, truyện ngắn nước

ta đã có những bước tiến nhất định trên con đường hiện đại hóa Tuy nhiên, số lượng truyện ngắn ở giai đoạn này còn khá ít ỏi Yếu tố của văn học trung đại

vẫn còn tồn tại phổ biến từ nội dung đến hình thức tác phẩm

Đến giai đoạn 1930 – 1945, nền văn học đã hoàn tất quá trình hiện đại hóa với nhiều cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại Cùng với thơ và tiểu thuyết, truyện ngắn giai đoạn này đã phát triển với một tốc độ như vũ bão Về lượng, số truyện ngắn đã xuất bản thành tập hoặc đăng tải rải rác trên báo chí

khắp cả nước chắc chắn phải lên đến con số hàng ngàn Riêng một nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã có khoảng hai trăm truyện ngắn Về chất, thật không khó để kể tên những cây bút truyện ngắn tài năng và những tác phẩm đặc sắc, trong đó một số truyện xứng đáng gọi là kiệt tác

Như vậy, chỉ trong vài ba mươi năm, thể văn xuôi mới mẻ này từ chỗ

chập chững tập dượt, đã trưởng thành vượt bậc để trở nên thành thục, đạt tới cao độ nghệ thuật, thực sự hoàn thiện

Truyện ngắn hiện đại Việt Nam trước 1945 không chỉ phát triển mạnh

mẽ, nhanh chóng theo hướng hiện đại, mà còn phân hóa theo nhiều xu hướng

phức tạp Trong đó nổi lên hai xu hướng chính là lãng mạn trữ tình và hiện

thực phê phán Hai xu hướng này tồn tại song song, vừa đấu tranh với nhau,

vừa ảnh hưởng, tác động qua lại, có khi chuyển hóa lẫn nhau

Xu hướng lãng mạn trữ tình được khơi nguồn từ sự khẳng định cái tôi

cá nhân cá thể được giải phóng về tình cảm, cảm xúc và về trí tưởng tượng

Nó coi con người là trung tâm của vũ trụ, khẳng định cái tôi cá nhân, đề cao con người thế tục, đề cao đến những số phận cá nhân và những quan hệ riêng

tư Xu hướng văn học này thường tìm đến các đề tài tình yêu, về thiên nhiên

Trang 20

và quá khứ thể hiện khát vọng vượt trên cuộc sống hiện tại chật chội tù túng, dung tục, tầm thường Về hình thức nghệ thuật, có thể xem truyện ngắn trữ tình là hình thức thơ trong văn xuôi, bởi có sự du nhập khá mạnh mẽ của các

yếu tố thơ vào văn xuôi, làm cho văn xuôi tự sự trở thành những bài thơ văn xuôi với sự gợi ám và lắng đọng Tiêu biểu là truyện ngắn của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Nguyễn Tuân,…

Thạch Lam được coi là một cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học giai đoạn 1930 - 1945 Truyện ngắn của ông thường viết về những con người

bé nhỏ ở phố huyện nghèo hay ở vùng ngoại ô Hà Nội với tấm lòng trắc ẩn, thương xót chân thành Văn Thạch Lam giản dị, trong sáng, nhẹ mà thấm, nhiều dư vị

Rất gần gũi với cách viết của Thạch Lam là Thanh Tịnh và Hồ Dzếnh Tuy thế giới nghệ thuật của ba nhà văn này khác nhau (Thanh Tịnh thường hướng ngòi bút của mình về những người dân ở một cái làng Mĩ Lí thơ mộng thuộc miền Trung; còn Hồ Dzếnh chỉ viết người thân trong gia đình mình,

một gia đình người Việt gốc Hoa), nhưng sở trường chung của họ là diễn tả

rất đạt đời sống nội tâm thầm kín của nhân vật, những tình cảm, cảm giác tinh

vi, những ước mơ nhỏ bé hiền lành mà thường không bao giờ đạt được của con người thuộc tầng lớp tiểu tư sản hay dân nghèo ở thành thị và nông thôn

Nguyễn Tuân cũng là một cây bút truyện ngắn đặc sắc của khuynh

hướng văn học lãng mạn 1930 – 1945 Vang bóng một thời (1940) gồm 11

truyện ngắn, là tác phẩm kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân trước Cách mạng, được nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét là “một văn phẩm đạt gần tới sự toàn thiện, toàn mĩ” Với tập truyện này, Nguyễn Tuân đã ghi đậm dấu ấn của mình trong lòng độc giả Đó là một Nguyễn Tuân nghệ sĩ hết lòng trân trọng, say mê cái đẹp trong quá khứ, một Nguyễn Tuân ngông nghênh, khinh bạc

Trang 21

trước xã hội thực dân tầm thường phàm tục và một Nguyễn Tuân tài hoa uyên bác trong sử dụng ngôn từ

Khác với xu hướng lãng mạn, xu hướng hiện thực tập trung vào việc phơi bày thực trạng bất công, thối nát của xã hội đương thời, đồng thời đi sâu

phản ánh tình cảnh khổn khổ của các tầng lớp nhân dân bị áp bức bóc lột với

một thái độ cảm thông sâu sắc Nó lên tiếng đấu tranh chống áp bức giai cấp,

phản ánh mâu thuẫn, xung đột giữa kẻ giàu với người nghèo, giữa nhân dân bị

áp bức bóc lột với tầng lớp thống trị Các nhà văn hiện thực thường đề cập đến chủ đề thế sự với thái độ phê phán xã hội trên tinh thần dân chủ và nhân đạo, chú trọng miêu tả, phân tích, lí giải một cách chân thực, chính xác quá trình khách quan của xã hội thông qua những hình tượng điển hình Tiêu biểu cho xu hướng này là các cây bút truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Nam Cao,…

Nguyễn Công Hoan được xem là người đầu tiên viết truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực và đạt được thành tựu đáng ghi nhận Nhìn thẳng vào

hiện thực, bằng tiếng cười trào phúng “hồn nhiên, khỏe khoắn, mặn mà”, Nguyễn Công Hoan phơi ra mặt trái của xã hội đầy bất công thối nát, kẻ giàu phè phỡn vô đạo, còn người nghèo thì bị ức hiếp và đói khổ cùng cực

