1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp huy động các nguồn lực đóng góp của người dân vào công trình xây dựng nông thôn mới tại huyện hồng ngự, tỉnh đồng tháp

68 296 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 569,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đề tài “Giải pháp huy động các nguồn lực đóng góp của người dân vào công trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp” là công trình nghiên c

Trang 1

DƯ THANH HƯNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP H Ồ CHÍ MINH - NĂM 2019

Trang 2

DƯ THANH HƯNG

Chuyên ngành: Tài chính công

Mã s ố: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUY ỄN NGỌC HÙNG

TP H Ồ CHÍ MINH - NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đề tài “Giải pháp huy động các nguồn lực đóng góp của người dân vào công trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp” là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG BÌA

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

TÓM TẮT

ABSTRACT

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 4

6 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TRONG CHƯƠNG TRÌNH XDNTM 6

1.1 Các khái niệm trong nghiên cứu 6

1.1.1 Nông thôn và phát triển nông thôn 6

1.1.2 NTM và XDNTM 7

1.2 Nguồn lực tài chính thực hiện chương trình XDNTM 9

Trang 5

1.2.1 Khái niệm về nguồn lực tài chính 9

1.2.2 Phân loại nguồn lực tài chính 9

1.2.3 Nguồn lực tài chính cho thực hiện chương trình XDNTM 10

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy”động nguồn lực thực hiện Chương trình XDNTM

11 1.3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ở mỗi địa phương 12

1.3.2 Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước phát triển kinh tế, thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn 12

1.3.3 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương 12

1.3.4 Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý địa phương 13

1.3.5 Nhận thức về chương trình XDNTM 13

1.3.6 Lợi ích mà người đóng góp cho chương trình XDNTM nhận được 14

1.4 Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài 14

1.5 Kinh nghiệm thực hiện xây dựng NTM ở một số địa phương 16

1.5.1 Kinh nghiệm xây dựng NTM ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam 16

1.5.2 Kinh nghiệm xây dựng NTM của xã Hòa An thuộc thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp 17

Tóm tắt Chương 1 18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC ĐÓNG GÓP TỪ NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH NTM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP 19

2.1 Tổng quan về huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp 19

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 19

2.1.2 Tình hình văn hóa, xã hội 19

2.2 Thực trạng huy động nguồn lực đóng góp từ người dân trong xây dựng các công trình nông thôn mới trên địa bàn huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018 20

2.2.1 Nguồn vốn ngân sách của huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018 20

Trang 6

2.2.2 Nguồn vốn XDNTM của huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018 21

2.2.3 Nguồn vốn đóng góp của cộng đồng dân cư giai đoạn 2016 - 2018 23

2.2.4 Nội dung đóng góp của người dân xây dựng các công trình công cộng của huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018 24

2.2.5 Bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình huy động đóng góp của người dân XDNTM tại huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018 25

2.3 Kết quả khảo sát về huy động nguồn lực đóng góp của người dân huyện Hồng Ngự trong xây dựng công trình NTM 26

2.3.1 Mức độ hiểu biết của người dân về chương trình XDNTM 26

2.3.2 Mức độ sẵn sàng đóng góp của người dân đối với chương trình XDNTM 27

2.3.3 Các lĩnh vực người dân sẵn lòng đóng góp để XDNTM 28

2.3.4 Những công trình mà người dân mong muốn được xây dựng, nâng cấp tại địa phương 29

2.3.5 Đánh giá của người dân về lợi ích của các công trình XDNTM 30

2.3.6 Sự tham gia của người dân trong việc lập kế hoạch xây dựng các công trình NTM 30

2.3.7 Sự tham gia của người dân trong giám sát xây dựng các công trình 31

2.4 Đánh giá chung về công tác huy động nguồn lực đóng góp của người dân trong xây dựng các công trình NTM trên địa bàn huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018 32

2.4.1 Những thành quả đạt được 32

2.4.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế 34

Tóm tắt chương 2 36

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NGUỒN LỰC ĐÓNG GÓP CỦA NGƯỜI DÂN VÀO XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH NTM TẠI HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP 37

3.1 Kế hoạch đầu tư XDNTM tại huyện Hồng Ngự giai đoạn 2019 - 2020 37 3.2 Giải pháp nâng cao nguồn lực đóng góp của người dân vào xây dựng các

Trang 7

công trình NTM tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp 37

3.2.1 Tuyên truyền về lợi ích của chương trình NTM đối với người dân 37

3.2.2 Tăng cường sự tham gia của người dân 38

3.2.3 Tăng cường huy động các nguồn vốn lồng ghép với vai trò chủ đạo của vốn nhà nước 39

3.2.4 Nâng cao trách nhiệm của cán bộ địa phương 40

3.2.5 Quy hoạch các dự án công trình xây dựng 41

3.3 Kiến nghị 42

3.4 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 43

Tóm tắt Chương 3 43

KẾT LUẬN 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN NGƯỜI DÂN VỀ XDNTM TẠI HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT

Trang 8

UBND Ủy ban nhân dân

XDNTM Xây dựng nông thôn mới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Nguồn vốn ngân sách của huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018 21Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn XDNTM huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018 22Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn góp của cộng đồng dân cư giai đoạn 2016 - 2018 23Bảng 2.4: Nội dung đóng góp của người dân XDNTM tại huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018 24Bảng 2.5: Các lĩnh vực mà người dân sẵn lòng đóng góp để thực hiện chương trình XDNTM tại huyện Hồng Ngự 28Bảng 2.6: Các công trình mà người dân mong muốn được xây dựng, nâng cấp tại địa phương 29

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1: Diện tích đất người dân huyện Hồng Ngự hiến tặng XDNTM 25Hình 2.2: Mức độ hiểu biết của người dân huyện Hồng Ngự về XDNTM 27Hình 2.3: Mức độ sẵn sàng đóng góp XDNMT của người dân huyện Hồng Ngự 28Hình 2.4: Đánh giá của người dân về lợi ích của chương trình XDNTM 30Hình 2.5: Tham gia của người dân trong lập kế hoạch xây dựng công trình NTM 31Hình 2.6: Sự tham gia của người dân trong việc giám sát xây dựng 32

Trang 11

TÓM TẮT Tên đề tài: Giải pháp huy động các nguồn lực đóng góp của người dân vào

công trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

Lý do ch ọn đề tài: huyện Hồng Ngự xác định, nguồn vốn trong nhân dân vẫn

còn rất lớn, nếu biết cách huy động, vận động tài trợ thì sẽ thu được nguồn đầu tư

tại chỗ rất lớn, nhanh chóng giúp cho huyện Hồng Ngự đạt được mục tiêu hoàn thành Chương trình xây dựng nông thôn mới

