Ngày nay trên phạm vi thế giới du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống kinh tế xã hội và phát triển với tốc độ ngày càng nhanh. Nếu như năm 1950 số lượng khách du lịch quốc tế chỉ mới đạt 25 triệu lượt khách, thì đến năm 2001 con số này là 693 triệu lượt khách và năm 2010 là 1.046 triệu lượt khách. Đồng thời nguồn thu nhập ngoại tệ từ du lịch quốc tế của nhiều nước trên thế giới ngày càng tăng, nếu như năm 1950 doanh thu du lịch trên toàn thế giới là 2,5 tỉ USD, năm 2001 con số này là 462 tỷ USD.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay trên phạm vi thế giới du lịch đã trở thành một nhu cầukhông thể thiếu được trong đời sống kinh tế - xã hội và phát triển với tốc độngày càng nhanh Nếu như năm 1950 số lượng khách du lịch quốc tế chỉ mớiđạt
25 triệu lượt khách, thì đến năm 2001 con số này là 693 triệu lượt khách vànăm 2010 là 1.046 triệu lượt khách Đồng thời nguồn thu nhập ngoại tệ từ dulịch quốc tế của nhiều nước trên thế giới ngày càng tăng, nếu như năm 1950doanh thu du lịch trên toàn thế giới là 2,5 tỉ USD, năm 2001 con số này là 462
tỷ USD
Chính vì nguồn lợi kinh tế to lớn và hiệu quả xã hội nhiều mặt màngành du lịch mang lại, nên nhiều quốc gia đã xem du lịch như là một ngànhkinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình
Ở Việt Nam, thời gian qua với chính sách đổi mới của Đảng và Nhànước, đặc biệt là chính sách đổi mới về kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tếnên ngành du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển rõ nét Trong năm
2002 số lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã đạt con số trên 2.627.000 lượt
Thành phố Hồ Chí Minh ở vị trí địa lý hội tụ được nhiều điều kiện thuậnlợi cho phát triển kinh tế Ngay từ buổi sơ khai, Sài Gòn đã là địa bàn chiếnlược quan trọng nhất ở phía khu vực Nam, và cũng từ rất sớm Sài Gòn -Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế - văn hóa của
cả vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ, là cửa ngõ và đầu mối giao lưu quốc tế.Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế nóichung và du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng mà còn đối với cả khuvực phía Nam
Trang 2Với chức năng là trung tâm du lịch lớn của cả nước, đồng thời là trungtâm trung chuyển và phân phối khách du lịch lớn nhất khu vực phía Nam,trung tâm du lịch Thành phố Hồ Chí Minh hơn một thập kỷ qua luôn giữ vị tríhàng đầu về lượng khách quốc tế, khách nội địa, về doanh thu và đóng gópngân sách của ngành du lịch trong cả nước.
Tuy nhiên, khoảng cách về thị phần khách quốc tế giữa trung tâm dulịch Thành phố Hồ Chí Minh với các địa phương khác trong cả nước ngàycàng bị thu ngắn Nếu như năm 1994 cả nước đón được 1.018.000 lượt khách
du lịch quốc tế thì Thành phố Hồ Chí Minh đón được 670.000 lượt khách dulịch quốc tế chiếm 65,81% so với cả nước, đến năm 2001 cả nước đón được2.627.000 lượt khách du lịch quốc tế thì Thành phố Hồ Chí Minh đón được1.443.000 lượt khách du lịch quốc tế và chỉ còn chiếm 55,05% so với cảnước Để có thể tiếp tục giữ vững vị trí là trung tâm du lịch lớn cả nước trongđiều kiện tiềm năng về tài nguyên du lịch của thành phố còn có những hạnchế, việc nghiên cứu sự phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh gắn vớiviệc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận là vấn đề mang tính cấp thiết,đồng thời là chiến lược phát triển lâu dài của du lịch Thành phố Hồ Chí Minh
Xuất phát từ nhận thức trên, với mong muốn góp phần nghiên cứu mộtcách có hệ thống tài nguyên du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cậnlàm cơ sở khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên du lịch Thành phố HồChí Minh và vùng phụ cận trong mối quan hệ hữu cơ nhằm mục đích kéo dàithời gian lưu trú và thu hút nhiều hơn nữa khách du lịch đến với Thành phố
Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và
vùng phụ cận, đề tài: "Phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận" đã được chọn để nghiên cứu.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ lâu các nhà địa lý trên thế giới đã xác định việc phân tích và đánhgiá tài nguyên phục vụ du lịch là một hướng ứng dụng quan trọng trong địa lý
Trang 3Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô (trước đây)xác định các vùng thích hợp cho mục đích nghỉ dưỡng, đánh giá tài nguyêntheo lãnh thổ cho việc khai thác phục vụ du lịch nghỉ ngơi giải trí; các nhà địa
lý Anh, Mỹ cũng có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá và sử dụng các tàinguyên thiên nhiên phục vụ mục đích giải trí du lịch
Ở Việt Nam, trước những năm 90 của thế kỷ XX các công trìnhnghiên cứu về địa lý du lịch nói chung chưa nhiều, đặc biệt là những vấn đề
về tổ chức lãnh thổ không gian du lịch cũng như về cơ sở lý luận và phươngpháp nghiên cứu Chỉ bước vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XXkhi hoạt động du lịch Việt Nam bắt đầu có những bước chuyển biến, nhiềucông trình nghiên cứu làm cơ sở cho phát triển du lịch đã được thực hiệntrong đó tài nguyên du lịch là đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả Nhữngcông trình nghiên cứu này đã làm sáng tỏ được nhiều vấn đề từ cơ sở lý luậnđến thực tiễn trong nghiên cứu tài nguyên và sử dụng lãnh thổ du lịch, từ qui
mô lãnh thổ cấp huyện, tỉnh, vùng đến cả nước
Những công trình tiêu biểu có ý nghĩa quan trọng phải kể đến là các
đề án Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010;
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ; Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Vĩnh Long, được
nghiên cứu từ năm 1993 Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực
này đã được thực hiện Tiêu biểu là: Đề tài "Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt
Nam" do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì nghiên cứu (1991); "Xây dựng các cảnh quan văn hóa phục vụ du lịch", "Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây phục vụ cho mục đích du lịch" của Đặng Duy Lợi
(1992); "Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài
nguyên du lịch biển Việt Nam" do Nguyễn Trần Cầu và Lê Thông chủ trì
(1993); "Quy hoạch du lịch quốc gia và vùng, phương pháp luận và phương
pháp nghiên cứu" do Vũ Tuấn Cảnh - Lê Thông (1994); "Cơ sở địa lý du lịch"
Trang 4- Nguyễn Minh Tuệ (1994); "Địa lý du lịch" do Nguyễn Minh Tuệ chủ trì (1994); "Dân số - tài nguyên - môi trường" do Đỗ Minh Đức - Nguyễn Viết Thịnh (1996); "Cơ sở khoa học cho việc xây dựng tuyến điểm du lịch" do
Phạm Trung Lương, Đỗ Quốc Thông và nhiều người khác thực hiện (1997),
"Tổ chức lãnh thổ du lịch" của Lê Thông - Nguyễn Minh Tuệ (1999); "Tài
nguyên và môi trường du lịch Việt Nam" do Phạm Trung Lương làm chủ biên
(2000)
Đồng thời, đứng ở góc độ kinh doanh, các công ty du lịch, các hãng lữhành ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng có một số công trình nhưng chỉ dừng lại
ở mức độ thống kê, sưu tầm, biên chép lại các yếu tố tự nhiên, kinh tế văn hóa
-xã hội ở các địa phương một cách riêng lẻ (ở dạng poster, brochure, tập gấp) đểphục vụ cho yêu cầu kinh doanh du lịch của từng công ty Một số "Guidebook"
về du lịch được người nước ngoài biên tập như của Daniel Robinson, HelenWest Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào mang tính tổng hợp và có
hệ thống về phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh gắn với việc khai thác tàinguyên du lịch vùng phụ cận, qua đó đề xuất những giải pháp thích hợp để tăngcường khai thác có hiệu quả những tiềm năng du lịch đa dạng và phong phúcủa khu vực tạo ra những điều kiện mới để phát triển hơn nữa du lịch Thànhphố Hồ Chí Minh xứng đáng với vai trò là trung tâm du lịch của vùng du lịchNam Trung Bộ và Nam Bộ nói riêng, trung tâm du lịch lớn của cả nước nóichung
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Vận dụng lý luận của các nhà khoa học trong và ngoài nước vào việcđánh giá tài nguyên du lịch làm cơ sở cho việc xác định và đánh giá tổng hợpcác điểm tài nguyên du lịch tiêu biểu nhằm góp phần định hướng khai thác tàinguyên du lịch và xác lập những giải pháp phát triển du lịch Thành phố Hồ
Trang 5Chí Minh trong mối quan hệ với vùng phụ cận thông qua việc khai thác cáctài nguyên du lịch chung của khu vực.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài cần tập trung vàonhững nhiệm vụ sau:
- Làm rõ quan điểm và tính tất yếu của việc khai thác tài nguyên dulịch vùng phụ cận là một trong những yêu cầu cần thiết cho sự tồn tại và pháttriển du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh
- Kiểm kê, phân tích và đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên dulịch Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận, xác định các điểm du lịch và
so sánh lợi thế các điểm du lịch giữa Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụcận, phân tích những hạn chế của nguồn tài nguyên du lịch Thành phố Hồ ChíMinh cần được bổ sung từ vùng phụ cận
- Định hướng phát triển theo ngành và theo không gian du lịch Thànhphố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịchvùng phụ cận
- Xác định các điểm, cụm, tuyến du lịch hợp lý mang tính chất tổnghợp, chuyên đề phù hợp với đặc điểm tài nguyên Thành phố Hồ Chí Minh vàvùng phụ cận theo hướng ưu tiên là du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, dulịch văn hóa - lịch sử cách mạng, du lịch hội nghị hội thảo, vui chơi giải trí
4 Giới hạn nghiên cứu
- Với chức năng đã được xác định là trung tâm của vùng du lịch số 3(vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ) và nằm trong Á vùng du lịch Nam Bộ,đồng thời Thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm của địa bàn kinh tếtrọng điểm phía Nam Không gian nghiên cứu cũng giới hạn ở địa bàn này vớiphạm vi ranh giới bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh và 5 tỉnh Đông Nam Bộ
