1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng phản tỉnh trong thơ chữ hán nguyễn du luận văn thạc sĩ ngữ văn

128 428 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 732 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những cảm hứng lớn của thơ chữ Hán Nguyễn Du làcảm hứng phản tỉnh, tức là sự nhận thức và xúc cảm khác, thậm chí làtrái ngược, với người đời và chính mình trước đó.. Thơ chữ Há

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ ANH

CẢM HỨNG PHẢN TỈNH

TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ ANH

CẢM HỨNG PHẢN TỈNH TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình, tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc tới TS Phạm Tuấn Vũ - người trực tiếp chỉ bảo, tận tình hướngdẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, PhòngSau §ại học, Khoa Ngữ Văn và các giảng viên trường Đại học Vinh đãnhiệt tình truyền đạt kiến thức, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trongquá trình học tập và thực hiện đề tài này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè

và đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập vànghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn.

Vinh, ngày 13 tháng 9 năm 2012

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1 KHÁI NIỆM CẢM HỨNG PHẢN TỈNH CỞ SỞ NGHIÊN CỨU CẢM HỨNG PHẢN TỈNH TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU 9

1.1 Khái niệm cảm hứng phản tỉnh 9

1.2 Giới thiệu sơ bộ về thơ chữ Hán của Nguyễn Du 11

1.3 Cơ sở để nghiên cứu cảm hứng phản tỉnh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du .14

1.3.1 Cơ sở chủ quan 15

1.3.2 Cơ sở khách quan 19

Chương 2 CẢM HỨNG PHẢN TỈNH VỀ VĂN CHƯƠNG 23

2.1 Phản tỉnh về công dụng xã hội của văn chương 23

2.1.1 Quan niệm Nho giáo chính thống 23

2.1.2 Quan niệm của Nguyễn Du 25

2.2 Phản tỉnh về tác giả văn chương 32

2.2.1 Quan niệm Nho giáo chính thống về tác giả văn chương 32

2.2.2 Quan niệm của Nguyễn Du 35

2.3 Những biện pháp nghệ thuật thể hiện cảm hứng phản tỉnh về văn chương .44

Chương 3 CẢM HỨNG PHẢN TỈNH VỀ BẢN THÂN 48

3.1 Nhận thức khái quát của Nguyễn Du về số phận 48

3.2 Nhận thức về năng lực và lý tưởng 56

Trang 5

3.3 Những biện pháp nghệ thuật thể hiện cảm hứng phản tỉnh về bản thân 64

Chương 4 CẢM HỨNG PHẢN TỈNH VỀ CÕI NHÂN SINH 71

4.1 Làm quan như bị giam trong lồng cũi 71

4.2 Người người đều là Thượng Quan, xứ xứ đều là Mịch La 79

4.3 Người tài sắc chịu nhiều oan khuất 92

4.4 Những biện pháp nghệ thuật thể hiện cảm hứng phản tỉnh về cõi nhân sinh 103

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Du không chỉ là nghệ sĩ lớn mà còn là một trí tuệ kiệtxuất, thực sự xứng đáng là một trong những nhân vật nổi bật của thời đại(thuộc “An Nam ngũ tuyệt”) như người đời tôn xưng Thơ chữ Hán củaNguyễn Du (250 bài) là một tài sản tinh thần to lớn Nhiều nhà nghiên cứucho rằng chỉ với thơ chữ Hán, Nguyễn Du đã xứng đáng là một thi hào

Mai Quốc Liên khi giới thiệu tập Thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã nhận định: “Truyện Kiều là “diễn âm”, “lỡ tay” mà thành kiệt tác, còn thơ chữ

Hán mới đích là “sáng tác”, nên xem nó là phát ngôn viên chính thức củaNguyễn Du (…) Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng văn chương nghệthuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa Nó mới lạ và độcđáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độcđáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa” [29; 7] Nhà nghiên cứuĐặng Thanh Lê viết: “Thơ chữ Hán Nguyễn Du có một vị trí đặc biệt ở

ý nghĩa trực diện phản ánh dòng đời và đặc biệt là dòng tâm tưởng củanhà thơ (…) Tuy thuộc về những thời điểm sáng tác khác biệt và khaithác nhiều đề tài đa dạng nhưng toàn bộ Thơ chữ Hán Nguyễn Du cómột ý nghĩa khái quát nghệ thuật chung, đó là lời tự thuật về một cuộcđời, một con người và một tâm hồn nghệ sĩ vĩ đại đứng trước xã hội đầymàu sắc bi kịch ở thế kỉ cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam”

[39; 170-171] Thơ chữ Hán Nguyễn Du gồm 3 tập: Thanh Hiên tiền hậu

tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục Các thi tập này không chỉ

góp phần làm nên diện mạo nền thơ trung đại mà còn là nguồn tư liệu giúpchúng ta tìm hiểu thế giới nội tâm của chính tác giả Vì vậy, tìm hiểu thơchữ Hán của Nguyễn Du có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu vàgiảng dạy văn chương của tác gia này

1.2 Nguyễn Du là một thiên tài văn chương luôn có ý thức sâu sắc

về mình và cõi nhân sinh Đặc biệt là thơ chữ Hán của thi hào được viết

Trang 7

trong thời kỳ mà cuộc sống của ông và hoàn cảnh xã hội có nhiều biến động dữdội - trong đó có những điều tưởng như không thể lý giải - nên ý thức đó lạicàng phong phú, phức tạp và không tránh khỏi những mâu thuẫn Không phải

ngẫu nhiên mà Nguyễn Du tâm đắc với câu thơ của Đỗ Phủ: Nho quan đa ngộ

thân (Mũ nhà nho làm ta nhiều lầm lỡ) Thuộc tính phổ biến của những nghệ sĩ

lớn xưa nay là không bằng lòng với hiện tại, luôn đưa ra những lời giải đáp mớicho những vấn đề tưởng như đã được giải quyết và luôn đặt ra những vấn đềmới của nhân sinh không dễ nhận thức Nguyễn Du có năng lực tư duy sâu sắc,con tim nhân ái và năng lực biểu hiện những giá trị này thành hình tượng thơnên những điều này đã quán xuyến trong thơ chữ Hán của thi hào

Một trong những cảm hứng lớn của thơ chữ Hán Nguyễn Du làcảm hứng phản tỉnh, tức là sự nhận thức và xúc cảm khác, thậm chí làtrái ngược, với người đời và chính mình trước đó Cũng có khi là sự táixác tín sau những trở ngại, đấu tranh Nghiên cứu cảm hứng này trongthơ chữ Hán của Nguyễn Du góp phần lý giải thành tựu bộ phận thơ nàycủa thi hào

1.3 Thơ chữ Hán của những tác giả nổi tiếng của văn học ViệtNam thời trung đại đều có cảm hứng phản tỉnh với các biểu hiện và mức

độ khác nhau Nghiên cứu đề tài này góp phần khu biệt thơ chữ Hán củaNguyễn Du với thơ chữ Hán của các tác giả khác khi cùng thể hiện cảmhứng phản tỉnh

2 Lịch sử vấn đề

Về cảm hứng phản tỉnh trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du dù đã cónhững bài viết ít nhiều nói đến nhưng vẫn còn sơ lược Có thể kể đến một

số tác giả với một số công trình không chuyên về vấn đề này:

Nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi trong bài “Nguyễn Du và thế giới

nhân vật của ông trong thơ chữ Hán” đăng trên Tạp chí Văn học, tháng

11-1966, sau này in lại ở cuốn Nguyễn Du, về tác gia và tác phẩm, Nxb Giaos

dục, 2001 cho rằng: “Có thể nói, khác với những tác phẩm khác, thơ chữ

Trang 8

Hán Nguyễn Du là một cách Nguyễn Du đặt vấn đề trực tiếp về số phậncủa mình, gắn liền với vận mệnh của chúng sinh trong nhiều thời đại, nhất

là thời đại ông đang sống” [8; 57] và “Nguyễn Du không phải là con ngườihành động mà là con người tư tưởng Con người ấy tiếp nhận tất cả mọi cayđắng trong đời với một thái độ lặng lẽ, chịu đựng Nhưng bên trong conngười đó, một cuộc đấu tranh ngấm ngầm chống lại mọi nguy cơ sa ngãvẫn diễn ra giai dẳng không ngừng” [8; 63]

Trong lời nói đầu cuốn Nguyễn Du toàn tập, tập 1, 1996, Mai Quốc

Liên đánh giá: “Từ chỗ nhìn cuộc đời thấy nó tàn lụi, buồn chán, vô nghĩa,chỉ còn cách đi ở ẩn là trong sạch; dần dần, do lịch duyệt cuộc đời, do sách

vở, nhất là do Đỗ Phủ, Nguyễn Du đã nhìn đời một cách khác Đó là mộtbước chuyển biến lớn Giờ đây Nguyễn Du vẫn buồn đau – thơ ca luônnhạy cảm với nỗi đau khổ của con người, huống nữa thời đại Nguyễn Du làmột thời đại bi kịch Nhưng cái nhìn ấy so với trước, đã mạnh khỏe và chứađầy những ý tưởng lớn” [29; 15]

Công trình Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam trong

phần nói về “Con người cá nhân cô đơn, xót mình đầy tâm trạng trong thơ

chữ Hán và Truyện Kiều của Nguyễn Du” nhận định: “Văn học thời trước

thường thấy một cái “ta” mạnh mẽ, cương liệt, to lớn (…) Đó là vì conngười được đồng nhất với Đạo, dựa vào sức mạnh của Đạo Nguyễn Dunhìn người như một cá nhân tách khỏi Đạo nên hiểu rõ cái nhỏ bé của nótrước cuộc đời” [57; 178]

Xuân Diệu - tác giả cuốn Ba thi hào dân tộc (2000) khi bàn về “Con

người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán” đã nhìn nhận: “Hoàn cảnh riêng củaNguyễn Du, trải qua một thời ly loạn, theo như nói trong thơ, đã chịu nhiềuthiếu thốn, cơ cực; hoàn cảnh đó làm cho Nguyễn Du dễ thống nhất câu hỏi

về bản thân: - Sinh sống ra sao? với câu hỏi cho xã hội: - thời thế đi đếnđâu?” [15; 210]

Trang 9

Năm 2006, PGS TS Nguyễn Hữu Sơn viết ở phần “Thơ chữ Hán

Nguyễn Du” ở cuốn Thi hào Nguyễn Du, từ thơ chữ Hán đến kiệt tác

Truyện Kiều như sau: “Ba tập thơ cho thấy những chặng đường sáng tác

phù hợp với các chặng đường đời và tư tưởng tác giả Xuyên suốt nội dungthơ chữ Hán là tiếng nói trữ tình, tiếng nói nhân văn giữa một thời tao loạn,tiếng nói khắc khoải tìm về ý nghĩa đích thực của cuộc sống con người”[56; 20]