V ấn đề: nguồn ngân sách nhà nước là có hạn, chưa đảm bảo theo kế hoạch đề

ra, việc huy động nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước gặp nhiều khó khăn, nguồn tín dụng khó tiếp cận nên không thể đảm bảo đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

Phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh

K ết quả nghiên cứu: giai đoạn 2016 - 2018, huyện Hồng Ngự đã tích cực huy

động nguồn đóng góp từ cộng đồng dân cư với tổng số vốn là 44,8 tỷ đồng Hình

thức huy động khá đa dạng: trực tiếp góp tiền, ngày công lao động, hiến đất Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất trong công tác huy động nguồn lực của cộng đồng dân cư là người dân chưa hiểu, chưa thấy được lợi ích to lớn mà Chương trình xây dựng nông thôn mới mang lại nên mức độ đồng thuận trong tham gia đóng góp xây dựng nông thôn mới là không cao

Kết luận và khuyến nghị: các giải pháp được khuyến nghị gồm: tuyên truyền

về lợi ích của chương trình nông thôn mới đối với người dân; tăng cường sự tham gia của người dân; tăng cường huy động các nguồn vốn lồng ghép với vai trò chủ đạo của vốn nhà nước; nâng cao trách nhiệm của cán bộ địa phương; quy hoạch các

dự án công trình xây dựng

T ừ khóa: đóng góp của người dân, Chương trình nông thôn mới, huyện Hồng

Ng ự

Trang 12

ABSTRACT

Thesis title: Solutions to mobilize resources from the people to constructions

of the new rural development program in Hong Ngu district, Dong Thap province

The reason for choosing the project: Hong Ngu District determines that the

capital sources of the people are still very potential Finding effective ways to mobilize and call for funding brings a huge source of local investment, quickly help Hong district achieve the goal of completing the new rural development program

Problem: The government budget is limited, not adequate for the plan,

mobilizing resources out of the government budget faces many difficulties, credit sources are difficult to access, so it cannot meet the demand of capital requirements for new rural development program

Research methods: Statistical methods, comparative methods

Research results: In the period of 2016 - 2018, Hong Ngu District actively

mobilized contributions from the community with a total capital of VND 44.8 billions The forms of mobilizations are quite diverse: direct money contributions, working days, and land donations However, the biggest constraint in mobilizing resources from the community is that the people do not understand and do not realize the great benefits that the new rural development program brings, so the level of agreements in order to participate in contributions for the new rural development program is not high

Conclusions and recommendations: The recommended solutions

include: Propagating the benefits of the new rural development program to the people; Increasing the people's participations; Strengthening mobilizations of capital resources integrated with the leading role of government capital; Improving the responsibility of local officials; Planning construction projects

Keywords: People's contributions, new rural development program, Hong Ngu district

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Ở Việt Nam, phát triển nông thôn là một chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội Năm 2010, Chính phủ đã triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (XDNTM) giai đoạn 2010 - 2020 nhằm xây dựng, phát triển nông thôn theo mô hình mới, từ đó thay đổi căn bản diện mạo của khu

vực nông thôn, nâng cao mọi mặt đời sống của người dân nông thôn (Chính phủ, 2010) Chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM được triển khai trên phạm vi cả nước, thu hút được sự tham gia của tất cả các cấp, các ngành và của đông đảo người dân, đã ảnh hưởng tích cực đến kinh tế, xã hội của vùng nông thôn

Huyện Hồng Ngự là một huyện biên giới thuộc khu kinh tế cửa khẩu phía Bắc

tỉnh Đồng Tháp Nhận thức được tầm quan trọng của Chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM, thời gian qua huyện luôn tích cực triển khai chương trình này Đến nay, bộ mặt nông thôn của huyện Hồng Ngự đã có nhiều đổi thay rõ rệt và chất lượng cuộc sống của người dân cũng ngày càng được nâng cao Nhiều công trình công cộng được xây dựng như công trình thắp sáng đường quê trên 64,5 km kết hợp xây mới, sửa chữa, nâng cấp, phát quang làm cổng ngõ, cột cờ; trên 145 km đường nông thôn được kiên cố hóa, thông thoáng; xây mới 5 cây cầu và sửa chữa 7 cây cầu

tạm; vận động người dân hiến trên 229.771 m2 đất; sửa chữa nâng cấp kiên cố 867 căn nhà tạm; nâng cấp đê bao kết hợp giao thông, thủy lợi nội đồng với số tiền hàng chục tỷ đồng (UBND huyện Hồng Ngự, 2018)

Nhờ có Chương trình mục tiêu quốc gia về XDNTM, tình hình phát triển kinh

tế nông thôn của huyện cũng chuyển biến tích cực Huyện đã xây dựng thành công

và nhân rộng nhiều mô hình kinh tế hợp tác, làm ăn hiệu quả như mô hình nuôi trăn,

cá lóc, điêu hồng, sản xuất cá tra giống, nuôi lươn; mô hình cánh đồng liên kết sản

xuất và tiêu thụ lúa, sản xuất mè; nghề cơ khí, làng nghề dệt, may công nghiệp từ

đó giúp hàng ngàn hộ dân thoát nghèo (UBND huyện Hồng Ngự, 2018)

Thời gian qua, huyện Hồng Ngự đã tranh thủ sự hỗ trợ của ngân sách Nhà

Trang 14

nước (NSNN) và nguồn vốn huy động trong nhân dân để đầu tư cho các dự án kết

cấu hạ tầng nông thôn nhằm tăng tỷ lệ đô thị hóa, phát triển kết cấu hạ tầng, kiến trúc cảnh quan khu vực ngoại thị Phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ XDNTM vào năm

2020 (UBND huyện Hồng Ngự, 2018)

Mặc dù, toàn huyện có quyết tâm rất lớn nhưng nguồn NSNN là có hạn, chưa đảm bảo theo kế hoạch đề ra, việc huy động nguồn lực ngoài NSNN gặp nhiều khó khăn, nguồn tín dụng khó tiếp cận nên không thể đảm bảo đáp ứng nhu cầu vốn đầu

tư XDNTM trên địa bàn huyện Huyện Hồng Ngự xác định, nguồn vốn trong nhân dân vẫn còn rất lớn, nếu biết cách huy động, vận động tài trợ thì sẽ thu được nguồn đầu tư tại chỗ rất lớn, nhanh chóng giúp cho huyện Hồng Ngự đạt được mục tiêu hoàn thành chương trình XDNTM (UBND huyện Hồng Ngự, 2018)

