1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tinh thần nho – phật – lão trong thơ chữ hán nguyễn du

141 1,2K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 876,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiền nhưng cũng Lão – Trang”, “Với Nguyễn Du thì Thiền, Phật và Lão Trang lại thể hiện một cái nhìn hư ảo về cuộc đời, đề cao cái tự nhiên trong con người, có tính cách phi chính thống

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này:

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thu Yến, người đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, Quý Thầy, Cô giáo tham gia giảng dạy lớp Cao học Văn học Việt Nam, khóa 20, Phòng Sau đại

học – Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy, giúp đỡ và

tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo Dục và Đào Tạo Đồng Nai đã cho tôi cơ

hội được học tập, nâng cao trình độ chuyên môn

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường THPT Điểu Cải, Định Quán, Đồng Nai đã tạo điều kiện tối đa về thời gian, điều kiện vật chất, điều kiện tinh thần

để tôi yên tâm học tập và hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn quý đồng nghiệp trong tổ Ngữ Văn nói riêng và Trường THPT Điểu Cải nói chung đã hỗ trợ công tác chuyên môn để tôi yên tâm

học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Quý Thầy, Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã dành thời gian quý báu của mình để đọc đề tài và đóng góp ý kiến giúp đề tài của tôi hoàn thiện hơn

Xin chia sẻ niềm vui và lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè, đã động viên, khích lệ tôi trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Nguyễn Thị Phúc

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

3 Đối tượng và phạm vi khảo sát 4

4 Mục đích nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Cấu trúc luận văn 6

C hương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC HỆ TƯ TƯỞNG NHO – PHẬT – LÃO VÀ THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU 7

1.1 Giới thiệu chung về các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão 7

1.1.1 Nho giáo 7

1.1.2 Phật giáo 11

1.1.2.1 Tứ diệu đế 11

1.1.2.2 Vô thường 12

1.1.2.3 T ừ bi 14

1.1.3 Lão – Trang 15

1.1.4 Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão trong văn học trung đại 20

1.1.4.1 T ừ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV 21

1.1.4.2 T ừ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII 26

1.1.4.3 T ừ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX 30

1.1.4.4 Cu ối thế kỉ XIX 38

1.2 Giới thiệu về thơ chữ Hán Nguyễn Du 44

1.2.1 Tình trạng các văn bản hiện có của thơ chữ Hán Nguyễn Du 44

1.2.2 Hoàn cảnh ra đời thơ chữ Hán Nguyễn Du 45

1.2.3 Nội dung chính của ba tập thơ 47

Chương 2 THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU – CÁCH NHÌN CUỘC SỐNG THEO CẢM QUAN NHO GIÁO 49

Trang 5

2.1 Hiện thực xã hội trong thơ 49

2.2 Bàn luận chuyện người xưa trên lập trường Nho giáo 55

2.2.1 Nh ững người đáng trọng 55

2.2.2 Nh ững người bị chê trách 59

2.3 Tình cảm nhân đạo theo thuyết về chữ Nhân của Nho giáo 62

2.3.1 Tình c ảm nhân đạo của Nguyễn Du đối với “những người muôn năm cũ” 63

2.3.2 Tình c ảm nhân đạo của Nguyễn Du đối với những người hi ện tại 66

2.4 Vấn đề thiên mệnh trong thơ 69

2.5 “ Bi kịch tinh thần của một nhà nho” 71

Chương 3 THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU – CÁCH NHÌN CUỘC SỐNG THEO TRIẾT LÍ NHÀ PHẬT 79

3.1 Đời là bể khổ 79

3.2 Cuộc sống vô thường 89

3.3 Chất Thiền trong thơ 92

3.4 Sự thông hiểu Phật pháp của Nguyễn Du trong thơ 98

Chương 4 THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU – CÁCH NHÌN CUỘC SỐNG THEO TINH THẦN TỰ NHIÊN CỦA LÃO - TRANG 104

4.1 Triết lý “mộng” 104

4.2 Triết lý sống vô vi, thuận theo tự nhiên của Lão - Trang 110

4.2.1 Biết đủ biết dừng 110

4.2.2 Biết giữ mình 113

4.2.3 Sống hòa nhập với thiên nhiên 115

4.3 Tư tưởng hưởng lạc 121

4.3.1 Mong muốn hưởng lạc 122

4.3.2 Cuộc sống ẩn dật 125

TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do ch ọn đề tài

Văn học Trung đại Việt Nam kéo dài suốt mười thế kỉ Ý thức hệ xã hội giai đoạn này gồm cơ sở tư tưởng Việt và việc tiếp thu các hệ tư tưởng nước ngoài Ta

đã tiếp thu các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão Những hệ tư tưởng triết học này đã du

nhập vào nước ta thời kì phong kiến phương Bắc thống trị Các thế hệ nhà nho thời phong kiến ít nhiều có ảnh hưởng tư tưởng đó Nguyễn Du là nhà thơ tiêu biểu cho giai đoạn văn học nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX Liệu Nguyễn Du có

nằm ngoài sự ảnh hưởng đó hay không?

Với Nguyễn Du, khi được nhắc đến, người ta thường gắn tên ông với Truyện

Kiều – đỉnh cao nghệ thuật về thơ Nôm Đồng thời, tác phẩm này đưa ông trở thành đại thi hào dân tộc Chúng ta tự hào về Truyện Kiều mặc dù Nguyễn Du xây dựng trên Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc Nhưng, nếu chúng ta chỉ đọc Truyện Kiều thì chưa hiểu hết tài năng và con người Nguyễn Du Truyện Kiều mới là một nửa của tòa lâu đài văn chương đồ sộ Truyện Kiều là sự

“lỡ tay” của ông mà thành kiệt tác Thơ chữ Hán mới chính là “sáng tác” của Nguyễn Du Đây là phát ngôn viên chính thức của ông Chúng ta đến với thơ chữ Hán Nguyễn Du là đến với “những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa

một tiềm năng vô tận về ý nghĩa” (Mai Quốc Liên) Vì vậy, nhiều công trình đã nghiên cứu về một nửa THIÊN TÀI MẸ này Năm 1997, Lê Thu Yến đã hoàn thành công trình “Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du” “Đây là chuyên luận đầu tiên về nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du” (Bùi Mạnh Nhị) Trong công trình này, tác giả đã trình bày những vấn đề liên quan đến văn bản và đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du Cũng đề cập đến thơ chữ Hán Nguyễn Du, người

viết muốn tìm hiểu về nội dung tư tưởng trong thơ ông Đó là vấn đề ba hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão đã ảnh hưởng đến sáng tác chữ Hán của Nguyễn Du như thế nào

Trang 7

2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

Các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc Những hệ

tư tưởng này ít nhiều có ảnh hưởng trong sáng tác của các nhà nho Nhiều nhà nghiên cứu đã đi tìm hiểu ảnh hưởng của ba hệ tư tưởng này trong sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ…

Nguyễn Du là một nhà nho Ông sáng tác bằng chữ Hán để nói lên ý chí, nguyện vọng, tâm sự của mình Người đời sau có phần “thiên vị” với Truyện Kiều hơn

là thơ chữ Hán Trong “200 năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều” do Lê Xuân Lít sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu, nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2005, chúng tôi tìm thấy năm bài nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo trong Truyện Kiều Đó là

chưa kể còn rất nhiều những công trình nghiên cứu Phật giáo trong Truyện Kiều mà chúng tôi chưa đề cập đến Nói như thế để chúng ta thấy rằng sự ảnh hưởng của Phật giáo trong Truyện Kiều là vấn đề mà người tiếp nhận rất quan tâm

Cũng trong năm 2005, Nguyễn Thạch Giang – người có nhiều công trình nghiên cứu về Truyện Kiều – đã cho ra đời quyển sách “Đoạn trường tân thanh dưới cái nhìn Nho gia – Thiền gia” Tác giả không phát triển thành bài viết Tác giả đã

lồng ghép vào phần chú thích để chỉ ra những chi tiết ảnh hưởng yếu tố Nho, Phật

Còn ảnh hưởng tư tưởng Lão – Trang, hiện tại, chúng tôi chưa tìm thấy bài

viết riêng lẻ, chỉ có những ý nho nhỏ đan xen vào khi tìm hiểu tinh thần Nho, Phật trong Truyện Kiều

Về ảnh hưởng của của ba hệ tư tưởng trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, chúng tôi tìm được những bài viết sau:

Năm 1996, Mai Quốc Liên, Ngô Linh Ngọc, Nguyễn Quảng Tuân, Lê Thu Yến

đã cho ra đời bộ “Nguyễn Du toàn tập” Trong tập 1, thơ chữ Hán, phần viết lời nói đầu

là của người chủ biên (Mai Quốc Liên) Chúng tôi quan tâm đến ý này của Mai Quốc Liên: “Rồi cũng dễ hiểu là Nguyễn Du tìm đến Lão – Trang Giai đoạn này Nguyễn Du dùng nhiều hình tượng rút ra từ Lão – Trang” Đây là một gợi ý cho người viết

Trang 8

Trong tạp chí Văn học số 6 năm 2003, Đoàn Lê Giang có bài viết “Basho – Nguyễn Trãi – Nguyễn Du, những hồn thơ đồng điệu” Sau khi phân tích, tác giả đi đến kết luận về những nét tương đồng của ba nhà thơ như sau: “Thiền và Lão – Trang thì cả ba ông đều chịu ảnh hưởng”, nhìn cuộc đời chỉ như một giấc mộng hư

ảo là điểm chung của cả ba nhà thơ” Còn riêng về Nguyễn Du, tác giả viết như thế này: “Nguyễn Du thì nói tâm mình thường an định không rời xa đạo Thiền (Thử tâm thường định bất li Thiền – Đề Nhị Thanh động) Thiền nhưng cũng Lão – Trang”, “Với Nguyễn Du thì Thiền, Phật và Lão Trang lại thể hiện một cái nhìn hư

ảo về cuộc đời, đề cao cái tự nhiên trong con người, có tính cách phi chính thống

của nhà nho tài tử, đồng thời cũng là phương tiện để chuyển tải những tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa” Trong bài viết này, tác giả cũng mới dừng lại phân tích một số bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du

Năm 2006, trong bài “Đọc thơ chữ Hán Nguyễn Du” in trong tập san “Suối nguồn” số 06 của Tu Viện Huệ Quang (Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Phật giáo), Thích Nguyên Hiền đã nói lên cảm nghĩ của mình khi đọc 250 bài thơ

Bài viết của Thích Nguyên Hiền có sức khái quát cao về đạo Phật trong thơ

chữ Hán Tác giả liệt kê, phân tích nhiều bài và rút ra kết luận: “Nguyễn Du không

hề nói đến Phật giáo, nhưng thái độ, quan điểm của ông luôn nhuốm đầy nhân sinh quan Phật giáo Trước hết là nhận thức về Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã”

Cụ thể hơn, tác giả dựa vào việc Nguyễn Du từng đọc Kinh Kim Cang đến hơn

một ngàn lần (Ngã độc Kim Cang thiên biến linh) mà đưa ra nhận định “hẳn toàn bộ sự nghiệp thi ca của ông thấm đẫm tư tưởng Phật giáo” Đó cũng là cơ sở để tác giả đưa ra tiêu mục “Kim Cang Bát Nhã – Tư tưởng chủ đạo trong thi ca Nguyễn Du”

Cũng trong bài viết này, Thích Nguyên Hiền có đề mục về Nguyễn Du:

“Nhân cách của một kẻ sĩ” Ở phần này, tác giả cho người đọc thấy ảnh hưởng Nho giáo trong thơ chữ Hán Nguyễn Du

Bổ sung cho lời nói đầu trong “Nguyễn Du toàn tập” của Mai Quốc Liên, Thích Nguyên Hiền nói: “Thực ra Nguyễn Du không muốn quên đời, Lão – Trang