Nếu Nguyễn Công Hoan là cây bút truyện ngắn mở đầu thì Nam Cao,

với kiệt tác Chí Phèo, đã có công giúp khuynh hướng văn học hiện thực phê

phán đạt đến đỉnh cao chói lọi Dưới ánh sáng của một quan niệm nghệ thuật sâu sắc, tiến bộ, các truyện ngắn Nam Cao đã đạt được nhiều thành tựu xuất

sắc, nhất là truyện viết về đề tài người trí thức nghèo và người nông dân cùng

khổ Trong những sáng tác này, tác giả đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh

thần con người, luôn đau đớn trước tình trạng con người bị rơi vào thảm cảnh

sống mòn, bị xói mòn về nhân phẩm, thậm chí bị hủy hoại cả nhân tính

Trang 22

Phong cách viết truyện ngắn của Nam Cao hết sức độc đáo: luôn hướng tới

thế giới nội tâm con người; có biệt tài trong việc miêu tả và phân tích tâm lí;

viết về cái nhỏ nhặt hàng ngày mà đặt ra được những vấn đề có ý nghĩa xã hội

to lớn, có tầm triết lí sâu sắc và có giọng văn đặc sắc Nam Cao cũng có đóng góp lớn trong sự phát triển của ngôn ngữ văn xuôi nước ta, với một kho từ

vựng phong phú vừa góc cạnh vừa tinh vi và đầy sức sống

Bên cạnh những tác giả tiêu biểu cho hai xu hướng sáng tác trên, còn

có Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lâm… với thiên hướng sáng tác miêu tả phong

tục Sức hấp dẫn chủ yếu của xu hướng truyện ngắn này chính là cái nhìn hóm

hỉnh, sắc sảo mang màu sắc dân tộc học về đời sống nông thôn với các mẩu chân dung, các mảng sinh hoạt và quan hệ họ mạc, xóm giềng, gia đình trong

sự sống hằng ngày mang tính thuần phác, cổ xưa Những trang viết này đã góp phần làm cho truyện ngắn 1930 – 1945 đa dạng hơn về phong cách, bút pháp, đề tài và màu sắc địa phương

Trên đây là vài nét phác họa về truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 –

1945 và một số gương mặt tiêu biểu, giúp chúng ta có thể hình dung phần nào

sự phát triển sôi động, sự đa dạng phong phú của mảng sáng tác này Qua đó, chúng ta cũng nhận thấy rằng các nhà văn dù theo xu hướng sáng tác nào cũng đều gắn bó sâu nặng với đời sống, con người và đất nước Trong những trang văn của họ, “ấn tượng đậm nét nhất vẫn là những hình ảnh chân thực,

cảm động về quê hương đất nước Việt Nam với cảnh sắc, phong vị vô cùng thân thiết, về những nét đẹp văn hóa trong phong tục sinh hoạt dân tộc, về số

phận và tâm hồn con người Việt Nam trong một thời kì cam go vẫn nhuần

nhụy yêu thương, dạt dào tình nghĩa, sống thầm lặng khiêm nhường mà vẫn chan chứa lòng yêu đời và tiềm tàng một sức sống bất diệt” [33, 32] Đó chính là tính dân tộc thấm nhuần trong những trang truyện ngắn hiện đại

Trang 23

1.2 Lưu Trọng Lư và truyện ngắn của ông

1.2.1 Lưu Trọng Lư – cuộc đời, sự nghiệp sáng tác

Nhà thơ Lưu Trọng Lư (còn có những bút danh Hy Ký, Lưu Thần), sinh ngày 19 tháng 6 năm 1912, trong một gia đình quan lại Nho học, quê ở

lí và một thực tế sáng tác phong phú, Lưu Trọng Lư đã góp phần cho sự thắng

thế của Thơ mới trên thi đàn

Năm 1933, Lưu Trọng Lư ra tập sách đầu tay – Người sơn nhân (gồm

ba truyện ngắn, mười bài thơ và một bài viết về Thơ mới, được dư luận chú ý

Sau đó, ông đã xuất bản nhiều tập tiểu thuyết, truyện ngắn và tập thơ Tiếng

thu nổi tiếng

Sau Cách mạng, Lưu Trọng Lư tham gia hoạt động văn hóa cứu quốc

ở Huế Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông lên chiến khu Thừa Thiên Cuộc

sống kháng chiến giữa lòng dân tộc và nhân dân đã nhào nặn lại tâm hồn Lưu

Trọng Lư Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản năm 1948 Những năm tiếp theo, ông sáng tác văn nghệ và đảm nhận công tác tuyên huấn ở Liên khu IV,

là Chi hội trưởng chi hội văn nghệ Liên khu IV, chủ bút tờ Thép mới, Phó

giám đốc khu tuyên truyền văn nghệ của Trung ương Đảng

Trang 24

Sau 1954, Lưu Trọng Lư về công tác ở Hà Nội (tại tiểu ban Văn nghệ Trung ương) Từ năm 1958, ông về công tác ở Bộ Văn hóa, là Vụ phó, Quyền

Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật, Tổng thư lý Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam

Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, Lưu Trọng Lư có những chuyến đi thực tế vào vùng tuyến lửa khu IV cũ và đường Trường Sơn Ông

tiếp tục làm thơ, viết nhiều kịch bản sân khấu – cả kịch nói và kịch thơ Ông còn là tác giả của nhiều bài tùy bút, bút ký, phê bình văn học

Lưu Trọng Lư là ủy viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam (khóa II), là ủy viên Hội đồng cố vấn của Hội nhà văn và Hội nghệ sĩ sân khấu từ năm 1983 Năm 1985, cùng với một số văn nghệ sĩ lão thành, Lưu Trọng Lư được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng ba Năm 1991, ông qua đời ở Hà Nội

Lưu Trọng Lư là một nghệ sĩ đa tài Ông làm thơ, viết văn, soạn

kịch,… Ở lĩnh vực nào ông cũng có tác phẩm tạo được dấu ấn riêng

Trước Cách mạng tháng Tám, Lưu Trọng Lư sáng tác chủ yếu là thơ,

tiểu thuyết và truyện ngắn Các tác phẩm đã được xuất bản: Người sơn nhân

(truyện - 1933), Huế, một buổi chiều (truyện - 1938), Tiếng thu (thơ - 1939),

Chi ếc cáng xanh (truyện - 1941), Khói lam chiều (truyện - 1941),…

Sau Cách mạng, bên cạnh thơ, văn xuôi ông còn sáng tác kịch nói, kịch

thơ và kịch bản cải lương Các tác phẩm đã được xuất bản: Tỏa sóng đôi bờ (thơ – 1959), Người con gái sông Gianh (thơ – 1966), Từ đất này (thơ – 1971), Mùa thu l ớn (tùy bút, hồi kí – 1978), Hồng Gấm (kịch thơ – 1973),

Tu ổi hai mươi (kịch thơ – 1973), Nữ diễn viên miền Nam (kịch hát cải lương), Cây thanh trà (k ịch hát cải lương), Xuân Vỹ Dạ (kịch nói), Anh Trỗi (kịch nói), N ửa đêm sực tỉnh (hồi kí – 1959),…

