1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

cảm hứng về quê hương trong thơ chữ hán nguyễn du

121 988 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 745,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu sự nghiệp thơ văn nói chung, đi sâu nghiên cứu thơ chữ Hán của Nguyễn Du nói riêng, không thể không nhận thấy bên cạnh những chủ đề nổi bật về số phận con người, hiện thực cuộ

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã s ố: 60 22 01 21

LU ẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS LÊ THU YẾN

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, phòng sau đại

học, tập thể thầy cô khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình

học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin cảm ơn Thư viện trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Quốc gia, Thư viện Khoa học

Tổng hợp đã cung cấp cho tôi nhiều tư liệu quý báu, bổ ích

Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã khích lệ, động viên, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình

học tập

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Lê Thu Yến, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn Thạc sĩ này

Xin chân thành cảm ơn

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2013

Người thực hiện luận văn

Trần Thị Mai

Trang 4

MỤC LỤC

M ỤC LỤC 4

M Ở ĐẦU 6

1 Lí do ch ọn đề tài 6

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 M ục đích nghiên cứu 10

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của đề tài 12

7 K ết cấu của luận văn 12

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14

1.1 Th ời đại Nguyễn Du 14

1.2 Cu ộc đời Nguyễn Du (1766 – 1820) 16

1.3 Thơ chữ Hán Nguyễn Du 17

1.3.1 Thanh Hiên thi t ập (1786 – 1804) 18

1.3.2 Nam Trung t ạp ngâm (1804 – 1813) 19

1.3.3 B ắc hành tạp lục (1813 – 1814) 19

1.4 Khái quát v ề cảm hứng và cảm hứng về quê hương trong thơ ca trung đại (Qua m ột số tác giả: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến) 20

Ti ểu kết: 38

Chương 2: CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG NƠI CON NGƯỜI THA HƯƠNG NGUY ỄN DU QUA THƠ CHỮ HÁN 40

2.1 T ừ hình tượng con người tha hương 40

2.1.1 Quê hương trong tâm thức Nguyễn Du 41

2.1.2 Nh ận thức của con người về thân phận tha hương 46

Trang 5

2.2 Đến cảm hứng về quê hương 54

2.2.1 C ảm hứng về quê hương thông qua cảnh đẹp thiên nhiên 54

2.2.1.1 Quê hương - thiên nhiên là kho ngâm vịnh 54

2.2.1.2 Quê hương - thiên nhiên là nơi gắn bó 61

2.2.1.3 Quê hương - thiên nhiên là nơi mơ về 63

2.2.2 C ảm hứng về quê hương thông qua suy cảm về gia đình, người thân 65

2.2.2.1 Quê hương gắn với cha mẹ, vợ con, anh em 65

2.2.2.2 Quê hương gắn với bạn bè, bà con làng xóm 69

2.2.3 C ảm hứng về quê hương thông qua nỗi niềm nhớ quê, nhớ nước 74

Ti ểu kết: 83

Chương 3: PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU 84

3.1 Th ể thơ 84

3.1.1 Th ể thơ cổ phong 84

3.1.2 Th ể thơ Đường luật 86

3.2 Cách l ựa chọn từ ngữ, hình ảnh 88

3.2.1 T ừ ngữ 88

3.2.2 Hình ảnh 100

3.3 Gi ọng điệu 104

3.3.1 Gi ọng bi 104

3.3.2 Gi ọng tự hào, lạc quan 109

3.3.3 Gi ọng triết luận 110

Ti ểu kết: 112

K ẾT LUẬN 113

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 115

Trang 6

MỞ ĐẦU

Nguyễn Du là một trong những tác gia vĩ đại nhất của nền văn học dân tộc Ông được

biết đến như một cây đại thụ rợp bóng không chỉ trong giai đoạn văn học trung đại mà còn

kéo dài đến tận ngày nay Tên tuổi của Nguyễn Du gắn liền với kiệt tác Đoạn trường tân

thanh – một đỉnh cao trong văn nghiệp của thi nhân, một tòa tháp nghệ thuật mà hơn hai trăm năm qua chưa từng vắng bóng trên thi đàn và cả trong tâm thức người Việt, chưa từng

ngủ yên mà luôn được đánh thức, phân tích, bình phẩm để tham gia vào dòng chảy của cuộc

sống hiện đại Tuy nhiên, cũng chính vì sự kết tinh quá rực rỡ của kiệt tác này mà nhiều

người chỉ biết đến Nguyễn Du với tư cách là cha đẻ của thiên tuyệt bút Truyện Kiều mà ít

biết đến một thế giới khác cũng sâu rộng, uyên thâm và cũng không kém phần thú vị đang được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đó là mảng thơ chữ Hán của ông

Nhà nghiên cứu Mai Quốc Liên đã từng viết: “Truyện Kiều là “diễn âm”, “lỡ tay” mà thành kiệt tác, còn thơ chữ Hán mới là đích “sáng tác”, nên xem nó là phát ngôn viên chính

thức của Nguyễn Du” [41, tr 7], thơ chữ Hán mới là nơi giãi bày trực tiếp tấm lòng của Nguyễn Du, ghi dấu trung thành những sự biến trong cuộc đời thăng trầm của nhà thơ Ba

tập thơ chữ Hán chứa đựng những suy tư, những tâm sự về thân thế, thời thế, những tâm sự

cả đời của Nguyễn Du mà ông đã viết dưới sự thôi thúc của những nỗi niềm không nói ra được, đồng thời 250 bài thơ chữ Hán ấy cũng chính là cách Nguyễn Du đặt vấn đề trực tiếp

về số phận của mình Đó “là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa Nó mới lạ và độc đáo trong một ngàn năm thơ chữ Hán của ông cha

ta đã đành mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa” [41, tr 7] Bởi vậy, thơ chữ Hán của Nguyễn Du xứng đáng là một đỉnh cao khác trong sự nghiệp của ông, có giá trị to lớn về cả nội dung lẫn tư tưởng nghệ thuật, góp phần không nhỏ tạo nên diện mạo

của thơ văn Việt Nam Thơ chữ Hán của ông là đỉnh cao của thơ chữ Hán Việt Nam trong mười thế kỉ

Cũng như bất cứ một tác phẩm vĩ đại nào, thơ chữ Hán của Nguyễn Du là một khu

rừng muôn ngả, một vườn hoa muôn màu mà cửa luôn rộng mở, ai nấy cũng có thể tự do ra vào để thưởng thức Mỗi người khi bước vào đều muốn tìm ra cho riêng mình một cách nhìn

để mong lĩnh hội được toàn diện vẻ đẹp của vườn hoa đầy sắc màu ấy Nhưng rồi khi ra về,

vẻ đẹp nơi góc khuất của vườn hoa ấy vẫn còn nguyên vẹn, chưa được khám phá Và những

Trang 7

được ai tìm hiểu Vườn hoa thơ chữ Hán của Nguyễn Du vẫn còn quá nhiều điều bí ẩn thôi thúc các nhà nghiên cứu bàn luận, đánh giá Càng đi sâu tìm hiểu mảng thơ này, người đọc càng hiểu hơn về con người lo cho đời, đau cho đời, mang đầy tinh thần nhân đạo cao cả

của Nguyễn Du

Nghiên cứu sự nghiệp thơ văn nói chung, đi sâu nghiên cứu thơ chữ Hán của Nguyễn

Du nói riêng, không thể không nhận thấy bên cạnh những chủ đề nổi bật về số phận con người, hiện thực cuộc sống xã hội đương thời, chủ đề về ý thức tài năng, thân phận của mình… còn có một chủ đề ám ảnh không chỉ trong kiệt tác Truyện Kiều mà còn trong thơ

chữ Hán đó là chủ đề về quê hương Trong thơ chữ Hán của ông, không ít lần ta bắt gặp

những hình ảnh của sông Lam, núi Hồng, những nỗi lòng của người con khi xa xứ nhớ về quê hương, gia đình Cảm hứng về quê hương, vì thế luôn dâng trào trong lòng nhà thơ Chủ

đề này chưa được các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu nên dường như vẫn còn được bỏ ngỏ

Cuối cùng, xuất phát từ sự yêu thích thơ ca Nguyễn Du nói chung, thơ chữ Hán của ông nói riêng, đề tài “Cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du” đã thực sự gây hứng thú cho chúng tôi Đó chính là động lực để chúng tôi thực hiện đề tài này

Trên đây là những lí do chúng tôi lựa chọn đề tài “Cảm hứng về quê hương trong thơ

chữ Hán Nguyễn Du”

Khi tiến hành tìm hiểu các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, chúng tôi

nhận thấy các công trình nghiên cứu hầu như không nhắc đến vấn đề cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du mà chủ yếu nói về hình tượng con người Nguyễn Du

với khát vọng công danh, với những nỗi băn khoăn, lo lắng cho thời cuộc, với tấm lòng nhân đạo khi bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc với số phận con người…Điều đó vừa là khó khăn nhưng cũng vừa là sự thôi thúc cho chúng tôi khi làm đề tài này Dưới đây là một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

Lê Thu Yến trong công trình nghiên cứu Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du

đã tiến hành khảo sát và phân tích cụ thể về hình ảnh con người nghệ thuật, không gian và

thời gian nghệ thuật trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Tác giả đã nhận xét: “Con người khi đi

xa thường cảm thấy thiếu vắng bàn tay chăm sóc của quê hương Nguyễn Du cũng vậy, ông luôn thấy nhớ, nhớ đến chết người từ khi mới bắt đầu ra đi, chứ không phải đi lâu rồi mới

nhớ…Điều đáng quý trọng là trong không gian lữ thứ xa vời ấy con người luôn tự nhắc

ải nhớ quê hương, phải làm sao cho quê hương thường xuyên vào trong giấc

Trang 8

mộng…Đó cũng là cách níu giữ hình ảnh quê hương không để nó bị xóa nhòa đi trong khoảng không gian rộng lớn và nó cũng chứng tỏ một điều chỉ có quê hương mới là nơi có

thể chở che, an ủi cho mọi kiếp đời.” [95, tr 159 - 160]

Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính trong cuốn sách Nguyễn Du – cuộc đời và tác

ph ẩm có nhận xét về những bài thơ chữ Hán được Nguyễn Du sáng tác khi làm quan ở Bắc

Hà (1802 – 1804) trong Thanh Hiên thi t ập: “Đọc những bài thơ Nguyễn Du làm trong

chặng đường làm quan đầu tiên này thấy ông luôn luôn nhớ núi Hồng, nhớ những cuộc đi

săn…” [22, tr 105] Khi nhắc đến tập thơ Bắc hành tạp lục, hai nhà nghiên cứu cũng đã

nhận xét có không ít bài thơ trong tập thơ này nói về nỗi “nhớ nhà, nhớ nước, nhớ người thân, muốn về sống nhàn tản ở quê nhà, không màng danh lợi” [22, tr 126] Điều đó chứng

tỏ quê hương luôn in đậm trong tâm trí Nguyễn Du, dù đi đâu, ông cũng luôn nhớ thương, trông ngóng về quê nhà

Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính trong cuốn sách Nguyễn Du và lịch sử văn

b ản, trong lời dẫn tập thơ Nam Trung tạp ngâm, trên cơ sở phân tích hoàn cảnh của Nguyễn