TS.Phạm Tuấn Vũ trong sách Văn học Việt Nam trung đại trong nhà

trường, Nxb Giáo dục, 2007 ở bài “Nguyễn Du viết về các nhân vật lịch sử

Trung Hoa (trong Bắc hành tạp lục)” cho rằng: “Với các nhân vật lịch sử,

người Trung Hoa đương thời và các thế hệ sau có cách đánh giá của họ,Nguyễn Du cũng có cách đánh giá của riêng mình” [73 ; 174] “Xưa kiaTống Ngọc thương cho hồn phách kẻ cô trung sắp tiêu tán nên làm bài từgọi về Nguyễn Du thì nghĩ khác, nhà thơ biết rằng Khuất Nguyên lấy cáichết để bày tỏ thái độ bất cộng đái thiên với cái xấu cái ác và mong Sởvương tỉnh ngộ, nếu những mục đích này không đạt được thì dẫu hồn có táisinh cũng chẳng có ý nghĩa gì” [73; 150] và “Xưa kia những người có tàinăng và cá tính biểu thị sự bất hòa với xã hội bằng nhiều cách, trong đó cócách dùng rượu quên đời như Lưu Linh Người đời đánh giá cao cách hành

xử đó, tôn xưng ông vào hang người hiền (trong Trúc Lâm thất hiền) nhưng

Nguyễn Du nhìn nhận khác: Lưu Linh chi tử bất thành tài Nhà thơ không

tán đồng cách nhìn đời bằng con mắt của người say vì nó khiến mọi sự như

nhau” [73 ; 151] Từ đó, tác giả kết luận: “Với Bắc hành tạp lục, Nguyễn

Du đã làm một cuộc tập hợp lớn, một sự kiểm định mạnh bạo, đầy cảm xúc(…) Nguyễn Du đối thoại với cổ nhân, tán đồng hoặc tranh luận với nhữngđánh giá của người đời về họ Tất cả đều xuất phát từ tinh thần thực sự cầuthị, từ sự trăn trở không nguôi về ý nghĩa cuộc đời và quyền sống của đôngđảo chúng sinh” [73; 153]

Trang 10

Năm 2011, trong bài “Nguyễn Du với tư tưởng Đạo gia (Qua thơ chữHán)” TS.Nguyễn Thanh Tùng khẳng định: “Đến thời Nguyễn Du và nhất

là với bản thân ông, những tín điều của Nho giáo không còn mấy sứcmạnh: “Những biến động xã hội to lớn làm đảo lộn các giá trị tới tận gốc

rễ, những cuộc thay họ đổi ngôi chớp nhoáng và sự đen bạc của lòng ngườikhôn lường trong thời buổi loạn lạc đã khiến Nguyễn Du không còn đủniềm tin vào những lý tưởng chính trị và đường lối chính trị mà ông đãđược dạy dỗ như những niềm xác tín từ thuở nhỏ” Nguyễn Du tìm đến triết

lý Đạo gia là tìm đến sự phủ nhận triệt để hơn, mạnh mẽ hơn” [62; 132] và

“Như vậy, cái nhìn hư ảo về cuộc đời và thái độ coi khinh danh lợi trong tưtưởng của Đạo gia có ảnh hưởng không nhỏ đến Nguyễn Du Nguyễn Dutiếp thu nhiều khía cạnh của cái nhìn đó Tuy nhiên, ở Nguyễn Du, điều đókhông biến ông trở thành con người cực đoan, lánh đời như Đạo sĩ (…)Ông cũng không thường cực đoan phủ nhận đời sống, phủ nhận sự phânbiệt phải trái, hữu vô,…đến mức “tề vật luận”, “tương đối luận” như Trang

Tử Mặt khác, Nguyễn Du chưa có dược cái nhìn “Đạo học” đầy an nhiên,

tự tại kiểu triết nhân như các Đạo sĩ, dật sĩ, mà bao giờ, thơ ông cũng bănkhoăn, trăn trở” [62; 133-134]

Trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 9- 2011, TS Nguyễn Thị Nương

viết trong bài “Con người thương thân - một biểu hiện độc đáo của ý thức

cá nhân trong thơ chữ Hán Nguyễn Du” có đoạn như sau: “Ý thức và niềmthương cảm cho sự mong manh, hữu hạn của chiếc thân trần kết đọng lạitrong hình ảnh con người đầu bạc, tóc ngắn trong thơ chữ Hán Nguyễn Du.Đây vốn là những thi liệu ước lệ quen thuộc của thơ xưa (…) Họ thườngbộc lộ cái nhìn mang tính ước lệ - ung dung, điềm tĩnh trước sự biến đổi tấtyếu của hình xác con người (…) Với Nguyễn Du, mái đầu bạc đã trở thànhtín hiệu riêng của nỗi thương thân (…) Mái đầu tóc ngắn, tóc bạc là dấutích hữu hình của những đau thương, bất hạnh dội xuống cuộc đời Nguyễn

Trang 11

Du Chúng gợi sự mất mát của tuổi thanh xuân, sự mòn mỏi của tài năng,chí khí …” [43; 148 - 149].

Về cảm hứng phản tỉnh trong từng tác phẩm thơ chữ Hán Nguyễn Ducũng đã được một số nhà nghiên cứu nói đến:

Hoài Thanh trong bài “Tâm tình của Nguyễn Du qua một số bài thơ

chữ Hán” in trong Tạp chí Văn nghệ tháng 3/1960 và được in lại ở cuốn

Nguyễn Du, về tác gia và tác phẩm nhận xét: “Văn chương Nguyễn Du

bằng chữ Hán cũng như chữ Nôm không bao giờ là thứ văn chương viết để

mà chơi, có cũng được không có cũng được Một điều rất rõ là Nguyễn Du

đã viết dười sự thôi thuc của những nỗi niềm không nói ra không được.Thơ ở đây là lời nói trực tiếp không phải là lời nói gián tiếp như quaTruyện Kiều nên lại càng có thể giúp ta đi sâu vào tâm tình Nguyễn Du

(…) Trở lại bài Phản chiêu hồn Trái với thói thường, Nguyễn Du gọi hồn

Khuất Nguyên và bảo hồn đừng có trở về cõi đời này vì cõi đời nàyNguyễn Du cảm thấy nó cực kỳ ghê tởm” [64 ; 33- 40]

Ở cuốn Thi hào Nguyễn Du, từ thơ chữ Hán đến kiệt tác Truyện

Kiều, (Nguyễn Hữu Sơn chủ biên), tác giả Lê Bảo khi bình luận Long hành cầm giả ca có nhắc lại nhân vật Tiểu Thanh của Nguyễn Du và

khẳng định: “Nhà thơ khóc Tiểu Thanh khi cuộc đời này không còn ai

khóc nữa” [56; 48] Cũng tác giả Lê Bảo, ở bài viết về Phản chiêu hồn

nhấn mạnh: “Và như thế là cách nhìn của Nguyễn Du trong Phản chiêuhồn là hoàn toàn khác Linh hồn Khuất Nguyên đã được nâng cấp và đặcbiệt nó đối lập với cái xã hội hiện thời như ánh sáng và bóng đêm Tính bútchiến, luận chiến của bài thơ hướng về phía ấy, phía tố cáo hiện thực trêngóc độ nhân bản và sự đồng điệu tâm linh” [56; 74]

Các nhà nghiên cứu cũng đã chú ý đến một số vấn đề về phương diệnnghệ thuật biểu hiện cảm hứng phản tỉnh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du:

Trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ

XIX, Đặng Thanh Lê khẳng định: “Tuy thuộc về những thời điểm sáng tác

Trang 12

khác biệt và khai thác nhiều đề tài đa dạng nhưng toàn bộ Thơ chữ HánNguyễn Du có một ý nghĩa khái quát nghệ thuật chung, đó là lời tự thuật vềmột cuộc đời, một con người và một tâm hồn nghệ sỹ vĩ đại đứng trước xãhội đầy màu sắc bi kịch ở thế kỷ cuối cùng của chế độ phong kiến ViệtNam” [39; 171].

Tác giả Mai Quốc Liên trong Nguyễn Du toàn tập, tập 1 nhận xét:

“Thơ Nguyễn Du vẫn tuân thủ luật Đường, vẫn mang tất cả những đặcđiểm của thơ Đường như sự tiết kiệm tối đa các phương tiện biểu đạtnhưng lại tạo ra một trường liên tưởng đầy đủ nhưng mÆt khác Nguyễn

Du cũng không giống bất cứ một nhà thơ đời Đường nào khác, kể cả bậcthầy Đỗ Phủ Có lẽ đó là nhờ Nguyễn Du đã biết rằng “linh văn bất tạingôn ngữ khoa” (văn thiêng không phải ở ngôn ngữ); cần hướng tới “khônglời” (vô ngôn) mầu nhiệm, tức là hướng tới chính bản ngã của mình và bảnthể vũ trụ” [29 ; 20]

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu, những bài viết trên đãtừng bước đề cập đến cảm hứng phản tỉnh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du

Đó là những ý kiến quý báu, là tiền đề giúp chúng tôi tìm hiểu một cách hệthống hơn cảm hứng này trong thơ chữ Hán Nguyễn Du

Luận văn nghiên cứu cảm hứng phản tỉnh trong 250 bài thơ chữ Hán

của Nguyễn Du đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt, in trong Nguyễn Du,

Trang 13

niên phổ và tác phẩm do Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính biªn so¹n

(2001), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lịch sử - cụ thể: Nhìn nhận cảm hứng này như là sảnphẩm của tài năng và nhân cách Nguyễn Du trong những hoàn cảnh cụ thểcủa xã hội và bản thân nhà thơ

Phương pháp hệ thống: Nhìn nhận cảm hứng này như một hệ thốngcảm hứng nghệ thuật không tách rời các cảm hứng nghệ thuật khác

Phương pháp đối sánh: Đối sánh từng nội dung của cảm hứng nàytrong các thời kỳ, các tập thơ và bước đầu đối sánh với tác giả khác

Luôn quán triệt đặc thù của đối tượng nghiên cứu: Nguyễn Du thểhiện tư tưởng cảm xúc bằng hình tượng thơ và giọng điệu thơ

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của

luận văn được trình bày trong 4 chương:

Chương 1: Khái niệm cảm hứng phản tỉnh Cở sở nghiên cứu cảmhứng phản tỉnh trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du

Chương 2: Cảm hứng phản tỉnh về văn chương

Chương 3: Cảm hứng phản tỉnh về bản thân

Chương 4: Cảm hứng phản tỉnh về cõi nhân sinh

Trang 14

Chương 1 KHÁI NIỆM CẢM HỨNG PHẢN TỈNH CỞ SỞ NGHIÊN CỨU CẢM HỨNG PHẢN TỈNH TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU

Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương viết trong Lý luận văn học

-vấn đề và suy nghĩ: “Cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi

nên bởi một tư tưởng nào đó” [9; 208]

Như vậy, có thể hiểu “cảm hứng” là trạng thái tâm lý, tình cảm mãnhliệt được thể hiện rõ nhất, sáng tạo nhất ở những người nghệ sỹ trong sángtạo nghệ thuật

Từ "phản tỉnh" ban đầu là một thuật ngữ chỉ giới tu hành mới dùng,

nhưng sau nó trở thành phổ biến Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên,

Nxb Đà Nẵng, 2001) định nghĩa: “phản tỉnh là tự kiểm tra tư tưởng và hànhđộng của mình trong quá khứ, đặc biệt để thấy ra lỗi lầm” "Phản" là ngượclại, là hành động quay lại so với cái đang diễn ra "Tỉnh" nói đủ là "tỉnh giác",

là trạng thái minh mẫn, sáng suốt, không mê mờ "Phản tỉnh" chính là sự hồitâm, quay trở về bên trong để quan sát thân tâm mình, không để tâm ý bịngoại cảnh chi phối, dẫn dắt Từ này hiện được dùng phổ thông với nghĩa tựsoi rọi, kiểm điểm tư tưởng bản thân, thực ra là một cách đời thường hóa đốivới nguyên nghĩa của thuật ngữ nhà Phật này