Trang 9

trong ông chỉ là cốt cách của một thi sĩ thức thời, và thường thì tư tưởng Lão – Trang được thi nhân mượn để bày tỏ cái nội tâm trong sáng, thanh khiết giữa cuộc đời ô trọc mà thôi” [86] Như vậy, bài viết của Thích Nguyên Hiền đã chạm đến tư tưởng Nho, Phật, Lão trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Nhưng, với cương vị một người học Phật, sức nặng của bài viết vẫn là Phật giáo

Nhìn chung, cho đến nay, chúng tôi thấy rằng chưa có công trình nào tìm

hiểu ảnh hưởng tư tưởng Nho, Phật, Lão trong thơ chữ Hán Nguyễn Du một cách đầy đủ, cụ thể

Được tiếp thu chuyên đề “Truyền thống văn hóa Việt trong sáng tác Nguyễn Du” của PGS TS Lê Thu Yến, ở chuyên đề này, chúng tôi được hướng dẫn tiếp

nhận tác phẩm từ góc độ truyền thống văn hóa người Việt như là: thế giới tâm linh, văn hóa ứng xử, đặc biệt là triết lí trong sáng tác của Nguyễn Du Chuyên đề chính

là gợi ý trực tiếp để người viết mạnh dạn tìm hiểu “Tinh thần Nho – Phật – Lão trong thơ chữ Hán Nguyễn Du”

3 Đối tượng và phạm vi khảo sát

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mức độ ảnh hưởng của tư tưởng Nho, Phật, Lão trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Luận văn tập trung tìm hiểu sự ảnh hưởng trên phương diện nội dung

- Phạm vi khảo sát là 250 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du

4 Mục đích nghiên cứu

- Mục đích đầu tiên của luận văn là tìm hiểu ảnh hưởng của tinh thần Nho,

Phật, Lão trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam

- Từ kết quả đạt được ở mục đích thứ nhất, luận văn đi tìm hiểu sự ảnh hưởng của ba tư tưởng này trong một tác giả cụ thể là Nguyễn Du và mảng sáng tác

cụ thể là thơ chữ Hán

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích: được sử dụng trong toàn bộ luận văn để chứng minh cho từng luận điểm, từng vấn đề, từng chương, đồng thời chỉ ra những yếu tố nào đã ảnh hưởng đến sáng tác chữ Hán của Nguyễn Du

- Phương pháp hệ thống: Trong chương 2, 3, 4 người viết dùng phương pháp này để so sánh các hệ tư tưởng Nho – Phật – Lão đã ảnh hưởng đến sáng tác chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Du Đồng thời người viết cũng dùng thao tác so sánh

để thấy sự giống và khác nhau trong việc tiếp nhận các hệ tư tưởng này giữa các nhà nho trong văn học trung đại

- Phương pháp xã hội học: Phương pháp này áp dụng trong toàn bộ nội dung

luận văn Người viết sẽ dựa vào đó để thấy được sự ảnh hưởng của các hệ tư tưởng đến văn hóa Việt Nam, sự tác động của xã hội đến sáng tác Nguyễn Du Hay nói khác đi, tác phẩm của Nguyễn Du chính là sự phản ánh hiện thực Và hiện thực của

xã hội Việt Nam từ thế kỉ XVIII – thế kỉ XIX ảnh hưởng đặc biệt như thế nào đến các tác giả đương thời, tiêu biểu nhất trong đó là Nguyễn Du Quan trọng hơn, người viết sẽ dùng những cứ liệu lịch sử, những yếu tố làm nên thiên tài Nguyễn Du

để lí giải sự ảnh hưởng tam giáo trong thơ ông

Trong quá trình thực hiện chương 2, 3, 4 người viết cũng sẽ dùng các thao tác:

- Thống kê: Trên cơ sở 250 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, người viết sẽ sắp

xếp, phân loại các bài theo ảnh hưởng của từng hệ tư tưởng

- Phân tích: Từ kết quả của việc thống kê, người viết sẽ phân tích từng bài,

từng nhóm bài cụ thể

- Tổng hợp: Sau khi phân tích, người viết sẽ đi đến những kết luận về mức độ

và hiệu quả thẩm mỹ mà Nguyễn Du đã tiếp nhận từ các hệ tư tưởng

Trang 11

- Luận văn đưa ra được cái nhìn toàn diện và có hệ thống về sự ảnh hưởng này

- Luận văn bước đầu thử lí giải về sự ảnh hưởng đó

- Cuối cùng, từ việc tìm hiểu trên, chúng ta hiểu thêm được tài năng và thế

giới tâm hồn nhà thơ

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương với các nhiệm vụ cụ thể như sau:

Chương 1: Giới thiệu chung về các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão và thơ chữ Hán Nguyễn Du (39 trang)

Chương 2: Thơ chữ Hán Nguyễn Du – cách nhìn cuộc sống theo cảm quan Nho giáo (29 trang)

Chương 3: Thơ chữ Hán Nguyễn Du – cách nhìn cuộc sống theo triết lí nhà

Phật (26 trang)

Chương 4: Thơ chữ Hán Nguyễn Du – cách nhìn cuộc sống theo tự nhiên

của Lão – Trang (27 trang)

Trang 12

Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC HỆ TƯ TƯỞNG NHO – PH ẬT – LÃO VÀ THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU

1.1 Gi ới thiệu chung về các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão

1.1.1 Nho giáo

Nho giáo có cơ sở hình thành từ thời Tây Chu với tên tuổi của Chu Công Đán Nhưng đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử đã phát triển tư tưởng của Chu Công

Từ khi ra đời, Nho giáo trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Mỗi thời

kỳ mang một dấu ấn của từng thời đại, triều đại Tuy nhiên, nội dung của Nho giáo được khởi phát từ Nho giáo nguyên thủy Khổng Tử đã hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó nên người đời sau gọi Khổng Từ là thủy tổ Nội dung đó

rất phong phú nhưng đã được đúc kết thành tứ thư, ngũ kinh

Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã

hội, hay nói cách khác đó là một học thuyết về đạo xử thế của người quân tử Nổi bật lên trong học thuyết của Khổng Tử là các vấn đề: Nhân, Chính danh, Thiên mệnh Trung tâm học thuyết của Khổng Tử là chữ Nhân, với một phạm vi bao quát rộng lớn

Chữ Nhân chỉ áp dụng cho người quân tử: “Kẻ quân tử mà bất nhân thì cũng

có nhưng chưa bao giờ kẻ tiểu nhân lại có nhân cả” (Luận ngữ)

Trong Luận Ngữ, Khổng Tử rất nhiều lần nhắc đến chữ Nhân Khổng Tử không có một định nghĩa nào là cố định về chữ Nhân Mỗi câu trả lời mang một ý nghĩa khác nhau Khổng Tử tùy vào đối tượng mà trả lời Nhân là gì?

Nhân được hiểu một cách chung chung là yêu người như khi Phàn Trì hỏi về đức nhân Khổng Tử đáp: “Yêu người” (Luận ngữ: Nhan Uyên, XII, 22) Đó là khái

niệm khái quát nhất nhưng cũng rất mơ hồ

Trang 13

Nhân gắn với lễ nên người quân tử không lúc nào được quên nhân: “Người quân tử dù trong một bữa ăn (một thời gian ngắn) cũng không làm trái điều nhân, dù trong lúc vội vàng cũng theo điều nhân”

Vì thực chất của Nho giáo là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội nên

để làm được điều đó, điều cốt lõi là đào tạo cho được những người cai trị kiểu mẫu – mẫu người lí tưởng đó là người quân tử

Người quân tử trước hết phải có chữ nhân Chữ nhân của người quân tử còn

gắn với chữ hiếu Khổng Tử từng nói Tể Ngã là đứa bất nhân vì bất hiếu, không

chịu để tang cho cha mẹ trong ba năm mà chỉ muốn một năm thôi

Năm đức của nhân là “cung, khoan, tín, mẫn, huệ Cung kính thì không bị khinh nhờn, khoan hậu thì được lòng mọi người, thành tín thì được người ta tín nhiệm, cần mẫn thì thành công, từ huệ thì sử dụng được người” (Luận ngữ: Dương Hóa, XVII, 6)

Người quân tử có nhân thôi chưa đủ mà còn có trí nữa Tể Ngã hỏi: “Người có đức nhân nghe báo có người té xuống giếng thì có nhảy xuống vớt mà chết theo không?” Khổng Tử đáp: “Sao lại làm như vậy? Người quân tử có thể lại giếng xem (rồi tìm cách cứu) chứ không để cho người ta hãm hại mình (hoặc: chứ không tự hãm hại mình); có thể bị gạt một cách hợp lý, chứ không để bị gạt một cách vô lý” (Luận ngữ: Ung dã, VI, 24)

Tiêu chuẩn cho người quân tử rất nhiều Đó là cả một quá trình “tu thân” Sau đó người quân tử phải “hành đạo” Ra làm quan như là một cách để thực hiện chữ nhân Nho giáo chủ trương nhập thế nên sau khi người quân tử đạt đạo là phải hành đạo: “Không ra làm quan (mà ở ẩn) là không hợp đạo nghĩa… người quân tử ra làm quan là làm nghĩa vụ của mình” (Luận ngữ)

Tư tưởng nhập thế này còn được thể hiện ở việc không nên giấu tài đức, phải

biết nắm bắt cơ hội và ra làm quan là thể hiện người có nhân có trí

Trong luận ngữ, Dương Hóa đã có sự đối đáp với Khổng Tử thật thú vị Dương Hóa muốn gặp Khổng Tử, nhưng Khổng Tử không đến thăm y, nên y biếu

Trang 14

Khổng Tử một con heo con (luộc chín) Khổng Tử rình lúc Dương Hóa đi vắng, lại nhà y tạ ơn Không ngờ trên đường về gặp y, y gọi Khổng Tử: “Lại đây, tôi muốn nói chuyện với ông” rồi nói: “Giấu tài đức quý báu mà không cứu nước đang mê

loạn, có thể gọi là nhân được không?” (Khổng Tử làm thinh), Dương Hóa nói tiếp:

“Không gọi là nhân được Muốn ra làm quan mà nhiều lần bỏ lỡ cơ hội, có thể gọi

là trí được không?” (Khổng Tử lại làm thinh) Dương Hóa lại nói tiếp: “Không gọi

là trí được Ngày tháng trôi qua, tuổi chẳng đợi ta” Khổng Tử nói: “Vâng, tôi sẽ ra làm quan” (Luận ngữ: Dương Hóa, XVII, 1)

Như vậy, chữ nhân trong học thuyết của Nho giáo là tập hợp nhiều tiêu chí

người Điều này cũng phù hợp với nhân sinh quan của ông là mong muốn một xã

h ội mọi người trên dưới đều yêu thương lẫn nhau theo phận vị của mình” [59, tr.69]

V ề thuyết chính danh: Theo Khổng Tử, mỗi người đều có một vị trí trong gia

đình, trong xã hội Vì vậy, cách ăn nói, cách hành xử phải phù hợp với vị trí của mình Chính danh là nguyên tắc đầu tiên trong việc làm chính trị của Khổng Tử Hãy nghe câu trả lời của Khổng Tử với học trò thì sẽ thấy được nguyên tắc đó của ông

Tử Lộ hỏi: “Nếu vua Vệ giữ thầy lại mà nhờ thầy coi chính sự thì thầy làm

việc gì trước?” Khổng Tử đáp: “Tất phải chính danh trước hết chăng?”