Trang 25

Với một sự nghiệp sáng tác khá đồ sộ và phong phú, đặc sắc cùng

những đóng góp tích cực, đáng quý cho nền văn nghệ Việt Nam, Lưu Trọng

Lư vinh dự được Nhà nước trao giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật (năm 2000)

Trước Cách mạng tháng Tám, ở nước ta có khá nhiều nhà thơ đồng thời

là người viết truyện ngắn, chẳng hạn như Thế Lữ, Xuân Diệu,… Các cây bút này được đánh giá cao ở vai trò thi sĩ và ít ai gọi họ là tác giả truyện ngắn Tuy nhiên, khi nói đến sự nghiệp văn chương của họ thì không thể không

nhắc đến bộ phận truyện ngắn này

Lưu Trọng Lư là một trường hợp tương tự Trong toàn bộ sáng tác của ông, truyện ngắn không phải là bộ phận nổi bật nhất, song cũng không thể không nhắc tới Để làm rõ điều này, trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu Lưu Trọng

Lư đến với truyện ngắn khi nào và nguyên nhân nào khiến ông sáng tác truyện ngắn

Chúng ta không thể biết chính xác Lưu Trọng Lư bắt đầu làm thơ, viết

văn từ khi nào Nhưng căn cứ vào tập sách đầu tay của ông – Người sơn nhân

được xuất bản năm 1933, lúc đó Lưu Trọng Lư khoảng 21 - 22 tuổi, thì có

thể khẳng định Lưu Trọng Lư đến với văn chương từ rất sớm

Nếu so với Xuân Diệu, sáng tác văn chương từ năm 15 tuổi, thì Lưu

Trọng Lư sáng tác muộn hơn Cả hai cùng làm thơ, viết văn nhưng có sự khác

biệt: Xuân Diệu làm thơ rồi sau đó mới viết văn, thơ là tác phẩm đầu tiên trên hành trình văn chương của ông; còn Lưu Trọng Lư vừa làm thơ vừa viết truyện, trong đó truyện ngắn là sáng tác đầu tiên giúp ông tạo dấu ấn trên con

đường văn học Điều này đã được Lưu Trọng Lư ghi lại trong hồi kí Nửa đêm

s ực tỉnh: “Những tiểu thuyết và thơ tôi đã viết ở núi Ngân Sơn tôi đưa cho

Trang 26

Hoài Thanh xem Không ngờ truyện Người sơn nhân lại gây một ấn tượng

mạnh ở Hoài Thanh Hoài Thanh liền trao cho Cao Xuân Huy, một người vốn

tốt nghiệp cao đẳng sư phạm đồng thời là người đang say Trang – Lão Ông Huy viết một bức thư cho Hoài Thanh khẳng định đây là một sự sáng tạo mãnh liệt, lấy tư cách giám đốc, ông Huy sẽ đứng ra bảo lãnh cho quyển sách

được in chịu ở nhà in Đắc Lập Thế là Ngân Sơn tùng thư ra đời và Người sơn

nhân được xuất bản Cả thơ lẫn truyện ngắn của tôi được tập hợp và in sách đều do Hoài Thanh giới thiệu” [42, 1335] Qua hồi kí đó, chúng ta còn biết

được truyện ngắn Người sơn nhân là thành công đầu tiên được xem là bước

ngoặt giúp con đường văn chương của ông rộng mở: “Tập truyện ngắn đã được nhiều báo Tây, ta, lúc bấy giờ hết sức chú ý, nhất là bài phê bình của cụ Phan Khôi đã đưa cuốn truyện của tôi lên tận mây xanh! Ông Phan Khôi cho

rằng văn đoàn đến nay chưa có một tác phẩm nào có giá trị sáng tạo như thế! Được những lời khen tôi đâm ra hoang mang Nhưng từ đấy, tôi cảm thấy con đường văn chương rộng mở trước mắt tôi” [42, 1336]

Nguyên nhân nào khiến Lưu Trọng Lư đến với văn chương nói chung, truyện ngắn nói riêng?

Trước hết đó lòng đam mê văn chương và khao khát thể hiện tài năng

của người nghệ sĩ

Đầu những năm 30, xã hội Việt Nam có nhiều biến động mạnh mẽ Do

những nguyên nhân kinh tế, lịch sử, trong đời sống xã hội đã bắt đầu xuất

hiện, bừng tỉnh ý thức cá nhân Sự bừng tỉnh về ý thức cá nhân đã tạo nên một nguồn năng lượng tinh thần dồi dào, to lớn: tự khẳng định mình trước cuộc đời Cả một thế hệ hăm hở đến với văn chương với những dự phóng sáng tạo

mới mẻ Yêu cầu khẳng định và phát triển cá nhân với họ là tạo dựng cho mình một sự nghiệp tinh thần để nâng cao giá trị của sự sống Khát vọng xây

Trang 27

dựng nền văn học dân tộc theo mô hình hiện đại để sánh kịp với người đã thôi thúc họ “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” [6, 156] Là một thanh niên trí thức thuộc thế hệ những năm 30, Lưu Trọng Lư cũng đã đến với văn chương như một lẽ sống cao quý

Tình yêu văn chương của Lưu Trọng Lư được khơi nguồn khi còn thơ

ấu bởi người mẹ thương yêu của tác giả: “Mẹ tôi đã mở đường cho tôi vào thế

giới thơ văn chân thật Từ thuở ấu thơ tôi đã được sống trong những lời ru của

mẹ Còn gì chân thật bằng tình người mẹ mà những gì đã qua trên môi mẹ sẽ

ở lại, thấm mãi tận lòng con…” [27, 64] Những năm học ở Huế, Lưu Trọng

Lư được gặp gỡ nhà nho, nhà giáo khí tiết Võ Liêm Sơn và lắng nghe tiếng thơ “trời sầu đất thảm của cụ” Mấy chục năm sau, nhớ lại ông vẫn thấy rõ:

“Đời tôi đã qua bao chuyện, nhưng quả thực cái đêm không ngủ nghe thơ cụ

Võ đã để lại trong tâm hồn tôi, trong ngày tháng trẻ dại của tôi một ấn tượng sâu sắc, dai dẳng” [42, 1323] Những năm học ở Hà Nội, Lưu Trọng Lư bị nhà thơ Ba Tư Omar Khayam “mê hoặc”: “Omar Khayam gửi vào cuốn sổ

nhỏ của tôi, vào hồn tôi, vào đời tôi một tứ thơ kì diệu” [42, 1324] Không chỉ yêu thơ, ông còn rất mê tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết Dostoievsky Ban đầu