Việc huy động vốn góp trong nhân dân chỉ thật sự có ý nghĩa khi người dân

thật sự tin tưởng vào chính sách phát triển của địa phương và thấy được những lợi ích to lớn từ việc XDNTM mang lại thì họ mới tham gia đóng góp nguồn vốn ủng

hộ cho địa phương Vấn đề đặt ra là làm thế nào để huy động được nguồn lực đóng góp của người dân trở nên cấp thiết

Do đó, tác giả chọn đề tài “Giải pháp huy động các nguồn lực đóng góp của

người dân vào công trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hồng Ngự, tỉnh

Đồng Tháp” để làm luận văn thạc sĩ với kỳ vọng thông qua đề tài nghiên cứu này

có thể tìm ra những thành công và những hạn chế cùng nguyên nhân của hạn chế; từ

đó tìm ra các giải pháp thích hợp để gia tăng được nguồn lực đóng góp của người dân địa phương cho chương trình XDNTM

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng huy động nguồn lực đóng góp của người dân vào các công trình XDNTM tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp để tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nguồn lực đóng góp của người dân vào các công trình XDNTM tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

Trang 15

2.2 Mục tiêu cụ thể

Đề tài đặt ra các mục tiêu cụ thể như sau:

Mục tiêu thứ nhất: Phân tích thực trạng huy động nguồn lực đóng góp của người dân trong xây dựng các công trình nông thôn mới (NTM) tại huyện Hồng

Ngự, tỉnh Đồng Tháp

Mục tiêu thứ hai: Tìm ra những mặt đã làm được, những hạn chế cùng các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong hoạt động huy động nguồn lực đóng góp của người dân trong việc xây dựng các công trình NTM tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

Mục tiêu thứ ba: Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng, luận văn đề xuất các giải pháp huy động các nguồn lực đóng góp của người dân vào các công trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra, các câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết là:

- Thực trạng đóng góp nguồn lực của người dân trong xây dựng các công trình NTM tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp như thế nào?

- Việc huy động nguồn lực đóng góp của người dân trong xây dựng các công trình NTM tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp có những thành tựu và hạn chế gì?

- Những giải pháp nào thích hợp để nâng cao nguồn lực đóng góp của người dân trong xây dựng các công trình NTM tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp trong

thời gian tới?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động huy động nguồn lực đóng góp của người dân trong xây dựng các công trình NTM tại huyện

Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Nguồn lực đóng góp của người dân gồm có tài lực, nhân

lực, vật lực Đề tài này tập trung nghiên cứu về nguồn lực tài chính, tức là nguồn

Trang 16

lực bao gồm tiền, tài sản hoặc nhân lực quy đổi được thành tiền

Phạm vi không gian: Trong phạm vi huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

Phạm vi thời gian: Các số liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài nghiên cứu được

giới hạn trong thời gian 3 năm, từ năm 2016 đến năm 2018 Các số liệu sơ cấp từ

khảo sát hộ gia đình được thực hiện trong giai đoạn từ tháng 4/2019 đến tháng 5/2019; Các giải pháp nhằm nâng cao nguồn lực đóng góp của người dân vào xây

dựng các công trình NTM tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp được đề xuất đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó, chú trọng

sử dụng các phương pháp:

Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu kinh tế - xã hội, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp so sánh để nhằm xác định mức độ thay đổi và sự biến động của các nguồn lực đóng góp để xây dựng cấc công trình NTM tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2016 - 2018

Phương pháp khảo sát sử dụng bảng câu hỏi để tìm hiểu mức độ hiểu biết của người dân về chương trình XDNTM, khả năng đóng góp của người dân vào XDNTM Đối tượng khảo sát là chủ hộ hoặc người đại diện cho hộ gia đình trên địa bàn huyện Hồng Ngự Do hạn chế về thời gian và khả năng thu thập số liệu ở quy

mô lớn, tác giả chọn 4 xã có vốn đầu tư XDNTM lớn nhất trên địa bàn huyện trong giai đoạn 2016 - 2018 là xã Thường Phước 1, xã Thường Thới Hậu A, xã Thường

Thới Hậu B, xã Thường Thới Tiền Tại mỗi xã khảo sát 100 hộ gia đình, tổng số lượng khảo sát là 400 hộ gia đình

Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để rút ra

tồn tại, khó khăn và nguyên nhân làm cơ sở đề xuất những nhóm giải pháp nâng cao nguồn lực đóng góp của người dân trong đầu tư xây dựng các công trình NTM tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Trang 17

Nghiên cứu này giúp đánh giá đúng thực trạng, những mặt được, những hạn

chế cùng các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong hoạt động huy động nguồn lực đóng góp của người dân trong xây dựng các công trình nông thôn mới (NTM) tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

Kết quả của đề tài này là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị cho chính quyền huyện Hồng Ngự nói riêng và các huyện trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp trong việc huy động nguồn lực của người dân trong thực hiện Chương trình XDNTM

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan lý thuyết và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Thực trạng đóng góp nguồn lực của người dân trong xây dựng các công trình NTM tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

Chương 3: Giải pháp nâng cao nguồn lực đóng góp của người dân vào xây

dựng các công trình NTM tại huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

Trang 18

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN

LỰC TRONG CHƯƠNG TRÌNH XDNTM 1.1 Các khái niệm trong nghiên cứu

1.1.1 Nông thôn và phát triển nông thôn

1.1.1.1 Nông thôn

Có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn Có quan điểm cho rằng cần căn

cứ vào trình độ”phát triển của cơ sở hạ tầng, vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng kém hơn vùng đô thị Quan điểm khác thì nên dựa vào trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp

cận thị trường so với đô thị là thấp hơn.”

“Nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp (Mai Thanh Cúc và cộng

sự, 2005).”Theo Đặng Kim Sơn (2008), “Nông thôn là nơi ở, nơi cư trú của mọi

tầng lớp nhân dân, trong đó chủ yếu là nông dân Nông thôn là nơi nền sản xuất chủ

yếu dựa vào nông nghiệp Hay, nói cách khác, nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các cấp tỉnh, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã”

Nguyễn Mậu Thái (2015) định nghĩa “Nông thôn là vùng sinh sống của tập

hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân với sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng

lớn Sự khác biệt về công tác quản lý giữa nông thôn và thành thị trên thực tế, nông thôn với cấp quản lý xã, thôn, bản; còn thành thị với cấp quản lý phường, thị trấn” Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2009) thì nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã

Như vậy, có thể hiểu nông thôn là địa bàn sinh sống chủ yếu của người nông dân gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính và được quản lý bởi chính quyền cấp xã

Trang 19

1.1.1.2 Phát tri ển nông thôn

Phát triển nông thôn là phát triển kinh tế xã hội cho người dân nông thôn thông qua việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân

lực, vật lực và tài lực.”Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển (Dufhues và Halle, 2007).”

“Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn và

có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” (Mai Thanh Cúc và cộng

sự, 2005)

Theo Nguyễn Quế Hương (2013) thì “phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực

hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần

của người dân được nâng cao

NTM là tổng thể những đặc điểm,” ấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng tiên tiến về mọi mặt so với mô hình nông thôn cũ (Nguyễn Quế Hương, 2013) Xã NTM là xã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên các lĩnh vực là quy hoạch, hạ tầng kinh tế xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất,

Trang 20

văn hóa - xã hội - môi trường, hệ thống chính trị được quy định tại các văn bản pháp

lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Huyện NTM là huyện có tỷ lệ số

xã trong huyện đạt chuẩn NTM và có các tiêu chí về quy hoạch, giao thông, thủy

lợi, điện, y tế, văn hóa, giáo dục, sản xuất, môi trường, an ninh, trật tự xã hội và đạt chuẩn theo quy định tại các văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành (Chính phủ, 2009).”

Như vậy, có thể hiểu NTM là nông thôn có hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, an ninh, văn minh; Sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; Đời

sống vật chất, tinh thần của người dân ngày được nâng cao; Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy

1.1.2.2 XDNTM

XDNTM”là quá trình xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường nông thôn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn, phát triển hài hòa, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị với nông thôn Quá trình xây dựng với vai trò chủ thể là người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ

Chương trình XDNTM là một chương trình mục tiêu quốc gia được thực hiện

ở các vùng nông thôn nhằm xây dựng và phát triển nông thôn theo hướng văn minh,

hiện đại

Trang 21

“Chương trình XDNTM bao gồm các nội dung chính sau đây: (1) Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch phát triển KTXH tại các địa phương XDNTM; (2) Phát triển

kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở các địa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao thu nhập, giảm nghèo và an sinh xã hội; (3) Phát triển giáo dục đào tạo, y tế, xây dựng đời sống văn hóa văn minh, lành mạnh và hiện đại cho các vùng nông thôn; (4) Nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn, giữ vững an ninh, trật tự

xã hội nông thôn, ; (5) Trong XDNTM, người dân tham gia từ khâu quy hoạch, đồng thời góp tiền, góp sức, tự chỉnh trang nhà cửa, công trình vệ sinh gia đinh, giám sát quá trình thực hiện chương trình, đồng thời, cũng là người hưởng lợi từ thành quả của Chương trình và người dân là chủ thể XDNTM.”

1.2 Nguồn lực tài chính thực hiện chương trình XDNTM

1.2.1 Khái niệm về nguồn lực tài chính

Các nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương gồm nguồn nhân

lực, vật lực và tài lực Mỗi nguồn lực đều có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong

việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương Trong các nguồn nêu trên, nguồn lực tài chính là nguồn lực quan trọng và có tính quyết định cho việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương

“Nguồn lực tài chính được hiểu là các nguồn tiền tệ (hoặc tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền) trong nền kinh tế có thể huy động để hình thành nên các

quỹ tiền tệ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội (Trần Thị Tố Linh, 2013).”

“Nguồn lực tài chính là tổng thể các loại như: nguồn lực từ NSNN, nguồn lực từ các doanh nghiệp, nguồn lực từ các tổ chức tín dụng và nguồn lực từ người dân có

thể huy động cho sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hay địa phương.”

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, nguồn lực tài chính được đề cập đến

ở đây bao gồm tiền, các nguồn vật lực và các tài sản khác được quy đổi thành tiền

để thực hiện chương trình XDNTM

1.2.2 Phân loại nguồn lực tài chính

“Nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế xã hội rất đa dạng, có thể đến từ

Trang 22

nhiều chủ thể, nhiều nguồn với qui mô và phạm vi khác nhau như từ các cá nhân, các doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức

xã hội, nghề nghiệp, các tổ chức nước ngoài ở Việt Nam,…Tùy mục đích phân tích

mà có thể phân loại các nguồn lực tài chính thành các loại khác nhau.”

Có thể chia nguồn lực tài chính thành nguồn lực tài chính trong nước và nguồn

lực tài chính nước ngoài Nguồn lực tài chính từ trong nước bao gồm nguồn hỗ trợ

từ ngân sách Trung ương, nguồn đối ứng trong nước, nguồn vốn lồng ghép trong các chương trình phát triển kinh tế (như các chương trình xóa đói giảm nghèo, thủy

lợi nông nghiệp, nước sạch nông thôn, phát triển kinh tế vùng…), nguồn ngân sách địa phương và nguồn đóng góp của các tổ chức kinh tế, nhân dân địa phương và cả nước Nguồn lực tài chính từ nước ngoài gồm:”đầu tư của các nhà tài trợ như Ngân hàng thế giới, các nhà tài trợ song phương, các tổ chức cơ quan của Liên Hiệp Quốc

để thực hiện các chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, các chương trình

Nguồn vốn của doanh nghiệp: bao gồm phần tích lũy, phần vốn vay của các doanh nghiệp dân doanh và các tổ hợp tác ở trong và ngoài nước Các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài thường ít tập trung vốn vào phát triển nông thôn

Nguồn vốn của dân cư: chủ yếu là hình thành từ phần tiết kiệm và tích lũy của dân cư Đặc điểm của nguồn vốn này ở khu vực nông thôn là có tính nhỏ lẻ, tỷ lệ huy động thấp (Nguyễn Hoàng Hà, 2014).”

1.2.3 Nguồn lực tài chính cho thực hiện chương trình XDNTM

Nguồn lực huy động để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM được quy định tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm: (i) Ngân sách chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 40%); (ii) Vốn

Trang 23

tín dụng (khoảng 30%); (iii) Vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác (khoảng 20%); (iv) Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư (khoảng 10%).