Tử Lộ nói: “Vậy ư? Lời thầy vu khoát rồi Sao lại phải chính danh?” Khổng Tử nói: “Do, anh thật là thô thiển Người quân tử có điều gì không biết thì không nói bậy

Nếu danh (hiệu) mà không chính (xác) thì lời nói không thuận lý (vì danh hiệu không

hợp với thực tế), lời nói không thuận thì sự việc không thành; sự việc không thành thì

lễ nhạc chế độ không kiến lập được; lễ nhạc, chế độ không kiến lập được thì hình

phạt không trúng; hình phạt không trúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu (không biết làm thế nào cho phải) Cho nên người quân tử đã dùng cái danh gì thì tất

phải nói ra được (nói phải thuận lý); đã nói điều gì thì tất phải làm được Đối với lời nói, người quân tử không thể cẩu thả được” (Luận ngữ: Tử Lộ, XIII, 3)

Trang 15

Quan niệm của Nho giáo là phải có trên – dưới, lớn – nhỏ Người nào ở vị trí

đó và làm đúng phận sự của mình Tề Cảnh Công hỏi về phép trị dân Khổng Tử đáp: “Vua làm hết đạo vua, bề tôi làm hết đạo bề tôi, cha làm hết đạo cha, con làm

hết đạo con” Cảnh Công khen: “Hay thật! Nếu vua không ra vua, bề tôi không ra bề tôi, cha không ra cha, con không ra con, thì dẫu có lúa ta chắc gì đã ăn được” (Luận

ngữ: Nhan Uyên, XII, 11)

Như vậy, “Quy tắc chính danh đưa tới quy kết: ai giữ phận nấy, cứ theo đúng

t ổ chức xã hội rất chặt chẽ, rất có tôn ti của Chu Công thì nước sẽ trị, thiên hạ mới

g ọi là hữu đạo” [44, tr.149]

V ề thuyết Thiên mệnh

Khổng Tử đã phát biểu về thuyết Thiên mệnh trong luận ngữ như sau:

Khổng Tử cho rằng tuổi 50 là tuổi tri thiên mệnh, tức là hiểu được cái lẽ mầu nhiệm lưu hành trong vũ trụ “Ta 15 tuổi để chí vào việc học (đạo); 30 tuổi biết tự lập (tự mình theo chính đạo); 40 tuổi không nghi hoặc (biết sự vật nào phải hay trái, tốt hay xấu); 50 tuổi biết mệnh trời (ngũ thập tri thiên mệnh); 60 tuổi đã biết theo mệnh

trời; 70 tuổi theo lòng muốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý” (Luận ngữ: Vi chính, II, 4) Và ông cho rằng người quân tử là phải biết sợ mệnh trời

Khổng Tử nói: “Người quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân,

sợ lời nói của thánh nhân, kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời nên không sợ, khinh

nhờn đại nhân, giễu cợt lời nói của thánh nhân” (Luận ngữ: Quý Thị, XVI, 8)

Đôi khi Khổng Tử cho rằng mệnh trời có một sức mạnh toàn năng Khổng Tử nói: “Đạo (tôi) mà thi hành được là do mệnh trời, hay bị bỏ phế cũng do mệnh trời” (Luận ngữ: Hiến vấn, XIV, 36)

Bá Ngưu đau, Khổng Tử lại thăm, đứng ngoài cửa sổ, nắm tay Bá Ngưu, bảo:

“Vô lý! Do mệnh trời chăng? Con người như vậy mà bị bệnh đó!” (Luận ngữ: Ung

dã, VI, 8) Như vậy, mệnh trời ở đây có nghĩa là định mệnh, số mệnh đã sắp sẵn

Khổng Tử tiếc học trò giỏi mà yểu mệnh Một câu nói khác cũng có nghĩa tương tự như vậy: “Sống chết có số, phú quý do trời” (Luận ngữ: Nhan Uyên, XII, 5)

Trang 16

Như vậy, theo Giản Chi – Nguyễn Hiến Lê, Thiên mệnh có 3 nghĩa:

- Cái lẽ vô hình, linh diệu của trời đất mà con người có khi hiểu được, có khi không hiểu được; theo nghĩa đó thì mạng gần như quy luật tự nhiên của hóa công

- Những nguyên do nào đó, ta không rõ, ảnh hưởng một cách bất ngờ tới

những hoạt động của ta, khiến cho có kẻ tận lực mà không thành việc, lại có kẻ không làm mà thành việc

- Một sự tiền định, sức người không thể đổi được, như có người sinh ra vốn thông minh, có kẻ vốn ngu độn, quốc gia có thời thịnh, có thời suy, theo nghĩa này,

mạng thường được gọi là định mạng, số mạng

“T ựu trung ba nghĩa đó chỉ là tỏ ra thái độ: nghĩa thứ nhất tỏ một thái độ thu ần triết của người ta ráng tìm hiểu vũ trụ, nghĩa thứ hai tỏ một thái độ tích cực,

c ứ làm hết sức mình rồi kết quả ra sao cũng được, nghĩa thứ ba tỏ một thái độ tiêu

c ực, hoàn toàn để cho hoàn cảnh chi phối, chẳng cần gắng sức” [1, tr.37]

1.1.2 Ph ật giáo

Phật giáo là một tôn giáo với triết lý uyên thâm, sâu sắc Trong giới hạn luận văn này, chúng tôi chỉ tìm hiểu tinh thần triết lí nhà Phật Từ bản thể luận đến nhân sinh quan Phật giáo đều phong phú như: tứ diệu đế, chư hành vô thường, chư pháp

vô ngã, Niết bàn tịch diệt, duyên khởi luận, thập nhị nhân duyên, thuyết luân hồi… Trong phạm vi có thể, chúng tôi chỉ tìm hiểu những nội dung sau:

1.1.2.1 T ứ diệu đế

Phật giáo quan niệm rằng: “Đời là bể khổ” Nước mắt loài người nhiều hơn nước của bốn biển Phật đà xưa kia đã dứt bỏ cả ngai vàng để đi tu chỉ vì ngài thấy

tận mắt cảnh sinh, lão, bệnh, tử của nhân gian Ngài cảm nhận được nhân gian là

khổ, thế gian giống như biển khổ ải mà chúng sinh trôi giạt trong đó, chịu đựng muôn vàn sự dày vò của phiền não, không sao giải thoát được Đó là sự thật Nhưng

sự thật ấy, không ai nhìn thấy một cách tường tận và nói lên một cách rõ ràng như Đức Phật đã nói trong khổ đế, phần thứ nhất của tứ diệu đế

Trang 17

Khổ đế là triết lí về bản chất cuộc đời của mỗi con người là bể khổ Phương pháp nhận thức của Phật là thực tiễn Phật giáo đã chia thành 8 loại khổ: sinh khổ,

bệnh khổ, lão khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ và ngũ

ấm xí thạnh khổ

Khổ đế - chân lý về bản chất của nỗi khổ - là cái đầu tiên trong tứ diệu đế Đó

là trạng thái buồn phiền phổ biến ở mỗi con người do sinh, lão, bệnh, tử, do nguyện

vọng không được thỏa mãn Thực chất của đạo Phật là một học thuyết về nỗi khổ và

sự giải thoát Đức Phật từng nói: “Ta chỉ dạy một điều: Khổ và Khổ diệt” Phật đã hướng con người đến sự giải thoát như thế nào? Tất cả được trả lời trong tập đế, diệt

đế, và đạo đế

Nhân đế (tập đế) nói về nguyên nhân của sự khổ Mọi cái khổ đều có nguyên nhân Phật giáo đưa ra thuyết “thập nhị nhân duyên” để giải thích nguyên nhân của cái khổ

Diệt đế: Muốn chấm dứt đau khổ người ta phải trừ khử từ gốc rễ chính của nó

là ái dục và vô minh, từ bỏ tham, sân, si trong cuộc sống Diệt trừ đau khổ là hướng

tới Niết Bàn Đó là sự giải thoát cuối cùng khỏi mọi ràng buộc tử sinh, mọi phiền não ám ảnh

Đạọ đế: Con đường diệt khổ, giải thoát thực chất là xóa bỏ vô minh và

nhập vào Niết bàn, đạt tới trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh tử luân hồi

1.1.2.2 Vô thường

Phật giáo cho rằng bản chất của sự tồn tại của thế giới là một dòng chuyển

biến liên tục (vô thường), không do một vị thần linh nào sáng tạo ra vạn vật và cũng không có cái gì vĩnh hằng tuyệt đối Vô thường chẳng phải chỉ là sự ngẫu nhiên

Phật giáo rất coi trọng nhân quả, nghiệp báo, cho dù sự ra đời của một hiện tượng nào đó là ngẫu nhiên, nhưng trong nó cũng nhất định chứa đựng nguyên tố tất nhiên, đó chính là luật nhân quả vạn hữu “Vô thường” chính là sự biểu hiện của

“chư hành” và thực chất của nó vẫn là “không” Do vậy, Phật giáo nói không,

Trang 18

không có nghĩa là không có gì cả, cũng không phải là rõ ràng đối mặt với hiện tượng khách quan nhưng lại cho là không nhìn thấy, cái “không” này chính là ý nghĩa của sự không thực tại Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh chép: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc”; cái “sắc” ở đây tức

chỉ hiện tượng vật chất Hiện tượng vật chất không phải là không tồn tại, mà ở trong cái “vô thường” Vì vậy tính chất của nó vẫn là “không”, và tính của cái “không” này là không thể độc lập tồn tại, nó được thể hiện trong tất cả sự vật, hiện tượng Cho nên mới “sắc tức thị không, không tức thị sắc”, sắc không nhất như, sắc không

bất nhị Đây cũng là điều đạo lý Phật giáo chỉ bảo con người từ trên quan hệ nhân duyên của mọi sự vật đi nhận thức “vô thường”, “tính không”

Vô thường được chia làm 2 giai đoạn: nhất kỳ vô thường và niệm niệm vô thường

Nhất kỳ vô thường nói về sự biến hóa của bất kể sự vật nào trong một thời kì

nhất định đều phải trải qua thành, trụ, hoại, không (hoặc sinh, trụ, dị, diệt), như cái sinh, lão, bệnh, tử của con người cuối cùng thì cũng phải thuộc về sự hoại diệt, quá trình này gọi là nhất kì vô thường

Cái “niệm” của niệm niệm vô thường, có nghĩa là “cái chớp mắt” Niệm niệm

tức là “trong cái chớp mắt” Niệm niệm vô thường tức là nói bất kể sự vật nào trước khi chưa có sự hoại diệt, trong tích tắc, đều ở vào trong quá trình tuần hoàn chảy

xiết, không dừng lại một khoảnh khắc nào cả

“Chư hành vô thường” là nói bao hàm những nhân tố của phép biện chứng nhất định Nhưng mục đích tuyên dương lí luận “vô thường” của Phật Đà là dạy chúng sanh nhìn rõ chân tướng thực sự của thế giới, chớ có khăng khăng cho rằng “vô thường” là “thường”, vì nó mà khơi dậy lòng ham muốn, đeo đuổi cố chấp Cho dù ai

đó đã thỏa mãn dục vọng, đạt được vật mà họ muốn có, nhưng sinh mạng của họ vô thường, vật chất vô thường, cuối cùng thì cũng chỉ là một khoảng trống không

Với con người, nhà Phật thường nói tới tam vô thường:

- Thân vô thường: chỉ sự biến đổi liên tục của thể xác

Trang 19

- Tâm vô thường: chỉ sự biến đổi của tâm ý

- Hoàn cảnh vô thường: chỉ sự biến đổi liên tục của hoàn cảnh sống

Tóm lại, vô thường lại chính là sự thường, xuyên suốt trong mọi thời gian và không gian Hiểu được vô thường là sự thường, con người sẽ dễ dàng bình tĩnh trước mọi biến cố của cuộc sống và chính sự bình tĩnh này cho phép chúng ta có thể

lựa chọn cho mình một thái độ ứng xử phù hợp nhất Cao thượng và thấp hèn, anh hùng và phản bội, chính nghĩa và phi nghĩa… tất cả đều nảy sinh từ thái độ ứng xử này Hiểu được vô thường là sự thường, con người sẽ dễ tìm sự an vui trong thanh tao, xa lánh và lên án sự giả dối

