LỜI NÓI ĐẦU Du lịch là một ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp, có tác dụng tích cực thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác nhau, là chiếc cầu
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Du lịch là một ngành kinh tế mang tính chất tổng hợp, có tác dụng tích cực thực hiện chính
sách mở cửa, thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác nhau, là chiếc cầu nối cho sự giao
lưu văn hoá, xã hội giữa các quốc gia, các dân tộc với nhau, giữa các vùng trong nước
Việt Nam có nhiều tiềm năng về du lịch với điều kiện thiên nhiên phong phú, nhiều danh lam
thắng cảnh, di tích lịch sử, di sản văn hoá được thế giới công nhận, cùng với truyền thống văn hoá dân
tộc lâu đời, nhiều lễ hội, phong tục tập quán đậm đà bản sắc dân tộc, kiến trúc nghệ thuật đặc sắc,
cùng với nguồn lao động dồi dào, đã tạo cho ngành du lịch phát triển một bước nhất định, đáp ứng nhu
cầu của du khách tham quan nghỉ ngơi, có hiệu quả kinh tế nhất định trong thời gian qua
Tuy nhiên, so với các nước xung quanh trong khu vực, nền du lịch nước nhà có những bước
tiến rất khiêm tốn, chưa thể trở thành trung tâm du lịch có tầm cỡ trong vùng Sản phẩm du lịch còn
đơn điệu chưa thật hấp dẫn du khách nước ngoài Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực vưà qua làm
cho ngành du lịch có phần sút giảm
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm du lịch lớn nhất cả nước Với hệ thống cơ sở hạ tầng
tương đối tốt như sân bay, bến cảng, cầu đường, bưu chính ,viễn thông v.v và tài nguyên thiên nhiên,
vị trí địa lý thuận lợi, Thành phố có nhiều tiềm năng du lịch lớn Trong thời gian qua hoạt động du lịch
Thành phố có ảnh hưởng rất lớn đối với du lịch của toàn ngành
Mức độ phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, tuy có những bước tiến bộ nhất định,
nhưng vẫn còn thấp so với trình độ phát triển du lịch của các Thành phố của các nước lân cận như
Bangkoh, Jakatta, Kualampua.v.v .chất lượng sản phẩm du lịch chưa đáp ứng yêu cầu du khách, loại
hình du lịch còn đơn giản, đội ngũ nhân viên phục vụï còn hạn chế Sự mất cân đối giữa việc đầu tư
xây dựng quá nhiều khách sạn với nhu cầu lưu trú của du khách, gây ra cạnh tranh gay gắt Do đó
hiệu quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng phát triển du lịch Thành phố
Xuất phát từ những vấn đề nêu, trên cơ sở lý luận được trang bị trong quá trình học tập các
môn chuyên ngành quản trị kinh doanh, kết hợp với hoạt động thực tiễn của ngành du lịch Thành phố
và để góp phần vào sự phát triển du lịch của Thành phố chúng tôi xin trình bày đề tài: “ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
Mục đích và nhiệm vụ của luận văn:
Nghiên cứu hoạt động du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó phân tích những nhân tố
ảnh hưởng đến lượng khách tới Thành phố, hoạt động cơ sở lưu trú, dự báo trong tương lai Từ đó rút ra
những giải pháp nhằm phát triển du lịch Thành phố trong thời gian sắp tới
Do thời gian nghiên cứu ngắn, việc điều tra thu thập số liệu gặp những khó khăn nhất định,
trình độ bản thân có hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những điều thiếu sót Rất mong quý
Thầy, Cô nhiệt tình chỉ bảo giúp đỡ
Nội dung luận văn:
Trang 3- Lời nói đầu
- Chương I : Tổng quan về du lịch thế giới
- Chương II : Tình hình hoạt động du lịch Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh
- Chương III : Các giải pháp phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh
- Kết luận
- Phụ lục và tài liệu tham khảo
Trang 4Chương I:
TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH TRÊN THẾ GIỚI
1 Du lịch thế giới:
1.1 Một số nét về du lịch thế giới:
1.1.1 Sự phát triển du lich thế giới:
Du lịch hình thành và phát triển theo nhu cầu đời sống con người từ những ngày xa xưa Ngày
nay khi kinh tế phát triển, đời sống con người ngày được nâng cao thì nhu cầu đi đây đó, tham quan,
tìm hiểu thế giới quanh mình ngày càng phát triển Và như thế nhu cầu phát triển du lịch ngày càng
lớn, tạo ra một thị trường rộng lớn, không chỉ ở phạm vi một ngành kinh tế hay ở một quốc gia
Ngày nay du lịch toàn cầu đang phát triển để trở thành một trong những ngành kinh doanh tổng
hợp chủ yếu của thế giới trong thế kỷ 21, một ngành “công nghiệp không khói” Hoạt động du lịch
phát triển góp phần mở mang các ngành nghề kinh doanh khác, thu hút nhiều lao động
Du lịch quốc tế phát triển trên qui mô lớn bắt đầu từ giữa thế kỷ 20, và đến ngày nay được đánh
giá là một trong những ngành công nghiệp hàng đầu Theo báo cáo của Tổ chức du lịch thế giới
(WTO) công bố ngày 25 tháng 1 năm 2000, du lịch là ngành công nghiệp phát triển nhanh nhất của thế
giới Từ năm 1970 đến 1990 ngành du lịch tăng gần 300% Cho đến cuối thế kỷ này, người ta ước tính
nó sẽ tăng thêm hơn 150% nữa Năm 1990 có khoảng 450 triệu khách du lịch ra khỏi biên giới quốc
gia trên toàn thế giới, gần bằng 8% dân số thế giới, đến năm 1999 con số này là 657 triệu lượt du
khách, tăng 3,2% so với năm 1998 WTO ước tính năm 2000 số du khách ra nước ngoài có thể 780
triệu lượt người Tới năm 2010, con số này sẽ ở mức 1 tỉ lượt người
Thu nhập từ ngành du lịch toàn cầu cũng tăng mạnh, từ 225 tỷ USD năm 1990 lên 455 tỷ USD
vào năm 1999 WTO ước tính con số này có thể tăng lên 1.500 tỷ USD vào năm 2010 và 2.000 tỷ USD
năm 2020 Như vậy, đến năm 2020, du lịch sẽ là một trong những ngành kinh tế lớn nhất của thế giới
Du lịch là ngành có nhiều nhân viên nhất trên thế giới, hiện đang có 112 triệu người làm du
lịch – cứ 15 ngưới lao động thì có 1 người làm nghề du lịch Hàng năm, ngành trả 540 triệu USD tiền
lương cho nhân viên [số liệu của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới năm 1991]
Bảng: 1
Số lượt du khách và doanh thu từ ngành du lịch thế giới
Năm Tổng số lượt khách du
lịch (triệu người)
Doanh thu từ du lịch mang lại (tỉ USD)
Trang 5Trong năm 1999 số người đến du lịch các khu vực trên thế giới cũng tăng mạnh Lượng du
khách tới châu Mỹ tăng 3,8%, đạt 126,7 triệu người, tới châu Phi đạt 27,3 triệu tăng 9% Số du khách
châu Âu trong năm 1999 chỉ tăng có 1% so với 2,8% trong năm 1998, trong khách tới Tây Ban Nha
tăng 8,8%, tới Hy Lạp tăng 5% song lại giảm mạnh tại Trung Âu và Đông Âu do cuộc chiến Kosovo
và tình trạng bất ổn trên thị trường Nga
Phân theo khu vực, lượng khách quốc tế đi du lịch châu Âu vẫn đứng hàng đầu, chiếm khoảng
53,1%, châu Mỹ: 19,2%, châu Á-Thái Bình Dương: 23,4% và châu Phi: 4,1%
Số lượng khách quốc tế đến các vùng khác nhau trên thế giới năm 1999
Pháp là nước dẫn đầu thế giới với 71,4 triệu du khách tới nước này trong năm 1999, tăng 2%,
TâyBan Nha đón tiếp 52 triệu du khách và Mỹ đón tiếp 47 triệu khách tăng 1,3% Italia đón 35,8 triệu
Trang 6khách, tăng 2,9%, Trung Quốc đón 27 triệu khách tăng 7.9%, Anh đón 25,7 triệu bằng mức năm 1998,
Mexico đón 20,2 triệu khách tăng 2%, Canada đón 19,6 triệu khách tăng 3,8%, Ba Lan có 17,9 triệu
khách, giảm 4,5% và Áo 17,6 triệu khách tăng 1,6%
Năm 1999 tính về thu nhập từ du lịch, Mỹ đứng đầu thế giới với 73 tỷ USD, tiếp theo là Tây
Ban Nha 25,2 tỷ USD (tăng 6,3%, số liệu này chỉ tính trong 9 tháng đầu năm 1999), Italia đạt 31 tỷ
USD (tăng 4%), Anh: 21 tỷ USD (không tăng), Đức: 9,6 tỷ USD (giảm 0,2% và số liệu này chỉ tính
trong 7 thàng đầu năm 1999), Trung Quốc: 14,1 tỷ USD (tăng 11,9%), Áo đạt 11,3 tỷ USD (tăng 0,7%),
Canada: 10,3 tỷ USD (tăng 9,5%) và Mexico: 7,8 tỷ USD (giảm 0,6%)
10 thị trường du lịch đứng đầu trên thế giới trong năm 1999
(triệu người)
Tỉ lệ tăng,giảm/so với năm
1998 (%)
Xét theo khu vực, tốc độ tăng khách du lịch vùng châu Á, từ 704.000 lượt khách năm 1960
đến 94 triệu lượt khách năm 1999 Trong những năm gần đây, châu Á trở thành một trung tâm buôn
bán năng động và dẫn đến lượng khách du lịch đến khu vực này ngày càng tăng Tuy nhiên ngành
công nghiệp du lịch của khu vực này vẫn chưa đáp ứng nhu cầu trên Thị phần du lịch khu vực châu Á
chiếm tỉ lệ tương đối so với Châu Âu, Bắc Mỹ…
Thị phần tương đối so với thế giới (%)
Số lượt người (triệu
người)
Thị phần tương đối so với thế giới (%)
Tốc độ tăng trưởng (%)
Nguồn: WTO
Trong năm 1998, mười nước dẫn đầu về đón khách quốc tế trong khu vực Đông Á –Thái Bình
Dương là: Trung Quốc, Hông-kông, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia, Korea, Australia,
Japan, Macao
Trang 710 nước hoạt động du lịch hàng đầu trong khu vực đông bắc Á- Thái Bình Dương năm 1998
Trong thập niên 1989–1998, xu hướng phát triển du lịch của khu vực Đông Nam Á tăng
trưởng đều qua các năm từ năm 1989–1996 Năm 1996 trước khi nhiều nền kinh tế ASEAN lâm vào
cuộc khủng hoảng kinh tế, bảy nước thành viên đầu của ASEAN (trong đó có Vietä Nam) đã thu hút
hơn 30 triệu du khách quốc tế, đạt doanh thu 31 tỷ USD, chiếm 7,3% thu nhập toàn ngành du lịch thế
giới Hai năm 1997 –1998 do ảnh hưởng cơn khủng hoảng tài chính của khu vực làm cho số lượt khách
và thu nhập từ du lịch có phần giảm sút, tốc độ tăng trưởng ngành kinh doanh du lịch khu vực này
giảm, trong đó kinh doanh hàng hóa cho du khách là nguồn thu chính Ngành du lịch cũng trong tình
trạng khó khăn bởi cả nạn cháy rừng Sự mất giá các đồng tiền châu Á, nói chung là một lợi thế để thu
hút khách đến từ các nước châu Âu và Mỹ, nhưng số lượng du khách và thu nhập từ du lịch đều giảm
mạnh
Năm 1999, du lịch là một trong những ngành kinh tế phục hồi sớm nhất và có bước phát triển rõ
nét nhất trong ASEAN, tăng trưởng bình quân khoảng 8,5%
Theo dự đoán của Hội nghị Bộ trưởng Du lịch ASEAN, năm 2000, du lịch ASEAN tăng trưởng
bình quân khoảng 10% và có thể thu hút hơn 50 triệu lượt khách quốc tế Đến năm 2010, lượng khách
đến thăm ASEAN có thể đạt 80 – 100 triệu lượt người, chiếm 12 –13% lượng khách toàn cầu
Dưới đây vài quốc gia nổi bật trong hoạt động du lịch ở khu vực đông Á – Thái Bình Dương
1.1.2 Trung quốc:
Là một quốc gia rộng lớn, dân số đông nhất thế giới, có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích
lịch sử nổi tiếng trên thế giới như: Vạn Lý Trường Thành, Cố Cung, Di hòa Viên, phong cảnh trữ tình
Quế Lâm (Quảng Tây), mộ Tần Thủy Hoàng, ở Vân nam có “ Rừng cây đá”, Sơn đông có “ Khúc
Phụ”, nơi thờ đức Khổng tử v.v Cho nên sản phẩm du lịch của nước này thật phong phú, trước tiên là
các di tích lịch sử, các kỳ quan danh lam thắng cảnh Ngày nay Trung quốc đã trở thành nơi thu hút du
khách quốc tế nhiều nhất trung khu vực Hiện Trung quốc có hơn 2.300 khách sạn, trong đó có hơn 500
khách sạn từ hai sao trở lên đón du khách nước ngoài Trung quốc đã đưa ra nhiều chủ đề trọng điểm
cho các năm để thu hút nhiều du khách như : Năm 1993 là “ Năm du lịch phong cảnh”; năm 1994 “ Du
lịch văn vật lịch sử “; năm 1995 “ Du lịch phong tục tập quán”; năm 1996 “ Du lịch nghỉ mát”;
năm1997 “ Du lịch Trung quốc”
Đến nay, năm 1998 Trung quốc đón được 25,7 triệu lượt khách quốc tế, với thu nhập du lịch là
12,6 tỉ USD và trở thành nước dẫn đầu về du lịch trong khu vực đông Á – Thái Bình Dương Hiện nay
Trung quốc tổ chức một mạng lưới tập đoàn du lịch lớn nhất gồm các thành viên là các tổ chức công ty
du lịch lớn nhỏ, lấy trụ sở chính là tập đoàn du lịch quốc tế Trung quốc (CITS), nhằm mục đích củng
Trang 8cố hợp tác, kiểm soát kinh doanh, tìm kiếm thị trường thu hút hơn nữa du khách đến Đại lục Các thành
viên tập đoàn đang thực hiện tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9.000 trong ngành du lịch Chính phủ
Trung quốc đã áp dụng thu phí du lịch như nhau cho cả du khách trong nước và quốc tế 10 tháng năm
1999, thu nhập từ du lịch đạt 11,45 tỉ USD, tăng 13% so cùng kỳ năm 1998, và thu hút 59,7 triệu lượt
khách quốc tế, tăng 14,5% so với cùng kỳ
1.1.3 Hồng-kông:
Hồng-kông vốn là nơi du lịch lý tưởng của vùng đông Á, đã thành công trong hoạt động du lịch
Du khách hàng năm đều tăng và luôn dẫn đầu trong khu vực
Tuy nhiên do ảnh huởng tài chánh trong khu vực nên trong qúy I năm 1998 số lượng khách
quốc tế đến Hồng-kông là 766.842 giảm 25,6% so với cùng kỳ năm 1997 ( nguồn :TIR & Travel Asia
5-98 ) Chính quyền Hồng-công đã đưa ra phương sách nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp du lịch đang
trì trệ do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính, bằng việc giảm bớt các thủ tục làm visa nhập cảnh
cho du khách Đài-loan, giúp cho họ có thể quá cảnh sang Hồng-kông một cách thuận tiện Với kế
hoạch này, làm lượng khách tham quan tăng trong thời gian sắp tới Hồng-công sẽ xây dựng dự án
phát triển du lịch gồm công viên quốc tế tại Cửu-long, hệ thống xe cáp nối đảo Lantau tới
Tung-Chung, nơi có bức tượng phật khổng lồ và công trình “Adventure Bay” tại công viên Ocean trị giá 500
triệu HK$ Công viên Disney sẽ xây dựng trong vòng 5 năm với vốn đầu tư là 27,7 tỉ HK$, có thể tiếp
3,5 triệu du khách trong những năm đầu với vé thấp nhất là 25 HK$; cao nhất 35 HK$ Đây là nguồn
thu nhập đáng kể của ngành du lịch Hồng-kông khi công viên được hoàn thành
1.1.4 Thái Lan:
Là một nước có nền công nghiệp du lịch phát triển mạnh mẽ, dựa vào các lễ hội truyền thống,
các đền chùa và nền văn hóa dân tộc cổ truyền v.v… kể cả dựa vào “kỹ nghệ tình dục” Đầu thập niên
80, Thái lan được xem là “ Top-ten” về lãnh vực du lịch trong khu vực Năm 1987 Thái Lan đã đón
3,84 triệu khách du lịch quốc tế Sang thập niên 90, số lượng khách quốc tế tăng dần:
Khách quốc tế ( triệu người) 6,166 6,951 7,244 7,293 7,764
Nguồn: Tourism Authority of Thailand
Năm 1997-1998, Thái Lan tuy lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính, nhưng Chính phủ và khu
vực tư nhân đã nỗ lực xúc tiến chương trình thu hút du khách nước ngoài đến thăm nước này Thực
hiện các đợt “ đại hạ giá “trong tháng 6,11 và 12 năm 1998 trên toàn quốc Các khách sạn, nhà hàng,
Trang 9giá cước xe ô-tô, các cửa hàng lưu niệm sovenir đồng loạt hạ giá và được tuyên truyền rầm rộ Ngân
sách chi cho chương trình này 100 triệu bath Thực hiện chiến dịch năm du lịch “ Amazing Thái-lan”,
chương trình kỷ niệm ngày sinh thứ 72 của nhà vua của Thái lan Do khủng hoảng kinh tế, đồng bath
mất giá nên mọi thứ hàng hoá đều rẻ, kể cả tiền ăn, tiền khách sạn và tiền vận chuyển Kết hợp tình
hình đó Chính phủ Thái Lan đề ra một số chính sách khác như giảm giá nhập cảnh đối với các nước
ASEAN, không thu thuế hàng hoá xuất cảnh, thủ tục visa nhập cảnh chỉ làm trong một ngày, hộ chiếu
công vụ miễn thị thực nhập cảnh Trong 8 tháng đầu năm 1999, số lượt khách quốc tế đến Thái lan
tăng 43% so với cùng kỳ năm 1998 Hiệp hội du lịch Thái lan (THA), trong năm 2000, sẽ phối hợp
Hiệp hội khách sạn ASEAN (ASEANRTA) và 6 hãng hàng không các nước Thái lan, Singapore,
Brunei, Malaysia, Philipine,Indonesia, tổ chức chương trình “ Hotel plus và Airline plus “ với nội dung
giảm giá vé máy bay xuống còn 90 USD/người và 10 khách sạn từ 4 sao trở lên tham gia chương trình
sẽ giảm giá thuê phòng còn 60 USD/người dành cho du khách từ châu Âu đến du lịch 2 nước ASEAN
trở lên, nhằm thu hút nhiều du khách từ thị trường châu Âu
1.1.5 Malaysia:
Vào đầu thập niên 80, Malaysia xem nhẹ hoạt động du lịch Năm 1995, Malaysia bị khủng
hoảng kinh tế, nhưng nhờ có công nghiệp du lịch đã góp phần khắc phục và khôi phục lại nền kinh tế
Chính phủ quan tâm và đầu tư triệt để cho ngành du lịch phát triển
Nguồn: Malaysia Tourism Promotion Board
1.1.6 Indonesia:
Ngành du lịch của Indonesia phát triển có muộn so với các nước khác trên thế giới Trong
năm 1995 có khoảng 4,324 triệu khách quốc tế đến Indonesia, thu nhập 4,7 tỉ USD
Nguồn: Indonesia Tourist Promotion Office
1.1.7 Singapore:
Singapore nổi tiếng là quốc gia–thành phố đẹp và sạch nhất thế giới Đây là một trong những
thành phố du lịch hiện đại của châu Á Singapore có lượng khách quốc tế luôn dẫn đầu trong ASEAN
Lượng khách quốc tế đến từ 6–7 triệu gấp đôi dân số nước này ( 3 triệu dân ) Năm 1991 chỉ có 5,41
triệu đến năm 1997 là 7,19 du khách tăng 33%, năm 1998 do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế nên
lượng khách giảm 13,2% so cùng kỳ Tuy vậy, ngành du lịch vẫn là ngành kinh tế mũi nhọn của đất
nước này
Trang 10Bảng: 12 Số lượng khách quốc tế đến Singapore
Khách quốc tế ( triệu người) 6,898 7,137 7,292 7,197 6,240
Nguồn: Singapore Tourism Board
1.1.8 Philipine:
Philippine là nước có tốc độ tăng trưởng về du lịch khá nhanh trong khối ASEAN Phần lớn
du khách là người Nhật, Hàn quốc, Hồng kông và Đài loan Chính phủ nước này đang đầu tư cho các
công trình du lịch, khách sạn hiện đại nhằm thu hút nhiều hơn nữa du khách đến nước này, dần dần trở
thành đối thủ cạnh tranh trong khu vực
Bảng : 13 Số lượng khách quốc tế đến Philippine
Nguồn : A/D Cards & Shipping Manifests, Depart of Tourium, Phippines
1.2 Nhữ ng nhân tố thúc đẩy du lịch thế giới phát triển
• Kinh tế phát triển: luôn là sự đồng biến với nhịp tăng trưởng du lịch quốc tế Du lịch không
thể phát triển nếu không đủ điều kiện thuận lợi về kinh tế Người ta thường gọi du lịch là “ xuất khẩu
tại chỗ”, vì nó là nơi thu hút nhiều ngoại tệ vào trong nước Sự phát triển kinh tế xã hội có tầm quan
trọng hàng đầu làm xuất hiện nhu cầu du lịch Nó tạo điều kiện tăng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, mức
sống thời gian nhàn rỗi, các nhân tố thúc đẩy nhu cầu du lịch phát triển
• Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế thế giới, một quốc gia muốn phát triển không thể
không mở rộng quan hệ giao dịch quốc tế với các nước xung quanh trong khu vực và trên toàn thế giới
Chính những điều kiện này tạo cơ hội cho các dân tộc trên thế giới tìm hiểu lẫn nhau Và như thế nền
công nghiệp du lịch thế giới phát triển về mọi mặt Sự tác động qua lại trong quan hệ quốc tế góp
phần tăng trưởng du lịch Du lịch phát triển giúp các dân tộc, các nước hiểu biết lẫn nhau
• Ngày nay, khi các tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển không ngừng, làm cho cơ sở hạ tầng du
lịch phát triển nhất là : ngành truyền thông , ngành hàng không, giao thông quốc tế Cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật đã đem lại năng suất lao động và hiệu qủa kinh tế cao Đầy tiền đề nâng cao thu
nhập người lao động, tăng thêm khả năng thực tế tham gia hoạt động du lịch, hoàn thiện cơ cấu hạ
tầng Chính sự phát triển này làm cho công nghiệp du lịch thế giới ngày càng tăng trưởng
• Sự ưu đãi về thời tiết, khí hậu của các khu vực khác nhau trên toàn thế giới, sự đa dạng phong
phú các kỳ quan, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử , truyền thống văn hoá, bản sắc dân tộc của từng
quốc gia cũng là những nhân tố thúc đẩy du lịch quốc tế phát triển
• Thời gian nhàn rỗi: là thời gian cần thiết cho con người nâng cao kiến thức, phát triển trí tuệ,
thể lực, vui chơi, giải trí, tiếp xúc bạn bè… thời gian cần thiết cho việc hồi phục sức lực của con người
Trang 11sau một thời gian lao động Ngày nay nhiều nước trên thế giới đã áp dụng tuần làm việc 35 giờ Ngưới
dân có nhiều thời gian nhàn rỗi hơn Đây là nhân tố thuận lợi để phát triển du lịch
• Nhân tố chính trị: sự ổn định chính trị là điều kiện quan trọng có tác động thúc đẩy hoặc kìm
hãm sự phát triển du lịch trong nước cũng như quốc tế Chiến tranh làm tàn phá các công trình du lịch
di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, tổn hại đến môi trường tự nhiên Du lịch chỉ phát triển trong điều
kiện hòa bình Cơ quan du lịch thế giới WTO chọn năm 1997 là năm “du lịch quốc tế” với khẩu hiệu “
du lịch là giấy thông hành của hòa bình”, năm 1979 WTO thông qua hiến chương du lịch và chọn ngày
27/9 làm ngày du lịch thế giới với chủ đề hằng năm gắn du lịch với việc tăng cường sự hiểu biết lẫn
nhau giữa các dân tộc, vì nền hòa bình và tình hữu nghị trên toàn thế giới
• Con người với tính hiếu kỳ, sự khát vọng muốn tìm hiểu thế giới quanh mình, muốn chứng
kiến tận mắt những di sản văn hoá của các dân tộc khác nhau trên thế giới, cũng là tiền đề cho du lịch
tăng trưởng
Từ tổng quan về du lịch trên thế giới có thể rút ra một số kết luận sau đây:
Một là: Du lịch hình thành và phát triển theo nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người
Theo đà phát triển kinh tế mức sống của con người ngày càng được nâng cao, phát sinh nhu cầu đi lại,
tham quan, tìm hiểu thế giới xung quanh, tìm hiểu bản sắc dân tộc, nền văn hóa, di sản văn hóa của
các dân tộc, các vùng trên thế giới,… đã phát sinh và thúc đẩy du lịch phát triển
Hai là: Ngày nay du lịch thế giới phát triển rất đa dạng, phong phú, được coi như là một trong
những ngành công nghiệp hàng đầu trên thế giới, là ngành “công nghiệp không khói”, có doanh thu lớn
vài trăm tỷ đô la Mỹ hàng năm, tương đương trên 10% GNP của thế giới, tạo ra công ăn việc làm cho
hàng trăm triệu người và trên thế giới cứ trong mười lăm ngàn lao động thì có ngàn người làm việc
trong ngành du lịch
Ba là: Nhiều nước, vùng trên thế giới đã nhận thức được nhu cầu phát triển du lịch, biết vận
dụng và phát huy tiềm năng du lịch của nước mình, khai thác và phát huy bản sắc văn hóa-dân tộc cho
phát triển du lịch, đồng thời thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Lịch sử phát triển du lịch trên
thế giới cũng cho thấy không ít những bài học về phát triển du lịch, những bài học về tận dụng và phát
huy tiềm năng tài nguyên du lịch do biết khai thác, tuyên truyền quảng bá về bản sắc văn hóa-dân tộc
của mình như Trung Quốc, Thái Lan và một số các nước khác Lịch sử phát triển du lịch thế giới cũng
cho thấy không ít những bài học “đau lòng” về du lịch, nếu khai thác thái quá khía cạnh tình dục (sex)
trong hoạt động du lịch, hoặc vì lợi ích ban đầu do du lịch mang lại, mà khai thác cạn kiệt tài nguyên
thiên nhiên, làm ô nhiễm môi trường sống, sẽ dẫn đến những hậu quả nặng nề cho nhiều thế hệ của
dân tộc (như Thái lan và một số các nước khác)
Trên đây là phần trình bày tổng quan về sự phát triển ngành du lịch trên thế giới và sự phát
triển du lịch của các nước xung quanh nước ta Từ đó có thể giúp chúng ta rút ra những bài học qúy giá
về việc vận dụng, khai thác và phát huy một cách khéo léo nhuần nhuyễn tài nguyên du lịch cho việc
phát triển du lịch nước nhà Việc nhận dạng một cách đúng đắn và đầy đủ những vấn đề thực tiễn
đang đặt ra trong giai đọan hiện nay của ngành du lịch Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí
Minh nói riêng là hết sức cần thiết, nhằm tìm kiếm những giải pháp chủ yếu để thực hiện tốt chiến
lược phát triển của ngành du lịch Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 12Chương II :
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA VIỆT NAM
VÀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2 Tổng quan về du lịch Việt Nam
Với điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, văn hoá….đã tạo cho Việt Nam có tiềm năng du lịch dồi
dào, phong phú, hấp dẫn: tiềm năng du lịch biển, rừng, vùng núi cao, hang động, kiến trúc cổ, lễ hội
Việt Nam là đất nước của biển cả, chiều dài bờ biển 3.260 km, trên đó có hơn 20 bãi tắm nổi tiếng,
miền Bắc có Trà Cổ, Hạ Long, Đồ Sơn, miền Trung có biển Đà Nẵng, Nha Trang, miền Nam có Vũng
Tàu, Hà Tiên.v.v Vùng núi cao có Sa Pa, Tam Đảo, Bạch Mã, Đà Lạt… Những khu rừng Quốc gia nổi
tiếng với bộ sưu tập phong phú về động thực vật nhiệt đới: rừng quốc gia Cúc Phương, Cát Bà, Côn
Đảo, vùng tràm chim Tam Nông (Đồng Tháp), sân chim Minh Hải Với bề dày lịch sử 4.000 năm,
truyền thống văn hoá lâu đời, mang nhiều sắc thái dân tộc độc đáo, Việt Nam còn giữ được nhiều di
tích kiến trúc cổ có giá trị như: Chùa Một Cột, Tháp Phổ Minh (Hà Tây), Tháp Bình Sơn (Vĩnh Phú),
Đình Tây Đằng, Chu Quyến (Hà Tây), Chùa Bút Tháp (Hà Bắc), Tháp Chàm (các tỉnh ven biển miền
Trung), Phố Cổ (Hội An), Mỹ Sơn, kiến trúc cung đình Huế v.v
Với những ưu thế về tiềm năng đó ngành du lịch Việt Nam có điều kiện thuận lợi phát triển
2.1 Tình hình hoạt động du lịch Việt Nam
Ngành du lịch Việt Nam hoạt động từ những năm 1960, trải qua các thời kỳ sau:
• Thời kỳ năm 1960 – 1976 là thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, giành độc lập thống nhất
đất nước, nên việc phát triển du lịch chưa được chú ý, chủ yếu phục vụ các đoàn khách của Đảng và
Nhà nước Hoạt động du lịch chiếm tỉ lệ không đáng kể Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch còn
nhiều hạn chế, đội ngũ cán bộ, nhân viên phục vụ chưa có nhiều kinh nghiệm, trình độ còn hạn chế
• Thời kỳ năm sau 1976, hoạt động du lịch được mở rộng trên cả hai miền Nam, Bắc
Ngành du lịch tổ chức kinh doanh ở hầu hết các tỉnh, thành đặc khu, phát triển cơ cở vật chất chuyên
ngành, xây dựng đội ngũ nhân viên lành nghề
• Đặc biệt từ những năm đất nước đi vào cải cách kinh tế hướng về thị trường, chính
sách ngoại giao “bè bạn khắp năm châu”, nền kinh tế dần dần phát triển, tình hình chính trị trong nước
ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện từng bước, nhu cầu du lịch trong dân ngày càng gia tăng
2.1.1 Du lịch quốc tế:
Vào năm 1970, có khoảng 1.816 khách quốc tế vào Việt Nam, năm 1980 đạt 4.111 khách, 1985
đạt 5.038 khách, và đặc biệt từ năm 1993, Chính phủ ban hành nghị định 45/CP đề ra những chủ
trương, biện pháp đổi mới và phát triển ngành du lịch Chính sách mở cửa với bên ngoài, cộng thêm
môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực đã tạo điều kiện cho ngành du lịch Việt Nam phát triển
Khoảng cách về tỉ lệ đón khách quốc tế so với các nước trong khu vực đông nam Á đã rút ngắn đáng
kể so với những năm thập niên 80
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999*
Trang 13Tổng số lượt
Nguồn: Tổng cục du lịch VN
Ta nhận thấy, tốc độ tăng trưởng khách quốc tế vào Việt nam luôn tăng dần từ năm 90 đến năm
97 Đây là kết quả của chính sách mở cửa làm bạn với các nước, thành tựu ban đầu trong công cuộc
đổi mới, ổn định chính trị, là sự nỗ lực của ngành du lịch cùng với các ngành liên quan trong việc hoàn
thiện cơ cấu quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, quy hoạch ngành du lịch Năm 98 do ảnh
hưởng cuộc khủng hoảng, số lượt khách có phần chựng lại và giảm 12% so cùng kỳ Năm 1999, lượng
khách quốc tế vào Việt Nam tăng 17,2% so cùng kỳ, và có số lượng cao nhất từ trước đến nay
Tuy nhiên so với các nước xung quanh trong vùng thị phần của Việt Nam chiếm tương đối ít
Việt Nam chỉ đứng hàng thứ sáu trong các nước thuộc Hiệp hội Asean, trên Lào, Campuchia và
Mianma về số lượng khách quốc tế từ các nơi trên thế giới đến
Nguồn: Tổng Cục Du Lịch
Đối với từng loại thị trường khách, từ năm 1994 – 1997 thị trường khách chủ yếu đến Việt Nam
là: Đài Loan, Trung Quốc, Mỹ, Pháp, Anh Trong đó thị trường du khách Trung Quốc, tăng trưởng
mạnh (từ 14.381 khách năm 1994 tăng lên 484.102 khách năm 1999 và trở thành trong những thị
trường khách du lịch hàng đầu của Việt Nam) Du khách Nhật Bản với cơ cấu tỉ trọng 5,21% năm
1993, tăng lên 7,12% năm 1997, số lượng khách đến đứng hàng thứ 5 sau Trung Quốc, Mỹ, Đài Loan
vượt qua thị trường du khách Pháp Trong các nước thuộc Hiệp hội Asean, Thái Lan có lượng du khách
vào Việt Nam tương đối lớn so với các nước trong vùng
Bảng: 16 Lượng khách phân chia theo các quốc tịch.
1993 (%) 1994 (%) 1995 (%) 1996 (%) 1997 (%) 1998 (%) 1999 (%)
Trung
Quốc 17.509 2.91 14.381 (82,13 1.41 62.640(435,5 4.64 377.555 23.49 405.279 23.62 420.743 (103,81 27.67 484.102 27.16
Trang 14(100) ) 7) (602,7
3)
(107,34)
) (115,0
5)
92 (100)
17.1
3 152.176 (147,89)
14.9
4 189.090 (37,79)
4.26 146.48
8 (75,06)
2.69 147.98
2 (93,60)
2.36 176.578 (436,97)
11.6
1 210.377 (119,14)
11.8
0
Taiwan 96.25
7 (100)
2.80 185.06
7 (143,79)
2.28 224.12
7 (121,10)
1.56 175.48
6 (70,59)
0.93 154.56
6 (71,69)
0.62 138.529 (80,15)
9.11 173.92
0 (125,54) 9.76
Nhật 31.32
0 (100)
5.21 67.596 (215,82)
6.64 119.54
0 (176,84)
8.85 118.31
0 (98,97)
7.36 122.08
3 (103,18)
7.12 95.258 (78,02) 6.26 113.514
(119.16) 6.37
Pháp 61.88
3 (100)
10.3
0
111.65
7 (180,43)
10.9
7
137.89
0 (105,72)
8.74 87.795(62,34)
4.58 81.513(91,06)
3.91 83.371 (124,93)
5.48 86.026(193,18) 4.82
3.36 39.237 (193,94)
3.85 52.820(134,61)
3.91 40.692(77,03)
2.53 44.719(109,89)
2.61 39.613 (89,66)
2.60 43.863(110,72) 2.46
Th¸ái Lan 16.69
5 (100)
2.78 23.838 (142,77)
2.34 23.117(96,97) 1.71 19.626(84,89) 1.22 18.337(93,53
)
1.07 16.474 (89,84) 1.08 19.410(117,8
2) 1.08
41.6
6 542.072 (199,53)
30.4
2 641.203 (133,04)
34.0
3 741.158 (92,95)
33.8
3 549.544 (93,21) 36.51 650.542
(118,37)
100 10182
44 (150,51)
100 135129
6 (133,29)
100 160715
5 (118,93)
100 17156
37 (106,74)
100 152012
8 (88,60)
100 178175
4 (117,14) 100
*ghi chú : số trong () là tốc độ phát triển % qua các năm, lượt khách năm trước là 100%
** Cột (%) là tỉ lệ cơ cấu khách theo quốc tịch đến Việt nam qua các năm
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam
Nếu xét theo mục đích của du khách quốc tế đến Việt Nam từ năm 1993 đến năm 1998, ta nhận
thấy: Khách du lịch nghỉ ngơi chiếm tỉ trọng trên 40%, kinh doanh và công vụ khoảng trên 20%, thăm
bạn bè và thân nhân khoảng 20%
Bảng: 17 Lượng khách phân theo mục đích chuyến đi
Du lÞch,
nghØ ng¬I 242.867 40.4 475.825 46.7 610.647 45.2 661.716 41.2 691.402 40.3 598.930 39.4 837.550 47 Kinh
doanh vμ
c«ng vơ
141.00
4 23.4 263.420 25.8 308.015 22.8 364.896 22.7 403.175 23.5 219.865 14.4 266.001 14.9
Trang 15Các mục
đích khác 75.199 12.7 68.935 6.9 229.940 17.0 306.759 19.1 249.211 14.5 402.348 26.4 341.117 19.2Toồng coọng 600.43
8 100 1.018.244 100 1.351.296 100 1.607.155 100 1.715.637 100 1.520.128 100 1.781.754 100 Ghi chuự : Nguoàn : Toồng cuùc du lũch Vieọt Nam
Du khaựch ủeỏn Vieọt Nam chuỷ yeỏu laứ ủửụứng Haứng khoõng chieỏm tổ troùng khoaỷng 60%, thửự ủeỏn laứ
ủửụứng boọ 33,78% ẹửụứng bieồn chieỏm tổ troùng thaỏp 10,85%, khoõng tửụng xửựng vụựi ủũa theỏ cuỷa Vieọt
Nam laứ coự bụứ bieồn traỷi daứi tửứ baộc chớ nam
Baỷng: 18 Lửụùng khaựch phaõn theo phửụng tieọn ủeỏn.
1993 1994 1995 1996 1997 1998 ẹửụứng haứng khoõng 528.372 940.707 1.206.799 939.635 1.033.743 873.690
Nguoàn : Toồng Cuùc Du Lũch Vieọt Nam
Trong soỏ khaựch quoỏc teỏ ủeỏn Vieọt Nam, khaựch ủeỏn thaứnh phoỏ Hoà Chớ Minh chieỏm tổ troùng lụựn
nhaỏt, chieỏm gaàn phaõn nửỷa lửụùng khaựch ủeỏn toaứn caỷ nửụực Keỏ ủeỏn laứ Haứ Noọi chieỏm khoaỷng tửứ 15% -
20% Chửựng toỷ thaứnh phoỏ Hoỏ Chớ Minh vaứ Haứ Noọi laứ haỏp daón du khaựch quoỏc teỏ nhieỏu nhaỏt Nụi naứy coự
ủuỷ caực ủieàu kieọn phuùc vuù du khaựch tửụng ủoỏi toỏt
2.1.2 Du lũch trong nửụực:
Nhỡn chung, nhu caàu du lũch cuỷa ngửụứi daõn trong nửụực ngaứy caứng taờng ẹaàu naờm 1990 chổ coự 1
trieọu lửụùt khaựch noọi ủũa thỡ ủeỏn naờm 1998 ủửa ủoựn ủửụùc 8,5 trieọu lửụùt khaựch ệụực tớnh naờm 1999, coự
khoaỷng 10 trieọu du khaựch trong nửụực Toỏc ủoọ taờng trửụỷng tửụng ủoỏi nhanh Nhu caàu chuỷ yeỏu laứ nghổ
Nguoàn : Toồng cuùc Du Lũch
Ngoaứi ra coứn coự moọt soỏ lửụùng khaựch Vieọt Nam du lũch ra nửụực ngoaứi trong nhửừng naờm gaàn ủaõy
cuừng gia taờng ủaựng keồ, tuy soỏ lửụùng coứn ớt song coự xu hửụựng gia taờng trong tửụng lai
2.1.3 Veà cụ sụỷ lửu truự – khaựch saùn:
Trang 16Theo số liệu thống kê của Tổng cục du lịch Việt Nam, đến năm 1999 toàn ngành du lịch có
hơn 3.000 khách sạn với trên 62.000 phòng, trong đó có khoảng 28.000 phòng đạt tiêu chuẩn đón
khách quốc tế Từ năm 1995 đến năm 1999, số lượng phòng tăng khoảng 24%, công suất sử dụng giảm
dần từ 51% năm 1995 xuống 43% năm 1999
Bảng: 20 Nguồn số liệu: thu thập từ các khách sạn.
Số phòng trong các khách sạn Hệ số sử dụng phòng
Năm Số phòng Số giường Năm
Nguồn : Tổng cục du lịch
Qua bảng trên ta thấy công suất phòng giảm dần trong những năm gần đây Điều cho
thấy Việt Nam đang trong tình trạng khủng hoảng thừa khách sạn Tốc độ tăng số lượng cơ sở lưu trú,
khách sạn quá nhanh, trong khi đó lượng khách đến các cơ sở lưu trú tăng chậm Tình trạng trên dẫn
đến sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực này Thời gian lưu trú trung bình của du khách quá ngắn 2,4
ngày/lượt khách Điều này nói lên sản phẩm du lịch Việt Nam còn đơn điệu, chưa hấp dẫn du khách
nhiều
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá lớn nhất nước, là nơi
ngành du lịch phát triển hàng đầu của cả nước, có vị thế cạnh tranh với các nước xung quanh trong khu
vực
2.2 Thực trạng hoạt động du lịch Thành phố Hồ Chí Minh:
2.2.1 Hoạt động lữ hành
¬ Khách du lịch quốc tế:
Trước năm 1989 khách quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh còn hạn chế Năm 1987 có khoảng
22.826 khách; năm 1988: 33.639 khách; năm 1989: 77.799 khách
Trong thập kỷ 90, số lượng khách tăng lên với tốc độ nhanh Qua số liệu thống kê dưới đây ta
thấy tỉ trọng khách quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh chiếm từ 50% trở lên Điều này chứng tỏ
Thành phố luôn là điểm đầu ngành du lịch Việt Nam, chiếm thị phần lớn nhất cả nước Trong những
năm đầu thập kỷ 90, thị phần Thành phố tăng dần từ 65,19% năm 1990 đến 80,77% năm 1993, sau đó
dần dần thấp xuống còn 58,52% năm 1998, điều này nói lên rằng, những năm cuối của thập kỷ này,
sau khi đã có quy hoạch tổng thể ngành du lịch, từng vùng du lịch trọng điểm, các địa phuơng khác
cũng đã tăng trưởng, phát triển du lịch và chiếm một số thị phần đáng kể như Hà- nội, Huế, Lâm
Đồng.v.v…
Bảng:21
Trang 17Số khách Quốc tế đến
( Người ) (Người) với cả nước
Số khách Quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh
(năm sau so với năm trước) Tốc độ tăng trưởng
Số khách Quốc Tế đến Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh
thời kỳ 1990 - 1999.
Nguồn: Sở Du Lịch TP.Hồ Chí Minh
Xét về mặt tốc độ phát triển, vào những năm đầu thập kỷ, từ năm 1990 - 1995 tốc độ tăng
trưởng khách đến rất lớn từ 23,62% đến 52,51%, nhưng sau đó tốc độ giảm dần Điều đó cho chúng ta
thấy rằng, đã qua thời kỳ du khách quốc tế xem Việt nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh là
vùng đất mới du lịch, đầy hấp dẫn, huyền bí nữa
Số khách quốc tế đến lần thứ hai rất thấp, khoảng từ 5% đến 10% Chứng tỏ rằng sản phẩm du
lịch của Thành phố chưa thật hấp dẫn du khách
Năm 1997–1998, do cuộc khủng hoảng tài chánh trong khu vực, làm lượng khách đến giảm từ
4.000 người năm 97 lên đến 37.000 người năm 98, so với cùng kỳ giảm 0,4%, năm 98, giảm 4%
Năm1999, số khách đến tăng so năm 98 là 10,29%
* Về cơ cấu nguồn khách, có thể chia làm các nhóm chủ yếu như sau: Việt kiều, khách châu
Á, châu Âu, và khách khác… những năm đầu thập kỷ 90 nhóm khách châu Á (Đài Loan, Hongkong)
chiếm đa số Nhưng những năm gần đây, số khách Pháp, Nhật, Mỹ, Trung Quốc ngày càng tăng lên và
trở thành thị trường chính và đầy tiềm năng của Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng và của cả nước nói
chung
* Mục đích du lịch có ảnh hưởng lớn đến thời gian lưu trú và cách chi tiêu của khách Qua phân
tích số liệu thị trường khách quốc tế, mục đích khách đến Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu là du lịch,
giải trí (chiếm 44,4% tổng số khách quốc tế, trong đó nhóm khách châu Âu chiến tỉ lệ cao nhất), kinh
doanh thương mại (chiếm 31,1%, trong đó đa phần là nhóm khách châu Á), thăm thân nhân, bạn bè
(chiếm 19%, đa số là Việt kiều) Với ba mục đích trên, số khách đến Thành phố chiếm 94,4% tổng số
khách quốc tế
* Về giới tính, tỉ lệ nữ trong tổng số khách quốc tế đến Thành phố là 23,4%, trong đó cao nhất
là Việt kiều (35,7% và thấp nhất là nhóm khách châu Á (6,5%)
* Về tuổi tác phần lớn khách quốc tế nằm trong độ tuổi 30 – 39 tuổi (36,9%); tiếp theo là 40 –
49 tuổi (27,0%) và 20 – 24 tuổi (14,2%)
Trang 18Bảng: 22
Phân loại khách quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh
Theo mục đích chuyến đi
Nguồn : Tổng công ty du lịch Sài gòn
Đa số khách quốc tế đến Thành phố HCM lần đầu tiên (64,8% tổng số khách quốc tế) Nhóm
khách châu Á tới Thành phố nhiều lần nhất ( 64,5%) gắn mục đích thương mại, sau đó là Việt kiều
(57,1%)
* Về phương tiện đi lại, năm 1998 khách quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh bằng đường
Hàng không là chủ yếu chiếm từ 80% trở lên, đường biển: 2,93%, đường bộ: 3,34% Điều này cho
chúng ta thấy yếu tố đường hàng không rất quan trọng trong sản phẩm du lịch Gần đây du khách nước
ngoài đến Thành phố bằng đường biển có gia tăng, đến Cảng Sài Gòn do các hãng du lịch quốc tế tổ
chức Nhóm khách châu Âu, có 10,7% số khách sử dụng các phương tiện khác Một số đến Hà Nội,
sau đó đến Thành phố Hồ Chí Minh bằng xe hơi, xe ca hoặc xe lửa
* Thời gian lưu trú là một yếu tố quan trọng đối với việc phát triển ngành du lịch Thời gian lưu
trú trung bình của khách quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh là 3,5 ngày/khách Do Việt kiều về thăm
gia đình trong dịp Tết nên họ ở lại Thành phố lâu hơn các nhóm khác Nhóm khách châu Âu có thời
gian lưu trú ngắn nhất
Khách du lịch quốc tế đến Thành phố thường lưu trú ở các khách sạn, trong đó khách du lịch
châu Á chiếm tỉ lệ cao nhất
Nguồn: Tổng công ty du lịch Sài Gòn
Số khách quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh theo tour còn thấp (29,1%) Phổ biến là khách tự
đi Khách châu Âu thích đi tour trọn gói hơn so với nhóm khác (48,9%), trong khi đó nhóm khách thích
đi cá nhân hơn như Việt kiều (100%), khách châu Á (87,1%), khách khác (84,7%) Kết quả điều tra
Trang 19này cho thấy khách châu Âu quan tâm đến một số hệ thống du lịch được tổ chức tốt Vì vậy, nhóm này
cần thông tin về các tour trọn gói, trong khi các nhóm khác cần thông tin về việc đi lại
Khách du lịch quốc tế thường nhận thông tin về Thành phố Hồ Chí Minh từ các nguồn khác
nhau: từ bạn bè, người thân (hơn 30%); sau đó là từ cơ quan du lịch và khách du lịch
Đối với khách du lịch châu Âu, trước khi đi du lịch, họ quan tâm đến thông tin từ bạn bè, người
thân (25,6%) và cơ quan du lịch (24%) Nhưng khi đi du lịch thì thông tin từ khách du lịch trở thành
nguồn thông tin quan trọng (19,5%).(*)
(* Nguồn lấy từ kết quả điều tra của Công ty lữ hành thuộc Tổng công ty du lịch Sài Gòn )
¬ Khách du lịch trong nước
Số khách từ các tỉnh đến Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây gia tăng đáng kể
Năm 1993 có khoảng 534 ngàn lượt người, đến năm 1998 có 1,548 triệu lượt du khách tăng khoảng
2,89 lần
Bảng: 24 Số lượng khách trong nước du lịch tại Thành phố HCM
Năm Số khách du lịch nội địa
Theo số liệu điều tra của Tổng công ty du lịch Sài Gòn, phần lớn khách các tỉnh đến Thành
phố Hồ Chí Minh với mục đích du lịch giải trí (30%), thăm viếng thân nhân ( 25% ) thương mại và tìm
việc làm (18%), tham dự hội nghị (15%), tạm nghỉ (2%), và với mục đích khác (10%)
Về lưu trú, khách ở tại nhà người thân ước chừng 60%, ở khách sạn ước khooảng 20%, và ở các
nơi khác 20% Thời gian lưu trú của họ tương đối ngắn (trừ việc đi thăm nhân), trung bình khoảng 3
ngày
Thị trường khách trong nước đến Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay tương đối đa dạng và phần
lớn có nhu cầu tham quan, giải trí Vì vậy, nên cần đầu tư, nâng cấp các khu vui chơi giải trí ở Thành
phố như khu du lịch Suối Tiên, Đầm sen, Kỳ Hòa, Bình Qưới, Thanh Đa… Sao cho mỗi nơi có những
nét đặc sắc riêng Do mục đích là giải trí, vui chơi, nên du khách thường đến các tụ điểm du lịch vào
các ngày lễ hội, chủ nhật Những ngày này số lượng khách đến quá đông, trong khi đó ngày thường lại
tương đối vắng khách Đặc điểm này giúp cho ngành cần chú ý khi tổ chức lãnh thổ du lịch trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh
• Kết quả điều tra thống kê cho thấy hiện nay trung bình mỗi ngày 1 khách du lịch quốc tế chi
tiêu ở TP Hồ Chí Minh khoảng 80 USD, một khách nội địa chi tiêu khoảng 200.000 đồng
• Về cơ cấu chi tiêu của khách du lịch ở Thành phố Hồ Chí Minh gồm các khoản chính: lưu trú
và ăn uống: 60%; mua sắm: 20%; đi lại: 9%; dịch vụ khác: 11%
2.2.2 Doanh thu từ du lịch:
Trang 20Từ năm 1990 đến năm 1995 tốc độ tăng trưởng doanh thu đạt gần 67,68%, nhưng sau đó, do ảnh
hưởng khủng hoảng tài chính khu vực vào tháng 7/1997, lượng du khách vào Việt nam nói chung và
Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng giảm, dẫn đến doanh thu năm 1998 giảm 9,98% so với năm 1997
Năm 1999, do nhiều sự cố gắng của ngành, nên lượng du khách đến Thành phố có chiều hướng tăng
trở lại Ước tính doanh thu năm 1999 là 2.900 tỷ đồng, tăng 11,53% so với năm 1998
Qua bảng trên ta thấy, về doanh thu, Thành phố Hồ Chí Minh luôn dẫn đầu và chiếm tỉ trọng
hơn 50% tổng doanh thu từ du lịch của cả nước Điều này khẳng định du lịch TP Hồ Chí Minh giữ vị trí
hết sức quan trọng đối với ngành du lịch cả nước, với tư cách trung tâm du lịch vào loại lớn nhất của cả
nước ở khu vực phía Nam
Tuy nhiên, sự phát triển của du lịch TP Hồ Chí Minh trong những năm qua còn thấp, vì vậy
mới chỉ chiếm vị trí khiêm tốn trong cơ cấu phát triển kinh tế của Thành Phố
Mức nộp ngân sách cùa du lịch ngày càng tăng: từ 39 tỉ đồng năm 1990 lên 310 tỉ đồng năm
1998 Ước năm 1999 ngành du lịch thành phố nộp ngân sách là 320 tỉ đồng
Bảng : 26 Số liệu tài chánh ngành du lịch TP.HCM (1994 – 1999)
Các chỉ tiêu tài chánh
2.2.3 Hoạt động lưu trú
Trong những năm đầu thập kỷ 90, do tốc độ tăng trưởng du khách quốc tế đến Thành phố tương
đối cao (xem bảng 24), nên nhu cầu về phòng trọ đã tăng lên đột biến cả về số lượng lẫn chất lượng,
trong đó số phòng hiện có không đủ cung ứng Tỷ suất sử dụng phòng lúc này luôn đạt ở mức 80% đến
90% và giá cho thuê luôn ở mức cao hơn các khách sạn tương ứng trong khu vực Đông Nam Á Thời
kỳ huy hoàng của hệ thống khách sạn Thành phố kéo dài từ năm 1992–1996, cầu luôn cao hơn cung
Trong những năm 1992-1996, là thời kỳ Nhà nước đẩy mạnh công cuộc cải cách kinh tế Luật
đầu tư nước ngoài được công bố, cùng lúc với luật Doanh nghiệp tư nhân, luật công ty ra đời đã tạo
điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng tham gia kinh doanh khách sạn, ngành được xem đang
mới nổi, đang phát triển, cầu luôn lớn hơn cung, lợi nhuận đầy hấp dẫn
Trang 21Bảng: 27 Số lượng phòng lưu trú qua các năm
Nguồn: Sở Du Lịch TP Hổ Chí Minh
Qua số liệu của hai bảng 28 và 29 ta thấy, số lượng phòng tăng chủ yếu ở khu vực tư nhân,
công ty trách nhiệm hữu hạn và liên doanh nước ngoài Từ năm 1993 - 1996 khu vực tư nhân tăng
khoảng 3.445 phòng, liên doanh tăng khoảng 1.598 phòng Trong khi đó khu vực nhà nước số phòng có
suy giảm Thời kỳ này, các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu nâng cấp các khách sạn hiện có, một phần
thì liên doanh với nước ngoài, xây dựng thành những khách sạn hiện đại như: New World Hotel, Prince
Hotel, Delta Caravelle Hotel v.v., không xây dựng mới khách sạn, do đó số phòng thuộc sở hữu nhà
nước có giảm sút
Hơn nữa, thời kỳ này tuy số lượt khách quốc tế đến Thành phố có tăng về số lượng tuyệt đối,
song lại giảm số tương đối Tốc độ tăng trưởng khách 52,51% năm 1993 đến năm 1996 là10,42% Lúc
này xuất hiện sự cạnh tranh giá phòng giữa các khách sạn với nhau Số khách sạn tư nhân với cơ chế
hoạt động linh hoạt đã cạnh tranh các khách sạn nhà nước Dù rằng trước đó lĩnh vực lưu trú thuộc sự
khống chế khu vực nhà nước Điều này làm cho công suất sử dụng phòng bình quân toàn thành phố
giảm dần từ 68% năm1993 xuống 48% năm 1996
Năm 1997 cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực đông nam Á xảy ra, số lượng khách quốc tế đến
Thành phố, so với cùng kỳ giảm 0,43%, kéo dài sang năm 1998 tiếp tục giảm đến 4% Trong khi đó số
lượng phòng vẫn tiếp tục tăng Năm 1996 tăng 871 phòng, năm 1997 tăng 1.126 phòng, năm 1998 tiếp
tục tăng 1.042 phòng Ngoài ra do cuộc khủng hoảng kinh tế, khách là thương nhân đến Thành phố
giảm sút hẳn, có lối 70 cao ốc với khoảng 14.000 phòng cho thuê vừa để mở văn phòng làm việc, vừa
để ở, tranh khách với phòng khách sạn Với mức giá bình quân 20 USD/m2 một tháng để thuê phòng
trong cao ốc, khách kinh doanh dài ngày tất nhiên là phải chọn phòng trong cao ốc và bỏ phòng khách
sạn Điều này dẫn đến sự bùng nổ về số lượng phòng dư thừa Sự khủng hoảng thừa số phòng lưu trú
xảy ra Cung bấy giờ lớn hơn cầu và tình trạng cạnh tranh quyết liệt trong kinh doanh khách sạn là
điều không thể tránh khỏi Các biện pháp tiếp thị trở nên linh hoạt đa dạng hơn Hiện tượng giảm giá
thuê phòng xảy ra, thậm chí có nhiều khách sạn hạ giá đến mức quá thấp làm thiệt hại đến hiệu quả
kinh doanh của toàn ngành
Nguồn: Sở Du Lịch TP.Hồ Chí Minh
Trong cơn bão ế phòng khách sạn ập tới, thì cách tồn tại đơn giản là tự hạ giá phòng và chiết
khấu hoa hồng cao Mức giảm giá đối với khách sạn 4-5 sao là 50%, khách sạn 3 sao là 30%-35%,
khách sạn dưới 3 sao cũng giảm bình quân từ 20%-30%, và đôi lúc giảm tùy tiện, dưới cả mức tối
thiểu: một cuộc “ đại phá giá” đã xảy ra, khiến cho ngành khách sạn gặp nhiều khó khăn nghiêm
trọng