Trong cuộc sống cũng như trong văn học, ta có thể bắt gặp conngười tự phản tỉnh để ý thức được những cái đẹp, cái quý, cái cao cả của

Trang 15

con người đồng thời cả những giới hạn và bi kịch của đời người Con người

ấy cú khi hướng nội để tự xem xột về ý nghĩa của kiếp người, sự tồn tại củađời người Đú là sự phản tỉnh ở cấp độ con người - nhõn loại mang ý nghĩatriết học Cũng cú khi con người ấy hướng ngoại để tự soi xột hành vi củabản thõn, để biết mỡnh đó làm được gỡ, chưa làm được gỡ, để đỏnh giỏ chớnhmỡnh, để tự hiểu mỡnh Đú là sự phản tỉnh ở cấp độ con người - cỏ thể mang

ý nghĩa nhõn sinh

Khỏi niệm phản tỉnh trong văn học chỉ sự tự ý thức, tự kiểm tra tưtưởng, tỡnh cảm và hành động của mỡnh theo hướng tự phờ phỏn, một sựphờ phỏn từ bờn trong, đặc biệt để thấy ra những bế tắc, những bất lực và cảnhững lỗi lầm của mỡnh

Trong luận văn này, ngoài ý nghĩa cơ bản (phản tỉnh là định giỏ lại),cũn được mở rộng ra là cảm nhận thờm những giỏ trị hữu quan Phản tỉnhkhụng chỉ là một cỏch tự thể hiện bản thõn, nú là vấn đề tự thõn, tự nhậnthức, tự đỏnh giỏ lại, xuất phỏt từ việc gắn bú mỏu thịt giữa cuộc sống cỏnhõn với những thăng trầm của lịch sử dõn tộc Phản tỉnh là thay đổi cỏinhỡn, thay đổi nhận thức, tự hướng cỏi nhỡn vào bờn trong - một sự việc phờphỏn từ bờn trong hết sức nghiờm tỳc, tỉnh tỏo bằng tất cả tinh thần tự giỏccủa một chủ thể

í thức phản tỉnh là một xu hướng phỏt triển tất yếu của những cỏnhõn sống cú ý thức cao Nú cú thể diễn ra khi con người tự ý thức đượcbản thõn mỡnh Khi cuộc sống thay đổi, khi nhu cầu của bản thõn người viếtcũng thay đổi thỡ văn chương muốn phỏt triển phải thay đổi Phản tỉnhtrước hết thuộc về tư tưởng tuy nhiờn, ở cỏc thi nhõn, tư tưởng phải chuyểnhúa thành cảm hứng mới sỏng tạo nờn thi phẩm

Túm lại, cảm hứng phản tỉnh là sự nhận thức và xỳc cảm khỏc, thậmchớ là trỏi ngược với người đời và chớnh mỡnh trước đú Trong văn học nớc

ta từ xa tới nay, bên cạnh những nguồn cảm hứng khác nh cảm hứng hiệnthực, cảm hứng nhân đạo cảm hứng này thờng xuyên xuất hiện với nhiều

Trang 16

cấp độ, sắc thái khác nhau Đặc biệt trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, cảmhứng phản tỉnh thể hiện rõ nét và xuyên suốt toàn bộ ba tập thơ.

1.2 Giới thiệu sơ bộ về thơ chữ Hỏn của Nguyễn Du

Nhắc đến Nguyễn Du, người ta nhớ ngay đến Truyện Kiều nhưng sẽ

thật thiếu sút nếu khụng dành cho thơ chữ Hỏn của ông sự quan tõm và một

vị trớ xứng đỏng Ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiờn tiền hậu tập (Thanh Hiờn

thi tập), Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục cú vị trí quan trọng trong

sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du

Xuyờn suốt thơ chữ Hỏn Nguyễn Du là tiếng núi trữ tỡnh, tiếng núinhõn văn giữa một thời tao loạn, tiếng núi khắc khoải tỡm về ý nghĩa đớch thựccủa cuộc sống con người Cỏc thi tập cho thấy phần sõu kớn trong tõm trạngthi nhõn, là một tiếng thở dài luận bàn nhõn tõm thế sự và xút thương thõnphận… Nú như cuốn nhật ký tõm trạng, giói bày mọi nỗi niềm, mọi ý nghĩtrong cảnh sống thường nhật của chớnh Nguyễn Du, ghi dấu trung thànhnhững sự biến trong cuộc đời thăng trầm của thi nhõn, qua đú mà thế hệ hậusinh cú thể hiểu cụ thể hơn, sõu sắc hơn về Nguyễn Du, về những gỡ đó làmnờn một nhà thơ lớn, một người nghệ sỹ vĩ đại của mọi thời đại

Cả ba tập thơ chữ Hỏn của Nguyễn Du nay mới gúp được 250 bài

nhờ cụng sức sưu tầm của nhiều người (Theo Nguyễn Du, niờn phổ và tỏc

phẩm, Nguyễn Thạch Giang, Trương Chớnh, Nxb Văn húa Thụng tin,

2001) Cỏc tập thơ này cho thấy những chặng đường sỏng tỏc, với cỏcchặng đường đời và tư tưởng tỏc giả

Thanh Hiờn tiền hậu tập (Thanh Hiờn thi tập): là tập thơ chữ Hỏn đầu

tiờn của Nguyễn Du, gồm 78 bài Dựa vào đời sống và tõm sự của nhà thơnhúm biờn soạn đó sắp xếp, phõn chia tập thơ vào ba giai đoạn:

- Mười năm giú bụi: (1786 - khoảng cuối 1795 đầu năm 1796): tức

năm Tõy Sơn bắt đầu đưa quõn ra Bắc Hà, cho đến năm Nguyễn Du trở vềquờ nhà ở Hồng Lĩnh

Trang 17

- Dưới chõn nỳi Hồng (1796-1802): quóng thời gian ụng về ẩn tại quờ

nhà (Hà Tĩnh)

- Làm quan ở Bắc Hà (1802-1804): quóng thời gian ụng bắt đầu ra làm

quan cho nhà Nguyễn

Thi tập bộc lộ nỗi niềm của Nguyễn Du trong những thỏng năm sốnglong đong, vụ vọng với rất nhiều những xút xa về thõn phận, đồng thờihướng về quờ hương thõn thuộc… Nội dung nổi bật là sự cô độc của nhàthơ trong những tìm kiếm tinh thần Ở đấy cú những tâm sự mà ngời ta cho

là "tâm sự hoài Lê", những đờng nét thuộc xu hớng chính trị mờ dần, và

đậm dần lên nhận thức mang tính triết lý về cõi thế phù vân, cuộc đời dâu

bể, kiếp ngời ít ý nghĩa

Nam trung tạp ngõm (Ngõm nga lặt vặt lỳc ở miền Nam): gồm 40 bài,

sỏng tỏc trong khoảng thời gian từ 1805- 1812, tức là từ khi được thănghàm Đụng cỏc điện học sĩ ở Huế cho đến hết thời kỳ làm Cai bạ dinhQuảng Bỡnh

Nam trung tạp ngõm là tiếng thở dài của nhà thơ trước thực trạng

mà ụng khụng thấy cú gỡ gắn bú Ở đõy ụng vẫn chưa biểu lộ được nhiềutõm sự thật của mỡnh Tỏc phẩm cú tớnh chất nhật ký, bỳt ký phản ánh tâmtrạng của Nguyễn Du ở chốn quan trờng đầy bon chen, đố kị, những hệ luỵ,ràng buộc mất tự do mà hoàn cảnh ấy đem đến Đồng thời tập thơ còn là sựgửi gắm nỗi niềm về quê hơng, gia tộc của nhà thơ khi phải sống cảnh xaquê, xa nhà

Trong một số bài thơ, Nguyễn Du núi về sự nghốo tỳng, ốm đau của

mỡnh (Ngẫu đề, Thủy Liờn đạo trung tảo hành ) hay núi một cỏch mỉa mai và búng giú về thúi hay chốn ộp của cỏc quan lại (Ngẫu đắc, Điệu khuyển ).

Trong một số bài khỏc, ụng than thở rằng làm quan là bị nhốt vào lồng cũi,

khụng tỡm đõu được những ngày phúng khoỏng tự do nữa (Tõn thu ngẫu

hứng, Tặng nhõn, Vọng Thiờn thai tự ) Một số bài cứ trở đi trở lại với cỏi

tõm sự u uất, bế tắc của mỡnh (Tạp ngõm, Thu chớ, Thu nhật ký hứng )

Trang 18

Cũng giống như Thanh Hiờn thi tập, trong Nam trung tạp ngõm,

Nguyễn Du ớt biểu lộ thỏi độ chớnh trị của mỡnh Chỉ thấy ụng than thở cuộcđời là đỏng buồn, đỏng chỏn, là vụ nghĩa, bói bể nương dõu

Bắc hành tạp lục (Ghi chộp linh tinh trong chuyến đi sang phương

Bắc): gồm 132 bài thơ, sỏng tỏc trong thời gian đi sứ Trung Quốc năm

1813-1814 Đõy là một tập thơ du ký, đồng thời là cuốn sách hồi cố về tinh thần,ghi lại một cuộc trở về vựng văn hoá vốn quen thuộc, đối thoại với những đạidiện của nó, đồng thời tự biểu hiện thế giới tinh thần, tâm trạng của mìnhtrong hơn một năm đi sứ Những bài thơ Nguyễn Du viết trờn đường đi sứđược chia thành hai loại:

- Đề tài "lộ trỡnh" gồm khoảng 70 bài, ghi lại những cảm hứng nẩysinh, những điều tai nghe mắt thấy trờn từng chặng đường đi, rồi qua đú

nhà thơ giói bày tõm trạng, như Minh Giang chu phỏt, Thỏi Bỡnh thành hạ

Thơ Nguyễn Du cũng như thơ bao người đi sứ khỏc thường nhớ nhà

và tỡnh cảnh nơi đất khỏch quờ người Nhiều bài thơ phản ỏnh hiện thực bấtcụng biểu thị lũng thương cảm sõu xa những người trung nghĩa bị hóm hại,những người tài hoa bị vựi dập, những người lao động cựng khổ bị đúi rộtcựng nỗi khinh ghột giới thống trị kiờu căng và tàn bạo Một số bài như

Phản chiờu hồn, Thỏi Bỡnh mại ca giả, Long thành cầm giả ca đó thể hiện

rừ rệt lũng ưu ỏi con người Những bài viết về Thăng Long, về quờ hương

và cảnh vật ở những nơi Nguyễn Du đó đi qua đều toỏt lờn nỗi ngậm ngựidõu bể

Thơ chữ Hỏn Nguyễn Du đó đạt trỡnh độ cổ điển Ba tập thơ cúnhiều bài thơ luật (ngũ ngụn, thất ngụn) và tứ tuyệt theo thi phỏp cổ điển,

Trang 19

có đôi khi có chơi chữ tinh tế và cú pháp tạo được ấn tượng Những bài thơ

cổ phong và trường thiên của ông có tư tưởng nhân văn, với một phongcách phóng khoáng Lời thơ điêu luyện, lay động cõi người Giọng thơ utrầm thấm thía, đầy cảm xúc