1.1.2.3 T ừ bi

Định nghĩa theo danh từ nhà Phật “Từ” nghĩa là thương yêu, là làm vui cho người và vật; “Bi” là thương xót người hay vật, khi thấy họ đau khổ, gặp hoạn nạn,

và cố cứu họ ra khỏi hoàn cảnh ấy

Từ được hiểu là lòng thương yêu đối với tất cả mọi loài chúng sanh Người có lòng từ bi là người thành thật mong cho chúng sanh đều được sống trong an lành,

hạnh phúc và có khả năng hiến tặng hạnh phúc, hiến tặng niềm vui cho họ Như vậy, tâm Từ gồm có ước muốn và khả năng đem đến an vui, hạnh phúc cho chúngsanh Tâm từ là lòng yêu thương không điều kiện, không phân biệt, nó phát khởi

một cách tự nhiên, không hề có sự gượng ép hay vì một mục đích vụ lợi nào cả Tâm từ êm dịu bao trùm hết thảy chúng sanh và lan sang cả cỏ cây Như ánh trăng chiếu sáng khắp vạn vật, tâm từ vô lượng thương yêu tất cả mọi loài, bình đẳng, không phân biệt

Người có tâm từ thì luôn muốn người khác được hạnh phúc Tình thương xuất phát từ Từ tâm là tình thương không hạn định, không hệ lụy, nó vừa đem đến hạnh phúc cho người, vừa đem đến an vui cho mình, cả người thương và người nhận tình thương đều có sự tự do trong tình thương yêu chứ không hề bị trói buộc

Trang 20

Kẻ thù trực tiếp của tâm Từ là lòng thù ghét, oán hận và ác ý Tâm từ và lòng

hận thù không thể cùng tồn tại Chúng như ánh sáng và bóng tối, khi cái này có mặt thì cái kia bị đẩy lùi Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy: “Sân hận diệt hận thù, đời này không thể được Từ bi diệt hận thù, ấy là định luật ngàn thu” Tâm từ không

những dập tắt lòng sân hận mà còn có khả năng ngăn chặn những tâm bất thiện trong lòng mình và làm phát khởi thiện tâm nơi người khác

Kẻ thù gián tiếp của tâm Từ là lòng yêu thương vị kỉ, lòng luyến ái đặc biệt đối với một ai đó Kẻ thù này khá tế nhị và cũng rất nguy hiểm, nó làm cho người thương và người được thương phải khổ đau, phiền muộn Dẫu biết rằng thế gian không thể tồn tại nếu không có tình thương yêu, luyến ái Tuy nhiên, sự ích kỉ, hẹp hòi trong tình cảm đó là nguyên nhân của bao đau khổ Cho nên, là người học theo

hạnh Từ bi của Đức Phật, chúng ta phải cố gắng chuyển đổi dần dần tính ích kỉ ấy trong tình cảm của mình để ít gây đau khổ cho mình và người hơn

Bi là động lực làm cho tâm rung động trước sự đau khổ của người khác, là dòng nước tịnh làm dịu mát lòng người đau khổ Đặc tính của bi là ý muốn giúp đỡ người khác thoát khỏi khổ đau và có khả năng làm vơi đi khổ đau của người khác Người có tâm bi không chỉ sống cho riêng mình mà còn vì người khác Cũng như tâm Từ vô lượng, tâm Bi là lòng yêu thương không phân biệt, không điều kiện Tuy nhiên, đối tượng mà người có tâm Bi hướng tới là những người đau khổ, bất hạnh,

những người lầm đường, lạc lối

Theo Lão Tử, nguồn gốc của vạn vật là Đạo, “Đạo sanh Nhất Nhất sanh Nhị

Nhị sanh Tam Tam sanh vạn vật” (Đạo sanh Một Một sanh Hai Hai sanh Ba Ba

Trang 21

sanh vạn vật) (Lão Tử - chương 42) Từ nguồn gốc của Đạo, Lão – Trang thể hiện nhân sinh quan như sau:

S ống thuận thiên: vô vi, hòa nhập với thiên nhiên

Theo Khổng Tử, trời có ý chí nên có thiên mệnh – số phận con người bị chi

phối bởi mệnh Trời Đến Lão Tử thì trời mất cái địa vị chủ tể Chương 25 Đạo đức kinh, ông viết “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên” (Người bắt chước đất, đất bắt chước trời, trời bắt chước đạo, đạo thì tự nhiên mà

thế) Theo Nguyễn Hiến Lê: “Vậy trời tuy ở trên loài người, trên vua chúa, nhưng

còn ở dưới đạo; vận hành theo luật tự nhiên, không có ý chí, tri thức, người không

ph ải theo trời mà phải theo tự nhiên” [1, tr.230]

Trang Tử cũng chủ trương hoàn toàn theo tự nhiên như Lão Tử, ý tưởng của ông rõ ràng hơn và mạnh hơn Trang Tử dùng chữ thiên theo nghĩa chỉ lẽ tự nhiên

“vô vi vi chi vị thiên” (không làm mà làm, thì gọi là trời – tự nhiên) (Thiên địa – Nam Hoa kinh)

“Hà vị thiên, hà vị nhân?… Ngưu mã tứ túc, thị vị thiên: lạc mã thủ xuyên ngưu tị, thị vị nhân” (Thế nào gọi là trời? Thế nào gọi là người?… Trâu ngựa bốn chân, thế là trời (tự nhiên); buộc đầu ngựa xỏ mũi trâu, thế gọi là người (nhân vị) (Thu thủy – Nam Hoa kinh) Cái thiên nhiên đó có lực lượng cực lớn, người không

thể chống nổi: “Từ hồi nào tới giờ, vật không thắng được trời” (Vật bất thắng thiên,

cửu hĩ – Đại tông sư, Nam Hoa kinh)

Đã không thắng được trời thì chỉ nên tuân lệnh trời như tuân lệnh cha mẹ:

“Cha mẹ sai con đi Đông, Tây, Nam, Bắc thì con phải nghe theo Đối với người, âm dương còn hơn cha mẹ” (Đại tông sư – Nam Hoa kinh)

Mà muốn thuận thiên thì phải vô vi Theo Giản Chi – Nguyễn Hiến Lê, vô vi

không phải là không làm gì mà là không làm gì trái với tự nhiên mà phải bỏ nhất thiết tri thức, đức hạnh, kĩ thuật, trở về sống một đời thật chất phác (phục quy vu

phác) để cho nhân loại được yên ổn, thái bình: “Dứt thành, bỏ trí, dân lợi gấp trăm

ph ần; dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại hiếu từ; dứt xảo bỏ lợi, trộm cướp không có Dứt

Trang 22

ba cái đó, vẫn là chưa đủ, còn phải làm cho dân chuyên chú vào cái này: sống đời

ch ất phác, ít riêng tây, ít dục vọng” [1]

Nhân sinh quan của Lão Tử gồm trong hai chữ “chất phác” đó “Chất phác là

t ự nhiên, tự nhiên là đạo, mà đạo sinh ra trời, đất, vạn vật; vậy thì theo tự nhiên cũng có nghĩa là theo thiên nhiên, theo trời” [1, tr.232]

Lão Tử nghĩ rằng đã không thể thắng nổi trời, càng gắng sức cải tạo thiên nhiên, sửa đổi xã hội thì chỉ càng thêm loạn, bất nhược là sống ngày nào thì tiêu diêu ngày đó

Theo chủ trương vô vi của Lão Tử, Trang Tử đề cao thiên tính, mọi vật đều để theo tự nhiên, không nên có sự can thiệp của con người

Trang Tử nói: “Thị cố phù hĩnh tuy đoản, tục chi tắc ưu; hạc hĩnh tuy trường đoạn chi tắc bi Cố tính trường phi sở đoạn, tính đoản phi sở tục” (Chân vịt tuy

ngắn, nếu nối cho dài ra thì vịt sẽ đau; chân hạc tuy dài, nếu cắt ngắn đi thì hạc sẽ

khổ Vậy thì cái gì trời sinh ra dài thì không nên làm cho ngắn lại; cái gì trời sinh ra

ngắn thì không nên nối cho dài ra) (Biền mẫu, Trang Tử Nam Hoa Kinh) Đối với

vật là vậy, đối với con người, Trang Tử cũng chủ trương thuận theo bản tính tự

nhiên Đặc biệt, “Người đứng đầu nhà nước phải là thánh nhân trị vì thiên hạ bằng

đạo vô vi Xóa bỏ mọi ràng buộc con người bởi quy phạm đạo đức, pháp luật, trả

l ại cho con người cái bản tính tự nhiên vốn có của nó” [59, tr.97]

“H ạnh phúc của vạn vật, của con vật là thuận cái bản tính của mình mà hòa

h ợp với vũ trụ Trang Tử đặt ra ngụ ngôn này: Lỗ Hầu bắt được một con chim biển, thích l ắm, đem nuôi ở trong miếu đường, bắt các quan tấu nhạc cho nó nghe, làm

th ịt cá cho nó ăn, chuốc rượu cho nó uống; nhưng nó cứ ủ rũ, không ăn uống gì cả,

ba ngày sau nó ch ết Cái hại của xã hội là bắt mọi người vào trong một khuôn nếp; không để mọi người theo bản tính tự nhiên của mình” [1, tr.64]

Chủ trương vô vi của Trang gặp chủ trương vô vi của Khổng Tử: “Không

ph ải dùng hình pháp, tránh được mọi phiền phức, biến động” [44, tr.154] Vì

Khổng Tử nói: “Mình mà chính đáng (ngay thẳng, đàng hoàng) dù không ra lệnh,

Trang 23

dân cũng theo, mình không chính đáng, tuy ra lệnh, dân cũng chẳng theo” (Luận

ngữ: XIII 6)

Kết quả là: “Làm chính trị mà dùng đức (để cảm hóa dân) thì như sao bắc đẩu ở một nơi , mà các ngôi sao khác hướng về cả (tức thiên hạ theo về mình cả)” (Luận ngữ: XII 1)

Chủ trương vô vi của Khổng Tử theo tư tưởng nhập thế, còn chủ trương vô vi

của Lão – Trang theo tư tưởng xuất thế Trang coi mọi thứ trong cuộc đời này đều

là sự tiêu dao, giải trí Hơn nữa, Trang coi cuộc đời như là một giấc chiêm bao –

cuộc đời biến hóa, có thực sẽ thành mộng: “Xưa, Trang Châu chiêm bao thấy mình

là bướm, vui phận làm bướm, tự nhiên thích chí không còn biết Châu Chợt tỉnh

giấc, thấy mình là Châu Không biết Châu lúc chiêm bao là bướm hay bướm lúc chiêm bao là Châu Châu cùng bướm ắt có phận định” (Tề vật luận, Trang Tử - Nam Hoa kinh)

Quan niệm “tề vật” của Trang Tử cho thấy người – vật là như nhau, không phân biệt sang – hèn, quý – tiện Đứng trên thuyết Bình Đẳng của Trang Tử mà thấy con người sở dĩ nô lệ chỉ vì có một cái sợ mà thôi Sợ đủ thứ và nhất là sợ cái cảnh sau khi chết Dựa vào thuyết luân hồi, con người có thể trở thành người hay vật ở

kiếp sau Mà do quan điểm con người quý hơn con vật nên con người lo sợ Trang

Tử cho rằng sanh tử là một, sanh và tử chỉ là những hình thức biến hóa thôi “Thế thì, ở vào cảnh nào vui theo cảnh ấy Bậc chân nhân xưa, không ham sống, không ghét chết, ra không vui, vào không sợ, thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi ” (Đại

ng sư, Trang Tử - Nam Hoa kinh) Sống chết như nhau, “an theo thời, xử theo

thu ận” thì buồn vui không vào đặng cõi lòng” [22, tr.147]

