Một số nhà nghiên cứu có đề cập đến những khía cạnh nhất định như Lê Trí Viễn, Lê Thu Yến, Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, Nguyễn Thị Huyền Thương… Trong công trình Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHAN CÔNG KHANH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ Ngữ văn, chuyên ngành Văn học Việt Nam Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình - nguồn sức mạnh to lớn, giúp tôi đi hết chặng đường vừa qua
Tôi cũng xin được cảm ơn các Thầy, Cô khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã dạy dỗ, dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập
Xin được bày tỏ lời tri ân đến Cô Lê Thu Yến - người đã mang lại cho tôi nguồn cảm hứng và tình yêu thơ chữ Hán Nguyễn Du, đồng thời cũng là người gợi
ý tôi đến với đề tài này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy Phan Công Khanh, người đã luôn tận tình chỉ bảo, dạy dỗ định hướng nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng, xin cảm ơn BGH Trường THCS – THPT Ngôi Sao, tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ, tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề 7
3 Mục đích nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14
1.1 Nguyễn Du và thơ chữ Hán của Nguyễn Du 14
1.1.1 Nguyễn Du 14
1.1.1.1 Thời đại 14
1.1.1.2 Thân thế và cuộc đời Nguyễn Du 16
1.1.2 Thơ chữ Hán của Nguyễn Du 20
1.2.Thiên nhiên trong thơ trung đại 29
1.2.1 Thiên nhiên trong thơ thiền thời Lý – Trần ( thế kỷ X- XIV) 31
1.2.2 Thiên nhiên trong thơ thời Lê (thế kỷ XV) 34
1.2.3 Thiên nhiên trong thơ từ thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII 37
1.2.4 Thiên nhiên trong thơ từ nửa sau thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX 40
CHƯƠNG 2 : TỪ CẢM THỨC THIÊN NHIÊN ĐẾN TÂM SỰ VÀ TRIẾT LÝ VỀ CUỘC ĐỜI CỦA NGUYỄN DU 43
2.1 Cảm thức thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du 43
2.1.1 Thiên nhiên mang màu sắc đạm bạc, tĩnh lặng 46
2.1.2 Thiên nhiên gần gũi, hiền hòa 53
2.1.3 Thiên nhiên dữ dội, nguy hiểm 60
2.2 Thiên nhiên và tâm trạng của Nguyễn Du 66
2.2.1 Thiên nhiên và tâm trạng u buồn 67
2.2.3 Thiên nhiên và tâm trạng cô đơn 73
2.2.4 Thiên nhiên và tâm trạng băn khoăn, trăn trở, day dứt 82
2.3 Thiên nhiên và triết lí về cuộc đời của Nguyễn Du 90
Trang 5CHƯƠNG 3 : NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ THIÊN NHIÊNTRONG THƠ CHỮ HÁN
NGUYỄN DU 97
3.1 Hình ảnh 97
3.1.1 Hình ảnh ước lệ, tượng trưng 97
3.1.2 Hình ảnh gần gũi, giản dị, mộc mạc 103
3.2.Giọng điệu 108
3.3 Bút pháp 119
3.3.1 Miêu tả chân thực 119
3.3.2 Tả cảnh ngụ tình 125
KẾT LUẬN 132
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
PHỤ LỤC 139
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nhắc đến Nguyễn Du – đại thi hào của dân tộc, nhiều người chỉ nhớ đến
Truyện Kiều mà quên rằng thơ chữ Hán cũng là một công trình có giá trị to lớn
Chúng ta sẽ thật sự thiếu sót nếu chỉ nói đến Truyện Kiều như một đỉnh cao chói lọi
mà quên dành cho thơ chữ Hán một sự quan tâm và vị trí xứng đáng Thơ chữ Hán
của Nguyễn Du, theo giáo sư Mai Quốc Liên “là những áng văn chương nghệ thuật
một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa” (Lời nói đầu, Nguyễn Du toàn tập, Tập 1, Nxb Văn học, 1996)
Chữ Hán là loại chữ tượng hình, bản thân nó mang những kí hiệu tượng trưng, gợi nghĩa Mỗi bài thơ chữ Hán là một không gian mang tính hội họa và gợi
mở về thế giới hiện thực – thế giới cảm xúc Chính vì vậy mà thơ chữ Hán khó đến với người đọc, mặc dù với Nguyễn Du, đây thật sự là quyển nhật kí về cuộc đời cũng như bản thân ông Những tư tưởng, tình cảm, trăn trở và day dứt trong tâm hồn được thi nhân bộc lộ rõ trong 3 tập thơ chữ Hán
1.2 Để tìm hiểu giá trị thơ chữ Hán, mỗi người có thể chọn cho mình một phương diện, một khía cạnh nào đó Có người nghiên cứu giọng điệu nghệ thuật, có người tìm hiểu vấn đề tâm linh trong thơ chữ Hán, một số khác muốn khám phá về những nổi niềm trắc ẩn của Nguyễn Du thể hiện trong thơ hay con đường hoạn lộ
mà ông đã trải qua Chúng tôi chọn thiên nhiên làm đối tượng nghiên cứu của mình
Từ xưa, trong cái nhìn của con người, thiên nhiên là cả nguồn sống vô cùng phong phú Đến với thiên nhiên, vô vàn cảnh đẹp hiện ra Đó là nguồn chất liệu quý
trong sáng tạo nghệ thuật, mà văn học không phải là một ngoại lệ
Con người sáng tác văn học, cảm thụ vẻ đẹp của thiên nhiên trước tiên bằng các giác quan của mình Sau đó, qua hệ thống ngôn ngữ và bằng cách sử dụng ngôn ngữ, họ sẽ trau chuốt, tô vẽ lại bức tranh thiên nhiên và đưa vào tác phẩm của mình Thiên nhiên hiện ra trong văn học bằng chính cái vốn có của nó như màu sắc, âm
Trang 7thanh, hương vị, dáng vẻ… nhưng ẩn sau chất hiện thực ấy, thiên nhiên còn là
“trung tâm phát sóng” của tâm hồn
Việc phát hiện ra những vẻ đẹp, những mực thước, khuôn mẫu và quy cách trong các hiện tượng thiên nhiên là cả một quá trình tìm tòi, nghiên cứu, hoạt động tích cực, đòi hỏi người ta phải làm bằng cả con tim và khối óc, cả tình cảm và trí tuệ Như vậy, thiên nhiên gắn chặt với văn học, không thể hình dung văn học sẽ thế nào nếu thiếu vắng thiên nhiên Xin lấy văn học Việt Nam như một minh chứng Thiên nhiên có mặt khắp mọi nơi trong văn học nước ta, từ văn học truyền miệng cho đến văn học viết
Thần thoại cắt nghĩa thiên nhiên vô cùng ngộ ngĩnh: thần trụ trời móc đất đá xây trụ đội trời lên, rồi bỗng dưng vứt chúng tung tóe trên mặt đất để thành núi,
thành gò và chỗ bị móc lại thành hồ thành sông… Cổ tích Trầu cau tìm thấy tình
cảm anh em, vợ chồng tượng trưng trong đá vôi, dây trầu và cây cau Tục ngữ lại càng ẩn chứa những bài học muôn đời bằng hình ảnh thiên nhiên:“Mau sao thì
nắng, vắng sao thì mưa”; “Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng giật bão”
Còn trong văn học viết thì bức tranh thiên nhiên hiện ra vô cùng phong phú,
và đa dạng Lần giở lại các tập thơ của những nhà thơ thiền thời Lý – Trần, thiên nhiên hiện diện trên khắp trang thơ Đến với Nguyễn Trãi, ta không thể quên hình ảnh mưa thu rơi nhẹ trên khóm trúc, đầu nhà ai làn gió xuân mát nhẹ thổi ngang bình dị, thanh tao mang theo hương lan thoang thoảng:
Mưa thu tưới ba đường cúc Gió xuân đưa một lãnh lan
(Ngôn chí, 16)
Văn học cổ điển đã vậy, văn học lãng mạn cũng đắm mình trong thiên nhiên Trách móc vu vơ thật ra là mời mọc về chơi thôn Vĩ, nơi có cảnh đẹp mà người cũng nên thơ:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Trang 8Lá trúc che ngang mặt chữ điền
(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử)
Văn học cách mạng, hướng tới lí tưởng chiến đấu giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống độc lập, tự do cho đất nước, tưởng ít gặp gỡ thiên nhiên, thực ra không phải vậy Có lúc người ta nghĩ rằng làm cách mạng thì không còn biết yêu trăng hay yêu sự yên tĩnh của một dòng sông Nhưng trong kháng chiến gian lao, người ta vẫn không quên dành tình cảm cho những vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên
Hồ Chí Minh đã từng vẽ nên một khung cảnh thật đẹp, nơi đó có con thuyền về giữa đêm trăng sáng của mùa xuân:
Rằm xuân lồng lộng trăng soi Sông xuân nước lẫn màu trời đêm xuân Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền
(Rằm tháng Giêng – Hồ Chí Minh)
Đi qua mọi thời đại, thiên nhiên vẫn luôn là một thứ nam châm có sức hút vô cùng mạnh mẽ đối với tâm hồn nhạy cảm của các thi nhân Nguyễn Du – đại thi hào dân tộc – cũng không nằm ngoài quy luật thẫm mỹ ấy