Nguồn lực tài chính cho XDNTM hình thành từ các nguồn chính sau đây: Nguồn từ ngân sách (Trung ương và địa phương), bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước bố trí trực tiếp cho Chương trình XDNTM; Vốn lồng ghép từ các chương trình

mục tiêu quốc gia và các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ (nếu có) Nguồn vốn từ NSNN để thực hiện chương trình XD NTM thường được sử dụng như là nguồn vốn mồi để thu hút nguồn từ các nhà đầu tư khác

Nguồn từ tín dụng, bao gồm: Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và

vốn tín dụng thương mại được sử dụng cho các hoạt động trong Chương trình XDNTM Mục đích là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định vì vậy nguồn này thường có nhiều ưu đãi cho người vay

Nguồn từ doanh nghiệp: gồm các khoản hỗ trợ trực tiếp bằng tiền, bằng hiện

vật cho các địa phương để thực hiện các hoạt động XDNTM

Các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân địa phương: Người dân đóng góp cho chương trình với tư cách là chủ thể của chương trình, vừa là người tổ chức thực

hiện vừa là người thụ hưởng kết quả của Chương trình Họ có thể tự đầu tư bằng cách nâng cấp nhà cửa,… hoặc tự nguyện đóng góp bằng nhiều hình thức cho Chương trình XDNTM như: tiền, góp công, hiến đất,…”

Huy động nguồn lực thực hiện chương trình XDNTM phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Huy động tối đa nguồn lực tại địa phương (tại chỗ); Sử dụng nguồn

vốn ngân sách trung ương từ các chương trình, dự án hiện có thông qua cơ chế lồng ghép trên địa bàn; Dựa vào nội lực là chính, nhà nước chỉ hỗ trợ một phần; UBND

tỉnh có trách nhiệm xây dựng cơ chế huy động các nguồn vốn của cộng đồng, người dân, tổ chức, doanh nghiệp (Chính phủ, 2010)

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy ” động nguồn lực thực hiện Chương trình XDNTM

Trang 24

1.3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ở mỗi địa phương

Vị trí địa lý, địa hình, tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của mỗi địa phương, đến việc thu hút vốn đầu tư và phát triển KTXH Những địa bàn có vị trí thuận lợi, gần các khu đô thị, khu công nghiệp, khu vực có nhiều nguồn tài nguyên, dễ thu hút vốn đầu tư hơn các khu vực khác

Ngoài ra, các điều kiện về kinh tế xã hội như: cơ sở hạ tầng, thu nhập của người dân, trình độ của lao động địa phương càng thuận lợi, phát triển cao thì càng thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư vào phát triển kinh tế xã hội

1.3.2 Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước phát triển kinh tế, thu hút đầu

tư vào nông nghiệp, nông thôn

Các chính sách kinh tế bao gồm cả các chính sách của Trung ương và của địa phương Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động lớn nhất đến kết quả huy động vốn đầu tư Các chính sách này nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước đầu tư ở các địa phương Nguồn vốn đầu tư này vừa tạo nguồn thu cho các nhà đầu

tư, tạo nguồn thu cho nhà nước thông qua thuế Hơn nữa, là vấn đề tạo việc làm cho lao động địa phương, hỗ trợ các hoạt động phát triển kinh tế ở các địa phương thông qua việc đầu tư hạ tầng cơ sở,…

Cơ chế chính sách của nhà nước: Đây là nhân tố“thuộc về môi trường pháp lý,

có ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động các nguồn lực cho XDNTM thông qua tất

cả các kênh huy động, trong đó đặc biệt quan trọng là kênh đầu tư của các doanh nghiệp và của cá nhân vào phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn

Hệ thống chính sách hợp lý sẽ có tác động thu hút mạnh mẽ sự đầu tư và đóng góp các nguồn lực, trong đó có nguồn lực tài chính từ các”nhà đầu tư cho quá trình

thực hiện chương trình XDNTM

1.3.3 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của các địa phương ảnh hưởng trực tiếp đến kêt quả huy động các nguồn lực thực hiện chương trình Ở những địa phương

có điều kiện phát triển mọi mặt nó làm giảm số lượng vốn cần hoàn thành các tiêu chí của chương trình vì các tiêu chí đánh giá gần như đã đạt Những xã nghèo, kết

Trang 25

cấu hạ tầng nông thôn yếu kém thì chính quyền địa phương có nhu cầu phát triển kinh tế xã hội càng lớn, đòi hỏi sự đóng góp của người dân nông thôn nhiều hơn Các chiến lược phát triển được định hướng dài hạn, ổn định là điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư

Ngoài ra, cũng cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, có các chính sách khuyến khích đầu tư, mới nâng cao được huy động vốn để phát triển kinh tế xã hội

1.3.4 Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý địa phương

Lãnh đạo chương trình ở các cấp tại địa phương giữ vai trò quan trọng trong định hướng mục tiêu, kế hoạch hành động và xây dựng lòng tin của cộng đồng về

sự thành công của chương trình cũng như đảm bảo sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính

để thực hiện Đối với người lãnh đạo có trách nhiệm, hiểu biết, có trình độ, tạo được lòng tin với nhân dân thì sẽ vận động được người dân tham gia nhiệt tình trong quá trình thực hiện chương trình

Hơn nữa, cán bộ địa phương là những người gần dân nhất, hiểu được tâm tư nguyện vọng của người dân sẽ đưa ra được những hướng đầu tư đúng đắn và hợp lòng dân Đội ngũ cán bộ phải được đào tạo sâu về chuyên môn, phải nghiên cứu, đầu tư sao cho có hiệu quả cao nhất, tránh thất thoát, lãng phí vốn đầu tư Nếu năng

lực chuyên môn thấp, công tác quản lý kém thì sẽ dẫn đến đầu tư không hiệu quả.”

Công tác tuyên truyền về XDNTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong

việc tổ chức thực hiện chương trình, là nhiệm vụ của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở Chất lượng của công tác tuyên truyền quyết định đến nhận thức của người dân về chương trình và mức độ sẵn lòng tham gia đóng góp Khi người dân

Trang 26

hiểu về vai trò của Chương trình XDNTM, hiểu rõ nội dung, phương pháp, cách làm, nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc XDNTM người dân sẽ chủ động trong việc tham gia thực hiện chương trình, từng bước xóa bỏ tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước trong quá trình thực hiện.”