Trang 6(Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu) và 2tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Long An và Tiền Giang), như vậy không giancủa vùng được tính từ trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh đến bán kínhkhoảng 150 km
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là tài nguyên du lịch tự nhiên, tàinguyên du lịch nhân văn với nội dung là các định hướng phát triển theongành, đặc biệt là các định hướng sản phẩm du lịch, định hướng thị trường vàđịnh hướng phát triển không gian du lịch bao gồm định hướng các điểm dulịch, cụm du lịch, cũng như định hướng xây dựng các tuyến, tour du lịch làm
sơ sở cho các hãng lữ hành và công ty du lịch trên địa bàn thành phố khai tháchợp lý
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
Cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài dựa vào lý luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng Trong nghiên cứu địa lý, cơ sở lý luận đã được thể hiện quanhững quan điểm cụ thể như sau:
Quan điểm hệ thống:
Hệ thống lãnh thổ du lịch được quan niệm là một hệ thống mở, trongcấu trúc của hệ thống đó tài nguyên du lịch được xác định như một phân hệ,
là một bộ phận không thể thiếu, có mối quan hệ chặt chẽ và có tác động hữu
cơ với các phân hệ khác trong hệ thống, đồng thời tài nguyên du lịch cũng làmột hệ thống bao gồm các phân hệ tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhânvăn
Quan điểm tổng hợp:
Bản thân tài nguyên du lịch cũng cần được xem xét một cách tổng hợpmặc dù về mặt phân loại có thể phân chia ra các tài nguyên du lịch tự nhiên
Trang 7và tài nguyên du lịch nhân văn Quán triệt quan điểm tổng hợp trong nghiêncứu đề tài cần nhìn nhận và đánh giá các đối tượng du lịch một cách tổng hợp
để hình thành nên các điểm du lịch, cụm du lịch và các tuyến du lịch
Quan điểm lịch sử và viễn cảnh:
Vận dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh trong việc nghiên cứu tàinguyên du lịch và khai thác tài nguyên du lịch là hết sức cần thiết Trongphạm vi lãnh thổ nghiên cứu hầu hết các điểm du lịch và nhiều tuyến du lịch
đã được khai thác từ trước Do đó chúng ta cần tiếp tục kế thừa và phát huy để
có kế hoạch phát triển hợp lý hơn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu chính
đã được áp dụng
Phương pháp khảo sát thực địa:
Quá trình thực hiện luận án đòi hỏi phải tiến hành nhiều đợt thực địa,khảo sát các đối tượng nghiên cứu trên địa bàn để kiểm tra, đánh giá xác thực
và có tầm nhìn đầy đủ về các đối tượng nghiên cứu Mặc dù địa bàn nghiêncứu rộng lớn nhưng chúng tôi đã tiến hành nhiều đợt khảo sát ở 7 tỉnh: Long
An, Tiền Giang, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu đến tận các điểm tài nguyên du lịch đang được khai thác và những
Trang 8-điểm tài nguyên du lịch còn ở dạng tiềm năng; đã gặp gỡ và làm việc với các
cơ quan quản lý các điểm tài nguyên du lịch và lãnh đạo ngành du lịch,thương mại du lịch trên địa bàn nghiên cứu
Phương pháp phân tích - tổng hợp:
Phương pháp này được sử dụng để phân tích và xử lý số liệu, tài liệu
đã điều tra, tiến hành việc thống kê và nghiên cứu, đồng thời vận dụngphương pháp này là cách tốt nhất để đảm bảo việc kế thừa các công trìnhnghiên cứu trước và cũng trên cơ sở phân tích tổng hợp để xây dựng hệ thốngbản đồ và xây dựng các định hướng về không gian du lịch trên địa bàn nghiêncứu
Phương pháp đối chiếu - so sánh:
Phương pháp này được vận dụng nhằm đối chiếu và so sánh lợi thếtiềm năng của tài nguyên du lịch trên hai địa bàn nghiên cứu (Thành phố HồChí Minh và vùng phụ cận) vận dụng phương pháp này có ý nghĩa khi nghiêncứu xác định điểm tài nguyên du lịch phục vụ cho việc định hướng và khaithác tài nguyên du lịch có hiệu quả
Phương pháp bản đồ:
Vận dụng phương pháp này để khai thác thông tin trên hệ thống bản
đồ đã được xây dựng, đặc biệt là các thông tin về không gian nghiên cứu,đồng thời thể hiện các kết quả nghiên cứu lên bản đồ; ngoài ra để có được kếtquả nhanh và chính xác, với sự hỗ trợ đắc lực của kỹ thuật máy tính, đề tài đã
sử dụng kỹ thuật GIS (Geographic Information System) để xây dựng hệ thốngbản đồ
Phương pháp chuyên gia:
Để thực hiện được đề tài, phương pháp chuyên gia là phương pháp quantrọng được vận dụng thông qua việc xin ý kiến chỉ đạo, góp ý về phương pháp
và nội dung nghiên cứu Trong quá trình thực hiện luận án, nhiều chuyên gia và
Trang 9những nhà khoa học giàu kinh nghiệm và am hiểu về lĩnh vực đánh giá tàinguyên du lịch, định hướng không gian du lịch và khai thác tài nguyên du lịchcủa Khoa Địa lý Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Nghiên cứu Pháttriển Du lịch đã truyền đạt lý luận và những kinh nghiệm thực tiễn giúp cho
đề tài giải quyết được nhiều vấn đề khó khăn, vướng mắc trong quá trìnhnghiên cứu
6 Những luận điểm bảo vệ
- Ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có thể tiếp tục phát triểnbền vững và giữ được các chỉ tiêu về lượng khách, doanh số trên cơ sở mởrộng mối quan hệ hợp tác phát triển với vùng phụ cận trong đó có việc khaithác tiềm năng tài nguyên du lịch của vùng phụ cận
- Vận dụng tổ chức lãnh thổ như là một hệ thống mở mà Thành phố
Hồ Chí Minh là trung tâm của vùng do đó việc khai thác và sử dụng tàinguyên du lịch của vùng phụ cận phải gắn liền với việc hợp tác kinh doanh,phân công và bổ trợ lẫn nhau giữa ngành du lịch Thành phố với các tỉnh trongvùng Mối quan hệ hợp tác này dựa trên nền tảng các địa phương cùng pháttriển trong tổng thể của vùng mà Thành phố Hồ Chí Minh là cực của tam giáctăng trưởng Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bà Rịa - Vũng Tàu và vừa
là trung tâm của địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam và là trung tâm du lịchcủa vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ
- Việc khai thác cần kết hợp với việc đầu tư, tôn tạo các danh thắngcũng như bảo vệ được môi trường du lịch (cả môi trường tự nhiên lẫn môitrường văn hóa xã hội) mới có thể phát triển bền vững du lịch ở Thành phố
Hồ Chí Minh
7 Những đóng góp chính của luận án
- Tổng quan chọn lọc và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tàinguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ du lịch, trên
Trang 10cơ sở đó vận dụng vào việc nghiên cứu cụ thể trên địa bàn Thành phố Hồ ChíMinh và vùng phụ cận.
- Đánh giá thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên du lịch Thànhphố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận, xác định những hạn chế cơ bản về tàinguyên du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh ảnh hưởng đến sự phát triển dulịch của Thành phố và những thế mạnh nổi trội về tài nguyên du lịch vùngphụ cận có thể bổ sung cho sản phẩm du lịch Thành phố Hồ Chí Minh
- Xác định mối quan hệ giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phươngvùng phụ cận trong việc hợp tác phát triển khai thác tài nguyên du lịch
- Sử dụng kết quả đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên du lịch làm
cơ sở cho việc định hướng theo ngành và định hướng phát triển không gianlãnh thổ du lịch của toàn vùng bằng việc xác định các điểm, cụm, tuyến dulịch với các sản phẩm du lịch phù hợp của từng địa phương; đồng thời đề xuấtmột số giải pháp tổ chức hoạt động du lịch nhằm bảo đảm việc khai thác bềnvững tài nguyên du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phầnphụ lục, phần nội dung của luận án được trình bày trong các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc đánh giá tài nguyên để phát triển du
lịch
Chương 2: Đánh giá tài nguyên du lịch và thực trạng khai thác tài
nguyên du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận
Chương 3: Định hướng phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh
trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận
Trang 11Toàn bộ luận án được trình bày 159 trang, luận án có 5 bản đồ, 2 biểu
đồ, 17 bảng số liệu, 134 tài liệu tham khảo, 16 phụ lục và 8 trang hình ảnhminh họa
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN
ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1 KHÁI NIỆM VỀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
1.1.1 Khái niệm chung về tài nguyên
Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả những nguồn nguyênliệu, năng lượng và thông tin có trên Trái đất và trong không gian vũ trụ liênquan mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển củamình Dựa vào khả năng tái tạo tài nguyên được phân thành tài nguyên tái tạo
và tài nguyên không tái tạo
Tài nguyên tái tạo là những tài nguyên dựa vào nguồn gốc từ nănglượng được cung cấp hầu như liên tục và vô tận từ vũ trụ đến Trái đất, dựavào các quy luật tự nhiên đã hình thành để tiếp tục tồn tại, phát triển và chỉmất đi khi không còn nguồn năng lượng và thông tin Tài nguyên tái tạo cũng
có thể là những tài nguyên có thể tự duy trì hoạt động hoặc tự bổ sung mộtcách liên tục nếu được khai thác và quản lý tốt Năng lượng bức xạ mặt trời,năng lượng nước, gió, tài nguyên sinh học cũng được xem là những tàinguyên tái tạo
Tài nguyên không tái tạo tồn tại một cách hữu hạn có thể bị mất đihoặc bị biến đổi, không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình khai thác
sử dụng Phần lớn các loại tài nguyên khoáng sản, nhiên liệu khoáng đã được
sử dụng, các thông tin di truyền bị biến đổi không giữ lại được cho đời sau được xem là những tài nguyên không tái tạo được
1.1.2 Tài nguyên du lịch
Trang 13Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung.Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch.
