1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nét đẹp nhân văn trong thơ chữ hán nguyễn du

157 664 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 750,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Du không che giấu bất cứ điều gì từ tư tưởng, tình cảm đến những khoảnh khắc riêng tư… Vì vậy, nếu muốn hiểu sâu hơn về cuộc đời và con người Nguyễn Du thì chúng ta cần phải tìm h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Lành

NÉT ĐẸP NHÂN VĂN TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Lành

NÉT ĐẸP NHÂN VĂN TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 60 22 34

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHAN CÔNG KHANH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ Văn học “Nét đẹp nhân văn trong thơ chữ Hán Nguyễn Du” là công trình nghiên cứu của tôi, được thực hiện dưới sự hướng

dẫn khoa học của TS Phan Công Khanh Những kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 1 năm 2013

Học viên

Nguyễn Thị Lành

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10

1.1 Nguyễn Du 10

1.1.1 Thời đại 10

1.1.2 Gia thế và cuộc đời 11

1.2 Thơ chữ Hán của Nguyễn Du 14

1.2.1 Thanh Hiên thi tập 14

1.2.2 Nam trung tạp ngâm 15

1.2.3 Bắc hành tạp lục 15

1.3 Nét đẹp nhân văn 16

1.3.1 Thuật ngữ “nhân văn” 16

1.3.2 Cơ sở xã hội của chủ nghĩa nhân văn trong văn học 18

1.4 Nét đẹp nhân văn qua các thời kì văn học trung đại Việt Nam 23

1.4.1 Giai đoạn văn học từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XV 23

1.4.2 Giai đoạn văn học từ giữa thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XVIII 27

1.4.3 Giai đoạn văn học từ giữa thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX 33

Chương 2 NÉT ĐẸP NHÂN VĂN TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 42

2.1 Những chiêm nghiệm, suy tư về con người cá nhân 42

2.1.1 Con người của hùng tâm tráng chí 43

2.1.2 Con người của đời thường dung dị 48

2.2 Những nỗi niềm trắc ẩn về số phận con người 56

2.2.1 Cảm xúc đau đớn và buồn thương trước số phận những con người cần lao 56

2.2.2 Bênh vực và xót thương người phụ nữ 66

2.2.3 Niềm trắc ẩn đối với những nhân vật lịch sử Trung Quốc 74

Trang 6

2.2.3.1 Đồng cảm và kính trọng những bậc hiền tài, nhân nghĩa 76

2.2.3.2 Căm ghét và lên án những kẻ gian ác 84

2.3 Những cảm nhận về nhân sinh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du 94

2.3.1 Cảm nhận về không gian 94

2.3.1.1 Không gian mờ mịt, gió bụi 95

2.3.1.2 Không gian lạnh lẽo, ảm đạm 99

2.3.1.3 Không gian tù túng, ngột ngạt 100

2.3.2 Cảm nhận về thời gian 103

2.3.2.1 Thời gian hoài niệm 103

2.3.2.2 Thời gian đời người 108

2.3.2.3 Thời gian tâm trạng 110

Chương 3 NÉT ĐẸP NHÂN VĂN TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 113

3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 113

3.1.1 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ 114

3.1.1.1 Từ biểu cảm 114

3.1.1.2 Từ tự xưng 115

3.1.2 Nghệ thuật sử dụng câu 119

3.1.2.1 Câu nghi vấn 119

3.1.2.2 Câu trần thuật 121

3.1.2.3 Câu cảm thán 124

3.2 Những biểu tượng nghệ thuật 125

3.3 Giọng điệu nghệ thuật 128

3.3.1 Giọng tiếc nuối, thương cảm, buồn đau 129

3.3.2 Giọng phê phán, căm phẫn, bất bình 132

3.4 Bút pháp nghệ thuật 136

3.4.1 Bút pháp tả cảnh ngụ tình 136

3.4.2 Bút pháp tương phản 140

KẾT LUẬN 145

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 148

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

Chúng ta từng biết một Nguyễn Du với kiệt tác Truyện Kiều bất hủ sống mãi trong lòng dân tộc Chỉ với Truyện Kiều thôi cũng đủ làm tên tuổi Nguyễn Du sáng

tựa ánh sao trên thi đàn văn học Việt Nam và thế giới Nhưng đại thi hào của chúng

ta còn là tác giả của Văn chiêu hồn và ba tập thơ chữ Hán trác tuyệt Và với ba tập

thơ chữ Hán Nguyễn Du để lại cho đời, chúng ta càng khâm phục và tự hào hơn nữa

về Nguyễn Du - một nhà nhân đạo lớn qua hàng thế kỉ và một danh nhân văn hóa

thế giới Nếu như qua Truyện Kiều, Nguyễn Du gián tiếp thể hiện thái độ của mình

thì thế giới thơ chữ Hán là tiếng nói trực tiếp của tác giả Nguyễn Du không che giấu bất cứ điều gì từ tư tưởng, tình cảm đến những khoảnh khắc riêng tư… Vì vậy, nếu muốn hiểu sâu hơn về cuộc đời và con người Nguyễn Du thì chúng ta cần phải

tìm hiểu không chỉ có Truyện Kiều và Văn chiêu hồn mà còn có cả ba tập thơ chữ

Hán của ông

Bên cạnh Truyện Kiều, thơ chữ Hán còn cho ta biết thêm nhiều về tài năng của

Nguyễn Du Ông không chỉ hay Nôm mà còn giỏi Hán Bùi Mạnh Nhị khẳng định:

“Nói về Nguyễn Du mà chỉ nhắc đến Truyện Kiều và một số tác phẩm thơ Nôm khác thì mới chỉ nói được một nửa THIÊN TÀI MẸ ấy Còn một nửa khác của đại thi hào Nguyễn Du là những áng thơ chữ Hán “nghìn thu tuyệt diệu” [58; 5] Đúng

như lời nhận định trên, qua thơ chữ Hán, ta hiểu thêm nhiều về tài năng và con

người Nguyễn Du Ba tập thơ từ ngôn từ cho tới giọng điệu và câu, tất cả đều thấm đượm chất nhân văn Nguyễn Du vĩ đại vì ông yêu thương con người Hơn nữa, Nguyễn Du luôn tôn vinh con người, những danh nhân văn hóa của quá khứ, những

con người bất hạnh và những người phụ nữ… Truyện Kiều phần lớn là nhân vật hư

cấu, nhân vật văn học còn trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du viết về những con người

và những mảnh đời cụ thể Thơ chữ Hán của ông còn có một ý nghĩa khái quát, đó

là lời tự thuật về một cuộc đời, một con người và một tâm hồn nghệ sĩ vĩ đại trước

xã hội đầy màu sắc bi kịch từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX Ba tập thơ chữ

Hán góp phần bổ sung thêm cho Truyện Kiều bức chân dung hoàn chỉnh của nhà

Trang 8

thơ

T ruyện Kiều bàng bạc, thấm đẫm tình yêu thương trên từng câu chữ Thơ chữ

Hán cũng vậy, có phần nổi trội hơn vì rằng lòng trắc ẩn của Nguyễn Du đã trải rộng

ra cho tất cả mọi kiếp phù sinh Thế giới nhân vật trong thơ chữ Hán rất phong phú, mỗi nhân vật dù là người anh hùng, người dân lao động hay người phụ nữ tài sắc thì

ở họ đều có những nét tính cách rất riêng và có số phận riêng Nguyễn Du viết về

họ, khắc họa bức chân dung về cuộc đời họ, qua đó làm nổi bật những nét đẹp ở họ Nguyễn Du đã tạo nên những tượng đài nghệ thuật để vinh danh con người Tìm hiểu thơ chữ Hán giúp ta thấy được những tư tưởng nhân văn tiến bộ trong sáng tác của Nguyễn Du Đối với mảng thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Mai Quốc Liên đã có

những nhận xét rất hay và rất xác đáng: “Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng

văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa Nó mới

lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa” [20; 7] Thật vậy, thế giới thơ

chữ Hán của Nguyễn Du không lung linh nhiều màu sắc phô trương, không ồn ào sôi nổi mà đó là một thế giới nội tâm của tác giả với những cung bậc cảm xúc rất

người, rất nhân văn Đó cũng chính là quá trình từ việc khắc khoải đi tìm mình, con

người trong thơ chữ Hán đã đến với bao trắc ẩn dành cho mọi kiếp người và nhận ra nhiều vẻ đẹp ở họ Đi qua bao dâu bể cuộc đời, với một tâm hồn luôn dạt dào cảm xúc, luôn thấm đẫm tình người, Nguyễn Du đã hiểu và cảm thông với tất thảy

Vì vậy, “Nét đẹp nhân văn trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du” là một đề tài mà

người viết trăn trở, muốn được góp một phần nào đó dù nhỏ bé, dù ít ỏi để có thể tiếp cận và nghiên cứu thêm về một khía cạnh trong vô vàn những khía cạnh đang được giới nghiên cứu quan tâm về thơ chữ Hán của Nguyễn Du

Thơ chữ Hán Nguyễn Du trước đây ít được giới nghiên cứu quan tâm nên những bài viết về thơ chữ Hán không nhiều Tuy nhiên, điều đáng mừng là gần đây đã có không ít những công trình nghiên cứu công phu về mảng thơ này

Trang 9

Người đặt nền móng cho việc nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du là Đào Duy

Anh với bài viết Thi tập của Nguyễn Du trong Khảo luận về Kim Vân Kiều (Nhà

xuất bản Quan Hải tùng thư, 1943) Lần đầu tiên vị trí của thơ chữ Hán Nguyễn Du được khẳng định về hình thức cũng như về nội dung Có thể nói đây là những ý kiến

có giá trị gợi mở cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bình ở giai đoạn sau

Năm 1960, nhà phê bình Hoài Thanh với bài viết Tâm tình Nguyễn Du qua một

số bài thơ chữ Hán trên tạp chí Văn nghệ tháng 3, đã khái quát về lịch sử, về thời

đại sóng gió mà Nguyễn Du đã sống Tác giả nói về thái độ của Nguyễn Du đối với các triều đại cũng như niềm thương cảm của ông đối với những kiếp người bị đày

đọa: “Thái độ Nguyễn Du rõ ràng, tình cảm Nguyễn Du chân thành, sâu sắc Thơ

Nguyễn Du do đó có giá trị hiện thực rất cao, có sức rung cảm mãnh liệt” [9; 41]