Du lúc bấy giờ (làm quan xa nhà, xa quê), đã đưa ra nhận xét: “Tình cảnh như thế cho nên ông lại ao ước về nhà, ăn canh rau rút, gỏi cá vược, làm bạn với hươu nai” [21, tr 669] Trong lời dẫn của tập Bắc hành tạp lục, các tác giả cũng đánh giá: “Tư tưởng muốn về ở ẩn,

nhớ núi Hồng Lĩnh, sông Lam, nhớ chuyện đi săn hươu nai lại xuất hiện nhiều lần trong

những bài làm trên đất khách Càng xa nước, càng vất vả, càng nhiều tuổi thì tư tưởng trên càng đậm hơn cả thời kỳ “mười năm gió bụi” hay thời kỳ làm quan ở Bắc Hà, ở Phú Xuân hay ở Quảng Bình” [21, tr 717] Những nhận xét trên đã cho thấy dù ở đâu, Nguyễn Du vẫn đau đáu nhớ về quê nhà, vì thế cảm hứng về quê hương luôn trở đi trở lại trong các tập thơ

chữ Hán của ông

Nguyễn Thị Nương, trong luận án Tiến sĩ Con người Nguyễn Du qua thơ chữ Hán đã

nghiên cứu một cách khá đầy đủ và có chiều sâu vấn đề con người của chính Nguyễn Du qua ba tập thơ chữ Hán Tác giả luận án cũng khẳng định: “Dù đang ở đâu, nỗi nhớ quê hương da diết cũng trở thành tâm trạng bao trùm cuộc sống tinh thần của nhà thơ.” Luận án cũng đã liệt kê nhiều câu thơ có hình ảnh quê hương trong ba tập thơ chữ Hán Việc này giúp ích rất nhiều cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu, khảo sát tư liệu

Nguyễn Thị Nguyệt, trong bài viết Thơ chữ Hán Nguyễn Du – Nhật kí tâm trạng có

nhận xét: “Vọng cố hương là nỗi niềm canh cánh của Nguyễn Du, gần như trong suốt cả cuộc đời, trừ mấy năm “đắc ý” được về dưới chân núi Hồng Không dưới 50/ 248 bài trong

Trang 9

Thơ chữ Hán nói đến nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương” Tuy tác giả thống kê chưa thật đẩy đủ

và chính xác, nhưng cũng góp phần khẳng định vị trí của quê hương trong lòng Nguyễn Du

là vô cùng quan trọng [104]

Nguyễn Huệ Chi, trong bài viết Biểu tượng đa nghĩa của Thăng Long trong thơ

Nguy ễn Du đã dẫn ra câu hỏi rất đáng lưu ý của một số nhà nghiên cứu khác: “Không hiểu

sao Nguyễn Du không sinh ra ở Hà Tĩnh và cho đến tận “mười năm gió bụi” lênh đênh trôi

nổi ở Quỳnh Hải, Thái Bình quê vợ ông cũng chưa, hoặc nếu có chỉ rất ít những tháng ngày

sống ở Hà Tĩnh, song hình ảnh quê hương Hồng Lĩnh lại đi về thường xuyên trong thơ ông?’’ nhưng có lẽ vì tập trung làm rõ chủ đề biểu tượng của Thăng Long trong thơ Nguyễn Du, nên tác giả bài báo chưa quan tâm đến việc lí giải câu hỏi này Trong bài viết này, tác giả đi sâu phân tích sự gắn bó sâu sắc giữa Nguyễn Du với kinh thành thông qua các bài thơ ông viết về Thăng Long [101]

Trà Sơn (Phạm Quang Ái), trong bài viết tham luận tại Hội thảo “Nguyễn Du và các danh sĩ dòng họ Nguyễn Tiên Điền với Thăng Long - Hà Nội” nhân kỷ niệm 245 năm ngày sinh và 190 năm ngày mất đại thi hào với tiêu đề Thăng Long và Hà Tĩnh trong thơ chữ Hán

c ủa Nguyễn Du đã lí giải câu hỏi của Nguyễn Huệ Chi khá hợp lí Tác giả đã dựa vào những

hiểu biết của mình về lịch sử và gia phả của họ Nguyễn để trả lời cho câu hỏi tại sao thời gian Nguyễn Du ở Hà Tĩnh không nhiều bằng ở Thăng Long, nhưng trong ba tập thơ chữ Hán của ông, tần số xuất hiện của hình ảnh sông Lam, núi Hồng – những địa danh nổi tiếng

ở Hà Tĩnh lại lớn hơn gấp nhiều lần so với kinh thành Thăng Long Tác giả bài viết cũng

tiến hành thống kê số lần xuất hiện các địa danh này trong ba tập thơ [105] Những số liệu này rất hữu ích cho việc thống kê của chúng tôi được đầy đủ và chính xác hơn

Nguyễn Thị Huyền Thương trong luận văn Thạc sĩ Con người nhân văn trong tiến

trình văn học trung đại qua thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Du đã phân

tích, lí giải vẻ đẹp của con người nhân văn trong các mối quan hệ với xã hội, với thiên nhiên

và với chính bản thân mình Trong chương hai (Con người nhân văn đẹp trong tình yêu thiên nhiên và lối sống hài hòa cùng vạn vật), tác giả có nhận xét về thiên nhiên trong thơ

chữ Hán Nguyễn Du: “Thiên nhiên đúng là đã khúc xạ qua tâm hồn thi nhân, nên bao bài thơ xuân vẫn chỉ quẩn quanh một nỗi niềm không thể dứt: xa nhà, xa quê, anh em li tán…

rốt cuộc chỉ triền miên một mối lo, một nỗi sầu, một mong ước cháy lòng là đoàn tụ gia đình, quê hương mà chẳng thể toại nguyện Tâm sự trĩu nặng đó, Nguyễn Du chỉ còn biết chia sẻ cùng thiên nhiên.” [82, tr 136] Tác giả cũng khẳng định: “Trong nỗi buồn mênh

Trang 10

mang mà thi nhân gửi vào cảnh vật ngời lên tình yêu tha thiết dành cho quê hương, xứ sở” [82, tr 149]

Cao Thị Liên Hương, trong luận văn Thạc sĩ với đề tài Văn hóa ứng xử trong thơ chữ

Hán Nguy ễn Du có dành ra một vài trang để nói về nỗi nhớ quê hương của nhà thơ trong

khoảng “mười năm gió bụi” và khi đi sứ ở Trung Quốc để bàn về vấn đề ứng xử với bản thân và ứng xử với thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Đó là một trong những nét đẹp trong văn hóa ứng xử được thể hiện qua thơ chữ Hán của ông [26]

Nguyễn Thị Thanh Diễm, trong luận văn Thạc sĩ Những thành tựu của thơ đi sứ thời

Nguy ễn, trong mục “Thơ đi sứ thời Nguyễn – khúc hát nhớ nước thương nhà” (thuộc

chương hai: Thơ đi sứ thời Nguyễn – những thành tựu về mặt nội dung) cũng dành một

phần để nói về nỗi nhớ nước thương nhà trong thơ của các sứ thần - nhà thơ thời Nguyễn, trong đó có Nguyễn Du Cảm hứng về quê hương, vì thế mà luôn trở đi trở lại trong thơ ông [9]

Tác giả Trần Thị Thu Trang, trong luận văn Thạc sĩ Thiên nhiên trong thơ chữ Hán

Nguy ễn Du, đã nghiên cứu khá tỉ mỉ từ cảm thức thiên nhiên đến tâm trạng và triết lí về

cuộc đời của Nguyễn Du thể hiện qua thơ chữ Hán Tác giả cũng có phân tích một số hình ảnh thiên nhiên của quê hương Nguyễn Du như sông Lam, núi Hồng trong thơ ông để làm

rõ cho cảm thức thiên nhiên gần gũi, hiền hòa và thiên nhiên dữ dội, nguy hiểm cũng như tâm trạng cô đơn, trăn trở, băn khoăn, day dứt của Nguyễn Du khi miêu tả thiên nhiên nơi quê hương nhà thơ vì ông luôn xem thiên nhiên như một đối tượng để khám phá, giãi bày tâm trạng [83]

Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tư liệu, chúng tôi nhận thấy thực sự chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu về đề tài “cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du” một cách đầy đủ, toàn diện Tiếp nối hướng nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi xin lĩnh hội những thành tựu đã đạt được, coi đó là tiền đề quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài

Việc triển khai đề tài này một mặt giúp chúng ta hiểu thêm về tài năng và tâm hồn của Nguyễn Du, mặt khác cũng lí giải được sức sống và vị trí của thơ chữ Hán trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Từ đó, người đọc có thể thấy những giá trị đặc sắc về nghệ thuật và

tầm vóc tư tưởng thơ chữ Hán Nguyễn Du đã có những đóng góp lớn lao vào kho tàng văn

ọc dân tộc

Trang 11

Chúng tôi cũng hi vọng những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có tác dụng trong

việc vận dụng để nghiên cứu, giảng dạy, học tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du trong trường

phổ thông

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du được in trong

Nguy ễn Du toàn tập (tập 1) do Mai Quốc Liên phiên âm – dịch nghĩa – chú thích với sự

cộng tác của Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc, Lê Thu Yến, nhà xuất bản Văn học, trung tâm nghiên cứu Quốc học (1996) Trên cơ sở phân tích ưu, nhược điểm của những bản

dịch trước, trong lần dịch này, nhóm tác giả cuốn sách đã cân nhắc kĩ lưỡng để giữ được sự chính xác nhất từ phiên âm, dịch nghĩa đến dịch thơ để chuyển tải được những suy tư, tình

Phương pháp phân tích tổng hợp: được sử dụng để xem xét, phân tích các yếu tố nội dung, nghệ thuật có liên quan đến đề tài, từ đó đi đến các nhận xét chung, hình thành các

luận điểm

Phương pháp so sánh, đối chiếu: phương pháp này được áp dụng khi cần so sánh, đối chiếu thơ chữ Hán Nguyễn Du với thơ văn của một số tác giả khác trong giai đoạn văn học trung đại khi nói đến cảm hứng về quê hương

Phương pháp thống kê: được sử dụng để tiến hành khảo sát từng bài thơ có liên quan đến đề tài, từ đó đưa ra nhận xét dựa vào tần số xuất hiện của những bài thơ đó Các con số

thống kê được đưa ra nhằm làm tăng sức thuyết phục cho các kết luận được nêu ra trong

Trang 12

luận văn Thao tác này cũng giúp ích cho việc tập hợp ý kiến từ các bài viết, các công trình khoa học, các sách chuyên khảo có liên quan đến nội dung của đề tài

Phương pháp hệ thống: đặt Nguyễn Du và các tác phẩm thơ chữ Hán của ông trong các

mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành văn học trung đại Việt Nam như các hệ tư tưởng, quan niệm, tác giả, tác phẩm…

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là một thế giới độc lập, một ánh sáng khác trong đời văn

của thi nhân, trong đó nhiều tác phẩm đã đạt đến tầm cao giá trị về cả mặt nội dung và nghệ thuật Bởi vậy, hiện nay, thơ chữ Hán của ông đã được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông cũng như cao đẳng, đại học Chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp cho việc giảng dạy và tìm hiểu về Nguyễn Du cũng như các sáng tác của ông được sâu

sắc, toàn diện hơn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành ba chương

Chương1: Những vấn đề chung

Trong chương này, người viết tiến hành tìm hiểu về thời đại, cuộc đời, của Nguyễn Du

để có cái nhìn thấu đáo về thơ chữ Hán của ông, từ đó hiểu được vì sao cảm hứng về quê hương lại trở đi trở lại nhiều lần trong mảng thơ này

Người viết cũng tìm hiểu cảm hứng về quê hương trong thơ ca trung đại của một số tác

giả như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến để đối chiếu, so sánh và thấy được sự vận động, thay đổi về tư tưởng, cách thể hiện cảm hứng về quê hương trong thơ của từng tác giả

Chương 2: Cảm hứng về quê hương nơi con người tha hương Nguyễn Du qua thơ chữ Hán