Khái niệm tài nguyên du lịch dùng để chỉ những đối tượng cụ thể, cógiá trị kinh tế đối với ngành công nghiệp du lịch [118]
Tại Điều 10, khoản 3, chương I của Pháp lệnh Du lịch Việt Nam(được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa ViệtNam khóa X thông qua ngày 8/2/1999) về khái niệm tài nguyên du lịch được
xác định như sau: "Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử,
di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố căn bản
để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch".
Như vậy tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển du lịch.thực tế cho thấy tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêuthì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu
Đồng thời, trong Pháp lệnh du lịch ở chương II Bảo vệ, khai thác, sử
dụng và phát triển tài nguyên du lịch, Điều 11 cũng ghi rõ: Tài nguyên du lịch
gồm tài nguyên du lịch đang khai thác, tài nguyên du lịch chưa khai thác
Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên du lịch phụ thuộc vào:
- Khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá các tiềm năng tài nguyênvẫn còn tiềm ẩn
- Yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu củakhách du lịch các nhu cầu này ngày một lớn và đa dạng, phụ thuộc vào mứcsống và trình độ dân trí
- Trình độ phát triển khoa học công nghệ đã tạo ra các phương tiện đểkhai thác tiềm năng tài nguyên
Bên cạnh những tài nguyên đã và đang được khai thác, nhiều tàinguyên du lịch còn tồn tại dưới dạng tiềm năng do:
Trang 14- Chưa được nghiên cứu điều tra và đánh giá đầy đủ.
- Chưa có nhu cầu khai thác do "cầu" còn thấp
- Tính đặc sắc của tài nguyên thấp hoặc chưa đủ tiêu chuẩn cần thiết
để khai thác, hình thành sản phẩm du lịch
- Các điều kiện để tiếp cận hoặc các phương tiện khai thác còn hạnchế, do đó chưa có khả năng hoặc gặp nhiều khó khăn trong khai thác
- Chưa đủ khả năng đầu tư để khai thác
Như vậy, tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử có xu hướng ngàycàng mở rộng Sự mở rộng của tài nguyên du lịch thường tùy thuộc rất nhiềuvào yêu cầu phát triển du lịch, vào những tiến bộ khoa học kỹ thuật, vào sựđầu tư, vào các sáng kiến và sở thích của con người Như trước đây, ánh nắngmặt trời không được xem là tài nguyên du lịch, nhưng khi du lịch biển pháttriển thí mặt trời cùng với biển, bãi cát được xem là tài nguyên du lịch quantrọng, nhưng vai trò của nó cũng dần bị hạn chế khi y học phát hiện có mốiliên hệ giữa tia cực tím với căn bệnh ung thư da
Tóm lại, khái niệm tài nguyên du lịch có thể được xác định như sau:tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử cùng các thành phầncủa chúng được khai thác nhằm góp phần khôi phục khả năng lao động và sứckhỏe con người, phát triển thể lực và trí lực, những tài nguyên du lịch này được
sử dụng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc tạo ra các dịch vụ du lịch
Khi đánh giá tài nguyên du lịch và định hướng khai thác cần phải tínhđến những thay đổi trong tương lai về nhu cầu cũng như khả năng kinh tế - kỹthuật khai thác các loại tài nguyên du lịch mới [102]
1.1.3 Những đặc điểm cơ bản của tài nguyên du lịch
1.1.3.1 Tính phong phú, đa dạng của tài nguyên du lịch
Trang 15Khác với các loại tài nguyên khác, tài nguyên du lịch rất phong phú,
đa dạng trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo là cơ sở để xây dựngcác sản phẩm du lịch hấp dẫn thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch.Thí dụ đối với loại hình nghỉ mát chữa bệnh nhằm mục đích phục hồi sứckhỏe thì tài nguyên du lịch có thể khai thác là các bãi biển ở Vũng Tàu, LongHải hay suối nước khoáng nóng Bình Châu, Hồ Cốc hoặc đối với loại hình
du lịch văn hóa, tôn giáo nhằm phục vụ cho tín ngưỡng và nâng cao nhận thứcthì tài nguyên du lịch có thể đáp ứng là lễ hội Núi Bà (Tây Ninh), lễ hội Chùa
Bà (Bình Dương), lễ hội Nghinh Ông Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh)hoặc hệ thống đình chùa ở Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận Đặcbiệt, nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc và độc đáo có sức hấp dẫn lớn đối với
du khách như du lịch sinh thái vườn quốc gia Nam Cát Tiên (Đồng Nai), cùlao Thới Sơn trên sông Tiền (Mỹ Tho), hệ thống rừng ngập mặn Cần Giờ(Thành phố Hồ Chí Minh) đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinhquyển của thế giới
Có thể nói, hiệu quả từ việc khai thác sự phong phú đa dạng của tàinguyên du lịch đối với việc phục vụ cho khách du lịch là rất to lớn, có khivượt trội hơn rất nhiều so với việc khai thác các tài nguyên khác (như khaithác tài nguyên khoáng sản, khai thác rừng )
1.1.3.2 Tính thuận lợi trong việc khai thác tài nguyên du lịch
Phần lớn các tài nguyên du lịch được khai thác để phục vụ khách dulịch là các tài nguyên vốn đã có sẵn trong tự nhiên hoặc những tài nguyên dulịch nhân văn do lao động con người tạo đã tạo ra
Trong thực tế một bãi tắm ven biển, một hồ nước, một khu rừngnguyên sinh, một dòng sông với cảnh quan bên bờ đều có thể trở thành nhữngđiểm, tuyến du lịch; con người khó có thể tạo nên các tài nguyên du lịch tựnhiên bởi vô cùng tốn kém và dù có mô phỏng lại được thì cũng không thể lột
tả hết được sức sáng tạo phi thường của tạo hóa và vì thế sẽ giảm đi rất nhiều
Trang 16về giá trị và độ hấp dẫn.Với tất cả những gì đã sẵn có của tài nguyên du lịch,nếu biết đầu tư tôn tạo cho phù hợp sẽ tôn thêm vẻ đẹp và giá trị của tàinguyên, vừa tạo ra những điều kiện thuận lợi nhằm khai thác và sử dụng cóhiệu quả tài nguyên này.