Đào Xuân Quý với bài Nguyễn Du trong những bài thơ chữ Hán trên báo Văn

nghệ tháng 11 năm 1965, đóng góp những tiếp cận ban đầu về thái độ, về diễn biến tâm trạng của Nguyễn Du qua ba tập thơ Ông cũng nói đến tình cảm, lòng nhân đạo

mà nhà thơ dành cho mọi tầng lớp nhân dân lao động cũng như tỏ rõ một mối cảm tình nồng hậu đối với những người có tài, có đức mà bị hãm hại như Hàn Tín, Nhạc Phi, Khuất Nguyên… Ông nói đến tình hình lịch sử Trung Quốc qua một số nhân vật cụ thể trong thơ và trong tương quan so sánh với tình hình lịch sử Việt Nam thời

bấy giờ để khẳng định: “Nguyễn Du không phải chỉ phản ánh cảnh đời cơ cực của

nhân dân, không phải chỉ tỏ lòng thương xót, mà còn hàm ý phê phán, mỉa mai bọn vua quan triều đình phong kiến nữa” [9; 117]

Cùng quan điểm với Hoài Thanh, năm 1966, Xuân Diệu viết Con người Nguyễn

Du trong th ơ chữ Hán, trình bày khái quát hoàn cảnh xã hội Nguyễn Du sống lúc

bấy giờ để thấy rằng: “Thơ Nguyễn Du làm ở thời kì nhà Lê, thơ làm thời kì nhà

Nguyễn, thơ trong khi đi sứ Trung Quốc: cái thời đại của Nguyễn Du đúng là tê đi

và tái lại, tái cắt không ra máu đỏ của niềm vui” [9; 44] Phân tích sự cảm thông

lẫn nhau giữa những bậc tài tử trong xã hội xưa, giữa những bậc tài tình của Việt Nam và Trung Quốc, Xuân Diệu cho rằng: “Nguyễn Du là người mang những vấn

đề của ngàn năm, của triệu người, nên cái đau khổ của ông là một đau khổ lớn, có

Trang 10

tính cách đại diện cho nhân loại” [9; 48] Qua việc phác họa những nét đặc sắc về ý

nghĩa của một số bài thơ chữ Hán tiêu biểu của Nguyễn Du để thấy được tấm lòng nhân đạo của ông dành cho mọi kiếp người, nhất là những người lao động và những

trang tài tử, Xuân Diệu khẳng định: “Nguyễn Du buộc tội cái xã hội kinh khủng kia

Không yêu thương con người đến cháy ruột cháy gan, thì không thể có cái hơi văn bênh vực sự sống như người mẹ bảo vệ đứa con rứt ruột!” [9; 54-55]

Cùng năm 1966, Nguyễn Huệ Chi có bài viết Nguyễn Du và thế giới nhân vật của

ông trong thơ chữ Hán trên tạp chí Văn học tháng 11, trình bày hai phần chính,

phần thứ nhất nói về Nguyễn Du cũng như phân tích hoàn cảnh lịch sử đã tác động đến thái độ, tâm trạng của Nguyễn Du lúc bấy giờ, qua đó khẳng định Nguyễn Du không phải là con người hành động mà là con người tư tưởng Phần thứ hai, khái quát về những nhân vật trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, nhân vật chính diện và

cả những nhân vật phản diện Lồng ghép vào đó, tác giả muốn lý giải về thế giới quan đã ảnh hưởng đến thái độ, cách sống và cách nghĩ của Nguyễn Du đối với cuộc đời và với thơ Bài viết này đã mở ra một hướng đi trên hành trình nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du, đó là tìm kiếm chân dung của chính tác giả

Hướng đi này được Vũ Đình Liên tiếp tục khai thác trong chuyên mục Nguyễn

Du, một tâm hồn lạc loài trong xã hội phong kiến (Tìm hiểu Nguyễn Du qua thơ

chữ Hán) trên tạp chí Văn học số 2 năm 1971 Căn cứ vào một số bài thơ và một vài

sự kiện trong cuộc đời của Nguyễn Du, Vũ Đình Liên nêu lên ý kiến riêng về thái

độ của Nguyễn Du đối với các triều Lê, Tây Sơn và Nguyễn Tác giả đã tìm hiểu về nhân sinh quan, về tâm hồn của Nguyễn Du, một tâm hồn lạc loài trong xã hội phong kiến nhưng lại rất gắn bó với số phận đau khổ của con người bị chà đạp

Từ năm 1975 đến nay, sau khi đất nước thống nhất, các tập thơ của Nguyễn Du tiếp tục thu hút các nhà nghiên cứu, phê bình văn học

Năm 1980, Phan Hữu Nghệ có bài viết Thực tiễn Trung Hoa và tư tưởng Nguyễn

Du trên tạp chí Văn học số 6, trình bày thực tiễn Trung Hoa lúc bấy giờ và tư tưởng Khổng - Mạnh dưới cái nhìn của Nguyễn Du Nêu ra những bức tranh tương phản giữa một bên là những tư tưởng cao đạo của lễ giáo, đạo đức phong kiến với một

Trang 11

bên là hiện thực khốc liệt, nhân dân lao động lầm than cơ cực muôn phần để qua đó

khẳng định: “Thái độ phê phán chế độ phong kiến Trung Quốc ở Nguyễn Du là

điều tất nhiên và hoàn toàn có căn cứ, có cơ sở thực tiễn của nó, phản ánh bước phát triển hợp lý và lôgic của tư tưởng nhân đạo ở Nguyễn Du” [30; 56]

Đến năm 1988, với bài viết Nguyễn Du qua thơ chữ Hán được in trên Kiến thức

ngày nay số 30, Lê Đình Kỵ nói nhiều đến hoàn cảnh lịch sử ảnh hưởng đến chí hướng của Nguyễn Du cũng như những trăn trở, băn khoăn của Nguyễn Du trước những ngả đường lịch sử Tác giả đã tìm hiểu về thái độ của Nguyễn Du đối với các triều đại, đối với quan trường, với nhân dân, với con người và cuộc đời, và đưa ra

nhận xét: “Cái phần trong sáng và đáng trân trọng nhất trong thơ chữ Hán xét đến

cùng là những yêu ghét của nhà thơ” [17; 34] Nguyễn Du yêu những con người

hiền tài, những người dân cơ cực, những người phụ nữ tài sắc bất hạnh và ghét những kẻ ác ôn, sống trên máu và nước mắt của người khác

Giá trị to lớn của thơ chữ Hán Nguyễn Du, một lần nữa được Mai Quốc Liên

khẳng định trong lời mở đầu trong cuốn Nguyễn Du toàn tập (Nhà xuất bản Văn

học và Trung tâm nghiên cứu quốc học, 1996) Tác giả đã khái quát những đánh giá của Nguyễn Du về nền văn hóa Trung Hoa thông qua việc đánh giá các danh nhân,

vấn đề văn chương và số mệnh, vấn đề cô trung, tiết nghĩa, những đối nghịch, làm

nên tư tưởng nghệ thuật, thế giới nghệ thuật của thơ…

Hướng nghiên cứu này đã được Lê Thu Yến phát triển trong Đặc điểm nghệ thuật

thơ chữ Hán Nguyễn Du vào đầu năm 1999 Tác giả đã khai thác ba đặc điểm nghệ

thuật của thơ chữ Hán: hình tượng nghệ thuật về con người, thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật Đó là những nét lớn tập trung trong cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du qua toàn bộ thơ chữ Hán Như vậy, từ chuyên luận này, chúng ta có một cái nhìn khá toàn diện về thơ chữ Hán Nguyễn Du

Luận văn thạc sĩ của Trịnh Thị Ngọc Thúy Những nhân tố phục hưng trong sáng

tác của Nguyễn Du năm 2001 được bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm Thành phố

Hồ Chí Minh, nói đến những cơ sở lý luận, nhân tố phục hưng cũng như những giá

Trang 12

trị nhân văn trong sáng tác của Nguyễn Du Tác giả nghiêng về nghiên cứu chủ

nghĩa nhân văn trong truyện Kiều

Luận văn thạc sĩ của Phan Thị Bích Vân Hình tượng nghệ thuật về con người

trong tập Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du năm 2003 được bảo vệ tại trường Đại

học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung xoay quanh vấn đề chính: hình tượng nghệ thuật về con người Con người yêu thương, con người đời thường, con

người vũ trụ là ba khía cạnh của hình tượng nghệ thuật về con người trong Bắc

hành tạp lục

Năm 2005, Luận án tiến sĩ của Hoàng Trọng Quyền Nguyễn Du và Đỗ Phủ -

những tương đồng và khác biệt về tư tưởng nghệ thuật được bảo vệ tại trường Đại

học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu tư tưởng nhân văn trong thơ Nguyễn Du và Đỗ Phủ và khẳng định rằng tư tưởng nhân văn là vấn đề cốt lõi, cơ bản nhất trong tư tưởng nghệ thuật của cả hai nhà thơ

Cũng nghiên cứu về tư tưởng nhân văn, luận văn của Nguyễn Thị Huyền

Thương Con người nhân văn trong tiến trình văn học trung đại qua thơ Nguyễn

Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Du, được bảo vệ tại trường Đại học Sư phạm

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010, trình bày những biểu hiện của chủ nghĩa nhân văn trong thơ của ba tác gia lớn

Năm 2011, Lê Thu Yến tiếp tục nghiên cứu về thơ chữ Hán Nguyễn Du với

chuyên luận Nguyễn Du và những nhân vật lịch sử Trung Quốc được in trên Những

lằn ranh văn học (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh) làm rõ

hơn những luận bàn của Nguyễn Du Qua đó, tác giả nhận định: “Nguyễn đã tổng

kết, đánh giá hàng loạt những vấn đề tai nghe mắt thấy và qua những tấm gương tiêu biểu: cùng khổ, tài hoa, bất hạnh, tốt, xấu, gian ác… được đọc trong sách, tận tường hơn khi đến nơi, cảm được khung cảnh, nhận rõ sự việc…” [32; 505]

Ít nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề trọng tâm trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Các tác giả xoay quanh những vấn đề tìm hiểu những tâm sự, tâm tình của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán gắn liền với một giai đoạn lịch sử đầy biến động, qua đó cho ta thấy được nhân sinh quan cũng như tấm lòng

Trang 13

thương yêu chân thành và niềm cảm thông của Nguyễn Du đối với tất cả mọi kiếp người trong xã hội

Do tính chất, mục đích và phạm vi nghiên cứu, các công trình nêu trên chưa đặt ra

cụ thể về vấn đề nét đẹp nhân văn trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Tuy nhiên, tất cả các bài viết trên chính là tiền đề và cơ sở giúp người viết thực hiện tốt công trình này

Mục đích đầu tiên của luận văn là tìm hiểu khái quát về thời đại, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du; từ đó có thể có được cái nhìn thấu đáo, toàn diện hơn về con người nhà thơ, về những nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, suy nghĩ và nỗi khắc khoải đi tìm mình, niềm trắc ẩn của

