BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGÔ MINH ĐỨC NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CỦA DU KHÁCH NƯỚ
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGÔ MINH ĐỨC
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CỦA DU KHÁCH NƯỚC NGOÀI
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã ngành: 60340102
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quyết Thắng
Người phản biện 1: TS Phan Quốc Tấn
Người phản biện 2: TS Bảo Trung
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng bảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày 16 tháng 04 năm 2019
Thành phần Hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ gồm:
1 PGS.TS Phạm Xuân Giang - Chủ tịch hội đồng
2 TS Phan Quốc Tấn - Phản biện 1
3 TS Bảo Trung - Phản biện 2
4 TS Đoàn Ngọc Duy Linh - Ủy Viên
5 TS Lê Thị Kim Hoa - Thư ký
Trang 3NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Ngô Minh Đức; MSHV: 16002211
Ngày, tháng, năm sinh: 21/10/1994; Nơi sinh: Thái Bình
Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh; Mã chuyên ngành: 60340102
I TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài
NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Xác định các yếu tố ảnh hưởng và xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài
Đánh giá và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài
Đề xuất một số hàm ý chính sách để nâng cao đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài
II NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: Theo Quyết định số 1855/QĐ-ĐHCN ngày
29/08/2018 của Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
III NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: Ngày 31 tháng 01 năm 2019
IV NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Quyết Thắng
Tp Hồ Chí Minh, ngày ….tháng 3 năm 2019
NGƯỜI HƯỚNG DẪN TRƯỞNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Quyết Thắng Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Thắng đã giúp tôi về nội dung, kiến thức và phương pháp nghiên cứu trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô, anh chị trong Khoa Quản trị Kinh doanh, trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, đã nhiệt tình chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin chân cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Trân trọng
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2019
Học viên
Ngô Minh Đức
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài” với mục đích phân tích, xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài, từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến của khách du lịch phù hợp với tình hình hoạt động du lịch của thành phố Hồ Chí Minh Sau đó sẽ dựa vào kết quả khảo sát và phân tích số liệu để chứng minh sự phù hợp của mô hình lý thuyết với thực tế Trên cơ sở lý luận
và nghiên cứu các mô hình trước đây, tác giả thảo luận nhóm và đề xuất mô hình sự lựa chọn điểm đến du lịch thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài gồm 7 yếu tố: (1) nguồn nhân lực, (2) thông tin điểm đến, (3) giá cả dịch vụ, (4) sự đa dạng sản phẩm dịch vụ, (5) điểm đến an toàn, (6) sự hỗ trợ, (7) cơ sở vật chất du lịch
Từ mô hình đề xuất ban đầu, tác giả tiến hành điều tra mẫu thuận tiện với cỡ mẫu là
250, số liệu được phân tích qua phần mềm thống kê SPSS 22.0, áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng và định lượng, kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích EFA, phân tích hồi quy và ANOVA Kết quả nghiên cứu sự lựa chọn điểm đến du lịch thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài có 7 yếu tố gồm: (1) nguồn nhân lực, (2) thông tin điểm đến, (3) giá cả dịch vụ, (4) sự đa dạng sản phẩm dịch vụ, (5) điểm đến an toàn, (6) sự hỗ trợ, (7) cơ sở vật chất du lịch Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này, tác giả đưa ra một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động du lịch để thu hút du khách nước ngoài du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh
Trang 6ABSTRACT
The theme "Factors affecting the selection of places to travel in Ho Chi Minh City
of foreign tourists" aims to analyze and determine the factors affecting the choice of tourist destinations in Ho Chi Minh City Travelers in the country, thereby modeling study factors affecting the choice of tourist destinations in line with the operations
of the Ho Chi Minh City tourism After that, based on the survey’s results and analysis of data, the suitability of theoretical models with reality will be demonstrated Based on theory and research previous models, the authors discuss the proposed group and model choice Ho Chi Minh City tourism destinations of tourists in the country consisting of 7 elements: (1) Tourism Resource, (2) Travel information, (3) Cost of services, (4) Variety of service products, (5) Safe destination, (6) Support, (7) Tourism facilities
From the initial proposed model, the authors conducted a sample survey and a sample size that were convenient to 250 The data was analyzed through SPSS 22.0 statistical software, applying the method of qualitative research and quantitative testing Cronbach's Alpha, EFA analysis and regression analysis Findings choice Ho Chi Minh City tourism destinations of tourists in the country with seven factors include: (1) Tourism Resource, (2) Travel information, (3) Cost of services, (4) Variety of service products, (5) Safe destination, (6) Support, (7) Tourism facilities Based on the results of this study, the authors offer a number of governance implications to improve the quality of tourism activities to attract tourists to Ho Chi Minh City
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Ngô Minh Đức, MSHV 16002211, đang là học viên lớp cao học CHQT6 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Xin cam đoan luận văn:
“Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch thành phố
Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài” với sự hướng dẫn của thầy PGS.TS Nguyễn Quyết Thắng là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo rõ ràng, minh bạch theo đúng quy định
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2019
Học viên
Ngô Minh Đức
Trang 8MỤC LỤC
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Điểm mới của đề tài 6
1.7 Kết cấu của Đề tài 6
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 7
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8
2.1 Tổng quan về du lịch Thành phố Hồ Chí Minh 8
2.2 Tổng quan một số lý luận cơ bản 11
2.3 Tổng quan một số mô hình nghiên cứu liên quan 18
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết 24
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 28
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Thiết kế nghiên cứu 29
3.2 Kết quả nghiên cứu sơ bộ 33
3.3 Thiết kế mẫu 37
3.4 Thiết kế bảng câu hỏi 38
Trang 9TÓM TẮT CHƯƠNG 3 40
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
4.2 Kết quả về mẫu nghiên cứu 41
4.3 Kiểm định thang đo 44
4.4 Phân tích hồi quy tuyến tính bội 57
4.5 Kiểm định ANOVA 72
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 77
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 78
5.1 Kết luận 78
5.2 Hàm ý chính sách 79
5.3 Hạn chế của đề tài 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
TIẾNG VIỆT 94
TIẾNG ANH 96
PHỤ LỤC 99
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 140
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu thái độ 15
Hình 2.2 Tiến trình mua của người tiêu dùng 16
Hình 2.3 Mô hình thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action-TRA) 18
Hình 2.4 Mô hình quyết định lựa chọn điểm đến du lịch 19
Hình 2.5: Mô hình các điều kiện của một điểm đến du lịch 20
Hình 2.6 Mô hình về sự lựa chọn điểm đến du lịch Hội An của du khách Tây Âu – Bắc Mỹ 21
Hình 2.7 Mô hình về sự lựa chọn điểm đến du lịch Bình Thuận của du khách 22
Hình 2.8 Mô hình về sự lụa chọn điểm đến Huế, Đà Nẵng của người dân Hà Nội … 23
Hình 2.9 Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả 27
Hình 3.1 Mô hình lý thuyết (sau khi thảo luận nhóm) về lựa chọn điểm đến du lịch TP.HCM của du khách nước ngoài 30
Hình 3.2 Quy trình nghiên cứu 32
Hình 4.1 Đồ thị phân tán giá giá trị dự đoán và phần dư từ hồi qui 59
Hình 4.2 Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chuẩn hóa 60
Hình 4.3 Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa 61
Hình 4.4 Mô hình nghiên cứu chính thức về sự lựa chọn điểm đến du lịch TP.HCM của du khách nước ngoài 64
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach’s alpha 33
Bảng 3.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 34
Bảng 3.3 Bảng thang đo chính thức 34
Bảng 4.1 Thống kê mẫu về đặc điểm giới tính 42
Bảng 4.2 Thống kê mẫu về độ tuổi 42
Bảng 4.3 Thống kê mẫu về nghề nghiệp 43
Bảng 4.4 Thống kê mẫu về du khách từ đâu đến 44
Bảng 4.5 Cronbach’s Alpha của thang đo yếu tố nguồn nhân lực du lịch 45
Bảng 4.6 Cronbach’s Alpha của thang đo yếu tố thông tin điểm đến 46
Bảng 4.7 Cronbach’s Alpha của thang đo yếu tố giá cả dịch vụ 46
Bảng 4.8 Cronbach’s Alpha của thang đo yếu tố sự đa dạng sản phẩm dịch vụ 47
Bảng 4.9 Cronbach’s Alpha của thang đo yếu tố điểm đến an toàn 48
Bảng 4.10 Cronbach’s Alpha của thang đo yếu tố sự hỗ trợ 49
Bảng 4.11 Cronbach’s Alpha của thang đo yếu tố cơ sở vật chất 49
Bảng 4.12 Cronbach’s Alpha của thang đo yếu tố sự lựa chọn điểm đến du lịch 50
Bảng 4.13 Hệ số KMO và kiểm định Barlett 52
Bảng 4.14 Bảng phương sai trích 53
Bảng 4.15 Kết quả phân tích nhân tố EFA 53
Bảng 4.16 Hệ số KMO và kiểm định Barlett biến phụ thuộc 56
Bảng 4.17 Bảng phương sai trích biến phụ thuộc 57
Bảng 4.18 Thông số thống kê trong mô hình hồi qui bằng phương pháp Enter 58
Bảng 4.19 Ma trận tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 62
Trang 12Bảng 4.21 Mức độ cảm nhận của khách hàng về yếu tố nguồn nhân lực 65
Bảng 4.22 Mức độ cảm nhận của khách hàng về yếu tố thông tin điểm đến 66
Bảng 4.23 Mức độ cảm nhận của khách hàng về yếu tố giá cả dịch vụ 67
Bảng 4.24 Mức độ cảm nhận của khách hàng về yếu tố sự đa dạng sản phẩm dịch vụ 68
Bảng 4.25 Mức độ cảm nhận của khách hàng về yếu tố điểm đến an toàn 69
Bảng 4.26 Mức độ cảm nhận của khách hàng về yếu tố sự hỗ trợ 70
Bảng 4.27 Mức độ cảm nhận của khách hàng về yếu tố cơ sở vật chất du lịch 71
Bảng 4.28 Bảng kiểm tra tính đồng nhất (Test of Homogeneity of Variances) 72
Bảng 4.29 Bảng kết quả Anova của du khách nước ngoài khi chọn du lịch TP.HCM là điểm đến theo độ tuổi 73
Bảng 4.30 Bảng kiểm tra tính đồng nhất (Test of Homogeneity of Variances) 73
Bảng 4.31 Bảng kết quả Anova của du khách nước ngoài khi chọn du lịch TP.HCM là điểm đến theo giới tính 74
Bảng 4.32 Bảng kiểm tra tính đồng nhất (Test of Homogeneity of Variances) 74
Bảng 4.33 Bảng kết quả Anova của du khách nước ngoài theo nghề nghiệp 75
Bảng 4.34 Bảng kiểm tra tính đồng nhất (Test of Homogeneity of Variances) 75
Bảng 4.35 Bảng kết quả Anova của du khách nước ngoài đến từ đâu 76
Bảng 5.1 Hàm ý nâng cao yếu tố cơ sở vật chất du lịch 80
Bảng 5.2 Hàm ý nâng cao yếu tố thông tin điểm đến 81
Bảng 5.3 Hàm ý nâng cao yếu tố sự hỗ trợ 82
Bảng 5.4 Hàm ý nâng cao yếu tố sự đa dạng sản phẩm dịch vụ 85
Bảng 5.5 Hàm ý nâng cao yếu tố giá cả dịch vụ 87
Bảng 5.6 Hàm ý nâng cao yếu tố nguồn nhân lực 89
Bảng 5.7 Hàm ý nâng cao yếu tố điểm đến an toàn 91
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề
Một trong những điểm sáng của kinh tế Việt Nam 2017 chính là du lịch, năm 2017 khép lại với những kết quả rất thành công của ngành du lịch và là một năm có nhiều dấu ấn Trước hết, đó là Nghị quyết 08-NQ/TW (Bộ Chính trị, 2017) về phát triển