1.1.3.3 Tính thời vụ trong khai thác tài nguyên du lịch
Trong số các tài nguyên du lịch, có những tài nguyên có khả năng khaithác quanh năm, lại có những tài nguyên mà việc khai thác ít nhiều lệ thuộcvào thời vụ Sự lệ thuộc này chủ yếu bị chi phối bởi yếu tố khí hậu và tậpquán của dân gian Ví dụ, đối với tài nguyên du lịch biển, thời gian khai thácthích hợp nhất là vào mùa hè có khí hậu nóng bức Mặc dù điều kiện thời tiếtcủa Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận ít chịu ảnh hưởng của khôngkhí lạnh nhưng hoạt động du lịch biển ở Vũng Tàu tấp nập nhất vẫn vào mùa
hè, còn vào thời gian các tháng 10, 11, 12 rất vắng khách du lịch biển Đốivới các lễ hội, bên cạnh các tập quán dân gian là các nghi lễ tôn giáo, cũng đãđược ấn định vào các thời kỳ cụ thể trong năm Vì thế hoạt động du lịch cũng
lệ thuộc rất lớn vào thời gian diễn ra các lễ hội đó: như lễ hội Chùa Bà diễn ravào rằm tháng Giêng hàng năm, lễ hội Nghinh Ông Cần Giờ (Thành phố HồChí Minh) vào rằm tháng Tám âm lịch, Hội xuân Núi Bà Tây Ninh chỉ diễn ratrong tháng Giêng âm lịch
Do tài nguyên du lịch có tính thời gian khai thác khác nhau đã quyếtđịnh tính chất mùa vụ của hoạt động du lịch Các địa phương, các nhà quản
lý, điều hành và tổ chức các loại hình hoạt động du lịch cũng như du kháchđều phải quan tâm đến tính chất này để có biện pháp chủ động điều tiết thíchhợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh (Ví dụ như
tổ chức các sự kiện, hội nghị, hội thảo trong những tháng thấp điểm)
1.1.3.4 Tài nguyên du lịch được khai thác tạo ra các sản phẩm tiêu thụ tại chỗ
Trang 17Khác với các dạng tài nguyên khác có thể được khai thác vận chuyểnđến tay người tiêu thụ, đối với sản phẩm du lịch được xây dựng từ tài nguyên
du lịch thì du khách phải đến tận nơi để sử dụng và thưởng thức Đây là mộtđặc điểm đồng thời là thế mạnh đặc trưng của từng địa phương khi có nhữngsản phẩm du lịch đặc thù
Chính vì khách du lịch phải đến tận các điểm du lịch, nơi có tài nguyên
du lịch, do đó trong quá trình tổ chức, xây dựng sản phẩm du lịch, khai tháctài nguyên du lịch cần phải quan tâm đến cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹthuật phục vụ du lịch và phương tiện vận chuyển Thực tế cho thấy những điểm
du lịch có vị trí địa lý thuận lợi, tiện đường giao thông và có cơ sở hạ tầng và
cơ sở vật chất tương ứng phục vụ du lịch thì hoạt động du lịch nơi đó đạt hiệuquả cao; ngược lại có những điểm du lịch có tiềm năng tài nguyên du lịchphong phú đặc sắc như khu du lịch sinh thái Cần giờ, mặc dù rất gần trungtâm du lịch Thành phố Hồ Chí Minh (50km) nhưng do cầu phà ách tắc nên đãhạn chế số lượng tham quan của khách du lịch đến nơi đây; hay các điểm dulịch sinh thái của Bến Tre có những nét tương đồng với Tiền Giang nhưng do
cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng nên số lượng khách du lịch đến đây rất hạn chế
1.1.3.5 Giá trị hữu hình và giá trị vô hình của tài nguyên du lịch
Khách du lịch khi quyết định lựa chọn và mua sản phẩm du lịch đượcxây dựng từ tài nguyên du lịch, họ chỉ có thể cảm nhận được qua kênh thôngtin tuyên truyền quảng bá (báo chí, hình ảnh, trang Web cũng như nhữngphương tiện thông tin khác, giá trị của tài nguyên du lịch này chỉ là những giátrị vô hình, chỉ khi nào họ quyết định đi du lịch đến trực tiếp một địa phương,một điểm du lịch cụ thể nào đó họ mới có thể hình dung được giá trị hữu hìnhcủa tài nguyên du lịch Mặt khác, giá trị vô hình của tài nguyên du lịch cònđược khách du lịch cảm nhận thông qua những cảm xúc về tâm lý, làm thỏamãn nhu cầu tinh thần (nét thẩm mỹ, văn hóa của một điểm du lịch ) đâycũng là một nhu cầu đặc biệt của khách du lịch
Trang 181.1.3.6 Vòng đời của một sản phẩm du lịch từ tài nguyên du lịch
Bất kỳ một sản phẩm du lịch nào cũng trải qua các giai đoạn khámphá, phát triển, bão hòa, cũng cố có rất nhiều bãi biển đã không còn hấp dẫnthu hút được khách du lịch, vấn đề chính là phải nắm được quy luật tự nhiên,lường trước được sự thử thách khắc nghiệt của thời gian và những biến động,đổi thay do con người gây nên Từ đó có định hướng lâu dài và các biện pháp
cụ thể để khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên du lịch; không ngừng bảo vệ,tôn tạo và hoàn thiện tài nguyên nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển du lịch
và kéo dài được vòng đời của sản phẩm du lịch
Đây cũng chính là điều sống còn của mỗi điểm du lịch, mỗi khu dulịch nhằm thực hiện phương hướng chiến lược phát triển du lịch bền vững mớiđảm bảo nguồn tài nguyên du lịch ít bị tổn hại, mỗi điểm du lịch, mỗi khu dulịch ngày càng trở nên hấp dẫn hơn, không những thỏa mãn các nhu cầu pháttriển du lịch hiện tại mà còn sẵn sàng để đáp ứng yêu cầu phát triển của dulịch trong tương lai
1.1.4 Phân loại tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch vốn rất phong phú và đa dạng, vì vậy để có cơ sởđánh giá và khai thác, sử dụng có hiệu quả, việc phân loại tài nguyên du lịchkhông chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn Hiện nay cónhiều cách phân loại tài nguyên du lịch, nhưng phổ biến nhất là phân loại tàinguyên du lịch theo nguồn gốc phát sinh và phân loại tài nguyên du lịch theomục đích sử dụng Mỗi cách phân loại đều có những ưu điểm và những hạnchế nhất định
Đối với cách phân loại tài nguyên du lịch theo mục đích sử dụng thì
ưu điểm nổi bật là người sử dụng (khách du lịch) dễ lựa chọn các đối tượngtài nguyên du lịch theo nhu cầu của mình cũng như có được những thông tin
về tài nguyên du lịch một cách cụ thể Bên cạnh những ưu điểm nổi bật trên,
Trang 19việc phân loại theo mục đích sử dụng cũng có một số hạn chế như có sự trùnglắp về phân loại tài nguyên đối với những loại hình du lịch khác nhau Ví dụ:một vườn quốc gia hoặc một khu rừng có thể được sử dụng để phát triểnnhiều loại hình du lịch khác nhau như du lịch sinh thái, du lịch tham quannghiên cứu, du lịch cuối tuần , do tính chất đa sử dụng của một loại tàinguyên cho nhiều loại hình du lịch khác nhau nên tính chặt chẽ và hệ thốngtrong việc phân loại này có hạn chế nhất định.
Đối với cách phân loại tài nguyên du lịch theo nguồn gốc phát sinh cóhạn chế nhất định trên quan điểm người sử dụng, tuy nhiên kết quả phân loạitheo phương pháp này không chỉ có ý nghĩa phục vụ cho công tác quản lý màcòn rất hữu ích cho công tác nghiên cứu, quy hoạch, đầu tư phát triển du lịch.Chính vì vậy, phương pháp phân loại tài nguyên du lịch theo nguồn gốc phátsinh được sử dụng rộng rãi trong khoa học địa lý Theo phân loại này, tàinguyên du lịch được phân thành hai nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tàinguyên du lịch nhân văn
1.1.4.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Trang 20Vai trò của các thành phần tự nhiên có tác động mạnh mẽ nhất đến dulịch là địa hình, khí hậu, thủy văn và hệ thống thực động vật Việc nghiên cứuvai trò của các thành phần tự nhiên để phục vụ du lịch có ý nghĩa quan trọngtrong việc tổ chức kinh doanh và hoạt động du lịch
Địa hình
Địa hình là thành phần quan trọng của tự nhiên, là nơi diễn ra mọihoạt động của con người Đối với hoạt động du lịch điều quan trọng nhất làđặc điểm hình thái địa hình, đó là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và cácdạng đặc biệt của địa hình tạo nên sự hấp dẫn đối với khai thác du lịch Cácđơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng, chúng được phânbiệt bởi độ chênh lệch của địa hình Tâm lý và sở thích chung của khách dulịch là muốn đến những nơi có cảnh quan xinh đẹp, có những kiểu địa hìnhkhác lạ so với nơi họ đang sống
- Địa hình miền núi thường có nhiều ưu thế hơn đối với hoạt động dulịch vì có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện được vẻ đẹp hùng
vĩ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ không khí trong lành
ở miền núi có nhiều đối tượng cho hoạt động du lịch Đó là các sông, suối,thác nước, hang động, rừng cây với thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phongphú Miền núi còn là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người với đờisống và nền văn hóa rất đa dạng đặc sắc Địa hình miền núi có ý nghĩa rất lớnđối với du lịch, đặc biệt là các khu vực thuận lợi do việc tổ chức các loại hình
du lịch nghỉ dưỡng, thể thao, khám phá, mạo hiểm
- Địa hình đồng bằng thường đơn điệu về hình thái, ít gây những hứngthú nhất định cho khách tham quan du lịch Song do đồng bằng là nơi thuậnlợi cho hoạt động kinh tế, cho canh tác nông nghiệp nên từ lâu ở đây là nơiquần cư đông đúc và là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa Thông qua cáchoạt động nông nghiệp, văn hóa của con người địa hình đồng bằng cũng cóảnh hưởng rất quan trọng đến du lịch
Trang 21- Địa hình vùng đồi thường tạo ra một không gian thoáng đãng bao la.