Nguyễn Du để làm tiền đề cho việc nghiên cứu “Nét đẹp nhân văn trong thơ chữ

Hán Nguyễn Du”

Thứ hai, luận văn tìm hiểu nét đẹp nhân văn trong thơ, qua đó phần nào hiểu những tâm tư, suy nghĩ của nhà thơ về thế sự và kiếp người thông qua ba tập thơ

chữ Hán Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục Qua những

nỗi niềm riêng cũng như cách Nguyễn Du đánh giá về cuộc đời, về con người, ta hiểu thêm những khía cạnh của nét đẹp nhân văn trong thơ Nguyễn

* Về đối tượng khảo sát

Với đề tài đã chọn, đối tượng nghiên cứu của luận văn là nét đẹp nhân văn, những khía cạnh biểu hiện và hình thức biểu hiện của nó qua thơ chữ Hán Nguyễn

Du

Hướng nghiên cứu của đề tài là từ việc tìm hiểu thời đại, bối cảnh lịch sử xã hội

có ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng tình cảm của Nguyễn Du đến những biểu hiện

cụ thể của con người nhân văn Nguyễn Du và nét đẹp nhân văn trong thơ chữ Hán của ông

Trang 14

* Về phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của luận văn là mảng thơ chữ Hán của Nguyễn Du

với tư liệu từ 250 bài thơ trong ba tập thơ chữ Hán là Thanh Hiên thi tập, Nam

trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục Do còn nhiều ý kiến tranh luận về văn bản thơ

chữ Hán Nguyễn Du nên để thuận lợi cho việc khảo sát, người viết tạm thời chỉ dựa

vào những bài thơ được phổ biến ở tập 1 (phần thơ chữ Hán) trong bộ Nguyễn Du

toàn tập do Mai Quốc Liên chủ biên; Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc và Lê

Thu Yến phiên âm, dịch nghĩa và chú thích Ngoài tư liệu trên, người viết còn sử

dụng những tư liệu khác như Truyện Kiều, Văn chiêu hồn và một số tác phẩm của

các tác giả khác trong văn học trung đại Việt Nam và văn học Trung Quốc

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp lịch sử - cụ thể: Là phương pháp đặt đối tượng nghiên cứu vào thời

đại, bối cảnh cụ thể khi nó ra đời để tìm hiểu sâu hơn về tác giả, tác phẩm và đề tài nghiên cứu

Phương pháp so sánh - đối chiếu: Người viết sẽ tìm hiểu thêm về thơ của các nhà

thơ trung đại có những nét gần gũi với Nguyễn Du để làm rõ hơn nét đẹp nhân văn trong thơ chữ Hán của ông trong hệ thống của tiến trình phát triển văn học trung đại lúc bấy giờ Trên cơ sở đó, luận văn cố gắng lí giải thế giới quan, nhân sinh quan cũng như những tiền đề, cơ sở di dưỡng niềm trắc ẩn của Nguyễn Du trong một giai đoạn đầy phức tạp và biến động của lịch sử dân tộc

Phương pháp phân tích - tổng hợp: Là phương pháp giúp người viết vừa khai

thác vấn đề ở những khía cạnh chi tiết để nắm được bản chất vấn đề, vừa tổng hợp lại nhằm có những kết luận khái quát về vấn đề

Bên cạnh Truyện Kiều, thơ chữ Hán Nguyễn Du đã được đưa vào giảng dạy ở

nhà trường phổ thông Đây là lĩnh vực còn mới mẻ, khó khăn đối với không ít giáo viên và học sinh Vì thế, đây có thể là tài liệu tham khảo thêm cho giáo viên khi giảng dạy về tác gia Nguyễn Du, nhưng trước hết nó phục vụ cho công việc, giảng

Trang 15

dạy của người viết Luận văn cũng góp phần nghiên cứu một khía cạnh của thiên tài Nguyễn Du cũng như góp phần hoàn chỉnh bức chân dung của đại thi hào, bức chân dung của một con người nhân văn với ba tập thơ chữ Hán cũng thấm đượm tinh thần nhân văn

Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Nguyễn Du

1.2 Thơ chữ Hán Nguyễn Du

1.3 Khái niệm nét đẹp nhân văn

Chương II NÉT ĐẸP NHÂN VĂN XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Những chiêm nghiệm, suy tư về con người cá nhân

2.2 Những nỗi niềm trắc ẩn về số phận con người

2.3 Những cảm nhận về nhân sinh

Chương III NÉT ĐẸP NHÂN VĂN XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 3.1 Ngôn ngữ nghệ thuật

3.2 Biểu tượng nghệ thuật

3.3 Giọng điệu nghệ thuật

3.4 Bút pháp nghệ thuật

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, đỉnh cao là phong trào Tây Sơn năm 1771 Phong trào này cùng một lúc đã đánh tan hai tập đoàn phong kiến phản động trong nước và hai cuộc xâm lược của ngoại bang là Xiêm và Mãn Thanh, góp phần không nhỏ trong việc thống nhất đất nước Sau khi lên ngôi, Quang Trung ban hành nhiều chính sách tiến bộ, ích nước lợi dân Nhưng làm vua được vài năm, Quang Trung mất, các thế lực phản động nổi lên, đất nước lại rơi vào cảnh điêu linh Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802, chế độ phong kiến triều Nguyễn được thiết lập

Sự thay đổi chóng vánh ấy có ảnh hưởng không nhỏ đến Nguyễn Du và gia đình của ông Ông chưa hết xót xa đau đớn cho tình cảnh tan tác của tập đoàn Lê - Trịnh, lại một lần nữa chứng kiến sự sụp đổ trong nháy mắt của triều đại Tây Sơn Vận mệnh rỡ ràng, ngắn ngủi của triều đại ấy kết thúc thấp thoáng phía sau là công cuộc khôi phục của triều đình nhà Nguyễn

Là chứng nhân chứng kiến mọi biến cố đầy kịch tính của lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Du sống trong một trạng thái bàng hoàng, hẫng hụt về tư tưởng, và không phải đã dễ dàng tìm ngay được một lẽ sống, một chỗ

Trang 17

đứng nào vững vàng, ổn định, một con đường nào để giải thoát cho bản thân Sự bế tắc đó cũng chính là bi kịch của cuộc đời Nguyễn Du Thời đại đầy rẫy biến động, đầy rẫy đau thương ấy ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời và những trải nghiệm, suy nghĩ của Nguyễn Du Thực trạng này cũng giúp chúng ta phần nào lý giải được những mâu thuẫn trong tư tưởng của Nguyễn Du, đồng thời hiểu được vì sao trong thơ, Tố Như lại đau đời, thương người và day dứt trước thân phận con người đến thế

1.1.2 Gia thế và cuộc đời

Nguyễn Du sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ, từng giữ chức Tể tướng Anh cùng cha khác mẹ

là Nguyễn Khản cũng từng làm quan to dưới triều Lê – Trịnh Người địa phương có câu ca dao về dòng họ này:

“Bao giờ ngàn Hống hết cây, Sông Rum hết nước, họ này hết quan”

Không chỉ công thành danh toại, gia đình Nguyễn Du còn có truyền thống văn chương Sống trong một môi trường giàu truyền thống văn học như thế, năng khiếu của Nguyễn Du có điều kiện nảy nở từ rất sớm

Lúc còn bé, Nguyễn Du được sống trong cảnh giàu sang, hạnh phúc nhưng tuổi

thơ tươi đẹp của ông không kéo dài được bao lâu Năm Nguyễn Du tròn mười tuổi

đã có hai biến cố lớn xảy ra: Nguyễn Trụ, anh cùng mẹ với Nguyễn Du mắc bệnh mất ở kinh thành giữa tuổi mười tám và Nguyễn Nghiễm, cha của Nguyễn Du cũng qua đời Khi Nguyễn Du lên 13 tuổi, mẹ ông cũng mất Vậy là, Nguyễn Du sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, không biết nương tựa vào đâu trong khi các anh em cùng mẹ với Nguyễn Du còn quá nhỏ, do đó Nguyễn Du phải ở với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản Nguyễn Khản hơn Nguyễn Du 31 tuổi, sớm đỗ đạt, làm quan to trong triều, lại là một con người tài hoa rất mực, đã có ảnh hưởng rất lớn đến Nguyễn Du sau này Cảnh sống hào hoa của Nguyễn Khản được Phạm Đình Hổ

viết: “Ông Nguyễn Khản ham thích hát xướng, gặp khi con hát tang trở, cũng cứ

cho nó tiền bắt hát, không lúc nào bỏ tiếng tơ tiếng trúc Khi ông có tang quan Tư

Trang 18

đồ (tức Nguyễn Nghiễm), ngày rỗi cũng vẫn cứ sai con hát đồ khúc gọi là “ngâm thơ Nôm” Bọn con em họ quý thích đều bắt chước chơi bời hầu như thành thói quen” [12; 246] Sống trong hoàn cảnh như vậy nên từ rất sớm, Nguyễn Du đã di dưỡng tấm lòng trắc ẩn và cảm thông sâu sắc đối với phụ nữ nói chung và ca kĩ nói riêng Họ phải đem tài sắc và giọng hát của mình để mua vui cho kẻ giàu sang, mua vui cho cuộc đời Sau này, Nguyễn Du có dịp chứng kiến thêm nhiều cảnh tượng bất công ngang trái của những kiếp người tài hoa bạc mệnh và ông luôn đứng về phía họ để lên tiếng bênh vực và che chở

Nguyễn Du sống với anh cũng chẳng bao lâu Năm nhà thơ 18 tuổi, vừa đỗ Tam trường, gia đình của Nguyễn Khản gặp biến cố Kiêu binh nổi loạn, Nguyễn Khản cải trang chạy lên Sơn Tây, sau đó thì về quê ở Hà Tĩnh Gia đình Nguyễn Du từ đây mỗi người mỗi ngã

Trước kia, một ông quan họ Hà, làm việc dưới quyền Nguyễn Nghiễm, giữ chức Chánh thủ hiệu hiệu quân hùng hậu ở Thái Nguyên, không có con trai, xin Nguyễn Du làm con nuôi Sau khi họ Hà mất, Nguyễn Du được tập ấm chức ấy Năm 1789, Tây Sơn kéo quân ra Bắc phá tan 29 vạn quân Thanh, Lê Chiêu Thống bỏ nước chạy theo đám tàn quân của giặc Lúc này các anh em cùng mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Đề và Nguyễn Ức chạy theo Lê Chiêu Thống nhưng không

kịp Nguyễn Du từ giã Nguyễn Đề và Nguyễn Ức để trở về quê vợ ở huyện Quỳnh Đôi, tỉnh Sơn Nam (Thái Bình), sống nhờ người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn Khi

người vợ họ Đoàn mất, ông về quê Hà Tĩnh làm “người đi săn ở núi Hồng” (Hồng

Sơn liệp hộ), “người câu cá ở biển Nam” (Nam Hải điếu đồ)