du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn được ban hành, xác định du lịch là một trong những ngành kinh tế then chốt của đất nước và phát triển du lịch là định hướng chiến lược trong nền kinh tế-xã hội của đất nước Sau đó, Nghị quyết số 103/NQ-CP (Chính phủ, 2017) được ban hành, về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết này đã tạo ra được động lực, tạo ra sự lan tỏa trong nâng cao nhận thức trong chỉ đạo hành động việc ban hành những chính sách hỗ trợ và thúc đẩy cho sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam Luật Du lịch (Quốc hội, 2017) đã chính thức được thông qua với rất nhiều điểm mới, tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch trong giai đoạn tới
Sau khi ngành du lịch Việt Nam đã đón 10 triệu lượt khách quốc tế năm 2016, tăng trưởng 26%, thì đến thời điểm này, có thể nói rằng ngành du lịch đã thực hiện được chỉ tiêu mà Thủ tướng Chính phủ đã giao: đón 13 triệu lượt khách quốc tế, tăng 29% và 74 triệu lượt khách du lịch nội địa, tăng xấp xỉ 20% và tổng thu trực tiếp từ khách du lịch đạt trên 500.000 tỷ đồng, tương đương với 23 tỷ USD và đóng góp khoảng 7,5% vào GDP của Việt Nam năm 2017 (Tổng cục du lịch, 2017), trong đó Thành phố Hồ Chí Minh đạt 6,4 triệu lượt khách quốc tế đến thành phố, tăng 22,88% so với cùng kỳ năm 2016; riêng khách nội địa đạt 25 triệu lượt, tăng 14,6%
so với cùng kỳ (Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, 2017) Điều này cho thấy, thương hiệu du lịch Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đang ngày càng được định vị trên trường quốc tế
Hiện nay thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm du lịch lớn nhất nước, sở dĩ như vậy vì ngoài cơ sở hạ tầng khá tốt, giao thông tương đối thuận tiện, thành phố là một nơi có tài nguyên du lịch phong phú, nơi đây còn là một vùng đất
Trang 15gắn liền với lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc Tuy nhiên, so với tiềm năng, lợi thế, du lịch Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa đáp ứng, phát triển xứng tầm với kỳ vọng Việc chưa nắm rõ thị hiếu du khách nước ngoài, nên hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều hạn chế trong phục vụ đối tượng này (Sở
Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, 2017) Phương tiện di chuyển hiện đại còn ít, số lượng phòng lưu trú chưa nhiều, giá dịch vụ cao, nhất là sản phẩm du lịch thiếu sự
đa dạng, phong phú để đáp ứng cho nhiều du khách ở các quốc gia khác nhau khiến cho thành phố chưa phát huy được thế mạnh trong "ngành công nghiệp không khói" Năm 2018 là năm đầu tiên thi hành Luật Du lịch (sửa đổi) (Quốc hội, 2017),
dự báo ngành Du lịch tiếp tục có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, các chỉ tiêu
về du lịch sẽ tăng trưởng mạnh
Những nghiên cứu về sự lựa chọn điểm đến du lịch cũng được khá nhiều học giả, tác giả trên thế giới thực hiện Tiêu biểu như Claudio Vaz Torres và Amalia Raquel Pérez-Nebra (2007); Charlotte M Echter và J R Brent Ritchie (2013); Girish Prayag và Chris Ryan (2011); Hector San Martin và Ignacio A Rodriguez del Bosque (2007);…Tại Việt Nam đề tài này cũng khá phổ biến và được thực hiện tại nhiều điểm đến và đối tượng khác nhau: Tác giả Trần Thị Kim Thoa (2015) với đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của
du khách trường hợp lựa chọn điểm đến Hội An của Khách du lịch Tây âu- Bắc Mỹ”; Tác giả Hoàng Thanh Liêm (2016) với đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Bình Thuận của du khách trong nước“; Tác giả Nguyễn Xuân Thọ (2012) với đề tài “Ảnh hưởng của hình ảnh điểm đến và cảm nhận rủi ro đến ý định quay lại và truyền miệng tích cực của du khách đối với khu du lịch biển cửa lò, tỉnh Nghệ An”;… Những nghiên cứu trong lĩnh vực này có đóng góp lớn cho khoa học và thực tiễn, đề xuất được những hàm ý quản trị và chính sách quan trọng, góp phần cải thiện du lịch các điểm đến Tuy nhiên tác giả nhận thấy các nghiên cứu về lựa chọn điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 16Ðể Thành phố Hồ Chí Minh thu hút mạnh mẽ du khách nước ngoài đòi hỏi ngành
du lịch thành phố phải tìm hiểu kỹ thị trường du lịch các nước để có những dịch vụ cung ứng phù hợp với từng loại khách, từng quốc gia khác nhau Vì vậy đối với một thị trường như Thành phố Hồ Chí Minh, việc nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn điểm đến là rất cần thiết vì nó cung cấp một cái nhìn rõ ràng hơn về những gì du khách đang tìm kiếm đối với Thành phố Hồ Chí Minh Các kiến thức về hành vi ra quyết định lựa chọn điểm đến rất thiết thực đối với Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, nhà tiếp thị du lịch trong việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ du lịch mới, xây dựng các chính sách
và kế hoạch Marketing hiệu quả, góp phần nâng cao hình ảnh điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh nhằm thu hút nguồn khách du lịch nước ngoài Xuất phát
từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến
việc lựa chọn điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài” làm luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn góp phần phát hiện ra những
yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến của du khách
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài
- Đề xuất một số hàm ý chính sách để nâng cao đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài
Trang 171.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến là du lịch Thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài ?
- Mức độ tác động của thuộc các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài như thế nào ?
- Các hàm ý chính sách cụ thể nào để nâng cao sự sự lựa chọn của du khách nước ngoài đối với du lịch Thành phố Hồ Chí Minh ?