Đến với đề tài “Thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du”, người viết biết
rằng đây không phải là một công việc dễ dàng Chúng tôi đến với đề tài này từ sự trân trọng, cảm mến tài năng của Nguyễn Du, từ lòng yêu thích của bản thân đối với thơ ca Nguyễn Du và đặc biệt là ba tập thơ chữ Hán của thi nhân Tuy nhiên, công việc này chỉ có lòng yêu thích và sự say mê thôi thì chưa đủ Bởi thiên nhiên trong 3 tập thơ không chỉ đơn thuần là bức tranh phong cảnh của thế giới khách quan mà đằng sau nó chứa đựng biết bao tâm sự, day dứt, trăn trở và băn khoăn của thi nhân,
để hiểu được tất cả những điều đó không phải đơn giản, đây chính là thách thức đối với người nghiên cứu
Với trình độ và đặc biệt là vốn kiến thức về chữ Hán có hạn, chúng tôi đến với đề tài này bằng tinh thần học hỏi, mong muốn thử sức mình để góp một phần nhỏ bé trong quá trình tìm hiểu về giá trị thơ chữ Hán Nguyễn Du
Trang 9Trên đây là những lý do chúng tôi chọn đề tài Thiên nhiên trong thơ chữ Hán
Nguyễn Du
2 Lịch sử vấn đề
Trong nền văn học dân tộc, Nguyễn Du là nhà thơ hàng đầu có nhiều đóng góp to lớn Cho nên, đã có rất nhiều người nghiên cứu về sáng tác của ông Tuy nhiên, theo sự tìm hiểu của chúng tôi thì do mục đích của các công trình chi phối nên vẫn chưa có một nghiên cứu nào chuyên biệt nào đi sâu vào tìm hiểu về thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Một số nhà nghiên cứu có đề cập đến những khía cạnh nhất định như Lê Trí Viễn, Lê Thu Yến, Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, Nguyễn Thị Huyền Thương…
Trong công trình Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du (Lê Thu Yến, Nxb Thanh niên, 1997) khi viết về không gian nghệ thuật tác giả có đề cập đến
một số khía cạnh thiên nhiên Trên bình diện không gian nhỏ hẹp, tác giả nhắc đến
vẻ lạnh lùng, vô tình của thiên nhiên với thi nhân Con người luôn khát khao được nhìn thấy vẻ tươi sáng rạng ngời của trăng, của ngày xuân nhưng phần nhận được chỉ là bóng cây xanh trùng điệp và đầy âm u Nguyễn Du yêu mùa xuân nhưng nó không thuộc về ông, thiên nhiên và thi nhân dường như có một khoảng cách rất xa, xung quanh căn nhà của thi nhân bao phủ một màu xanh của sắc núi, sắc xanh âm u không chút ánh sáng; ngoài cửa có hoa cúc vàng tươi những tưởng sẽ ăn được
nhưng thực tế không phải vậy…
Trong bình diện không gian rộng lớn, tác giả có chỉ ra tất cả những địa điểm
mà Nguyễn Du đi qua, đường ra phía Nam, đường lên phía Bắc và trên hành trình của con người không nơi nào mà không có hình ảnh của thiên nhiên Tuy nhiên, thiên nhiên không phải là người bạn thân tình, sẻ chia mà ngược lại đó là sự mù mịt, tối tăm của gió, bụi, cát, đất, sắc đêm, khí trời, bóng mây, sương khói và đặc biệt nhất là cái lạnh Lê Thu Yến đã thống kê có đến 47 lần Nguyễn Du nhắc đến cái lạnh để thấy được thiên nhiên khắc nghiệt như thế nào và chính nó đã làm cho con người vốn đã cô đơn càng thêm chạnh lòng… Thiên nhiên như nhấn chìm tất cả những gì tươi đẹp nhất
Trang 10Qua bài viết tác giả còn khẳng định, Nguyễn Du không hòa mình với thiên nhiên mà xem đó như là đối tượng để khám phá, để ngắm nhìn; ông từ chối hòa nhập với thiên nhiên Điều này cho thấy thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
có nhiều điểm khác biệt với thiên nhiên trong thơ ca trung đại
Trong bài viết “Thơ thu Nguyễn Du” (Kỷ yếu khoa học 1998, Khoa ngữ văn,
Đại học sư phạm TPHCM), Lê Thu Yến đã tìm hiểu về hình ảnh thu trong 3 tập thơ
chữ Hán của Nguyễn Du Người viết nhìn nhận mùa thu từ nhiều góc độ khác nhau
và cho rằng mùa thu và thi nhân có sự đồng điệu Tác giả phân tích vẻ đẹp của mùa thu thông qua hai hình ảnh hoa cúc và rừng phong Không chỉ nhìn vẻ đẹp của mùa thu mà người viết còn nhìn thấy cái xơ xác tàn tạ, thê lương của mùa thu qua hình ảnh gió thu và cỏ thu Với Nguyễn Du, thu biểu trưng cho sự mất mát, buồn đau Cuối cùng, mùa thu và thi nhân vẫn song hành, đôi khi có chỗ gặp nhau nhưng vẫn không thể hòa hợp
Lê Trí Viễn với bài viết “Thơ xuân Nguyễn Du” (Một đời dạy văn, viết văn,
Tập 2,, Nxb Giáo dục, 2010) cũng đã thống kê được 12 bài thơ viết về mùa xuân
trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và cũng khẳng định, xuân trong thơ chữ Hán Nguyễn
Du thưa thớt và đượm buồn Qua việc khái quát nội dung chính của một số bài thơ
như Quỳnh Hải nguyên tiêu, Xuân nhật ngẫu hứng, Thanh Minh ngẫu hứng , Xuân
dạ, Mộ xuân mạn hứng vv…, tác giả nhận xét xuân trong thơ Nguyễn Du chỉ toàn là
xuân đêm, xuân muộn, xuân xa nhà, xuân nhớ thương Tất cả những bài thơ về xuân
có nội dung hầu như không thay đổi: nỗi buồn xa nhà, anh em chia lìa, bản thân cô đơn, nghèo túng, mỗi ngày một già đi, hùng tâm tráng chí nguội lạnh theo năm tháng Nói tóm lại, xuân là ngày vui mà thơ xuân Nguyễn Du luôn mang đến cho người đọc nỗi buồn man mác không nguôi
Nguyễn Phúc Vĩnh Ba trong “Xuân tha hương trong thơ chữ Hán của đại thi
hào Nguyễn Du” (Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, http://vietsciences.free.frr, 10/2008) cũng
đề cập đến một khía cạnh nhỏ về thiên nhiên, đó là hình ảnh mùa xuân Người viết
thống kê trong 249 bài thơ chữ Hán qua ba tập thơ Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam
trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục, Nguyễn Du đã dùng tới 40 từ “xuân” đi cùng
Trang 11với các từ hàn, bệnh, vũ , gợi nên một trường cảm xúc khá bi đát Trong 4 bài thơ
được đặt nhan đề có từ xuân (Xuân nhật ngẫu hứng, Xuân dạ, Xuân tiêu lữ thứ, Mộ
xuân mạn hứng), Nguyễn Du đều bày tỏ một nỗi buồn sâu lắng, âm ỉ khi phiêu bạc
ở đất khách quê người
Nguyễn Thị Huyền Thương với luận văn thạc sĩ “Con người nhân văn trong
tiến trình văn học trung đại qua thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du” (2010, Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh) cũng đề cập đến thiên nhiên trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du Trong công trình này, người viết nhận định thiên nhiên trong thơ Nguyễn Du bao giờ cũng giữ vai trò làm nền để thi nhân bộc
lộ nỗi lòng Tâm trạng thường thấy của Nguyễn Du chính là nỗi buồn Dưới con mắt của thi nhân cảnh vật nào cũng đượm buồn: ánh trăng, mùa thu Ngay cả mùa xuân cũng không có được chút gì đó tươi sáng
Từ đó tác giả kết luận: Nguyễn Du đến với thiên nhiên không giống như một
số nhà thơ trung đại khác Nếu như Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về thiên nhiên như một môi trường để di dưỡng tinh thần, giữa người và cảnh có mối giao hòa đến khăng khít, thì với Nguyễn Du, thiên nhiên là môi trường để con người suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời và bản thân, cho nên thiên nhiên thường hiện lên trong buồn bã, chật hẹp, u tịch như chính cõi lòng của thi nhân
Cuối cùng là bài viết “Thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du” (Tạp chí
nghiên cứu văn học số 5, 2010) cũng của tác giả Lê Thu Yến – tuy đây là bài viết
ngắn gọn, cô đọng nhưng có sức khái quát về thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
Trong bài viết, tác giả nhận định:“Thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn
Du đầy thi vị, sinh động và gợi tình” Khi được Nguyễn Du đưa vào thơ, thiên nhiên
vẫn giữ được đặc điểm vốn có, đó là nét ban sơ, hoang dã và tồn tại một cách độc lập Tuy nhiên ngoài việc phản ánh thế giới khách quan, thiên nhiên vẫn mang nét nhân tính phản ánh tâm trạng con người Lê Thu Yến cũng khẳng định thiên nhiên
có hai mặt hiền hòa, tươi đẹp – lạnh lùng, tàn nhẫn và dữ dội Điều này được thể hiện cụ thể bằng nhiều hình ảnh khác nhau: mùa xuân, mùa thu, vầng trăng, núi
Trang 12non, dòng sông… Trong bài viết, tác giả cũng chỉ ra sự khác biệt khi miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du so với các nhà thơ trung đại khác như Cao Bá Quát hay Không Lộ thiền sư, và nhà thơ Lý Bạch của Trung Quốc Nét khác nhau căn bản nhất là nếu như các nhà thơ khác luôn hòa mình vào thiên nhiên, được thiên nhiên lắng nghe, thông cảm và sẻ chia thì ở Nguyễn Du, thiên nhiên luôn vô tình và lạnh lùng, cả hai song hành nhưng chưa bao giờ hòa hợp làm một Chính điều này đã làm nên sự khác biệt giữa thơ Nguyễn Du với thơ trung đại nói chung Ông đã biết kế thừa và phát triển cách miêu tả thiên nhiên của thế hệ trước tạo nên nét đặc trưng riêng của mình
Từ ý kiến của các nhà nghiên cứu trên, chúng tôi có thể rút ra một vài nhận xét như sau:
Thứ nhất, thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du rất sinh động Ông đã
thâu tóm vào thơ của mình mọi biểu hiện của thiên nhiên: cảnh vật khi xuân về, khi thu sang, một áng mây, một buổi chiều, một ngọn gió… đều được Nguyễn Du quan sát và cảm nhận thật tinh tế
Thứ hai, bức tranh thiên nhiên được Nguyễn Du cảm nhận ở hai mặt đối lập
Ông phát hiện ra vẻ đẹp vô cùng xinh tươi, lung linh và duyên dáng của thiên nhiên Ngoài vẻ đẹp vốn có, thiên nhiên tồn tại một cách khách quan và độc lập Trong cái nhìn của Nguyễn Du, thiên nhiên cũng dữ dội, nguy hiểm và đáng sợ
Thứ ba, thiên nhiên trong thơ cụ Nguyễn đẹp nhưng buồn Điều này có lẽ bắt
nguồn từ cái nhìn chủ quan của tác giả Bản thân thi nhân là một con người mang nhiều ưu tư, day dứt và trăn trở với cuộc đời Với ông, cuộc đời là chuỗi dài đằng đẵng những tháng ngày cô đơn, bệnh tật, đói rét, tha hương … Tất cả như thấm vào trong thơ Bởi thế đọc thơ Nguyễn Du lúc nào cũng thấy nỗi buồn man mác hiện hữu
Chúng tôi cho rằng những nhận xét, đánh giá trên đây là khá thú vị và thuyết phục Tuy nhiên, do đặc điểm, mục đích và tính chất riêng của các công trình nên ý kiến của các nhà nghiên cứu chỉ dừng lại ở một vài nhận xét chung chung mang tính khái quát hoặc một vài khía cạnh nhỏ hẹp của vấn đề
Trang 13Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào tìm hiểu vấn đề mà chúng tôi đặt ra trong luận văn Đối với chúng tôi, tất cả ý kiến trên đều có ý nghĩa trong việc tham khảo để lựa chọn đề tài Tuy vậy, người viết luận văn cũng có mục đích riêng Chúng tôi xem xét thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du trên nhiều phương diện như: cảm thức của Nguyễn Du về thiên nhiên, thiên nhiên và tâm sự của Nguyễn Du, thiên nhiên và triết lí về cuộc đời của Nguyễn Du, Ngoài ra, chúng tôi cũng quan tâm đến phương diện nghệ thuật khi miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du
3 Mục đích nghiên cứu
Ở đề tài này, mục đích của người viết là đi vào tìm hiểu bức tranh phong cảnh và nỗi niềm tâm sự của tác giả được gửi gắm qua những hình ảnh thiên nhiên trong thơ chữ Hán Bên cạnh đó chúng tôi có so sánh với thiên nhiên trong thơ của một số tác giả trung đại để thấy được những điểm giống và khác của Nguyễn Du khi viết về đề tài này Cuối cùng, chúng tôi nghiên cứu nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong thơ Nguyễn Du trên ba bình diện: hình ảnh, bút pháp và nghệ thuật sử dụng từ ngữ; qua đó, chỉ ra được những điểm kế thừa và phát triển của Nguyễn Du trong cách miêu tả thiên nhiên so với các tác giả trung đại, từ đó góp phần tôn vinh giá trị thơ chữ Hán và hiểu thêm về thế giới tâm hồn và tài năng của đại thi hào Nguyễn Du
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát: Đối tượng mà đề tài khảo sát là các bài thơ có trong ba
tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du gồm: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và
Bắc hành tạp lục (Nxb Quốc học)
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng so sánh thơ thiên nhiên của một số tác giả có nội dung liên quan để thấy được điểm tương đồng và dị biệt trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
Phạm vi khảo sát, nghiên cứu: đề tài chú trọng khảo sát 175 bài thơ chữ Hán
có hình ảnh thiên nhiên Từ đó phân tích, bình luận và đưa ra một số đánh giá, nhận xét về cách miêu tả thiên nhiên của đại thi hào Nguyễn Du
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài một cách khoa học và hợp logic, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp:
Phương pháp phân tích – tổng hợp: được sử dụng với tư cách là phương
pháp chủ yếu để nghiên cứu đặc điểm thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
và rút ra các kết luận Phương pháp này được vận dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận văn với ý nghĩa chủ đạo trong quá trình lựa chọn cũng như phân tích, bình giá
vấn đề
Phương pháp lịch sử - cụ thể: bất cứ loại hình nghệ thuật nào cũng xuất phát
từ thực tế cuộc sống Điều này đã được nói rõ trong phản ánh luận của chủ nghĩa Mác–Lênin Các sáng tác của Nguyễn Du cũng có cội rễ từ hiện thực lịch sử và đặc trưng thời đại của Nguyễn Du Đây là phương pháp được sử dụng để tìm hiểu sự
chi phối của thời đại, hoàn cảnh đối với Nguyễn Du và thơ ca của ông
Phương pháp so sánh – chiếu đối : dùng để làm rõ đặc điểm của đối tượng
nghiên cứu trong mối tương quan với một số hiện tượng văn học khác Cụ thể trong luận văn này, chúng tôi có so sánh thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du với thiên nhiên của các nhà thơ trung đại như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Khuyến… để thấy được những điểm kế thừa và phát triển khi viết về thiên
nhiên của Nguyễn Du
Phương pháp thống kê: được sử dụng như một phương pháp bổ trợ để làm
tăng sức thuyết phục cho những kết luận rút ra sau khi nghiên cứu
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm có
3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
1.1 Nguyễn Du và thơ chữ Hán 1.2 Thiên nhiên trong thơ trung đại Chương 2: Từ cảm thức thiên nhiên đến tâm trạng và triết lý về cuộc đời của
Nguyễn Du
Trang 152.1 Cảm thức thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du 2.2 Thiên nhiên và tâm trạng của Nguyễn Du
2.3 Thiên nhiên và triết lí về cuộc đời của Nguyễn Du Chương 3: Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
3.1 Hình ảnh 3.2 Giọng điệu
3.3 Bút pháp
Trang 16C hương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Nguyễn Du và thơ chữ Hán của Nguyễn Du
1.1.1 Nguyễn Du
1.1.1.1 Thời đại
Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong một thời đại vô cùng rối ren của xã hội
Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, một thời kì bão táp trong lịch sử dân tộc với những thay đổi khôn lường Bức tranh toàn cảnh phong kiến thời Lê mạt–Nguyễn sơ đầy rẫy những biến động, chế độ phong kiến tập quyền ngày càng lộ rõ nhiều ung nhọt Đặc điểm nổi bật của lịch sử nước ta thời kì này là chế độ phong kiến bước vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, không có lối thoát Chiến tranh giữa các phe phái không khác nào một nạn dịch lớn Tiêu biểu là cuộc đối đầu giữa họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong kéo dài hơn hai thế kỷ
Khủng hoảng bắt đầu từ Đàng Ngoài rồi lan rộng ra cả nước Chiến tranh kéo dài khiến cuộc sống của người dân lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn: mất mùa, tô thuế nặng nề, đói kém xảy ra liên tiếp Làng xóm trở nên tiêu điều, người nông dân phải tha phương cầu thực khắp nơi
Đàng Ngoài hình thành cơ chế “Vua Lê chúa Trịnh” Vua chúa thường lo việc ăn chơi hơn là việc trị nước Có thể nói chính quyền phong kiến giai đoạn này,
từ trung ương đến địa phương đều thối nát, tệ tham nhũng và hối lộ ngày càng trầm trọng
Ở Đàng Trong, những mâu thuẫn vốn có của chế độ phong kiến dần trở nên
gay gắt Từ giữa thế kỷ XVIII, Đàng Trong bắt đầu rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, tổ chức lại bộ máy nhà nước Các gia đình quan lại, quý tộc cũng đua nhau xây dựng dinh thự, đua nhau chơi bời xa xỉ Chính trị thối nát, nhân dân lầm than
Xã hội phong kiến Việt Nam đã đi vào con đường tự sụp đổ không thể cứu vãn Giai cấp thống trị ngày càng tự đào hố chôn mình, giai cấp bị trị rơi vào cảnh
Trang 17bần cùng, khốn khổ Trước tình hình đó, mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt Người dân không chịu đựng cuộc sống như cũ Mọi tầng lớp nhân dân đều mong muốn thay đổi hoàn cảnh hiện tại Họ chỉ có một con đường duy nhất là nổi dậy chống chính quyền phong kiến đòi hỏi những quyền lợi chính đáng cho bản thân
Các phong trào khởi nghĩa nông dân chống triều đình phong kiến bùng nổ mạnh mẽ và dữ dội Ở Đàng Ngoài, từ cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII, nông dân nhiều nơi đã nổi dậy cướp phá nhà giàu Có thể kể đến các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất…Cuộc chiến đấu quyết liệt của những người nông dân tuy chưa được thắng lợi nhưng đã là hồi chuông báo động cho chế độ phong kiến nước ta lúc bấy giờ
Ở Đàng Trong, chế độ phong kiến bước vào giai đoạn suy tàn, chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại làm rung chuyển cả nước Cuộc khởi nghĩa bùng lên từ đất Tây Sơn, do ba anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ
lãnh đạo Sau nhiều năm, quân Tây Sơn đã hoàn thành sự nghiệp: đánh đổ ba tập đoàn phong kiến thống trị Lê – Trịnh – Nguyễn , làm chủ đất nước
Thời đại Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh xây dựng triều Nguyễn Dưới sự thống trị nhà Nguyễn, khởi nghĩa nông dân cũng nổ ra liên tục Phong trào nông dân khởi nghĩa giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX không những đã làm cho giai cấp thống trị khiếp sợ mà còn làm cho hệ tư tưởng chính thống của giai cấp phong kiến bị khủng hoảng và sụp đổ
Tóm lại, thời đại của Nguyễn Du diễn ra giằng co quyết liệt giữa nhiều xu thế chính trị khác nhau Trong đời sống tư tưởng xã hội, từng mảng nhỏ của hệ thống tư tưởng phong kiến có nguy cơ bị lật đổ đến tận gốc rễ Chiến thắng hiển hách của phong trào nông dân, rồi sự trả thù của nhiều thế lực phản động, sức vang dội của những đòi hỏi về công lí…tất cả khiến cho không khí thời đại càng trở nên phức tạp Như vậy, những biến động của xã hội phong kiến thời đại Nguyễn Du là bằng chứng cho một cuộc khủng hoảng trầm trọng không chỉ ở bề mặt mà ở cả chiều sâu
Trang 181.1.1.2 Thân thế và cuộc đời Nguyễn Du
Nguyễn Du sinh năm 1765 tại phường Bích Câu (Thăng Long); quê quán Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
Quê hương Tiên Điền của Nguyễn Du nổi tiếng khắp cả nước vì có nhiều người đỗ đạt cao Đặc biệt dòng họ Nguyễn của ông được coi là dòng họ vinh hiển nhất Có rất nhiều người làm quan to, tiêu biểu là Nguyễn Nghiễm cha Nguyễn Du làm đến chức Đại tư đồ, tước Xuân Quận Công Chính vì lẽ đó mà dân gian vùng Tiên Điền có câu hát:
Chừng nào ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước họ này hết quan
Mười năm đầu của cuộc đời Nguyễn Du trôi qua êm đềm và có phần tẻ nhạt trong dinh cơ của cha tọa lạc ở phía nam hoàng thành Thăng Long, ven dòng Bích Câu trong vắt chảy ra hồ Kim Âu, mùa hè ngát hương sen Cảnh ở đây có lẽ đẹp nhất đế đô thời kì ấy Hồn thơ Nguyễn Du đã được nảy nở và nuôi dưỡng chính tại nơi đây, trong không khí và nếp sống của một gia đình Nho học, có truyền thống văn chương và mấy đời làm quan to
Nguyễn Nghiễm, thân phụ Nguyễn Du, là người có tài, ông đỗ tiến sĩ năm
24 tuổi và sau đó lập được nhiều công trạng, năm 1761 được thăng Đô ngự sử, sau
đó thăng thượng thư bộ công, tương đương với chức tể tướng Năm 1764 ông được thăng hàm thiếu phó Năm 1767, Trịnh Sâm lên cầm quyền, ông được thăng làm Thái tử thiếu bảo, tước Xuân Quận Công
Nguyễn Du ra đời khi gia đình đang hết sức thịnh vượng, giàu sang tột bậc Năm ấy, Nguyễn Nghiễm đang làm tể tướng trong phủ, hai năm sau được thăng Thái tử thiếu bảo Trong kí ức của Nguyễn Du vẫn còn lưu lại sự kiện cụ thân sinh vinh quy về làng Năm Tân Mão 1771, Nguyễn Nghiễm 64 tuổi, xin về hưu Chúa đặc cách thăng chức Đại tư đồ và chuẩn cho vinh quy về làng Cả nhà cùng về theo, được dự một cuộc tiếp rước long trọng từ bến Giang Đình về dinh thự ở Tiên Điền
Không chỉ công thành danh toại, gia đình Nguyễn Du còn có truyền thống
văn chương Theo cuốn “Nguyễn Du, tác phẩm và lịch sử văn bản” của Nguyễn
Trang 19Thạch Giang và Trương Chính thì dòng họ Nguyễn Tiên Điền người nào cũng thơ
hay Nguyễn Nghiễm có hai tập thơ “Quân trung liên vận” và “Xuân đình tạp
ngâm”
Nguyễn Khản anh trai Nguyễn Du không có tập thơ riêng nào Tuy nhiên,
thơ ông được chép trong “Nguyễn Gia Phong vận tập” Ông là một trong những người dịch Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn Năm 1780 xảy ra vụ “Mật án
Canh Tý” Trịnh Sâm lập Cán thay Tông làm thái tử Nguyễn Khản giúp Trịnh Tông nhưng việc bị lộ, Khản bị bắt giam Khi bị bắt giam, ông có làm một bài thơ
tự tình bằng quốc âm Trịnh Sâm xem xong cảm động tha tội cho ông
Hai người cháu gọi Nguyễn Du bằng chú, nhưng tuổi xấp xỉ là Nguyễn Thiện và Nguyễn Hành thường cùng nhà thơ ngâm vịnh Hai người con gái của Nguyễn Khản là Nguyễn Thị Bành và Nguyễn Thị Đài đều giỏi thơ quốc âm
Ngoài ra, Nguyễn Du có điều kiện học và đọc rất nhiều sách thánh hiền từ
bé, được tiếp xúc với những làn điệu dân ca quan họ, những truyền thuyết thần kì của dân tộc thông qua người mẹ rất mực dịu hiền xứ Kinh Bắc, một xứ sở nổi tiếng
về nếp sống giàu có và lịch lãm Nhưng tuổi thơ tươi đẹp ấy không kéo dài được bao lâu Năm Nguyễn Du tròn 10 tuổi đã có biến cố lớn xảy ra: Nguyễn Trụ, anh cùng mẹ với Nguyễn Du mắc bệnh mất ở Kinh giữa tuổi 18, tiếp đến Nguyễn Nghiễm cũng qua đời Hai cái tang như cảnh cửa khép lại thời vàng son của gia đình họ Nguyễn và cũng kết thúc luôn thời thơ ấu ấm êm của ông Sau này, trải qua hơn 20 năm lưu lạc, trở về dưới chân núi Hồng, nhà thơ không khỏi nhớ lại cảnh huy hoàng ngày ấy và ghi lại trong bài Giang Đình hữu cảm :
Ức tích ngô ông tạ lão thì Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi Tiên chu kích thủy thần long đấu, Bảo cái phù không thụy hạc phi, Nhất tự y thường vô mịch xứ, Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi
Bách niên đa thiểu thương tâm sự,
Trang 20Cận nhật Trường An đại dĩ phi
(Nhớ xưa khi cha ta từ tạ vì già mà về hưu,
Ở bến sông này phơi phới xe bồ ngựa tứ
Thuyền tiên cuộn nước như rồng thần đấu nhau Chiếc lọng quí trên không như chim hạc lành bay
Từ khi áo xiêm không còn tìm đâu thấy Khói trên ngọn cỏ hai bờ sông khiến lòng khôn xiết bi thương, Trăm năm cuộc đời biết bao việc thương tâm,
Ngày gần đây Trường An đã khác xưa nhiều.)
(Cảm xúc khi thấy Giang Đình)
Đó là bài thơ ghi lại dấu ấn quá khứ vàng son của gia đình Nguyễn Du, để lại trong ông một ấn tượng sâu đậm để rồi khi nhớ lại ông không sao giấu được nỗi chua xót, ngậm ngùi
Mồ côi cả cha lẫn mẹ, bốn anh em Nguyễn Du chưa người nào đến tuổi trưởng thành nên phải về ở với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản Khản học giỏi, thông minh, đỗ đạt sớm, làm quan to, được chúa Trịnh yêu mến và là con người tài hoa, phong lưu rất mực
Chính hoàn cảnh đó ấy, cuộc sống ấy đã sớm in vào hồn thơ của Nguyễn Du nhiều ấn tượng sâu đậm Cũng trong thời gian này, địa vị Khản thăng giáng bất thường, cho đến khi kiêu binh nổi loạn, ông trốn lên với Nguyễn Điều ở Tây Sơn rồi sau đó hai anh em bỏ về Hà Tĩnh (1784)
Năm Bính Ngọ 1786, Nguyễn Huệ chỉ huy đội quân thủy chiến tiến đến sông
Vị Hoàng (Nam Định) Không đầy một tháng, quân của Nguyễn Huệ chiếm Thuận Hóa cho đến Vị Hoàng rồi tiến thẳng ra Thăng Long giương cờ phù Lê diệt Trịnh Đến khi nghe quân Tây Sơn bắc tiến, Nguyễn Khản bàn tính mọi công việc với em
là Nguyễn Điều rồi đi Đến cửa Thần Phù (Ninh Bình), được tin báo quân Tây Sơn
đã đến bến Vị Doanh, Nguyễn Khản đến Thăng Long gặp Trịnh Khải dâng kế Kế sách chưa được thực hiện thì đã bị bọn kiêu binh phá, ông phải chạy lên Tây Sơn
Trang 21Quân Tây Sơn tiến đến huyện Thanh Trì (ngoại thành Hà Nội ngày nay), chúa Trịnh phải đích thân đốc suất quân đánh ở bến Tây Luông, nay là bờ sông Hồng thuộc đầu phố hàng Than Thất thế, chúa Trịnh vội cởi áo bào, chạy ra cửa
Yên Hoa Nguyễn Huệ vào thành đóng quân ở Phủ chúa Chỉ trong vòng một tháng, quân Tây Sơn đã lật nhào nền thống trị hơn 200 năm của chúa Trịnh (1570-1786)
Khi Tây Sơn ra bắc, Nguyễn Khản vẫn một lòng phò chúa Trịnh và vua Lê nhưng rồi bệnh chết năm 1786 Nguyễn Điều cũng đã qua đời mấy tháng trước đó Cùng với sự sụp đổ của vương triều Lê – Trịnh, gia đình họ Nguyễn cũng dần dần suy sụp theo Ba anh em Nguyễn Du, Nguyễn Nễ và Nguyễn Ức không theo kịp Lê Chiêu Thống đành quay lại, mỗi người đi một nơi
Cũng trong những năm bối rối đó, Nguyễn Du đi thi Hương ở Sơn Nam đậu Tam Trường (1784) Tuy đỗ thấp nhưng ông là người học rộng, biết nhiều không những Nho học mà Phật và Đạo đều thông suốt
Năm 1789, sau khi chia tay với anh là Nguyễn Nễ và em là Nguyễn Ức, Nguyễn Du về quê vợ ở làng Hải An (huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình) ở nhà anh
vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn Anh em mỗi người một nơi Chưa bao giờ Nguyễn Du cảm thấy bất lực và thất vọng như lúc này
Mùa đông năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du bị quân Tây Sơn bắt giữ vì theo Nguyễn Ánh Nhờ có quận công Nguyễn Thận, trấn tướng của Tây Sơn ở Nghệ An là bạn thân của Nguyễn Đề và lại là một người rất mến tài thơ của Nguyễn
Du nên chỉ giam mấy tháng rồi thả cho về Từ đấy ông về hẳn Tiên Điền trong một thời gian dài
Những năm ông về lại Tiên Điền, cơ nghiệp nhà họ Nguyễn đã bị quân Tây Sơn phá sạch Nguyễn Nễ, anh em cùng mẹ với Nguyễn Du, lúc làm quan cho Tây Sơn cỏ sửa lại chút ít Trong thời gian sống ở quê nhà ông có dịp hiểu biết sống gần gũi và hiểu biết với quần chúng, ngọn nguồn của mọi giá trị tinh thần cao quý nhất của dân tộc
Nguyễn Du sống ở Hồng Lĩnh mãi cho đến mùa thu năm 1802, tình hình chính sự trong nước có nhiều thay đổi Lúc này, triều Tây Sơn không còn nữa,
Trang 22Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long Vị vua này cho mời các cựu thần nhà
Lê ra triều nhận chức mới, trong đó có Nguyễn Du
Tháng 8 năm 1802, ông được bổ làm tri huyện Phù Dung, rồi tháng 11 thăng tri phủ Thường Tín (Hà Tây) Năm 1805 lại được thăng làm Đông Các đại học sĩ Năm 1807 được cử làm giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương Năm 1809 ông làm cai bạ Quảng Bình Năm 1813 ông được cử đi tuế cống nhà Thanh, lúc về được thăng làm Hữu Tham tri Bộ Lễ và giữ chức ấy cho đến ngày mất (ngày 10 tháng 8 năm 1820)
Cuộc đời làm quan của Nguyễn Du dưới triều Nguyễn rất thuận lợi Trong suốt 20 năm ông thăng chức khá nhanh và có nhiều lúc giữ nhiều chức vụ tương đối quan trọng
Nguyễn Du mất ở kinh, lúc đầu chôn ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, bốn năm sau được dời về an táng ở Tiên Điền Khi qua đời, quan lại ở kinh nhiều người làm câu đối phúng viếng để ca ngợi tài hoa của nhà thơ:
Nhất viện cầm tôn nhân ký thứ, Đại gia văn tự thế tranh truyền
(Rượu đàn đầy viện người đi xa vắng Văn tự hơn đời tiếng dội vang) Hay:
Nhất đại tài hoa, vi sứ, vi khanh, sinh bất thiểm, Bách niên sự nghiệp, tại gia, tại quốc, tử do vinh
(Một kiếp tài hoa, làm sứ, làm khanh, sinh chẳng thẹn, Trăm năm sự nghiệp, ở nhà, ở nước, chết còn vinh.)
1.1.2 Thơ chữ Hán của Nguyễn Du
Thơ chữ Hán Nguyễn Du gồm ba tập: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp
năm 49 tuổi
Thanh Hiên thi tập (1786 – 1804) được làm từ thời kì đầu đến trước khi
Nguyễn Du ra làm quan cho triều Nguyễn Tập thơ gồm có 78 bài (tính cả những
Trang 23bài cùng một đầu đề) và được chia làm 3 phần: Mười năm gió bụi, Dưới chân núi
Hồng, Ra làm quan ở Bắc Hà
Du Đây là tập thơ được sáng tác trong những năm tháng bi thương nhất của cuộc đời tác giả Những biến cố lịch sử dữ dội, nhà thơ luôn phải đối diện với những bi kịch cá nhân: xa nhà, bệnh tật, gia đình tan tác, tiền đồ bản thân mù mịt:
Bách niên thân thế ủy phong trần,
Lữ thực giang tân hựu hải tân
Cao hứng cửu vô hoàng các mộng,
Hư danh vị phóng bạch đầu nhân
Tam xuân tích bệnh bần vô dược, Táp tải phù sinh hoạn hữu thân
Dao ức gia hương thiên lý ngoại, Trạch xa đoạn mã quí đông lân
(Thân thế trăm năm phó mặc gió bụi,
Ăn nhờ ở bến sông rồi ăn nhờ nơi bãi biển,
Đã lâu không còn cao hứng với giấc mộng gác vàng, Nhưng hư danh vẫn chưa buông tha cho người đầu bạc
Bệnh đã ba năm, nghèo không thuốc, Cuộc phù sinh ba mươi năm có mối lo vì có thân
Xa nhớ quê hương ngoài nghìn dặm, Thẹn với người hàng xóm ngồi xe nhỏ cưỡi ngựa hèn.)
Trang 24Môn yểm tà phi nhất viện bần
Trú cửu đốn vong thân thị khách Niên thâm cánh giác lão tùy thân
Tứ thời hảo cảnh vô đa nhật, Phao trịch như thoa hoán bất hồi
Thiên lý xích thân vi khách cửu, Nhất đình hoàng diệp tống thu lai
Liêm thùy tiêu các tây phong động, Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai
Trù trướng lưu quang thôi bạch phát, Nhất sinh u tứ vị tằng khai
Trang 25Suốt đời ôm mối sầu chưa từng gỡ ra được.)
Qua nỗi đau riêng của một tâm hồn lớn, ta vẫn thấy được nỗi đau chung của con người trong thời đại Nguyễn Du Cuộc đời của Nguyễn Du chứng kiến bao thăng trầm của thời thế nên trong lòng ông lúc nào cũng đau đáu một nỗi lo thường trực – lo đời, lo cho tất cả mọi người, cho nhân tình thế thái Nguyễn Du vẫn bế tắc khi chưa thể lựa chọn cho mình một con đường nhưng trái tim người nghệ sĩ không chỉ tủi buồn cho thân phận của mình mà còn đau đớn trước những đổ vỡ, tan hoang của quê hương, đất nước, dân tộc
Nam trung tạp ngâm (1804 – 1813) gồm 40 bài được viết trong thời gian
làm quan ở Phú Xuân và Quảng Bình Lúc này, nhà thơ không còn chìm trong bế tắc, tuyệt vọng như trước Tuy nhiên, Nguyễn Du cũng không thật sự tìm được những phút giây thanh thản khi bước chân vào chốn quan trường Lẽ thường làm quan là con đường lựa chọn của tất cả những kẻ sĩ khi lập thân, thỏa chí nguyện tang bồng của thời trai trẻ mà tiếng thơ lại man mác nỗi buồn:
Khoáng dã biến mai vô chủ cốt Thù phương độc thác hữu quan thân
Sự lai đồ lệ giai kiêu ngã, Lão khứ văn chương diệc tị nhân
Trang 26Già đến rồi, văn chương cũng lánh xa người.)