Sống thuận thiên là phải gần gũi với thiên nhiên, hòa mình vào thiên nhiên, ăn

thức ăn do thiên nhiên ban tặng, đó là lối sống “tạc tỉnh, canh điền” (đào giếng lấy nước uống, cày ruộng lấy cơm ăn)

Để có cuộc sống tự do, tự tại, con người phải “tri túc, tri chỉ” (biết đủ, biết

dừng) Tri túc là bằng lòng với những gì mình đang có, không đòi hỏi hơn những gì

Trang 24

mà mình đáng được hưởng Lão Tử nói: “Họa mạc đại ư bất tri túc, cữu mạc đại ư

dục đắc Cố, tri túc chi túc, thường túc hĩ” (Không họa nào lớn bằng không biết đủ, không hại nào to bằng muốn đặng Bởi vậy, biết đủ trong cái đủ mới luôn luôn đủ -

Đạo đức kinh, Lão Tử, chương 46) “Biết đủ và biết dừng, đó là tất cả sự khôn ngoan

sáng su ốt của con người” [20, tr.147]

Theo tinh thần tri túc của Lão Tử, Trang Tử kể: chim bằng bay lên ba ngàn

dặm rồi nương gió lốc cuốn lên cao chín vạn dặm Con ve sầu và con chim cưu chỉ bay vù lên cây du, cây phương, có lúc bay không tới mà rớt xuống đất Ta thấy giữa chim bằng và chim cưu tuy lớn nhỏ khác nhau nhưng niềm hạnh phúc thì như nhau Theo sự phân chia của xã hội, mỗi người làm mỗi việc Điều quan trọng là con người biết bằng lòng với những gì mình đang có Con người không thể đứng núi này trông núi nọ, không thể đòi hỏi thêm cái ngoài tầm với, ngoài khả năng của mình Trang Tử nói: “Có người tài trí đủ để làm một chức quan, có người hạnh làm gương được cho một làng, có người đức đáng làm vua mà được cả nước phục, nhưng dù thuộc hạng nào thì cũng đều tự cảm thấy an vui như thế” Ưu thế của tư tưởng này được gói gọn trong câu nói của Lão Tử “Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi, khả dĩ trường

cửu” (Biết đủ không nhục, biết dừng không nguy, và có thể lâu dài – Đạo đức kinh, Lão Tử, chương 44) Tư tưởng tri túc không làm cho con người mất chí tiến thủ mà tránh cho con người tất cả tội ác do lòng tham muốn đèo bồng vô tận xui ta làm con thiêu thân cho vị thần tiến bộ và lòng tham dục vô bờ bến của con người

Muốn tri túc thì phải vô dục Theo Giản Chi – Nguyễn Hiến Lê: “Vô dục

không ph ải hoàn toàn không muốn gì cả, mà là đừng muốn cái gì ngoài những cái nhu c ầu tối thiểu tự nhiên của con người, tức ăn, mặc và ở” [1, tr.232]

Ngoài ra, đạo xử thế của Lão – Trang là phải biết huyền đồng (biết giữ mình)

Thu Giang – Nguyễn Duy Cần giải thích: “Người hữu đạo tìm cách “làm nhụt sự

đi… Đó là cái đức Huyền Đồng” [20, tr.184]

Trang 25

Lão Tử nói: “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri Tắc kỳ đoài, bế kỳ môn, tỏa kỳ

nhục, giải kỳ phân, hòa kỳ quang, đồng kỳ trần Thị vị huyền đồng Cố, bất khả đắc nhi thân Bất khả đắc nhi sơ, bất khả đắc nhi lợi, bất khả đắc nhi hại, bất khả đắc nhi quý, bất khả đắc nhi tiện Cố, vi thiên hạ quý” (Người biết (đạo) thì không nói (về đạo), người nói là người không biết Ngăn hết các lối, đóng hết các cửa, không để lộ

sự tinh nhuệ ra, gỡ những rối loạn, che bớt ánh sáng, hòa đồng với trần tục, như vậy

gọi là “Huyền đồng” (hòa đồng với vạn vật một cách hoàn toàn) (Đạt tới cảnh giới

đó thì) không ai thân, cũng không ai sơ với mình được (vì mình đã ngăn hết các lối, đóng hết các cửa, bỏ dục vọng, giữ lòng hư tĩnh); không ai làm cho mình được lợi hay bị hại (vì mình đã không để lộ sự tinh nhuệ, đã gỡ những rối loạn, giữ sự giản phác); không ai làm cho mình cao quý hay đê tiện được (vì mình đã che bớt ánh sáng, hòa đồng với trần tục) Vì vậy mà tôn quý nhất trong thiên hạ) (chương 56) Như vậy, Lão Tử chủ trương giấu tài của mình đi để được sống ung dung tự

tại Cùng tư tưởng với Lão Tử, Trang Tử kể nhiều chuyện ngụ ngôn trong Nam Hoa kinh về người và vật đã biết giấu tài, giấu mình để giữ mình

Ba hệ tư tưởng trên đây đều du nhập vào nước ta thời kỳ phong kiến phương

Bắc thống trị Họ dùng những triết thuyết này nhằm mục đích đô hộ dân ta (đồng hóa về văn hóa) Nhưng dân tộc ta đã biết cách uyển chuyển tiếp thu những mặt tích

cực của ba hệ tư tưởng này Trên tinh thần đó, chúng ta tiếp thu và thể hiện trên nhiều lĩnh vực Đặc biệt là lĩnh vực văn học Khi chữ viết ra đời cũng là khi văn học

viết ra đời, những tư tưởng này đã thấm nhuần trong đời sống tinh thần nhân dân

1.1.4 Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng Nho, Phật, Lão trong văn học trung đại

Lịch sử văn học trung đại trải qua 10 thế kỉ - một khoảng thời gian khá dài Trong khoảng thời gian đó có biết bao biến động kinh tế, chính trị, văn hóa tác động đến nội dung văn học Ba hệ tư tưởng này cũng có sự tác động không nhỏ đến văn

học trung đại Mỗi thời kì có những đặc điểm khác nhau, do đó mà sự ảnh hưởng

của ba hệ tư tưởng này ở từng giai đoạn có sự đậm, nhạt khác nhau Đi vào tỉ mỉ

từng chi tiết là điều rất khó, chúng tôi cố gắng nêu lên sự ảnh hưởng của ba tư tưởng này trong từng giai đoạn của văn học trung đại

Trang 26

1.1.4.1 T ừ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV

Văn học giai đoạn này phát triển trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt Dân tộc ta giành được quyền độc lập tự chủ vào cuối thế kỉ X, lập nhiều kì tích trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược (chống quân Tống thế kỉ XI, chống quân Nguyên – Mông

thế kỉ XIII) Sau những cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc là công cuộc xây dựng đất nước trong hòa bình Chế độ phong kiến Việt Nam nhìn chung đang ở thời kì phát triển Văn học giai đoạn này mang nội dung yêu nước với âm hưởng hào hùng dân tộc Đây là giai đoạn Phật giáo trở thành quốc giáo ở nước ta Đỉnh cao là thời đại

Lý Trần Phật giáo có vị trí trên vũ đài chính trị và tư tưởng của nước nhà Phật giáo

đã tỏ ra rất gắn bó với Nhà nước và có ảnh hưởng rất lớn lao đối với Nhà nước Nhiều bậc cao tăng đã có vị trí quan trọng như những cố vấn chính trị thực sự của nhà vua và triều đình, như: Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh…

Trên vũ đài chính trị và tư tưởng của đất nước, Phật giáo có vị trí quan trọng

nhất Nhưng, ở đó, không hề có hiện tượng độc tôn của Phật giáo Ngược lại, Đạo giáo và Nho giáo cũng có tiếng nói riêng Thi thoảng, nhà nước còn tổ chức khoa thi

tam giáo để thể hiện tinh thần “Tam giáo đồng nguyên”: “ Khoa thi Tam giáo do

Thái Tông) t ổ chức vào tháng 8 năm Đinh Mùi (1247) [68, tr.208]

Văn thơ Lý Trần là một thành tựu đáng trân trọng trong văn học giai đoạn này Cùng với sự hưng thịnh của nhà nước phong kiến là nền văn học phát triển phong phú, đậm đà tinh thần dân tộc và nhân bản Xu hướng chủ đạo của văn học giai đoạn này là tinh thần yêu nước tích cực Nhưng bấy nhiêu đó cũng chưa đủ nói lên đặc trưng cơ bản của văn học giai đoạn này Bởi vì tư tưởng yêu nước và tinh thần dân tộc đã trở thành tố chất, thành máu thịt trong dân tộc ta Xu hướng đặc biệt làm

nên văn học Lý Trần là ảnh hưởng triết lí Phật giáo, Thiền tông “Chọn Phật giáo

Thi ền tông, các nhà trí thức và những người cầm quyền trong buổi đầu kỉ nguyên tự

ch ủ đã tìm thấy nơi hệ thống triết học này sự phù hợp với tâm lý, tập quán và đạo lý truy ền thống của dân tộc để từ đó có thể phát huy sức mạnh Đại Việt Tinh thần

Trang 27

bình đẳng và bác ái của Phật giáo tìm thấy sự hòa điệu với tinh thần dân chủ, nhân

ái truy ền thống có từ buổi đầu dựng nước là một ví dụ” [75, tr.41]

Như đã nói ở trên, đây là giai đoạn nhà nước phong kiến phát triển hưng thịnh

Phật giáo có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị và văn hóa Các thiền sư có nhiều đóng góp đáng kể trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ độc lập dân

tộc Thơ văn mang ảnh hưởng triết lý Thiền tông chiếm một số lượng không nhỏ Đây chính là bộ phận làm nên diện mạo của thơ văn Lý Trần

Thiền tông Việt Nam mang tinh thần “chân không diệu hữu”, tinh thần phá

chấp triệt để và nhập thế Một thiền sư do đòi hỏi của thời đại nên cũng ra giúp vua,

bảo vệ non sông đất nước, trở thành những quân sư đắc lực trong lĩnh vực chính trị

“Công quả của các thiền sư không phải được đo bằng sự trì giới khổ hạnh, tụng kinh

niệm Phật mà được đo bằng những đóng góp hữu ích của họ cho đời sống xã hội,

đất nước Đó là tinh thần của thiền sư Vạn Hạnh: “Trụ tích trấn vương kì” (Chống

g ậy nhà chùa lên coi giữ kinh đô) [75, tr.47-48]

Có khi cũng một con người vừa là vua, là anh hùng cứu nước, vừa là triết gia, thiền sư, thi sĩ Đó là yêu cầu của thời cuộc Vua Lí Nhân Tông cũng đã nêu rõ ý chỉ

của mình trong lời nói với thiền sư Mãn Giác: “Bậc chí nhân hiện thân giữa cõi đời

này t ất phải tế độ chúng sinh Làm việc gì cũng phải đầy đủ, không việc gì không làm Ch ẳng những đắc lực về thiền định mà cũng có công giúp đỡ nhà nước” [37]

Đặc trưng của Thiền tông là “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật” Khi vào Việt Nam, Thiền tông đã “phá chấp”, đưa vào

cuộc sống, phục vụ đất nước và nhân dân

Nội dung ảnh hưởng Phật giáo rõ rệt nhất là ở mảng thơ thiền Lý Trần Về lực lượng sáng tác, ta thấy phần nhiều là các thiền sư như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung thượng sĩ, Mãn Giác, Pháp Thuận, Vạn Hạnh, Không Lộ… Tuy nhiên, cũng có những tác giả không phải là thiền sư nhưng hâm mộ thiền, có nghiên

cứu và hiểu biết về thiền nên nội dung thấm đẫm ý vị thiền

Trang 28

Như đã nói ở trên, giai đoạn này Phật giáo trở thành quốc giáo Nhưng Phật giáo không giành vị trí độc tôn Với tinh thần cởi mở, phá chấp triệt để, Phật giáo đã dung hợp với phía tích cực của Nho, Lão để giúp con người phát triển toàn diện và phù hợp với con đường phát triển của đất nước Mặt khác, với chủ trương “tam giáo đồng nguyên” văn học giai đoạn này có ảnh hưởng nhiều của các yếu tố Nho, Lão