Trong chương này, chúng tôi đi từ hình tượng con người tha hương đến cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Trong ba tập thơ chữ Hán của ông, ta luôn bắt

gặp hình tượng con người tha hương Vì tha hương nên nhà thơ mới luôn nhớ quê nhà da

diết, những hình ảnh của quê hương cũng trở đi trở lại trong thơ Cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du được hiện lên thông qua cảnh đẹp thiên nhiên, cuộc sống sinh hoạt và suy cảm về gia đình, người thân

Trang 13

Chương 3: Phương thức nghệ thuật thể hiện cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du

Một số phương thức nghệ thuật được chúng tôi tìm hiểu là thể thơ, cách lựa chọn từ

ngữ, hình ảnh, giọng điệu Thông qua việc phân tích những phương thức nghệ thuật thể hiện

cảm hứng về quê hương trong ba tập thơ, chúng ta sẽ thấy được khả năng sử dụng ngôn ngữ

bậc thầy của Nguyễn Du

Trang 14

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Nguyễn Du sống trong một thời đại rối ren, đầy biến động của xã hội Việt Nam vào

nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX: thời kì sụp đổ của chế độ phong kiến, phong trào nông dân nổi lên mạnh mẽ, nền kinh tế hàng hóa phát triển cho thấy sức mạnh của đồng tiền cũng như tư tưởng phóng khoáng của tầng lớp thị dân Trường Chinh đã nhận xét: “Thời đại Nguyễn Du là thời đại đau khổ và oanh liệt nhất trong lịch sử Việt Nam, thời đại của chế độ phong kiến mục nát, thời đại của nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp…” [92, tr 25] và không khí chung của thời đại đó là “cái thời đại… tê đi và tái lại, cắt không ra máu đỏ của

niềm vui” [19, tr 44] Xã hội phong kiến giai đoạn này đang trải qua cơn khủng hoảng nghiêm trọng

Chính quyền phong kiến bộc lộ bản chất phản động, bất lực và tàn bạo một cách trắng

trợn chưa từng thấy, nạn tham nhũng, hối lộ ngày càng trầm trọng Từ lâu, vua Lê đã mất

hết quyền hành, bộ máy thống trị phong kiến quan liêu dưới thời Trịnh Sâm đã phơi bày ra

với tất cả bản chất trơ tráo, bỉ ổi của nó Nội bộ triều đình xảy ra nhiều vụ tranh chấp, phế truất, giết hại lẫn nhau Chúa Trịnh Sâm vì mê đắm Đặng Thị Huệ đã truất ngôi của con trưởng Trịnh Khải, lập Trịnh Cán làm thái tử Hành động này là nguyên nhân dẫn đến nạn kiêu binh nổi dậy, phế Trịnh Cán, lập Trịnh Khải làm chúa Tiếp sau đó, kiêu binh lộng hành, kéo nhau đi cướp phá các làng gây nên sự kinh hãi trong lòng nhân dân, chợ búa không dám họp, đàn bà con gái không dám ra đường Bởi vậy, hễ dân làng thấy có tên kiêu binh nào đi một mình thì bắt lại giết Vì thế, quân với dân xem nhau như thù địch Chế độ thi cử, lựa chọn nhân tài của xã hội phong kiến trước đây rất được coi trọng, các thí sinh

phải học hành, thi cử vô cùng vất vả, nhưng ở thời điểm này, có tiền là có thể mua được

chức tước Vào trong trường thi, người coi bài, kẻ thuê người làm bài, học trò với quan giám sát thông đồng với nhau Quan hệ tiền tệ ngày càng chi phối con người, làm hư hỏng đạo đức của tầng lớp quan lại Thời kì này, đồng tiền đã trở thành một thứ quyền lực can thiệp vào mọi mặt của đời sống xã hội Thêm vào đó, nạn mất mùa, đói kém xảy ra khắp nơi, giá lúa cao vọt, người chết đói đầy đường, nhân dân li tán, làng xóm tiêu điều… Có thể nói xã

hội phong kiến Việt Nam đã đi vào con đường tự sụp đổ không thể cứu vãn

Đây cũng là thời kì chứng kiến nhiều cuộc đấu tranh nổi dậy như vũ bão của nhân dân

mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn Năm 1786, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy

ến ra Bắc tiêu diệt thế lực phong kiến của họ Trịnh, chỉ trong một tháng quân Tây Sơn đã

Trang 15

lật nhào chế độ phong kiến xây dựng hơn hai trăm năm của chúa Trịnh (1570 – 1786) chấm

dứt tình trạng phân biệt Đàng trong Đàng ngoài, mở đường cho việc thống nhất đất nước, hàn gắn hai miền, non sông thu về một mối Sau đó, Tây Sơn đã trả quyền lại cho vua Lê rồi rút quân về miền Nam Tháng tư năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ ra Bắc, vào thành Thăng Long, bắt giết Vũ Văn Nhậm Vua Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, cầu viện hoàng đế nhà Thanh Cuối năm 1788, vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa “phù Lê”, vào chiếm đóng Thăng Long Nghe tin báo, ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà Để lấy danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung Năm 1789, với chiến lược hành bình thần tốc, vua Quang Trung cùng nghĩa quân Tây Sơn đã quét sạch quân xâm lược Mãn Thanh ở Đống Đa Khi Quang Trung qua đời (1792), triều đình Tây Sơn dần đi vào con đường suy thoái Nguyễn Ánh nhờ cứu viện của thực dân Pháp đã kết thúc triều đại Tây Sơn, khôi phục

lại nhà Nguyễn bằng sự kiện Nguyễn Ánh lên ngôi (1802), lấy niên hiệu là Gia Long Ngay sau khi thắng thế, vua quan nhà Nguyễn lại hà hiếp bóc lột nhân dân thậm tệ, nước ta rơi vào một giai đoạn khủng hoảng, đình trệ trầm trọng bởi lẽ “chính quyền nhà Nguyễn hoàn toàn đối lập với nhân dân và dân tộc Nó chỉ đại diện cho quyền lợi của những thế lực phong

kiến phản động, tàn tạ” [40, tr 10], hệ tư tưởng phong kiến vốn đã khủng hoảng đến lúc này lung lay tới tận gốc rễ, và “một bức màn đen tối phủ lên trên xã hội Việt Nam” [92, tr 30]

Sống qua ba triều đại, Nguyễn Du đã được tận mắt chứng kiến cảnh sống xa hoa, đồi

trụy, sự thống trị dã man, tàn ác của các thế lực phong kiến, cảnh đau khổ nghèo đói, cảnh

bị áp bức đày đọa của đại đa số quần chúng nhân dân…

Giữa những phong ba bão táp của thời đại, Nguyễn Du như một chứng nhân lịch sử,

một nạn nhân của hoàn cảnh mà cuộc đời đã phải trải qua nhiều chìm nổi Rõ ràng, thời đại

đã ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng của Nguyễn Du, là yếu tố khách quan làm nên tiếng khóc nhân tình, nhân thế cho những năm tháng lăn lộn giữa cuộc đời gió bụi, cho nỗi đau tha hương lưu lạc, nỗi đau của sự li tán gia đình, bạn bè…trong thơ ông Khi đó, quê hương

- mảnh đất mẹ chính là nơi tác giả luôn hướng về với nỗi nhớ da diết, khôn nguôi Cảm

hứng về quê hương xuất hiện dày đặc trong ba tập thơ chữ Hán đã chứng minh được điều

đó

Trang 16

1.2 Cuộc đời Nguyễn Du (1766 – 1820)

Nguyễn Du thuộc dòng dõi một nhà thế phiệt trâm anh đệ nhất trong nước bấy giờ, lại

cất tiếng khóc chào đời trong cảnh nhà đang hết sức thịnh vượng, điều này thể hiện ngay trên hai chữ “phúc đức” ở trước dinh thự của Nguyễn Nghiễm Ít ai có thể ngờ, cuộc sống

của đại thi hào dân tộc tương lai lại gặp quá nhiều biến cố như thế

Cuộc sống êm đềm trôi qua cho đến khi Nguyễn Du mười tuổi (1776), khởi đầu cho

những chuỗi ngày buồn đau bất hạnh của nhà thơ là cái chết của cha, cũng năm đó là cái

chết của người anh ruột tên Nguyễn Trụ Hai năm sau Nguyễn Du lại đau đớn khi phải đón

nhận tang mẹ Từ đây, cuộc sống của mấy anh em Nguyễn Du đều dựa vào người anh là Nguyễn Khản

Cảnh sống ăn đậu ở nhờ đã đeo bám Nguyễn Du từ rất sớm Thân phận ở nhờ dường như trở thành nghiệp chướng, đeo bám nhà thơ suốt cả cuộc đời Năm 1782, Nguyễn Du được Đoàn Nguyễn Tuấn đón về quê ở Sơn Nam Hạ tiếp tục học tập Năm 1873, ông thi đậu tam trường và giữ chức Chánh thủ đội quân hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên Sự nghiệp của Nguyễn Khản gắn chặt với chúa Trịnh nên những biến cố xảy ra trong phủ chúa cũng ít nhiều liên quan đến ông Nguyễn Du “chứng kiến tất cả, những việc

đó không khỏi lo âu cho gia đình và bản thân ông” [22, tr 38] Năm 1784, tư dinh Nguyễn

Khản bị kiêu binh phá, Nguyễn Khản phải trốn lên ở với người em là Nguyễn Điều đang làm trấn thủ Sơn Tây

Nguyễn Du vào đời lúc thời đại của vua Lê, chúa Trịnh đã đến bước suy tàn Khi quân Tây Sơn dẹp tan 29 vạn quận Thanh (1789), vua Lê Chiêu Thống buộc phải chạy sang Kinh

Bắc và mưu đồ việc phục hưng Nguyễn Du chạy theo không kịp đành về quê vợ lánh nạn ở

Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam (Thái Bình), bắt đầu cuộc đời “mười năm gió bụi” Sau này, Quang Trung có ra tờ hiệu dụ các quan văn võ triều cũ, thậm chí Nguyễn Nễ (anh trai) và Đoàn Nguyễn Tuấn (anh vợ) có ra phục vụ tân triều nhưng Nguyễn Du lại không ra làm quan dù phải sống trong cảnh nghèo khó, đau ốm liên miên không tiền mua thuốc Cuối năm Ất Mão (1795) đầu năm Bính Thìn (1796), Nguyễn Du trở về quê nhà dưới chân núi

Hồng, nhưng chưa phải đã chấm dứt cuộc đời tha hương gió bụi Thời kỳ này, nhà thơ thường ngâm nga làm thơ tâm sự, vào núi tìm bạn hươu nai Cũng trong khoảng thời gian này, ông chứng kiến những biến đổi rất nhanh của thời cuộc Nhà Nguyễn thay thế nhà Tây Sơn, Nguyễn Du buộc phải ra làm quan cho triều đình mới Ông được bổ làm tri huyện Phù Dung (phủ Khoái Châu, trấn Sơn Nam), mấy tháng sau thăng Tri phủ Thường Tín (trấn Sơn

Trang 17

Nam thượng) Năm 1809, ông được bổ chức Cai bạ Quảng Bình Con đường làm quan của ông suôn sẻ và thuận lợi nhưng lòng ông luôn nhớ núi Hồng, nhớ những cuộc đi săn nhiều

lần treo ấn từ quan nhưng không được, vua Gia Long lại liên tục có chỉ triệu Nguyễn Du vào cung Từ 1813 – 1814, Nguyễn Du được cử làm chánh sứ sang nhà Thanh Như vậy, cả

cuộc đời Nguyễn Du gần như phải sống nơi đất lạ, đây là điểm khởi nguồn cho cảm hứng về quê hương trong ba tập thơ chữ Hán của ông