Do sự phân cắt của địa hình nên có tác động mạnh đến tâm lý du lịch dãngoại, rất thích hợp với các loại hình cắm trại, tham quan Vùng đồi là nơi cónhiều di tích khảo cổ và tài nguyên văn hóa - lịch sử độc đáo, tạo khả năngphát triển loại hình du lịch, tham quan theo chuyên đề
- Ngoài ra, các kiểu địa hình karst (kiểu địa hình được thành tạo do sựlưu thông của nước trong các đá dễ hòa tan và tạo thành những hang động) vàđịa hình ven bờ (đại dương, biển, sông, hồ) là những dạng tài nguyên rất cógiá trị Ngành du lịch thế giới đã đưa vào khai thác hàng ngàn hang động, ởnước ta địa hình đá vôi phân bố rộng khắp từ vĩ tuyến 160 trở lên với nhiều hệthống hang động có giá trị du lịch; đặc biệt hơn cả là kiểu địa hình karst ngậpnước nhiệt đới mà điển hình là vịnh Hạ Long
Đối với địa hình ven bờ rất thích hợp với việc tổ chức các loại hình
du lịch như nghỉ ngơi, an dưỡng, tắm biển, thể thao nước Trên phạm vi thếgiới khách đi du lịch đều luôn chiếm số lượng lớn nhất so với các loại hình dulịch khác
Khí hậu
Khí hậu là thành phần quan trọng nhất của môi trường tự nhiên đối vớihoạt động du lịch trong các chỉ tiêu của khí hậu, đáng chú ý nhất là các chỉtiêu: nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí, ngoài ra còn có một số yếu tốkhác như gió, lượng mưa, thành phần lý hóa của không khí, áp suất của khíquyển, ánh nắng mặt trời và hiện tượng thời tiết đặc biệt Những nơi có khíhậu phù hợp trong lành thì thu hút khách du lịch, tình trạng sẽ ngược lại đốivới khu vực có khí hậu khắc nghiệt
Để đánh giá cụ thể các điều kiện khí hậu đối với hoạt động du lịch,ngoài các đặc điểm chung của từng khu vực, cần thiết phải đánh giá ảnh hưởngcủa các điều kiện đó tới sức khỏe con người và các loại hình du lịch
Trang 22Nhiều nhà nghiên cứu khí hậu trên thế giới đã sử dụng những chỉ tiêu khíhậu - sinh học để xác định mức độ thích nghi của khí hậu đối với con người.
Nhìn chung, những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách dulịch ưa thích Nhiều cuộc thăm dò cho thấy khách du lịch thường tránh nhữngnơi quá lạnh, quá ẩm, hoặc quá nóng, quá khô Những nơi có nhiều gió cũngkhông thích hợp cho sự phát triển của du lịch Mỗi loại hình du lịch đòi hỏinhững điều kiện khí hậu khác nhau
Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịchhoặc hoạt động dịch vụ về du lịch ở mức độ nhất định cần phải lưu ý tớinhững hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở tới kế hoạch du lịch như những
sự cố thời tiết đáng kể ở Việt Nam là bão trên các vùng biển và duyên hải, hảiđảo, gió mùa Đông Bắc, gió bụi trong mùa khô, lũ lụt trong mùa mưa
Tính mùa của du lịch chịu tác động chủ yếu của yếu tố khí hậu Cácvùng khác nhau có tính mùa du lịch không như nhau do ảnh hưởng của cácthành phần khí hậu
Mặt khác, yếu tố khí hậu cũng có ảnh hưởng đến độ bền của nguồn tàinguyên du lịch: độ ẩm lớn, nhiệt độ cao và biên độ nhiệt lớn sẽ góp phần làmphong hóa nhanh các công trình, nhất là các di tích lịch sử - văn hóa cổ và cácyếu tố như bão, lốc, lũ lụt sẽ phá hủy rất nhanh các công trình kiến trúc cũngnhư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch Không chỉ đốivới các công trình của tài nguyên du lịch nhân văn mà còn của tài nguyên dulịch tự nhiên cũng chịu sự tác động của các yếu tố khí hậu, thời tiết Chúngthúc đẩy phát triển sự phá hủy hoặc làm thay đổi diện mạo của cảnh quan tựnhiên ở một số điểm du lịch như hiện tượng sụt lở, xâm thực của nhiều khuvực dọc theo bờ sông và duyên hải
Thủy văn
Trang 23Thủy văn cũng được xem là một dạng tài nguyên quan trọng đối vớihoạt động du lịch Nhiều loại hình du lịch đã khai thác và sử dụng tài nguyênnày như sử dụng nước mặt trên đại dương, biển, sông, hồ, hồ chứa nước nhântạo.
Trong yếu tố thủy văn, ngoài lớp nước mặt cần phải kể đến lớp nướcngầm mà trong đó nước khoáng là một loại tài nguyên tổng hợp có giá trị kinh
tế và phù hợp với loại hình du lịch chữa bệnh rất hiệu quả Tại khu du lịchBình Châu của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngành du lịch địa phương đã tận dụngsuối nước nóng tại đây với nhiệt độ cao nhất khoảng 800C và lưu lượng 8m3/s
để đưa vào phục vụ khách du lịch
Thực động vật
Thực vật cũng là nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng đối với dulịch Hiện nay, khi mức sống của con người ngày càng nâng cao thì nhu cầunghỉ ngơi tham quan du lịch và giải trí trở thành nhu cầu cấp thiết Thị hiếu về
du lịch cũng ngày càng đa dạng và phong phú, ngoài một số hình thức truyềnthống như tham quan phong cảnh, các di tích văn hóa - lịch sử của loài người,
đã xuất hiện một hình thức mới, với sức hấp dẫn rất lớn khách du lịch, đó là
du lịch các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng là các loài động - thực vật,việc tham quan du lịch trong thế giới động thực vật sống động, hài hòa trongthiên nhiên làm cho con người tăng thêm lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống
Thực vật, đặc biệt là các khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia
và cả các khu rừng nhân tạo kiểu công viên ở khu vực ngoại ô thành phố đều
có giá trị đối với hoạt động du lịch, thực vật còn có nhiều chức năng như: làmsạch không khí, cản gió, tăng độ ẩm, ngoài ra nó còn có tác dụng thu hút tiếng
ồn một cách tự nhiên, tạo nên cảm giác ấm cúng Cần phải bảo vệ và pháttriển rừng phòng hộ, các quần thể thực vật ven sông, hồ ở vùng đồng bằng vàthung lũng bởi vì chúng rất có giá trị đối với hoạt động du lịch cuối tuần Đốivới khách du lịch, những loại thực vật đặc hữu không có ở đất nước họ,thường có sức hấp dẫn rất lớn Chẳng thế mà khách du lịch Châu Âu thường
Trang 24thích đến nơi có rừng rậm nhiệt đới, nhiều cây to và cao và có dây leo chằngchịt.
Thực vật gắn liền với môi trường sống tự nhiên của đại đa số động vậtcạn Khi phân tích và đánh giá lớp phủ thực vật phải xem xét cả thế giới độngvật, nhiều địa phương và quốc gia trên thế giới nhờ vào một vài loại động vậtđặc hữu đã hấp dẫn thu hút đông đảo khách du lịch Do đó việc khai thác cácloài động vật đặc hữu phục vụ cho nhu cầu tham quan đã bước đầu thu hút sựquan tâm của nhiều đối tượng khách du lịch về mặt nhận thức
Tài nguyên thực - động vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển củangành du lịch, cần phát hiện, tổ chức bảo vệ các khu bảo tồn tự nhiên, cácvườn quốc gia để phục vụ du lịch
Các di sản thiên nhiên thế giới
Các di sản thiên nhiên thế giới là một dạng tài nguyên du lịch tự nhiênđặc sắc nhất Tháng 11/1972, Ban Di sản thế giới của tổ chức UNESCO đãđược thành lập Hàng năm tổ chức này tuyển chọn những công trình thiênnhiên, văn hóa và hỗn hợp do các nước đề nghị
Đối với các địa điểm được công nhận là di sản thiên nhiên thế giớiphải có những đặc điểm tự nhiên hết sức nổi bật, những cảnh quan tuyệt đẹp,những tổ hợp đặc sắc của các yếu tố thiên nhiên hay các hệ sinh thái quantrọng mà nơi đó vẫn còn tồn tại và sống sót những loại thực vật và động vật
có giá trị toàn cầu đang bị đe dọa, đặc biệt về mặt khoa học và bảo tồn nguồngen quý hiếm
Ngoài các tài nguyên du lịch tự nhiên có tính chất cố định kể trên, còn
có những tài nguyên du lịch tự nhiên không có tính chất cố định Đó là cáchiện tượng thiên nhiên đặc biệt, rất đặc sắc, có thể diễn ra định kỳ hoặc khôngđịnh kỳ, có sức hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch nhưng sự xuất hiện củasao chổi, hiện tượng nhật thực, hiện tượng phun trào trở lại của núi lửa, hiệntượng cực quang hoặc mưa sao
Trang 25Các hiện tượng như nhật thực, sao chổi đã từng được quan sát thấy ởViệt Nam và thường được dự báo trước rất lâu về thời gian diễn ra cũng nhưnhững địa điểm quan sát thuận lợi Đây là cơ hội tốt để khai thác phục vụkhách du lịch, tiêu biểu là hiện tượng nhật thực diễn ra vào năm 1995 đã khơidậy được tiềm năng của tài nguyên du lịch tỉnh Bình Thuận, đặc biệt là tàinguyên du lịch biển ở Hòn Rơm - Mũi Né (thành phố Phan Thiết).
1.1.4.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Khái niệm
Tài nguyên du lịch nhân văn là dạng tài nguyên do con người tạo ra,hay nói cách khác đó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhântạo Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tài nguyên du lịch nhân văn cónhững đặc điểm rất khác biệt so với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên
Theo quan điểm chung được chấp nhận hiện nay, toàn bộ những sảnphẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra đềuđược coi là sản phẩm văn hóa Như vậy tài nguyên nhân văn cũng được hiểu
là những tài nguyên du lịch văn hóa
Tuy nhiên, không phải sản phẩm văn hóa nào cũng đều là những tàinguyên du lịch nhân văn Chỉ những sản phẩm văn hóa nào có giá trị phục vụ
du lịch mới được coi là tài nguyên du lịch nhân văn Hay nói cách khác,những tài nguyên du lịch nhân văn cũng chính là những giá trị văn hóa tiêubiểu cho mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi địa phương Thông qua những hoạtđộng du lịch dựa trên việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn, khách
du lịch có thể hiểu được những đặc trưng cơ bản về văn hóa của dân tộc, địaphương nơi mình đến
Các dạng tài nguyên du lịch nhân văn
Trang 26Bao gồm các di sản văn hóa và di tích lịch sử - văn hóa, các lễ hội,phong tục tập quán, các đối tượng thương mại, văn hóa, thể thao, các sự kiệnhoặc các hoạt động nhận thức khác.