1.4 Đối tượng nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài
- Đối tượng khảo sát là khách du lịch nước ngoài đến Thành phố Hồ Chí Minh
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu đề tài này là tại các điểm du lịch trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Về Thời gian:
+ Số liệu sơ cấp: được điều tra từ tháng 07/2018 đến tháng 9/2018
+ Số liệu thứ cấp: được lấy từ năm 2015 đến năm 2018
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Dữ liệu dùng cho nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng nhiều nguồn dữ liệu, gồm:
- Dữ liệu thứ cấp: Các số liệu báo cáo của Tổng cục Du lịch, UBND Thành phố Hồ
Trang 18- Dữ liệu sơ cấp: Điều tra khảo sát, thu thập từ du khách và chuyên gia để thực hiện nghiên cứu định lượng
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng 02 phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng sơ bộ và phương pháp nghiên cứu định lượng
1.5.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Căn cứ trên các tài liệu đã nghiên cứu cũng như kế thừa các nghiên cứu khảo sát trước về mô hình sự lựa chọn để rút ra các yếu tố cơ bản tác động đến việc lựa chọn điểm đến của khách du lịch Từ đó xây dựng Bảng câu hỏi khảo sát và chọn mẫu Thực hiện phỏng vấn các chuyên gia nhằm xây dựng hoàn thiện mô hình “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh” và điều chỉnh thang đo cho phù hợp Đề tài nghiên cứu
1.5.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Sau khi nghiên cứu định tính, tác giả dùng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp bằng cách phỏng vấn du khách nước ngoài tại các điểm du lịch trên địa bàn thành phố Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó sàng lọc các biến quan sát, xác định các thành phần cũng như giá trị, độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan hồi quy sử dụng phần mềm xử lý số liệu thống kê SPSS 22.0 Các kết quả thu thập được cho phép xác định và đo lường các yếu tố ảnh hưởng đền việc lựa chọn điểm đến của du lịch Thành phố Hồ Chí Minh
Bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên thang đo Likert 5 mức độ nhằm đánh giá mức
độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí Minh của du khách nước ngoài
Trang 191.6 Điểm mới của đề tài
*Về mặt lý thuyết:
Đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch, trước
đây đã có một số nghiên cứu tại địa phương khác như: Hội An (Trần Thị Kim Thoa,
2015), Bình Thuận (Hoàng Thanh Liêm, 2016) Tuy nhiên, riêng tại Thành phố Hồ
Chí Minh vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về vấn đề này
*Về mặt thực tiễn:
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế của cả nước chính vì vậy ngành du
lịch thành phố Hồ Chí Minh luôn phát triển và có biến động rất lớn qua từng năm
nhất là đối với lượng khách du lịch nước ngoài Nghiên cứu này đưa ra một số các
yếu tố mới phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội hiện nay tại địa điểm Thành phố
Hồ Chí Minh
1.7 Kết cấu của Đề tài
Đề tài gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên
cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày cơ sở lý thuyết về
những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Thành phố Hồ Chí
Minh của du khách nước ngoài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu, quy trình
nghiên cứu để kiểm định thang đo bằng Cronbach’s alpha, EFA, Regression
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trình bày phương pháp phân tích, kết quả nghiên
cứu
Trang 20TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1, tác giả đã giới thiệu tính cấp thiết, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch TP.HCM của du khách nước ngoài” Sử dụng 02 phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng
Tiếp theo Chương 2 tác giả sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết về sự chọn lựa và các yếu
tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch TP.HCM của du khách nước ngoài Từ nghiên cứu đó đưa ra mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch TP.HCM của du khách nước ngoài
Trang 21CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về du lịch Thành phố Hồ Chí Minh
Thành Phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng bậc nhất tại đất nước Việt Nam Thành phố là sự đại diện cho sức trẻ và hiện đại nhưng sâu trong lòng thành phố là chứa đựng rất nhiều văn hóa lịch sử được kết tinh từ nhiều nền văn hóa khác nhau trong quá trình hình thành nên Trung Tâm Sài Gòn
Du khách khi du lịch đến Việt Nam ai ai cũng muốn ghé thăm Trung Tâm Sài Gòn
để chiêm ngưỡng một thành phố trẻ đang vươn lên phát triển về mọi mặt
Đặc biệt là ngành du lịch phát triển vượt bậc với các trung tâm thương mại, những khu chợ sầm uất, các dịch vụ vui chơi giải trí liên tục được mở ra nhằm thu hút khách du lịch từ mọi nơi đến du lịch Thành Phố Hồ Chí Minh
Diện tích: 2.095,06 km2; Dân số: 8.859.688 người (Cục Thống kê TP.HCM, 2018)
Vị trí địa lý: Thành phố Hồ Chí Minh có toạ độ 10°10′ – 10°38′ Bắc và 106°22′ – 106°54′ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông
và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Phân chia khu vực hành chính: 19 quận
và 5 huyện
Lịch sử hình thành Sài Gòn: Từ ngày 30/04/1975, Chính quyền Việt Nam cộng hòa được hợp nhất thành một đơn vị hành chính gọi là thành phố Sài Gòn – Gia Định Ngày 02/07/1976 Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời đổi tên thành phố Sài Gòn – Gia Định thành “Thành phố Hồ Chí Minh“, theo tên của chủ tịch nước đầu tiên, Hồ Chí Minh
Trang 22sự phát triển mạnh mẽ về hạ tầng và cởi trói về cơ chế thương mại, mậu dịch, Thành phố ngày càng khẳng định là đầu tàu kinh tế của Việt Nam và đạt nhiều chỉ số và thành tựu phát triển kinh tế khá ấn tượng
Khí hậu và thời tiết của Sài Gòn: Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, gần khu vực xích đạo Thành phố Hồ Chí Minh không có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông mà chỉ có hai mùa: Mưa và Nắng Nắng thì không quá gắt, mưa thì chợt đến rồi lại chóng đi cho nên thời điểm nào cũng là mùa du lịch Hồ Chí Minh
Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh: Thành phố Hồ Chí Minh là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế Thành phố có một hệ thống chợ, các trung tâm mua sắm đa dạng như Chợ Bến Thành, Chợ Bình Tây, Diamond Plaza, Bitexco v.v
Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh với nhiều địa điểm đa dạng với hệ thống các viện bảo tàng lịch sử, hệ thống văn hóa tín ngưỡng mang nhiều dấu ấn văn hóa khác nhau như Chùa, Nhà Thờ Ngoài ra, Sài Gòn còn có nhiều công trình kiến trúc đẹp như Bưu điện Thành Phố, Nhà hát Thành Phố, Bến Nhà Rồng Các khu vực ngoài trung tâm như Địa đạo Củ Chi, Rừng Vàm Sát Cần Giờ v.v chắc chắn sẽ để lại một
kỉ niệm khó quên cho du khách khi dừng chân tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Hệ thống giao thông tại Sài Gòn: Nhờ vào điền kiện thiên nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam nói riêng
và khu vực Đông Nam Á nói chung
Trang 23có hai bến xe chủ yếu đi các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng Bằng Sông Cửu Long là bến xe Miền Đông và bến xe Miền Tây
- Đường Sắt:
Trong thành phố có hai nhà ga chính: Sóng Thần và Sài Gòn Mục tiêu của Ngành Đường sắt là trở thành một ngành vận tải hàng đầu của Việt Nam, đóng góp tích cực vào sự tăng truởng kinh tế của đất nước và hoà nhập với các Đường sắt trong khu vực Đông Nam Á
- Đường Thủy:
Thành phố có khoảng 50 bến đò, phà nhằm phục vụ giao thông hành khách Trong
đó lớn nhất phải kể đến là Phà Cát Lái nối Quận 9 với tỉnh Đồng Nai
Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có bốn cảng biển chính: Sài Gòn, Bến Nghé, Nhà
Bè, Tân Cảng
- Đường Hàng Không:
Sân bay cách trung tâm thành phố khoảng 5km, có tên gọi là Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất Trong tương lai sân bay quốc tế sẽ được dời đến Long Thành nhằm tránh tình trạng quá tải hiện tại Hiện có 43 hãng hàng không quốc tế khai thác chuyến bay đến sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất
- Các phương tiện giao thông công cộng:
Hiện nay thành phố có khoảng hơn 3000 xe buýt và 8000 taxi, ngoài ra còn có khoảng 50000 số lượng xe từ Grab, Go Việt,… nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại cho người dân địa phương cũng như du khách
Năm 2018, TP.HCM tiếp tục tập trung đầu tư phát triển ngành du lịch theo đúng định hướng bằng nhiều giải pháp hiệu quả Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch được đầu
Trang 24lịch sử, du lịch mua sắm, du lịch ẩm thực, du lịch sinh thái - nông nghiệp, du lịch y tế )
Các sự kiện thường niên được tập trung nâng chất với mong muốn thu hút thêm nhiều du khách đến với thành phố TPHCM cũng tiếp tục thực hiện tốt công tác xã hội hóa các sự kiện như Liên hoan Ẩm thực Đất Phương Nam, Lễ hội Trái cây Nam
Bộ, Giải Marathon quốc tế…
Hoạt động xúc tiến du lịch ngoài nước được kết hợp với nhiều nội dung, hoạt động gắn với xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư và các buổi thăm, làm việc giữa lãnh đạo TP.HCM với các địa phương của các nước
Những hoạt động tích cực đã đem lại hiệu quả thiết thực, TPHCM đã đón 7,5 triệu lượt khách quốc tế tăng hơn 18% so với cùng kỳ (Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, 2018), chiếm khoảng 50% tổng lượng khách quốc tế của cả nước
TP.HCM cũng thuộc “Top 10 điểm đến châu Á tuyệt vời” theo Tạp chí Lonely Planet bình chọn, “Top 25 điểm đến hấp dẫn châu Á” theo trang du lịch nổi tiếng Trip Advisor bình chọn
2.2 Tổng quan một số lý luận cơ bản
2.2.1 Khái niệm về du lịch
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc, Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư
Theo Luật du lịch Việt Nam (Quốc hội, 2017), định nghĩa: "Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong
Trang 25thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác."