Sự tham gia của người dân: XDNTM dựa vào việc huy động cộng đồng để tận

dụng các nguồn lực địa phương được coi là một hình thức quan trọng để phát triển các địa phương vì cộng đồng hiểu rõ nhất về những khó khăn mà họ phải đối mặt để tìm ra những giải pháp cần thiết để giải quyết những khó khăn này

Sự sẵn lòng tham gia đóng góp của người dân cho chương trình XD NTM chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: khả năng tài chính, kết quả công tác tuyên truyền

vận động, tính công khai, minh bạch trong quá trình huy động ”

1.3.6 Lợi ích mà người đóng góp cho chương trình XDNTM nhận được

Khi tham gia“đóng góp cho chương trình thì sẽ có lợi ích gì? Là câu hỏi mà các đối tượng tham gia đóng góp sẽ đặt ra Vì vậy, khi thực hiện các chính sách huy động nguồn lực để thực hiện chương trình, các địa phương cũng cần xác định các

lợi ích mà các đối tượng tham gia đóng góp được nhận Chẳng hạn, để huy động nguồn từ các doanh nghiệp thì địa phương cần có các chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp về thuế, về các thủ tục,”về mở rộng sản xuất,

“Đối với nguồn huy động từ người dân, thì người dân là chủ thể của chương trình, là người hưởng thụ thành quả chương trình XDNTM Tuy nhiên, để người dân tham gia một cách tự nguyện thì cần phải làm tốt công tác tuyên truyền để người dân hiểu những lợi ích mà họ sẽ được hưởng khi thực hiện chương trình này,

vì trình dộ dân trí ở mỗi địa phương khác nhau nên cần có các hình thức tuyên truyền phù hợp.”

1.4 Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài

Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về huy động nguồn lực tài chính cho phát triển nông thôn Có thể kể tên một số nghiên cứu tiêu biểu sau:

khẳng định rằng phát triển nông thôn phải theo hướng bền vững trên cơ sở kết hợp

Trang 27

hài hoà giữa sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên với nguồn lực con người,

phải tạo cơ chế để người dân nông thôn tham gia vào quá trình triển khai, kiểm tra, giám sát các chương trình, dự án xây dựng và phát triển nông thôn

Nguyễn Sinh Cúc (2013), cho rằng chương trình XDNTM đã huy động được nguồn lực tài chính rất lớn cho xây dựng, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, các những trở ngại chủ

yếu mà chương trình XDNTM gặp phải là nguồn lực từ Nhà nước có hạn, nhiều địa phương có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào NSNN nên tiến độ triển khai các dự án phát triển nông thôn rất chậm

Nguyễn Tiến Định (2010), khi nghiên cứu về cơ chế chính sách huy động nội

lực từ người dân vùng núi phía Bắc tham gia XDNTM đã chỉ ra các khía cạnh của

việc người dân tham gia vào XDNTM bao gồm: Được tham gia vào các cuộc họp

dự án, được tham gia vào quá trình ra quyết định, tham gia thi công thực hiện (tham gia bằng ngày công lao động trực tiếp hoặc gián tiếp), được tham gia vào giám sát

dự án, được tham gia quản lý bảo dưỡng công trình Sự tham gia của người dân có tác động tích cực đến chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực xây dựng công trình hạ tầng trên các khía cạnh: giảm chi phí đầu tư xây dựng công trình, giảm chi phí đầu tư ngân sách, góp phần đảm bảo chất lượng công trình và phù hợp với nhu

cầu sử dụng của người dân

Đoàn Thị Hân (2012), cho rằng các địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội thì việc huy động sự đóng góp của các đơn vị, cá nhân trên địa bàn đạt kết quả khá tốt; ngược lại, ở những địa phương kinh tế kém phát triển thì vấn đề huy động sự đóng góp các nguồn lực cho XDNTM là hết sức khó khăn, vấn đề đầu tư cho chương trình XD NTM chủ yếu phải trông chờ vào nguồn đầu tư từ NSNN

Nguyễn Quế Hương (2013) cho rằng XDNTM là chương trình tiếp cận có sự tham gia, lấy người dân làm trung tâm, người dân là chủ thể Do vậy, nâng cao vai trò của người dân, thu hút sự tham gia đóng góp của người dân vào chương trình có

ý nghĩa quyết định sự thành công của chương trình Theo Nguyễn Quế Hương

Trang 28

(2013), sự sẵn lòng tham gia đóng góp của người dân chịu ảnh hưởng của hai nhóm nhân tố chính là: (1) Mức độ người dân được tham gia ra quyết định, trực tiếp tham gia vào các hoạt động cụ thể của chương trình và (2) Chất lượng của công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động người dân

Nguyễn Thành Lợi (2012) nghiên cứu về XDTNM ở Nhật Bản đã chỉ ra rằng

Nhật Bản đã rất sáng tạo trong quá trình phát triển nông thôn khi xác định nhiệm vụ

trọng tâm theo từng giai đoạn: Trong giai đoạn đầu Nhà nước tăng cường nguồn

vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường các khoản cho vay từ các quỹ tín dụng nông nghiệp của Chính phủ và các phương thức hỗ trợ đặc biệt; Sang giai đoạn hai, chính sách tập trung vào đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và nâng cao đời

sống của người dân, thu hẹp khoảng cách thành thị và nông thôn; Giai đoạn ba, hướng tới việc lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển Yếu tố thành công chủ yếu của chương trình phát triển nông thôn là nhận biết những nguồn lực chưa được sử dụng tại địa phương, sau đó

vận động nguồn lực một cách sáng tạo để tham gia vào xây dựng nông thôn

Vũ Nhữ Thăng (2015) cho rằng cơ chế, chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến

kết quả huy động và quản lý các nguồn lực tài chính phục vụ XDNTM ở Việt Nam.”Vấn đề mẫu chốt để tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho XDNTM chính là hoàn thiện các chính sách chính sách về huy động, quản lý và

sử dụng các nguồn lực tài chính

1.5 Kinh nghiệm thực hiện xây dựng NTM ở một số địa phương

1.5.1 Kinh nghiệm xây dựng NTM ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Sau 8 năm triển khai thực hiện chương trình xây dựng NTM, huyện Kim Bảng

đã thực sự làm thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, kinh tế xã hội trên địa bàn,

nhận thức của người dân được nâng lên, cơ sở hạ tầng nông thôn được hoàn thiện; người dân có ý thức hơn trong việc nâng cao đời sống vật chất tinh thần, nâng cao thu nhập; tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện giảm; an ninh chính trị và trật tự an toàn

xã hội được giữ vững Trong quá trình thực hiện chương trình xây dựng NTM huyện đã rút ra một số kinh nghiệm như sau: Cần đẩy mạnh thông tin tuyên truyền