(Ngẫu nhiên nảy ý thơ)
Điều đó chứng tỏ Nguyễn Du luôn cảm thấy day dứt, ân hận, luôn bị giằng
xé trong nhiều mâu thuẫn nội tâm Dường như ông thấy mình đã chọn lầm đường - con đường mà càng dấn thân vào, con người càng mất dần đi thiên tính tốt đẹp Ông không còn phải khóc thương cho sự cùng đường, bế tắc của một con người lỡ thời, thất thế nhưng lại phải đau xót, tủi thẹn vì nguy cơ đánh mất mình Chính cuộc sống như thế khiến nhà thơ nhiều lần cất lên những câu thơ nghe xót xa:
Phàm sinh phụ kỳ khí Thiên địa phi sở dung
(Điệu khuyển)
(Phàm sinh ra khí phách khác thường Thì trời đất không có chỗ dung)
(Thương con chó)
Tình cảnh như thế cho nên ông lại ước ao được về nhà, mong muốn giữ vẹn được tấm tình thủy chung với non xanh, với tùng cúc, làm bạn với hươu nai, bầu rượu:
Tiêu lộc mộng trường tâm bất cạnh, Tần Tùy vãn sự khẩu năng ngôn
Xuân vân mãn kính quần mi lộc, Thu đạo đăng trường đốc tử tôn
Trang 27Cùng ông hưởng thọ thú vui với đàn với rượu)
(Tặng người)
Ông thất vọng về chốn quan trường - vì những tưởng khi nhập thế sẽ làm nên
sự nghiệp, sẽ giúp ích cho đời nhưng cuối cùng không thỏa được ước nguyện Đối mặt với hiện thực đương thời, con người muốn thoát ra nhưng càng vẫy vùng lại càng đau khổ
Bắc hành tạp lục (1813 – 1814) gồm 140 bài sáng tác trong vòng một năm,
khi nhà thơ đi sứ qua Trung Quốc Cũng giống như 2 tập thơ trên, những bài thơ trong Bắc hành tạp lục cũng là thơ tâm sự Tuy nhiên, tập thơ có sự đổi mới rõ rệt,
không còn những bài thơ viết về riêng mình
Trong tập thơ này, Nguyễn Du đề cập đến nhiều khía cạnh của cuộc sống
Tâm hồn Nguyễn Du giờ đây đã rộng mở để "đón nhận những vang vọng của đời"
Hiện lên dưới ngòi bút Nguyễn Du vẫn là người lữ khách mang nặng mối sầu tha
hương song không nhuốm tủi hờn, đau đớn như ở Thanh Hiên thi tập mà nghiêng
về nỗi nhớ nhung da diết:
Tứ vọng vân sơn nhân độc lão, Đồng chu Hồ Việt các tương thân
Thập niên dĩ thất hoàng hương lộ,
Ná đắc gia hương nhập mộng tần?
(Tam giang khẩu đường dạ bạc)
(Nhìn bốn phía toàn mây với núi, người riêng thấy mình già, Người Hồ người Việt cùng thuyền đều thân nhau
Mười năm đã quên mất đường về làng cũ, Sao cho quê nhà luôn đi vào trong giấc mộng.)
(Đêm đậu thuyền ở cửa sông Tam Giang)
Cũng trên con đường đi sứ, Nguyễn Du đã phát hiện nhiều điều mới mẻ về thiên nhiên, con người và cuộc sống trên đất nước Trung Hoa
Hiện thực cuộc sống đầy rẫy khổ đau vẫn được Nguyễn Du lưu tâm nhất, tác giả đã vẽ lên những bức tranh sinh động về cuộc sống lầm than của người dân
Trang 28nghèo trên bước đường tha phương Đó là tiếng kêu đau đến xé ruột, những gương mặt đói rau, thiếu thuốc xanh lè đang chờ chết:
Mẫu tử bất túc tuất, Phủ nhi tăng đoạn trường
Kì thống tại tâm đầu, Thiên nhật giai vị hoàng
(Sở kiến hành)
(Mẹ chết không đáng tiếc,
Vỗ về con mà thêm đứt ruột
Trong lòng đau xót lạ lùng, Mặt trời cũng vì người mà vàng úa)
(Bài hành về những điều trông thấy)
Đó còn là câu chuyện đầy xúc động về ông già mù hát rong kiếm ăn ở Thái Bình
Khẩu phún bạch mạt, thủ toan xúc, Khước tọa, liễm huyền, cáo chung khúc
Đàn tận tâm lực cơ nhất canh,
Sở đắc đồng tiền cận ngũ lục
(Thái Bình mại ca giả)
(Miệng sùi bọt, tay rã rời, Ngồi yên, cất đàn ngỏ lời hát đã xong
Dốc hết tâm lực gần một trống canh,
Mà chỉ được năm sáu đồng tiền)
(Người hát rong ở Thái Bình)
Trong Bắc hành tạp lục, bên cạnh hiện thực đau khổ của những kiếp người
thì hình ảnh thiên nhiên trên đường đi sứ cũng được Nguyễn Du quan tâm Trung Hoa giàu đẹp với vô vàn danh lam thắng cảnh, hoa thơm cỏ lạ, là nơi phồn hoa đô hội đã in đậm vào tâm hồn yêu thơ Lòng yêu cái đẹp của thiên nhiên dường như đã
Trang 29trở thành một nét thẩm mỹ trong tình cảm của con người Việt Nam Mỗi lần đi qua một địa danh hay một phong cảnh, cảm hứng trong lòng tác giả lại bừng dậy:
Giang Nam, Hồ Bắc địa tương lân, Nhật nhật phồn hoa bất kí xuân
Ngọc địch lâu đầu thiên thượng khúc, Thùy dương môn ngoại họa trung nhân
(Quảng Tế kí thắng)
(Giang Nam và Hồ Bắc giáp với nhau, Ngày nào cũng là cảnh phồn hoa nên chẳng nhớ mùa xuân nữa Sáo ngọc trên lầu thổi khúc nhạc trên trời,
Cây thùy dương ngoài cửa như người đẹp trong tranh)
(Ghi cảnh đẹp ở Quảng Tế)
Những tấm gương trung nghĩa tiết liệt như Nhạc Phi, Đỗ Phủ hay Khuất Nguyên cũng được Nguyễn Du thương cảm, trân trọng bằng thái độ chân thành nhất Khuất Nguyên một người ngay thẳng, chính trực lại phải nhận lấy kết cục éo
(Mỗi lần đọc câu “mũ áo nhà nho thường làm lỗi thân mình” Lại một lần khóc thương Đỗ Lăng sống nghìn năm trước Văn chương ngời sáng dùng được việc gì?
Trai gái rên khóc chẳng đành lòng nghe)
(Mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương)
Nguyễn Du khâm phục Nhạc Phi thời Nam Tống văn võ song toàn, có công đánh giặc, là một vị tướng tài, tận trung báo quốc:
Trung Nguyên bách chiến xuất anh hùng
Trang 30(Mộ cổ triều Tống có ghi tên họ Âu Dương Suốt đời theo đường lối ngay thẳng không để lại điều gì đáng
ân hận)
(Mộ ông Âu Dương Văn Trung)
Bên cạnh đó, những loại người gian ác, xấu xa cũng được ngòi bút Nguyễn
Du vạch trần như Mã Viện, Minh Thành Tổ, Tào Tháo, Tần Cối…
Nguyễn Du đặt mối quan tâm với các nhân vật lịch sử qua những sự kiện trong không gian và thời gian khác nhau Ông luôn nhìn lại quá khứ với cảnh xưa, người cũ và chiêm nghiệm lại những tháng ngày đã qua
Đối với từng loại nhân vật, Nguyễn Du có cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Ông yêu mến, trân trọng những bậc tài hoa, trung nghĩa Đối lập với những nhân vật trên là hình ảnh của những con người xấu xa, gian ác Khi nói về họ, giọng thơ của tác giả gay gắt, phê phán và ẩn sau đó nụ cười mỉa mai thể hiện một cách nhìn mới mẻ của ông
Tóm lại, ba tập thơ cho ta thấy những chặng đường sáng tác song hành với cuộc đời và quan điểm, tư tưởng của tác giả Đi hết ba tập thơ là những tiếng lòng của thi nhân đối với bản thân, với con người và cuộc đời
Trang 311.2.Thiên nhiên trong thơ trung đại
Thiên nhiên là một đối tượng cực kì quan trọng trong văn học Tùy từng thời đại, thiên nhiên có những đặc điểm riêng Các Mác và Ph Ăngghen bàn về những
vấn đề văn học đã chỉ rõ quan điểm về thiên nhiên như sau: “Thái độ của con người
trong một thời đại nhất định đối với thế giới bên ngoài, đối với tự nhiên là trực tiếp thông qua xã hội Tự nhiên đã tồn tại và đang tồn tại không phụ thuộc vào con người Nhưng thái độ của con người đối với tự nhiên, sự cảm thụ của con người đối với tự nhiên ở một thời đại nhất định và khả năng phân biệt, đánh giá những bản chất, những đặc sắc và cái đẹp của tự nhiên, tất cả đều được quy định bởi những điều kiện cụ thể của đời sống xã hội” [36, tr.28].
Từ thuở sơ khai, con người đã phải biết sống hòa hợp cùng thiên nhiên để tồn tại Cùng với sự phát triển của nhân loại thì tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam là tiến trình hòa hợp, khám phá và chinh phục tự nhiên Dần dần thiên nhiên trở thành người bạn thân thiết của con người Thời trung đại, con người sống bằng nông nghiệp là chủ yếu, nên con người phải dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên mà sống Do đó, con người hòa nhập vào tự nhiên, xem thiên nhiên với con người là
một “thiên nhân tương dữ” Con người chưa xem mình là một chủ thể độc lập, tách
rời với tự nhiên như một khách thể để nhìn nhận, phân tích, lí giải… Như vậy, đặc trưng của thế giới tự nhiên trong cái nhìn của con người trung đại là có tính toàn vẹn không tách bạch
Muốn hiểu thiên nhiên trong văn học trung đại được nhìn nhận như thế nào
thì phải nắm được hệ thống giá trị làm nên thế giới quan thời đại đó: “Những nghệ
nhân, những văn sĩ, họa sĩ trung cổ đăm chiêu nhìn vào thế giới bên kia, họ coi rẻ những nét hữu hình của thế giới trần gian xung quanh họ Những nhà thơ và họa sĩ hầu như bỏ qua thiên nhiên thực tại, họ không tái hiện phong cảnh, không nêu lên những đặc điểm của những con người cụ thể, không nhận thấy rằng ở những nước khác nhau, trong những thời đại khác nhau, người ta ăn mặc khác kiểu, ở nhà khác,
vũ khí khác Họ thiên về điển hình hóa hơn là cụ thể hóa, không tìm hiểu sự đa dạng của những hiện tượng trong sinh hoạt, họ xuất phát từ nguyên lí tính mâu thuẫn, họ
Trang 32đối kháng giữa cái cao thượng và cái đê tiện, họ suy nghĩ bằng cặp thái cực Đầu này là cái thiện tuyệt đối, đầu kia là cái ác tuyệt đối” [5, tr.9]
Thế giới do người trung cổ sáng tạo hết sức độc đáo và lạ thường theo dưới cái nhìn của con người hiện đại Những nghệ nhân trung đại xem không gian như một mặt phẳng, thế giới không có chiều sâu, họ không biết thời gian là trôi chảy Họ nhìn nhận thế giới trần gian và thế giới siêu nhiên hòa lẫn vào nhau, không rõ ràng tách bạch Thiên nhiên trung đại cùng một loại với con người và đều là sản phẩm của chúa sáng tạo nên
Đó là ở phương Tây Ở phương Đông, quan niệm về nguồn gốc của vũ trụ thiên nhiên và con người cũng không khác mấy
Phật giáo cho rằng thế giới này từ sự vận động của quy luật nhân quả mà ra, Dịch học cho rằng từ Thái cực, Lão Trang thì cho là do đạo Trời, mây, cỏ cây, chim muông… và con người đều ngang nhau và cùng một nguồn gốc mà ra
Văn học trung đại chịu sự chi phối của hệ tư tưởng phong kiến, gắn với cảm thức về thế giới tự nhiên và xã hội mang tính thời đại; cư dân nông nghiệp cảm thụ thiên nhiên trong mối tương hợp, gắn bó để cảm nhận thiên nhiên như là thành phần tích hợp của mình Từ đó, văn học trung đại xây dựng nên những ẩn dụ, tượng
trưng: “Trong các sáng tác sẽ gặp những hình tượng của thiên nhiên được gọi tên
bằng những yếu tố cơ thể, phẩm chất con người; sẽ thường gặp hình tượng, vật thể thiên nhiên được sử dụng biểu hiện, xác định giá trị, phẩm chất con người (vàng đá chỉ tình nghĩa thủy chung bền vững, hoa chỉ khuôn mặt phụ nữ đẹp, áng mây chỉ mái tóc, rồng đứng đầu “tứ linh” tượng trưng cho vua, cỏ bồng chỉ thân phận trôi nổi, cây tùng, cây trúc có những đặc điểm biểu hiện khí phách của người quân tử
[ 78, tr.30]
Thiên nhiên là nguồn cảm hứng chung của thơ ca cổ, là đề tài quen thuộc trong văn chương của các nhà Nho Điều này chịu sự chi phối của quan điểm Nho giáo:
Trang 33Thứ nhất, Nho giáo quan niệm, nhân cách của nhà Nho có nguồn gốc tiên
nhiên, vì vậy nhân cách ấy bao giờ cũng hướng về thiên nhiên như một môi trường
để di dưỡng tinh thần
Thứ hai, Nho giáo quan niệm cái mẫu mực thuộc về quá khứ, cái trong sạch
chủ yếu biểu hiện ở thiên nhiên
Thứ ba, họ quan niệm điều đáng tự hào nhất ở con người là biết cảm thụ và
chiêm ngưỡng thiên nhiên, thiên nhiên là người bạn để con người bộc lộ tâm sự
Nhìn lại những chặng đường sáng tác về đề tài thiên nhiên của các nhà thơ trung đại, một phần nào giúp ta hình dung được bức tranh thiên nhiên thời đại lúc bấy giờ được con người nhìn nhận và khám phá như thế nào
1.2.1 Thiên nhiên trong t hơ thiền thời Lý – Trần ( thế kỷ X- XIV)
Thơ thiền thời Lý mang nặng ý thức hệ Phật giáo Để đáp ứng nhu cầu truyền bá rộng rãi đạo Phật vào trong nhân dân, các nhà sư đã tìm cách thể hiện những triết lý Phật giáo vốn trừu tượng, khó hiểu qua hình thức các bài kệ ngắn gọn, sinh động, dễ nhớ, dễ hiểu để giúp người học đạo được thuận lợi hơn trong quá trình nghiên cứu, học tập Và như vậy, thơ thiền thời Lý có tác dụng là công cụ hỗ trợ tích cực cho việc truyền bá lý thuyết đạo Phật Thiên nhiên trong thơ thiền đời
Lý phần lớn là những biểu tượng, phương tiện để nói lên nội dung triết lí hay cảm quan Thiền đạo Trong nhiều bài thơ, thiên nhiên không phải là đối tượng thẫm mỹ
để thưởng ngoạn và miêu tả mà là những biểu tượng được sử dụng để biểu thị những quy luật của tự nhiên và hàm chứa chân lí hằng thường theo quy luật nhà Phật
Thiên nhiên biểu tượng cho trí tuệ bát nhã và chân tâm của người đạt đạo Hình ảnh thường được để biểu thị nội dung này là vầng trăng sáng, hoa sen trong lò lửa…
Trí giả do như nguyệt chiếu thiên
(Cảm hoài II – Bảo Giám)
(Trí tuệ như trăng soi giữa trời.)
(Nỗi lòng)
Trang 34Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận Liên phát lô trung thấp vị can
Đạo lữ bất tu thương vĩnh biệt Viện tiền sơn thủy thị chân hình
(Các đạo hữu không nên đau thương vì sự vĩnh biệt, Núi sông trước chùa trông xa, ấy là chân hình của nhà sư)
(Thiền sư Văn Quảng Trí)
Như vậy, Phật giáo đồng nhất bản thể của con người với thiên nhiên Dù cho nhà sư có chết đi thì đó chỉ là sự hủy diệt về mặt thân xác, còn bản thể thật sự của nhà sư thì vẫn tồn tại mãi trong thiên nhiên, cây cỏ, núi sông
Thiên nhiên còn là biểu tượng cho quan niệm thế giới là hư không, biến đổi vô thường, luôn vận động và tuân theo quy luật:
Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai
(Xuân qua trăm hoa rụng Xuân đến trăm hoa đua nở)
Nhìn chung, thơ Thiền tông đời Lý mỗi khi đề cập đến thiên nhiên thì các thiền sư đều muốn qua đó gửi gắm những quan điểm triết học của mình Đáng chú ý
là quan niệm vạn vật nhất thể của Thiền tông đã đưa đến sự hòa đồng giữa nhà thơ
Trang 35và thiên nhiên Sự hòa đồng này đã làm cho thiên nhiên trở nên rất đỗi gần gũi, gắn
bó với con người trong một thể thống nhất hoàn chỉnh
Khác với thời Lý, bên cạnh việc phản ánh lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, văn học thời Trần còn thể hiện lòng yêu mến cảnh thiên nhiên tươi đẹp của đất nước So với thiên nhiên trong thơ văn thời Lý, thiên nhiên trong thơ văn thời Trần
đã trở thành đối tượng thẫm mỹ thực sự, có nhiều nét thực hơn và đẹp hơn hẳn Các nhà thơ không còn dùng thơ văn để thuyết giáo cho những lý thuyết của nhà Phật nữa mà thay vào đó là những cảm xúc rất tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước Con người Thiền sống giữa thiên nhiên để thấy tâm hồn mình về với chân như, với những cảm xúc hồn nhiên không gợn niềm trần tục:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên, Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý ngưu quy tận, Bạch lộ song song phi hạ điền
(Trước thôn, sau thôn đều mờ mờ như khói phủ, Bên bóng chiều, cảnh vật nửa như có nửa như không
Trong tiếng sáo, mục đồng lùa trâu về hết
Từng đôi cò trắng liệng xuống đồng.)
(Buổi chiều ở phủ Thiên Trường trông ra)
Khó có thể nghĩ đây là bài thơ của một vị Thiền sư, bởi lẽ đây hoàn toàn là cái nhìn rất thân quen về thiên nhiên, cuộc sống bình dị nơi thôn dã
Ở thời kì này ta có thể dễ dàng nhận ra sự thống nhất đến độ hài hòa giữa con người và thiên nhiên vạn vật Ở đó, con người và cảnh vật không còn ranh giới phân biệt nữa, tất cả đều trống không và hoàn toàn tĩnh lặng:
Vân sơn tương viễn cận, Hoa kính bán tình âm
Vạn sự thủy lưu thủy, Bách niên tâm dữ tâm
Trang 36Ỷ lan hoành ngọc địch, Minh nguyệt mãn hung khâm
(Đăng Bảo Đài sơn – Trần Nhân Tông)
(Mây và núi bồng bềnh quyện vào nhau khi xa khi gần, Con đường hoa nửa sáng nửa tối
Mọi việc đời như nước trôi theo nước, Trăm năm nhủ lòng với lòng
Đứng tựa lan can cầm ngang ống sáo ngọc, Trăng sáng đầy cả ngực và bụng.)
(Lên núi Bảo Đài)
Như vậy, thiên nhiên trong thơ thời Trần hết sức phong phú, đa dạng Các nhà thơ đã bước đầu phát hiện và cảm nhận những vẻ đẹp bình dị mà tuyệt vời của thiên nhiên đất nước Đây là sự tiếp nối thơ văn miêu tả thiên nhiên của thời Lý và là nền tảng để các nhà thơ giai đoạn sau kế thừa và phát huy
1.2.2 Thiên nhiên trong thơ thời Lê (thế kỷ XV)
Trong thế kỉ XV, lịch sử Việt Nam có nhiều biến động Lê Thái Tổ tức Lê Lợi, người Lam Sơn, Thanh Hóa; Thời thuộc Minh, ông dựng cờ khởi nghĩa; Sau nhiều năm chiến đấu anh dũng, đại nghiệp bình Ngô phục quốc hoàn toàn thắng lợi,
Lê Lợi lên ngôi vua Chính vì vậy, nội dung chủ yếu của văn học nửa đầu thế kỷ
XV là nội dung ca ngợi cuộc kháng chiến chống quân Minh và người anh hùng Lê Lợi Dưới triều đại nhà Lê, lực lượng sáng tác văn chương cũng khá đông đảo trong
đó phải kể đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Lê Thánh Tông, Vương Sư Bá…
Thiên nhiên xuất hiện trong thơ thời kì này cũng nhằm mục đích thể hiện niềm
tự hào về những địa danh đã làm nên lịch sử Đó là Lam Sơn, núi Chí Linh trong
sáng tác của Nguyễn Mộng Tuân (Lam Sơn phú,Chí Linh sơn phú) Địa danh Chí
Linh và Xương Giang cũng xuất hiện trong thơ Lý Tử Tấn với giọng thơ rất đỗi tự hào:
Nghiệp lớn muôn đời thịnh trị,
Trang 37Xã tắc trăm họ bình yên
Đây hình thế núi Chí Linh:
Án ngữ nơi miền tây nước Việt
Sừng sững khoảng trời đất vô biên
Hay trong thơ Nguyễn Trãi:
Nhìn núi này cao vợi vợi chừ, nhớ xưa gian khổ, Gây dựng nên nghiệp vương chừ, quên lãng sao đang
Xin ghi thịnh đức vào đá chừ, lưu truyền bất hủ, Mãi nghìn đời, vạn đời chừ, cùng trời đất miên trường
(Chí Linh sơn phú - Nguyễn Trãi)
Không chỉ thể hiện niềm tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc, các nhà thơ còn đi sâu vào việc miêu tả thiên nhiên gắn liền với đời sống hiện thực Đó là cảnh thiên nhiên tươi đẹp mang đậm phong vị quê hương và rất mực gần gũi Về phương diện này, tiêu biểu nhất phải kể đến tác giả Nguyễn Trãi
Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi là những cảnh trí về cuộc sống, con người nông thôn Việt Nam Những hình ảnh giản dị, mộc mạc thông qua lăng kính của nhà thơ đã trở nên xinh tươi và duyên dáng Đào liễu ở chốn lầu son gác tía sắp hàng bên cạnh rau muống, mùng tơi quê mùa một cách tự nhiên Trời mây, sông nước, trăng hoa, chim bướm đều có mặt
Cảnh mưa thu rơi nhẹ trên khóm trúc đầu nhà và làn gió xuân mát nhẹ thổi ngang bình dị mang theo màu hoa lan thoang thoảng rất đẹp:
Mưa thu tưới ba đường cúc Gió xuân đưa một lãnh lan
(Ngôn Chí, 16)
Tác giả miêu tả phong vị quê hương thật đậm đà bằng cách sử dụng những hình ảnh mộc mạc gắn liền với cuộc sống giản dị của nông thôn Việt Nam:
Tả lòng thanh mùi núc nác Vun đất ải rảnh mồng tơi
Trang 38sự thịnh trị của chế độ phong kiến và tài đức của vua Lê Thánh Tông Sáng tác văn chương phải tuân theo những khuôn mẫu, quan điểm của nhà vua nên có phần khiên
cưỡng và thụ động Trong Hồng Đức quốc âm thi tập, qua nhiều vần thơ gợi tả sự
mĩ lệ của tự nhiên, các tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp của non sông đất nước:
Chim bay rặng liễu dường thoi dệt Nước chảy ao sen tựa suối đàn Thông bảy tám hàng che kiểu tán Mây dăm ba thức phủ thay màn
(Phật Tích sơn tự)
Cũng trong tập thơ này, có nhiều bài thơ viết về thiên nhiên mang tính chất
ngâm vịnh, tiêu khiển nhưng không mang giá trị biểu cảm cao như các bài thơ:
Hằng nga nguyệt, Cây chuối, Qua…
Tuy nhiên, cũng có một số tác giả sáng tác những vần thơ chân thực, hình ảnh thiên nhiên mang đậm màu sắc dân tộc Đó có thể là bức tranh hết sực mộc mạc nhưng là đặc trưng cho cuộc sống ruộng đồng của người nông dân trong thơ Nguyễn Bảo:
Ly biên ế ế giá miêu trưởng, Thảo lý thanh thanh vu diệp hy
Trang 39(Trừng Mại thôn xuân vãn)
Ngọn mía mơn mởn bên giậu tre Luống khoai xanh xanh sau đám cỏ
(Chiều xuân ở thôn Trường Mại)
Đó cũng có thể là những cái rất bình thường, dung dị của đồng quê trong thơ Thái Thuận:
Mao xá nhân yên lý,
Cô chu tiểu bạc thì
Thôn đồng tam tứ bối, Duyên thủy mịch bành kỳ
(Hoàng giang tức sự)
(Nhà tranh trong làn khói tỏa, Thuyền côi lúc tạm đậu lại
Trẻ quê ba bốn tốp, Lần theo ven sông tìm bắt cua cáy)
(Đề thơ tức cảnh ở bến Hoàng Giang)
Như vậy, thơ trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XV mặc dù mang tính chất công thức, khuôn sáo do ảnh hưởng của lối sáng tác cung đình nhưng bên cạnh đó, vẫn
có những bài thơ rất hay viết về thiên nhiên Thiên nhiên không chỉ gần với đời sống thực hơn mà còn thể hiện sự quan tâm và yêu mến cuộc sống của các tác giả
thời kỳ này
1.2.3 Thiên nhiên trong thơ từ thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII
Tiếp nối truyền thống văn học của những giai đoạn trước, văn học Việt Nam
từ thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII cũng đề cập nhiều đến thiên nhiên Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của thế kỷ XVI Tiếng thơ của ông cũng là tiếng nói của thế kỷ XVI, thế kỷ mà chế độ phong kiến nước ta bước đầu đi vào con đường khủng hoảng, do đó tư tưởng của các tầng lớp sĩ phu cũng có nhiều xu hướng phức tạp
Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là những bức tranh hoa mỹ, lung linh nhiều màu sắc mà chỉ là những cảnh vật dung dị bình thường, gần
Trang 40gũi với cuộc sống của bản thân nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm không mặn mà với con đường công danh, mộng vương hầu không phải là ước mơ cả cuộc đời như bao người khác nên làm quan được vài năm ông xin cáo và lui về ở ẩn
Được làm bạn, chan hòa cùng cỏ cây hoa lá là niềm vui giản dị mà thanh cao được tác giả lựa chọn:
Mịch đắc thôn khê địa nhất triền Nhàn lai ngô diệc lạc ngô thiên Hiểu lâm thái phố vân niêm lý
Dạ phiếm ngư cơ nguyệt mãn thuyền
(Tìm được miếng đất ở cạnh con ngòi trong làng Khi thanh nhàn ta cùng vui với tính tự nhiên của ta Buổi sáng đến vườn rau, sương dính vào dép Ban đêm chơi ở ghềnh xóm chài, trăng rọi đầy thuyền.) Yêu thiên nhiên bằng cả tấm lòng, trái tim đa cảm của nhà thơ luôn thâu tóm tất cả những vẻ đẹp của tự nhiên vào lòng với tất cả sự nâng niu, trân trọng Thơ ông thường thể hiện tình cảm ấm áp, tâm hồn trong trẻo trong sự gắn bó giữa con người và cảnh vật:
Trăng trong gió mát là tương thức, Nước biếc non xanh ấy cố tri
(Thơ chữ Nôm: bài 90)
Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa giản dị, tươi đẹp:
Giang sơn tám bức là tranh vẽ, Hoa cỏ tư mùa ấy gấm thêu Vừa gần gũi, thân tình như anh em một nhà:
Hoa nở luống hay tin gió Đầm thanh còn thấy dáng trăng