Năm 1796, Nguyễn Du có ý định vào Nam giúp Nguyễn Ánh nhưng bị trấn tướng của Tây Sơn ở Nghệ An là Nguyễn Thận bắt giam Sau vì Nguyễn Thận nể anh ruột của Nguyễn Du là Nguyễn Nễ làm quan cho Tây Sơn cũng là bạn của mình, lại mến tài của Nguyễn Du nên tha Từ đó Nguyễn Du về ở hẳn Tiên Điền

trong một thời gian dài Đây là những năm Nguyễn Du ở “dưới chân núi Hồng”

Chiến tranh loạn lạc xảy ra, ông tận mắt chứng kiến cảnh thay đổi sơn hà, gia đình li tán, anh em lưu lạc mỗi người một nơi Cuộc đời ông như ngọn cỏ bồng đứt

Trang 19

gốc lăn lóc bên trời, trôi giạt từ đầu sông đến cuối bể, cơm không đủ ăn, ốm không

thuốc uống, từng có lúc đau khổ gần như tuyệt vọng Nhưng cũng chính những bước đường thương đau ấy đã giúp ông thực sự có dịp hiểu biết và sống gần gũi với quần chúng

Năm 1802, Gia Long lật đổ triều đại Tây Sơn Tháng 8 năm ấy, Nguyễn Du được

bổ nhiệm làm tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam Từ đó, ông được giữ nhiều chức vụ khác nhau trong triều Năm 1809, ông được bổ làm Cai bạ

ở Quảng Bình và ở chức này bốn năm liền Nguyễn Du làm quan không nghĩ đến

danh lợi, lúc nào cũng chăm lo đến đời sống của nhân dân Gia phả chép: “Khi làm

quan chức cai bạ dinh Quảng Bình, phàm những việc công trong hạt như lính tráng, dân sự kiện thưa, tiền nong, lương thực và các hạng thuế, ông đều bàn bạc thương lượng với các quan Lưu thủ, Ký lục để thi hành Ông giữ chức Cai bạ bốn năm, chính sự giản dị, không cầu tiếng tăm, nên được sĩ phu và nhân dân yêu mến”

Cuộc đời làm quan của Nguyễn Du dưới triều Nguyễn từ năm 1802 cho đến lúc mất 1820, tính đúng là 19 năm Trừ những thời gian xin về tạm nghỉ ở quê nhà có thể nói là không gián đoạn Ông thăng chức khá nhanh và có lúc giữ nhiều chức vụ

quan trọng Gia phả chép: “… dẫu làm đến chức Á khanh mà ông vẫn giữ vẻ thanh

nhã đơn giản như một người học trò nghèo” [48] Quả thật điều đó làm không ít

người yêu quý và cảm thấy gần gũi ông

Khi làm quan dưới triều Nguyễn, Nguyễn Du ít nói năng đến nỗi có lần ông bị

vua quở rằng: “Nhà nước dùng người tài giỏi thì cất lên, không hề phân biệt người

Bắc, người Nam Khanh (Nguyễn Du) với Ngô Vị đã được trẫm biết tài mà bổ dụng,

Trang 20

làm quan đến chức Tham tri, biết điều gì cứ nói, để làm hết chức trách của mình, sao lại cứ rụt rè, chỉ dạ dạ vâng vâng thế thôi?” [48; 19] Dường như ông luôn

mang trong mình nỗi buồn không thể nói cùng ai Nỗi buồn ấy ông đành chôn chặt

tận đáy lòng ngay cả khi xuống dưới tuyền đài: “Đến khi ốm nặng, ông không chịu

uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân Họ thưa đã lạnh cả rồi, ông nói: “Được” rồi mất, không trối lại một lời” [48; 19]

Những năm tháng thăng trầm, lưu lạc và sống gần gũi với quần chúng đã đem lại cho ngòi bút Nguyễn Du sự cảm thông, chia sẻ sâu sắc với thân phận những con người bé nhỏ, những kiếp tài hoa bạc mệnh

1.2 Thơ chữ Hán của Nguyễn Du

Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm những tác phẩm có giá trị lớn bằng

chữ Hán và chữ Nôm Về chữ Hán Nguyễn Du có ba tập thơ Thanh Hiên thi tập,

Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục với tổng số 250 bài Về chữ Nôm, xuất

sắc nhất là Đoạn trường tân thanh, thường gọi là Truyện Kiều, ngoài ra còn có Văn

chiêu hồn, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu và bài Thác lời trai phường nón

1.2.1 Thanh Hiên thi t ập

Đây là tập thơ chữ Hán đầu tiên của Nguyễn Du sáng tác gồm 78 bài được chia thành ba giai đoạn:

• Mười năm gió bụi: (1786 - khoảng cuối 1795 đầu năm 1796) tức năm Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà, cho đến năm Nguyễn Du trở về quê nhà ở Hồng Lĩnh

• Dưới chân núi Hồng (1796 -1802): quãng thời gian ông về ẩn tại quê nhà (Hà Tĩnh)

• Làm quan ở Bắc Hà (1802 -1804): quãng thời gian ông bắt đầu ra làm quan cho nhà Nguyễn

Thanh Hiên thi tập chứa đựng tình cảm quê hương và tình cảnh của Nguyễn Du

trong những năm tháng lưu lạc Nhà thơ sống nghèo túng, có khi ốm đau mà chẳng thuốc thang gì, có lúc đói rét phải nhờ cậy vào lòng thương của người khác Tâm sự của tác giả trong thời kỳ này là một tâm sự buồn rầu, có khi chán nản, uất ức…

Trang 21

Tập thơ bộc lộ nỗi niềm Nguyễn Du trong những tháng năm sống long đong, mất phương hướng, mất lòng tin, thậm chí cả tâm trạng hoang mang, vô vọng với

rất nhiều xót xa về thân phận chân trời góc bể, một nhánh cỏ bồng đứt gốc trước

gió tây, người đã đến bước đường cùng… Sống giữa thời buổi loạn ly, Nguyễn Du

cảm nhận về cuộc đời thường nhật, về nỗi cửa nhà tan tác, ý thức về nỗi cô đơn và

sự vô vị, vô nghĩa của đời mình trước thời gian qua mau

1.2.2 Nam trung tạp ngâm

Nam trung tạp ngâm gồm 40 bài Nguyễn Du làm trong thời gian giữ chức

quan ở Phú Xuân và Quảng Bình rồi lại trở về Phú Xuân, từ năm 1804 cho đến năm ông qua đời (1820), là 16 năm Nhà thơ gửi gắm ở tập thơ này nỗi thất vọng ở chốn quan trường, nơi đầy rẫy những rối ren, ganh đua, lòng người hiểm ác và nhà thơ

luôn phải cẩn thận giữ gìn

Việc làm quan với Nguyễn Du chỉ là chuyện bất đắc dĩ chứ không phải là

chuyện công danh Ông sống rất thanh bạch nhưng “thường bị quan trên quở trách

nên lấy làm uất ức, bất chí” Trong tình cảnh làm quan không mấy toại ý, Nguyễn

Du lại ao ước về nhà sống đạm bạc, làm bạn với hươu nai Điều ấy được phản ánh trong tập thơ này

1.2.3 Bắc hành tạp lục

B ắc hành tạp lục gồm 132 bài, được sáng tác trong khoảng 1813 -1814, khi đó

Nguyễn Du được nhà Nguyễn cử làm chánh sứ sang Trung Quốc tuế cống Nguyễn

Du đã ghi lại những địa danh, hình ảnh, nhân vật, cảnh vật và hoàn cảnh mà ông

đã quan sát, cùng những hoài niệm riêng tư trong hành trình sứ bộ sang Trung Hoa Tập thơ Bắc hành tạp lục, bên cạnh những bài thơ viết về Thăng Long như

Thăng Long - kỳ nhất, Ngộ gia đệ cựu ca cơ, Long Thành cầm giả ca thì tất thảy

đều viết về chuyến đi sứ Trung Quốc nối dài suốt một năm trời Những bài thơ Nguyễn Du viết trên đường đi sứ được chia thành hai loại: phản ánh những điều tai nghe mắt thấy và đề vịnh lịch sử

Tập thơ Bắc hành tạp lục cho thấy ở Nguyễn Du một khả năng quan sát chi tiết,

kiến thức thâm sâu về địa lý và lịch sử Trung Hoa cũng như một hệ thống suy tư

Trang 22

đặc thù, sâu sắc về nhân sinh

Khái quát cả ba tập thơ, Nguyễn Hữu Sơn nhận xét rằng: “Ba tập thơ cho thấy

những chặng đường sáng tác phù hợp với các chặng đường đời và tư tưởng tác giả Xuyên suốt nội dung thơ chữ Hán là tiếng nói trữ tình, tiếng nói nhân văn giữa một thời tao loạn, tiếng nói khắc khoải tìm về ý nghĩa đích thực của cuộc sống con người” [34; 20]

1.3 N ét đẹp nhân văn

1.3.1 Thuật ngữ “nhân văn”

Nhân văn là thuật ngữ khá phổ biến trong nghiên cứu văn học và văn hoá

Hiểu theo nghĩa từng từ tố, nhân là người, văn là vẻ đẹp; nhân văn là vẻ đẹp của

con người Thuật ngữ này ra đời trong văn hoá phương Tây như một sự tôn vinh những trào tư tưởng đứng về phía con người, khẳng định sức mạnh trần thế của con người trong sự đối lập với thần linh, khẳng định hạnh phúc trần thế của con người

trong sự đối lập với thiên đường hạnh phúc xa xôi phi trần thế Thông thường, nhân

văn được xem như một trào lưu tư tưởng, trào lưu văn hoá hoặc một thứ thế giới

quan Vì vậy mà có các cách nói quen thuộc: chủ nghĩa nhân văn / tư tưởng nhân

văn

Trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc

Phi (đồng chủ biên), NXB Giáo Dục, 2006 chủ nghĩa nhân văn được hiểu ở hai cấp

độ: thế giới quan và lịch sử

Ở cấp độ lịch sử, “Chủ nghĩa nhân văn là một trào lưu văn hoá - tư tưởng nảy

sinh ở Ý và một số nước khác ở châu Âu thời Phục hưng (thế kỉ XIV-XVI) Những người khởi xướng trào lưu này chủ trương giải phóng văn học nghệ thuật nói riêng

và văn hóa nói chung khỏi sự bảo trợ của nhà thời Cơ Đốc giáo và giải phóng cá nhân con người Họ quan niệm không phải thần linh mà là con người định đoạt lấy

số phận của mình Con người có khả năng vô tận để hoàn thiện môi trường của mình Họ hướng văn học nghệ thuật vào sự sáng tạo và ca ngợi cái đẹp trần thế, lành mạnh, tự nhiên, đề cao những khát vọng cao đẹp và niềm tin vào sức mạnh toàn năng của con người” [11; 89]