Thơ chữ Hán Nguyễn Du đã biểu lộ tâm tình, suy nghĩ của nhàthơ trong suốt cả chặng đường dài, trải qua bao biến cố của bản thâncũng như thời cuộc Nhiều bài thơ nặng trĩu một nỗi buồn đau, bi thiết,một mối quan hoài dằng dặc Buồn đau cho bản thân, cho thời cuộc,bao kiếp người Cảm quan thường trực trong thơ chữ Hán Nguyễn Du

là Bách niên đa thiểu thương tâm sự (Cuộc đời trăn năm có biết bao chuyện thương tâm) Nếu như Truyện Kiều cơ bản gián tiếp gửi gắm

nỗi đau của mình, của muôn người và của cuộc đời qua những kiếpngười, nhữngt số phận, thì thơ chữ Hán là tiếng nói trực diện SáchNgữ văn 10, tập 2 nhận xét: "Thơ chữ Hán của Nguyễn Du thể hiện tư

tưởng, nhân cách của ông Các bài thơ trong Thanh Hiên thi tập và

Nam trung tạp ngâm tuy biểu hiện một tâm trạng buồn đau, day dứt

nhưng đã cho thấy rõ khuynh hướng quan sát, suy ngẫm về cuộc đời,

về xã hội của tác giả Trong Bắc hành tạp lục, những điểm đặc sắc tư

tưởng, tình cảm của Nguyễn Du được thể hiện rõ ràng hơn Có banhóm đáng chú ý: Một là ca ngợi, đồng cảm với các nhân cách caothượng và phê phán những nhân vật phản diện Hai là phê phán xãhội phong kiến chà đạp quyền sống con người Ba là cảm thông vớinhững thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội, bị đọa đày hắt hủi…” [34 ;94]

1.3 Cơ sở để nghiên cứu cảm hứng phản tỉnh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du

Một trong những cảm hứng lớn của thơ chữ Hán Nguyễn Du là cảmhứng phản tỉnh Cảm hứng ấy bắt nguồn từ nhiều cơ sở với những tiền đềchủ quan và khách quan

Trang 20

1.3.1 Cơ sở chủ quan

Nguyễn Du (1766 - 1820), tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệuHồng Sơn lạp hộ, quê gốc làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh HàTĩnh.Nguyễn Du sinh ra và trải qua thời niên thiếu ở Thăng Long Thânmẫu là bà Trần Thị Tần, người xứ Kinh Bắc

Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng cuộc sống nàykéo dài không quá mười năm vì những biến động của xã hội và gia đình,những biến cố của thời đại Mười một tuổi mồ côi cha, 13 tuổi mẹ chết, vìthế tiếng là con quan đại thần nhưng ngay từ thời thơ ấu Nguyễn Du đãphải sống vất vả thiếu thốn Năm 1780, khi Nguyễn Du mới 15 tuổi thì xảy

ra Vụ mật án Canh Tí: Kiêu binh kéo đến phá nhà Nguyễn Khản Anh emNguyễn Du từ bấy lâu nương nhờ ông Khản, lúc này mỗi người phải mỗingả Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường Bước chân vàođời, vì không đỗ cao nhà thơ chỉ được kế chân ông bố nuôi họ Hà làmmột chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên Chiến tranh loạn lạc xảy ra, bảnthân Nguyễn Du cũng trôi dạt, những sóng gió cuộc sống chính trị xã hội

đã tác động mạnh đến Nguyễn Du Ðiều đó ảnh hưởng lớn đến vănchương của ông sau này:

Nước trôi hoa rụng đã yên Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian

(Truyện Kiều)

Năm 1786, Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà Nguyễn Du phảisống nhiều năm phiêu bạt trên đất Bắc (1786 - 1796) Lúc đầu, ông chạytheo vua Lê Chiêu Thống nhưng không kịp, đành trở về quê vợ ở QuỳnhCôi - Thái Bình, sống nhờ nhà người anh vợ là danh sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn.Được vài năm, Nguyễn Du về ẩn cư tại quê nhà ở Tiên Điền, Hà Tĩnh(1796 - 1802) Những năm Nguyễn Du về lại Tiên Điền, cơ nghiệp nhà họNguyễn không còn gì, ông sống trong cảnh bần hàn, thiếu thốn đủ điều.Năm Gia Long nguyên niên (1802), Nguyễn Du được triệu ra làm quan, giữ

Trang 21

nhiều chức vị khỏc nhau Sau đú ụng cỏo bệnh xin lui về quờ Năm GiaLong thứ 5 (1806), Nguyễn Du được triệu vào kinh đụ Huế giữ chức Đụngcỏc học sĩ; được thăng thưởng rất nhanh, rồi cú chỉ sai làm Chỏnh sứ tuếcống đi Trung Hoa Thỏng 4 năm Giỏp Tuất (1814) ụng trở về Kinh đượcthăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng lờnngụi, Nguyễn Du lại được cử làm Chỏnh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịplờn đường thỡ mất đột ngột ở kinh đụ Huế vào ngày 10 thỏng 8 năm CanhThỡn, thọ 56 tuổi.

Như vậy, cú thể thấy, sinh ra và lớn lờn giữa một thời giụng giú,Nguyễn Du chứng kiến biết bao cuộc ly loạn, tan vỡ, đổi thay Dù đợc sinh

ra trong một gia đình quý tộc nhng Nguyễn Du vẫn không đợc hởng trọnvẹn cái sung sớng giàu sang ễng bị xụ đẩy, vừa mới được giữ một chứcquan nhỏ dưới thời Lờ mạt thỡ cuộc khởi nghĩa Tõy Sơn nổi lờn và buộcphải làm cỏnh bốo trụi dạt, khi ở xứ vợ Thỏi Bỡnh, khi về Nghệ Tĩnh.Dường như ụng luụn bị phõn thõn, thấy triều đại nào mỡnh cũng chịu õnsủng và cũng thấy những điều bất cập, trỏi chiều, khú cú thể tận trung tậnhiếu Trong một thời gian khỏ dài, từ khi Tõy Sơn ra Bắc Hà (1786) chođến khi Tõy Sơn thất bại (1802), Nguyễn Du cú tớnh việc phục quốc (phựLờ) Nhưng những chiến thắng của Quang Trung năm 1789 đó làm chonhiều người cú tư tưởng chống Tõy Sơn khiếp đảm Nguyễn Du càng thờm

bi quan, chỏn nản Nguyễn Du khụng quờn mỡnh và ụng cha đó từng ăn lộcnhà Lờ Vậy việc phải làm tụi cho Gia Long là vạn bất đắc dĩ, một sự tủinhục Như phần đụng nho sĩ đương thời, ụng cho rằng làm quan dưới triềuđại mới là một trạng thỏi “thất tiết” Nguyễn Du được nhà Nguyễn tin dựngnhưng tuổi đó sang chiều, lại phải cỳc cung ở bờn chỳa "lạ", nơi dẫu saomỡnh cũng chỉ dự một vai phụ, nờn thỏi độ bất đắc chớ

Sống trong cảnh loạn ly, chứng kiến bao nhiờu bi hoan, tan hợp, trảiqua những năm thỏng gian truõn, trụi dạt vất vả, long đong, Nguyễn Du sớm

cú những tủi buồn ễng chỏn ngỏn thế sự, õu lo về tương lai, khụng biết ngỏ

Trang 22

cùng ai những ước nguyện hùng tđm trâng chí, thănh ra luôn triền miín trongmột không khí nặng nề, suốt đời lúc năo ông cũng buồn rầu, đn hận…Đó lănỗi niềm tđm sự của một con người cô đơn, mệt mỏi u sầu, mất đi niềm tinvăo cuộc sống Từ đó, chúng ta thấy tại sao trong thơ Nguyễn Du, đặc biệt lăthơ chữ Hân luôn thể hiện sự xung đột giữa câi thực vă câi mong muốn, giữacâi phải trải qua với câi đâng được thực hiện Hoăn cảnh xê hội đen tối mẵng đang nếm trải, cảnh ngộ thương tđm mă ông phải chấp nhận lă nhữngnguyín nhđn sđu xa lăm xuất hiện ý thức phản tỉnh trong thơ chữ Hân của thinhđn Đọc thơ chữ Hân ta thấy ông luôn tự ý thức, tự kiểm tra tư tưởng văhănh động của mình theo hướng tự phí phân để thấy những bế tắc, những bấtlực vă cả những lỗi lầm của mình Nguyễn Du căng suy nghĩ lại, căng nhìnnhận lại thì ý thức phản tỉnh trong thơ căng sđu sắc, căng phản tỉnh sđu sắc thìcăng buồn đau hơn, thất vọng hơn

Thời cuĩc ®· ®a NguyÔn Du tõ tÌng líp quý tĩc ®Õn gÌn víi cuĩcsỉng cña chính cuĩc sỉng cña nh÷ng con ngíi lÌm than, c¬ cùc §đy lă mộttrong những điều kiện khâch quan lăm nín tư tưởng nhđn đạo cao cả củađại thi hăo Nguyễn Du: ông thương nước, thương người, thương vật văthương mình Trong thÕ giíi th¬ ch÷ H¸n lu«n lu«n hiÖn lªn mĩt NguyÔn

Du kh«ng ®øng trªn lỊp tríng ®¹o ®øc chÝnh thỉng cña mĩt nhµ nho ®Ó xemxÐt ®¸nh gi¸ c¸c vÍn ®Ò mµ từ lỊp tríng nh©n ®¹o lªn ¸n hay ngîi ca, mØamai hay c¶m th¬ng cho những sỉ phỊn, những cuĩc ®íi Bởi nhìn cuộc đờibằng con mắt của một nhă nhđn đạo chủ nghĩa, yíu thương, xót xa cho thđnphận con người, cảm hứng th¬ cña NguyÔn Du v× thÕ kh«ng cßn dõng l¹itheo “khu«n mĨu”, quy ph¹m cña mĩt thíi mµ vît lªn trªn tÍt c¶ ®Ó ®Õn gÌnvíi sỉ phỊn con ngíi ®Ưc biÖt lµ nh÷ng con ngíi bÍt h¹nh, ®Ó ®Õn ®îc c¸i

®Ých cao nhÍt mang gi¸ trÞ nh©n ®¹o s©u s¾c, híng con ngíi tíi nh÷ng gi¸ trÞch©n, thiÖn, mÜ Nguyễn Du luôn băn khoăn, trăn trở để đưa ra lời giải đâpmới cho những vấn đề tưởng như đê được giải quyết vă luôn đặt ra những vấn

đề mới của nhđn sinh không dễ giải đâp Thi nhđn có năng lực tư duy sđu sắc,

Trang 23

con tim nhõn ỏi và năng lực sỏng tạo hỡnh tượng thơ nờn những điều này đóquỏn xuyến trong thơ chữ Hỏn của thi hào.

Một trong những yếu tố ảnh hởng lớn đến cảm hứng sáng tác và làchiếc chìa khóa để độc giả hiểu được cảm hứng phản tỉnh trong thơ chữHỏn của nhà thơ là cá tính của ụng

Cuộc đời phiờu bạt đó giỳp Nguyễn Du tiếp được thu tinh hoa văn hoỏ

ở nhiều vựng, miền Đõy là tiền đề thuận lợi cho sự tổng hợp nghệ thuật.Trớc hết là văn húa dõn gian xứ Nghệ quờ cha, quờ hương "nỳi Hồng - sụngLam" - Hà Tĩnh đó nuụi lớn hồn thơ trong ụng l một vùng sông núi hùngà một vùng sông núi hùng

vĩ, dân c kiên cờng, ham sống, giàu tâm huyết Sau đó là đất Bắc Ninh quê

mẹ, nơi vốn có bề dày văn hoá, dõn ca quan họ trữ tình Ngo i ra l à một vùng sông núi hùng à một vùng sông núi hùng vựngđất Thỏi Bỡnh quờ vợ và nơi ụng sinh ra là kinh thành Thăng Long, sau nàyđược tiếp thu thờm văn húa của kinh đụ Huế Khi ra làm quan với triềuNguyễn, ụng đó từng đi sứ Trung Quốc, từng qua nhiều vựng đất TrungHoa rộng lớn với nền văn hoỏ rực rỡ Kết tinh tinh hoa những vùng đất ấy,Nguyễn Du vừa cứng cỏi, bền tâm với mục đích, vừa yếu mềm đa sầu đacảm Đi nhiều, tiếp xỳc nhiều, từng trải trong cuộc sống tất cả những điều

đú đó cú ảnh hưởng lớn đến sỏng tỏc của nhà thơ Tõm hồn và tài năng củaụng được nuụi dưỡng trong suốt quỏ trỡnh trưởng thành ấy Sống trong mụitrường văn húa phong phỳ cựng với thõn phận đặc biệt của một thiờn tài,Nguyễn Du luụn cú sự nhận thức và xỳc cảm khỏc, thậm chớ là trỏi ngượcvới người đời và chớnh mỡnh trước đú

Nguyễn Du cú năng khiếu văn thơ từ thuở nhỏ, tư chất thụng minh,lại ham học Tuy đỗ thấp, học vị chỉ ở mức tam trường (tỳ tài) nhưng ụng

là người thụng minh, cú kiến thức sõu rộng, am hiểu văn hoỏ dõn tộc, vănchương vượt hẳn người đời, thụng hiểu cả Nho, Phật, Đạo và sành cỏc mụnthi họa

Tuổi ấu thơ còn là một yếu tố tạo nên cá tính Nguyễn Du Mồ côi cha

mẹ sớm rồi cuộc đời nhanh chóng sụp đổ, ấn tợng về sự thay đổi đột ngột

Trang 24

của hoàn cảnh ám ảnh Nguyễn Du suốt đời Những mất mát ấu thời to lớn

đã làm Nguyễn Du rơi vào mặc cảm bị tớc đoạt mà ông không khắc phụcnổi ở thời thơ ấu Mặc cảm bị tớc đoạt ấy làm cho Nguyễn Du trở thành ng-

ời đa sầu, đa cảm và luôn đi tìm sự bù đắp, nhất là sự bù đắp về tình cảmnên ông trở thành đa tình, thuộc nòi tình Nguyễn Du, con ngời thông minh,tài tử ấy muốn hoá giải mặc cảm tớc đoạt bằng một hành trình tìm kiếm sựhài hoà trong t tởng và nghệ thuật Nguyễn Du đã tìm sự hài hoà giữa ba tôngiáo, ba hệ ý thức t tởng lớn của thời đại lúc bấy giờ Nho - Phật - Lóo Cóthể khẳng định với cá tính này, "nhà nho tài tử" Nguyễn Du sẽ có một cảmhứng nghệ thuật cởi mở và “tài tử” nh con ngời ông, cá tính ông

1.3.2 Cơ sở khỏch quan

Một nhõn tố quan trọng gúp phần hỡnh thành cảm hứng phản tỉnhtrong thơ chữ Hỏn Nguyễn Du là thời đại của ụng (cuối thế kỉ XVIII đầuthế kỉ XIX) Nguyễn Du sống trong thời đại vụ cựng rối ren: xó hội ViệtNam từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX là một giai đoạn lịch sử đầybiến động và chia cắt với hai vấn đề lớn nổi lờn là sự khủng hoảng trầmtrọng của chế độ phong kiến và tỡnh cảnh nhõn dõn cực khổ lầm than

Nửa sau thế kỉ XVIII liờn miờn xảy ra chiến tranh của cỏc tập đoànphong kiến Lờ - Trịnh ở Đàng Ngoài và Nguyễn ở Đàng Trong làm cho đờisống nhõn dõn vụ cựng cực khổ Triều Lờ sụp đổ, phơi bày tất cả nhữngtiờu cực lớn nhỏ của một xó hội dần tiến đến thời kỳ mục ruỗng Đú là thờiđại loạn lạc, đầy những chấn động dữ dội Trong tỡnh trạng rối ren, tụngthất nhà Lờ cú nhiều phe phỏi, sĩ phu và quan lại phõn húa Uy quyền củavua Lờ chỳa Trịnh đến lỳc này mục ruỗng Cựng với sự sụp đổ của Nhànước trung ương tập quyền nhà Lờ , sự phỏt triển của kinh tế hàng hoỏ, là

sự mất dần hiệu lực và vị trớ độc tụn của Nho giỏo, ý thức hệ Nho giỏokhủng hoảng sõu sắc Nho sĩ đứng trước thực tế đất nước năm bố bảy mối.Phật giỏo, Đạo giỏo và cỏc hỡnh thức tớn ngưỡng dõn gian khỏc vốn bị nhànước Lờ sơ hạn chế, thậm chớ cấm đoỏn, thỡ bõy giờ lại cú điều kiện đượcphục hồi và phỏt triển

Trang 25

Cú thể núi, cuối thế kỷ thứ XVIII, toàn cừi Việt Nam bước vào mộtcuộc khủng hoảng chớnh trị nặng nề khi hỡnh thức triều đỡnh cũ khụng đỏpứng được những thay đổi về kinh tế và kỹ thuật, kinh tế suy sụp, quan lại sa

đọa, cuộc sống của nông dân ngày càng khổ cực, lầm than Xó hội phongkiến khủng hoảng sõu sắc đó làm bùng lên phong trào đấu tranh của nôngdân, cỏc cuộc khởi nghĩa nổ ra liờn tục, rầm rộ, rộng khắp, lôi cuốn hàngchục vạn ngời tham gia mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nụng dõn Tõy Sơn.Năm 1789, Nguyễn Huệ, một trong ba thủ lĩnh của nhà Tõy Sơn đó kộoquõn ra Bắc đỏnh tan hai mươi mấy vạn quõn Thanh sang tiến chiếm ĐạiViệt Cuộc khởi nghĩa của nụng dõn Tõy Sơn thắng lợi đỏnh tan tập đoànphong kiến thống trị, thống nhất đất nước, đỏnh tan quõn xõm lược MónThanh bảo vệ độc lập dõn tộc, đồng thời mở ra nhiều triển vọng cho sựphỏt triển của đất nước Dựa vào thế lực tư bản Phỏp, Nguyễn Ánh đóđỏnh thắng Tõy Sơn Phong trào nụng dõn Tõy Sơn thất bại, chế độphong kiến triều Nguyễn được thiết lập Cú thể khẳng định rằng triềuNguyễn thành lập là sự thắng thế của tập đoàn phong kiến tối phản độngtrong nước cú tư bản nước ngoài ủng hộ đối với triều đại Tõy Sơn tươngđối tiến bộ hơn về nhiều mặt Ngay sau khi lờn ngụi (1802), Nguyễn Ánh(niờn hiệu là Gia Long) và cỏc đời vua tiếp theo ngày càng đi sõu vào conđường phản động

Nhỡn chung, thời đại Nguyễn Du sống là thời đại mà chế độ phongkiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, đời sống người dõn bần cựng, xóhội loạn lạc, đen tối, giai cấp phong kiến tham bạo tranh bỏ tranh quyền,chộm giết lẫn nhau Đời sống t tởng của xã hội, hệ thống giáo lý phong kiếncơ hồ bị thỏo tung, bị lật đến tận gốc, tạo nên không ít những khủng hoảngtinh thần Phong trào Tõy Sơn chỉ như tia chớp loộ lờn rồi búng đờm buụngxuống Sự thiết lập của chớnh quyền triều Nguyễn với nhiều chớnh sỏchchuyờn chế tàn bạo càng đẩy xó hội vào sự suy tàn

Trang 26

Lớn lờn trong một thời đại nhiễu nhương, cú nhiều biến động dữ dội

cả về chớnh trị lẫn văn húa tư tưởng, trong vũng mấy chục năm của cuộcđời mà Nguyễn Du đó phải chứng kiến sự hưng vong, suy tàn của ba triềuđại phong kiến, phải chứng kiến bao nhiờu cảnh bọt bốo dõu bể Đất nướcchia rẽ, lũng người ly tỏn, con người bị vựi dập Nguyễn Du là người suynghĩ nhiều về cuộc sống đương thời, cú thỏi độ yờu ghột khỏ rừ trước cỏi tốtcỏi xấu, lại là người nhạy cảm, cú hoài bóo, cú lý tưởng, nhà thơ khụngphải khụng muốn là một nhõn chứng bị động trong cuộc đời đảo điờn ấy.ễng rất muốn cú một điều gỡ đú đổi thay thực tại, nhưng ở thời đạiNguyễn Du, đú là một cõu hỏi lớn Cõu hỏi ấy vụ phương giải đỏp, ụngkhụng giải thớch nổi cuộc đời và khụng biết phải làm thế nào để thay đổicuộc đời đú Bất lực bế tắc trước thực tại nhiễu nhương, tõm trớ Nguyễn

Du đầy những băn khoăn, con người Nguyễn Du đầy những mõu thuẫn…Đõy là cơ sở cho ý thức phản tỉnh xuất hiện và được bộc lộ trong thơ chữHỏn một cỏch sõu sắc

Nguyễn Du sinh ra và lớn lờn trong một gia đỡnh cú truyền thống vềvăn chương, một gia đỡnh đại quớ tộc, nổi tiếng về đường khoa cử, nhiềungười đỗ đạt, nhiều đời làm quan:

Bao giờ ngàn hống hết cõy, Sụng Rum hết nước họ này hết quan

(Ca dao Nghệ Tĩnh)Bởi xuất thõn trong một gia đỡnh trớ thức nho học nờn từ nhỏ ụng đóđược giỏo dục bằng những gia phong, khuụn phộp, được gia đỡnh chăm lotrau dồi tri thức Hồn thơ từ thế hệ cha ông mà đến Nguyễn Du thì thănghoa tuyệt đỉnh Môi trờng phong kiến giúp ông nhìn nhận, đánh giá thựcchất cuộc sống ở chốn quan trờng, đời sống của giai cấp phong kiến Cũngtại nơi đây Nguyễn Du đã đợc trang bị đầy đủ t tởng, suy nghĩ, đạo đức củamột nhà nho Cùng với sự bể dâu của thời đại là sự "tan đàn sẻ nghé" củagia đình đại quý tộc này Gia đình đã góp phần tạo nên một Nguyễn Du thihào lớn của dân tộc

Trang 27

Thời đại Nguyễn Du sống đầy bão tố với nhiều biến động dữ dội,nhiều sự kiện lịch sử trọng đại và cuộc sống riêng đầy trắc trở, sóng gió củanhà thơ, được nuôi dưỡng trong tinh hoa văn hóa nhiều vùng miền khácnhau, cùng với hoàn cảnh gia đình, dòng họ có truyền thống khoa bảng,Nguyễn Du có tư chất thông minh, đa sầu, đa cảm và tràn đầy tình yêuthương con người…Tất cả những nhân tố chủ quan và khách quan trên đãảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm của thi nhân, là cơ sở sâu xa làm xuấthiện những quan niệm về nhân sinh, về xã hội, con người và cũng là nhữngtiền đề hình thành cảm hứng phản tỉnh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du

Chương 2 CẢM HỨNG PHẢN TỈNH VỀ VĂN CHƯƠNG

Trang 28

Sáng tạo văn chương là hoạt động xã hội quan trọng nhất của suốtcuộc đời Nguyễn Du Ông được lưu danh cũng chính từ đây Trong số thơchữ Hán của các tác giả Việt Nam thời trung đại, có thể khẳng định tácphẩm của Nguyễn Du nhiều lần bàn luận về văn chương nhất Nhà thơ đã

đề cập đến nhiều phương diện bằng nhận thức và tình cảm có những điểmkhác biệt với truyền thống

2.1 Phản tỉnh về công dụng xã hội của văn chương

2.1.1 Quan niệm Nho giáo chính thống

Nho giáo là một sản phẩm của văn hóa Trung Hoa, được du nhậpvào Việt Nam từ sớm Ở Việt Nam cũng như một số nước khác, trong một

thời gian dài Nho giáo được coi là ý thức hệ chính thống Sách Việt Nam

văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, trong chương thứ 3 nói về "Công

dụng của văn học Tàu xét qua bộ Tứ thư viết đại ý rằng: Dân tộc Việt Nam

ngay từ khi thành lập đã chịu ảnh hưởng của văn hóa Tàu Cái văn hóa ấytruyền sang nước ta có nhiều cách, nhưng thứ nhất là do văn học Chínhvăn học của người Tàu đã chi phối tư tưởng, học thuật, luân lý, chính trị,phong tục của dân tộc ta Trong các trào lưu tư tưởng của người Tàu trànsang bên ta, có ảnh hưởng sâu sắc đến dân tộc ta nhất là Nho giáo… Tuy cóPhật giáo và tư tưởng Lão - Trang nhưng tư tưởng Nho giáo vẫn chiếm địa

vị quan trọng nhất, ở vị trí đó, Nho giáo chi phối văn học nghệ thuật

Trải qua thời gian dài, quan điểm văn học Nho giáo luôn chiếm địa

vị chi phối và bản thân nó cũng không thay đổi bao nhiêu Nho giáo ảnhhưởng tới văn học nước ta với tư cách một hệ thống quan điểm về thế giới,

về xã hội, về con người Văn sĩ Nho giáo viết theo cùng một quan niệm vănhọc, cùng những tiêu chuẩn về cái đẹp nghệ thuật Nho giáo chủ trươngmột lối sống hướng vào cõi người vì thế rất coi trọng văn học

Nói đến qua niệm của Nho giáo chính thống về công dụng xã hội của

văn chương, trước hết cần nói đến quan niệm "văn dĩ tải đạo", vốn là tư

tưởngchủ đạo của quan niệm văn học Việt Nam trung đại Quan niệm "văn

Trang 29

dĩ tải đạo" và "thi ngụn chớ" là sản phẩm truyền thống văn húa của phươngĐụng với đặc trưng lấy đức trị làm đầu, khỏc với phương Tõy, coi phỏp trị

là chớnh Cú thể núi trong cỏc học thuyết đó cú của nhõn loại từ xưa tới nay,khụng một học thuyết nào coi trọng vấn đề đạo đức, trước hết là đạo đức cỏnhõn, coi trọng vấn đề tu thõn bằng Nho giỏo

“Văn dĩ tải đạo” cú thể xem là tiờu biểu cho thỏi độ của toàn bộcỏc tỏc gia đời Tống Văn từ chỉ là nghệ thuật thụi, đạo đức mới là thực.Dốc sức vào cỏi thực rồi dựng nghệ thuật viết ra nú Đạo là gốc rễ củavăn Văn là cành lỏ của đạo Gốc rễ của nú là ở đạo, cho nờn phỏt ra từvăn đều là đạo Văn học đợc trao nhiệm vụ truyền bá đạo lý thánh hiền

mà cụ thể là đạo "vua tôi", đạo "cha con", đạo "vợ chồng" (Tam c ơng),cùng Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín (Ngũ thờng) Với quan niệm này, đạođức vừa là nền tảng vừa là cứu cỏnh của văn học

Liờn quan đến quan niệm “văn dĩ tải đạo” là vấn đề tỏc dụng giỏodục của văn học Người Trung Hoa cú truyền thống coi trọng chức nănggiỏo húa của văn chương, nú được chỳ ý nhiều, được đề cập đến trờn nhiềuphương diện khỏc nhau “Những cỏi gỡ được xếp vào văn học? thế nào làvăn chương? Theo quan niệm văn học của Nho giỏo, văn học cú một nguồngốc linh thiờng, một chức năng xó hội cao cả Nho giỏo hy vọng dựng vănchương để giỏo húa, động viờn, tổ chức hoàn thiện con người, hoàn thiện

xó hội” [22 ; 49] Giỏo húa là làm cho con người ta hiểu biết lẽ phải, lễnghĩa để theo

Để thực hiện mục đớch giỏo húa, văn hướng về bắt chước, thể hiệnĐạo chứ khụng cố gắng về mặt tỡm tũi, sỏng tạo hỡnh thức để mụ tả, tỏihiện thực tế Đối với thực tế, nú thiờn về phẩm bỡnh, tỡm ý nghĩa đạo lý

Quan niệm văn học của Nho giỏo thống trị lõu dài biến thành truyềnthống, cú sức mạnh bất di bất dịch Ngay cả những nhà Nho tiến bộ thỡquan niệm văn học Nho giỏo với tất cả tớnh đạo lý, mục đớch giỏo húa,chống tà dõm cũn giữ hầu như nguyờn vẹn Người viết văn thổ lộ tõm sự,

Trang 30

hướng tâm trí về đạo, mong nó có tác dụng di dưỡng tính tình, có ích chothế đạo nhân tâm, để nói đạo lý, tức là tác dụng giáo hóa Họ hình dungcuộc sống là biểu hiện của đạo lý và cái ác, cái xấu là cái trái đạo lý Trướccái trái đạo lý, họ không làm công việc bộc lộ, phát hiện, tố cáo mà cảmthán, mong người ta nhìn lại cái thiện, sống theo đạo lý và sống êm ấm.Người làm thơ trung đại luôn coi chức phận xã hội là thiêng liêng,luôn lấy việc phụng sự đạo lý làm mục đích tối thượng Thi ca không phảiđều được viết theo sự thôi thúc tự nhiên của tình cảm mà chủ yếu theo sựcần thiết của quan hệ, của cương vị

Nho giáo luôn đề cao đạo lý làm người Nguyễn Đình Chiểu khuyếnkhích con người làm tròn đạo hiếu và đạo trung:

Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh là câu trau mình

(Truyện Lục Vân Tiên)

Đạo lý Nho gia chi phối nội dung văn học, điều ta thấy trong cáctruyện nôm của Nguyễn Đinh Chiểu thì ta cũng thấy ở tất cả các tác phẩmcủa ông Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Đình Chiểu đã có

sự gặp gỡ ở ý thức tu thân, rèn luyện mình thành người quân tử Với tưcách của nhà nho, họ đã phát ngôn cho những tư tưởng và quan niệm củaNho giáo

2.1.2 Quan niệm của Nguyễn Du

Văn chương thời trung đại được đặt trên nền tảng ý thức hệ phongkiến, chủ yếu là tư tưởng Nho gia Các thi nhân và học giả xưa, học chữNho đồng thời hành xử theo đạo Nho Học chữ Nho, chữ của thánh hiền,trước hết là học Tam cương, Ngũ thường

Là một nhà Nho chân chính, những tưởng Nguyễn Du sẽ biến thơchữ Hán thành nơi giảng rao giáo lý, còn chủ thể trữ tình trong thơ cũng chỉ

là mẫu nhà nho đầy định kiến cũ xưa Nhưng thực tế lại phức tạp hơnnhiều Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du vẫn hiện lên dáng nét của con người

Trang 31

nhà nho, tuy nhiờn, đó bộc lộ những chuyển động về tư tưởng, luụn dằn vặttrong mõu thuẫn, đau đớn trong bi kịch, nhiều phen đối lập với vũ trụ…Đối với một trớ tuệ uyờn bỏc như Nguyến Du, Nho giỏo tỏ ra khỏ chật hẹp,khụng đủ sức lý giải hiện thực Điều này khiến cho Nguyễn Du phải suynghĩ lại, nhỡn nhận lại, đỏnh giỏ lại những giỏ trị mà trước đõy ụng đó từng

đề cao, theo đuổi, từng cống hiến…

Với Nguyễn Du, văn chương trước hết phải được nhỡn nhận với tư

cỏch của một nhà nghệ sĩ, nú là cái đẹp có sức sống trờng tồn: ở bài thơ

Tống Nguyễn Sĩ Hữu Nam qui, Nguyễn Du đã lấy hình ảnh con chim phợng

để nói tới vẻ đẹp của văn chương:

Sinh bỡnh văn thỏi tàn lung phượng

(Cỏi dỏng nho nhó bỡnh sinh nay xơ xỏc như con phượng nhốttrong lồng)

Thơ chữ Hán của Tố Nh viết về những điều bình dị, đời thờng, nhngbằng sự quan sát tinh tế, sự suy nghĩ không ngừng của bản thân đã khiếnnhững điều tởng chừng không có chất thơ ấy lắng đọng thành thi ca mà ludấu ấn với thời gian

Nguyễn Du quan niệm văn chương phải bắt nguồn từ cuộc sống vànhững trải nghiệm cá nhân

Với Nguyễn Du, văn chương phải cú khả năng phản ánh cuộc sống

đời thờng Cuộc sống đời thờng ấy gắn liền với buồn vui, trăn trở của bảnthân nhà thơ Thơ sẽ đem đến cho ngời đọc những phác hoạ chân thực nhất

về đời sống của nhà thơ giữa thời tao loạn, những ám ảnh tâm linh củaNguyễn Du giữa cuộc sống thờng nhật Nguyễn Du đã ý thức rõ điều đó vàtrong hành trình sáng tạo của mình nhà thơ đã phát biểu trực tiếp qua nhữngvần thơ:

Đại địa văn chơng tuỳ xứ kiến, Quân tâm hà sự thái thông thông

(Hoàng Mai kiều vãn diểu)

(Trên mặt đất rộng lớn nơi nào cũng thấy văn chơng, Lòng anh việc gì quá vội vàng)

Trang 32

Nguyễn Du với tư cách là một nhà Nho tài tử, là chủ nhân của nềnvăn học có mầm mống chống Nho giáo, biểu lộ sự cảm thông sâu sắc củatác giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ

bé, bất hạnh Cái nhìn nhân đạo này khiến ông được đánh giá là “tác giảtiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học cuối thế kỷ 18 đầuthế kỷ 19”

Ở Thanh Hiên tiền hậu tập, Nguyễn Du hầu như triền miên sống

trong băn khoăn Cái hùng tâm tráng chí theo nghĩa cổ điển đã từng là mộttrong hai mối quan tâm lớn của đời Nguyễn Du Thế nhưng nhìn chung đờiông thì thấy ngay thực tế là cái tráng khí đó ngày càng phai nhạt Từnhững bài thơ làm trong mười năm gió bụi này, người ta đã thấy cảm giácbao trùm trong Nguyễn Du là:

Đoạn bồng nhất phiến tây phong cấp, Tất cánh phiêu lưu hà xứ quy

(Tự thán I)

(Thân nay như ngọn cỏ bồng lìa gốc, trước luồng gió tây thổi mạnh,không biết cuối cùng sẽ giạt đến chốn nào)

Thanh Hiên tiền hậu tập chủ yếu mang tính hướng nội và chất chứa

buồn thương, u uất Cơn dâu bể của thời đại đã làm đổ vỡ mọi ước mơ, hivọng, tước đoạt tất cả những điểm tựa tinh thần khiến Nguyễn Du khôngthể không bàng hoàng, đau đớn, day dứt Những mất mát, đổ vỡ liên tiếp,dồn dập dội vào cuộc đời ông, làm nảy sinh trong tâm hồn bao nỗi buồnthương, sầu muộn mênh mông Song chính niềm thương thân, xót thân ấy

đã khơi nguồn cho sự cảm nhận sâu sắc của nhà thơ về những mất mát, khổđau của con người trong thời đại mình

Điểm nhìn nghệ thuật của Nam Trung tạp ngâm vẫn mang tính

hướng nội nhưng cảm nhận của nhà thơ về bản thân đã có nhiều đổi khác.Ông không còn phải khóc thương cho sự cùng đường, bế tắc của một conngười lỡ thời, thất thế nhưng lại phải đau xót, tủi thẹn vì nguy cơ đánh mất

Trang 33

mình Ông thất vọng về chốn quan trường - vì những tưởng khi nhập thế sẽlàm nên sự nghiệp, sẽ giúp ích cho đời nhưng cuối cùng cũng chỉ là kẻ bịtrói buộc bởi năm đấu gạo Ông giống như một người không muốn trôi theodòng chảy kia nhưng chẳng thể nào thoát khỏi được vòng xoáy dữ dội của

nó nên đành chấp nhận:

Thử nhân dĩ tác phàn lung vật,

Hà xứ trùng tầm hãn mạn du?

(Tân thu ngẫu hứng)

(Tấm thân này đã bị giam trong lồng cũi,Thì còn tìm đâu được cuộc đời phóng khoáng tự do?)Điều đau xót nhất là, khi bước chân vào nẻo thanh vân cũng là khi

hoài bão, ước mơ dần nguội tắt Tâm sự của Nguyễn Du trong Nam trung

tạp ngâm đã không còn giới hạn trong những bất hạnh, đổ vỡ riêng tư mà

phản chiếu cách nhìn nhận, đánh giá về bản chất của một xã hội suy đồi

Cảm hứng nhân đạo trong thơ chữ Hán Nguyễn Du sẽ chuyển sang mộtcấp độ mới khi nhà thơ hướng ngòi bút vào một đối tượng miêu tả khác:những con người có số phận cơ cực, hẩm hiu trong cuộc sống Nguyễn Ducũng không phải là người chỉ biết thu mình lại trong những dằn vặt đau khổ cánhân Trên con đường gập ghềnh “bụi bay mờ mịt” của đời ông, tấm lòng nhàthơ vẫn mở ra để đón lấy mọi niềm vui nỗi buồn của con người và tạo vậtquanh mình Và hễ cứ nói đến những kiếp người long đong vất vưởng mà ôngquen biết hay ngẫu nhiên bắt gặp, lời thơ của Nguyễn Du bao giờ cũng hàmchứa một yêu thương xốn xang, khiến không ai có thể dửng dưng được Trảiqua nhiều biến cố dồn dập của cuộc sống, trôi dạt nhiều nơi, tận mắtchứng kiến những sự kiện vật đổi sao dời, những cảnh đời thương tâm,ngang trái… phải chăng do thực tế cuộc sống của chính bản thân mình mànhà thơ cảm thông được với những nạn nhân trong xã hội?

Trong Bắc hành tạp lục ta thấy không có bài nào nhà thơ chỉ viết

riêng về mình Các hình ảnh thơ phản chiếu tâm trạng bi kịch trong tâm

Trang 34

hồn ông cũng giảm đi đáng kể so với hai tập thơ đầu, còn lại hầu hết là cácbài thơ viết về con người và cuộc sống bên ngoài - tái hiện và bình luậnvạn sự cổ kim Chỉ có điều với Nguyễn Du, sự biến đổi ấy không phụ thuộcvào những thăng trầm trên con đường hoạn lộ mà chủ yếu bắt nguồn từnhững trải nghiệm nhân sinh Tâm hồn thi nhân giờ đây đã rộng mở để

"đón nhận những vang động của đời", tình thương của ông còn trang trảirộng hơn, mẫn cảm trước đủ các hạng người và vật Ông thương cho cáikiếp một con ngựa già bị ruồng bỏ Ông tiếc một bông hoa rụng Ông thấuhiểu tâm trạng nhớ “vườn dưa quê nhà” của một người đi lính Ông gắn bóvới cả một người phu xe bắt gặp một thoáng trên đường đi sứ của mình:

Hà xứ thôi xa hán?

Tương khan lục lục đồng.

(Hà Nam đạo trung khốc thử)

(Bác đẩy xe kia, quê bác ở đâu?

Chúng ta nhìn nhau, thấy vất vả như nhau)

Tấm lòng Nguyễn Du còn hướng tới những đối tượng cùng khổtrong xã hội như ông già mù hát rong, mẹ con người hành khất mà ông gặptrên đường đi sứ Đó là những bức tranh hiện thực sắc nét, điển hình,trong đó thấm đẫm sự cảm thông yêu thương của nhà thơ Đó không còn làtình cảm hữu ái, trắc ẩn thông thường nữa mà trở thành một tư tưởng - chủnghĩa nhân đạo Nguyễn Du

Đi sứ Trung Quốc, ông tìm thấy trên những nẻo đường đầy cảnh xưalời giải đáp cho nhiều câu hỏi lớn về cuộc đời, về thân phận con người từngkhiến ông day dứt Ông không choáng ngợp trước cảnh phồn hoa mà cáinhìn của người nghệ sĩ đã xuyên qua lớp vỏ của thực tại kia để thấu suốtbản chất của hiện thực - một hiện thực được phản chiếu rõ nét qua từng dấutích đau thương, oan trái từ quá khứ, để rồi từ đó, nhà thơ cất lên tiếng nóicảm thương, đau đớn, phẫn uất cho thân phận con người trên suốt dòng thờigian kim cổ

Trang 35

Cảm thương cho những kiếp hồng nhan đa truân, tài tử đa cùngkhông phải là cảm hứng mới mẻ trong văn học, nhưng phải đến Nguyễn

Du, người đọc mới thực sự đau lòng vì “những điều trông thấy” bởiNguyễn Du viết về nỗi đau của người khác như nỗi đau của chính mình.Với Khuất Nguyên, người mà Nguyễn Du hết sức kính trọng về tài đức,người đọc có cảm giác như Tố Như tìm thấy ở Khuất Nguyên một conngười đồng điệu Cũng với niềm kính trọng ấy, ông trách người đời không

để tâm đến những bậc chí nhân ưu thời mẫn thế Và ông cảm thương chotấm lòng cô trung tiết liệt của Tam Lư Đại Phu Khuất Nguyên, khi nhữngcái đỏm dáng bên ngoài đã gượng gạo bắt chước người xưa:

Thiên cổ thùy nhân lân độc tỉnh

Tứ phương hà xứ thác cô trung?

Cận thời mỗi hiếu vi kỳ phục,

Sở bội tiêu lan cánh bất đồng

(Tương Đàm Điếu Tam Lư Đại Phu 2)

(Xưa nay ai người thương con người tỉnh một mình ấy?

Khắp bốn phương trời, đâu là chỗ gửi gắm tấm lòng cô trung? Ngày nay, người ta cũng thích ăn mặc lạ như ông,

Nhưng họ đeo những thứ hoa khác với hoa lan, hoa tiêu lắm)

Tấm lòng Nguyễn Du còn đồng cảm, xót thương với những ngườiphụ nữ tài hoa mệnh bạc, ông đau xót không nguôi về cái chết của người ca

nữ ở đất Long Thành, nàng Tiểu Thanh Đọc Độc Tiểu Thanh ký, Nguyễn

Du luôn hỏi trời về những đau khổ của con người nhưng thực tế trong tácphẩm, thi nhân lại cho thấy nguyên nhân những đau khổ của con người là

do những thế lực thù địch chà đạp lên cuộc sống và quyền sống chính đángcủa con người Nếu không có chế độ phong kiến với chế độ đa thê thì TiểuThanh chắc cũng không có số phận bi kịch như thế Nguyễn Du đau nỗiđau của con người, hiểu thấu được nguyên nhân của những bi kịch ấy

Trang 36

nhưng Nguyễn Du bất lực bởi chính ông cũng là nạn nhân của những bểdâu cuộc đời Khóc cho người và cũng là khóc cho mình:

“Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kỳ oan ngã tự cư”

(Độc Tiểu Thanh ký )

(Mối hận cổ kim, thật khó mà hỏi ông trời

Ta tự coi như người cùng một hội một thuyền với nàng là kẻ vì nếtphong nhã mà mắc phải nỗi oan lạ lùng)

Qua các bài thơ chữ Hán, ta thấy giữa bao nhiêu ngổn ngang, bế tắcvẫn ngời lên ánh sáng của một trái tim chưa bao giờ nhầm lẫn trong yêuthương, đau đớn, phẫn nộ Nỗi đau của Nguyễn Du, sự cô đơn và tấm lòngnhân đạo của Nguyễn Du đều xuất phát từ trái tim nghệ sĩ lớn Ông khôngchỉ biết đến số phận riêng của cá nhân mình mà còn biết đặt lòng mình nơinhững con người bất hạnh, nơi những con người đau khổ Thi nhân đãkhông tách rời cuộc đời mình khỏi số phận chung của một lớp người, mộtthời đại Trái lại, mọi đau buồn, phẫn uất mà Nguyễn Du bộc lộ đều gắnliền với những nỗi đau thương bao trùm lên thân phận con người lúc bấygiờ Bằng cách cảm nhận và thể hiện chân thành, sâu sắc những nỗi khổđau, day dứt của bản thân và những người xung quanh, Nguyễn Du đã trởthành "khí quan của xã hội và đại biểu của thời đại, của nhân loại"(Biêlinxki) Điều quý giá nhất ở cái tôi trữ tình đó là sự hoà đồng trongdòng chảy của cuộc sống nhân loại Từ sự hiểu mình, thương mình,Nguyễn Du đã mở rộng trái tim để hiểu người, thương đời

Khác với Nho giáo coi giáo hóa là chức năng xã hội quan trọng nhấtcủa văn chương, Nguyễn Du nhận thức công dụng xã hội của văn chươngkhông phải với tư cách là một nhà chính trị hay nhà đạo đức mà với tư cách

là nhà nghệ sĩ - nhà nhân đạo chủ nghĩa “Qua thơ văn nói chung và thơchữ Hán nói riêng, chúng ta thấy Nguyễn Du là một con người giàu xúccảm nhân đạo, đồng cảm sâu sắc với số phận bi kịch của mọi kiếp người

Trang 37

Phỏt hiện ra tài năng và khỏt vọng của con người, yờu thương con người,bờnh vực con người, Nguyễn Du đó là nhà nhõn đạo chủ nghĩa vĩ đại Conngười trong Nho giỏo được quan niệm như một cụng cụ của luõn lý vàcương thường phong kiến, cú nghĩa vụ “ộp mỡnh trở về với lễ”, tức là trở vềvới bổn phận, với trật tự đẳng cấp phong kiến, thủ tiờu mọi khỏt vọng nhõnbản nhất của con người” [32; 146] Núi về Nguyễn Du, Mộng Liờn đườngchủ nhõn ca ngợi “Tấm lũng nghĩ suốt cả nghỡn đời” là bởi tấm lũng nhõnđạo trong con người và cảm hứng nhõn văn trong tõm hồn nghệ sỹ củaNguyễn Du.

2.2 Phản tỉnh về tỏc giả văn chương

2.2.1 Quan niệm Nho giỏo chớnh thống về tỏc giả văn chương

Trước Nguyễn Du, văn học Việt Nam luụn đặt trọng tõm sự chỳ ývào người quõn tử, người cú học vấn, vào cỏc tầng lớp trờn Theo quanniệm của họ, chỉ nam giới mới được coi trọng, đạo đức được đỏnh giỏcao hơn tài năng; tài chủ yếu được thể hiện qua văn chương, thơ phỳ,

cử nghiệp “Những xó hội chịu ảnh hưởng Nho giỏo đề cao văn húa, đềcao văn hiến, trọng kẻ cú học, kẻ làm văn chương gõy ra tõm lý hiếuhọc, tụn sư trọng đạo cho đến mức sựng bỏi văn tự, sựng kớnh cả giấy cúchữ viết” [ 22; 49]

Trong văn học trung đại, văn chơng đợc xem là biểu hiện của Đạonờn vụ cựng thiêng liêng Vì vậy, tỏc giả văn chương trong con mắt của ng-

ời xa, phải là ngời có tài đức, học vấn uyên thâm Xem văn học nh một

ph-ơng tiện phục vụ cho việc củng cố địa vị giai cấp phong kiến thống trị, n hàvua cần người cú tài văn chương để viết chiếu chỉ, để chộp sử Nhà nướcchuyờn chế phong kiến dựng Nho giỏo làm hệ tư tưởng chớnh thống, đồngthời dựng khoa cử chọn người cú nho học tổ chức bộ mỏy quan liờu, vănchương quan dụng quy định yờu cầu về nội dung và nghệ thuật trong cỏc

kỳ thi Sĩ tử muốn cú cụng danh thỡ khụng cũn con đường nào khỏc là đuanhau dựi mài làm văn cử tử

Trang 38

Trong lịch sử dân tộc, thời Lê sơ, Nho giáo chiếm vị trí độc tôn Mộttrong những lý do triều đại Lê Thánh Tông được ca tụng là bởi nhà nướcchăm lo phát triển Nho học, ưu đãi kẻ sĩ có văn học Lê Thánh Tông - nhàvua anh tài đã có công đưa Nho học đến địa vị “quốc giáo” định lệ ba nămmột lần thi đặt ngũ minh bác sĩ, những người đỗ tiến sĩ được khắc tên vàobia đá Cùng với việc xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông đẩy mạnhphát triển giáo dục, đào tạo nhân tài, điều đó được chứng minh bằng nhữngcon số ngày một tăng của sĩ tử qua các kỳ thi dưới triều Lê Thánh Tông.Việc thi cử, học hành được coi trọng, đào tạo được rất nhiều tiến sĩ và trạngnguyên Nguyễn Trãi là nhà nho tiêu biểu, Lê Thánh Tông ca ngợi là “ỨcTrai tâm thượng quang Khuê tảo”.

Không chỉ ca ngợi, Lê Thánh Tông còn tiếp thu tư tưởng NguyễnTrãi về “Nhân - Trí - Dũng”, với cương vị một bậc quân vương, ông rấtnhấn mạnh trí và dũng, coi đó là một cặp song hành không thể thiếu trong

một con người biết hành đạo Nhà vua rất trọng việc học, từng ra Chiếu

khuyến học khuyên dụ học trò, sĩ tử, nho sinh trong cả nước ngày đêm

Nếu sớm tối không cần cù;

Tất công phu sẽ gián đoạn

Ý thức coi trọng giới Nho sỹ được thể hiện rõ nét trong Thập Giới

Cô Hồn Quốc Ngữ Văn do Lê Thánh Tông soạn thảo Tác phẩm được viết

với mục đích giáo huấn, mượn lời răn người chết để dạy người sống Quaviệc răn giới, tác phẩm đã phản ánh sinh hoạt của 10 hạng người, vị trí xãhội của họ và thái độ đánh giá đối với họ, được đề cao nhất là quan liêu, nho

Trang 39

sĩ, tướng quân; bị miệt thị là thương cổ, hoa nương, đãng tử Chúng ta hãyđọc đoạn nói về giới nho sĩ sau đây:

Ham thói nho phong

Mến nghề cử tử.

Cơm áo nhờ ơn cha mẹ,

Đêm ngày đọc sách thánh hiền.

Củi quế gạo châu, kham khổ nằm chưng trường ốc,

Song huỳnh án tuyết, dùi mài mến nghiệp thi thư.

Giấy làm ruộng, bút làm cày,

Hôm xem Kinh, mai xem Sử.

Trướng Mã Dung, màn Đổng Trọng, lạnh lùng nào quản tuyết sương.

Kệ than rằng:

Kềnh kềnh áo bả, lẫn khăn sa,

Trường ốc hôm mai để lẫy nhà.

Lạnh lẽo dường thu như án tuyết,

Nắng sương mấy phát rộn hài hoa.

Tài cao hơn nữa Công Tôn Sách,

Sự thịnh còn truyền Nịnh Thích ca

Bút mực chẳng quên bền chí cũ,

Lộc cao sao khéo lỡ người ta?

Qua trên có thể thấy Lê Thánh Tông đặc biệt khuyến khích, đề caođạo học, coi trọng kẻ sĩ, mến người tài, có nghĩa là khuyến khích người tatrở thành người có học, gia nhập tầng lớp nho sĩ Xưa kia kẻ sĩ và tác giảvăn chương gần như đồng nhất, bởi vậy đề cao kẻ sĩ cũng là đề cao tác giảvăn chương Những câu trên đây tiêu biểu cho quan niệm của Nho giáochính thống về tác giả văn chương

Tóm lại, theo quan niệm cũ của xã hội phong kiến xưa, các tác giảvăn chương được coi trọng Nhà nho là người học rộng, biết nhiều, một

Trang 40

đấng nam nhi với đầy đủ cụng danh, đạo đức, một con người vẹn toàn,

hoàn hảo Đối với giới nho sĩ, tầng lớp trớ thức thời phong kiến, hoài bóo

giỳp dõn, giỳp nước, giỳp đời bằng chớnh sở học của mỡnh luụn đeo đẳngtrong tõm trớ họ Khụng phải ngẫu nhiờn mà quan niệm “học để ra làmquan” trở thành mục đớch của mọi thế hệ nho sinh Nho giỏo coi trọng kẻ

sỹ, điều đú vạch cho thanh niờn một con đường tỡm cuộc sống nhàn hạ,danh giỏ và sung sướng: đi học, đi thi và làm quan Điều này khụng chỉ tạo

ra trong xó hội tõm lý chạy theo danh vị mà cũn tạo ra sự ganh đua rốnluyện kỹ xảo viết văn

2.2.2 Quan niệm của Nguyễn Du

Phần đụng cỏc nhà Nho, tầng lớp trớ thức trong xó hội phong kiếnquan niệm “học để ra làm quan”, để được người đời trọng vọng, được sungsướng nờn họ muốn dựng văn chương để tiến thõn Nguyễn Du được đàotạo từ khoa cử, thi nhân hẳn phải xem thơ ca là nơi bộc lộ Tõm, Chớ, Khớ,Thần của con người Tuy nhiờn, Nguyễn Du lại thuộc thế hệ Nho gia cúphong cỏch phi chớnh thống khỏ đậm nột Nếu như tỏc giả văn chươngtrong con mắt của ngời xa, phải là ngời có tài đức, học vấn uyên thâm vànhất là cuộc sống được sung sướng nhàn hạ thỡ ngược lại Nguyễn Du cảmnhận trong xó hội nay "ngời cùng thì thơ hay"

Đọc thơ chữ Hỏn, ta thấy Nguyễn Du một mặt tự hào về tài năng vănchương của mỡnh, xem văn chương là niềm an ủi, mặt khỏc, với ụng, vănchương cũn là cỏi nghiệp, cỏi nợ, là nguồn cơn gõy nờn bi kịch Những tỏcphẩm văn chương, những thiờn tài văn học được Nguyễn Du núi đến với tất

cả niềm cảm hứng sõu xa Văn chương với thi nhõn cũn là người bạn, là tàisản duy nhất lỳc đau yếu, buồn rầu:

Chẩm bạn thỳc thư phự bệnh cốt.

(Tạp ngõm 2)

(Cạnh gối, cú chồng sỏch đỡ tấm thõn bệnh tật)

Ngày đăng: 15/12/2015, 13:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2000), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2000
2. Lại Nguyên Ân (1997), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
3. Lê Bảo (1999), Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường: Nguyễn Du, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường: Nguyễn Du
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
4. Bùi Hạnh Cẩn (1996), 192 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Nxb Văn hóa –Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 192 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn
Nhà XB: Nxb Văn hóa –Thông tin
Năm: 1996
5. Trương Chính (1962), “Một vài ý kiến về tập thơ chữ Hán Nguyễn Du”, Nghiên cứu Văn học, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài ý kiến về tập thơ chữ Hán Nguyễn Du”, "Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Trương Chính
Năm: 1962
6. Trương Chính (1997), Tuyển tập Trương Chính, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Trương Chính
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
7. Nguyễn Huệ Chi (1965), “Tìm hiểu Thơ chữ Hán Nguyễn Du”, Tạp chí Văn học (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Thơ chữ Hán Nguyễn Du”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1965
8. Nguyễn Huệ Chi (1983), “Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán”, Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam. Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán”, "Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1983
9. Nguyễn Đình Chú (1999), “Vấn đề ngã và phi ngã trong văn học Việt Nam trung cận đại”, Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề ngã và phi ngã trong văn học Việt Nam trung cận đại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1999
10. Nguyễn Đình Chú (2002), “Hiện tượng văn – sử – triết bất phân trong văn học Việt Nam thời trung đại”, Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Hiện tượng văn – sử – triết bất phân trong văn học Việt Nam thời trung đại”," Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 2002
11. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học- lý luận và ứng dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học- lý luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
12. Đỗ Đức Dục (1984), “Từ Truyện Kiều đến thơ chữ Hán Nguyễn Du”, Tạp chí Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Truyện Kiều đến thơ chữ Hán Nguyễn Du”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Năm: 1984
13. Xuân Diệu (1962), “Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán” , Tạp chí Văn nghệ, (58) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán” , "Tạp chí Văn nghệ
Tác giả: Xuân Diệu
Năm: 1962
14. Xuân Diệu, Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hào dân tộc Nguyễn Du
Tác giả: Xuân Diệu, Thi hào dân tộc Nguyễn Du
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1966
15. Xuân Diệu (2000), Ba thi hào dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba thi hào dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2000
16. Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh (1998), Nguyễn Du về tác giả tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du về tác giả tác phẩm
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
17. Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính (2001), Nguyễn Du, niên phổ và tác phẩm, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du, niên phổ và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
18. Dương Quảng Hàm (2002), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2002
19. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương (1999), Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
20. Võ Xuân Hội (2001), “Nguyễn Du và đàn tế cô hồn”, Văn hóa Hà Tĩnh, (47) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du và đàn tế cô hồn”, "Văn hóa Hà Tĩnh
Tác giả: Võ Xuân Hội
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w