Theo Luật du lịch Việt Nam (Quốc hội, 2017) quy định: Khách du lịch là người đi
du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến
2.2.3 Khái niệm về điểm đến du lịch
Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO), đã đưa ra quan niệm về điểm đến du lịch (Tourism Destination): “Điểm đến du lịch là vùng không gian địa lý mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường”
Theo Luật du lịch Việt Nam (Quốc hội, 2017): Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch Điểm đến du lịch được chia thành
3 loại: (1) Điểm đến du lịch mang tính chất khu vực, (2) Điểm đến du lịch mang tính chất quốc gia, (3) Điểm đến du lịch mang tính chất địa phương
2.2.4 Khái niệm về dịch vụ
Do tính chất phức tạp, đa dạng và vô hình của dịch vụ nên hiện nay có rất nhiều khái niệm về dịch vụ
Trang 26Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công (Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB
Đà Nẵng, tr 256)
Theo Luật giá năm 2013: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật (Điều 4, Mục 2, Luật số 11/2012/QH13 của Quốc hội)
Philip Kotler (2007) định nghĩa dịch vụ: “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”
Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng
Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì: dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội
2.2.5 Khái niệm về chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ (Parasurman, Zeithaml and Berr, 1985, 1988)
Chất lượng dịch vụ còn là kết quả của sự so sánh của khách hàng, được tạo ra giữa
sự mong đợi của họ về dịch vụ đó và sự cảm nhận của họ khi sử dụng dịch vụ đó (Lewis và Booms, 1983; Gronroon, 1984; Parasuraman và các cộng sự, 1985, 1988, 1991)
Trang 27Theo ISO 8402, chất lượng dịch vụ là “Tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng đó khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”
Có thể hiểu chất lượng dịch vụ là những gì khách hàng cảm nhận được Chất lượng dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức hay cảm nhận của khách hàng liên quan đến nhu cầu cá nhân họ
2.2.6 Lý thuyết về thái độ và sự lựa chọn của khách hàng
2.2.6.1 Lý thuyết về thái độ
Thái độ được xem là một khái niệm đặc biệt, không thể thiếu được trong tâm lý học
xã hội đương đại của Mỹ Nó là một khái niệm cực kỳ quan trọng mà các nhà tiếp thị thường sử dụng khi nghiên cứu về khách hàng tiêu dùng Một trong những định nghĩa đầu tiên về thái độ (attitude) được Thursntone trình bày vào năm 1931 Thurnstone (1931) xem thái độ là một khái niệm tương đối đơn giản: thái độ là một lượng cảm xúc (affect) của một người đối với một đối tượng Vài năm sau Allport (1935) giới thiệu một định nghĩa rộng hơn về thái độ: “Thái độ là một trạng thái trí tuệ (mental & neural state) về sự sẵn sàng hồi đáp, được định hình qua kinh nghiệm
và có tác động một cách “động” hoặc trực tiếp đến hành vi” Sau đó, Triandis (1971) và các cộng sự kết hợp ba dạng phản hồi (ý nghĩ, cảm xúc và hành động (thoughts, feelings and actions) thành mô hình ba thành phần của thái độ (tripartie model of attitude) Theo mô hình này, thái độ được xem là có ba thành phần- nhận thức (cognition) gồm có kiến thức về đối tượng, cảm xúc là những đánh giá tích cực hay tiêu cực về đối tượng, hành vi (conation) là ý định hoặc hành vi dự định thực hiện đối với đối tượng Sau đó, Fishbein và Thurnstone (1980), tranh luận rằng sẽ hữu ích hơn khi xem thái độ là một khái niệm đơn giản, nó là lượng cảm tình của một người đối với một đối tượng Ngày nay, đa phần các nhà nghiên cứu đồng ý là khái niệm đơn giản về thái độ của Thurnstone và Fishbein là hữu ích Theo đó thái
độ sẽ thể hiện những cảm xúc thiện chí hay không thiện chí về một đối
Trang 28thái độ nhưng nó cũng là những khái niệm cần được khảo sát tách biệt (Peter và Olson, 2002)
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu thái độ
Nguồn: Thurnstone và Fishbein (1980)
2.2.6.2 Sự lựa chọn của khách hàng
Khách hàng trong môi trường kinh doanh là thước đo cuối cùng cho chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ Tiến trình ra quyết định mua của một khách hàng bao gồm nhận biết về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá thông tin, ra quyết định mua và đánh giá sau khi mua Đối với khách du lịch trước khi muốn đi du lịch họ sẽ tìm kiếm những thông tin về điểm đến du lịch, mức chi phí cho các dịch vụ, cơ sở lưu trú…thông qua các phương tiện truyền thông và người thân Tiếp đến, họ sẽ đánh giá những thông tin trên dựa vào điều kiện mong muốn của bản thân để đưa ra quyết định lựa chọn điểm đến nào Sau khi hoàn thành chuyến du lịch, khách du lịch sẽ đánh giá hài lòng hay chưa hài lòng về điểm du lịch đó Ngày nay, khách hàng phải luôn đối mặt với sự đa dạng trong một chuỗi các dịch vụ, giá cả và nhà cung cấp Vấn đề là làm thế nào để khách hàng thực hiện được sự lựa chọn của mình ?
Để có một giao dịch, người mua phải trải qua một tiến trình gồm năm giai đoạn gồm: nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua và hành vi sau khi mua Tiến trình đó được thể hiện dưới sơ đồ sau:
Nhận thức
Cảm xúc
Nhận thức vấn đề Tìm kiếm thông tin Đánh giá các chọn lựa
Ra quyết định mua Hành vi sau mua
Trang 29Hình 2.2 Tiến trình mua của người tiêu dùng
Nguồn: Phiilip Kotler (2007) Khách hàng sẽ ước tính và lựa chọn cái gì mang đến cho họ nhiều giá trị nhất Khách hàng luôn cố gắng tối đa hóa giá trị trong giới hạn về chi phí, kiến thức, sự di chuyển và thu nhập của họ Họ đặt ra một sự kỳ vọng về giá trị và hành động để đạt được điều đó Doanh nghiệp cần phải hiểu được nguyên nhân vì sao khách hàng lại hành động như thế này mà không phải là khác đi Do đó, việc hiểu biết sâu sắc hành
vi khách hàng và đặc biệt là hành vi chọn sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ tạo cho doanh nghiệp những cơ hội lớn để thành công trong kinh doanh
2.2.6.3 Lựa chọn điểm đến du lịch của du khách
Um và Crompton (1990), cho rằng, “Lựa chọn điểm đến du lịch là giai đoạn lựa chọn một điểm đến du lịch từ tập các điểm đến mà phù hợp với nhu cầu của khách
du lịch”
Theo Hwang (2006), “Lựa chọn điểm đến du lịch là giai đoạn mà khách du lịch đưa
ra quyết định cuối cùng của mình về sự lựa chọn điểm đến, có nghĩa là khách du lịch chọn một điểm đến nằm trong tập hợp những điểm đến thay thế có sẵn đã được tìm hiểu ở các giai đoạn trước, và trở thành một người tiêu dùng thực sự trong lĩnh vực du lịch”
Đối với bất kỳ ngành kinh doanh nào thì việc hiểu rõ hành vi của khách hàng trong
Nhận
biết nhu
cầu
Tìm kiếm thông tin
Đánh giá các phương
án
Quyết định mua
Hành vi sau khi mua
Trang 30cho các nhà kinh doanh du lịch có thể thông tin cho khách hàng tất cả các đặc tính của sản phẩm dịch vụ du lịch của mình Do đó, việc nắm rõ hành vi của khách hàng trong việc lựa chọn điểm đến du lịch để có những chính sách thu hút sự quan tâm của du khách là vô cùng quan trọng
2.2.6.4 Hành vi mua của khách hàng
Theo Philip Kotler (2007), khách hàng khác biệt nhau về độ tuổi, thu nhập, trình độ học vấn, nhu cầu và thị hiếu Việc hiểu về khách hàng là không hề đơn giản Khách hàng có thể nói ra những nhu cầu và mong muốn của mình nhưng có khi hành động theo một cách khác Họ cũng có thể không hiểu được những động cơ sâu xa của chính mình và có thể chịu sự tác động của các tác nhân bên ngoài làm thay đổi suy nghĩ, quyết định và hành vi của họ Vì thế doanh nghiệp phải tìm hiểu những mong muốn, nhận thức, sở thích, sự lựa chọn và hành vi mua sắm của các nhóm khách hàng mục tiêu khác nhau Trên cơ sở đó mà doanh nghiệp triển khai những sản phẩm, dịch vụ thích ứng với nhu cầu của họ Mô hình ảnh hưởng đến hành vi mua của khách hàng gồm:
- Các kích thích là tất cả tác nhân, lực lượng bên ngoài người tiêu dùng có thể gây ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Chúng được chia làm 2 nhóm chính Nhóm 1: Các tác nhân kích thích của Marketing: Sản phẩm, giá bán, cách thức phân phối và các hoạt động xúc tiến Các tác nhân này nằm trong khả năng kiểm soát của doanh nghiệp Nhóm 2: Các tác nhân kích thích không thuộc quyền kiểm soát tuyệt đối của các doanh nghiệp, bao gồm: môi trường kinh tế, cạnh tranh, chính trị, văn hóa…
- Khách hàng được chia thành 2 phần: Phần thứ nhất là đặc tính của người tiêu dùng Nó có ảnh hưởng cơ bản đến việc người tiêu dùng sẽ tiếp nhận các kích thích
và phản ứng đáp lại các nhân tố đó như thế nào? Phần thứ 2, đó là quá trình quyết định mua của người tiêu dùng Đây là toàn bộ lộ trình người tiêu dùng thực hiện các hoạt động liên quan đến sự xuất hiện của ước muốn, tìm kiếm thông tin, mua sắm, tiêu dùng và những cảm nhận họ có được khi tiêu dùng sản phẩm Kết quả mua sắm
Trang 31sản phẩm của người tiêu dùng sẽ phụ thuộc vào các bước của lộ trình này có được thực hiện trôi chảy hay không
Những phản ứng đáp lại của người tiêu dùng là những phản ứng người tiêu dùng bộc lộ trong quá trình trao đổi mà ta có thể quan sát được Chẳng hạn, hành vi tìm kiếm thông tin về hàng hóa, dịch vụ, lựa chọn hàng hóa, nhãn hiệu, nhà cung ứng, lựa chọn thời gian, địa điểm, khối lượng mua sắm…
2.3 Tổng quan một số mô hình nghiên cứu liên quan
2.3.1 Mô hình nghiên cứu nước ngoài
2.3.1.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action-TRA)
Hình 2.3 Mô hình thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action-TRA)
Nguồn: Fishbein và Ajzen (1975) Yếu tố quyết định đến hành vi cuối cùng không phải là thái độ mà là xu hướng hành
vi Xu hướng bị tác động bởi thái độ và quy chuẩn chủ quan
Thái độ và chuẩn chủ quan: Thái độ là những niềm tin về kết quả của người mua
Niềm tin về những người ảnh
hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên
hay không nên mua sản phẩm
Sự thúc đẩy làm theo ý muốn
Xu hướng hành vi
Hành
vi thực
sự
Trang 32đối với thuộc tính sản phẩm là tích cực hay tiêu cực, có quan trọng hay không quan trọng đối với bản thân họ và thứ hai là trên cơ sở họ đánh giá thế nào về kết quả khi
mà thực hiện hành vi đó
Chuẩn chủ quan tác động đến hành vi mua khách hàng dưới tác động của những người ảnh hưởng như người thân, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã từng sử dụng dịch vụ hay tư vấn viên nó sẽ tác động như thế nào đối với hành vi
ý định mua của khách hàng ? Chuẩn chủ quan phụ thuộc vào niềm tin của người ảnh hưởng đến cá nhân cho người là mua hoặc không mua sản phẩm và sự thúc đẩy làm theo ý định của người mua
2.3.1.2 Mô hình nghiên cứu quyết định chọn điểm đến
Theo Samuel Seongseop Kim, Choong- Ki Lee (2002), Crompton (1979), Dann (1981) đã chỉ ra quyết định chọn điểm đến du lịch bị tác động bởi nhân tố đẩy và nhân tố kéo
Hình 2.4 Mô hình quyết định lựa chọn điểm đến du lịch
Nguồn: Samuel Seongseop Kim, Choong-Ki Lee (2002) Nhân tố kéo là nhận thức và kỳ vọng của du khách về các thuộc tính điểm đến du lịch, ảnh hưởng đến sự lựa chọn điểm đến, được hiểu là những nét đặc trưng, sự thu hút và thuộc tính của chính điểm đến (Klenos ky, 2002)
Nhân tố đẩy, Theo Kim, Lee, Llenosky,( 2003), thì quyết định lựa chọn điểm đến
du lịch thường chịu ảnh hưởng của cả nhóm nhân tố đẩy và nhân tố kéo Nhân tố
Nhân tố đẩy
Nhân tố kéo
Quyết định lựa chọn điểm đến
Trang 33đẩy là động cơ hoặc nhu cầu phát sinh do sự không công bằng của các động lực bên trong, nhân tố tác động hoặc tạo ra nhu cầu để đi du lịch (Crompton,1979)
2.3.1.3 Mô hình các điều kiện của một điểm đến du lịch
Theo Mike và Caster (2007) đã chỉ ra sự cung cấp và mức độ thỏa mãn của 6 điều kiện này sẽ ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến cũng như sự hài lòng của
du khách sau khi tham quan điểm đến bao gồm: (1) Các điểm thu hút khách (attractions), (2) trang thiết bị tiện nghi công và tư (public and private amenities), (3) khả năng tiếp cận (accessibility), (4) nguồn nhân lực (human resources), (5) hình ảnh và nét đặc trưng của điểm đến (image and character), (6) giá (price) Trong đó điểm thu hút khách du lịch là yếu tố hạt nhân, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo
ra động cơ thúc đẩy khách du lịch lựa chọn điểm đến
Hình 2.5: Mô hình các điều kiện của một điểm đến du lịch
Nguồn: Mike and Caster (2007)
2.3.2 Mô nghiên cứu trong nước
2.3.2.1 Tác giả Trần Thị Kim Thoa (2015)
Tác giả Trần Thị Kim Thoa (2015) với đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
Các điểm thu hút khách
Nguồn nhân lực
Trang thiết bị, tiện nghi Khả năng tiếp cận
Giá Hình ảnh và nét đặc trưng
ĐIỂM ĐẾN
DU LỊCH
Trang 34đến của du khách (1) Động cơ du lịch, (2) Thái độ, (3) Hình ảnh điểm đến, (4) Nhóm tham khảo, (5) giá tour du lịch, (6) Truyền thông, với 29 biến quan sát ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến của du khách Tác giả đã chỉ ra yếu tố (3) hình ảnh điểm đến có tác động mạnh nhất đến quyết định lựa chọn điểm đến Ngoài
ra, tác giả còn kiểm định có sự khác biệt về quyết định lựa chọn điểm đến du lịch giữa nhóm khách du lịch khác nhau về độ tuổi, cụ thể khách du lịch có tuổi càng cao thì càng dễ quyết định chọn điểm đến Hội An
Tuy nhiên, nghiên cứu trên chỉ giải thích được có 56,6% sự thay đổi của biến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch Hội An, chứng tỏ rằng còn đến 43,4% các thành phần khác ảnh hưởng đến quyết định chọn điểm đến Hội An của Du khách còn bỏ ngỏ
Hình 2.6 Mô hình về sự lựa chọn điểm đến du lịch Hội An của du khách Tây Âu –
Quyết định lựa chọn điểm đến du lịch
H8 (+)
Trang 352.3.2.2 Tác giả Hoàng Thanh Liêm (2016)
Tác giả Hoàng Thanh Liêm (2016) với đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch Bình Thuận của du khách” Trong nghiên cứu này tác giả xác định có 6 yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn điểm đến của
du khách gồm: (1) Nguồn nhân lực du lịch, (2) Sự đa dạng các loại dịch vụ, (3) Giá
cả dịch vụ hợp lý, (4) Điểm đến An toàn, (5) Cơ sở hạ tầng du lịch, (6) Môi trường
tự nhiên Nghiên cứu chọn cỡ mẫu là 325 mẫu Đối tượng điều tra được xác định là
du khách trong nước lựa chọn điểm đến du lịch Bình Thuận Tác giả đã chỉ ra yếu tố (1) Nguồn nhân lực du lịch có tác động mạnh nhất đến quyết định lựa chọn điểm đến Ngoài ra, tác giả còn kiểm định có sự khác biệt về quyết định lựa chọn điểm đến du lịch giữa nhóm khách du lịch khác nhau về nghề nghiệp, cụ thể khách du lịch nghề nghiệp buôn bán thì càng dễ quyết định chọn điểm đến Bình Thuận
Hình 2.7 Mô hình về sự lựa chọn điểm đến du lịch Bình Thuận của du khách
Nguồn: Hoàng Thanh Liêm (2016)
Trang 362.3.2.3 Tác giả Hoàng Thị Thu Hương (2016)
Tác giả Hoàng Thị Thu Hương (2016) với luận án tiến sĩ kinh tế đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn điểm đến của người dân Hà Nội: nghiên cứu trường hợp điểm đến Huế, Đà Nẵng” Trong nghiên cứu này tác giả xác định 4 yếu tố tác động đến sự lựa chọn điểm đến của du khách bao gồm: (1) Nguồn thông tin điểm đến, (2) Cảm nhận về điểm đến, (3) Động cơ nội tại, (4) Thái độ đối với điểm đến Đối tượng điều tra là người Hà Nội lựa chọn điểm đến Huế và Đà Nẵng Tác giả đã chỉ
ra động cơ du lịch vừa là nguyên nhân của hành vi lựa chọn điểm đến vừa là kết quả đối với sự lựa chọn điểm đến
Hình 2.8 Mô hình về sự lựa chọn điểm đến Huế, Đà Nẵng của người dân Hà Nội
Nguồn: Hoàng Thị Thu Hương (2016)
Thái độ đối với điểm đến
Cảm nhận
về điểm đến
Nguồn thông tin điểm đến
Động cơ nội tại
Sự lựa chọn điểm đến
Trang 372.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết
2.4.1 Các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu
Qua tìm hiểu cơ sở lý thuyết và các nội dung nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến của khách du lịch ở trên sẽ là cơ sở hình thành các giả thuyết nghiên cứu về sự lựa chọn điểm đến của du lịch TPHCM, ta đi tìm hiểu nội dung của từng giả thuyết và ý nghĩa của nó
(1) Nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội (Bùi Xuân Đính, 2000) Là việc đề cập đến tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước Đội ngũ cán bộ quản lý sở ngành, lãnh đạo doanh nghiệp, các chuyên gia đầu ngành có kiến thức chuyên môn, am hiểu sâu về du lịch; lực lượng lao động của ngành du lịch làm việc tại các khu, điểm du lịch, nhà hàng, khách sạn bao gồm các nhà quản lý du lịch, nhân viên, hướng dẫn viên, lái xe, bảo vệ… Đây là yếu tố vô cùng quan trọng đối với sự phát triển du lịch, lực lượng lao động này có trình độ chuyên môn, có kỹ năng, yêu nghề, trung thực, kiên nhẫn sẽ góp phần thu hút nhiều khách du lịch lựa chọn điểm đến du lịch
Giả thuyết H1: Nguồn nhân lực có ảnh hưởng tích cực (+) đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách nước ngoài
(2) Thông tin điểm đến:
Là việc đề cập đến cách thức và phương tiện nào mà khách du lịch biết đến thông tin và đặc điểm, hình ảnh của điểm đến du lịch như thông qua quảng cáo qua mạng internet, báo chí, tạp chí, bạn bè, người thân, cộng đồng du lịch, quảng cáo qua các công ty du lịch, lữ hành; sau khi du lịch tại một điểm đến khác sẽ hình thành nên ý
Trang 38Giả thuyết H2: Thông tin điểm đến có ảnh hưởng tích cực (+) đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách
(3) Giá cả dịch vụ:
Là việc đề cập đến các loại chi phí mà khách du lịch trả cho việc cung cấp dịch vụ của điểm đến du lịch như giá cả lưu trú, vui chơi, giải trí, ăn uống, mua sắm, tham quan, di chuyển Đây là yếu tố quan trọng trong việc hình thành sự lựa chọn điểm đến du lịch của du khách
Giả thuyết H3: Giá cả dịch vụ có ảnh hưởng tích cực (+) đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách nước ngoài
(4) Sự đa dạng sản phẩm dịch vụ:
Sự đa dạng về sản phẩm, dịch vụ và Maketing ở đây được hiểu là Sản phẩm dịch vụ
có nhiều loại, phong phú để khách du lịch tự do lựa chọn phù hợp với nhu cầu của mình (nhiều sản phẩm truyền thống của các dân tộc, sản phẩm từ nông nghiệp, thủy hải sản….); nắm bắt những thay đổi trong nhu cầu của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, từ đó làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và đáp ứng được với những thay đổi của khách hàng cùng với đối thủ cạnh tranh tạo sự thu hút đối với du khách
từ đó hình thành nên ý định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách
Giả thuyết H4: Sự đa dạng sản phẩm dịch vụ có ảnh hưởng tích cực (+) đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách nước ngoài
(5) Điểm đến an toàn:
Là việc đề cập đến an toàn cả về tính mạng, tài sản cho du khách khi đến du lịch, bao gồm an toàn về an ninh trật tự, an toàn về tính mạng, tài sản, các sản phẩm ăn uống luôn đảm bảo an toàn về vệ sinh thực phẩm, không có tình trạng chặt chém khách, ăn xin, có các trung tâm hỗ trợ du khách nước ngoài khi gặp sự cố, con người văn minh, lịch sự, hệ thống y tế hiện đại, phát triển, Đây luôn là yếu tố quan trọng đối với du khách khi lựa chọn điểm đến du lịch vì tính mạng và tài sản
cá nhân luôn phải được đưa lên hàng đầu
Trang 39Giả thuyết H5: Điểm đến an toàn có ảnh hưởng tích cực (+) đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách nước ngoài
(6) Sự hỗ trợ:
Là việc đề cập đến hỗ trợ cho khách du lịch nước ngoài thông qua việc cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ như các công ty du lịch có các chương trình khuyến mãi, giảm giá hấp dẫn, các gói bảo hiểm du lịch được thiết kế riêng dành cho du khách nước ngoài, hỗ trợ du khách nước ngoài nhanh chóng trong mọi tình huống gặp sự
cố, công ty du lịch, lữ hành liên kết chặt chẽ với các cơ sở, hộ kinh doanh để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch
Giả thuyết H6: Sự hỗ trợ có ảnh hưởng tích cực (+) đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách nước ngoài
(7) Cơ sở vật chất du lịch:
Là việc đề cập đến mạng lưới và hệ thống kết cấu hạ tầng, kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch hoàn thiện, giao thông tốt nối liền với các trục đường quốc lộ, đường sắt, đường thủy, hệ thống thông tin liên lạc ổn định, nhiều khu vui chơi, giải trí, thể thao… thuận tiện tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ, hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch
Giả thuyết H7: Cơ sở vật chất du lịch du lịch có ảnh hưởng tích cực (+) đến quyết định lựa chọn điểm đến du lịch của du khách nước ngoài
2.4.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Từ đó tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn điểm đến du lịch TPHCM của du khách nước ngoài” bao gồm các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp: (1) nguồn nhân lực, (2) thông tin điểm đến, (3) giá cả dịch vụ, (4) sự đa dạng sản phẩm dịch vụ, (5) điểm đến an toàn, (6) sự hỗ trợ, (7) cơ sở vật chất du lịch
Trang 40Hình 2.9 Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả
Nguồn: Tác giả đề xuất (2019)
H3 H2
Sự lựa chọn điểm đến du
của du khách nước ngoài