“chả hiểu gì lắm, nhưng “Đốt” đã nắm tóc” ông Niềm đam mê đó to lớn và lạ

kì không thể nào lí giải được: “Cái điều làm Loan đôi chút suy tư là sao tôi cứ

đọc tiểu thuyết Nga, nhất là truyện Dostoievsky Tôi nói với Loan: Thằng

ng ốc là ai, là gì, tôi không hiểu, nhưng tôi vẫn thích, Loan sửng sốt, tôi kể với

một giọng say sưa… chuyện thằng ngốc mà cũng là một ông thánh” [42, 1325] Có lẽ, xuất phát từ tình yêu đặc biệt này mà Lưu Trọng Lư đã đến với văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng

Lưu Trọng Lư đã khởi nghiệp văn chương bằng truyện ngắn Nhưng đến những năm 1935 – 1940, thơ ông được rất nhiều người yêu thích, ông trở nên có một vị trí nổi bật trên thi đàn Thơ Lư là những vần thơ xuất phát từ

Trang 28

chính cảm xúc của tâm hồn và chỉ để làm đẹp cho tâm hồn: “Yêu thuần chất,

mộng thuần chất, đẻ ra thơ thuần chất… Sẽ đẩy lui ý xấu, đắp thêm mộng đẹp cho tâm hồn” [42, 1333] Thành công với thơ, Lưu Trọng Lư vẫn tiếp tục

sáng tác truyện ngắn Các truyện ngắn của ông lần lượt được đăng trên Tiểu

thuy ết thứ bảy, Phụ nữ thời đàm, Tân thiếu niên, Hà Nội báo… Nếu như thơ

của Lưu Trọng Lư bấy giờ là thơ “thuần chất”, phát xuất từ những nhu cầu bên trong, “không phải để cầm để bán cho ai, mà là những bài thơ làm đẹp lòng người” [42, 1338] thì truyện ngắn của ông được sáng tác một phần là do

sự thúc bách của cuộc sống vật chất bên ngoài Nói cách khác, Lưu Trọng Lư sáng tác truyện ngắn, văn xuôi phần nào là để kiếm sống

Sáng tác để kiếm sống là tình trạng chung của nhiều văn nghệ sĩ nước

ta trước Cách mạng Trong xã hội thương mại thời bấy giờ, hoạt động kinh doanh văn hóa diễn ra rất sôi nổi Trong đó, viết văn cũng trở nên một cái nghề kiếm sống tuy rất chật vật Nhà văn Nam Cao đã phản ánh chân thực và

thấm thía thực trạng này trong nhiều truyện ngắn của mình: “Hắn hiểu thế nào

là giá trị của đồng tiền; hắn hiểu những nỗi đau khổ của một kẻ đàn ông khi

thấy vợ con mình đói rách Những bận rộn tẹp nhẹp, vô nghĩa lí, nhưng không

thể không nghĩ tới, ngốn một phần lớn thì giờ của hắn Hắn phải cho in nhiều

cuốn văn viết vội vàng Hắn phải viết những bài báo để người ta đọc rồi quên ngay sau lúc đọc” [6, 156] Nhà thơ Xuân Diệu cũng đã từng thốt lên “Cơm

áo không đùa với khách thơ”, “khi túng thiếu nó thúc bách thì văn viết chưa chín vẫn cứ phải bán… Và anh Lưu Trọng Lư viết truyện được, chứ tôi không

viết truyện được Tôi sợ cho cái nghề viết văn! Phải kiếm nghề khác” [69, 265] Qua lời bộc bạch của Xuân Diệu, chúng ta có thể thấy viết truyện ngắn cũng là một cách Lưu Trọng Lư kiếm sống Trong hồi kí, Lưu Trọng Lư viết:

“Chả là lúc bấy giờ sau khi ở Huế tôi cho xuất bản Ngân Sơn tùng thư và bộ

ba truyện ngắn của tôi, đã làm cho cụ Phan Khôi và nhiều nhà phê bình trên

Trang 29

báo chí chữ Việt và chữ Pháp khen ngợi, nhất là khi anh Nhất Linh đã cho in

những bài “Phi lộ” của tôi về “Thơ mới” (kèm theo những bài thơ mới của

tôi) trên báo Ngày nay, thì rõ ràng tôi có một cái tên và bắt đầu tôi trở nên một

“món hàng” Tôi đã gặp nhiều người tìm tôi để mua lúa non!” [42, 1337] Đối

với một cây bút trẻ nhiều tâm huyết và đầy triển vọng, còn gì “chán chường,

“mệt mỏi” hơn khi tên tuổi mình trở thành “món hàng” Thế nhưng vì sinh kế, Lưu Trọng Lư đã cho ra đời nhiều truyện - sản phẩm của những “hợp đồng nghiệt ngã”: “Những tên buôn, khi chúng đánh hơi thấy “đồng tiền nhà văn”,

sắp “đội nón ra đi”, cái đói, cái thiếu, cái túng đã ngấp nghé bên ngoài cửa sổ,

ấy là lúc bắt đầu “thời kì những hợp đồng” – những hợp đồng “tiền trao cháo múc”, rồi những hợp đồng giữa sự túng bấn… Đồng tiền giữa con người và

ma quỷ!” [42, 1338]

Coi viết truyện là một phương cách mưu sinh, nhưng như vậy không có

nghĩa là để có tiền các nhà văn sẵn sàng bán rẻ ngòi bút của mình Là một nghệ sĩ chân chính, ai mà không đau đớn, dằn vặt khi phải viết “thứ văn chương bằng phẳng và quá ư dễ dãi” Bởi với họ, “sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì

thật là đê tiện” [6, 156] Lưu Trọng Lư cũng có những nỗi niềm như vậy Là

một người đam mê văn chương, đến với văn chương bằng tấm lòng đam mê thành thật, Lưu Trọng Lư luôn ý thức được rằng “cuộc đời và chuyện văn chương đâu phải dễ dàng đơn giản thế, đâu phải sẵn bút mực, đẩy vài dòng,

cứ hết dòng này tiếp dòng khác cho đến hết một chương lại chấm hết một dấu

hết” [42, 1321] Cho nên nhiều lúc “tiền người ta đã lấy tiêu mà ngòi bút của

mình thì cứ chần chờ” [42, 1338] Bởi không thể viết cẩu thả nên tác giả đã

chấp nhận thất bại: “tôi đã thất bại trong cái trò văn chương rẻ tiền làm vừa lòng các cô gái tân thời Là nhà văn nhà thơ, chúng tôi không phải lúc nào