Các di sản văn hóa thế giới
Ngày 16-11-1972, Đại hội đồng khóa 17 của UNESCO đã đưa raCông ước quốc tế về bảo tồn di sản văn hóa và thiên nhiên Hơn 100 nước,trong đó có Việt Nam đã tham gia ký công ước này, và trên cơ ở đó đã thànhlập Hội đồng di sản thế giới (WHC) Những nước tham gia công ước này cónghĩa vụ bảo vệ các di sản Điều đó không chỉ có ý nghĩa đối với việc bảo tồncác di sản văn hóa truyền thống dân tộc, mà còn thực hiện nghĩa vụ của mìnhđối với công ước quốc tế
Nhìn chung, các di sản văn hóa là kết tinh cao nhất của những sángtạo văn hóa của một dân tộc Bất cứ quốc gia nào nếu có được những di tíchđược công nhận là di sản văn hóa thế giới thì không những là một vinh dự tolớn cho dân tộc đó, mà còn là nguồn tài nguyên vô giá, có sức thu hút khách
du lịch cao, đặc biệt là khách du lịch quốc tế
Các di tích lịch sử - văn hóa
Các di tích lịch sử - văn hóa được coi là một trong những nguồn tàinguyên du lịch quan trọng Đây là nguồn lực để phát triển và mở rộng hoạtđộng du lịch Các di tích lịch sử - văn hóa gắn liền với môi trường xungquanh bảo đảm sự có mặt sinh động của quá khứ đã nhào nặn nên chúng vàđảm bảo cho khung cảnh cuộc sống sự đa dạng của xã hội Qua các thời đại,các di tích lịch sử - văn hóa đã minh chứng cho những sáng tạo to lớn về mặtvăn hóa, tôn giáo và xã hội loài người Việc bảo vệ, khôi phục và tôn tạonhững vết tích hoạt động của loài người trong các thời kỳ lịch sử, nhữngthành tựu văn hóa, nghệ thuật không chỉ là nhiệm vụ to lớn của nhân loạitrong thời kỳ hiện đại, mà còn có giá trị rất lớn với mục đích du lịch
Trang 27Các di tích lịch sử - văn hóa được phân ra thành nhiều nhóm: Những
di tích đặc biệt gắn với nền văn hóa chung của loài người Những di tích nàyđánh thức những hứng thú chung và thu hút khách du lịch với nhiều mục đích
du lịch khác nhau Không phải ngẫu nhiên mà các nước như Ai Cập, Hy Lạp,
Ấn Độ, Trung Quốc, Mêhicô, Italia với những công trình lịch sử nổi tiếng từthời cổ đại lại thu hút số lượng lớn khách du lịch quốc tế
Những giá trị lịch sử đặc biệt, loại này không nhiều lắm và thường chỉđược các chuyên gia cùng lĩnh vực quan tâm
Các bảo tàng là nơi bảo tồn tài sản văn hóa dân tộc, truyền thụ trithức, chấn hưng tinh hoa truyền thống cùng với việc bảo vệ các di tích lịch sử
- văn hóa, việc xây dựng các bảo tàng luôn luôn được xem là quốc sách vềvăn hóa, xã hội của mỗi quốc gia Chính các bảo tàng cũng là nơi thu hútđông đảo khách du lịch trong và ngoài nước
Các lễ hội
Ở bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào, vào bất cứ mùa nào cũng cónhững ngày lễ hội và trong các dạng tài nguyên du lịch nhân văn, lễ hội là tàinguyên có giá trị phục vụ rất lớn
Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới, giúp cho người tham dự cóđiều kiện tiếp xúc với bí ẩn nguồn khởi mọi sinh vật sống Lễ hội dân tộc trởthành dịp cho con người hành hương về với cội rễ, bản thể của mình [101].Trong kho báu các di sản của quá khứ để lại cho hôm nay, các lễ hội dân tộc
có lẽ là một trong những thứ quí giá nhất Và vì thế các lễ hội dân tộc lànhmạnh không bị mất đi, mà ngày càng được nhân rộng, phát triển cả về hìnhthức lẫn nội dung Các lễ hội có sức hấp dẫn du khách không kém gì các ditích lịch sử - văn hóa
Trang 28Một số lễ hội thường được tổ chức tại những di tích lịch sử văn hóa.Điều đó cho phép khai thác tốt hơn cả di tích lẫn lễ hội vào mục đích du lịch.Bất kỳ lễ hội nào cũng có hai phần chính:
- Phần lễ: là phần mở đầu cho một lễ hội với những nghi thức nhằm
mục đích tưởng niệm đến một sự kiện lịch sử trọng đại, hay tưởng niệm một
vị anh hùng dân tộc hay những nghi thức tín ngưỡng tôn giáo bày tỏ lòng tônkính đối với những bậc thánh hiền hay thành hoàng ở địa phương
- Phần hội: là những hoạt động lĩnh vực văn hóa nghệ thuật truyền
thống ở địa phương như tổ chức những trò chơi dân gian, các cuộc thi đấu,biểu diễn các loại hình nghệ thuật…
Lễ hội có những nguồn gốc và hình thức vô cùng đa dạng Nhưngchính sự đa dạng này thể hiện vai trò trọng yếu của hội hè nói chung trong đờisống cộng đồng Khách du lịch thường có nhu cầu tham dự các lễ hội này Họthường cảm thấy một sự hòa đồng mãnh liệt, say mê nhập cuộc Những lễ hộinày gắn chặt vào kết cấu của đời sống khu vực hay quốc gia và chính tại đâytình cảm cộng đồng, sự hiểu biết về dân tộc được bộc lộ mạnh mẽ
Khi đánh giá các lễ hội phục vụ mục đích du lịch cần lưu ý những đặcđiểm sau:
- Tính thời gian của lễ hội: Các lễ hội không phải diễn ra quanh năm
mà chỉ tập trung trong thời gian ngắn Các lễ hội nhìn chung thường diễn ravào mùa xuân Có lẽ ở thời điểm bắt đầu của năm mới, con người càng cónhu cầu thông qua lễ hội dân tộc để nạp lại năng lượng sống, mà nhiều nướctrên thế giới chú trọng Không chỉ riêng đối với người Việt Nam "tháng riêng
là tháng ăn chơi", tháng riêng đã có tới 91 lễ hội diễn ra trên phạm vi cả nước.Người Lào có Bunpimay, người Campuchia có Chon chnam Thơmay (lễ hội
té nước)
Trang 29Các lễ hội được tiến hành khoảng một hoặc hai tháng, nhưng cũng có
lễ hội diễn ra trong vài ngày Trong thời gian lễ hội khách du lịch (trong nước
và quốc tế) tập trung rất đông (với nhiều mục đích khác nhau, trong đó có cảmục đích du lịch) Sau khi hội tan hầu như không còn du khách nào nữa
- Qui mô lễ hội: Các lễ hội có qui mô lớn, nhỏ khác nhau Có lễ hội
diễn ra trong địa bàn rộng và có lễ hội chỉ bó gọn trong một địa phương nhỏhẹp Điều này rõ ràng ảnh hưởng đến hoạt động du lịch và nhất là khả năngthu hút khách
Phong tục tập quán có ý nghĩa với du lịch là các tập tục lạ về cư trú,
về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống cho đến định cao ẩm thực của mỗidân tộc, sinh hoạt cộng đồng, trang phục dân tộc, các nét truyền thống trongquy hoạch cư trú và xây dựng, về kiến trúc cổ
Ngoài ra, những phong tục tập quán của cư dân địa phương như cướixin, ma chay, mừng thọ cũng được nhiều khách du lịch nước ngoài ưa thích
và thật sự có nhu cầu được hòa nhập
Các đối tượng thương mại, văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác
Các đối tượng thương mại văn hóa, thể thao cũng thu hút khách dulịch với mục đích tham quan, nghiên cứu Đó là các trung tâm của các việnkhoa học, các trường đại học, các thư viện lớn và nổi tiếng, các thành phố cótriển lãm nghệ thuật và điêu khắc, các trung tâm thường xuyên tổ chức liênhoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, Olympic các cuộc thi đấu quốc tế, biểu
Trang 30diễn ba lê, các cuộc thi hoa hậu Các đối tượng văn hóa thường tập trung ởcác thủ đô và thành phố lớn như Liên hoan điện ảnh quốc tế ở Cannes (Pháp),Hollywood - Los Angeles (Hoa Kỳ)
Các đối tượng thương mại, văn hóa, thể thao thu hút không chỉ khách
du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu, mà còn thu hút đa số khách đi
du lịch với các mục đích khác ở các lĩnh vực khác và từ nơi khác đến Tất cảcác khách du lịch có trình độ văn hóa trung bình trở lên đều có thể thưởngthức các giá văn hóa của các nước đến thăm Do vậy tất cả các thành phố cócác đối tượng văn hóa hoặc tổ chức những hoạt động văn hóa - thể thao đềuđược nhiều khách tới thăm và đều trở thành những trung tâm du lịch văn hóa
Các thành tựu kinh tế của đất nước hoặc vùng cũng có sức hấp dẫnđặc biệt đối với phần lớn khách du lịch Để tuyên truyền cho những thành tựukinh tế của đất nước hay vùng, nhiều cuộc trưng bày, triển lãm, hội chợ,thường được tổ chức Tại đây những kết quả của công tác phát triển côngnghiệp, nông nghiệp, giao thông, thông tin, y học sẽ được thông báo Rấtnhiều thành phố đã trở thành trung tâm cho những hoạt động triển lãm thànhtựu kinh tế, khoa học kỹ thuật và hội chợ như Expo (Nhật Bản, Hàn Quốc, BồĐào Nha) Đặc biệt là các hội chợ chuyên đề về du lịch như Hội chợ ITB(Berlin - Cộng hòa Liên bang Đức) là hội chợ du lịch lớn nhất thế giới, hàngnăm qui tụ hàng ngàn công ty du lịch Ngoài ra, còn phải kể đến các hội chợtriển lãm du lịch quốc tế khác như: Diễn đàn du lịch ASEAN, Hội chợ - hộinghị JATA (Nhật Bản), Hội chợ triển lãm du lịch ở Topresa (Pháp), Hội chợtriển lãm WTM (London, Anh), Hội chợ triển lãm du lịch ASTA, Hội chợtriển lãm du lịch CITM (Trung Quốc) Các cuộc triển lãm, hội chợ này thu hútrất nhiều đối tượng khác nhau Đó là những công ty tham gia triển lãm để traođổi kinh nghiệm quản lý, tuyên truyền quảng bá cho các sản phẩm du lịch củamình Một số người khác là các thương nhân, họ tìm đến triển lãm để thiết lậpquan hệ với các hãng, các công ty, tổ chức nước ngoài, để ký hợp đồng mua
Trang 31bán các sản phẩm tại hội chợ Các hội chợ và các cuộc triển lãm này rất thuhút khách tham quan du lịch
1.2 KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH THÔNG QUA TỔ CHỨC LÃNH THỔ
có trật tự và hài hòa giữa các đơn vị lãnh thổ khác nhau trong cùng một tỉnh,một vùng, cả nước, trong điều kiện kinh tế thị trường và hệ thống kinh tế mở
có thể sử dụng hợp lý các nguồn lực và lợi thế so sánh (tài nguyên du lịch,nguồn nhân lực, nguồn vốn ) để đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế giải quyết tốtcác vấn đề xã hội đảm bảo phát triển bền vững
Từ những quan điểm nói trên, tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu làmột hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục
vụ có liên quan, dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tựnhiên, nhân văn) kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh
Trang 32tế - xã hội, môi trường) cao nhất Trong số các hình thức tổ chức lãnh thổ dulịch đáng chú ý hơn cả là hệ thống lãnh thổ du lịch.