Thế kỉ X – XIV là giai đoạn nước ta vừa giành được độc lập dân tộc, bắt đầu xây dựng nhà nước phong kiến, vừa củng cố nền độc lập, vừa chống giặc ngoại xâm Hơn bao giờ hết, tinh thần yêu nước trỗi dậy mạnh mẽ Bất bình trước nạn ngoại xâm, nhiều người đã đem thân mình phục vụ cho nhà nước phong kiến Ở đó,

ta thấy tinh thần trung quân ái quốc rất rõ rệt Trên đền Trương Hống, Trương Hát bên sông Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt đã cho quân lính nửa đêm ngâm bài thơ

thần cũng là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất để khẳng định chủ quyền: đất nước này chính là đất nước của vua nước Nam

Khi giặc Nguyên – Mông sang xâm lấn nước ta, Trần Quốc Tuấn đã viết Hịch tướng sĩ để kêu gọi quân lính tham gia kháng chiến Họ kháng chiến trước hết là để

bảo vệ điền trang, thái ấp cho vua, quan, sau đó mới đến mồ mả tổ tiên, dòng họ, vợ con của chính họ Trong bài hịch này, Trần Quốc Tuấn thể hiện tư tưởng tôn quân, trung quân rất rõ Ta thấy Trần Quốc Tuấn đã nêu ra hàng loạt những gương trung

thần của Trung Quốc như Dự Nhượng, Kỉ Tín, Do Vu… để làm gương, để nhằm vào tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc cũng như tư tưởng trung quân của quân sĩ

Một thời đại đầy những chiến công hiển hách, một thời đại có những con người “Thà làm ma nước Nam chứ không làm vương đất Bắc” (Trần Bình Trọng),

có những con người “Cầm ngang ngọn giáo trấn giữ non sông đã bao mùa thu” thì đối với người trai chưa làm xong nhiệm vụ đối với đất nước sẽ luôn mang nỗi thẹn trong lòng: “Công danh nam tử còn vương nợ; luống thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu” (Thuật hoài, Phạm Ngũ Lão) Đối với kẻ làm trai, chữ công danh thật rộng lớn, có

thể xả thân cứu nước đền ơn vua khi có giặc ngoại xâm và xem cái chết nhẹ tựa lông hồng; hay trong thời bình học hành đỗ đạt, làm quan Phạm Ngũ Lão thấy thẹn

với mình khi so với Gia Cát Lượng để làm mẫu mực phấn đấu

Trang 29

Tinh thần nhập thế của Phật giáo Thiền tông đã đem đến cho văn học hình tượng

về những con người vừa là thiền sư vừa là thi sĩ Tinh thần Nho giáo đem đến những con người trung quân, coi mọi việc trong trời đất là phận sự của mình (Vũ trụ nội mạc ngô phận sự) Nho giáo đã tạo ra một mẫu hình lý tưởng cửa Khổng sân Trình với tinh

thần “trí quân trạch dân” Nhưng dường như chỉ với Phật giáo và Nho giáo (mặc dù đã đến với tinh thần nhập thế, phá chấp) vẫn chưa làm thỏa mãn đời sống tinh thần, văn hóa Vì vậy mà con người văn học đã tìm đến Lão – Trang, tìm đến cái tiêu dao, vi diệu như để bổ sung cho bức tranh văn học toàn diện ở giai đoạn này

Để trả lời vua Lê Đại Hành khi vua hỏi về “Vận nước”, thiền sư Pháp Thuận

đã mượn khái niệm “vô vi” của Lão – Trang

Quốc tộ như đằng lạc Nam thiên lí thái bình

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh (Quốc tộ)

(Vận nước như dây mây leo quấn quýt

Ở cõi trời Nam (mở ra) cảnh thái bình

Vô vi ở nơi điện các (Thì) khắp mọi nơi đều tắt hết đao binh) Khái niệm “vô vi” được nhiều trường phái triết học, tôn giáo sử dụng Nho giáo cũng sử dụng khái niệm này

“Trong bài thơ này, vô vi có thể hiểu theo nghĩa của Nho giáo Thiên Vệ Linh Công sách Luận ngữ của Khổng Tử có câu: “Vô vi nhi trị giả, Kì Thuấn dã dư?” (vô

vi mà thịnh trị, đó là vua Thuấn chăng?) Chu Hy chú giải ý này như sau: “Vô vi mà

thịnh trị là vì bậc thánh nhân có đức thịnh nên cảm hóa được nhân dân, không phải làm gì hơn” (Dẫn theo SGK Ngữ Văn 10 tập 1)

Nhưng hơn hết, vô vi ở đây được hiểu theo tinh thần của Lão – Trang có nghĩa

là không làm gì trái với tự nhiên

Cũng với tinh thần phá chấp, cởi mở, các nhà thơ – thiền sư thời Lý – Trần đã

sử dụng nhiều khái niệm khác của Lão – Trang như tại quang tại trần, thường ly

Trang 30

quang trần (ở trong ánh sáng, ở trong bụi bặm, nhưng thường rời xa ánh sáng, bụi

bặm), một phần giống ý “hòa kỳ quang, đồng kỳ trần” của Lão Tử trong Đạo đức kinh; hay “bằng đáo Nam minh” (chim bằng bay đến biển Nam) của Trang Tử trong Nam hoa kinh

Tiêu biểu, ta có thể thấy tư tưởng tự do, phá chấp ở Tuệ Trung thượng sĩ Tên

tuổi của vị thiền sư đầu đời Trần gắn liền với bài “Phóng cuồng ngâm” rất phóng khoáng Trong đó có hai câu thơ thể hiện rõ tư tưởng Lão – Trang:

Đốt đốt phù vân hề, phú quý!

Hu hu quá khích hề, niên quang! (Phóng cuồng ngâm)

Tư tưởng Lão – Trang còn thể hiện rõ ở lối sống hòa nhập với thiên nhiên để cái tâm hư tĩnh Trong “Thiên Trường vãn vọng” và “Hạnh Thiên Trường hành cung” Trần Nhân Tông đã vẽ nên một cảnh đẹp thiên nhiên độc đáo như cảnh tiên hay là cảnh làng quê mộc mạc, bình dị, thuần phác:

Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên Bán vô, bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lý quy ngưu tận

Bạch lộ song song phi hạ điền (Thiên Trường vãn vọng)

(Trước xóm, sau thôn tựa khói lồng Bóng chiều man mác, có đường không

Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết

Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng)

Trần Nhân Tông vốn là đệ nhất tổ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, song lại tâm đắc với tinh thần thuận theo tự nhiên của Lão – Trang

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên Gia trung hữu bảo, hưu tầm mịch

Đối cảnh vô tâm, mạc vấn thiền (Cư trần lạc đáo phú)

(Ở đời vui đạo, hãy tùy duyên

Trang 31

Hễ đói thì ăn, mệt nghỉ liền Trong nhà có báu, tìm đâu nữa Trước cảnh vô tâm, chớ hỏi thiền)

1.1.4.2 T ừ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII

Giai đoạn văn học này được đánh dấu bằng việc thành lập nhà Hồ và triều đại phong kiến cực thịnh là nhà Lê ở thế kỉ XV Đất nước mới giành được độc lập từ tay giặc Minh Cả dân tộc đang bắt tay vào xây dựng đất nước Hệ tư tưởng cũng có

sự thay đổi cho phù hợp với tình hình đất nước Nếu như giai đoạn văn học trước,

Phật giáo giữ vị trí quốc giáo thì ở giai đoạn này Nho giáo giữ vai trò chủ đạo Công

cuộc đấu tranh chống giặc Minh thắng lợi, dân tộc ta có niềm tin vững mạnh vào lí tưởng nhân nghĩa Nguyễn Trãi đã đề cao lí tưởng này trong áng “thiên cổ hùng văn”: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” Vì tư tưởng nhân nghĩa này mà dân tộc ta đã thắng được quân thù xâm lược, đồng thời xây dựng được một nhà nước phong kiến cực thịnh

Sau khi hòa bình lập lại, nhà Lê xây dựng chế độ phong kiến quân chủ độc đoán Sự đời, con người đặng chim bẻ ná, đặng cá quên nơm Thực quyền của các công thần, trong đó có Nguyễn Trãi, không còn nhiều Tập trung và được tin dùng bên vua Lê là bọn gian thần tìm cách xúc xiểm công thần, vơ vét bóc lột sức dân để được lòng vua Nhưng Nguyễn Trãi vẫn kiên quyết với lý tưởng nhân nghĩa như trong Bình Ngô đại cáo Theo Nguyễn Trãi, nhân nghĩa có vị trí của nó Đó là một chuẩn mực khóa chính trị của chính sách cai trị dân:

Quyền mưu bản thị dụng trừ gian

Nhân nghĩa duy trì quốc thế an (Hạ qui Lam Sơn)

(Quyền mưu vốn là để trừ gian ác, Còn nhân nghĩa thì giữ gìn cho thế nước yên ổn)

Có thể nói Nguyễn Trãi là nhà nho tiêu biểu của thế kỉ XV Bản thân ông được đào tạo theo hệ tư tưởng Nho giáo:

Trang 32

Án sách cây đèn hai bạn cũ Song mai hiên trúc một lòng thanh

Cuốc cùn ước xáo vườn chư tử Thuyền mọn khôn đua bể Lục Kinh (Ngôn chí, bài 6)

Ông cũng dùng nhiều khái niệm Nho giáo để tỏ lòng trung với vua:

Nhân gian mọi sự đều nguôi hết

Một việc quân thân chẳng khứng nguôi Bui có một niềm trung hiếu cũ

Chẳng nằm thức dậy nẻo ba canh

Quân thân chưa báo lòng canh cánh (Ngôn chí, bài 7)

“Nh ững môtip Nghiêu – Thuấn, Đường – Ngu, ưu ái, trung hiếu, quân thân …

xu ất hiện nhiều trong thơ ông chỉ bảo cho chúng ta một sự kiên trì lí tưởng thân dân

ở Nguyễn Trãi” [66, tr.84]

Chính vì vậy mà khi được Lê Thái Tông vời ra giao những việc nước quan

trọng, ông đã làm biểu tạ ơn Dù trong hoàn cảnh nào đi chăng nữa, con người ý thức trách nhiệm của Nho giáo trong Nguyễn Trãi vẫn luôn nguyên vẹn như thời trai trẻ

“Truyền kì mạn lục” cũng có nhiều ảnh hưởng từ Nho giáo Thậm chí, tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ là tư tưởng Nho gia Một trong những nội dung cơ

bản của Truyền kì mạn lục là phê phán sự thối nát, tệ lậu từ trên xuống dưới của xã

hội phong kiến Việc phơi bày những xấu xa của xã hội là để cổ vũ thuần phong mỹ

tục xuất phát từ ý thức bảo vệ chế độ phong kiến, phủ định triều đại mục nát đương

thời để khẳng định một vương triều lí tưởng trong tương lai

Trong 20 truyện của Truyền kì mạn lục thì có 7 truyện đề cập đến tình yêu đôi

lứa và phản ánh khát vọng hạnh phúc của con người – cá nhân Nguyễn Dữ cũng rất táo bạo, phóng túng khi viết về những mối tình si mê, đắm đuối, sắc dục, thể hiện

sự nhượng bộ của tư tưởng nhà nho trước lối sống thị dân ngày càng phổ biến ở một

số đô thị đương thời Điều đó phản ánh sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến trong

tầng lớp nho sĩ trước nhu cầu và lối sống mới của xã hội

Trang 33

Ở giai đoạn này, nhà nước phong kiến phát triển cực thịnh vào thế kỉ XV Bước sang thế kỉ XVI, chế độ phong kiến có biểu hiện khủng hoảng rồi dẫn đến nội chiến và đất nước bị chia cắt Những con người được đào tạo theo khuôn khổ của

cửa Khổng sân Trình, khi vua biết chăm lo cho dân thì “xuất” để phục vụ đất nước, còn khi thời cuộc không thuận lợi thì “xử” – lui về quê ở ẩn sống cuộc đời như một khách tiên, “tiên vô sự”, tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm

Rồi nhàn thì nhàn tiên vô sự Ngâm ngợi cho nên cảnh hữu tình

(Nguy ễn Bỉnh Khiêm, Thơ Nôm – Bài 15)

Hưởng nhàn là cái thú của nhà nho mang tư tưởng Lão – Trang, sống chan hòa

với thiên nhiên

Thiêu hương, đọc sách, quét con am

Chẳng bụt, chẳng tiên, ắt chẳng phàm

(Nguy ễn Trãi, Tự thán, bài 27)

Đêm quyến trăng xem bóng trúc Ngày chờ gió hẹn tin hoa

(Nguy ễn Bỉnh Khiêm, Bạch Vân quốc ngữ thi – bài 19)

Khi lui về ở ẩn, vui với non xanh nước biếc, những nhà nho này đã xem thường công danh phú quý:

Phú quý, treo sương, ngọn cỏ Công danh, gửi kiến, cành hòe

(Nguy ễn Trãi, Quốc âm thi tập)

Rượu, đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Trang 34

Vô sự thì hơn, kẻo phải lo

(Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, 72)

Ở mảng văn xuôi, áng “Thiên cổ kì bút” Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ

gồm 20 truyện viết bằng chữ Hán ảnh hưởng cả Nho, Phật, Lão Ảnh hưởng Lão – Trang là việc tác giả đề cao thái độ “lánh đục về trong” của các nhân vật trong truyện

Bức tranh xã hội trong Truyền kì mạn lục là xã hội phong kiến đang suy thoái

với nhiều tệ trạng xã hội như hôn quân vô đạo, đời sống người dân luôn bấp bênh,

khốn đốn vì bọn quan lại luôn nhũng nhiễu và hiếp bức dân lành

Những ẩn sĩ đã phản kháng với xã hội đó bằng cách: “trốn đời, lánh bụi, giữ tính mệnh ở lều tranh quán cỏ, tìm sinh nhai nơi búa gió rìu trăng, ngày có lối vào làng say, cửa vắng vết chân khách tục, bạn cùng ta là hươu nai tôm cá, quẩn bên ta

là tuyết nguyệt phong hoa, chỉ biết đông kép mà hè đơn, nằm mây mà ngủ khói, múc khe mà uống, bới núi mà ăn… chẳng cần biết bên ngoài là triều đại nào, vua quan nào” (Lời người tiều phu ở núi Nưa) Khẳng định thái độ sống ẩn dật, tác giả cũng đề cao khí tiết của kẻ sĩ “không vì 5 đấu gạo mà phải buộc mình trong áng lợi danh” (Lời Từ Thức trong “Truyện Từ Thức lấy vợ tiên”)

Khi xã hội phong kiến phát triển cực thịnh, người ta dùng Nho giáo để ca ngợi

nó Nhưng khi có dấu hiệu suy thoái người ta tìm đến Phật như là một cách để xoa

dịu nỗi đau cuộc đời

Nguyễn Trãi ngoài việc tìm về với thiên nhiên thuần phác của tư tưởng Lão – Trang còn hướng về đất Phật Côn Sơn (quê ngoại) để bày tỏ ý tưởng thoát ly cõi đời Nhà thơ của mười năm kháng chiến chống quân Minh đã từng vãn nhiều cảnh chùa (Hoa Yên trên núi Yên Tử, chùa Đông Sơn, Tiên Du, Hoa Nam), có quan hệ thân thiết với giới tu hành, giao du với nhà sư Đạo Khiêm Cho nên “Khi đưa tiễn nhà sư Đạo Khiêm về núi, dường như ông cảm nhận được điều gì sâu lắng nên đã tự

nhủ lòng mình rằng nếu chưa trở về quê thì cũng là đang tu theo “thượng thừa thiền” Điều đó có nghĩa là ông đã đốn ngộ, giác ngộ ra chân lý theo kiểu phái Đại

Trang 35

thừa, vừa nhập cuộc giữa thế gian vừa vẫn ý thức được sự gián cách, nâng cao của

một bản ngã – chủ thể đời sống tâm linh

Trong “Truyền kì mạn lục”, ngoài tư tưởng chủ đạo là Nho giáo, Nguyễn Dữ còn mượn học thuyết của Phật để lí giải một cách rộng rãi những vấn đề đặt ra trong

cuộc sống với những quan niệm nhân quả, báo ứng, nghiệp chướng, luân hồi Ta

thấy nhan nhản trong Truyền kì mạn lục là giấc chiêm bao báo mộng cho người còn

sống về địa điểm, thời gian để gặp người chết, nếu người sống y hẹn là sẽ có một

cuộc gặp gỡ thật Như vậy, giữa người chết và người sống có sự giao lưu thật sự (Câu chuyện ở đền Hạng Vương, Người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên) Ở đây chúng ta còn thấy cả luân hồi, nghiệp báo nữa: những người chết oan có thể được đầu thai lên trần thế làm người tốt và được đền bù xứng đáng (Nàng Nhị Khanh, Ngô Tử Văn), hoặc người còn nặng nghiệp thì đầu thai làm người xấu hòng gieo tai họa (Đào Thị, Vô Kỷ) hay cả hồn ma của các loài hoa hóa thành những cô gái đẹp để quyến tình các chàng thư sinh … tất cả tạo nên một thế

giới huyền ảo trong Truyền kì mạn lục Nguyễn Dữ dùng rất nhiều khái niệm của nhà Phật để xây dựng những truyện này

Giai đoạn này, lịch sử đã có những biến động, nhà nước phong kiến có dấu

hiệu rạn nứt Cả ba hệ tư tưởng đều có dấu ấn trong văn học.Tất nhiên, các tác giả dùng hệ thống triết thuyết này với những mục đích khác nhau

1.1.4.3 T ừ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX

Về mặt lịch sử, đây là giai đoạn có nhiều biến động: nội chiến, phong trào nông dân, quân Thanh xâm lược Nhà nước phong kiến khủng hoảng trầm trọng và

sụp đổ Đất nước nằm trước hiểm họa xâm lăng của thực dân Pháp

Văn học phát triển vượt bậc, có nhiều đỉnh cao nghệ thuật Đây là giai đoạn rực

rỡ nhất của văn học trung đại Việt Nam, được mệnh danh là giai đoạn văn học cổ điển

Cuối thế kỉ XVIII, những biến động về chính trị (các tập đoàn phong kiến kéo dài cuộc nội chiến tranh giành quyền lực với nhau) khiến các nhà nho thuộc giai đoạn này không còn mang những tư tưởng chính thống Cái nhìn của họ về nhà

Trang 36

nước không còn theo cái nghĩa vua sáng - tôi hiền Thực trạng đất nước khiến họ có cái nhìn khác về một xã hội lí tưởng Với cảm quan của nhà nho, xã hội được cảm

nhận là sự bất mãn, đầy dẫy sự bất công, đạo đức xã hội xuống dốc, tệ mua quan bán tước diễn ra trong hàng ngũ giai cấp thống trị Do đất nước rơi vào khủng

hoảng nên Nho giáo được sử dụng triệt để để xây dựng lại các giềng mối xã hội

Xu hướng nội dung văn học giai đoạn này là phê phán hiện thực xã hội phong

kiến dưới cái nhìn của nhà nho Hàng loạt tác phẩm ra đời phản ánh giềng mối xã

hội rạn nứt Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn) là một tác phẩm như thế

Đạo lí phong kiến được đề cao ở phần đầu của tác phẩm Đối với đạo cương thường, nghĩa vua tôi, người quân tử phải làm tròn phận sự Người sĩ tử khi nghe

lệnh “Chín tầng gươm báu trao tay; Nửa đêm truyền hịch đợi ngày xuất chinh” thì

đã khí thế “Xếp bút nghiên theo việc đao cung” Người vợ cũng đặt mình vào tư

cách bề tôi, cũng say sưa với lí thưởng phong kiến, người chinh phụ tiễn chồng ra

trận và thấy chàng đẹp đẽ uy nghi như một trang dũng tướng nổi bật giữa đoàn quân

Áo chàng đỏ tựa ráng pha; Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in” Lúc đó nàng

đang choáng ngợp trước những vinh quang tưởng tượng nên đã hứa cáng đáng việc

gia đình “Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam; Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân”

Tuy nhiên, đây là cuộc chiến tranh phi nghĩa, có lúc nàng đã “Hối gia phu tế mịch phong hầu” (Hối hận đã để chồng đi kiếm tước hầu – Khuê oán, Vương Xương Linh) Cũng say sưa với lí tưởng phong kiến như chinh phu và chinh phụ trong Chinh

phụ ngâm, Nguyễn Công Trứ cũng thể hiện lí tưởng đó trong “Chí nam nhi” Nguyễn Công Trứ khẳng định một cách dứt khoát vai trò tích cực của người trai trong xã hội là làm trai phải có công danh, nếu chưa có công danh coi như còn mắc

nợ Ông có cả một mảng thơ nói về chí nam nhi:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái

Trang 37

Cái công danh là cái nợ lần Nguyễn Công Trứ nói nhiều về công danh, có khi ta sẽ hiểu lầm ông là người háo danh Thực tế không phải vậy Con người muốn thực hiện lí tưởng “trí quân

trạch dân ” trước hết phải học hành, thi đỗ làm quan, phải có một vị trí, một địa vị nào đó trong xã hội thì mới có thể “hành đạo” được Vì mục đích như vậy nên quan

niệm công danh của Nguyễn Công Trứ không phải hoàn toàn mang tư tưởng cá nhân mà nó gắn liền với quan niệm trung hiếu, quân thân:

Đường trung hiếu, chữ quân thân là gánh vác

Có trung hiếu nên đứng trong trời đất Không công danh thời nát với cỏ cây

Nhập thế cục bất khả vô công nghiệp

Xuất mẫu hoài tiện thị hữu quân thân

Mà chữ danh liền với chữ thân

Thân đã có ắt danh âu phải có (Phận sự làm trai)

Nhìn chung, quan niệm về chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ đã khẳng định

một cách dứt khoát vai trò tích cực của con người trong xã hội

Ở mảng truyện thơ, ta thấy Nguyễn Du đã xây dựng những nhân vật kiểu mẫu theo lí tưởng Nho giáo Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du xây dựng nhân vật Kim

Trọng, Vương Quan là học trò Hai người là bạn đồng môn của nhau Họ cùng thi đỗ:

Chế khoa gặp hội tràng văn Vương, Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày

Họ cùng ra làm quan Đó là nhân vật được xây dựng theo công thức Nho giáo

tu thân, hành đạo

Như đã nói ở trên, giai đoạn văn học này Nho giáo trở thành quốc giáo để

củng cố giềng mối xã hội nên có ảnh hưởng tích cực đến một số nhà nho Tuy nhiên, thực chất hiện thực xã hội rối ren cũng khó xóa đi những hào nhoáng bên ngoài Cho nên, với cái nhìn của những nhà nho, hiện thực phơi bày đầy những cái

xấu xa, đồng tiền là một ví dụ điển hình

Trang 38

Đồng tiền có thể làm phương tiện mua quan bán tước cho nên con đường thi

cử trở nên vô nghĩa Theo con đường thi cử đồng nghĩa với con đường mưu cầu danh lợi Vậy mà trên con đường ấy “người tỉnh thường ít mà người say vô số” (Tỉnh giả thường thiểu túy giả đồng – Sa hành đoản ca, Cao Bá Quát)