Những biến động không ngừng của thời đại đã làm xáo trộn liên tục những trật tự cũ

và đã ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống êm đềm trong nhung lụa của Nguyễn Du, đẩy ông vào cuộc sống tha hương bế tắc không thuộc về nơi nào và mang đến cho ông những mối

sầu hận mà hàng trăm năm sau vẫn còn làm nhức nhối trái tim người đọc Sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc, nhưng cuộc đời lại lênh đênh như cánh bèo trôi dạt từ nơi này đến nơi khác Cánh bèo ấy chịu sự đưa đẩy của thời đại, của số phận và luôn mang trong mình một tâm sự đầy u uất không thể chia sẻ cùng ai Dù muốn dù không thì cảm giác mất phương hướng, cảm thấy mình đi trong đêm tối mù mịt, trơ trọi một thân một mình vẫn luôn

là cảm giác thường trực, cũng giống như nỗi nhớ quê hương cứ trở đi trở lại trong tâm hồn thi sĩ, để rồi những bài thơ chữ Hán về quê hương ra đời như một sự tất yếu của người con

đi xa, cảm thấy thiếu quê hương nên luôn mong mỏi được trở về

Theo gia phả họ Nguyễn Tiên Điền, Nguyễn Du có để lại ba tập thơ chữ Hán: Thanh

Hiên thi t ập, Nam Trung tap ngâm, Bắc hành tạp lục Tuy nhiên, số phận ba tập thơ chữ

Hán này không có may mắn như phần sáng tác bằng tiếng Việt của ông Cho đến đầu thế kỷ

XX, cả ba tập thơ chữ Hán của ông mà ai cũng biết tên chỉ mới nằm dưới dạng bản thảo

Các bài thơ chữ Hán đầu tiên chỉ được trích dẫn ít bài lẻ tẻ vào công trình Truyện cụ Nguyễn

Du của Lê Thước và Phan Sĩ Bàng, sau đó có rất nhiều tác giả đã bỏ công sưu tầm, dịch ra

tiếng Việt và giới thiệu tới người đọc (Đào Duy Anh, Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh, Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính, Mai Quốc Liên ) để chúng ta có được tập thơ

chữ Hán đầy đủ như ngày hôm nay

Trong sự nghiệp thi ca của Nguyễn Du, thơ chữ Hán chính là phần nhà thơ giãi bày tâm sự của mình một cách trực tiếp nhất Mỗi tập thơ, mỗi bài thơ đều gắn với những biến động cụ thể trong cuộc đời tác giả Rõ ràng, ba tập thơ chữ Hán có ảnh hưởng không nhỏ đến việc tìm hiểu về con người cũng như nhiều vấn đề được đặt ra trong các sáng tác của

ễn Du Có thể nói, ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du là sự hoàn chỉnh một phong

Trang 18

cách và một con người thơ Nguyễn Du, tài năng văn chương bậc thầy cùng tấm lòng thiết tha với cuộc đời của một nghệ sĩ lớn

1.3.1 Thanh Hiên thi tập (1786 – 1804)

Gồm 78 bài được sáng tác trong giai đoạn từ năm Tây Sơn kéo quân ra Bắc cho đến

những năm kết thúc giai đoạn Nguyễn Du làm quan ở Bắc Hà Cả tập thơ có đến 40/78 bài

có liên quan đến cảm hứng về quê hương

Tập thơ này được sáng tác trong những năm tháng đầy thăng trầm biến đổi, đau khổ và

bi thương nhất trong cuộc đời năm mươi tư năm của ông Triều đình phong kiến bị sụp đổ, gia đình ông tan tác mỗi người một phương, bản thân phiêu bạt về quê vợ, sống trong cảnh nghèo khó Ông vừa ôm trong mình nỗi đau thời thế, vừa ôm trong mình nỗi đau đời nên

những vần thơ viết về quê hương trong thời kỳ này thường thấy nhà thơ nhắc đến những tâm trạng như đau lòng, tiếc nhớ, u sầu, buồn, ngậm ngùi, Cô đơn nơi xứ lạ khiến ông khao khát tình cảm gia đình, nhớ anh em, bà con họ hàng nhưng tất cả đều li tán, phiêu dạt

Từ cảnh sống lầu son gác tía, yên ấm trong tình cảm gia đình, bất ngờ bị ném vào cuộc đời dâu bể thiếu thốn cả vật chất lẫn tình cảm, ông chới với hụt hẫng, trái tim ông lại càng khát khao hướng về mảnh đất quê hương

Trong tập thơ này, ta thấy hiện lên chân dung một con người chứa đầy mâu thuẫn, khát

vọng công danh vẫn còn day dứt, luôn khát khao được trở về quê hương Ông băn khoăn vì

Th ập niên vị tiết nam nhi hận (Mười năm chưa rửa được mối hận nam nhi - Ninh công thành ) để rồi lại đau xót nhận ra rằng Bạch phát hùng tâm không đốt ta (Tóc bạc rồi, dù còn

có hùng tâm, nhưng chỉ còn biết than thở - Khai song), cho nên hình ảnh nhà thơ hiện lên

thật đáng thương: tóc bạc, bệnh liên miên, tấm thân già yếu, quẩn quanh, bế tắc không tìm cho mình được lối ra Đến khi làm quan ở Bắc Hà (1802 – 1804), một lần nữa rời xa quê hương, hình ảnh quê hương và cảm hứng về quê hương lại luôn hiện lên trong thơ Ông luôn khao khát cảnh sống an nhàn dưới chân núi Hồng, nhiều lần nhà thơ thể hiện khát vọng

muốn trở về Bao trùm tập thơ là tâm trạng chán trường, u uất, thất vọng, bế tắc của một con người sống trong cảnh bơ vơ lưu lạc, quẩn quanh tìm lối thoát cho mình mà tất cả vẫn mịt

mờ để rồi Nguyễn Du cứ phải ôm trong lòng khối tâm sự nhức nhối không thể tỏ cùng ai

Thời kì Nguyễn Du buộc phải rời xa quê hương, sống nhờ quê vợ ở Thái Bình là thời

kì nhà thơ mang nặng trong lòng mặc cảm tha hương, lữ thứ nên số lượng các bài thơ có

xuất hiện cảm hứng về quê hương chiếm khối lượng lớn (18/40) bài và trở thành nỗi ám ảnh thường trực trong lòng nhà thơ Cuối năm Ất Mão (1975), “sau nhiều năm lang thang nơi

Trang 19

quê vợ, Nguyễn Du trở về với căn nhà lá ở quê hương Tiên Điền bên dòng sông Lam trong

vắt” [37, tr 317] Mong ước bấy lâu nay của Nguyễn Du là được trở về quê hương giờ đã được thỏa nguyện Sống trong lòng đất mẹ, cảm hứng về quê hương cũng vì thế mà dâng trào Sông Lam, núi Hồng hiện lên trong thơ ông với niềm tự hào và mến yêu tha thiết Ở quê hương không được bao lâu, Nguyễn Du miễn cưỡng ra làm quan phục vụ tân triều Nguyễn Du bắt đầu nhận chức tri huyện Phù Dung ở trấn Sơn Nam, cũng là bắt đầu thời kỳ

“làm quan ở Bắc Hà” (1802 - 1804) Đọc những bài thơ Nguyễn Du làm trong chặng đường làm quan đầu tiên này, ta thấy ông luôn nhớ núi Hồng, nhớ những cuộc đi săn, luôn mong

muốn được trở về quê hương

1.3.2 Nam Trung tạp ngâm (1804 – 1813)

Gồm 40 bài được Nguyễn Du sáng tác trong thời gian làm quan ở Phú Xuân và làm Cai bạ ở Quảng Bình Dù không còn tâm trạng bế tắc, tuyệt vọng, chán chường như ở

Thanh Hiên thi t ập nhưng trong tập thơ này, nổi bật lên là nỗi thất vọng sâu sắc về chốn

quan trường mà trước đây ông từng khao khát được bước chân vào để đem tài năng ra giúp

nước Nam Trung tạp ngâm có 22 bài thơ nói đến cảm hứng về quê hương 22 lần ông nhắc

đến quê hương trong tập thơ là 22 lần ông thấm thía nỗi buồn xa quê, muốn trở về, muốn thoát khỏi vòng danh lợi, khát khao cuộc đời phóng khoáng tự do, nhất là khi chốn quan trường lại đầy hiểm hóc, đố kỵ, ganh đua Cách nhà thơ nói về mình thật đáng thương và

cũng thật chua xót: Thù phương độc thác hữu quan thân (Phương xa một mình gởi cái thân làm quan - Ng ẫu đắc), tất cả cũng chỉ vì đường sinh kế, chuyện cơm áo, vì vậy mặc dù

đường về chỉ ba ngày là đến, mà ôm nỗi nhớ quê đã bốn năm (Nễ giang khẩu hương vọng)

Mệt mỏi, chán chường, thất vọng nhưng lại không thể buông xuôi, nỗi lòng với quê hương

dần trở thành tâm bệnh, vì thế tâm trạng dằn vặt của kẻ tha hương và cảm hứng về quê hương luôn xuất hiện trong thơ ông

1.3.3 Bắc hành tạp lục (1813 – 1814)

Gồm 132 bài được sáng tác khi Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc Tập thơ này có 16 bài thơ Nguyễn Du nói đến cảm hứng về quê hương, muốn được về sống nhàn tản ở quê nhà, không màng danh lợi Ở hai tập thơ trước, ta thấy Nguyễn Du chìm đắm trong mối bi quan, tâm trạng chán trường, thất vọng, mối u sầu kết đọng thành khối bởi ông bế tắc, quẩn quanh đi mãi mà vẫn không tìm được lối ra cho mình Khi đi sứ Trung Quốc, một thế giới

mới mở ra trước mắt, thế giới mà ông mới chỉ biết qua sách vở nay được tận mắt chứng

Trang 20

kiến, những điều mới mẻ về phong tục, phong cảnh, cuộc sống của con người có sức hấp

dẫn với ông Cứ qua mỗi vùng đất là ông lại làm thơ Những chuyện đang diễn ra trước mắt

đã tác động đến tâm hồn đa cảm của Nguyễn Du, buộc ông không thể nhắm mắt làm ngơ

Hiện thực cuộc sống trên nước bạn được ông phản ánh khá kĩ ở mọi góc cạnh, nhất là khi sang đất người, lòng ông có phần nhẹ nhõm hơn, ông có thời gian nhìn ra ngoài và nói chuyện với những con người bất hạnh mà ông có một mối cảm thông đặc biệt Mối sầu tha hương vẫn còn nhưng lúc này không nhuốm màu đau xót, bi quan nữa Số lượng thơ đề cập

tới cảm hứng về quê hương trong tập thơ này không lớn bằng hai tập thơ trước nhưng trải dài theo bước đường của vị sứ thần vẫn là nỗi nhớ quê hương Thêm vào đó là những cảm

nhận của nhà thơ về những điều mắt thấy tai nghe ở xứ người Tập thơ này, vì thế thiên về quan sát, suy ngẫm về thế sự, lịch sử

Điểm qua ba tập thơ chữ Hán Nguyễn Du với tổng số 250 bài thơ, ta thấy có tới 78 bài thơ có cảm hứng về quê hương Số lượng như vậy, xét thấy không phải là ít, đủ để khẳng định quê hương là một chủ đề quan trọng, một mối ám ảnh sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ Điều này góp phần thôi thúc chúng ta tìm hiểu để khám phá rõ hơn những góc khuất trong tâm hồn vị đại thi hào dân tộc

một số tác giả: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến)