1.2.1.2 Hệ thống lãnh thổ du lịch
Hệ thống lãnh thổ du lịch như là một thành tựu toàn vẹn các hoạt động
về lãnh thổ, có sự lựa chọn các chức năng xã hội nhất định Một trong nhữngchức năng quan trọng được lựa chọn là hồi phục và tái sản xuất sức khỏe, khảnăng lao động, thể lực và tinh thần của con người Vì vậy, hệ thống lãnh thổ
du lịch được coi là địa hệ thống xã hội và nó được tạo thành bởi các yếu tố cóquan hệ tương tác với nhau như: nhóm người du lịch, các tổng thể tự nhiên,văn hóa - lịch sử, các công trình kỹ thuật, đội ngũ cán bộ nhân viên và bộphận tổ chức dịch vụ và quản lý Nét đặc trưng quan trọng của hệ thống lãnhthổ du lịch là tính hoàn chỉnh về chức năng lãnh thổ (Từ điển bách khoa địa lýcác khái niệm và thuật ngữ, 1988)
Về phương diện cấu trúc, hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thốnggồm nhiều thành phần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Có thể coi các điềukiện và các nhân tố du lịch trong sự thống nhất lãnh thổ của chúng là một hệthống mở phức tạp gồm có cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài Cấu trúcbên trong gồm các nhân tố hoạt động với sự tác động qua lại lẫn nhau, cấutrúc bên ngoài gồm các mối liên hệ với điều kiện phát sinh với hệ thống khác(tự nhiên, kinh tế, xã hội) Đây là một dạng đặc biệt của địa hệ mang tính chấthỗn hợp, nghĩa là có đủ thành phần: tự nhiên, xã hội và chịu sự chi phối củanhiều qui luật cơ bản
Xét trên quan điểm hệ thống thì hệ thống lãnh thổ du lịch được cấuthành bởi nhiều phân hệ khác nhau về bản chất nhưng có mối liên hệ mật thiết
đó là các phân hệ: khách du lịch, tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử, côngtrình kỹ thuật, cán bộ phục vụ và bộ phận điều khiển
1.2.1.3 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận
Trang 33Điểm du lịch
Là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị trên phạm vi toàn quốc và đồngthời cũng là cấp cơ sở trong phạm vi một tỉnh Đối với Thành phố Hồ Chí Minh
và vùng phụ cận có thể chia làm ba nhóm chính: nhóm điểm có ý nghĩa quốc tế
và quốc gia, nhóm điểm có ý nghĩa vùng và nhóm điểm có ý nghĩa địa phương
Trung tâm du lịch
Là sự kết hợp lãnh thổ các điểm du lịch cùng loại hay khác loại, vớimật độ điểm du lịch tương đối dày, có cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuậtphục vụ du lịch phong phú và có sức thu thút khách du lịch rất lớn Trung tâm
du lịch có khả năng tạo vùng rất cao, là "cực" để thu hút các lãnh thổ lân cận
và phạm vi tác động của mình Về mặt qui mô trung tâm du lịch có thể códiện tích tương đương với một tỉnh
Tuyến du lịch
Nối liền các điểm với nhau thành một tour du lịch theo lãnh thổ phùhợp và thuận lợi cho du khách Cơ sở cho việc xác định tuyến du lịch là cácđiểm du lịch và hệ thống giao thông vận tải Như vậy, tuyến du lịch gắn liềnvới các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không Cũng có thểchia thành tuyến nội tỉnh và liên tỉnh
1.2.2 Vai trò của tài nguyên du lịch đối với hệ thống lãnh thổ du lịch
Trang 34Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt.Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống lãnh thổ của ngành, đếncấu trúc và chuyên môn hóa của vùng du lịch Quy mô hoạt động du lịch củamột vùng, một quốc gia đã được xác định trên cơ sở khối lượng nguồn tàinguyên du lịch quyết định tính mùa, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch.Sức hấp dẫn của vùng du lịch phụ thuộc nhiều vào tài nguyên du lịch.
Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng
du lịch điểm du lịch, trung tâm du lịch Số lượng tài nguyên vốn có, chấtlượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ýnghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng haymột quốc gia Một lãnh thổ nào đó có nhiều tài nguyên du lịch các loại vớichất lượng cao, có sức hấp dẫn khách du lịch lớn và mức độ kết hợp các loạitài nguyên phong phú thì sức thu hút khách du lịch càng mạnh
Tóm lại vai trò của tài nguyên du lịch trong việc phát triển hoạt động
du lịch được thể hiện ở các mặt:
- Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm
du lịch
Sản phẩm du lịch được tạo nên bởi nhiều yếu tố, nhưng trước mắt phải
kể đến tài nguyên du lịch Chính sự phong phú và đa dạng của tài nguyên dulịch đã tạo nên sự phong phú và đa dạng của sản phẩm du lịch Tài nguyên dulịch càng đặc sắc, độc đáo thì giá trị của sản phẩm du lịch và độ hấp dẫn khách
du lịch càng tăng Có thể nói chất lượng của tài nguyên du lịch sẽ là yếu tố cơbản tạo nên chất lượng sản phẩm du lịch và hiệu quả hoạt động du lịch
Việc hình thành các sản phẩm du lịch phụ thuộc nhiều vào nguồn tàinguyên du lịch và việc biến những tiềm năng đó thành hiện thực Tài nguyênmãi mãi vẫn ở dạng tiềm năng nếu như không có sự tổ chức khai thác của conngười phục vụ mục đích du lịch Chính việc tổ chức lãnh thổ du lịch và xâydựng các tuyến điểm du lịch là một trong những biện pháp hàng đầu nhằm tạo
Trang 35ra và khai thác có hiệu quả các sản phẩm du lịch độc đáo của mỗi địa phương
- Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng các hệ thống lãnh thổ du lịch
Trong phạm vi một lãnh thổ cụ thể, mọi hoạt động du lịch đều phảnảnh một hệ thống lãnh thổ du lịch nhất định
Hệ thống lãnh thổ du lịch thể hiện mối quan hệ về mặt không gian củacác yếu tố quan hệ mật thiết với nhau cần tạo nên nó Các yếu tố đó là khách
du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
du lịch, nguồn du lịch trong ngành du lịch và tổ chức điều hành, quản lý dulịch
Hệ thống lãnh thổ du lịch có nhiều cấp phân vị khác, từ điểm du lịchtới trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, Á vùng du lịch, vùng du lịch Dù ởcấp phân vị nào thì tài nguyên du lịch cũng đều đóng vai trò quan trọng trongcác hệ thống lãnh thổ du lịch, cũng là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm
du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch, tạo điều kiện để có thểkhai thác một cách có hiệu quả nhất các tiềm năng của nó
Do đặc điểm phân bố của tài nguyên du lịch, trong hệ thống lãnh thổ
du lịch đã hình thành nên các điểm du lịch, các cụm du lịch, các trung tâm du
Trang 36lịch và các tuyến du lịch Từ các tuyến điểm du lịch này, trong quá trình khaithác sẽ lựa chọn sắp xếp thành các tuyến du lịch tức là các sản phẩm du lịch
cụ thể cung cấp cho khách du lịch Hệ thống lãnh thổ du lịch hợp lý sẽ gópphần tạo nên hiệu quả cao trong việc khai thác các tài nguyên du lịch nóiriêng cũng như trong mọi hoạt động du lịch nói chung
1.2.3 Ảnh hưởng của tài nguyên du lịch đối với hệ thống lãnh thổ
du lịch
Việc nghiên cứu tài nguyên du lịch gắn với tổ chức lãnh thổ du lịch có
ý nghĩa to lớn không chỉ về mặt lý luận, mà còn cả về mặt thực tiễn
Việc nghiên cứu hệ thống lãnh thổ du lịch nói chung và việc vạch racác hình thức tổ chức ảnh hưởng của nó nói riêng tạo ra những tiền đề cầnthiết nhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực (nhất là tài nguyên dulịch) của cả nước cũng như của từng địa phương (tỉnh, thành phố)
Trên thực tế, các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch có mối quan hệchặt chẽ với nhau Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội đã hìnhthành các hình thức mới về tổ chức lãnh thổ du lịch Việc nhận thức chúngmột cách đúng đắn là chìa khóa để sử dụng hợp lý hơn các tài nguyên du lịchcủa toàn quốc và của mỗi địa phương
Hoạt động du lịch bao trùm phạm vi lãnh thổ rộng lớn với các điềukiện (tự nhiên, kinh tế, xã hội ) khác nhau Trong chừng mực nhất định,chúng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển du lịch Vì vậy, khi vạch racác hệ thống lãnh thổ du lịch nói chung và xây dựng các tuyến, điểm du lịchnói riêng, cần nghiên cứu và đánh giá kỹ nguồn tài nguyên du lịch
Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tạo nên những điều kiệnnhằm đẩy mạnh và làm sâu sắc chuyên môn hóa du lịch bắt nguồn từ tàinguyên du lịch
Trang 37Tóm lại, việc nghiên cứu tài nguyên du lịch thông qua hệ thống lãnh
thổ du lịch nói chung cũng như việc vạch ra các tuyến, điểm du lịch trên lãnhthổ nói riêng góp phần quan trọng để tạo ra các sản phẩm du lịch có chất lượng
1.2.4 Những vấn đề đặt ra trong khai thác tài nguyên du lịch để phát triển bền vững
Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hợp lý
Du lịch là ngành có sự định hướng khai thác tài nguyên rõ rệt, do đóviệc khai thác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên du lịch là yếu tố quantrọng hàng đầu, mặc dù sản phẩm các tài nguyên du lịch được xem là tàinguyên có khả năng tái tạo hoặc ít biến đổi Nếu các tài nguyên du lịch đượckhai thác một cách hợp lý, được bảo tồn và sử dụng bền vững, đảm bảo choquá trình tự duy trì hoặc tự bổ sung diễn ra theo qui luật tự nhiên, hoặc thôngqua việc đầu tư tái tạo thì các tài nguyên đó sẽ được sử dụng lâu dài, đáp ứngđược nhu cầu phát triển của du lịch qua nhiều thế hệ
Vấn đề được đặt ra là trong quá trình khai thác và sử dụng các nguồntài nguyên du lịch cần phải tính đến các giải pháp nhằm ngăn chặn sự mất đicủa các loài sinh vật, sự phá hoại những chức năng thiết yếu của hệ sinh thái
có giá trị du lịch như hệ thống rừng ngập mặn, các khu rừng nguyên sinh, cácrạn san hô, cũng như việc bảo tồn các giá trị văn hóa, truyền thống dân tộc
Do đó cần có nguồn đầu tư cần thiết cho việc bảo tồn và tái tạo tài nguyên,kiểm soát và ngăn chặn sự xuống cấp của môi trường
- Hạn chế việc sử dụng quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải
Việc khai thác quá mức tài nguyên và không kiểm soát được lượngchất thải từ hoạt động du lịch sẽ góp phần vào sự suy thoái môi trường màhậu quả của nó là sự không bền vững của du lịch nói riêng và kinh tế - xã hộinói chung Do đó ở những nơi mà hoạt động du lịch diễn ra thì việc hạn chế
Trang 38sự tiêu thụ quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải sẽ tránh được nhữngchi phí tốn kém cho việc phục hồi những tổn hại về môi trường và góp phầnvào sự phát triển bền vững của du lịch.
- Khai thác phải gắn liền với việc bảo tồn tính đa dạng
Tính đa dạng về thiên nhiên, về văn hóa - xã hội là nhân tố đặc biệtquan trọng tạo nên sự hấp dẫn của du lịch, làm thỏa mãn nhu cầu đa dạng củakhách du lịch, tăng cường sự phong phú về sản phẩm du lịch Nơi nào có tính
đa dạng cao về tự nhiên và văn hóa - xã hội, nơi đó sẽ có khả năng cạnh tranhcao về du lịch và có sức hấp dẫn lớn, đảm bảo cho sự phát triển Chính vì vậyviệc duy trì và tăng cường tính đa dạng của thiên nhiên và văn hóa - xã hội làhết sức quan trọng cho sự phát triển bền vững lâu dài của du lịch và cũng làchỗ dựa sinh tồn của ngành du lịch
- Khai thác phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng cao, vìvậy mọi phương án khai thác tài nguyên để phát triển du lịch phải phù hợpvới các qui hoạch ngành nói riêng và phải phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh
tế - xã hội nói chung ở phạm vi quốc gia, vùng và địa phương
Để phát triển phù hợp với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, hoạtđộng du lịch phải tính đến mối liên hệ giữa phát triển du lịch với phát triểncác ngành kinh tế, với việc đảm bảo môi trường và phát triển văn hóa - xã hội
ở địa phương Đồng thời trong quá trình phát triển hoạt động du lịch cầnkhuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương, chia xẻ lợi ích với cộngđồng địa phương, cũng như thường xuyên giám sát các tác động của du lịchtrong quá trình phát triển để có những điều chỉnh phù hợp, đảm bảo hạn chếtối đa những tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường khu vực
1.3 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
Trang 39Phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch là đánh giá tổng thể tự nhiên
và nhân văn có khả năng khai thác cho du lịch Tài nguyên du lịch có thểđánh giá theo từng thành phần và đánh giá tổng hợp Mục đích của việc đánhgiá tài nguyên du lịch là xác định khả năng của các loại tài nguyên du lịch đốivới hoạt động du lịch và xác định khả năng khai thác các loại hình du lịch, qui
mô và giá trị (quốc tế, quốc gia, vùng, địa phương) của các điểm du lịch nhằmthiết kế các cụm, tuyến du lịch
sở khoa học hay là kết quả của phương pháp cổ truyền, và "định lượng"không phải là mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu địa lý [25]
1.3.1.1 Đánh giá định tính
Được hiểu là những nhận định về đặc điểm, tính chất các đối tượng,các lãnh thổ nghiên cứu nhằm mục đích phục vụ cho một mục tiêu sử dụngnào đó Phương pháp này chỉ dừng ở mức độ: nhiều hay ít, phù hợp haykhông phù hợp, thuận lợi hay không thuận lợi cho các loại hình, các hoạtđộng du lịch ở một điểm, một trung tâm du lịch
1.3.1.2 Đánh giá định lượng
Chủ yếu là qui về các chỉ tiêu và cho điểm từng đối tượng được đánhgiá theo những mục tiêu đã đặt ra
Trang 40Về mặt lý luận, đánh giá định lượng là một phương pháp tốt nhằmkhắc phục được tính chủ quan trong đánh giá định tính Tuy nhiên, trên thực
tế không phải bao giờ cũng có thể sử dụng phương pháp định lượng, bởi vì rấtkhó thực hiện đầy đủ các số liệu quan trắc và thống kê, do đó trong nhữngtrường hợp cụ thể nhất thiết phải vận dụng cả phương pháp định tính lẫnphương pháp định lượng trong quá trình nghiên cứu
1.3.2 Các kiểu đánh giá
Đánh giá các tài nguyên du lịch là một việc rất khó khăn và phức tạp
vì bản thân của việc đánh giá có liên quan đến con người với những yêu cầu,
sở thích, đặc điểm tâm lý, sinh lý rất khác nhau, tới các đặc điểm của tàinguyên, các điều kiện kỹ thuật rất đa dạng và có quan hệ chặt chẽ với nhau, vìvậy đòi hỏi phải không ngừng hoàn thiện các kiểu đánh giá
Có ba kiểu chính trong đánh giá tài nguyên du lịch:
1.3.2.2 Kiểu sinh khí hậu (hoặc y sinh)
Kiểu đánh giá này chủ yếu dựa trên các chỉ số khí hậu đo tính đượcthông qua thực nghiệm nhằm đánh giá các dạng tài nguyên khí hậu và thờigian thích hợp nhất với sức khỏe con người hoặc cho một kiểu hoạt động nào
đó trong khi đi du lịch Kiểu đánh giá này được vận dụng để đánh giá tínhthời vụ trong khai thác phục vụ du lịch và các điểm du lịch nghỉ dưỡng
1.3.2.3 Kiểu kỹ thuật