Trang 30

cũng cao khiết” [42, 1338] Nếu không phải là cây bút có lương tâm và trách

nhiệm, Lưu Trọng Lư đã không có những suy nghĩ dằn vặt như thế

Tóm lại, Lưu Trọng Lư đến với truyện ngắn từ rất sớm, xuất phát từ tình yêu mãnh liệt dành cho văn chương và một phần là vì nhu cầu cuộc sống Truyện ngắn đem đến những thành công đầu tiên, giúp ông bước đầu tạo

dựng tên tuổi, tiếp thêm nghị lực và niềm tin cho ông trong cuộc sống và trên con đường sáng tạo văn chương nghệ thuật

Vị trí quan trọng của truyện ngắn trong toàn bộ sáng tác văn học của Lưu Trọng Lư trước 1945 còn được thể hiện qua số lượng và sự đa dạng của

của mảng sáng tác này

Trước 1945, Lưu Trọng Lư sáng tác ở cả hai lĩnh vực thơ và văn xuôi

Về thơ, ông có tập thơ Tiếng thu, gồm khoảng 50 bài thơ ngắn, dài khác nhau

Về văn xuôi, nếu căn cứ theo Lưu Trọng Lư – tác phẩm truyện ngắn, tiểu

thuy ết ông có 18 tiểu thuyết và 26 truyện ngắn Tiến hành so sánh, chúng ta sẽ

thấy số lượng tác phẩm văn xuôi và tác phẩm thơ của ông là khá cân bằng; số lượng tiểu thuyết và số lượng truyện ngắn cũng tương đương nhau Kết quả trên đã phản ánh phần nào thực tế sáng tác của Lưu Trọng Lư: ông chú trọng

cả hai lĩnh vực sáng tác là thơ và văn xuôi; trong văn xuôi, ông coi trọng tiểu thuyết nhưng cũng không xem nhẹ truyện ngắn

Trong giai đoạn 1930 – 1945, giai đoạn truyện ngắn phát triển mạnh mẽ

nhất, số lượng truyện ngắn của Lưu Trọng Lư không phải là nhiều Tuy nhiên,

nếu so sánh với Thạch Lam, Thanh Tịnh hay Xuân Diệu thì con số đó cũng không hẳn là ít (Thạch Lam có khoảng 23 truyện, Thanh Tịnh có khoảng 18 truyện, Xuân Diệu có khoảng 16 truyện) Mặt khác, truyện ngắn của Lưu

Trọng Lư thuộc nhiều kiểu loại Có những truyện thần tiên ma quái (Ly Tao

tuy ệt vọng) Có truyện dã sữ (Người sơn nhân, Chiêm Thành) Có truyện tâm

Trang 31

lí xã hội (Cô bé hái dâu, Một lần tôi đi qua, Khỏi truông,…) Có truyện thế sự (Con chim s ổ lồng, Anh Neo, Thi sỹ,…) Chính số lượng cùng sự đa dạng của

truyện ngắn đã phần nào chứng tỏ Lưu Trọng Lư là một cây bút truyện ngắn

em, tư tưởng, tình cảm nhân đạo của tác giả rất đáng quý lối kể chuyện khá dài dòng, dễ tạo cảm giác nhàm chán Tuy nhiên, dù chất lượng nghệ thuật có như thế nào đi chăng nữa thì truyện ngắn của Lưu Trọng Lư cũng là những tư

liệu cần thiết giúp ta hiểu thêm về con người ông, về khuynh hướng tư tưởng

thẩm mĩ của ông và về tài năng đa dạng của ông

Tóm lại, với Lưu Trọng Lư, có lẽ chỉ cần mảng sáng tác thơ cũng có

thể giúp ông có được một vị trí nhất định trong nền văn học dân tộc Song nếu

bỏ qua mảng văn xuôi, trong đó có truyện ngắn, sự nghiệp văn học của Lư sẽ thiếu đi sự đa dạng, phong phú; ông cũng sẽ không được nhắc nhiều với tư cách một nghệ sĩ đa tài Sự tồn tại của truyện ngắn cùng với tiểu thuyết và thơ trong sáng tác của Lưu Trọng Lư gợi liên tưởng đến hình ảnh cái kiềng ba chân; đến câu ca dao “Một cây làm chẳng nên non – Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” Từ đó, chúng tôi đi đến kết luận truyện ngắn có một vị trí quan

trọng trong sự nghiệp sáng tác của Lưu Trọng Lư

Trang 32

1.2.3 Ch ất thơ trong truyện ngắn của Lưu Trọng Lư

Mỗi tác giả văn học đều phải tìm tòi, chọn lựa một đường hướng sáng

tạo, sao cho tài năng nghệ thuật của mình được thể hiện rõ nhất, mình có thể giao tiếp với bạn đọc những vấn đề về cuộc sống và con người đương thời

một cách tri âm và thoải mái nhất Đường hướng sáng tạo đó thường rất phù

hợp với cá tính riêng của người cầm bút Cái “tạng” riêng, “điệu tâm hồn” riêng của tác giả sẽ góp phần quyết định đặc điểm sáng tạo và sắc diện nghệ thuật của chính anh ta Đồng thời, thông qua tác phẩm, cá tính, bản sắc tâm

hồn bên trong của chủ thể sáng tạo cũng được thể hiện rõ ràng nhất Điều này tương ứng với quan niệm “văn tức là người” (Buffon)

Lưu Trọng Lư là một trường hợp tiêu biểu của quy luật “văn tức là người” trên Ông vốn là một người rất mơ màng, lơ đãng: “Mỗi lần gặp, tôi có

cảm tưởng như Lư là một vong hồn vất vưởng, nay đây mai đó, như mây như gió, phiêu bạc giữa trần gian” [27] Cái cá tính riêng này đã đưa ông đến với thơ trữ tình lãng mạn Và trong thế giới thơ đó, cái điệu tâm hồn của ông đã được bộc lộ rõ hơn hết: “Ở đời này, ít có người lơ đãng hơn Thi sĩ đời nay họ khôn lắm, có khi ranh nữa Và yêu thơ, thường ta chả nên biết người, thiệt thòi ngay cho họ và thiệt thòi ngay cho mình Nhưng yêu thơ Lư mà quen Lư

vô hại, vì đời Lư cũng là một bài thơ Nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là

một kẻ ngơ ngơ ngác ngác, chân bước chập chững trên đường đời, thì có lẽ

Lư thi sĩ hơn ai hết Giá một ngày kia Lư có nhảy xuống sông ôm bóng trăng

mà chết ta cũng không nên ngạc nhiên một tí nào” [61, 403]

Là một nhà thơ lãng mạn đồng thời là cây bút viết truyện ngắn nên truyện ngắn Lưu Trọng Lư rất giàu chất thơ

Thơ và truyện ngắn là hai thể loại khác biệt Nhưng với Lưu Trọng Lư, chúng có thể được hòa trộn với nhau tạo thành một chỉnh thể có sự hài hòa