Nội dung tư tưởng của tác phẩm văn học luôn gắn liền với cảm xúc Những cảm xúc

đó được khơi nguồn từ cảm hứng “Cảm hứng là một tình cảm mạnh mẽ, mang tư tưởng, là

một ham muốn tích cực đưa đến hành động Điều quan trọng là cần nhận ra cảm hứng như

một nội dung đặc thù của tác phẩm văn học” [46, tr 268] Bất kì một tác phẩm văn học nào được tạo ra cũng cần phải có cảm hứng Nội dung của cảm hứng tư tưởng trong tác phẩm bao giờ cũng là một tình cảm xã hội đã được ý thức Đó có thể là những tình cảm khẳng định như ngợi ca, vui sướng, yêu thương, đau xót… Đó cũng có thể là những tình cảm phủ định các hiện tượng xấu xa, tiêu cực như tố cáo, căm thù, phẫn nộ, châm biếm, mỉa mai… Các tình cảm đó được gợi lên từ các hiện tượng xã hội được phản ánh trong tác phẩm tạo thành nội dung cảm hứng của tác phẩm đó

Từ xưa đến nay, quê hương luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong thi ca Với những nhà thơ lớn, hình ảnh quê hương lại càng in đậm trong tâm trí họ và được đưa vào trong thơ

với một tình cảm vô cùng sâu sắc Tuy cách thể hiện tình yêu đối với quê hương được thể

ện ở mỗi nhà thơ là khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả luôn tự hào về cảnh đẹp, về

Trang 21

con người nơi quê hương mình Khi đi xa, họ luôn nhớ và mong ngóng được trở về nơi chôn rau cắt rốn của mình

Trong nền văn học trung đại, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến… đều dành một số lượng tác phẩm đáng kể để nói về quê hương Điều đó

đã chứng minh được quê hương là nguồn cảm hứng vô tận và là đề tài không thể thiếu trong thơ ca

tài, danh nhân văn hóa thế giới mà còn là một nhà văn, nhà thơ lớn của Việt Nam Văn chương của Nguyễn Trãi là văn chương “có đủ sức để sửa sang việc đời” Bên cạnh đó, ông còn có trái tim rất đằm thắm, nhân hậu và chứa chan tình người

Sống vào giai đoạn đất nước có nhiều biến động, Nguyễn Trãi đau buồn vì vận nước,

lại thêm cảnh bản thân phải phiêu dạt, xa lìa quê hương khiến cho ông – một con người vốn

nặng lòng với quê hương, một hồn thơ tinh tế, mẫn cảm lại càng canh cánh, thao thức khôn nguôi Sau này, khi Nguyễn Trãi giúp Lê Lợi phục quốc, xây dựng nước Đại Việt, dẫu đang làm quan trong triều hay đi sứ thì niềm hoài hương vẫn luống vọng về trong trái tim ông

Thời gian bị giam lỏng tại thành Đông Quan, phải xa quê nhà, xa người thân, đối với

Ức Trai, quê nhà đã xa xôi lại càng xa xôi vạn dặm Nỗi nhớ nhung, gắn bó với cảnh vật, con người quê hương trong những ngày sống trên quê người đã được thể hiện một cách cảm động trong những vần thơ chữ Hán

Đọc Ức Trai thi tập, ta nhận thấy trái tim Nguyễn Trãi luôn dành những khoảnh khắc

để nhớ về quê hương Khi công việc giúp Lê Lợi thành công, Nguyễn Trãi làm quan tại triều, song niềm hoài hương luôn hiện hữu, khiến ông trăn trở Do đó, trong giấc mộng, nhà thơ cũng muốn gửi hồn về quê hương:

Miên tưởng cố viên tâm kính cúc,

M ộng hồn dạ dạ thượng quy đao

(Nhớ nhung vườn cũ ba rặng cúc,

Hồn mộng đêm đêm lên thuyền để về.)

(Thu nh ật ngẫu thành)

Hay:

Nhàn qu ải ngọ song triều thoái nhật,

M ộng hồi nghi thị cố viên xuân

(Rỗi treo cửa sổ phía nam những ngày lui chầu

Trang 22

Trong giấc mơ về nhà ngỡ đó là vườn xuân cũ.) (Đề sơn điểu hô nhân đồ)

Ước muốn được trở về quê nhà lúc nào cũng như cờ rung:

Th ập niên phiêu chuyển thán bồng bình, Quy t ứ dao dao nhật tự tinh

(Mười năm xiêu dạt thân mình như cỏ bồng cánh bèo Lòng muốn về nhà ngày nào cũng như cờ rung động luôn)

(Quy Côn Sơn chu trung tác)

Đối với Nguyễn Trãi, Côn Sơn là mảnh đất ông đã gắn bó suốt tuổi ấu thơ Hướng về quê, nhiều lần ông nhắc đến núi ở Côn Sơn Với ông, núi xưa đã hóa thân thành một mảnh tâm hồn, một phần của sự sống Đọc thơ Nguyễn Trãi, ta thấy dường như trong suốt những năm tháng bận rộn đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cho lí tưởng nhân nghĩa, chưa một lúc nào ông quên mảnh đất Côn Sơn muôn quý ngàn yêu Cho nên, có lúc ông nhớ Côn Sơn trong giấc ngủ:

Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng, Nguyệt mãn Bình Than tửu mãn thuyền

(Núi cũ đêm qua vấn vương vào mộng nhẹ, Trăng chứa đầy sông Bình Than, rượu đầy thuyền.) (Mạn hứng)

Có lúc ông lại nhớ Côn Sơn khi vừa tỉnh giấc:

Mộng giác cố viên tam kính cúc, Tâm thanh hoạt thuỷ nhất âu trà

Bán sinh khâu hác phế đăng lâm, Loạn hậu gia hương phí mộng tầm

Thạch bạn tùng phong cô thắng thưởng,

Trang 23

Giản biên mai ảnh phụ thanh ngâm

Yên hà linh lạc trường kham đoạn, Viên hạc tiêu điều ý phỉ cầm

(Nửa đời phải bỏ cái thú leo trèo khe núi, Sau loạn quê nhà chỉ phí chiêm bao mà tìm về

Gió tùng trên bậc đá không có ai thưởng thức, Bóng hoa mai bên suối đành phụ thú ngâm nga

Thấy yên hà vắng vẻ lòng ta muốn đứt, Thấy vượn hạc tiêu điều tâm ý khó cầm )

Gắn bó với Côn Sơn như vậy, cho nên khi cuộc đời Nguyễn Trãi gặp bế tắc trên con đường thực hiện lí tưởng nhân nghĩa thì tình yêu Côn Sơn đã lên tiếng gọi, thôi thúc ông trở

về đây sống cuộc đời nhàn dật Và khi được về sống ở Côn Sơn, ông cảm thấy rất nhẹ nhàng, thanh thản:

Côn Sơn hữu tuyền,

Kỳ thanh lãnh lãnh nhiên, Ngô dĩ vi cầm huyền

Côn Sơn hữu thạch,

Vũ tẩy đài phô bích, Ngô dĩ vi đạm tịch

Nham trung hữu tùng, Vạn lí thuý đồng đồng, Ngô ư thị hồ yển tức kì trung

Lâm trung hữu trúc, Thiên mẫu ấn hàn lục, Ngô ư thị hồ ngâm tiếu kì trắc

(Côn Sơn có khe, Tiếng nước chảy rì rầm

Ta lấy làm đàn cầm

Côn Sơn có đá, Mưa xối rêu xanh đậm,

Ta lấy làm chiếu thảm

Trên núi có thông,

Trang 24

Muôn dặm rờn rơn biếc một vùng,

Ta tha hồ ngơi nghỉ ở trong

Trong rừng có trúc, Nghìn mẫu in biếc lục,

Ta tha hồ ca ngâm bên gốc.) (Côn Sơn ca)

Ngoài bài Côn Sơn ca, các bài thơ chữ Hán ông viết về Côn Sơn đều được sáng tác

trong hoàn cảnh ông phải sống xa quê hay trong những lúc ông ghé thăm ít bữa mừng mừng tủi tủi rồi lại đi cho nên tình cảm thường rất thiết tha, cảm động

Phần lớn những bài thơ viết về Côn Sơn trong Quốc âm thi tập được viết khi Nguyễn

Trãi đã về sống ở Côn Sơn Ông về Côn Sơn sống một cuộc đời rất bình dị và thanh đạm Nhà thơ ở trong những gian lều cỏ, kiến trúc sơ sài và tạm bợ:

Chụm tự nhiên một thảo am, Dầu lòng đi bắc miễn về nam

(Bài 67, Quốc âm thi tập)

Nghĩa là ông đã lấy trăng làm đèn và lấy gió làm chổi Ngoài ngôi lều tạm ấy ra, những người hàng xóm gần gũi và thân thiết của ông là núi, là chim, là mây, là trăng:

Núi láng giềng, chim bầu bạn Mây khách khứa, nguyệt anh tam

(Thuật hứng 19)

Nguồn sống của Ngyễn Trãi dựa vào cái Vườn còn thông trúc đáng năm mẫu (Mạn

thuật 2); cái Ruộng đôi ba khóm đất con ong (Thuật hứng 11); cái Ao cạn vớt bèo thả muống (Thuật hứng 24) Cũng có khi ông còn phải nhờ cả đất vườn của nhà chùa Côn Sơn

này:

Ao quan thả gửi hai bè muống, Đất bụt ương nhờ một lảnh mùng

(Thuật hứng 23)

Trang 25

Tâm hồn Nguyễn Trãi lúc này hoàn toàn không để ở công danh phú quý, không để ở

ăn ngon mặc đẹp Trái lại ông đắm mình vào trong cái thế giới thiên nhiên tạo vật kỳ thú của Côn Sơn:

Bẻ cái trúc hòng phân suối, Quét con am để chứa mây

Trì tham nguyệt hiện chăng buông cá, Rừng tiếc chim về ngại phát cây

(Mạn thuật 6)

Trong thơ ông, từ hình ảnh một ngày đi núi, đến một buổi chiều vãng cảnh hay một buổi tối thưởng hoa, ở đâu ta cũng thấy hiện ra một Nguyễn Trãi rất phóng khoáng và ung dung tự tại

Nhưng sống trong sáng, sống đam mê với cảnh vật Côn Sơn, thực chất cũng chỉ an ủi, chỉ khuây khoả được đôi phần nỗi đau đời của Nguyễn Trãi Trong đáy sâu tâm hồn ông vẫn

cứ dây dưa một nỗi buồn không thể nguôi đi được:

Thấy nguyệt tròn thì kể tháng, Nhìn hoa nở mới hay xuân

(Bài 102, Quốc âm thi tập)

Có thể nói tình cảm của Nguyễn Trãi đối với Côn Sơn vừa là một biểu hiện tự nhiên của tình yêu quê hương đất nước, lại vừa là một thái độ chính trị, một quan điểm nhân sinh của một nhân cách lớn Đồng thời nó cũng là một nỗi đau lớn, một bế tắc lớn của một lí tưởng xã hội không thể được thực hiện trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ Lúc ấy Nguyễn Trãi tuy mới độ năm mốt, năm hai tuổi nhưng những cuộc tranh quyền đoạt lợi thời hậu chiến của các phe cánh trong triều đình nhà Lê lại vô cùng khốc liệt và phức tạp Một con người như Nguyễn Trãi không thể nào hoà nhập được Tuy rất đau lòng nhưng ông cũng không còn cách nào khác là phải tự tách mình ra để tìm đến những thú riêng Và cái thú riêng của ông chính là trở về sống nhàn dật ở Côn Sơn

Khi trở về sống đời thanh bần giữa núi rừng, dù ở đâu thiên nhiên vẫn chiếm một địa

vị quan trọng, một người bạn tâm giao để Nguyễn Trãi kí thác nỗi lòng luôn quặn thắt những ưu tư thời thế Vẻ đẹp thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi giúp ta yêu hơn quê hương đất Việt, hiểu hơn tấm lòng trung quân ái quốc cũng như sự nhạy cảm, tinh tế của thi sĩ, qua

đó tự hào về nền văn hóa dân tộc

Trang 26

Cái hồn quê sâu đậm ẩn dật trong cảnh vật thiên nhiên, trong tình yêu quê hương vô cùng chân thành và tha thiết, vẫn luôn làm rung động tâm hồn người, đã đem lại nhiều ấn tượng đậm đà nuôi dưỡng hồn thơ Tình yêu quê hương đã trở thành mạch cảm xúc, lẽ sống,

hoài bão trong tâm hồn nhà thơ

của lịch sử cũng như văn hóa Việt Nam trong thế kỉ XVI Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn của một nhà giáo có tiếng thời kỳ Nam - Bắc triều (Lê - Mạc phân tranh) cũng như tài tiên tri tiến triển của lịch sử Việt Nam

Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ lúc thiếu thời đến khi trưởng thành, lúc nghỉ hưu luôn gắn bó

với làng quê Trung Am – quê hương ông Đây là một điều đặc biệt ở con người Nguyễn

Bỉnh Khiêm Chính làng quê Trung Am này, phần nào đã là nguồn cảm hứng vô tận và tạo nên cốt cách trong thơ, văn của ông; và cảm hứng trong thơ, văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, một

bộ phận không nhỏ chính là tình yêu quê hương xứ sở

Trong khoảng thời gian làm quan ngắn ngủi, tận mắt chứng kiến những mặt thối nát

của triều đình, có đôi khi ông nhớ về quê hương và không giấu giếm ước vọng được trở về:

C ố gia nhập vọng tưởng thuần lô, Khê b ạn hành ngâm mịch tửu đồ

(Trông về nhà cũ nhớ đến rau thuần cá lô, Lang thang ca hát bên bờ khe, tìm kiếm bạn rượu)

(Trung Tân quán ng ụ hứng)

Niềm thương nhớ quê hương đi cả vào trong giấc mộng của Nguyễn Bỉnh Khiêm:

D ạ bán sơn gia nhập mộng trung

(Nửa đêm mảnh tình quê hương nhẹ nhàng đi vào giấc mộng.)

(Ph ụng càn tòng phát hành thuật hoài)

Khi được nhà Mạc miễn cưỡng cho về ở ẩn, niềm vui cứ ngập tràn trong thơ ông:

B ất đãi đô môn thiết tổ diên,

C ố hương quy tứ di phiêu nhiên

Trang 27

cũng muốn đến tham quan Trong bài thơ Trung Tân ngụ hứng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết

địa thế của quán Trung Tân thật tao nhã của một miền quê vùng gần biển:

Nhân thôn quán tây nam, Giang th ủy quán tây bắc

Trung h ữu bán mẫu viên, Viên h ữu Vân am trắc

Luân chuy ển trần bất đáo, Hoa trúc th ủ tự thực

(Làng xóm ở phía tây nam quán, Sông ngòi ở mạn tây bắc quán

Giữa có nửa mẫu vườn,

Cạnh vườn có am Bạch Vân

Bụi xe chẳng bén tới, Hoa, trúc tự tay trồng )

Trong bài H ạ cảnh, Nguyễn Bỉnh Khiêm miêu tả đôi nét về cảnh quan của quán Trung

Tân vào ngày mùa hạ vô cùng nên thơ, phong cảnh hữu tình:

Nh ật trường Tân quán tiểu song minh, Phong n ạp hà hương viễn ích thanh

Vô h ạn ngâm tình thùy hội đắc,

T ịch dương lâu thượng vãn thiền thanh

(Ngày dài ở quán Trung Tân, cửa sổ nhỏ sáng sủa, Gió đượm hương sen, càng xa càng thơm mát

Tình thơ vô hạn, ai là người hiểu được, Chiều tà ở trên lầu, tiếng ve ngân vang.) Hay trong một khổ bài thơ Tức sự, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã miêu tả một làng quê

Trang 28

Vẻ quang tạnh làm đẹp sông nước, ngàn đóa hoa say,

Mầu biếc vây quanh khe mát, muôn khóm trúc rủ ) Chính nơi đây, trên miền quê thơ mộng này, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cùng mọi người trong làng xây dựng am Bạch Vân, quán Trung Tân; tạo nên một thú quê thanh đạm mà ông

hằng yêu mến:

Ba gian am quán lòng h ằng mến, Đòi chốn sơn hà mặt đã quen

Thanh v ắng thú quê dầu nấn ná,

D ữ lành miệng thế mặc chê khen

(Thơ chữ Nôm - Bài 8)

Một địa thế có phong cảnh tuyệt vời như vậy, ắt hẳn cuộc sống nơi đây cũng phong

lưu phồn thịnh, con người nơi đây cũng nồng ấm tình quê Trong bài Nhân thôn, Nguyễn

Bỉnh Khiêm đã miêu tả:

T ổng tổng lâm lâm sinh chí phồn,

S ở cư xứ xứ hữu hương thôn

Hào hoa h ấp nhĩ tỷ lân hội, Nhân h ậu y nhiên mỹ tục tồn

Tác t ức tư đào Nghiêu nhật nguyệt,

Âu ca c ộng lạc Thuấn kiền khôn

(Nườm nượp sum suê sinh sản ra rất đông đúc, Nơi nơi có người ở là có xóm làng

Hào hoa tụ hội, xóm giềng kề bên nhau, Lòng người nhân hậu vẫn thế, phong tục tốt đẹp còn nguyên

Làm việc nghỉ ngơi thoải mái với những ngày tháng đời vua Nghiêu, Cùng ca hát vui chung trong trời đất thời vua Thuấn.)

Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn có tấm lòng yêu quê hương tha thiết và làng quê Trung Am

nhỏ bé ấy đã hun đúc nên con người, tâm hồn và nhân cách của ông Hình ảnh quê hương đẹp đẽ như tranh vẽ, gấm thêu luôn lắng đọng trong tâm hồn và trong thơ, văn của ông:

Giang sơn tám bức như tranh vẽ Phong c ảnh tư mùa ấy gấm thêu

(An ph ận thì hơn)

Hay trong bài Ng ụ hứng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vẽ một bức tranh tuyệt tác quê mình:

Trang 29

Giang quán đăng lâm nhật hướng tà,

Th ừa nhàn bả tửu thính ngư ca

Bán thiên lương đệ thanh phong hảo, Lưỡng ngạn tình thiêm lục thụ đa

Ký th ủ tặc nô bình đình hậu, Trùng t ầm Tân quán lữ ngư hà

(Ghi nhớ sau ngày dẹp xong bọn giặc hèn,

Lại tìm về quán Trung Tân làm bạn với tôm cá.)

(Thu ỷ hành phó doanh cảm tác)

Cả cuộc đời kéo dài gần trọn thế kỉ, Nguyễn Bỉnh Khiêm từng ôm mộng báo đáp quân

thần, đem sở học ra để giúp đời nhưng ông sớm nhận thấy những ước muốn của mình không

thực hiện được Vì thế, ông đành cáo quan về ở ẩn tại quê nhà, sống cuộc sống an nhiên, nhàn tản, vui thú ruộng vườn Cũng từ đây, hơn bao giờ hết ông gắn bó với quê hương và

cảm hứng về quê hương, tình yêu, niềm tự hào về quê hương cũng dâng trào hơn bất cứ lúc nào

được bộc lộ từ rất sớm Là một tài năng lớn nhưng Cao Bá Quát không được trọng dụng,

thậm chí bị đẩy ra ngoài lề, bị tù đày, bị tra tấn rồi bị giết hại Trong những năm tháng xa quê, những vần thơ của ông viết về gia đình, quê hương luôn day dứt, trăn trở trong lòng người đọc

Thơ về quê hương của Cao Bá Quát được viết trong thời gian ở trong nước và thời gian “dương trình hiệu lực” Những vần thơ được viết dưới các hình thức khác nhau, khi là

nhớ quê, khi là miêu tả về quê hương…

Trang 30

Quê hương của Cao Bá Quát là làng Sủi, thôn Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội Đây

là một làng nhỏ ven kinh đô Hà Nội Theo truyền thuyết, đó là quê của Nguyên phi Ỷ Lan

thời Lí Làng Sủi cũng là một làng nổi tiếng về khoa bảng

Đọc những bài thơ viết về quê hương của ông, ta có thể hình dung ra phong cảnh quê hương ông với gò Thọ Chương, sông Thiên Đức, cổng làng Trung Nghĩa Lí, rồi cây gạo đầu làng Ngay cả gian nhà cổ mà Cao Bá Quát đã sống thời thơ ấu, những lớp học của các thầy

đồ, đến phòng văn nơi Cao đàm đạo và viết văn, bầu rượu, cây đèn, điếu đóm, bồ đựng bản

thảo…những vật dụng trong cuộc sống hàng ngày của Chu Thần cũng hiện hình rõ nét

Những hình ảnh của sinh hoạt đời thường cũng được đưa vào trong thơ một cách tự nhiên, chân thực như nó vốn có Đó là gian hàng xáo của người vợ nghèo họ Đỗ với cối xay lúa,

cối giã gạo, dần sàng thúng mủng, đến cả tấm áo của người đi xa…

Gắn bó với quê hương, nỗi lòng của Cao Bá Quát không phải chung chung Ông nhớ

tới từng gốc cây ở làng quê với cái nhìn trìu mến Hình ảnh quê hương trong thơ Cao Bá Quát là hình ảnh quen thuộc của cuộc sống giản dị của những người dân quê thuần hậu, chất phác, gắn với những khung cảnh hết sức quen thuộc: xóm chợ, tre làng, ngõ sâu, mảnh

vườn, bờ ao…Quê hương ông giản dị, tươi đẹp, đầy sức sống:

Trúc m ật phú dư kính,

Th ảo phong nhiễu tiền trừ

Bích chi ếu hí tiêm lâm,

Hình ảnh cây gạo đầu làng Phú Thị được Cao Bá Quát nhắc đến nhiều lần:

Cao cao m ộc thiên thụ,

C ổ cán hà thanh sơ!

Thi ều thiều vọng thử bang, Quy ết hữu cao nhân lư

(Cây gạo cao cao kia,

Gốc già mà ngọn thanh cao!

Trang 31

Xa xa trông vào trong làng, Nơi có nhà bậc “cao nhân” ở.) (Tương đáo cố hương)

Cây gạo ấy, mỗi lần xa quê, ông đều ngoảnh nhìn lại, và mỗi lần trở về nhà, nó đều yêu thương chào đón Nó lưu giữ bao kỉ niệm tuổi thơ của anh em Cao Bá Quát Ngày xưa, dưới gốc cây gạo ấy, anh em Cao Bá Quát, Cao Bá Đạt và các bạn đã cùng nhau nô đùa Cao Bá Quát nuôi hi vọng lập thân Tuổi trẻ Cao Bá Quát thể hiện cả chí và tài, chí nguyện mong được giúp dân, tài văn thơ giúp đời Ra đi để mong ấn quan hầu, song dường như nhà thơ luôn bị vấn vương bởi cái tình, cái tình trong khuôn khổ thế giới nhân sinh quen thuộc: gia đình, quê hương Vì vậy, bước chân đi thi nhưng lòng ông luôn lưu luyến,

bịn rịn với quê nhà Hình ảnh quê hương hiện lên với con đường dài thăm thẳm, khí trời hơi

lạnh, mưa sa lất phất Con đường dài thăm thẳm kia vừa là con đường thực của quê hương Cao Bá Quát nhưng cũng lại là con đường biểu tượng, con đường đời của ông

Khi bị bắt vào tù, sống trong cảnh tù ngục, cái hăm hở buổi ban đầu đã không còn, hơn lúc nào hết, nhà thơ cảm nhận được hết nỗi cô đơn của một con người không tìm được tiếng nói tri âm của một tâm hồn ngay thẳng giữa dòng đời phức tạp, nghi ngại, dèm pha Nơi tù

ngục, nỗi nhớ về quê hương luôn luôn thường trực, tồn tại ở bất kì thời khắc nào trong tâm

Hà nh ật quy sáo đồng yến yến?

Tha th ời tập uyển quý ô ô

(Biết bao giờ được về ở yên trong tổ như những con chim én?

Một ngày kia lại thẹn với đàn quạ xúm đậu nơi vườn tốt tươi)

(B ệnh trung)

Mượn hình ảnh chim én, Cao Bá Quát đã kín đáo gửi gắm ước vọng của mình, không

biết đến bao giờ ông mới được trở về quê nhà để có cuộc sống bình yên, hạnh phúc Đã bao

Trang 32

lần ông tự ví mình như chim hồng, chim hộc, chim bằng cưỡi trên chín tầng mây, nhưng tiếc

rằng như cách chim trên đường dài mệt mỏi, ông luôn mong muốn trở về bến đỗ tâm hồn,

bến đỗ đó xoa dịu, băng bó vết thương tinh thần trong con người ông, mà bến đỗ đó không

gì khác chính là quê hương Phú Thị của ông, nơi có cha mẹ già, có anh chị, có vợ và các con

Bị giam trong tù gần ba năm, đó là khoảng thời gian đằng đẵng Cao Bá Quát tha thiết mong mỏi ngày trở về đoàn tụ với quê hương, gia đình Song càng chờ đợi, lại càng bặt tin, ông chỉ còn biết ngóng trông từng tin tức nhỏ nhặt nhất từ quê hương của mình qua những người đưa tin:

M ạch mạch tương khan thức lệ ngôn, Nam nam b ất yếm thoại hương thôn

(Tần ngần vừa nhìn nhau vừa gạt nước mắt,

Rì rầm nói chẳng hết chuyện trong làng.)

(Ki ến Bắc nhân lai, nhân thoại cố hương tiêu tức)

Gần ba năm ở ngục thất là gần ba năm Cao Bá Quát không được trở về thăm quê hương, gia đình Thoát khỏi tội chết, thoát khỏi tù ngục, ông lại trở thành một kẻ xa xứ, một

kẻ tha hương nơi xứ người Ta nhận thấy mặc cảm tha hương, nỗi nhớ quê da diết thường

trực trong ông, nó trở thành nỗi khắc khoải mong được trở về:

Hương quốc tam xuân ý,

Ki ền khôn vạn lí tình

(Nỗi niềm quê hương tưởng nhớ cảnh ba xuân,

Trời đất bao la, gợi tình xa xôi muôn dặm.)

(Châu trung hi ểu vọng phụng trình đồng châu chư quân tử)

Nỗi nhớ quê hương khiến nhà thơ những tưởng một ngày là ba thu Lòng thương nhớ

ấy cứ tự nhiên trào dâng, hiện hữu giữa những câu thơ như một sự thật không muốn giấu và cũng chẳng giấu nổi:

Khách trình do v ạn lí, Hương tứ kịch tam thu

(Bước đường xa lạ, còn cách hàng muôn dặm, Lòng nhớ quê hương một ngày tưởng những ba thu.)

(Tháp l ục nhật yết đĩnh Lữ Thuận, thứ Trần Ngộ Hiên)

Trang 33

Nhớ về quê hương, Cao Bá Quát luôn mang trong mình tâm trạng xót xa, ân hận vì chưa làm được gì cho quê hương trong khi quê hương luôn là điểm tựa nâng đỡ cho nhà thơ

Do đó, ông gửi lời qua người bạn về thăm quê hương hãy cho ông xin lỗi quê hương, vì ông

chẳng biết đến khi nào mới có dịp trở về:

Kim nhân h ội viễn thích,

những tình cảm, cảm xúc của mình Giấc mộng quê hương luôn khiến ông trằn trọc:

Ch ẩm biên hương mộng tam canh viễn, Cân lí sương mao nhất dạ tăng

(Ba canh bên gối, giấc mộng quê hương càng thấy xa,

Một đêm những sợi tóc bạc trong khăn thêm lên nhiều.)

(D ữ gia nhân tác biệt thị dạ dư bệnh chuyển phát)

Xa quê, Cao Bá Quát không chỉ ngóng trông từng tin tức nhỏ, ông còn hình dung sự

thay đổi của cảnh cũ nơi quê hương Xóm làng ông hiện hình trong hình ảnh cố viên cúc:

C ố viên cúc tĩnh thu ưng trưởng

(Nơi vườn cũ, chồi cúc lặng lẽ, sang thu chắc đã lớn.)

(Ph ục giản Phương Đình)

Cao Bá Quát không chỉ là con người có chí khí lớn mà còn là người có tình yêu quê hương sâu nặng Yêu quê hương khiến ông thấu hiểu hơn và có thể chia sẻ nỗi khổ của nhân dân, những điêu đứng của cuộc sống bần hàn, đói khổ Cũng như bao sĩ phu khác, Cao Bá Quát vào đời bằng con đường khoa cử và muốn giúp đời bằng con đường làm quan, nhưng càng ngày ông càng cảm thấy bế tắc Hàng ngày, ông nhìn thấy bao cảnh đói khổ của nông dân và bất công của xã hội Tuy có lúc ông tỏ ra bi quan chán nản, nhưng vốn tính kiên cường, ông không thể tìm lối thoát nào khác ngoài con đường vùng dậy đấu tranh Dù con

Trang 34

người tài hoa hiếm có ấy gặp phải đường đời trắc trở, nhưng tấm lòng của ông trước tiên và sau hết vẫn gắn bó với quê hương mình

Đọc thơ Nguyễn Khuyến, ta có thể hình dung ra một cách rõ nét cảnh trí của làng quê Việt Nam Điều đó thể hiện tình yêu thương, gắn bó sâu nặng của nhà thơ đối với quê hương Đời thơ Tam Nguyên Yên Đổ chia làm hai giai đoạn: giai đoạn trước khi từ quan về quê và giai đoạn sau khi đã về ở ẩn Thời gian còn làm quan, với tư cách là một nhà nho gắn bó với những bước thăng trầm của triều đình, nhưng Nguyễn Khuyến đã không nhắc gì đến triều đình cũng như đã không phản ánh một sự kiện chống giặc cứu nước vào trong thơ Thời kì này chưa hề thức dậy một con người thơ thật sự ở Nguyễn Khuyến, cho dù ông có làm thơ Cái vòng danh lợi luẩn quẩn ràng buộc chưa thể khơi dậy mạch cảm xúc thơ trong con người ông Nhưng kể từ thời điểm trở về vườn Bùi, con người Nguyễn Khuyến đột nhiên có một sự biến đổi khác hẳn, dường như ông đã gạt bỏ quá khứ ở phía sau để trở thành một người khác Cũng chính từ đây, Yên Đổ mới gắn bó thật sự với con người xã hội, con người tâm trạng của ông Từ một ông quan, giờ đây Nguyễn Khuyến xuất hiện trong tâm thế là một người dân thường, sống hồn nhiên, hóm hỉnh, cùng mọi người chia sẻ những niềm vui, nỗi khổ của cuộc sống đời thường Chính cái mốc trở về Yên Đổ ấy có ý nghĩa tiền đề và quyết định cho tâm hồn và tài năng thơ phát triển Và thiên nhiên đã thật sự trở thành một trong những mảng đề tài đặc sắc có nội dung quan trọng trong thơ ca Nguyễn Khuyến Con người thi sĩ gắn bó máu thịt với thiên nhiên tươi đẹp của quê hương cũng như tên ông đã gắn liền với tên làng, tên đất Lấy tên làng Và gắn với Hoàng Giáp, đó chính là tình cảm thắm thiết không thể dứt ra được của một người con đối với đất mẹ thân yêu

Những vần thơ đầu tiên, Nguyễn Khuyến dành trọn yêu thương để nói về cảnh trí nơi quê nhà:

Vườn Bùi chốn cũ Bốn mươi năm lụ khụ lại về đây Trông ngoài sân đua nở mấy chồi cây Thú khâu hác lâm tuyền âu cũng thế…

(Trở về vườn cũ)

Sau bao nhiêu năm xa quê, giờ đây trở lại, trong con mắt nhà thơ, vườn Bùi vẫn đẹp,

vẫn xanh tươi, vẫn khơi dậy trong lòng ông những xúc cảm dạt dào Cả một thế giới như hiện ra tha thiết, nôn nao Đó là bầu trời xanh ngắt, cần trúc lơ phơ, là làn nước biếc, là bóng

Trang 35

trăng treo, là những gian nhà thấp le te, là ngõ trúc quanh co, ngoằn ngoèo, là âm thanh của muỗi vo ve, là tiếng gà gáy tẻ te, là tất cả những gì thuộc về miền quê thân thương của ông Tất cả như hài hoà thắm thiết tạo nên một cung đàn luôn luôn dịu ngọt cho mọi tấm lòng quê

Nguyễn Khuyến luôn mở rộng tầm mắt và cõi lòng mình để thâu tóm tất cả những cảnh trí bao la, những phong cảnh hữu tình của đất nước Không chỉ ngắm phong cảnh thiên nhiên đất nước trong trạng thái tĩnh tại của nó, với một tâm hồn nhạy cảm, nhà thơ còn rung động trước cảnh sắc thiên nhiên ngay cả khi tiết trời thay đổi Trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, ta thấy mùa đông dường như không xuất hiện Phải chăng mùa đông buốt giá không thể nào hòa hợp được với tâm hồn tác giả? Có lẽ vì thế mà được nhắc đến trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến chỉ là mùa xuân, mùa hè và mùa thu

Mùa xuân trong thơ của Nguyễn Khuyến ngọt ngào, ấm áp, tràn đầy sinh khí:

Tìm xuân dễ biết xuân đi tá?

Hương khói nhà ai cũng ngọt ngào

(Ngày xuân gởi cho bạn I)

Nhà thơ đã rộng mở tâm hồn đón nhận thiên nhiên, giao hòa với thiên nhiên Sợi tơ lòng của nhà thơ không chỉ rung động những tình cảm riêng tư mà còn cộng hưởng với mọi

âm hưởng trầm bổng của cảnh sắc

Vài nét vẽ trong câu thơ:

Dở trời mưa bụi còn hơi rét

(Chợ Đồng)

cũng làm cho người đọc cảm nhận được chút mưa, chút lạnh của mùa xuân quê hương

Ít có nhà thơ nào cuộc sống và thơ ca lại gắn bó, gần gũi và thông cảm với cuộc sống lao động của nông dân như Tam Nguyên Yên Đổ Tuy cái nắng chói chang, ngột ngạt của mùa hè làm cho Nguyễn Khuyến khó chịu nhưng cũng lại gợi cảm hứng để tác giả phát hiện

ra cảnh sắc xung quanh mình thật đẹp, thật sinh động:

Cá vượt khóm rau lên mặt nước, Bướm len lá trúc lượn rèm thưa

Trang 36

Vàng phai thắm nhạt ngán cho huê

Đầu cành kiếm bạn oanh xào xạc, Trong tối đua bay đóm lập lòe

(Vào hè)

Cảnh sắc mùa hè là vậy, náo động âm thanh của những con vật nhỏ bé và chói chang

sắc nắng Còn khi đến với mùa thu, có thể nói ba bài thơ thu: Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm

của Nguyễn Khuyến được coi là những bài thơ vào loại hay nhất, đẹp nhất trong thơ ca cổ điển Việt Nam Dường như ba bài thơ này tập trung tất cả những gì kỳ diệu nhất của phong cảnh thiên nhiên, dường như tất cả hồn thơ của Nguyễn Khuyến được kết tinh lại ở đây, trong ba bức tranh thu này

Nguyễn Khuyến đón nhận mùa thu với những âm thanh và màu sắc của mùa thu Việt Nam, bằng linh cảm của một nghệ sĩ của làng quê qua chùm thơ thu đã làm nức lòng bao thế hệ bạn đọc Các chi tiết, cảnh vật trong ba bài thơ này cũng như trong các bài thơ khác đều là kết quả của sự quan sát hiện thực khách quan một cách lâu dài và chính xác của tác giả Ba bài thơ, ba cảnh thu nhưng tập hợp lại là một bức tranh hoàn chỉnh về mùa thu Việt Nam với những nét đặc trưng nhất, điển hình nhất

Nét đặc sắc của chùm thơ thu là ở chỗ Nguyễn Khuyến đã quan sát cảnh vật khá tinh

tế, phát hiện ra những nét tiêu biểu của cảnh vật hòa hợp với tâm hồn mình, chọn lọc được những từ ngữ miêu tả các sắc màu, đường nét, âm thanh của cảnh vật rất chính xác, do đó đã khắc họa được một mùa thu rất sinh động, gợi cảm về nông thôn Việt Nam Nó vừa thể hiện được tấm lòng gắn bó với quê hương, xóm làng da diết của nhà thơ, vừa nói lên nỗi buồn man mác, tâm sự u hoài của tác giả trước cảnh đất nước bị đô hộ và sự bất lực của bản thân

Đọc Thu vịnh, đến Thu điếu và cuối cùng là Thu ẩm, chúng ta bắt gặp ba bức tranh thu

với ba khoảnh khắc thời gian khác nhau, bắt gặp ba dáng hình nhân vật trữ tình với công việc cụ thể: làm thơ, câu cá, uống rượu Cả ba bức tranh đều điển hình cho mùa thu của quê hương Bắc Bộ, thể hiện tài năng bậc thầy của Nguyễn Khuyến trong việc tả cảnh

Quê hương trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến không chỉ là nguồn cảm hứng trữ tình hiện lên với dáng vẻ đáng yêu mà còn có thể là nguồn cảm hứng trào phúng, là những sự vật chứa đầy mâu thuẫn, gợi lên những nét hài:

Le te nghìn xóm quanh ba mặt,

Lố nhố muôn ông lẫn một thầy

Nghĩ lại bực cho dòng nước chảy,

Trang 37

Đi đâu mà chảy cả đêm ngày

(Chơi núi Long Đội)

Nếu ở giai đoạn trước, nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm khi muốn xa lánh chốn danh lợi phù hoa, còn có lúc tự mình đi hẳn vào thiên nhiên không còn dùng dằng gì nữa, thì ở đây, Nguyễn Khuyến khi chìm trong giấc mơ giao tiếp với thiên nhiên quê hương lại chính là lúc nhà thơ thiết tha với cuộc đời, với đất nước, quê hương với tất cả màu sắc của nó

Bức tranh thiên nhiên của làng quê Việt Nam càng thêm rõ nét khi có hoạt động của con người Thiên nhiên trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến dường như thấm đượm nỗi đau của quê hương đói nghèo, lam lũ Nhà thơ tái hiện nỗi đau ấy một cách hết sức tinh tế khi hạ bút miêu tả phiên chợ Đồng ngày giáp tết Cảnh chợ tết trở nên ảm đạm vì đói nghèo, vì nợ nần Bài thơ còn cho thấy nhà thơ thật sự gắn bó, thông cảm với nhân dân:

… Dở trời mưa bụi còn hơi rét, Nếm rượu tường đền được mấy ông?

Hàng quán người về nghe xáo xác,

Nợ nần năm hết hỏi lung tung

Dăm ba ngày nữa tin xuân tới, Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng

(Chợ Đồng)

Nguyễn Khuyến đã nhìn thấy ở thiên nhiên quê hương vẻ đẹp mộc mạc, chân thật vô cùng Ông thiết tha với những cảnh đồng quê, nơi đây ông có thể tìm thấy yên tĩnh cho tâm hồn Cảnh nước lụt làm ông lo lắng Nhưng mặc dù phải:

Bắc bậc, người còn chờ chúa đến, Đóng bè, ta phải rước vua ra

(Vịnh lụt)

ông vẫn không quên nhìn cảnh bằng con mắt nghệ sĩ:

Bóng thuyền thấp thoáng dờn trên vách, Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà

(Vịnh lụt)

Nguyễn Khuyến yêu thiên nhiên thành thật Nhà nho trung hậu ấy đã tỏ một mối tình chân thật với bạn hữu, với người vợ quê mùa hiền hậu nên chúng ta không lấy làm lạ rằng ông có những tình cảm sâu nặng với thiên nhiên quê hương Ông yêu quê hương với tất cả cái đẹp và những gì mà người ta cho là bình thường nhất Nhà thơ lấy làm thú vị khi được

Trang 38

sống trong một ngôi nhà cỏ nhỏ, sống trong những cảnh giậu thưa, thấy gắn bó với những con vật của chốn làng quê đó là con trâu già thở phì phò, đó là con chó nhỏ… Ông hòa mình vào thiên nhiên quê hương để sống trong những giờ phút có sự rung cảm thật sự của tâm hồn Bằng những bài thơ viết về thiên nhiên thật bình dị, Nguyễn Khuyến đã gợi trong lòng chúng ta những cảm giác nhè nhẹ, êm đềm của cảnh vật làng quê Yên Đổ Ông đã thi vị hóa thiên nhiên, cảnh vật quê hương bằng một mối tình thanh khiết và bền vững Ngoài những lúc thổn thức với tiếng cuốc ra rả đêm hè, ông đem cả tấm lòng yêu nước để yêu cảnh vật của quê hương xứ sở Chính vì vậy, thiên nhiên quê hương trong thơ ông có một năng lực truyền cảm mạnh mẽ và đi thẳng vào lòng người đọc

Người phương Đông ngàn đời gắn bó với đất đai với quê hương Trong tiềm thức họ, quê hương luôn là điểm đến cuối cùng của tâm hồn Tình yêu với quê hương cũng không

cần phải có lí do, chỉ biết là càng xa thì càng nhớ, càng khát khao tìm về, nhất là khi cuộc

sống không như ý muốn thì khát vọng ấy càng mãnh liệt Văn học Trung đại Việt Nam cũng

đã ghi lại rất nhiều áng văn thơ viết về quê hương đầy xúc động, những vần thơ ấy có thể xem là những dòng tâm sự trực tiếp của các nhà thơ Qua những vần thơ ấy, cả một thế giới tâm hồn với những ưu tư, trăn trở về cuộc đời, về thời thế của các tác giả văn học Trung đại nói chung, của Nguyễn Du nói riêng được mở ra mong tìm được sự đồng cảm trong một xã

hội vốn nhiều loạn lạc mà thiếu vắng tri âm

Tiểu kết:

Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động Những biến

cố mà bản thân gặp phải cùng với hiện thực cuộc sống đã tác động mạnh mẽ đến tâm hồn thi nhân, làm cho thơ ông mang những nét đặc trưng không lẫn lộn Quê hương là đề tài không

thể thiếu trong thi ca Trong thơ ca trung đại trước và sau Nguyễn Du, các nhà thơ lớn đều

lấy quê hương làm niềm cảm hứng, tạo nên những bài thơ đầy cảm xúc, mang đậm dấu ấn

của từng tác giả Qua việc tìm hiểu về thời đại, con người, điểm qua nội dung chính của ba

tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du cũng như cảm hứng về quê hương trong thơ ca trung đại, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn cảnh hơn để tìm hiểu cảm hứng về quê hương trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Tuy quê hương không phải là đề tài mới mẻ trong thơ ca trung đại nhưng

đó lại là một mảng quan trọng góp phần tìm hiểu những tâm sự, những mối suy tư, trăn trở trong tâm hồn Nguyễn Du nhất là khi cả cuộc đời ông gần như phải sống kiếp sống lưu lạc

Trang 39

78/ 250 bài thơ chữ Hán có nói đến cảm hứng về quê hương đủ để thấy quê hương là nỗi ám ảnh có sức chi phối lớn trong tâm tưởng Nguyễn Du

Trang 40

Chương 2: CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG NƠI CON NGƯỜI THA

H ƯƠNG NGUYỄN DU QUA THƠ CHỮ HÁN

Theo từ điển Từ và ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân, “tha hương” có nghĩa là nơi “quê

người, đất khách” [39, tr 629]

Trong T ừ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “tha hương” được hiểu là nơi xa lạ không

phải quê hương mình nhưng buộc phải sinh sống ở đó [55, tr 907]

Như vậy, người phải “tha hương” là người buộc phải rời bỏ quê hương, sinh sống ở nơi xa lạ không phải quê hương mình

Ta thường bắt gặp nỗi niềm tha hương trong thơ ca bởi đó là hiện tượng thường thấy

của số phận con người Con người khi sinh ra, ai cũng có một nơi gọi là quê hương Có người cả đời được gắn bó với quê hương, nhưng có người vì hoàn cảnh mà phải rời xa mảnh đất ấy để đi lập thân lập nghiệp ở vùng đất khác Khi phải lìa xa, trong tâm thức của kẻ tha hương luôn là sự hụt hẫng, đau khổ, nhớ thương vì đó là cuộc chia li với cả một thế giới

hiện thực gần gũi mà mình gắn bó máu thịt như một phần thân thể Con người không ai có

thể sống thiếu quê hương – mảnh đất nơi ta sinh ra, nuôi dưỡng ta khôn lớn Nhiều sự vật thân thiết chốn quê hương đã từng ngày, từng giờ lưu dấu vào tâm thức của con người như mái nhà, mảnh vườn, giếng nước, thửa ruộng, … Vì vậy, cũng dễ hiểu khi những kẻ tha hương thường hướng tâm hồn mình về quê cha đất tổ, về nơi mình được sinh ra Đó là nỗi

niềm hoài hương Càng đến xứ lạ, nỗi nhớ quê hương càng trở nên sâu đậm Tất cả những gì thuộc về quê hương đã ăn sâu vào trong tiềm thức, ngấm vào máu thịt, là lẽ sống, là chốn yên bình trong tâm hồn Dù có khó khăn, dù xa cách, chỉ cần được sống trong cái nôi quê hương yêu dấu ấy, con người cũng cảm thấy ấm áp Trở về quê hương là ước muốn, là khát

vọng, là tiếng gọi tha thiết trong trái tim của bất kì người con nào phải xa quê

Do tha hương là một hiện tượng mang tính nhân loại như vậy, cho nên không đậm thì

nhạt, không nhiều thì ít, các thi nhân đều từng gửi gắm tấm lòng thương nhớ quê hương vào trong tác phẩm của mình Trong nền thơ ca trung đại Việt Nam trước Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát… đã có không ít những vần thơ nói về hình tượng con người tha hương Khi đến với thơ chữ Hán Nguyễn Du, ta lại một lần nữa bắt gặp sự

hiện hữu thường xuyên của hình tượng này

Ngày đăng: 02/12/2015, 07:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w