Trang 29

về mục đích, ý nghĩa, chủ thể xây dựng NTM bằng nhiều hình thức khác nhau như

tổ chức hội họp, phát thanh, cổ động và tuyên truyền trực quan, tạo không khí sôi

nổi, đồng thuận trong xây dựng NTM Phát huy sức mạnh toàn dân, tạo sức lan tỏa nhanh, góp phần đẩy nhanh tiến trình xây dựng NTM Thành lập, kiện toàn bộ máy

chỉ đạo thực hiện chương trình xây dựng từ huyện đến xã, đây là yếu tố rất quan

trọng quyết định tiến trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hệ thống chỉ đạo đồng bộ, hiệu quả, có bộ máy giúp việc đủ năng lực, chuyên môn, sát thực tế, phối

hợp chặt chẽ trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện từ huyện đến cơ sở Phải lựa chọn

nội dung, nhiệm vụ ưu tiên, vận dụng sáng tạo cơ chế chính sách Với phương thức huy động các nguồn lực phù hợp Đồng thời, củng cố và nâng cao chất lượng hệ

thống chính trị cơ sở, giữ vững an ninh chính trị, trât tự an toàn xã hội

1.5.2 Kinh nghiệm xây dựng NTM của xã Hòa An thuộc thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Xã Hòa An có xuất phát điểm thấp chỉ đạt 6/19 tiêu chí Sau 3 năm xây dựng, Hòa An đã được công nhận đạt chuẩn xã NTM Trong quá trình thực hiện Chương trình xây dựng NTM xã Hòa An đã đúc kết được một số kinh nghiệm như sau: Trước hết, cấp ủy và chính quyền địa phương phải nghiên cứu nắm vững mục tiêu, yêu cầu, ý nghĩa của CTMTQG xây dựng NTM để xây dựng kế hoạch thực hiện tuyên truyền, tổ chức triển khai có hiệu quả Thứ hai, tập trung cao sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền, sự phối hợp của các ngành; nêu cao vai trò của các chi bộ, tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, sự tham gia tích cực của các đoàn thể, các tổ chức xã hội làm đơn vị hạt nhân để vận động xây dựng NTM Thứ

ba, triển khai lồng ghép các phong trào ở địa phương, hình thành những mô hình phát triển kinh tế - xã hội điển hình để phát huy được các nguồn lực và sự đồng thuận của nhân dân Thứ tư, lãnh đạo Đảng và chính quyền phải gắn bó, sâu sát với dân nhằm kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của họ Thứ năm, trong

thực hiện Chương trình cần chi tiết công tác xây dựng kế hoạch, có lộ trình thích

hợp và sắp xếp việc nào làm trước việc nào làm sau đối với từng tiêu chí, có phân công trách nhiệm rõ ràng sẽ thực hiện các tiêu chí đạt vững chắc Công tác tham

Trang 30

mưu, thông tin báo cáo và tổng hợp cần thực hiện đúng quy định để Ban chỉ đạo, Ban quản lý nắm rõ diễn biến, kết quả thực hiện của các bộ phận chuyên môn mà đề

ra những giải pháp cụ thể, sát hợp cho từng lĩnh vực Công tác tổ chức sơ, tổng kết đánh giá hiệu quả thực hiện kịp thời để rút kinh nghiệm, phát huy những ưu điểm,

khắc phục thiếu sót, chấn chỉnh yếu kém Thứ sáu, làm tốt công tác thi đua khen thưởng trong cộng đồng dân cư, khen thưởng cá nhân tiêu biểu sẽ tạo được sự khích

lệ kịp thời, người dân sẽ phấn khởi nâng cao tính tự giác tham gia thực hiện xây

dựng NTM

Tóm tắt Chương 1

Chương 1 đã trình bày các khái niệm về NTM và XDNTM; Lý thuyết về nguồn lực tài chính thực hiện chương trình XDNTM và các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực thực hiện Chương trình XDNTM Đồng thời, đã lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan để làm cơ sở phân tích chương 2

Trang 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC ĐÓNG GÓP TỪ NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG CÁC

TỈNH ĐỒNG THÁP 2.1 Tổng quan về huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

“Huyện Hồng Ngự nằm ở phía Bắc tỉnh Đồng Tháp; phía Bắc giáp tỉnh Preyveng (Campuchia); phía Đông giáp thị xã Hồng Ngự và huyện Tam Nông; phía Tây - Tây Nam giáp huyện Phú Tân và thị xã Tân Châu (tỉnh An Giang); phía Nam giáp huyện Thanh Bình (tỉnh Đồng Tháp) và huyện Phú Tân (tỉnh An Giang) Là huyện biên giới phía Bắc của tỉnh Đồng Tháp, Hồng Ngự có đường biên giới tiếp giáp tỉnh Preyveng - Campuchia dài hơn 18 km

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 209,74 km2, chiếm 6,2% diện tích tự nhiên toàn Tỉnh, dân số trung bình năm 2009 là 150.050 nhân khẩu, mật độ dân số

695 người/km2

Nằm trên tuyến đường thủy quốc tế sông Tiền đi Campuchia, tuyến

ĐT 841 (kết nối với tuyến Quốc lộ 30) nối liền thành phố Cao Lãnh với thị xã Hồng

Ngự và cửa khẩu Thường Phước, là vị thế đối trọng với khu kinh tế biên giới Tân Châu - Vĩnh Xương (tỉnh An Giang), vị trí trên đã tạo cho huyện Hồng Ngự có điều

kiện thuận lợi trong quan hệ đối ngoại và phát triển kinh tế cửa khẩu, giao lưu kinh

tế, văn hóa với các huyện, tỉnh bạn và quốc tế.”