Một nhà thơ nữ của văn học giai đoạn này có cái nhìn về hiện thực xã hội theo hướng khác Đó là Hồ Xuân Hương Trong thơ bà, ta thấy rất nhiều hình ảnh vua chúa, hiền nhân quân tử (tầng lớp trên của xã hội) Nhưng, họ không xuất hiện với

tư thế để người đời tôn trọng mà xuất hiện để người đời giễu cợt

Ngắm bức tranh “Thiếu nữ ngủ ngày”, “Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt; Đi thì cũng dở ở không xong”, hoặc thăm “Đèo Ba Dội”: “Hiền nhân quân tử ai là

chẳng; Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo” Vua chúa thì hoang dâm vô độ, háo sắc:

“chúa dấu vua yêu một cái này” (Vịnh cái quạt)

Đứng trên lập trường Nho giáo mà nói, một xã hội với những con người như

vậy thì không còn gì là trật tự kỉ cương, luân thường đạo lí Điều đó cho thấy luân lí

xã hội đang xuống dốc mặc dù nhà Nguyễn đã dùng Nho giáo như quốc giáo

Thực tế rối ren như vậy, con người đã tìm đến Phật giáo để xoa dịu nỗi đau, tìm

sự giải thoát Họ đã tìm đến những tư tưởng Phật giáo như đời là bể khổ, cuộc sống phù du, thế gian vô thường, oan trái, nhẫn nhục, từ bi cứu khổ, nhân quả nghiệp báo

Ở mảng sáng tác dân gian, ta thấy nổi rõ là truyện “Quan Âm Thị Kính” Đây

là truyện thơ kể sự tích bà Thị Kính mắc tiếng oan giết chồng rồi lại mắc tiếng oan phá giới gian dâm, nhưng nhờ đức nhẫn nhục và lòng từ bi mà được đắc quả thành

Phật bà Quan Âm: “Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hòa; Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu” Trong truyện, dân gian đã vận dụng nhiều thuyết của nhà Phật: lòng từ bi thương người, tư tưởng cứu khổ và được cứu khổ, lẽ vô thường, sự nhẫn nhịn, vòng luân hồi, báo ứng

Một truyện Nôm khác kể về một sự tích khác của Quan Thế Âm Bồ Tát trong Phật giáo là Nam Hải Quan Âm Truyện kể về công chúa Diệu Thiện dốc lòng đi tu, cứu độ

Trang 39

chúng sinh Trải qua bao nhiêu thử thách, cuối cùng Diệu Thiện cũng được Ngọc Hoàng thượng đế sắc phong làm Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát

Động cơ để Diệu Thiện quyết tâm đi tu là hiếu nhân (báo hiếu cha mẹ, độ được chúng sinh):

- Chân như đạo Phật rất mầu Tâm trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân -Trên thời báo hiếu sinh thành

Dưới thời nhân cứu chúng sinh quỷ tà

Như vậy, trong lịch sử có nhiều biến động thì người dân là chịu nhiều đau khổ

nhất Đó chính là nguyên nhân đưa họ đến gần với đạo Phật “Đạo Phật cho họ thấy

cu ộc đời là vô thường, giả tạm, là trầm ai biển khổ, và họ đã tìm thấy ở đạo Phật

ni ềm an ủi trong tâm hồn” [73]

Ở mảng văn học viết, ta thấy nổi lên “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh” của Ngô Thì Nhậm Sự ra đời của tác phẩm này chẳng phải là không có lí do Thực tế là

lịch sử của giai đoạn này có quá nhiều biến động khiến cho các nhà nho vô cùng hoang mang, những tư tưởng chính thống của Nho giáo (quan điểm về đức trị, trung

hiếu, thời thái bình…) như không còn giá trị nữa “Họ thấy Nho, Phật, Lão cùng tồn

t ại bên nhau là hiện tượng thường xuyên của lịch sử dân tộc, thấy chủ trương coi

tr ọng cả Nho, Phật, Lão trong hệ tư tưởng thống trị đã từng có tác dụng tích cực trong th ời Lý Trần … Chủ trương “Tam giáo đồng nguyên” vốn đã có từ mấy thế kỉ trước vì thế lại hiện ra một cách đột xuất và được nhiều người nói tới một cách tha thi ết Nhưng sự thể hiện ở mỗi người một khác tùy theo kiến thức, tính cách và sự

t ừng trải của họ Ngô Thì Nhậm là một trong những dạng biểu hiện đó” [73, tr.365]

“Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh” là tác phẩm bàn đến Phật giáo nhưng thực

chất ở đây có sự kết hợp giữa Nho và Thiền Trong một con người có cả hai đạo Nho và Thiền Hai đạo này giúp con người có cách ứng xử hợp lí, nhập thì dùng Nho, xuất thì dùng Thiền

Trang 40

Nguyễn Du xuất thân là nhà nho nhưng ông cũng rất am tường về Phật, Lão Thuyết chính danh của Nho giáo cho ông cái nhìn về trật tự phong kiến cũng như cho ông biết chức năng của văn chương là “văn dĩ tải đạo” Nhưng ông cũng là người chứng kiến những chuyển biến nhanh chóng của thời cuộc Cuộc sống vốn đau thương, không gì lí giải hơn là những khái niệm của nhà Phật

Thuyết chính danh của Nho giáo cho ông cái nhìn về trật tự phong kiến: vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, trên – dưới Nhưng triết lí nhà Phật lại cho ông cái nhìn bình đẳng “Phật và chúng sinh giống nhau, đều lông mày ngang, lỗ mũi dọc” Có

thể khi sống, họ có địa vị xã hội khác nhau, có người là vương tướng, quý tộc, quan liêu, tướng lĩnh, binh lính, nho sĩ, kẻ phiêu bạt, người buôn bán, gái thanh lâu… nhưng khi trở về cát bụi thì không phân biệt sang hèn

Còn chi ai quý ai hèn Còn chi mà nói ai hiền ai ngu

(Văn chiêu hồn)

Thập loại chúng sinh – những oan hồn thật đáng thương và đáng được cứu

vớt Nhà Phật với tấm lòng từ bi bác ái, với bát cháo lá đa, gọi những oan hồn này

về và nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ giúp đưa họ về cõi Niết Bàn

Chứng kiến những kiếp người hẩm hiu, những số phận bất hạnh, Nguyễn Du

đã mượn những khái niệm, quan niệm của nhà Phật (khổ, nhân duyên, duyên kiếp, siêu thoát, thiện căn…) để giải thích cuộc đời Cụ thể là trong Truyện Kiều, Nguyễn

Du đã giải thích mười lăm năm đoạn trường của Kiều là nghiệp, kiếp:

- Đã mang lấy nghiệp vào thân Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa

- Kiếp xưa đã vụng đường tu

Kiếp này chẳng khéo đền bù mới xuôi (Truyện Kiều)

Trong mười lăm năm đó, Kiều luôn rơi vào bi kịch “hết nạn nọ đến nạn kia” khó lòng mà thoát khỏi cái “trường dạ tối tăm trời đất” vì tai nạn cứ “cởi ra rồi lại

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Gi ản Chi – Nguyễn Hiến Lê (2002), Đại cương triết học Trung Quốc , t ập 2, Nxb Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc
Tác giả: Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb Tp HCM
Năm: 2002
2. Trương Chính (1983), Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Công Trứ
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1983
3.Trương Chính (1997), Tâm s ự của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán , tuy ển tập Trương Chính, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm sự của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 1997
4. Thi ều Chửu (1990), Hán Vi ệt từ điển , Nxb Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Vi ệt từ điển
Tác giả: Thi ều Chửu
Nhà XB: Nxb Tp HCM
Năm: 1990
5. Thi ều Chửu (Biên dịch) (2002), Ph ật học cương yếu , Nxb Tôn giáo, Ph ật lịch 2546 6. Đoàn Trung Còn (dịch) (2000), T ứ thư , Nxb Thu ận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học cương yếu
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2002
7. Nguy ễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học , Nxb Khoa h ọc xã h ội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2004
12. Nguy ễn Trọng Đàn, Đặng Trang Viễn Ngọc, Phan Ngọc Sơn (2009), C ận cảnh văn hóa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cận cảnh văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trọng Đàn, Đặng Trang Viễn Ngọc, Phan Ngọc Sơn
Năm: 2009
13. Tr ịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh (1999), Nguy ễn Du về tác gia và tác ph ẩm , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Tr ịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
16. Nguy ễn Thạch Giang (2005), Đoạn trường tân thanh dưới cái nhìn Nho gia – Thi ền gia, Nxb Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoạn trường tân thanh dưới cái nhìn Nho gia – Thiền gia
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang
Nhà XB: Nxb Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2005
18. Thu Giang – Nguy ễn Duy Cần (1963), Trang T ử tinh hoa, Nxb Sài Gòn 19. Thu Giang - Nguy ễn Duy Cần (1971), Ph ật học tinh hoa , Nxb Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang T ử tinh hoa
Tác giả: Thu Giang, Nguy ễn Duy Cần
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
Năm: 1963
28. Cao Xuân Huy (1995), Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chi ếu, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu
Tác giả: Cao Xuân Huy
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
29. Tr ần Đình Hượu (1996), Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Giáo d ục 30. Tr ần Đình Hươu (2001), Các bài gi ảng tư tưởng phương Đông, Nxb Đại họcqu ốc gia Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại", Nxb Giáo dục 30. Trần Đình Hươu (2001), "Các bài giảng tư tưởng phương Đông
Tác giả: Tr ần Đình Hượu (1996), Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Giáo d ục 30. Tr ần Đình Hươu
Nhà XB: Nxb Giáo dục 30. Trần Đình Hươu (2001)
Năm: 2001
33. Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm (1983), Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
Tác giả: Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 1983
34. Tr ần Trọng Kim (2001), Nho giáo , Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo
Tác giả: Trần Trọng Kim
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội
Năm: 2001
37. Khuy ết danh (1990), Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga dịch và chú thích, Thi ền uyển tập anh, Nxb Văn hoc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền uyển tập anh
Tác giả: Khuy ết danh
Nhà XB: Nxb Văn hoc
Năm: 1990
38. Phùng H ữu Lan , Đại cương triết học sử Trung quốc , Nxb Giáo D ục 39 . Đại Lãn (2007), Th ỏng tay vào chợ, Nxb Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học sử Trung quốc", Nxb Giáo Dục 39. Đại Lãn (2007), "Thỏng tay vào chợ
Tác giả: Phùng H ữu Lan , Đại cương triết học sử Trung quốc , Nxb Giáo D ục 39 . Đại Lãn
Nhà XB: Nxb Giáo Dục 39. Đại Lãn (2007)
Năm: 2007
42. Nguy ễn Hiến Lê (1990), Trang T ử và Nam Hoa kinh, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang Tử và Nam Hoa kinh
Tác giả: Nguy ễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1990
43. Nguy ễn Hiến Lê (1991), Đạo đức kinh, Nxb Văn hóa thông tin 44. Nguy ễn Hiến Lê (1997), Kh ổng Tử và Luận ngữ, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức kinh", Nxb Văn hóa thông tin 44. Nguyễn Hiến Lê (1997), "Khổng Tử và Luận ngữ
Tác giả: Nguy ễn Hiến Lê (1991), Đạo đức kinh, Nxb Văn hóa thông tin 44. Nguy ễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin 44. Nguyễn Hiến Lê (1997)
Năm: 1997
48. Nguy ễn Lộc (1999), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII – hết thế kỉ XIX , Nxb Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII – hết thế kỉ XIX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
49. Nguy ễn Lộc (2005), Nguy ễn Du (chuyện danh nhân), Nxb H ội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy ễn Du (chuyện danh nhân)
Tác giả: Nguy ễn Lộc
Nhà XB: Nxb H ội nhà văn
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w