Trang 33

giữa tố chất hiện thực và tố chất lãng mạn, giữa tính tự sự và tính trữ tình Ly

Tao tuy ệt vọng là một trường hợp như vậy Trong truyện ngắn này, để diễn tả

tiếng đàn, tiếng hát chất chứa nỗi niềm cô đơn, u hoài của nàng Ly Tao, bên

cạnh những câu văn miêu tả, tác giả còn sử dụng những dòng thơ giàu biểu

cảm và nhạc điệu:

“Ta là nàng Ly Tao,

Ngồi bến Văn Giang khóc trăng sầu, Đếm giọt sương gieo, lắng nghe rỉ rầu giọng dế,

Trời đất quạnh hiu, còn ta đây tuôn dòng lệ,

Gỡ mối tơ lòng, ta sẽ lựa đường tơ,

Ngọn lửa chài, con sông trắng, bóng sao mờ nhấp nháy,

Hồn nghệ sĩ lạnh lùng tê tái,

Ngọn cầm giăng tơ phím lung lay (…)” [42, 40]

Những dòng thơ cứ được nhắc lại, tạo nên một âm hưởng buồn thương tha thiết bàng bạc khắp câu chuyện Nhờ đó câu chuyện tăng thêm chất trữ tình lãng mạn

Trong truyện ngắn Chiếc áo rét, Lưu Trọng Lư cũng đặt vào một bài thơ

ngay sau nhan đề tác phẩm:

“Một hôm ta đứng tên hồ Kiếm Bên ta rộn rịp biết bao người

Mà ta chỉ thấy người hôm ấy

In giữa không gian một nụ cười (…)” [42, 88]

Trang 34

Tiếp sau bài thơ là phần văn xuôi Sự sắp đặt này tưởng chừng rời rạc, nhưng thật ra nó lại liền mạch, kết dính Bởi từ đầu tác phẩm, những dòng thơ

đã gây cho người đọc một dấu ấn cô đọng về cảm xúc Cảm xúc đó dần hiện hình qua những chi tiết, hình ảnh, sự kiện, diễn biến được miêu tả ở phần văn xuôi Qua đó, câu chuyện vừa giàu cảm xúc vừa sinh động; những biến thái trong tâm hồn nhân vật cũng được biểu hiện rõ nét hơn

Cô bé hái dâu cũng là một truyện ngắn chứa đầy thơ:

“Chiều chiều ra bãi hái dâu

Lá vàng vàng úa, lá dầu dầu xanh Duyên kia có phụ chi tình?

Con tằm nhả kén cho mình quay tơ” [42, 44]

Hay:

“Cái tình chi?

Cái tình chi cũng ngộ Khiến cho đây đó quen nhau Trong vườn dâu, em sầu, em tủi

Giỏ dâu đầy, lủi thủi một mình em!” [42, 47]

Những câu thơ cũng được tác giả dùng để diễn tả tiếng hát của người con gái trong câu chuyện Tiếng hát ấy cứ ngân nga, vang vọng trong không gian và trong tâm hồn chàng trai mỗi khi chàng lắng đọng suy tư Ở đây, sự

xuất hiện đúng chỗ của các câu thơ đã giúp mạch cảm xúc của câu chuyện được liền mạch Truyện ngắn trở thành những trang bộc bạch tâm hồn của nhân vật

Trang 35

Trong truyện ngắn của Lưu Trọng Lư còn có những hình ảnh, cảm xúc

giống như trong thơ ông Lại Nguyên Ân viết: “Lưu Trọng Lư được xem trước hết như một nhà thơ; nhưng thế giới thơ Lưu Trọng Lư thật ra không tách rời, mà ngược lại, có sự tiếp nối với thế giới văn xuôi do ông sáng tạo, đó

là cuộc sống trong các truyện ngắn, truyện dài ông viết Nhiều khi, một vài ý tưởng cảm xúc chỉ in gọn trong một vài câu thơ đoạn thơ, sẽ có âm vang rộng dài hơn, mà không chỉ một lần, trong các truyện ngắn, truyện dài” [42, 14] Đọc thơ và truyện ngắn của Lưu Trọng Lư, chúng ta có thể dễ dàng bắt

gặp những hình ảnh giống nhau Ví dụ như hình ảnh cô gái Chiêm Thành xuất

hiện trong bài thơ Trường hận:

“Hay là cô gái nước Chiêm Thành

Gặp cơn binh lửa, bỏ ngày xanh,

Hết trôi sông rồi chết giạt…

Chút tinh anh thừa rơi rác (…)” [41, 57]

và trong truyện ngắn Chiêm thành: “Chàng thấy một cái xác đen nằm trong

một vũng máu Chàng sờ tay vào thì thấy thịt đã lạnh tanh Chàng ghé tai vào thì nghe lọt ở chân răng một câu nói cuối cùng: “Em là gái Chiêm Thành!”” [42, 73] Gắn liền với hình ảnh này là một nỗi niềm uất hận: “Mà mối hận nghìn thu ôm ấp lòng”(Trường hận), và “biết bao nỗi đau đớn: thương tổ

quốc, thương nòi giống, thương những người bất hạnh, thương những kẻ lạc

loài” [42, 73] Hay hình ảnh một gian nhà nhỏ nằm giữa một khoảng thiên nhiên rộng lớn, thơ mộng nhưng hoàn toàn tách biệt, ở đó chỉ có hai con

người sống với nhau Nếu như trong Túp liều cỏ, hình ảnh này gói gọn trong

vài câu thơ:

“ Nhà cỏ ba gian, vườn một khoảnh,

Trang 36

Có hồng, có táo, có đào tiên

Lủi thủi tháng ngày hai chiếc bóng

Ra vào may có gió trăng quen (…)” [41, 20]

Thì trong truyện ngắn Cái đời hát xẩm, nó được miêu tả cụ thể, sinh động

hơn: “Hai vợ chồng dần dà ngày tháng đã cất nổi một nếp nhà, mái lợp bằng

lá, phên đan bằng nứa, trông cũng gọn gàng sạch sẽ Chung quanh lại có một khoảnh vườn rộng, trồng đủ thức rau quả và bông hoa Một vạt lớn dành riêng cho những bụi huỳnh tinh Trên một cây đào tiên khít ở hè có treo thòng lõng

một cái võng bện bằng rễ chìu Đằng xa, một ngọn suối chảy trên gành đá,

tiếng rỉ rách nghe đều đặn như tiếng tích tắc của đồng hồ” [42, 51] Hình ảnh này đã phản ánh nét lãng mạn trong tâm hồn chủ thể sáng tạo

Thơ Lưu Trọng Lư phần nhiều là thơ tình yêu Cảm xúc tình yêu trong thơ ông thường là cảm xúc mơ mộng, đơn phương, sầu khổ:

“Chửa biết tên nàng, biết tuổi nàng

Mà sầu trong dạ đã mang mang Tình yêu như bóng giăng hiu quạnh

Lạnh lẽo đêm trường giãi gió sương” [41, 33]

Trong truyện ngắn của ông, chúng ta cũng bắt gặp những câu chuyện tình với bao cảm xúc như thế Chẳng hạn như trong Cô bé hái dâu: “Dầu tôi mới thấy

cô lần đầu, mà như đã quen nhau lâu lắm rồi, vì từ khi ở bãi dâu về, cái hình ảnh của cô bé – cái hình ảnh mà tôi đã tưởng tượng ra – thường theo luôn luôn bên mình tôi, và chủ trương cả tâm hồn tôi, cả cuộc đời tôi” [42, 46]

Hay trong M ột lần tôi đi qua tình yêu cũng bắt đầu từ một lần tình cờ gặp gỡ,

chàng trai không biết và cũng không cần biết cô gái là ai, nhưng hình bóng cô

Trang 37

gái đã được đặt vào “một chỗ trong sạch nhất của trái tim”, “một chỗ trong

sạch nhất của linh hồn” [42, 117-118]

Tóm lại, chúng ta có thể tìm thấy không ít những tương đồng mang tính

bổ sung độc đáo giữa thế giới thơ và truyện ngắn của Lưu Trọng Lư Sự tương đồng và tiếp nối với thơ đã giúp cho truyện ngắn của ông tuy vẫn mang

những đặc điểm của một tác phẩm tự sự nhưng lại giàu chất trữ tình lãng mạn

TI ỂU KẾT:

Truyện ngắn là một thể loại phát triển mạnh trong giai đoạn văn học

1930 – 1945 Là một tác giả bắt đầu sự nghiệp sáng tác trong giai đoạn này, Lưu Trọng Lư cũng tìm đến với truyện ngắn để thể hiện niềm đam mê và khả năng của mình Tuy nhiên, truyện ngắn của ông không tạo được nhiều dấu ấn như thơ của ông Chính vì thế mà vị trí của ông trong nền truyện ngắn rất mờ

nhạt Nhưng xét trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Lưu Trọng Lư thì bộ

phận sáng tác này vẫn có một vị trí quan trọng Nó góp phần khẳng định tài năng đa dạng của tác giả Đặc biệt là góp phần đem đến cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về Lưu Trọng Lư , một tác giả văn xuôi – đây là điều mà trước nay chưa được quan tâm nhiều

Trang 38

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA TRUYỆN NGẮN LƯU

Tác phẩm văn học là một thành quả sáng tạo của nghệ thuật ngôn từ,

vừa là đối tượng thẩm mỹ của sự tiếp nhận Ở hai phương diện đó, tác phẩm tham gia vào đời sống văn học như một bộ phận có hiệu lực nhất, như một tế bào cơ bản nhất Dù dung lượng, qui mô có thể khác nhau, tác phẩm văn học được xem như là một chỉnh thể nghệ thuật, có sự thống nhất hữu cơ giữa nội dung và hình thức, giữa yếu tố và hệ thống

Khi đề cập đến nội dung tác phẩm, chúng ta thường nghĩ đến hai bình

diện: nội dung trực tiếp và nội dung tư tưởng [13, 14] Sự phân định cấp độ

nội dung tác phẩm giúp cho người ta nhận ra sự đa tầng, đa nghĩa của tác

phẩm văn học Nhưng sẽ hiểu không đầy đủ về tác phẩm khi người ta dừng lại

ở những cái gì được miêu tả trực tiếp, được biểu hiện cụ thể trong tác phẩm

Một nội dung cụ thể sẽ không có ý nghĩa khi nó không gắn với một tư tưởng,

một tình cảm, một thái độ của tác giả hay của nhân vật “Một nội dung cụ thể nào cũng hàm chứa trong bản thân nó một nội dung tư tưởng nhất định” [13, 14]

Có nhiều phương diện cấu thành nội dung tư tưởng của một tác phẩm văn học Nhưng ở đây, khi tìm hiểu nội dung truyện ngắn của Lưu Trọng Lư, chúng tôi chỉ tìm hiểu hai phương diện là đề tài và cảm hứng nghệ thuật

2.1 Đề tài trong truyện ngắn Lưu Trọng Lư

Đề tài là một phương diện khách quan của nội dung tác phẩm văn học Đọc bất cứ tác phẩm nào chúng ta cũng bắt gặp những người, những cảnh và tâm tình cụ thể sinh động Đó là phạm vi miêu tả trực tiếp của tác phẩm Tính

chất của phạm vi miêu tả trực tiếp trong các tác phẩm có thể hết sức đa dạng: chuyện con người, con thú, cây cỏ, chim muông, đồ vật, lại có cả chuyện thần

Trang 39

tiên, ma quái, chuyện quá khứ, chuyện viễn tưởng mai sau Nhưng mục đích

của văn học không bao giờ chỉ là giới thiệu những hiện tượng cụ thể, cá biệt

của đời sống hay tưởng tượng Tác phẩm văn học bao giờ cũng xuyên qua

một phạm vi miêu tả trực tiếp trong tác phẩm để khái quát lên một phạm vi

hiện thực đời sống có ý nghĩa sâu rộng hơn Sự khái quát về phạm vi xã hội

lịch sử của đời sống được phản ánh một cách nghệ thuật trong tác phẩm gọi là

tình yêu hư ảo giữa người với ma trong câu chuyện đậm chất truyền kì Ly Tao

tuy ệt vọng, tình yêu đầy mơ mộng giữa những chàng trai cô gái trong độ tuổi

học sinh trong Cô bé hái dâu, Chân ái tình, Chiếc áo rét, Bó lan trắng, Người

mua hoa, Một lần tôi đi qua, Tình trong giây lát,… và tình yêu đau khổ trong Nàng Vân may áo cho ch ồng

Đề tài dã sử với hai truyện ngắn Người sơn nhân và Chiêm Thành Ở

hai câu chuyện này, tác giả không chú trọng vào các sự kiện lịch sử Yếu tố

lịch sử chỉ được nhắc thoáng qua, làm nền cho trí tưởng tượng cũng sự việc

thể hiện cảm xúc chủ quan của tác giả

Đề tài cuộc sống nghèo khổ của những đứa trẻ trong Con chim sổ lồng,

của người nông dân trong Anh Neo, của người phụ nữ trong Con vú em…

Đề tài người nghệ sĩ trong Cái đời hát xẩm, Thi sỹ, Cắm neo, Bạn tôi

cưới vợ

Đề tài trong truyện ngắn của Lưu Trọng Lư khá đa dạng Tuy nhiên, tác

giả chưa xây dựng được cho mình những hệ thống đề tài chủ chốt như các nhà

Trang 40

văn cùng thời Chẳng hạn như Nam Cao với hai đề tài sáng tác chính là người nông dân nghèo và người trí thức nghèo Hay Nguyễn Tuân với đề tài cái đẹp

một thời vang bóng Còn với Lưu trọng Lư, truyện ngắn như là một mảnh đất màu mỡ để người nghệ sĩ gieo trồng đủ loại cây Mỗi cây, vài cây là một loại

đề tài Mỗi loại đề tài lại mang một màu sắc riêng cùng tồn tại trong một thời

khắc lịch sử Điều này cho thấy Lưu Trọng Lư có quan tâm đến nhiều khía

cạnh trong cuộc sống, tuy nhiên mức độ sâu sát, sâu sắc thì không nhiều

Cũng giống như trong thơ, tình yêu là đề tài chính trong truyện ngắn

của Lưu Trọng Lư Đề tài này đã phản ánh xu hướng sáng tác lãng mạn mà tác giả đang theo đuổi, là sự lựa chọn giúp thể hiện rõ hơn cái tôi đa tình của mình, khi mà thơ không đủ chổ giãi bày thì ông tìm đến văn xuôi Tuy nhiên, Lưu Trọng Lư dù có đắm chìm trong yêu đương mơ mộng thì cũng không quên những mảnh đời cơ cực quanh mình Qua những truyện ngắn Con chim

s ổ lồng, Anh Neo, Thi sỹ,… chúng ta cũng thấy được khả năng nắm bắt và tái

hiện chân thực, nhạy bén hiện đời sống đương thời cùng tấm lòng tha thiết

của ông hướng về con người và cuộc sống Điều đó chứng tỏ rằng, Lưu Trọng

Lư rất lãng mạn nhưng không hề là thoát li hiện thực

Tóm lại, Lưu Trọng Lư quan tâm, xúc cảm trước nhiều hiện tượng của

cuộc sống và đã phản ánh chúng trong truyện ngắn của mình Những đề tài

mà ông chọn vốn không phải là mới mẻ Tuy nhiên, việc lựa chọn đề tài này

chứ không phải là đề tài khác đã nói lên cái xu hướng sáng tác, cái khuynh hướng tư tưởng thẩm mỹ của ông

2.2 Cảm hứng nghệ thuật trong truyện ngắn Lưu Trọng Lư

Trong sáng tạo nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng, cảm hứng là

“điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó

biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư

Ngày đăng: 02/12/2015, 07:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Antôn ốp (1956), Vi ết truyện ngắn, Nxb Văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết truyện ngắn
Tác giả: Antôn ốp
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1956
2. Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (2001), T ừ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (t ừ cuối thế kỷ XIX đến 1945), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (từ cuối thế kỷ XIX đến 1945)
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Bích Thu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
3. L ại Nguyên Ân (1998), 150 thu ật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: L ại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1998
4. Nam Cao (2005), Truy ện ngắn chọn lọc, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn chọn lọc
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
5. Nguy ễn Minh Châu (1994), Trang gi ấy trước đèn, Nxb Khoa h ọc xã h ội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguy ễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
6. Xuân Di ệu (2001), Xuân Diệu toàn tập (t ập 2, Nguyễn Bao sưu tầm, biên so ạn và giới thiệu), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diệu toàn tập
Tác giả: Xuân Di ệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
7. Tr ần Ngọc Dung (1992), Ba phong cách truy ện ngắn trong văn học Vi ệt Nam thời kỳ đầu những năm 1930 – 1945: Nguyễn Công Hoan – Thạch Lam – Nam Cao, Lu ận án phó tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba phong cách truyện ngắn trong văn học Việt Nam thời kỳ đầu những năm 1930 – 1945: Nguyễn Công Hoan – Thạch Lam – Nam Cao
Tác giả: Tr ần Ngọc Dung
Năm: 1992
8. Phan C ự Đệ (1997), Văn học lãng mạn Việt Nam (1930/1945), Nxb Giáo d ục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn Việt Nam (1930/1945)
Tác giả: Phan C ự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
9. Tr ần Thanh Địch (1988) , Tìm hi ểu truyện ngắn, Nxb Tác ph ẩm mới, H ội Nhà văn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu truyện ngắn
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
10. Hà Min h Đức (1978), Văn học Việt Nam 30 – 45, t ập I, Nxb Đại học và Trung h ọc chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 30 – 45
Tác giả: Hà Min h Đức
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
11. Hà Minh Đức, Lê Bá Hán (1985), Cơ sở lý luận văn học, Nxb ĐH và THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức, Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1985
12. Nhi ều tác giả (1989), Ch ủ nghĩa nhân đạo trong văn học hiện đại , Vi ện thông tin khoa h ọc xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học hiện đại
Tác giả: Nhi ều tác giả
Năm: 1989
13. Nhi ều tác giả (1997), Văn học Việt Nam (1900-1945), Nxb Giáo d ục, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900-1945)
Tác giả: Nhi ều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
14. Nhi ều tác giả (1998), Thơ mới 1932 – 1945 Tác giả, tác phẩm, Nxb H ội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới 1932 – 1945 Tác giả, tác phẩm
Tác giả: Nhi ều tác giả
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1998
15. Nhi ều tác giả (2000), Ngh ệ thuật viết truyện ngắn và kí, Nxb Thanh niên, Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí
Tác giả: Nhi ều tác giả
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
16. Nhi ều tác giả (2004), T ừ điển văn học bộ mới , Nxb Th ế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học bộ mới
Tác giả: Nhi ều tác giả
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 2004
17. B ằng Giang (1998), Văn học quốc ngữ ở Nam Kì 1865 – 1930, Nxb Tr ẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học quốc ngữ ở Nam Kì 1865 – 1930
Tác giả: B ằng Giang
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1998
18. Hoàng Bích Hà, Vương Trí Nhàn (sưu tầm, biên soạn), (2004), Truy ện ng ắn Khái Hưng, Nxb H ội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Khái Hưng
Tác giả: Hoàng Bích Hà, Vương Trí Nhàn (sưu tầm, biên soạn)
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2004
19. Lê Bá Hán, Tr ần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo d ục, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Tr ần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
20. Nguy ễn Văn Hạnh (1972), M ột số điểm cần nói rõ thêm về vấn đề nghiên c ứu tác phẩm văn học , T ạp chí văn học, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điểm cần nói rõ thêm về vấn đề nghiên cứu tác phẩm văn học
Tác giả: Nguy ễn Văn Hạnh
Năm: 1972

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w