Trang 23

Ở cấp độ thế giới quan, “Chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những tư tưởng, quan

điểm, tình cảm quý trọng các giá trị của con người như trí tuệ, tình cảm, phẩm giá

sức mạnh, vẻ đẹp Chủ nghĩa nhân văn không phải là một khái niệm đạo đức đơn

thuần, mà còn bao hàm cả cách nhìn nhận, đánh giá con người về nhiều mặt (vị trí, vai trò, khả năng, bản chất…) trong các quan hệ với tự nhiên, xã hội và đồng loại” [11; 88]

Hai cấp độ này có quan hệ với nhau Đối lập với thời Cổ đại và Trung cổ, thời

Phục hưng khẳng định tự do của con người trong quan hệ với thần thánh Con người

tạo ra mình trong hành động, anh ta là cha của chính mình (E Garon) [29; 78]

Nhiều nhà nghiên cứu đã xem thành tựu lớn nhất của văn hoá Phục hưng là “phát

hiện ra con người”: “Khái niệm logic về con người đã có từ lâu, nhưng chỉ thời

Phục hưng mới hoàn toàn nhận thức được thực chất của khái niệm này” (Jacob

Burckhardt) [29; 76] Từ trong nền văn hoá Phục hưng, chủ nghĩa nhân văn đã tự

khẳng định mình như một thứ thế giới quan và một trào lưu văn hoá lấy con người làm trung tâm thế giới

Trong văn học, thuật ngữ chủ nghĩa nhân văn thường được dùng để chỉ những

giai đoạn, trào lưu hoặc tác gia tôn vinh con người, ca ngợi những giá trị thuộc về con người, đấu tranh cho hạnh phúc của con người và thể hiện lòng thương yêu con người sâu sắc

Có một thuật ngữ gần nghĩa với nhân văn, đó là nhân đạo Theo nghĩa gốc Hán,

nhân là lòng thương yêu con người Khổng Tử viết: nhân ái nhân dã (nhân là lòng yêu người vậy) Đạo là con đường, là đạo lí Trong văn học, nói đến chủ nghĩa nhân

đạo là nói đến lòng yêu thương con người Ở nước ta, chủ nghĩa nhân đạo trong văn

học dân gian và bác học thường phát triển đến đỉnh cao khi chế độ phong kiến đã trở nên thối nát, đời sống nhân dân lầm than, số phận con người bị khinh rẻ Trong

một chừng mực nhất định, thuật ngữ nhân văn bao gồm trong nó những nội dung của thuật ngữ nhân đạo

Cái vĩ đại nhất của Nguyễn Du, theo chúng tôi là ông hết lòng yêu thương con người Lòng yêu thương con người của Nguyễn Du bắt nguồn từ sự cảm thông sâu

Trang 24

sắc đối với số phận của con người trong một xã hội mục ruỗng, nhiều bất công Ông chia sẻ với những nỗi đau của nhiều thân phận Yêu thương con người, bế tắc trước câu hỏi về hạnh phúc của con người, Nguyễn Du trăn trở về trách nhiệm, về bản thân mình với tư cách một nhà nho Nguyễn Du nhận ra những giá trị tốt đẹp của con người cũng như căm ghét những thế lực chống lại con người Tất cả điều này đều được thể hiện trong các sáng tác của Nguyễn Du

Tìm hiểu nét đẹp nhân văn trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng tôi giới hạn ở:

một, sự trăn trở về bản thân của nhà thơ; hai, lòng yêu thương và cảm thông sâu sắc

của nhà thơ đối với số phận con người; ba, sự tôn vinh những giá trị tốt đẹp của con

người và căm ghét những thế lực xấu xa chống lại con người (qua thái độ đối với những nhân vật lịch sử Trung Hoa)

1.3.2 Cơ sở xã hội của chủ nghĩa nhân văn trong văn học

Ở phương Tây, trước khi chủ nghĩa tư bản ra đời, con người đã phải trải qua

một thời gian dài sống trong “đêm trường trung cổ”, chịu sự thống trị của giai cấp

phong kiến và Giáo hội Giáo hội quan niệm con người là hiện thân của tội lỗi nên con người phải sống khổ hạnh, từ bỏ nhu cầu trong cuộc sống để trả giá cho những tội lỗi của mình

Sang thế kỉ XV, con đường giao lưu giữa các châu lục được mở rộng cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và xã hội ở các nước Tây Âu Chủ nghĩa tư bản Ý ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới, tạo ra những biến động lớn về chính trị và

xã hội, ảnh hưởng lớn đến nhiều nước khác Hệ tư tưởng của nó đối lập hoàn toàn với hệ tư tưởng phong kiến và Giáo hội Con người bắt đầu nhận thức về quyền sống của mình và cả những nhu cầu bản năng Họ bắt đầu ý thức được việc phải đấu tranh để thoát khỏi những ràng buộc của tư tưởng siêu hình, thần bí, thoát khỏi sự

áp chế của những thế lực phong kiến

Tất cả những biến động trên đã làm nền cho sự ra đời của chủ nghĩa nhân văn

Đó là một trào lưu tư tưởng tiến bộ đã mang lại một sắc thái mới cho văn học Phục

hưng Chủ nghĩa nhân văn chống lại những tư tưởng phản tự nhiên thời Trung cổ,

đấu tranh đòi con người phải được hưởng quyền sống chính đáng nơi trần thế, phải

Trang 25

được ăn, được mặc, được hưởng thụ những thú vui vật chất cũng như tinh thần của con người

Xã hội trung cổ càng hướng con người đến sự hành xác, khổ hạnh và triệt tiêu mọi giá trị của cuộc sống thực thì các nhà tư tưởng thời Phục hưng lại càng cổ

vũ họ thoát khỏi những xiềng xích trói buộc ấy để sống tự do, tìm kiếm, đề cao và

ngợi ca những nét đẹp vốn có của con người thời đại Chính vì thế, khái niệm nhân

văn với ý nghĩa nét đẹp của con người ra đời và phát triển thành chủ nghĩa nhân văn

lúc bấy giờ Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng là tư tưởng giải phóng nhân cách độc lập của con người đã phát triển chín muồi Đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học là con người trong sự năng động và biến đổi trong cuộc sống,

là con người trần thế với những nhu cầu về vật chất lẫn tinh thần, xác thịt và trí tuệ với tất cả những khát vọng chính đáng, với tất cả những khả năng và triển vọng to

lớn của nó W Shakespeare cho rằng: “Con người là một công trình tuyệt mỹ của

tạo hóa, là vàng ngọc của vũ trụ”

Một tác phẩm văn học có tính nhân văn là tác phẩm thể hiện con người với những nét đẹp của nó, đặc biệt là những giá trị tinh thần như trí tuệ, tâm hồn, tình cảm, phẩm cách… Tác phẩm đó nhất định phải hướng đến khẳng định, đề cao vẻ

đẹp của con người bởi vì Văn học là một nghệ thuật nhân văn cao cả, người ta có

thế nói nhà văn đều là những nhà nhân văn do nghề nghiệp của mình, những người sản sinh ra chủ nghĩa nhân văn (M Gorki)

Chủ nghĩa nhân văn đã xuất hiện từtrong văn học dân gian Hoàng Tiến Tựu cho rằng ca dao, dân ca không phải lúc nào cũng phát triển như nhau Ca dao, dân ca thường phát triển mạnh mẽ nhất vào lúc chế độ phong kiến trong giai đoạn thối nát Càng chịu nhiều áp bức, chịu nhiều đau khổ dưới chế độ mục nát thì người dân càng

có ý thức đấu tranh và vươn lên mạnh mẽ Tất cả điều đó được thể hiện trong ca dao, dân ca Nguyễn Du sống vào thời đại chủ nghĩa nhân văn bùng phát và ca dao, dân ca đang ở giai đoạn phát triển nhất Nguyễn Du được trời phú cho bản chất tài hoa, lại có vốn sống phong phú, am hiểu sâu sắc về văn hóa dân gian Trong bài

Thanh Minh ngẫu hứng”, nhà thơ từng viết:

Trang 26

“Thôn ca sơ học tang ma ngữ

Dã khốc thời văn chiến phạt thanh”

(Ta học trong câu hát nơi thôn dã tiếng nói của người trồng dâu, trồng gai

Ta thường nghe trong tiếng khóc nơi thôn dã tiếng oán hận chinh chiến)

Nguyễn Du không chỉ học tiếng nói từ người trồng dâu, trồng gai mà còn là người kết nối tư tưởng nhân văn của văn chương bác học và văn chương bình dân lúc bấy giờ Nét đẹp nhân văn trong thơ chữ Hán Nguyễn Du thực chất là kết quả của sự kết hợp lòng nhân ái của nhà thơ và chủ nghĩa nhân văn trong nhân dân

Từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, xã hội Việt Nam có những thay đổi lớn về kinh tế, chính trị, xã hội Xã hội Việt Nam diễn ra sự khủng hoảng trong toàn bộ cơ cấu của chế độ phong kiến Nước ta vẫn bị chia cắt thành Đàng Ngoài (do họ Trịnh đứng đầu) và Đàng Trong (do họ Nguyễn đứng đầu) Sự xa hoa vô độ của hai tập đoàn này càng lúc càng thổi bùng lên nỗi bất mãn và tinh thần phản kháng quyết liệt trong lòng dân

Tình hình chính trị bất ổn của triều Nguyễn đã đẩy nhân dân vào tình cảnh khốn cùng, đói cơm rách áo, tha phương cầu thực; đời sống nhân dân vô cùng cực khổ

dưới những gông cùm, xiềng xích Tầng lớp thống trị càng áp bức bóc lột nhân dân thì càng làm nảy sinh các cuộc khởi nghĩa nông dân ở khắp nơi Hiện trạng xã hội

này được phản ánh trong các tác phẩm ghi chép, mô tả thực tế như Thượng kinh kí

sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Hoàng Lê nhất thống chí

của Ngô gia văn phái…

Trên mảnh đất hiện thực điêu linh ấy, văn học trung đại lại có một mùa hoa rực

rỡ nhất Giai đoạn thế kỷ XVIII – nửa đầu XIX đánh dấu một sự chuyển biến về

chất trong văn học Đúng như Mai Quốc Liên nhận định: Lần đầu tiên trong văn

học, con người cá nhân được đặt vào vị trí trung tâm, được soi sáng từ bên trong,

từ nội tâm và nhu cầu hạnh phúc, nhu cầu phát triển nhân cách tài năng được đặt

ra [22 ; 17] Đó là nền văn học có tính chất phục hưng với một chủ nghĩa nhân đạo

trác tuyệt [22; 17]

Điều đặc biệt đáng chú ý ở giai đoạn này là sự hình thành đội ngũ sáng tác có vốn sống phong phú Họ là những con người có điều kiện tiếp xúc với văn hóa đô

Trang 27

thị và gần gũi với đời sống của nhân dân lao động, hiểu rõ được tâm tư nguyện vọng của nhân dân nên nguồn cảm hứng là những vấn đề xoay quanh số phận con người cũng như những bi kịch nhức nhối của con người và xã hội Họ đã có thể vươn khỏi chỗ đứng giai cấp để đồng cảm với cuộc sống đói cơm rách áo của quần chúng Thời đại càng có nhiều biến động, con người càng đặt ra nhiểu câu hỏi về bản thân, về xã hội, về sinh mệnh và ý nghĩa tồn tại của mình, nhất là khi con người đó

đã được tìm hiểu, được phần nào tiếp xúc với văn hóa bên ngoài Nền văn học Việt

Nam trở mình với tấm lòng trắc ẩn của Nguyễn Du trong Truyện Kiều và thơ chữ Hán, với tiếng nói khao khát hạnh phúc lứa đôi, phản đối chiến tranh phong kiến

trong Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), với lời than cho số phận người phụ nữ

trong Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), với sự thách thức lễ giáo trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương…

Sự ra đời của tầng lớp độc giả đô thị ở Thăng Long, Phố Hiến, Hội An, Gia Định… cùng ảnh hưởng của văn học Trung Hoa, đặc biệt là tiểu thuyết Minh Thanh, đã tác động mạnh mẽ đến văn học Việt Nam Văn học Việt Nam phát triển lên một bước cao hơn với tất cả nội lực của mình Vấn đề số phận con người, khát vọng, ước mơ được sống hạnh phúc, sống xứng đáng với kiếp làm người được gửi gắm trong những sáng tác thời kì này với nghệ thuật điêu luyện và bút pháp nhuần nhị Văn học còn hướng tới cái đời thường, cái bình dị, thậm chí cả các đề tài bị tư

tưởng nho giáo quy chụp là “tục”, phi lễ giáo (tình yêu trong Truyện Kiều, yếu tố

tục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương)

Cảm hứng sáng tác giai đoạn này dựa trên tinh thần nhân văn của quần chúng lao động, đòi hỏi những quyền lợi chính đáng của con người, chống đối lại mọi thế lực

xã hội phủ định, chà đạp lên sự phát triển của con người Tinh thần nhân văn ấy còn mang nhiều hạn chế của thời đại nhưng nó tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của

xã hội, đặc biệt là sự phát triển của văn học đương thời Văn học giai đoạn này còn hướng vào khẳng định ý thức cá nhân Đó là ý thức về quyền sống cá nhân, hạnh phúc cá nhân, tài năng và bản lĩnh cá nhân Cả những nhu cầu chính đáng của con người trong đời sống tình cảm, tình yêu, hạnh phúc gia đình, thậm chí cả trong vấn

đề tình dục của con người cũng được hé mở

Trang 28

Những nhân vật trong tam cương (vua, cha, chồng) được xem là trung tâm của cả

xã hội và gia đình, là kẻ trên mà những người dưới phải phục tùng, mà trong đó

người chịu áp bức, bị ép buộc phải tuân phục nhiều nhất chính là người phụ nữ Đi

ngược lại với tư tưởng này, các sáng tác thời bấy giờ hướng đến những con người bình thường, không phải là những đấng, bậc mà là những số phận bất hạnh, tủi cực,

đặc biệt là những người phụ nữ bị đày đọa Trần Đình Sử đã có những nhận định rất

sâu sắc về chủ nghĩa nhân văn trong giai đoạn này: “Cùng với ý thức về quyền sống,

ý thức về số phận con người được nêu cao Những nỗi buồn, nỗi oan nỗi hận trong các số phận oan trái trở thành niềm day dứt, thổn thức của nhà thơ Nguyễn Du khóc nàng Tiểu Thanh, khóc ca nữ La Thành, khóc người đánh đàn ở Thăng Long…

Cả mấy tập thơ chữ Hán của ông đều là tiếng khóc than cho đời người bị phôi pha tan nát, oan uổng Hồ Xuân Hương nguyền rủa số phận: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” Nguyễn Công Trứ trong bài “Hàn nho phong vị phú” cũng nói:

“Chém cha cái khó! Chém cha cái khó! Khôn khéo mấy ai, xấu xa một nó!” Phạm Thái chửi rủa số phận: “Đù ỏa nhân gian sống mãi chi” Có thể nói con người trong văn học thời này không cam phận sống một chiều, theo giáo lý, theo lời dạy thánh hiền, họ bất bình với số phận, muốn đổi thay” [37; 221]

Nguyễn Du – một viên quan đương nhiệm – lại rút ruột rút gan viết nên những câu thơ miêu tả cuộc đời trầm luân của nàng Kiều - một kỹ nữ - để bày tỏ và kêu gọi sự thương cảm dành cho những kiếp đoạn trường chứ không phải để tuyên truyền đạo trung, đạo hiếu

Nguyễn Du cũng cho phép nàng Kiều đem cân chữ tình với chữ hiếu: Bên tình

bên hiếu bên nào nặng hơn và khẳng định phẩm giá đẹp đẽ lấy hiếu làm trinh của

Kiều, cho dù nàng từng lưu lạc vào những chốn nhơ đục

Tiếp thu luồng tư tưởng của thời đại cộng với một trái tim dạt dào tình yêu thương, với những suy ngẫm, trăn trở riêng của bản thân, Nguyễn Du đã viết nên những kiệt tác thấm đẫm tinh thần nhân văn Thơ chữ Hán Nguyễn Du là tiếng nói yêu thương, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người, đồng thời là tiếng nói lên án, phê phán những cái xấu xa, đi ngược lại những giá trị nhân văn Qua đó, Nguyễn

Du lên tiếng đòi quyền sống và quyền hạnh phúc cho con người

Trang 29

1.4 Nét đẹp nhân văn qua các thời kì văn học trung đại Việt Nam

1.4.1 Giai đoạn văn học từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XV

Giai đoạn văn học từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XV, nổi bật hơn cả là nền văn học Lý - Trần, là một nền văn học đậm đà tinh thần dân tộc và chất nhân văn Xu hướng sáng tác của vua quan thời kì này chủ yếu gắn số phận cá nhân với vận mệnh dân tộc Một Phạm Ngũ Lão đặt mình trong mối quan hệ với non sông đất nước, đem hết chí trai tận tụy cống hiến và sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn:

“Múa gi áo non sông trải mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu (Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão)

Một Trần Quang Khải luôn lo nghĩ cho vận mệnh của nước nhà, cho một nền thái bình thịnh trị:

Thái bình nên gắng sức Non nước ấy ngàn thu

(Tụng giá hoàn kinh sư – Trần Quang Khải)

Thời chiến, họ xông pha chiến trận không sợ hiểm nguy; còn thời bình, vẫn canh cánh tấm lòng lo nghĩ cho dân, cho nước

Nam vọng lang yên vô phục khởi, Đồi nhiên nhất tháp mộng thiên an

(Trông về phương Nam không còn khói lang bốc lên nữa, Thảnh thơi trên giường, yên tâm với giấc mơ riêng)

(Phúc Hưng viên - Trần Quang Khải)

Vẻ đẹp nhân văn, tinh thần nhân văn cao đẹp của xu hướng sáng tác này là sự tận tụy cống hiến hết mình, sẵn sàng hi sinh bản thân vì sự an nguy của dân tộc

Một trong những hiện tượng độc đáo trong văn học thời kì này còn là sự xuất hiện và phát triển thơ của các thiền sư Các tác giả thơ thiền Lý - Trần là những con người luôn suy tư chiêm nghiệm về thời cuộc, tự nhiên và lẽ sinh - tử, được - mất của đời người

Trang 30

Trong thơ thiền đời Lý, con người hiện lên với vẻ đẹp của trí tuệ minh triết Trước hết, đó là vẻ đẹp an nhiên tự tại của con người hiểu rõ quy luật tự nhiên và sống hòa nhịp cùng quy luật Hiểu rõ quy luật sinh - trụ - dị - diệt của thế giới tự nhiên và sinh - lão - bệnh - tử của đời người, con người không còn bị cầm tù trong những vòng dây đau buồn, lo sợ, nuối tiếc về chuyện thịnh suy, được mất:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

(Thị đệ tử - Vạn Hạnh) (Thân như bóng chớp có rồi không, Cây cối xuân tươi, thu não nùng

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi Kìa kìa! Ngọn cỏ giọt sương đông)

Ngày tháng của đời người quý giá biết dường nào, hãy sống hết mình giây phút này, đừng để thời gian trôi qua rồi ngồi hối tiếc

Các thiền sư nói đến sự tan - hợp, mất - còn của sắc thân bằng một tâm trạng bình thản, vui vẻ chấp nhận chứ không lo sợ Họ ý thức về sự hiện hữu của con người theo quan điểm thiền học, đặc biệt là thái độ trước cái chết, sự tàn phai, biến

ảo của cuộc đời Đằng sau sự đổi thay, tàn phai và hủy diệt, cái đẹp của tâm hồn vẫn còn lại mãi Và cả niềm khát khao vươn tới cái đẹp đầy ý nghĩa nhân văn…

Trong hành động, nhiều thiền sư thời Lý - Trần khi đất nước có biến thì sẵn sàng nhập thế giúp vua chống giặc giữ nước, thậm chí không ngần ngại đích thân lâm trận để rồi khi giặc tan, đất nước thanh bình thì vứt bỏ danh vọng, vào chùa khoác

áo cà sa tụng kinh, niệm Phật, toàn tâm hướng đạo

Nếu giáo hội phương Tây chủ trương con người phải sống khổ hạnh, từ bỏ mọi nhu cầu trong đời sống trần thế để hướng con người đến Thượng đế, đến cõi vĩnh hằng thì các nhà thơ thiền Lý – Trần chủ trương hướng con người tìm đến hạnh phúc ở ngay cuộc sống trần thế, ngay trong bản thân mình và an nhiên tự tại trước đời sống:

Trang 31

Ở đời, vui đạo hãy tùy duyên

Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền

Trong nhà có báu, tìm đâu nữa

Trước cảnh vô tâm, chớ hỏi thiền”

( Cư trần lạc đạo – Trần Nhân Tông)

Vượt khỏi cái chấp vào không hay có, con người trở thành đạt đạo, vươn đến một cuộc sống bình dị, có ý nghĩa ngay trong cuộc đời này Thái độ nhập thế thật trong sáng, tích cực, hài hòa cùng mạch sống dân tộc, ăn – ngủ, làm việc, đánh giặc giúp nước, hành đạo giúp đời, hợp lòng người lẽ đạo

Con người trong thơ thời Trần mang nhiều nét đẹp nhân văn, trước hết nét đẹp nhân văn đó thể hiện ở ý thức tự phản tỉnh Các nhà thơ thời Trần, nhất là các nhà thơ Thiền thường phản tỉnh để ý thức và chiêm nghiệm lại những gì mình đã trải qua Sự phản tỉnh giúp các nhà thơ nhận chân được nhiều giá trị đẹp ở đời như cái đẹp, cái cao cả của con người cũng như thấy được giới hạn và bi kịch của đời người Phản tỉnh để tự xem xét về ý nghĩa của kiếp người, sự tồn tại của đời người và hơn hết phản tỉnh để tự ý thức, tự nhìn lại những hành động của bản thân Những tốt

- xấu, phải - trái, đúng - sai, tất cả đều cần được nhìn nhận lại để con người luôn định hướng cho mình con đường đi đúng đắn Phản tỉnh còn là sự đấu tranh với chính mình để đánh giá và hiểu chính mình, để luôn hướng đến những điều tốt đẹp, những giá trị còn mãi với thời gian

Con người thời Trần sống giữa cộng đồng bằng tất cả nhiệt huyết sôi nổi và tình yêu thương chan hòa nhưng khi đối diện với bản thân mình, con người không ít lần

ý thức về sự cô đơn Ý thức về sự cô đơn cũng là một phạm trù của cái đẹp vì trong

sự cô đơn đó, con người ý thức những việc mình đã làm để thêm trân trọng và tin yêu cuộc sống cũng như thêm quý trọng tình yêu thương mà mọi người dành cho mình:

“Cá trung khúc phá vô nhân hội, Duy hữu tùng phong họa thử âm”

(Khúc nhạc trong lòng ta đã thành hình mà không ai hay biết,

Trang 32

Chỉ có gió trên cây tùng là hòa được âm thanh ấy) (Tự thuật - Trần Thánh Tông)

Phản tỉnh để nghĩ lại việc mình đã làm dù thời gian trôi qua đã rất lâu, dù năm năm, mười năm hay mấy chục năm, tất cả đều đã qua và cái quan trọng là ở giây phút này con người không thể quên đi, vẫn luôn nghĩ đến sai lầm trước kia của

mình, để tự trách, tự dằn vặt, ôm vào mình nỗi sầu chất ngất:

“Thu khí hòa đăng thất thự minh, Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh

Tự tri tam thập niên tiền thác, Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh”

Nếu thơ ca thời thịnh Trần nổi bật lên nét đẹp nhân văn ở sự phản tỉnh, sự thức tỉnh về đời người ngắn ngủi, con người khao khát sống hòa nhịp cùng quy luật, trân trọng thời khắc ở hiện tại để hướng về những giá trị và hạnh phúc đích thực trong cuộc sống thì thơ ca thời vãn Trần, nét đẹp nhân văn nổi bật hơn hết là nét đẹp của lương tri người trí thức Một Chu An không màng đến danh lợi, lòng lúc nào cũng

lo nghĩ cho dân cho nước, lo cho đời:

“Thốn tâm thù vị như hôi thổ, Văn thuyết tiên hoàng lệ ám huy”

(Miết trì)

(Tấc lòng này chưa thể nguội lạnh như tro, như đất, Nghe nói đến vua xưa luống gạt thầm giọt lệ)

Trang 33

Một Trần Nguyên Đán đã sống và cống hiến tất cả sức mình cho triều đình, cho dân nhưng lại luôn tự vấn và tự thẹn mỗi khi nhìn thấy nỗi khổ của nhân dân:

“Niên lai hạ hạn hựu thu lâm, Hòa cảo miêu thương hại chuyển thâm

Tam vạn quyển thư vô dụng xứ, Bạch đầu không phụ ái dân tâm”

(Nhâm Dần lục nguyệt tác)

(Năm nay mùa hè bị hạn, mùa thu lại bị lụt

Lúa khô, mạ thối, tai hại càng nhiều

Đọc ba vạn cuốn sách mà thành vô dụng, Bạc đầu luống phụ tấm lòng yêu dân) Một Nguyễn Phi Khanh luôn yêu thương, đồng cảm sâu sắc với người dân chịu nhiều khổ cực, thiếu thốn trong đời:

Liên cừ vạn tính giai ngô dữ,

Tị ốc thùy gia diện diện hàn”

(Thù Đạo Khê Thái học Xuân hàn vận)

(Xót thương cho muôn họ đều là đồng bào của ta, Náu thân dưới mái nhà, kìa gia đình ai mọi nét mặt đều rét buốt)

Ở những người trí thức này ngời sáng vẻ đẹp của việc tận tụy lo cho dân, cho nước, họ luôn lo nghĩ và trăn trở cho sự bình yên, no ấm của muôn dân

Dù thời đại Lý - Trần đã đi qua nhưng những trang sử hào hùng, trang thơ đầy tinh thần nhân văn của thời đại đó vẫn còn sống mãi trong lòng người dân bao thế

hệ cũng như cái tâm trong sáng của những vị anh hùng, những thiền sư sẽ như cành mai tươi thắm vĩnh cửu, vượt lên trên mọi sinh diệt để sống mãi với đời

1.4.2 Giai đoạn văn học từ giữa thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XVIII

Nói đến thơ văn thời kì trung đại, chúng ta không thể không nhắc đến tác giả Nguyễn Trãi và nhắc đến Nguyễn Trãi, người ta thường nói nhiều về tấm lòng yêu nước thương dân và lý tưởng nhân nghĩa của ông Nguyễn Trãi là một anh hùng, một nhà văn hóa, một nhà thơ, nhà văn và một nhà chính trị lỗi lạc Nguyễn Trãi có

Trang 34

một vị thế vững chắc trên thi đàn văn học Việt Nam mà tên tuổi của ông đã làm rạng danh cho thơ ca trung đại

Phát huy truyền thống thân dân từ ông ngoại và cha, và bản thân từng trải qua nhiều phen chìm nổi, sống cơ cực cùng với người dân lao động nên Nguyễn Trãi hiểu và cảm thông với nhân dân sâu sắc Điều đặc biệt ở Nguyễn Trãi, tiến bộ hơn rất nhiều những nhà thơ trước và cùng thời với ông, đó là ông nhận thấy sức mạnh

quyết định của quần chúng nhân dân Ông ví dân là nước, có sức mạnh chở thuyền

và lật thuyền, dân là những người làm nên lịch sử: “Mến người có nhân là dân mà chở thuyền, lật thuyền cũng là dân” (Chiếu về việc làm bài “Hậu tự huấn” để răn dạy Thái tử) Tấm lòng yêu nước, thương dân của Nguyễn Trãi không chỉ xuất phát

từ việc ông nhận thấy sức mạnh của nhân dân nên phải ra sức chăm lo để nhân dân được no ấm, hạnh phúc mà còn xuất phát từ tấm lòng yêu thương bao la của một

tâm hồn sáng tựa sao Khuê Đất nước lâm vào cảnh loạn lạc, Nguyễn Trãi hiểu rõ

những thống khổ của muôn dân dưới ách thống trị của giặc nên lý tưởng ông luôn

theo đuổi đó là trừ bạo yên dân Tấm lòng yêu dân, quan điểm thân dân không phải

chỉ đến Nguyễn Trãi mới có Nhưng ở những thế hệ trước ông, quan điểm này còn phiến diện Những người cầm quyền có tài, đức, luôn quan tâm chăm sóc nhân dân, nhưng với tư thế của kẻ bề trên đối với người ở dưới, giống như cha mẹ ra ơn cho con cái, bậc chủ nhân ra ơn cho bề tôi của mình Tập thể nhân dân dưới con mắt của

họ là những người nhỏ bé, yếu đuối, đáng thương xót, đáng được nuôi nấng, vỗ về Nguyễn Trãi thì khác, ông nhận thấy được ở nhân dân có nhiều phẩm chất tốt đẹp

Họ là những con người cần cù lao động, siêng năng chịu khó, trọng tình, trọng nghĩa Sức mạnh đoàn kết từ trong lao động, trong chiến đấu sẽ giúp họ chiến thắng

tất cả, nhất là những thế lực bạo tàn chà đạp lên cuộc sống của họ “Phúc chu thủy

tín dân do thủy (Lật thuyền mới biết sức mạnh của dân như nước – Quan hải)

Ông chú trọng đến gốc của nhạc là ở chỗ “bệ hạ rủ lòng thương yêu chăm sóc

muôn dân, khiến cho khắp thôn cùng xóm vắng không một tiếng hờn giận oán sầu”

Lo lắng cho dân, tâm nguyện một đời của ông là nhìn thấy đất nước được thanh

bình, bốn phương, nhà nhà đều no đủ yên vui “Dân giàu đủ khắp đòi phương” (Báo

kính cảnh giới 43)

Trang 35

Bên cạnh vẻ đẹp của ý thức trách nhiệm luôn nghĩ cho dân và cho nước, nổi bật ở Nguyễn Trãi còn là một con người biết tìm niềm vui sống giữa đời Cuộc sống giữa chốn quan trường với biết bao cám dỗ về lợi danh nhưng Nguyễn Trãi đã không để tâm của mình phải nhuốm bụi trần Ông luôn biết cách làm hài hòa cuộc sống, vui với những cái thiết thân, bình dị chứ không chạy theo những xa hoa phù phiếm Điều đó giúp nhà thơ vượt qua những khó khăn, thử thách, nghịch cảnh để luôn giữ tâm hồn sáng trong, một nhân cách cao thượng Ông tìm niềm vui ở công việc, phục vụ hết mình để đem lại lợi ích cho dân, cho nước Ông vui vì thấy mình

có ích, thấy dân tình được ấm no, hạnh phúc Ông còn tìm niềm vui trong cách sống giản dị mà tự do, phóng khoáng của chính mình Ông hòa mình với thiên nhiên, vui với thiên nhiên:

“Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc Thuyền chở yên hà nặng vạy then”

“Xa hoa lơ đãng nhiều hay hết,

Hà tiện âu đương ít hãy còn

Áo mặc miễn là cho cật ấm, Cơm ăn chẳng lọ kén mùi ngon”

(Dạy con trai)

Trang 36

Cũng không nên để vật chất làm lu mờ lí trí hay cám dỗ thành người bất nghĩa:

“Cơm kẻ bất nhân, ăn ấy chớ

Áo người vô nghĩa, mặc, chăng thà”

Nếu tấm lòng của Nguyễn Trãi cuồn cuộn như nước triều đông, nếu suốt đời

Nguyễn Trãi luôn riêng ôm cái chí lo trước thiên hạ đến nỗi đêm lạnh quàng chăn

ngủ chẳng yên, nếu Nguyễn Trãi thao thức bao đêm lo cho dân cho nước để đến nỗi

tóc bạc ngày càng nhiều thì gần hai thế kỉ sau, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có một nỗi lòng lo nghĩ, ngậm ngùi cho vận mệnh nước nhà Giống như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm chan chứa lòng yêu thương đất nước, nhân dân, trái tim trĩu nặng nỗi đau đời, lo đời Xã hội phong kiến mục ruỗng, nội bộ phân tranh, chiến tranh với những cảnh chém giết lẫn nhau để tranh giành quyền lợi diễn ra khắp nơi, cảnh nhân dân ly tán, đạo đức băng hoại, không còn đủ sức kiềm tỏa con người Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến Nguyễn Bỉnh Khiêm Tiên sinh có nhiều

nỗi niềm trăn trở, suy tư khôn nguôi đến nỗi mái tóc trở nên bạc như tơ:

Bần tiện trùng phùng thử loạn ly, Khu khu ưu quốc mấn thành ti

(Trung tân quán ngụ hứng thập)

(Loạn ly giữa lúc sống hàn vi,

Lo nước khư khư, tóc hóa tơ)

Trang 37

Ông hiểu rõ sức mạnh của nhân dân “từ xưa đến nay, nước lấy dân làm gốc,

được nước nên biết là ở chỗ được lòng dân”, thế mà lâu nay nhân dân phải sống

giữa thời loạn lạc, phải chịu cảnh cơ cực, cay đắng Họ có một nguyện vọng là được yên sống, đất nước thôi không chiến tranh, thôi không có cảnh chém giết để họ có thể dùng sức lao động làm ra của cải nuôi sống bản thân và gia đình Hiểu rõ được lòng dân, Nguyễn Bỉnh Khiêm lên án và phản đối chiến tranh huynh đệ tương tàn

chiến tranh cát cứ vì ông thấy rõ chiến tranh chỉ đem lại cảnh đống xương, biển

máu, cảnh loạn ly, cướp bóc khắp nơi, gieo rắc khổ ải cho bao người dân lương thiện Nguyễn Bỉnh Khiêm thao thức, trăn trở để rồi lòng ông quặn đau:

Bao đêm gối chiếc hai hàng lệ Rộn tiếng chày khuya đập vải đêm

Có người hàng xóm thương tình bảo:

Đến cuối năm này hết chiến chinh (Sầu)

Cũng giống như Nguyễn Trãi “Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược Có nhân, có

trí, có anh hùng” (Báo kính cảnh giới V), bên cạnh việc lên án chiến tranh khắc

nghiệt, Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn đề cao chữ nhân:

Cổ lai nhân giã tư vô địch

Hà tất khu khu sự chiến tranh (Thơ cảm hứng, bài 3)

(Xưa nay, kẻ có nhân là vô địch Sao phải khư khư theo đuổi chiến tranh?) Nỗi đau của Nguyễn Bỉnh Khiêm là ở nhân dân và niềm vui của ông là ở chỗ vui

sau lo trước:

Tất cánh dục cầu ngô lạc xứ Tri ngô hậu lạc tại tiên ưu (Ngụ hứng III)

(Rút cục ai muốn tìm chỗ vui của ta Thì cần biết rằng ta vui sau thiên hạ trong chỗ lo trước thiên hạ)

Trang 38

Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm phản ánh nhiều về thói đời, về thế thái nhân tình của

xã hội lúc bấy giờ Thế kỉ mà ông đang sống là thế kỉ của sự đổ vỡ những lý tưởng nhân nghĩa, đồng tiền lên ngôi cùng với sự tha hóa của toàn xã hội Một thế kỉ loạn lạc, rối ren, các giá trị đạo đức suy đồi, đảo điên Điều này đã đi vào thơ Nguyễn

Bỉnh Khiêm khi ông tổng kết nó như một triết lý: “Không gì hiểm bằng đường

đời… Không gì nguy bằng lòng người” (Trung Tân ngụ hứng) hay:

“Đời này nhân nghĩa tựa vàng mười

Có của thì hơn hết mọi lời

… Người, của lấy cân ta thử nhắc Mới hay rằng của nặng hơn người”

(Thơ Nôm, bài 74)

Tất cả những điều đó chất chứa trong tim ông với một sự trăn trở, suy ngẫm; ông không muốn sống giữa cảnh đô hội mà con người chỉ là nô lệ của đồng tiền, chỉ biết chạy theo danh vọng mà bất chấp đạo lý, giết hại lẫn nhau không bằng gươm đao

mà chỉ bằng ba tấc lưỡi múa may nên với ông:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn người đến chốn lao xao

(Thơ nôm, bài 73)

Dẫu lui về ở ẩn song tâm trí ông chưa một lần rời khỏi chuyện nước, chuyện dân Chọn cuộc sống lánh xa chốn quan trường, cũng là để lánh xa vòng danh lợi chứ

một con người ưu tư vằng vặc, trăng in nước như ông làm sao có thể làm ngơ trước

ba động của thời cuộc:

Lão lai vị ngãi tiên ưu chí, Đắc tang cùng thông khởi ngã ưu”

(Tấm lòng lo trước thiên hạ đến già chưa thôi Cùng thông đắc tang ta có lo chi cho riêng mình)

(Tự thuật, bài 2)

Nguyễn Bỉnh Khiêm phê phán những cái xấu xa, những giá trị đạo đức suy đồi đang xâm hại con người cũng chính là lên tiếng bảo vệ cho những giá trị tốt đẹp

Trang 39

trong con người Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chọn trong lánh đục để giữ gìn nhân phẩm của mình Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm, vẻ đẹp nhân văn còn thể hiện ở ý thức trách nhiệm với nhân dân, tấm lòng luôn lo nghĩ cho dân, cho nước

1.4.3 Giai đoạn văn học từ giữa thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX

Đây là giai đoạn văn học có những phát triển rực rỡ nhất trong văn học dân tộc dưới chế độ phong kiến Văn học nửa cuối thế kỉ XVIII đã thừa hưởng những di sản văn học quý báu của những thế kỉ trước Có nhiều khuynh hướng sáng tác trong văn học giai đoạn này nhưng nổi bật hơn hết đó là khuynh hướng đấu tranh và tố cáo hiện thực

Ở khuynh hướng này, chúng tôi tập trung khắc họa hình tượng người phụ nữ trong các tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, truyện thơ Nôm và khuynh hướng tố cáo hiện thực trong tác phẩm của Cao

Bá Quát để có cái nhìn sâu sắc hơn về nét đẹp nhân văn trong thời kì này

Xã hội Việt Nam trong giai đoạn này có nhiều biến chuyển sâu sắc về kinh tế, chính trị và xã hội Chiến tranh phong kiến liên tục diễn ra, triều đình bắt trai tráng khắp nơi đi chinh chiến, bao gia đình tan tác, vợ vắng chồng, con vắng cha Xã hội phong kiến coi khinh phụ nữ, tước đi cái quyền được sống hạnh phúc của họ Chưa bao giờ số phận của họ lại được đặt ra cấp thiết trong văn học như lúc này Biểu hiện chủ yếu của nét đẹp nhân văn giai đoạn này là tiếng nói đấu tranh cho quyền sống, quyền hạnh phúc cho người phụ nữ Nếu như những giai đoạn trước, hình tượng nữ giới thường ít xuất hiện trong thơ văn thì đến giai đoạn này, họ đã xuất hiện với địa vị nhân vật chính trong hầu hết các tác phẩm văn học

Nhiều tác giả đã viết rất hay về người phụ nữ như Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du… Người phụ nữ không còn là những bóng hình mờ nhạt trong văn học mà họ đã đi vào thơ văn một cách đậm nét với những vẻ đẹp về ngoại hình, nhân phẩm và tài năng

Nguyễn Gia Thiều lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để ca ngợi vẻ đẹp của nàng cung nữ:

Trộm nhớ thuở gây hình tạo hóa

Trang 40

Vẻ phù dung một đóa vẻ hoa tươi Chồi thược dược mơ màng thụy vũ Đóa hải đường thức ngủ xuân tiêu”

(Cung oán ngâm)

Cũng là những hình ảnh ước lệ, cũng là cách miêu tả so sánh vẻ đẹp con người với thiên nhiên nhưng Kiều của Nguyễn Du vẫn có vẻ đẹp riêng không lẫn với ai:

Làn thu thủy nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” (Truyện Kiều)

Để tôn vinh, ca ngợi vẻ đẹp hoàn mỹ của người phụ nữ, Hồ Xuân Hương mạnh dạn đưa vào thơ mình bức truyền thần khỏa thân của những người thiếu nữ:

Lược trúc biếng cài trên mái tóc, Yếm đào trễ xuống dưới nương long Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông

(Thiếu nữ ngủ ngày)

Theo quan điểm chính thống của mỹ học sáng tác phong kiến, khi mô tả vẻ đẹp của người phụ nữ thì vẻ đẹp đó chỉ được thể hiện ở áo quần, khuôn mặt, không bao giờ được thể hiện ở đường nét cơ thể, da thịt Nếu người phụ nữ bày da thịt là tục,

để lộ da thịt là tội lỗi Quan điểm này ảnh hưởng sâu sắc đến văn chương Vì thế, trong văn học, người ta chú ý đến cái đẹp đạo đức mà quên đi vẻ đẹp thân xác – ngoại hình Nhưng đến Hồ Xuân Hương, nữ sĩ đã dùng tài thơ của mình để giải thoát vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ ra khỏi vòng cương tỏa của đạo đức phong kiến để tôn vinh và nâng vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ

Các nhân vật nữ trong truyện thơ Nôm cũng xinh đẹp không kém: Ngọc Hoa trong Phạm Tải – Ngọc Hoa: “Má đào mặt ngọc tóc mây rà rà” và công chúa con

vua Bảo Vương (truyện Lí Công):

Tuổi xuân vừa mới lên mười Hây hây ngọc đúc tựa người thần tiên”

Ngày đăng: 02/12/2015, 08:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w