Toàn huyện được chia thành 11 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã Thường Phước 1, Thường Phước 2, Thường Thới Tiền, Thường Lạc, Thường Thới

Hậu A, Thường Thới Hậu B, Long Khánh A, Long Khánh B, Long Thuận, Phú Thuận A, Phú Thuận B

2.1.2 Tình hình văn hóa, xã hội

Công tác lãnh chỉ đạo chăm sóc sức khỏe nhân dân được huyện đặc biệt quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện các ngành liên quan và các xã, thị trấn tổ chức, triển khai thực hiện tốt, không để xảy ra dịch bệnh phát sinh và lây lan trên diện rộng,

Trang 32

làm ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt của cộng đồng Các Chương trình y tế Quốc gia, tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, … đạt nhiều kết quả tích cực; công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, nâng cao ý thức của người dân trong việc phòng chống dịch bệnh sốt xuất huyết, không xảy ra các bệnh nguy hiểm khác như: Zika, cúm A/H7N9, cúm A/H5N1, Ebola, sốt rét, tiêu chảy cấp Công tác phòng,

chống suy dinh dưỡng đạt kết quả tốt, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em < 5 tuổi tính theo cân nặng và tính theo chiều cao đều giảm, tỷ lệ BHYT toàn dân đạt 79%

Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, THCS và THPT tiếp tục được duy trì,

chất lượng giáo dục các cấp học có nhiều tiến bộ Công tác quản lý các cơ sở giáo

dục theo hướng tăng cường phân cấp quản lý, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị trong thực hiện chương trình, kế hoạch giáo dục đi đôi với việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý trong nhà trường Đến nay, có 100% trường đã hoàn thành Đề án vị trí việc làm Về năng lực cán bộ, giáo viên đảm bảo 100% đạt chuẩn, trong đó từng cấp có trên 80% đạt trình độ trên chuẩn Công tác xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia luôn được chú trọng, hiện đã có 15/28 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 53,57%/tổng số

Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức với nhiều nội dung, hình thức phong phú, đa dạng Công tác quảng bá, xây dựng hình ảnh địa phương luôn được quan tâm chỉ đạo thực hiện; quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa - thông tin được tăng cường nhằm bảo đảm môi trường lành mạnh trong hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá

2.2 T hực trạng huy động nguồn lực đóng góp từ người dân trong xây dựng các công trình nông thôn mới trên địa bàn huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018

2.2.1 Nguồn vốn ngân sách của huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018

Hồng Ngự là một huyện biên giới nghèo của tỉnh Đồng Tháp nên ngân sách

cấp cho huyện để thực hiện các chương trình phát triển toàn diện kinh tế, xã hội có

xu hướng tăng dần qua các năm (Bảng 2.1) Năm 2016, tổng nguồn vốn được cấp cho huyện là 134.308 triệu đồng, trong đó: vốn chương trình dự án lồng ghép là

Trang 33

72.455 triệu đồng (chiếm 54%), vốn trực tiếp XDNTM là 54.853 triệu đồng (chiếm 40,8%) và vốn từ đấu giá quyền sử dụng đất là 7.000 triệu đồng (chiếm 5,2%)

B ảng 2.1: Nguồn vốn ngân sách của huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018

Chỉ tiêu

Số tiền (triệu đồng)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (triệu đồng)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (triệu đồng)

Tỷ trọng (%)

Ngu ồn: Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Hồng Ngự (2019)

Năm 2017, tổng nguồn vốn được cấp cho huyện là 169.600 triệu đồng, trong đó: vốn chương trình dự án lồng ghép là 127.283 triệu đồng (chiếm 75,1%), vốn trực tiếp XDNTM là 35.317 triệu đồng (chiếm 20,8%) và vốn từ đấu giá quyền sử dụng đất là 7.000 triệu đồng (chiếm 4,1%)

Năm 2018, tổng nguồn vốn được cấp cho huyện là 199.232 triệu đồng, trong đó: vốn chương trình dự án lồng ghép là 150.561 triệu đồng (chiếm 75,6%), vốn trực tiếp XDNTM là 29.596 triệu đồng (chiếm 14,8%) và vốn từ đấu giá quyền sử dụng đất là 19.075 triệu đồng (chiếm 9,6%)

2.2.2 N guồn vốn XDNTM của huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018

Hàng năm huyện Hồng Ngự tiếp nhận nguồn vốn cho chương trình XDNTM

từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó trọng tâm vẫn là nguồn vốn từ NSNN, vốn tín

dụng và nguồn vốn đóng góp trong cộng đồng dân cư Nhìn chung, trong giai đoạn

2016 - 2018, nguồn vốn đầu tư cho chương trình XDNTM mới tại huyện Hồng Ngự

có xu hướng giảm dần (Bảng 2.2)

Trang 34

B ảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn XDNTM huyện Hồng Ngự giai đoạn 2016 - 2018

Chỉ tiêu

Số tiền (triệu đồng)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (triệu đồng)

Tỷ trọng (%)

Số tiền (triệu đồng)

Tỷ trọng (%)

Ngu ồn: Ban quản lý dự án và phát triển quỹ đất huyện Hồng Ngự (2019)

Năm 2016, nguồn vốn NSNN cấp cho toàn huyện là 54.853 triệu đồng (chiếm 73,8% tổng nguồn vốn), đây được xem là nguồn vốn chính để thực hiện các chương trình XDNTM Trong đó: ngân sách từ Trung ương là 32.648 triệu đồng và ngân sách từ địa phương là 22.205 triệu đồng Nguồn vốn tín dụng là 1.850 triệu đồng (chiếm tỷ trọng rất nhỏ là 2,5%) và nguồn vốn huy động trong cộng đồng dân cư là 17.574 triệu đồng (chiếm 23,7%)

Năm 2017, nguồn vốn NSNN giảm đi đáng kể chỉ còn 35.317 triệu đồng (chiếm 74,3% tổng nguồn vốn), trong đó: ngân sách Trung ương là 24.903 triệu đồng và ngân sách địa phương là 10.414 triệu đồng Nguồn vốn huy động trong cộng đồng dân cư là 12.197 triệu đồng (chiếm 25,7% tổng nguồn vốn)

Năm 2018, nguồn vốn NSNN tiếp tục giảm chỉ còn 29.596 triệu đồng (chiếm 66,4% tổng nguồn vốn), trong đó: ngân sách Trung ương là 21.806 triệu đồng và ngân sách địa phương là 7.790 triệu đồng Nguồn vốn huy động trong cộng đồng dân cư tăng hơn so với năm trước là 14.985 triệu đồng (chiếm 33,6% tổng nguồn vốn)

Căn cứ theo nhu cầu vốn dành cho xây dựng NTM tại huyện Thanh Bình thì năm 2016 nhu cầu vốn là 94.821 triệu đồng (tỷ lệ đáp ứng là 78,33%); năm 2017 nhu cầu vốn là 78.315 triệu đồng (tỷ lệ đáp ứng là 60,67%); năm 2018 nhu cầu vốn

Ngày đăng: 11/11/2019, 23:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm