DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN ACD Diễn đàn đối thoại hợp tác châu Á ACFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc AEM Hội nghị các Bộ trưởng kinh tế ASEAN AFTA Khu vực mậu dịch t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
Đoàn Thị Thanh Nhàn
HỢP TÁC KHU VỰC ASEAN NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ
KỶ XXI VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
HÀ NỘI - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
Đoàn Thị Thanh Nhàn
HỢP TÁC KHU VỰC ASEAN NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ
KỶ XXI VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 60.31.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thu Mỹ
HÀ NỘI - 2010
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỢP TÁC ASEAN
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI VÀ XU HƯỚNG HỢP
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG HỢP TÁC ASEAN
2.1 Đường lối hợp tác và hội nhập khu vực của ASEAN trong những
2.2 Tình hình triển khai hợp tác khu vực của ASEAN trên các lĩnh vực 42
Chương 3: VIỆT NAM THAM GIA HỢP TÁC KHU VỰC ASEAN
3.1 Quá trình Việt Nam tham gia vào hợp tác khu vực của ASEAN từ
3.2 Sự tham gia đóng góp của Việt Nam đối với hợp tác khu vực
3.3 Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy sự tham gia của Việt Nam đối
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
ACD Diễn đàn đối thoại hợp tác châu Á
ACFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc
AEM Hội nghị các Bộ trưởng kinh tế ASEAN
AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
AICO Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN
AIPO Tổ chức Liên minh Nghị viện ASEAN
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASC POA Kế hoạch hành động Cộng đồng an ninh ASEAN
ASCC Cộng đồng Văn hoá xã hội ASEAN
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEAN
Concord
Tuyên bố Hoà hợp ASEAN
ASEM Diễn đàn Hợp tác Á - Âu
CEPT Hiệp định ưu đãi thuế quan hiệu lực chung
COC Bộ Quy tắc ứng xử ở biển Đông
COST Uỷ ban ASEAN về khoa học công nghệ
DoC Tuyên bố quy tắc ứng xử của các bên liên quan ở biển
Đông
EAEC Diễn đàn kinh tế Đông Á
Trang 5EAEG Nhóm kinh tế Đông Á
EAS Hội nghị thượng đỉnh Đông Á
E-ASEAN Hiệp định khung điện tử ASEAN
EPG Nhóm các nhân vật xuất chúng
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
HLTF Nhóm đặc trách cao cấp
ODA Viện trợ phát triển chính thức
PECC Hội nghị hợp tác kinh tế Thái Bình Dương
ASEAN/PMC Hội nghị sau hội nghị bộ trưởng ASEAN
PTA Thoả thuận ưu đãi thương mại
SAARC Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á
SEANWFZ Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân BFTA Hiệp định mậu dịch tự do song phương
TAC Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á
UNDP Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
VAP Chương trình hành động Viêng Chăn
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
ZOPFAN Khu vực hoà bình, tự do và trung lập
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cách đây gần tròn 15 năm, ngày 28/7/1995, tại Hội nghị các ngoại trưởng các nước ASEAN lần thứ 28 tại Brunei, Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN Sự kiện lịch sử quan trọng này đã thể hiện rõ nét chính sách chủ động hội nhập vào khu vực của Việt Nam trên các lĩnh vực an ninh kinh tế và các lĩnh vực khác
Việc Việt Nam gia nhập ASEAN cũng mở ra một trang mới trong lịch
sử ASEAN Từ đây chấm dứt tình trạng chia rẽ, đối đầu trong khu vực Các nước còn lại như Lào, Mianma, Campuchia lần lượt gia nhập hiệp hội ASEAN đã thực sự trở thành một tổ chức hợp tác của khu vực Đông Nam Á
Với tư cách thành viên chính thức của ASEAN, Việt Nam không chỉ tham gia với tinh thần trách nhiệm và tích cực các chương trình hợp tác của Hiệp hội, mà còn có nhiều sáng kiến góp phần thúc đẩy hợp tác nội bộ và quốc
tế của ASEAN Việc tham gia ASEAN đã và đang góp phần quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Hội nhập vào ASEAN cũng góp phần thúc đẩy Việt Nam từng bước điều chỉnh lại chính sách, cải cách pháp luật, cải cách bộ máy hành chính cho phù hợp với nhu cầu hội nhập khu vực và quốc tế
Thông qua con đường vừa hợp tác vừa cạnh tranh, các nguồn tiềm năng bên trong chưa được khai thác sẽ khơi dậy làm gia tăng nội lực cho Việt Nam trong quá trình phát triển
Gia nhập ASEAN cũng tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp thu có bài học các kinh nghiệm có lợi cho việc tham gia vào các cơ chế hợp tác nhiều tầng nấc, nhất là cơ chế đa phương như WTO
Trang 7Vào đầu thế kỷ XXI, trên thế giới và trong khu vực đang diễn ra những biến đổi sâu sắc Để thích ứng với những biến đổi đó, ASEAN đã quyết định làm sâu sắc hơn quá trình hội nhập khu vực với việc quyết định xây dựng cộng đồng ASEAN (AC) dựa trên 3 trụ cột: Cộng đồng chính trị -
an ninh ASEAN (APSC); Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và Cộng đồng văn hoá xã hội ASEAN (ASCC) Việc xây dựng thành công các cộng đồng này sẽ giúp duy trì hoà bình ổn định trong khu vực và thúc đẩy phát triển kinh
tế của các nước thành viên, biến ASEAN thành cộng đồng các xã hội đùm bọc lẫn nhau Là một nước thành viên ASEAN, Việt Nam sẽ được hưởng lợi
từ AC, do vậy, góp phần xây dựng AC là trách nhiệm của Việt Nam
Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, việc hiểu biết về quá trình xây dựng AC còn hạn chế Điều này hạn chế sự tham gia của Việt Nam vào
AC Nhận thức được điều đó, tác giả chọn đề tài "Hợp tác khu vực
ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI và sự đóng góp của Việt Nam" làm
đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quốc tế học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về hợp tác khu vực ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI nói chung và nghiên cứu về sự hình thành Cộng đồng ASEAN nói riêng được nhiều học giả và chính giới trong và ngoài nước quan tâm Số lượng các công trình, đề tài nghiên cứu, nhất là các bài viết, các hội thảo về vấn đề đã nêu tăng nhanh trong những năm gần đây
- Ở trong nước: Từ đầu thế kỷ XXI, nhất là từ năm 2003 đến nay, do
nhu cầu hiểu biết sâu rộng về ASEAN, hiểu biết về quá trình hình thành, nội dung và những tác động của AC đến khu vực và Việt Nam, nên đã có nhiều
cơ quan nghiên cứu, hoạch định chính sách của nước ta đã chủ động nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của tiến trình hướng tới AC
Trang 8Trước hết, cần kể đến các công trình của Viện Nghiên cứu Đông Nam
Á như:
+ "Liên kết ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI" của PGS.TS Phạm
Đức Thành (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006
+ "Những vấn đề chính trị, kinh tế Đông Nam Á, thập niên đầu thế kỷ XXI" do TSKH Trần Khánh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006
+ "Việt Nam trong ASEAN, nhìn lại và hướng tới" do PGS.TS Phạm
Đức Thành và PGS.TSKH Trần Khánh đồng chủ biên, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 2006
Ngoài Viện Đông Nam Á có cuốn:
+ "Liên kết ASEAN hiện nay và sự tham gia của Việt Nam" do (Nguyễn
Hoàng Giáp, Nguyễn Hữu Cát, Nguyễn Thị Quế đồng chủ biên), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2008
Trong các công trình này các tác giả đã khái quát các giai đoạn phát triển của ASEAN và sự tham gia của Việt Nam Các tác phẩm đều có hơn 2/3 nội dung đề cập đến hợp tác và liên kết của ASEAN trên các lĩnh vực trong những năm đầu thế kỷ XXI Các tác phẩm cũng phân tích khá kỹ cơ sở hình thành AC; những thuận lợi, khó khăn trong tiến trình thành lập AC và bước đầu đưa ra những kịch bản bàn đến triển vọng của nó
Đáng chú ý là hai bài viết:
+ "Cộng đồng ASEAN: Trong nhận thức và quan điểm của Việt Nam"
của PGS,TS Nguyễn Thu Mỹ - Viện Nghiên cứu Đông Nam Á
+ "Việt Nam và công cuộc xây dựng Cộng đồng ASEAN", Nguyễn Thu
Mỹ + Lê Phương Hoà, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 7/2008
Trong hai bài viết này các tác giả đã làm rõ kế hoạch xây dựng AC; đồng thời đi sâu phân tích nhận thức và quan điểm của Việt Nam về AC trên
3 trụ cột là ASC; AEC và ASCC Ngoài ra hai tác giả Nguyễn Thu Mỹ và Lê
Trang 9Phương Hoà còn làm rõ những đóng góp bước đầu của Việt Nam vào tiến trình xây dựng AC
Năm 2007 - Nhà xuất bản Thông tấn đã cho ra đời cuốn: "Vai trò của Việt Nam trong ASEAN" Cuốn sách này được biên soạn trên cơ sở nhiều
nguồn tư liệu phong phú, đề cập một cách tổng thể quá trình hình thành và phát triển của ASEAN trong 40 năm (1967-2007) Đặc biệt, sách đã dành một dung lượng thảo đáng phân tích làm rõ vị trí và vai trò của Việt Nam trong ASEAN, những đóng góp tích cực có hiệu quả của nước ta trong việc củng cố tình đoàn kết và sự thống nhất trong Hiệp hội, đẩy mạnh sự hợp tác và liên kết nội khối trên tất cả các lĩnh vực, mở rộng sự hợp tác với các nước và các tổ chức đối thoại
Bên cạnh việc nghiên cứu quá trình hình thành AC, các nhà khoa học còn tập trung nghiên cứu vào việc hình thành: Cộng đồng chính trị an ninh ASEAN (APSC); Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và Cộng đồng văn hoá
xã hội ASEAN (ASCC)
Về Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN có các công trình và bài viết sau: + "Hướng tới Cộng đồng An ninh ASEAN: Triển vọng và vai trò của Việt Nam" của Luận Thùy Dương - Tạp chí Nghiên cứu Quan hệ quốc tế: số
62/2005
+ "Cộng đồng an ninh ASEAN: Từ ý đồ tới hiện thực" của Nguyễn Thu
Mỹ, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4/2006
+ "Những thách thức đối với xây dựng Cộng đồng an ninh ASEAN" của
Trần Khánh, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 7/2007
Các bài viết đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của tiến trình APSC, trong đó bàn luận khá nhiều về tính khả thi và vai trò của cộng đồng này
Vào tháng 1-2005 vụ ASEAN - Bộ Ngoại giao có tổ chức một cuộc Hội thảo quốc tế với chủ đề: "Hợp tác chính trị, an ninh ASEAN - Cộng đồng
Trang 10an ninh ASEAN" Tại Hội thảo, các học giả trong và ngoài nước đều bàn luận đến tính khả thi và tương lai của APSC trong bối cảnh quốc tế và khu vực đầy biến động, phức tạp như hiện nay
Đặc biệt, vào năm 2007-2008 tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á có đề
tài nhánh thuộc đề tài cấp bộ của Viện nghiên cứu " Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC): Nội dung, lộ trình, triển vọng và tác động" do PGS.TSKH
Trần Khánh làm chủ nhiệm Đề tài đã được nghiệm thu vào năm 2008
Đây là một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc và có chất lượng cao của các nhà khoa học về ASC Công trình đã phân tích và làm rõ cơ
sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành ASC, phần chính của công trình tập trung làm rõ mục tiêu nội dung cơ bản, phương hướng thực hiện và triển vọng của ASC Ngoài ra, công trình còn làm rõ những tác động của tiến trình xây dựng ASEC đối với khu vực và Việt Nam; đưa ra những kiến nghị về việc tham gia trong tiến trình xây dựng ASC của Việt Nam
Về Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) có các bài viết và công trình sau: + Hoàng Anh Tuấn, 2005 "AEC với các nước thành viên", Đề tài cấp
bộ, Học viện Ngoại giao
+ Hoàng Anh Tuấn, 2007 "Triển vọng đàm phán FTAs ASEAN Đối tác: Tiếp cận dưới góc độ chính trị, an ninh", Bài Hội thảo
+ PGS.TS Hoàng Thị Thanh Nhàn: "FTA song phương của các nước ASEAN và tác động đến Cộng đồng kinh tế ASEAN và Cộng đồng ASEAN",
Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, số 5(145), 2008
Các bài viết này đã làm rõ thực trạng FTA trong ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI, đồng thời phân tích các nhân tố chi phối sự gia tăng FTA trong ASEAN gần đây, phân tích những tác động của FTA đến xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN và Cộng đồng ASEAN
Trang 11Có rất nhiều bài viết của các học giả, các nhà nghiên cứu, phóng viên… viết về hợp tác liên kết kinh tế ASEAN, về tiến trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng Đây đều là những nguồn ta liệu, tài liệu tham khảo tốt khi nghiên cứu
về vấn đề này
Trong đó, tập trung nhất có cuốn sách "Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) nội dung và lộ trình" do PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn làm chủ biên, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009
Nội dung chủ yếu của cuốn sách này là kết quả nghiên cứu của đề tài
cấp bộ: "Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC): Nội dung và lộ trình" do PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn làm chủ nhiệm thuộc chương trình cấp bộ: "Cộng đồng ASEAN: Cơ sở hình thành, triển vọng và phản ứng chính sách của các nước trong khu vực" do PGS.TS Lê Bộ Lĩnh làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu
Đông Nam Á - Viện Khoa học xã hội Việt Nam là cơ quan chủ trì
Tác phẩm đã đi sâu phân tích các nhân tố tác động đến quá trình hình thành AEC; trình bày những đặc trưng cơ bản của AEC như mục tiêu, nội dung và lộ trình thực hiện; những vấn đề đặt ra khi thực hiện AEC và triển vọng Tác phẩm đã dành 1 chương trình bày sự tham gia của Việt Nam và quá trình liên kết kinh tế ASEAN nói chung; AEC nói riêng và đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả tham gia vào AEC của Việt Nam
- Về Cộng đồng văn hoá - xã hội ASEAN (ASCC) có các bài viết và
công trình sau:
+ Đức Ninh (chủ biên): "Văn hoá khu vực Đông Nam Á", Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2000
+ Nguyễn Tấn Đắc: "Văn hoá Đông Nam Á", Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 2003
Trang 12Hai cuốn sách trên đề cập chủ yếu đến văn hoá Cộng đồng tộc người ở Đông Nam Á từ những giá trị vật chất tinh thần, lối sống, cách ứng xử đến tri thức khoa học, trình độ học vấn… hiện nay của các cộng đồng tộc người ở Đông Nam Á Thông qua đó các tác giả đã xây dựng một cách đầy đủ, sinh động và rõ nét về không gian, môi trường văn hoá chung ở Đông Nam Á từ
đó rút ra những nhận xét chung về đặc thù chung về lịch sử văn hoá của cư dân Đông Nam Á Đây là những tư liệu bổ ích khi nghiên cứu sâu về văn hoá Đông Nam Á nói chung và nhân tố tác động đến việc hình thành Cộng đồng văn hoá - xã hội Đông Nam Á nói riêng
Bên cạnh những bài viết lẻ tẻ bàn về việc hình thành và triển vọng của Cộng đồng văn hoá - xã hội đăng trên một số phương tiện thông tin đại chúng gần đây, chúng tôi thấy tập trung và nổi bật lớn cả là tập kỷ yếu đề tài cấp bộ
"Cộng đồng văn hoá xã hội ASEAN" do GS.TS Nguyễn Đức Ninh làm chủ
nhiệm nghiệm thu năm 2008
Đề tài là kết quả nghiên cứu của tập thể tác giả có bề dày nghiên cứu về Đông Nam Á nói chung và văn hoá Đông Nam Á nói riêng Đề tài đã đi sâu phân tích những cơ sở lịch sử, văn hoá, xã hội của việc hình thành Cộng đồng văn hoá xã hội ASEAN (ASCC) Nội dung chính của đề tài là đi sâu phân tích làm rõ: Mục tiêu tổng thể, nội dung và tác động của Cộng đồng văn hoá - xã hội ASEAN đối với sự phát triển bền vững Ngoài ra đề tài còn làm rõ những thời cơ và thách thức trong quá trình xây dựng ASCC, bước đầu đưa ra một
số giải pháp và hình thức hợp tác thúc đẩy sự hình thành cộng đồng văn hoá
xã hội ASEAN
- Ở ngoài nước: Bước vào thế kỷ XXI, trong xu thế khu vực hoá và
toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng, thế giới cũng quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu sự hình thành và triển vọng của Cộng đồng ASEAN (AC) - một tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển
Trang 13+ Cuốn sách: "Xây dựng Cộng đồng an ninh ở Đông Nam Á: ASEAN và vấn đề của trật tự khu vực" (Construting a Security Community in Southeast
Asia: ASEAN and the problem of regional order) của Amitav Acharya (London and New york, 2001) Đây là cuốn sách đề cập đến những kiến thức
cơ bản về khung lý thuyết cho việc nghiên cứu xây dựng Cộng đồng ASEAN, nhất là về cơ sở lý luận của việc hình thành các nội dung, quy tắc ứng xử và xây dựng mô hình/ thể chế cho ASC
+ Cuốn sách: "Văn hoá ngoại giao và văn hoá an ninh của ASEAN: Nguồn gốc, sự phát triển và triển vọng" (ASEAN' Diplomatic and Security
Culture: Origins, Development and Prospects) của Jurgen Haacke (London and New york 2003)
+ Cuốn: "Đông Nam Á trong sự tìm kiếm Cộng đồng ASEAN"
(Southeast ASia in Search of an ASEAN Community) của Rodolfo, Severino (Singapo ISE ASEAN, 2007)…
Nhìn chung các công trình này đã phân tích khá sâu về các nhân tố tác động đến việc hình thành AC trên 3 trụ cột ASC; AEC và ASCC, bàn về những nội dung cơ bản của từn trụ cột cũng như ảnh hưởng của AC đến sự phát triển chung trong ASEAN Tuy nhiên, khi nghiên cứu xem xét kỹ từng góc độ mà các tác phẩm đề cập chúng ta có thể nhận thấy cách tiếp cận và quan điểm của tác giả về từng vấn đề đều chứa đựng những dụng ý riêng, thiếu tính khách quan Nhưng có điểm hay rất đáng quan tâm là phần trình bày về lý thuyết xây dựng Cộng đồng trong các tác phẩm này khá rõ ràng có thể tham khảo tốt
Nói tóm lại: Cả trong nước và ngoài nước đều đang rất quan tâm
nghiên cứu về hợp tác khu vực ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI,
mà tập trung là quá trình hình thành AC trên ba trụ cột: ASC; AEC và ASCC Đây là thuận lợi cơ bản cho tác giả khi thực hiện luận văn Tuy nhiên, phần lớn các tác phẩm, các công trình nghiên cứu đã xuất bản mới
Trang 14chỉ dừng lại phân tích những hợp tác liên kết của ASEAN gần đây nhất là năm 2008, nên còn những nội dung hợp tác liên kết khu vực ASEAN trong năm 2009 và đầu năm 2010 cũng như vai trò của Việt Nam khi làm Chủ tịch ASEAN sẽ như thế nào đối với tiến trình này là những nội dung mà theo tác giả là mình phải tự tìm hiểu tổng hợp qua sách, báo và các trang website Đây vừa là khó khăn nhưng cũng chính là điều gây hứng thú cho tôi khi thực hiện luận văn này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
- Làm rõ những phát triển mới trong hợp tác khu vực của ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI
- Dự báo triển vọng hợp tác khu vực của ASEAN trong những năm tới
- Nêu bật những đóng góp của Việt Nam đối với quá trình này
- Nêu một số khuyến nghị nhằm góp phần thúc đẩy hợp tác khu vực của ASEAN và tăng cường hơn nữa hiệu quả hợp tác của Việt Nam trong ASEAN trong những năm tới
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ một số nhân tố động đến hợp tác khu vực của ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI
- Phân tích thực trạng hợp tác khu vực của ASEAN những năm đầu thế
kỷ XXI trong các lĩnh vực chủ yếu
- Dự báo triển vọng hợp tác, nêu bật sự tham gia và đóng góp của Việt Nam đối với hợp tác khu vực của ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI và một
số khuyến nghị, biện pháp nhằm tăng cường sự tham gia của Việt Nam đối với hợp tác ASEAN
4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 15- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng hợp tác khu vực của ASEAN trong thập niên đầu thế kỷ XXI, vai trò và những đóng góp của Việt Nam trong các lĩnh vực chủ yếu
- Về mặt thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu những tiến triển trong hợp tác khu vực cua ASEAN và những đóng góp của Việt Nam vào hợp tác khu vực của ASEAN từ 2001 - 2010
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Cơ sở lý luận: Phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối chính sách của Đảng ta về tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Chủ yếu là phương pháp lịch sử
và lôgíc cùng với các phương pháp nghiên cứu đặc thù về quan hệ quốc tế
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Góp phần làm rõ những phát triển mới trong hợp tác khu vực của ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI Đồng thời cũng làm sáng tỏ hơn vai trò của Việt Nam trong quá trình hợp tác liên kết ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI
Qua đó, góp phần cung cấp căn cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách của Việt Nam đối với ASEAN trong những năm tới
7 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và giảng dạy những nội dung về hợp tác liên kết của ASEAN và sự tham gia của Việt Nam trong hợp tác ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI, góp phần vào việc nâng cao kiến thức cho đội ngũ những người làm công tác đối ngoại, công tác giáo dục tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng trên lĩnh vực đối ngoại
8 Kết cấu của luận văn
Trang 16Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương, 8 tiết
Trang 17Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỢP TÁC ASEAN
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI VÀ XU HƯỚNG HỢP TÁC
KHU VỰC Ở ĐÔNG NAM Á
1.1 NHỮNG NHÂN TỐ QUỐC TẾ
1.1.1 Sự thay đổi của cục diện thế giới những năm đầu thế kỷ XXI
Thế giới bước vào thế kỷ XXI với nhiều thay đổi lớn so với thập niên cuối cùng của thế kỷ XX (kể từ khi trật tự thế giới hai cực chấm dứt) Cục diện thế giới đang nghiêng về hướng đa cực theo một cơ cấu quyền lực một siêu cường và một số cường quốc chủ chốt như Trung Quốc, Nga, EU, Nhật Bản… chi phối các vấn đề quan trọng của thế giới, định đoạt nhiều quy tắc, luật lệ quốc tế bằng sức vượt trội cả về kinh tế, quân sự, mà trong đó nổi lên hàng đầu là vai trò của Mỹ Các nước G7 đang thâu tóm nền kinh tế thế giới thông qua các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế như IMF, WB, WTO… Những mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tiếp tục tồn tại nhưng hình thức và nội dung có sự thay đổi Các nước đang phát triển, các lực lượng dân chủ tiến
bộ ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống quốc tế, là lực lượng tích cực trong cuộc đấu tranh thiết lập trật tự thế giới mới bình đẳng, dân chủ, hợp tác và phát triển bền vững
Triệt để lợi dụng ưu thế trong so sánh lực lượng sau chiến tranh lạnh,
Mỹ tỏ rõ tham vọng độc tôn "lãnh đạo" thế giới Đặc biệt, từ khi G.W.Bush trở thành tổng thống (2000), chính quyền Mỹ càng ráo riết thi hành một chính sách đơn phương mang nặng tính vị kỷ, bất chấp sự phản đối của nhiều nước lớn và cộng đồng quốc tế Sự kiện nước Mỹ bị tấn công khủng bố 11-9-2001
đã đặt hoà bình, an ninh thế giới trong tình trạng bất ổn lớn, nhiều mối quan
hệ quốc tế bị đảo lộn Chính quyền G.W.Bush đã khai thác triệt để sự kiện
Trang 18này nhằm đem lại lợi thế cho vai trò "lãnh đạo" của Mỹ, một loạt phương châm hành động với những mục tiêu mới đã được đưa ra Đối với các nước lớn, một mặt Mỹ có đối sách kiềm chế các đối thủ không để vươn lên đe doạ
vị trí siêu cường số 1 của Mỹ, đồng thời có sách lược xoa dịu, nhân nhượng nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các nước lớn trong nhiều vấn đề quốc tế để Mỹ đạt được mục đích Đối với Liên hợp quốc, Mỹ vừa lợi dụng, vừa gây sức ép
để ủng hộ Mỹ, nếu không đạt được mục đích Mỹ sẽ phớt lờ và bỏ qua Mỹ răn
đe các lực lượng dân chủ tiến bộ và các nước XHCN còn lại, coi "nhân quyền" cao hơn "chủ quyền" dân tộc, dùng con bài "tự do", "dân chủ", "nhân quyền", tôn giáo để áp đặt giá trị của Mỹ và phương Tây lên các dân tộc khác
Mỹ thao túng các tổ chức kinh tế - tài chính quốc tế như: IMF, WB, WTO…
Mỹ lợi dụng chống khủng bố tấn công lật đổ các chế độ ở Apganixtan (2001) và Irắc (2003), thiết lập các chính quyền mới thân Mỹ, đồng thời tạo
sự hiện diện về quân sự và chính trị của Mỹ ở Trung Á và Trung Cận Đông, nhằm kiểm soát khu vực có lợi thế địa - chính trị quan trọng bậc nhất thế giới đồng thời nắm nguồn dầu lửa lớn ở đây với ý đồ dùng dầu mỏ làm "công cụ"
để khống chế thế giới Tháng 6-2002, Tổng thống Bush công bố Chiến lược
an ninh quốc gia của Mỹ với chủ trương "đánh đòn phủ đầu" nếu phát hiện thấy có nguy cơ đe doạ nước Mỹ hoặc thách thức vai trò bá chủ của Mỹ…
Xu hướng chính trị cường quyền nước lớn của Mỹ đã đặt độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia đang phát triển trước những thách thức nghiêm trọng Đời sống chính trị thế giới bị đảo lộn Uy tín của Liên hợp quốc bị suy giảm Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa bá quyền Mỹ và các lực lượng dân chủ tiến bộ, lực lượng bảo vệ hoà bình thế giới, chống chính sách cường quyền nước lớn ngày càng sâu sắc Nó phản ánh tính phức tạp, gay go quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc hiện nay
Trang 19Quan hệ giữa các nước lớn thay đổi nhanh chóng, các nước lớn đều điều chỉnh chiến lược phát triển của mình, vừa đảm bảo lợi ích quốc gia dân tộc vừa góp phần đấu tranh kiềm chế bớt quyền lộng hành của Mỹ, tìm kiếm
sự cân bằng mới, tránh xung đột mang tính đối kháng Mỗi nước lớn đều coi trọng việc xác lập và củng cố những điều kiện quốc tế có lợi, tăng cường hệ
số an toàn quốc gia, bày tỏ mong muốn xây dựng những mối quan hệ "đối tác chiến lược" với quy mô khác nhau Quan hệ giữa các nước lớn trong những năm đầu thế kỷ XXI vẫn là vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, kiềm chế lẫn nhau, đấu tranh nhưng không làm tổn hại đến hợp tác và nhìn chung các nước lớn đều tránh đối đầu với Mỹ
Diễn biến của cục diện chính trị thế giới những năm đầu thế kỷ XXI cho thấy, sức mạnh bá quyền của Mỹ cũng có những giới hạn, chỉ sau một thời gian ngắn thực hiện chính sách "đơn phương cường quyền" đã xuất hiện những mâu thuẫn sâu sắc và trầm trọng giữa Mỹ và phần còn lại của thế giới Chính Mỹ đã tạo ra ngày càng nhiều mâu thuẫn, nhiều kẻ thù và đang ngày càng bị cô lập Việc Mỹ sa lầy ở Irắc, Apganixtan, việc Mỹ lúng túng mất khả năng giải quyết các vấn đề hạt nhân ở Triều Tiên, ở Iran và sự suy thoái rơi vào khủng hoảng kinh tế - tài chính vừa qua cho thấy không phải việc gì Mỹ muốn cũng có thể làm được, không phải lúc nào thế giới cũng nghe theo Mỹ Cục diện thế giới đơn cực chỉ tồn tại tức thời với chủ nghĩa đơn phương cường quyền của Mỹ và đã nhường chỗ cho một cục diện đa cực vì hoà bình, bình đẳng, dân chủ hợp tác và phát triển, đó là nguyện vọng của nhân loại tiến bộ Phương thức tập hợp lực lượng trên thế giới trong những năm đầu thế kỷ XXI vẫn tiếp tục phát triển theo hướng cơ động, linh hoạt trên từng lĩnh vực và vấn đề cụ thể Lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích kinh tế vẫn tiếp tục được đặt lên hàng đầu chi phối các quan hệ quốc tế Điều này buộc các nước phải có cách tiếp cận mới đối với phương thức tập hợp lực lượng để
Trang 20bảo vệ lợi ích dân tộc chân chính, đồng thời hội nhập ngày càng sâu rộng, hữu hiệu vào tiến trình phát triển chung của khu vực và thế giới Vai trò của các phương thức song phương, đa phương hợp tác giải quyết các vấn đề quốc tế ngày càng trở nên không thể thiếu, đặc biệt trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu cấp bách hiện nay
Trong bối cảnh chung nêu trên, cục diện chính trị ở Đông Nam Á bước sang thế kỷ XXI cũng có những thay đổi lớn tác động không nhỏ tới sự hội nhập, liên kết trong khu vực Trước hết, ASEAN đã hội nhập đủ 10 nước (trừ Đông Timo) trở thành tổ chức khu vực thành công nhất và đang có những bước phát triển khả quan Về chính trị, ASEAN tương đối ổn định mặc dù còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ như tranh chấp lãnh thổ, xung đột dân tộc, tôn giáo, ly khai, khủng bố… Về kinh tế, sau khủng hoảng tài chính 1997-1998; các nước ASEAN đã có những bước điều chỉnh kịp thời, cơ cấu lại nền kinh tế đặc biệt
là trên lĩnh vực tài chính, tiền tệ để tránh sự phát triển "kinh tế bong bóng" gây nguy hiểm chung
Trên các lĩnh vực văn hoá - xã hội cũng được các nước ASEAN xúc tiến tích cực với các chương trình dự án, hợp tác bước đầu đem lại những kết quả đáng khích lệ Ngoài ra, ASEAN còn là "hạt nhân" của nhiều tiến trình hợp tác quốc tế như: APEC, ASEM, ASEAN + 3, EAS Có thể khẳng định rằng: bước vào thế kỷ XXI, ASEAN đã trở thành một tổ chức khu vực thống nhất có vai trò và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các quốc gia thành viên cũng như của khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Trong tương quan lực lượng ở Đông Nam Á, những năm đầu thế kỷ XXI, vai trò của các nước lớn nổi lên gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, các nước này vừa cạnh tranh, vừa kiềm chế lẫn nhau, ảnh hưởng không nhỏ đến
sự hợp tác và liên kết của ASEAN Từ một điểm nóng của Chiến tranh lạnh, chỉ sau một thập niên, Đông Nam Á đã nhanh chóng trở thành nơi hội tụ những nỗ lực hợp tác giữa các nước trong khu vực và các nước trên thế giới
Trang 21Xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển được củng cố, tăng cường ở Đông Nam Á
đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á nở
rộ hơn nữa trong thế kỷ XXI
1.1.2 Những phát triển mới trong toàn cầu hoá và khu vực hoá
Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, toàn cầu hoá kinh tế xuất hiện với tư cách một cấp độ mới cao hơn về chất của quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất vốn có trước đó Toàn cầu hoá không chỉ tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúc đẩy mối quan hệ liên quốc gia cả về bề rộng lẫn chiều sâu Tự do hoá kinh tế và cải cách thị trường trên toàn cầu diễn ra phổ biến Các nền kinh tế dựa vào nhau, liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiến cho tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng Toàn cầu hoá kích thích tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy các doanh nghiệp cải tiến công nghệ và quản lý; cạnh tranh quốc tế và tự do hoá thương mại trong các khối kinh tế khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu Tiến bộ của khoa học công nghệ hiện đại, sự thay đổi cơ cấu kinh tế - kỹ thuật
và chính trị trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá, tạo nên một mạng lưới thương mại và chuyển dịch vốn đầu tư đan xen nhau chằng chịt, do vậy nền kinh tế mỗi nước ở mức độ khác nhau đều mang tính quốc tế Tuy một mặt đưa lại những cơ hội để các quốc gia đang phát triển có khả năng hội nhập hữu hiệu vào hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
và phát triển kinh tế xã hội; nhưng mặt khác, toàn cầu hoá cũng có xu hướng làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa các quốc gia, do vậy nó cũng đặt ra nhiều thách thức lớn đối với các nước đang phát triển
Cùng với sự lan toả mạnh mẽ của toàn cầu hoá, bước vào thế kỷ XXI, quá trình liên kết khu vực cũng tiếp tục phát triển rất sôi động tại khắp các châu lục Quá trình này đòi hỏi sự đẩy nhanh hợp tác liên kết khu vực và nâng cấp các tổ chức hợp tác khu vực nếu muốn tiếp tục tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay - ASEAN cũng không nằm ngoài quy luật chung đó
Trang 22Các quốc gia Đông Nam Á tham gia vào ASEAN đều hướng tới mục tiêu đẩy mạnh hợp tác, thực hiện tự do hoá thương mại, đầu tư và dịch vụ, tạo lợi thế cạnh tranh khi tham gia hội nhập vào thị trường thời gian Bước phát triển mới của xu thế khu vực hoá tác động vừa thuận chiều vừa ngược chiều đối với sự hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực Thuận chiều theo nghĩa, khu vực hoá hiện nay là một bước, một "khâu đệm" trong lộ trình gia nhập vào hệ thống kinh tế thế giới của mỗi nước Ngược chiều ở chỗ, với các quy tắc mở cửa, tự do hoá và quan hệ bình đẳng giữa các nước trong quá trình toàn cầu hoá, thì khu vực hoá lại có nghĩa là phân chia thế giới theo khối, tạo
ra sự phân biệt đối xử mang tính khu vực trong cuộc cạnh tranh trên những cơ
sở không ngang bằng giữa các nước trong khu vực với các nước và nhóm nước ngoài khu vực Hai chiều thuận nghịch của tiến trình khu vực hóa cho thấy bên trong tiến trình này, xét trên quan điểm cạnh tranh khu vực cũng như lợi ích của các nước tham gia ASEAN, đang đặt ra nhiều vấn đề như:
- Sự chặt chẽ của liên kết ở mức "đồng thuận" là đủ hay còn cần có những ràng buộc mang tính pháp lý
- Mỗi quốc gia trong ASEAN trong khi là thành viên phải tuân thủ những quy tắc hoạt động của Hiệp hội, còn phải "cân đối" các quan hệ với bên trong và bên ngoài khu vực Luôn tồn tại sự cạnh tranh như một trong những khía cạnh bản chất nhất của các quan hệ quốc tế giữa các nước thành viên của một tổ chức
- Có sự đan xen, giao thoa giữa các thành viên của các tổ chức khác nhau Một quốc gia có thể đồng thời là thành viên của một tổ chức khối, tổ chức kinh tế khu vực, có thể vừa tham gia làm thành viên Hiệp hội theo cơ chế đa phương vừa tham gia các hiệp định tự do thương mại theo cơ chế song phương…
Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá bước vào thế kỷ XXI có những bước phát triển mới, xuất hiện các hình thức liên kết mới ở
Trang 23nhiều cấp độ khác nhau đòi hỏi các nước ASEAN với năng lực cạnh tranh, trình độ phát triển thị trường thương mại, đầu tư, dịch vụ… còn nhiều yếu kém phải cố gắng nâng cao năng lực ứng phó để chủ động hội nhập quốc tế một cách sâu rộng Mỗi quốc gia đều phải tự điều chỉnh chiến lược phát triển tập trung nhiều hơn vào phát triển kinh tế, tăng cường mở rộng hợp tác quốc
tế song phương cũng như đa phương Môi trường quan hệ quốc tế ở khu vực đang diễn ra đồng thời đan xen giữa hợp tác và đấu tranh trong cùng tồn tại, cạnh tranh lợi ích ngày càng sâu rộng và gay gắt An ninh và phát triển của các quốc gia bị đặt trước nhiều thách thức mới trên nhiều lĩnh vực: kinh tế - đối ngoại; chính trị - tư tưởng; an ninh - quốc phòng; khoa học - công nghệ, tài nguyên môi trường; văn hoá - xã hội, phát triển nhân lực và an sinh con người… đặt "thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết nếu không có sự hợp tác đa phương"1
Quá trình hợp tác, liên kết ASEAN những năm vừa qua là những minh chứng cho sự tác động của xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá đang diễn ra sôi động hiện nay
1.1.3 Sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn đối với Đông Nam Á
Trước bối cảnh quốc tế mới hình thành ở Đông Nam Á sau chiến tranh lạnh, bước vào thế kỷ XXI các nước lớn đều từng bước điều chỉnh chính sách đối với khu vực Đông Nam Á Mục tiêu chung trong điều chỉnh chính sách của các nước lớn là, nhằm củng cố và nâng cao ảnh hưởng tại khu vực, tạo cơ
sở hỗ trợ đắc lực cho việc thực thi chiến lược châu Á - Thái Bình Dương của mỗi nước Cục diện cạnh tranh quyền lực và ảnh hưởng chiến lược giữa các nước lớn ở khu vực Đông Nam Á trong những năm đầu thế kỷ XXI có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng mạnh đến quan hệ quốc tế và tiến trình hợp tác, liên kết ASEAN
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006, tr.65
Trang 24- Về chính sách của Mỹ:
Ngay sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Mỹ có động thái buông lỏng Đông Nam Á, từng bước rút quân khỏi các căn cứ quân sự ở khu vực này Nhưng, bước sang những năm đầu thế kỷ XXI, cùng với sự điều chỉnh "chiến lược toàn cầu mới" sau sự kiện 11-9-2001, Mỹ quan tâm nhiều hơn đến Đông Nam Á Sự điều chỉnh chính sách đối với Đông Nam Á của Mỹ xuất phát từ hai nhân tố cơ bản, đó là, tầm quan trọng ngày càng tăng về kinh tế của các nước ASEAN đối với nền kinh tế Mỹ và vai trò ảnh hưởng của Trung Quốc đối với khu vực này trong thời gian gần đây đang làm giảm vai trò của Mỹ tại đây Về kinh tế: "ASEAN là đối tác kinh tế lớn thứ tư của Mỹ với thị trường trên 500 triệu dân và nền kinh tế giá trị khoảng 700 tỷ USD Thương mại hai chiều giữa Mỹ và ASEAN đạt khoảng 120 tỷ USD Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào ASEAN là khoảng 50 tỷ USD, đứng thứ hai sau Nhật Bản Mỹ
là nước nhập khẩu lớn nhất từ Đông Nam Á với tổng giá trị nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ liên tới 80 tỷ USD"2 Tính đến hết năm 2008 đầu tư của Mỹ vào ASEAN đạt 100 tỷ USD thương mại song phương, Mỹ - ASEAN đạt
178 ty USD3
Trong bối cảnh diễn ra sự cạnh tranh gay gắt về ảnh hưởng giữa các nước lớn, trong đó Trung Quốc ngày càng có vai trò vượt trội trong khu vực, mục tiêu chiến lược mà Mỹ đặt ra là ngăn chặn không cho nước nào nổi lên
đe doạ lợi ích của Mỹ ở Đông Nam Á Để đạt được mục tiêu đó, chính quyền
Mỹ đã tiến hành các biện pháp:
- Củng cố và tăng cường các mối quan hệ hợp tác đồng minh trong khu vực, tìm mọi cách lôi kéo các nước Đông Nam Á tham gia "mặt trận thứ hai" trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ
2 Dẫn theo: Trần Thị Vinh: "ASEAN 1967-2007 cái nhìn từ Bắc Mỹ" trong cuốn Đông Nam Á truyền thống
và hội nhập, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2007, tr.313
3
Nguồn Dân trí com 23-7-2009
Trang 25- Tăng cường các quan hệ kinh tế với các nước ASEAN làm cho ASEAN ngày càng phụ thuộc kinh tế vào Mỹ
- Phản đối tham vọng độc chiếm biển Đông của bất cứ nước nào nhằm đảm bảo quyền tự do đi lại trên các con đường giao thông qua biển Đông
- Tạo điều kiện chi viện cho Nhật Bản, Hàn Quốc khi cần thiết và tăng cường kiềm chế Trung Quốc
Các biểu hiện về sự điều chỉnh chính sách Đông Nam Á của Mỹ trong những năm đầu thế kỷ XXI có thể thấy rõ là: Sau sự kiện 11-9-2001, Mỹ gia tăng sự hiện diện và tái can dự ở Đông Nam Á, phù hợp với Chiến lược an ninh quốc gia mới (2002) Mỹ đã ký hàng loạt thoả thuận quân sự mới với các nước đồng minh truyền thống, cho họ hưởng quy chế đồng minh chiến lược ngoài Tổ chức Bắc Đại Tây Dương (NATO) Trong quá trình triển khai cuộc chiến chống khủng bố, Mỹ đã thiết lập và mở rộng các căn cứ quân sự ở Đông Nam Á, tăng cường giao lưu và hợp tác quân sự, tăng thêm viện trợ quân sự, liên tiếp tổ chức tập trận chung và các chuyến thăm hải quan Cụ thể: "Tháng 3-2001, hải quân Mỹ, Philippin và Thái Lan tổ chức diễn tập cứu hộ trên biển Đông Năm 2002, Mỹ đã cung cấp 500 binh sĩ thuộc lực lượng đặc nhiệm không quân và các thiết bị quân sự giúp quân đội Philippin chiến đấu chống khủng bố Đồng thời, Mỹ còn tuyên bố viện trợ 50 triệu USD cho cuộc chiến chống khủng bố của Inđônêxia và có ý triển khai hợp tác quân sự trở lại với Inđônêxia"4 Ngoài ra, Mỹ còn cải thiện quan hệ và mở rộng hợp tác với đối tác được coi là ít thân thiện hơn (Việt Nam, Malaysia); gia tăng sự can dự và kiểm soát ở vùng eo biển Malacca và khu vực biển Đông bằng việc đưa ra hàng loạt những sáng kiến như: Sáng kiến an ninh Contennơ (CSI), sáng kiến
an ninh hàng hải khu vực (RMSI); Hiệp ước trợ giúp hậu cần (ACSA)… với một số nước ASEAN Cùng với việc cải thiện quan hệ với Việt Nam, Mỹ cũng tìm mọi cách lôi kéo các nước khác như Campuchia, Lào và Minama
4
Dẫn theo "Vai trò của Việt Nam trong ASEAN", Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2007, tr.117+118
Trang 26hợp tác với họ nhằm hoàn thiện "mắt xích" còn thiếu trong vành đai vây quanh Trung Quốc kéo dài từ Nam Á sang Đông Bắc Á mà Mỹ thiết lập được trong cuộc chiến chống khủng bố Mỹ cũng tìm cách gây áp lực với các nước này nhằm truyền bá các giá trị dân chủ, nhân quyền, gia tăng vai trò, ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực
- Về chính sách của Trung Quốc:
Đông Nam Á là khu vực luôn giữ một vị trí cực kỳ quan trọng đối với
an ninh và phát triển của Trung Quốc Đông Nam Á còn là khu vực thuận lợi nhất để Trung Quốc thiết lập khu vực ảnh hưởng riêng trong quá trình vươn tới vị trí cường quốc hàng đầu mà họ đang ấp ủ Chính sách đối với các nước ASEAN là một trọng điểm lớn trong quan hệ ngoại giao với các nước xung quanh của Trung Quốc Mục tiêu chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc được xác lập xoay quanh hai phương diện: Liệu có lợi cho sự phát triển của Trung Quốc cũng như cho tình láng giềng thân thiện hữu nghị với các nước Đông Nam Á hay không Trung Quốc là một nước đang phát triển, coi sự phát triển kinh tế là trung tâm và trọng điểm trong chiến lược phát triển tổng thể của đất nước Vì vậy, chiến lược Đông Nam Á của Trung Quốc phải lấy "phát triển" làm tuyến chính Muốn thực hiện mục tiêu phát triển thì phải có môi trường xung quanh hoà bình và ổn định Còn để có một môi trường xung quanh hoà bình và ổn định thì phải dựa vào mối quan hệ láng giềng thân thiện, hữu nghị với các nước xung quanh bao gồm cả các nước Đông Nam Á
Từ khi tiến hành cải cách, mở cửa đến nay, Trung Quốc luôn cố gắng xây dựng môi trường quốc tế có lợi cho sự phát triển của mình, cải thiện và phát triển quan hệ với các nước xung quanh Từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc đến nay, quan hệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN đã có những bước
Trang 27phát triển nhanh chóng và sau khi bước vào thế kỷ XXI, "mối quan hệ này đã đạt tới mức cao nhất trong lịch sử"5
Để tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển quan hệ Trung Quốc - ASEAN trong thế kỷ XXI, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN và Trung Quốc lần đầu tiên tổ chức ở Cuala Lămpơ ngày 16-12-1997, ASEAN và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung "ASEAN - Trung Quốc hướng tới thế kỷ XXI" Trong bản Tuyên bố này, hai bên đã nêu rõ: "Những chuẩn mực cơ bản chỉ đạo quan hệ của hai bên là Hiến chương Liên hiệp quốc, Hiệp ước thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á, 5 nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình và luật pháp quốc tế được thế giới thừa nhận"6 ASEAN và Trung Quốc tái khẳng định cùng sự tôn trọng độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác
Hợp tác ASEAN - Trung Quốc được triển khai không chỉ thông qua các quan hệ song phương trên tất cả các lĩnh vực mà cả trong các tổ chức khu vực
và quốc tế mà hai bên cùng tham gia như: Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF); APEC và ASEM… Hợp tác phát triển tiểu vùng Mê Công mở rộng cũng được xem là một lĩnh vực hợp tác quan trọng giữa hai bên
Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN - Trung Quốc lần thứ bảy tổ chức tại Bali (Inđônêxia) tháng 11-2003, hai bên đã ký Tuyên bố chung về Quan hệ đối tác chiến lược ASEAN - Trung Quốc Mục đích của việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược là: "nuôi dưỡng các quan hệ hữu nghị hợp tác cùng có lợi
và láng giềng tốt giữa ASEAN và Trung Quốc thông qua việc làm sâu sắc thêm và mở rộng các mối quan hệ hợp tác ASEAN - Trung Quốc một cách toàn diện trong thế kỷ XXI, qua đó đóng góp hơn nữa đối với hoà bình, phát triển và hợp tác lâu dài trong khu vực Bản chất của quan hệ đối tác chiến lược đó là "không liên kết, phi quân sự, phi độc quyền, phi độc chiếm (non -
5 Như (4) Sđd, tr.83
6
Như (3) Sđd, tr.84
Trang 28exclusive) và không ngăn cản các bên tham gia phát triển các quan hệ hữu nghị hợp tác đa chiều của họ với các nước khác"7
Đó là quan hệ hợp tác toàn diện, mở cửa tập trung vào các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, hợp tác khu vực và quốc tế Việc ký kết tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược, hai bên đã chỉ ra phương hướng hợp tác cụ thể trong từng lĩnh vực, đã gia cố thêm nền tảng pháp lý cho sự phát triển quan hệ ASEAN - Trung Quốc trong những năm qua và trong những năm sắp tới
- Về vấn đề hợp tác an ninh: Đây là một lĩnh vực nhạy cảm mà cả
ASEAN và Trung Quốc đều né tránh trong những năm đầu mới thiết lập quan
hệ Tuy nhiên từ năm 1997 trên cơ sở sự tin cậy lẫn nhau ngày càng gia tăng ASEAN và Trung Quốc đã quyết định hợp tác với nhau trên lĩnh vực an ninh, trước hết là trong các vấn đề an ninh phi truyền thống Tại Hội nghị cấp cao ASEAN - Trung Quốc lần thứ 3 tổ chức tại Singapo tháng 11-2000, hai bên
đã ký "Tuyên bố chung về hợp tác trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống"
Vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Đông cũng là một cản trở lớn đối với sự phát triển quan hệ ASEAN - Trung Quốc Nhằm khắc phục vấn đề này, năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên có liên quan ở biển Đông Mặc dù bản Tuyên bố này chưa giải quyết được vấn đề biển Đông, nhưng nó đã giúp duy trì hoà bình ở khu vực này và tạo điều kiện cho các bên hợp tác cùng khai thác tài nguyên của biển Đông để phát triển đất nước
Tại Hội nghị Bali, Inđônêxia tháng 10-2003, Trung Quốc đã chính thức
ký "Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Đông Nam Á - TAC" và trở thành một bên tham gia của Hiệp ước này Việc Trung Quốc ký TAC đã làm cho bản Hiệp ước này trở thành bộ quy tắc ứng xử trong quan hệ hai bên Đây chính là
7
Như (4) Sđd, tr.85
Trang 29điều ASEAN chờ đợi vì việc Trung Quốc ký TAC sẽ thúc đẩy các đối tác đối thoại khác của ASEAN tham gia vào Hiệp ước
- Về quan hệ kinh tế: Hoạt động quan trọng nhất của ASEAN và Trung
Quốc từ năm 2002 tới nay là triển khai xây dựng khu vực Mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) Khu vực Mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN, sau khi hoàn thành vào năm 2010, sẽ trở thành khu vực kinh tế có 1,8 tỷ người tiêu dùng, GDP đạt tới 2000 tỷ USD và tổng khối lượng thương mại đạt tới 1200 tỷ USD8 Bên cạnh đó Trung Quốc tích cực giúp đỡ ASEAN khắc phục cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ; tăng cường buôn bán đầu tư vào ASEAN, tạo điều kiện cho ASEAN đầu tư ngày càng nhiều vào Trung Quốc nhằm tạo sự ràng buộc hơn nữa các nền kinh tế ASEAN vào lục địa Trung Hoa Chủ trương giảm hoặc xoá nợ cho một số nước Đông Nam Á, nhất là các thành viên ASEAN mới, cung cấp hàng trăm triệu USD tín dụng
ưu đãi và viện trợ phát triển cho nhiều nước ASEAN
Có thể thấy rằng: trong những năm qua, đã tỏ rõ sự chủ động trong hợp tác với từng nước Đông Nam Á nói riêng và với ASEAN nói chung Điều đó giúp hai bên tăng cường quan hệ đối tác chiến lược mới, tháo gỡ một số tranh chấp kéo dài đối với một số nước Xây dựng các quan hệ thương mại trên diện rộng cùng nhiều mối quan hệ khác, đặt nền móng cho sự phát triển trong những năm tiếp theo của thế kỷ XXI Tuy nhiên, đằng sau các mối quan hệ đều còn ẩn giấu sự nghi ngại về quá khứ ứng xử của Trung Quốc trong khu vực cũng như tham vọng của Trung Quốc trong tương lai
- Về chính sách của Nhật Bản:
Đông Nam Á là khu vực có vị trí đặc biệt quan trọng đối với Nhật Bản
- nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới Đông Nam Á nằm án ngữ con đường giao thông chiến lược trên biển có tầm quan trọng sống còn đối với nền kinh
8
Như 4 Sđd, tr.88+89
Trang 30tế Nhật Bản Khu vực này còn quan trọng đối với Nhật ở chỗ, không chỉ là thị trường đầu tư, thị trường tiêu thụ, mà còn là cơ sở sản xuất của các công ty Nhật Bản Sau Chiến tranh lạnh, chính sách của Nhật Bản không chỉ nhằm vào các lợi ích kinh tế, mà còn nhằm nâng cao vai trò và ảnh hưởng chính trị của mình trong khu vực và kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc
Tại Hội nghị cấp cao ASEAN - Nhật Bản tháng 12-1997 tại Malaysia diễn ra ngay sau Hội nghị Cấp cao không chính thức lần thứ hai của ASEM, lãnh đạo ASEAN và Nhật Bản đã ra thông cáo chung "bày tỏ hài lòng rằng những năm qua các nước đã tăng cường mối quan hệ hợp tác chặt chẽ góp phần vào hoà bình, ổn định và phồn vinh của khu vực châu Á - Thái Bình Dương"9 Các nhà lãnh đạo quyết tâm xây dựng mối quan hệ mạnh mẽ để đối phó với những thách thức chung của khu vực và thế giới, tăng cường hợp tác ASEAN - Nhật Bản trong thế kỷ XXI
Hội nghị Cấp cao ASEAN - Nhật Bản tổ chức ở Tokyo tháng 10-2003
đã thông qua: "Tuyên bố Tokyo vì một quan hệ đối tác ASEAN - Nhật Bản năng động và bền vững trong thiên niên kỷ mới", và "Chương trình hành động ASEAN - Nhật Bản" với 120 giải pháp nhằm cụ thể hoá những cam kết giữa hai bên để thu hẹp khoảng cách về phát triển kinh tế, nâng cao tính cạnh tranh
và giải quyết các vấn đề chung ASEAN Đây chính là hai văn kiện quan trọng, đặt cơ sở và hướng đi cho mối quan hệ ASEAN - Nhật Bản trong thế
9
Như 4 Sđd, tr.97
Trang 31phát triển của ASEAN nói chung và từng nước thành viên nói riêng Về an ninh - chính trị, Nhật Bản ủng hộ vai trò của ASEAN trong Diễn đàn khu vực ARF và các cơ chế, diễn đàn khác Tháng 12-2003, Nhật Bản là thành viên chính thức tham gia Hiệp ước Hợp tác và Thân thiện (TAC) và ký Hiệp định không xâm phạm lẫn nhau với ASEAN
Chính sách của Nhật Bản đối với Đông Nam Á đã nhận được phản ứng khá tích cực của các nước trong khu vực, vì ASEAN không chỉ cần vốn đầu
tư, công nghệ và thị trường Nhật Bản, mà còn muốn sử dụng nước này như một nhân tố cân bằng ảnh hưởng với các nước lớn khác trong khu vực, nhất là trong bối cảnh những năm đầu thế kỷ XXI đang có nhiều thay đổi
- Đối với Liên bang Nga:
Sự hợp tác đa dạng Nga - ASEAN là yếu tố quan trọng để củng cố sự
ổn định và phồn vinh ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung, khu vực Đông Nam Á nói riêng trong những năm đầu thế kỷ XXI Nga coi ASEAN như là "hạt nhân" của quá trình hội nhập châu Á - Thái Bình Dương
và việc củng cố sự hợp tác với ASEAN là một trong những ưu tiên hàng đầu của Nga Về phần mình, các nước ASEAN ghi nhận vai trò mang tính xây dựng và ngày càng quan trọng của Nga và ủng hộ sự tham gia rộng rãi hơn nữa của Nga vào các quá trình hội nhập ở châu Á và giải quyết các vấn đề quan trọng ở khu vực Chính sách của Nga đối với ASEAN thể hiện chủ yếu trên hai lĩnh vực là chính trị - an ninh và hợp tác kinh tế
Về chính trị - an ninh: Nga rất coi trọng và tích cực tham gia các hoạt
động trong khuôn khổ Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF); là đồng Chủ tịch các cuộc gặp giữa kỳ của ARF về hợp tác trong lĩnh vực khắc phục hậu quả thiên tai (1998-2000)
Nga và ASEAN đã ký một Tuyên bố chung giữa Bộ trưởng Ngoại giao Liên bang Nga với các bộ trưởng ngoại giao ASEAN về quan hệ đối tác vì
Trang 32hoà bình, an ninh, thịnh vượng và phát triển trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao (PMC + 1) với Nga vào ngày 19-6-
2003 tại Phnôm Pênh Trong nỗ lực đẩy mạnh hợp tác phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, tại phiên họp của Hội nghị PMC+1 năm 2004 hai bên đã ký một Tuyên bố chung về hợp tác chống khủng bố quốc tế Nga - ASEAN Quan hệ Nga - ASEAN còn đạt một bước tiến quan trọng khi Nga tham gia Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (TAC) sau Hội nghị Bộ trưởng ASEAN - Nga ngày 29-11-2004 tại Viên Chăn (Lào) Như vậy là Nga đã trở thành nước có vũ khí hạt nhân và là thành viên thứ hai của Hội đồng Bảo an LHQ
ký TAC sau Trung Quốc, điều này ngày càng củng cố TAC như là quy tắc ứng xử đối với các mối liên kết giữa các quốc gia trong khu vực đồng thời gây áp lực buộc Pháp phải ký TAC vào tháng 1/2007 và Mỹ cũng phải ký TAC vào tháng 7/2009
- Về hợp tác kinh tế - xã hội:
Quan hệ thương mại giữa ASEAN với Nga mặc dù hiện vẫn đang còn ở mức thấp, song bước vào những năm đầu thế kỷ XXI đã có những dấu hiệu khả quan hơn Tổng giá trị thương mại trong năm 2002 đạt 2,1 triệu USD, trong 2 năm 2003 và 2004 đã tăng lên 11% đạt 2,3 triệu USD10 Trong một nỗ lực nhằm phát triển quan hệ thương mại giữa hai bên, ASEAN và Nga đã thiết lập một nhóm công tác về hợp tác kinh tế và thương mại (ARWGTEC) Ngày 10-12-2005 tại Cuala Lămpơ (Malaysia), ASEAN và Nga đã ký Hiệp định Hợp tác Kinh tế và Phát triển nâng cao về chất những mối quan hệ kinh tế giữa hai bên
Đối với ASEAN, Nga chưa phải là đối tác kinh tế lớn ở tầm ngắn hạn, nhưng sự có mặt về chính trị về kinh tế của Nga sẽ giúp ASEAN thực hiện chính sách cân bằng ảnh hưởng và quyền lợi giữa các nước lớn ở Đông Nam
Á, có lợi cho hoà bình và ổn định trong khu vực
10
Như 4 Sđd, tr.128
Trang 33Việc các nước lớn, trước hết là Mỹ và Trung Quốc điều chỉnh chính sách tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á trong những năm đầu thế
kỷ XXI đã và đang tạo ra những "cú hích" mới thúc đẩy cạnh tranh và hợp tác kinh tế cũng như an ninh khu vực, góp phần tạo thêm "không gian tự do", bổ sung "phương tiện mặc cả" cho việc theo đuổi chính sách "cân bằng quyền lực" đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế của ASEAN, làm cho Hiệp hội trở nên quan trọng hơn trong bàn cờ chính trị của các nước lớn Tuy nhiên, các quá trình trên cũng đang tạo ra không ít thách thức Trước hết,
sự gia tăng hiện diện quân sự của Mỹ và tăng nhanh vai trò của Trung Quốc ở khu vực có thể sẽ tạo ra những điều khó xử đối với ASEAN và các nước thành viên trong quan hệ với các đối tác chính như: Nhật Bản, Nga, Ấn Độ, EU… Hơn nữa, sự gia tăng sức ép của toàn cầu hoá, sự nổi lên của Trung Quốc, Ấn Độ và tăng cường hợp tác Đông Á có thể làm giảm đi sự hấp dẫn của ASEAN với tư cách là một khu vực kinh tế năng động, đoàn kết, ổn định chính trị và giữ vai trò chủ đạo trong các nỗ lực hợp tác khu vực Điều này có thể xảy ra, khi mà trong ASEAN còn tồn tại chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển kinh tế và năng lực cạnh tranh, quy chế hợp tác lỏng lẻo, còn nhiều khác biệt về thể chế pháp lý, lợi ích quốc gia dân tộc cùng với những bất ổn tiềm ẩn do xung đột về tôn giáo, sắc tộc, ly khai, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thảm hoạ thiên tai… Tất cả những điều trên có khả năng tạo ra nhiều vấn đề mới, cả cơ hội lẫn thách thức đối với hợp tác ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI
1.2 NHỮNG NHÂN TỐ TRONG ASEAN
Bước sang thế kỷ XXI, khu vực Đông Nam Á nói chung và các nước ASEAN nói riêng chứa đựng nhiều nhân tố tác động đến hợp tác và phát triển chung trong khu vực
1.2.1 Nhu cầu tăng cường hội nhập khu vực của ASEAN
Trang 34Bước vào thế kỷ XXI, ASEAN đã có những chuyển hoá căn bản về chất, hình thức và nội dung hợp tác, trở thành một tổ chức hợp tác khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển, có vai trò quan trọng đối với hoà bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở Đông Nam Á và trên thế giới Thành công lớn nhất là đã hình thành một ASEAN bao gồm 10 nước Đông Nam Á (mở rộng từ 5 thành viên ban đầu) cùng nhau bước vào thế kỷ XXI Về tổ chức bộ máy của Hiệp hội cũng có những thay đổi về chất (lập Ban thư ký ASEAN và Ban thư ký ASEAN quốc gia, tổ chức Hội nghị cấp cao thường niên) ASEAN đã thiết lập được quan hệ đối thoại với nhiều đối tác quan trọng trên thế giới, đồng thời khởi xướng thành công và giữ vai trò chủ đạo tại nhiều khuôn khổ hợp tác khu vực, nhất là ASEAN + 3; EAS (Cấp cao Đông Á) và ARF (Diễn đàn khu vực ASEAN) từ đó tranh thủ được sự ủng hộ và hỗ trợ của đối tác bên ngoài cho mục tiêu hoà bình và phát triển của ASEAN, đề cao vai trò và vị thế quốc tế của Hiệp hội
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, song ASEAN đến nay mới chỉ ở cấp độ 2 trong 4 cấp độ hội nhập khu vực từ thấp lên cao (Diễn đàn; Hiệp hội; Cộng đồng và Liên minh) Cấp độ đó cho thấy mức độ liên kết, hợp tác khu vực của ASEAN còn khá lỏng lẻo, do đó, nhu cầu tăng cường hội nhập khu vực của ASEAN là một vấn đề bức xúc Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do ASEAN chịu tác động của nhiều nhân tố cả từ bên trong
và từ bên ngoài, nhất là do sự đa dạng về trình độ phát triển, chính trị - xã hội, lịch sử, văn hoá, tôn giáo… Khả năng và nguồn lực của ASEAN cũng có hạn,
vì hầu hết các nước thành viên đều là những nước đang phát triển vừa và nhỏ
Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của ASEAN cồng kềnh, họp nhiều nhưng kém hiệu quả; đề ra nhiều chương trình hợp tác và kế hoạch hành động, nhưng việc thực hiện và hiệu quả hợp tác còn hạn chế Do tính đa dạng cao nên ASEAN thường gặp không ít khó khăn trong việc tăng cường hơn nữa sự "thống nhất trong đa dạng" Ngoài ra, những vấn đề nảy sinh trong
Trang 35tình hình nội bộ của nhiều nước thành viên và trong quan hệ giữa các nước với nhau cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đoàn kết và hợp tác ASEAN
Trong khi đó, những chuyển biến nhanh chóng và phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, nhất là tác động của các nước lớn cũng như quá trình toàn cầu hoá cũng tạo thêm nhiều thách thức mới đối với quá trình hội nhập khu vực hợp tác và phát triển của ASEAN
Mặc dù còn nhiều khác biệt, hạn chế với những khó khăn thách thức trong hợp tác cùng phát triển, nhưng Chính phủ các nước ASEAN trong những năm qua đã có nhiều nỗ lực thể hiện quyết tâm đẩy nhanh hợp tác, liên kết hội nhập khu vực lên một cấp độ mới - xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 Để đạt được mục tiêu đó, các nhà lãnh đạo ASEAN thấy rõ cần xác lập thế sự cân bằng trong quan hệ với các nước lớn, tạo lập sự ổn định, duy trì hoà bình, thực hiện hoà hợp, hội nhập, hợp tác phát triển trong Đông Nam Á và giữa Đông Nam Á với thế giới bên ngoài Trong thập niên đầu thế
kỷ XXI ASEAN cần duy trì và phát triển hơn nữa vai trò và động lực của mình ở Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF); duy trì giải quyết hoà bình hiệu quả các tranh chấp về quyền lợi trên biển Đông; thu hút nhiều hơn nữa các nước ngoài ASEAN cùng tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC), tạo lập môi trường an ninh chính trị và hợp tác khu vực có cơ
sở ổn định vững bền; nỗ lực hợp tác với các đối tác và liên kết khu vực; thu hẹp các khoảng cách phát triển, giảm thiểu bất đồng, hạn chế mâu thuẫn về lợi ích; tăng cường liên kết và mở rộng hợp tác liên khu vực để hội nhập sâu rộng, hiện thực hoá về cơ bản các chương trình, mục tiêu hợp tác đặt ra… Đoàn kết đồng thuận trong ASEAN, phát huy tối đa nội lực độc lập tự chủ kết hợp tranh thủ có nguyên tắc sự hỗ trợ phát triển của cộng đồng quốc tế là cơ
sở nền tảng để ASEAN phát triển mạnh hơn, đồng đều hơn Nhân tố quyết định đối với sự phát triển và liên kết của ASEAN trong những năm tới đây là duy trì hoà bình an ninh trong khu vực, là sự ổn định chính trị - xã hội ở từng
Trang 36quốc gia Nhân tố thiết yếu thúc đẩy sự phát triển liên kết ASEAN mang bản sắc của tổ chức khu vực Đông Nam Á "thống nhất trong đa dạng" là thích nghi với môi trường quốc tế mới Tăng cường đoàn kết và hợp tác giữa các thành viên của Hiệp hội theo những nguyên tắc cơ bản của ASEAN, tăng cường hợp tác với các đối tác chiến lược ngoài ASEAN, mở rộng quan hệ với cộng đồng quốc tế vừa là nhu cầu vừa là điều kiện để đảm bảo cho ASEAN tồn tại và phát triển năng động trong những thập niên đầu thế kỷ XXI
1.2.2 Nhu cầu ổn định và phát triển của các nước thành viên
Hoà bình và ổn định luôn là khát vọng của các dân tộc, là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển Điều đó càng đúng với Đông Nam Á - một khu vực từng chịu nhiều đau khổ do chiến tranh, xung đột gây ra Những năm cuối của thập niên 90 thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân nên kinh tế khu vực ngày càng bộc lộ rõ dấu hiệu khó khăn Năm 1997, các nước Đông Nam Á trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ gay gắt, tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực Cùng với sự sa sút về kinh tế kéo dài do cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ (1997-1998) gây ra và sự tích tụ lâu ngày các mâu thuẫn, các khác biệt về quyền lợi giữa các thành viên, nhóm cộng đồng trong xã hội, cộng với sự can thiệp của các thế lực bên ngoài và ảnh hưởng mặt trái của cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu do Mỹ phát động đã làm gia tăng xu hướng ly khai dân tộc, khủng bố, bạo lực ở nhiều nước trong khu vực nhất là ở Inđônêxia, Philippin và Thái Lan Những tác động trên đẩy một bộ phận dân cư, nhóm tộc người lâm vào cảnh bần cùng hoá và dễ bị lợi dụng để trở thành "công cụ" gây rối, bạo loạn của các thế lực chính trị cực đoan Tình trạng nghèo đói, sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, tình trạng thiếu dân chủ, tham nhũng ít được cải thiện khiến cho xung đột xã hội, trong đó có sắc tộc và ly khai dân tộc ngày càng diễn biến phức tạp, làm mất
ổn định chính trị - xã hội, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế của nhiều nước ASEAN
Trang 37Thêm vào đó, tại biển Đông còn nổi lên vấn đề tranh chấp chủ quyền, quyền lợi về khai thác dầu khí, tài nguyên biển và phòng thủ quốc tế của 5 nước và một vùng lãnh thổ Sự tranh chấp các nguồn nước sạch dành cho thuỷ điện và sinh hoạt trên các con sông, nhất là trên sông Mê Công cũng có chiều hướng gia tăng Ngoài ra, sự gia tăng ngân sách quốc phòng, mua sắm vũ khí hiện đại, tiến hành nhiều cuộc tập trận với quy mô lớn trong bối cảnh kinh tế khó khăn cũng là một đặc điểm khá nổi bật ở nhiều nước ASEAN hiện nay*
Những biểu hiện mới này đang làm cho tình hình chính trị - an ninh ở khu vực Đông Nam Á chứa đựng nhiều biến số phức tạp, dễ thay đổi và ngày càng trở nên khó dự đoán Do vậy, nhu cầu hoà bình, ổn định và phát triển là đòi hỏi bức xúc của các nước ASEAN khi bước vào thế kỷ XXI
Về phần mình, trong những năm qua các nước ASEAN đã kiên trì và
nỗ lực phấn đấu cho hoà bình, ổn định của khu vực, thông qua việc tạo dựng
và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị giữa các nước thành viên cũng như các nước ngoài ASEAN trên tinh thần tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, hợp tác cùng có lợi, giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng thương lượng hoà bình Để đối phó với những thách thức gây mất ổn định nêu trên, các nước ASEAN cần tăng cường đoàn kết, thống nhất và thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác trong và ngoài ASEAN trên tinh thần hiểu biết, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau Đây chính là nhu cầu bức thiết và là phương cách tốt nhất để giữ vững hoà bình, ổn định, tạo thuận lợi cho sự phát triển phồn vinh trong khu vực khi bước vào thế kỷ XXI
* Ngân sách quốc phòng của Inđônêxia tăng từ 1,6 tỷ USD năm 2002 lên 1,8 tỷ USD vào năm 2003 và trên 2 tỷ vào năm 2004 Malaysia tăng chi phí quốc phòng khoảng 2,5 tỷ USD năm 2003 và từ năm 2004 theo kế hoạch là chi khoảng 3-4 tỷ hàng năm Riêng đầu tư cho việc mua sắm vũ khí hiện đại trong năm 2004 tăng hơn năm 2003 là 423 triệu USD Đáng chú ý là Malaysia mua hàng loạt máy bay chiến đấu đa dạng và tên lửa hiện đại nhất của Nga và các tầu ngầm hiện đại của Pháp Trong những năm gần đây Philippin chi khoảng từ 1,2-1,5 tỷ USD cho quốc phòng, còn Singapo chi hàng năm khoảng 5 tỷ USD để mua sắm máy bay và tên lửa hiện đại.
Trang 38Tóm lại: Bước vào thế kỷ XXI là ASEAN bước vào một giai đoạn
phát triển mới của quá trình hợp tác và liên kết khu vực Quá trình này diễn
ra dưới tác động của hàng loạt các nhân tố khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài Trong số các nhân tố quốc tế, nổi bật lên hàng đầu là những thay đổi của cục diện chính trị thế giới, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ và toàn cầu hoá, sự điều chỉnh chính sách của các nước lớn đối với khu vực Những nhu cầu và chuyển biến từ bên trong ASEAN và khu vực Đông Nam Á như vị trí chiến lược của khu vực, nhu cầu ổn định hợp tác và phát triển, nhu cầu nâng cao hơn nữa vị thế của Đông Nam Á các xu hướng hợp tác là những nhân tố đã và đang tác động đan xen, đa chiều, phức tạp đối với quá trình hợp tác liên kết của ASEAN trong những thập niên đầu thế kỷ XXI
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG HỢP TÁC ASEAN TRONG
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
2.1 ĐƯỜNG LỐI HỢP TÁC VÀ HỘI NHẬP KHU VỰC CỦA ASEAN TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
Đường lối hợp tác và hội nhập khu vực của ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI không phải là một văn bản tổng thể, hoàn thiện được đưa ra một lần, mà đó là kết quả tổng hợp của các Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN từ cuối thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của các hội nghị này chúng ta có thể khái quát thành đường lối chung với đầy
đủ mục tiêu, nội dung và giải pháp cho hợp tác và hội nhập khu vực của ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI
2.1.1 Mục tiêu hợp tác và hội nhập của ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI
- Mục tiêu chiến lược: Nhằm cụ thể hóa "Tầm nhìn ASEAN năm 2020"
(1997), Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 9 (2003) tại Bali (Indonexia) đã nêu: Mục tiêu chiến lược của ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI là thành lập một Cộng đồng ASEAN liên kết mạnh, tự cường vào năm 2020 với
3 trụ cột chính là: Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC); Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và Cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN (ASCC)(11) Mục tiêu chiến lược "ASEAN tiến tới Cộng đồng toàn diện" của các nước ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI được tái khẳng định và thúc đẩy tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ XV tổ chức tại Cha am – Hua Hin (Thái Lan) tháng 10/2009, với chủ đề: "Cộng đồng hành động, Cộng đồng kếtnối, Cộng đồng nhân dân" Chủ đề này được nước chủ nhà Thái Lan cắt nghĩa: "Cộng
11 Dẫn theo: Hoàng Phúc Lâm – Trần Hiệp - Đinh Thanh Tú: Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới – Vấn đề – sự kiện", NXB Lý luận chính trị, H 2008, tr 42
Trang 40đồng hành động" là ASEAN có thể hành động một cách quả quyết và kịp thời
để giải quyết những thách thức bên trong và bên ngoài, cũng như những thách thức đối với an ninh kv và sự thịnh vương của nhân dân ASEAN "Một cộng đồng liên kết" là nơi hàng hóa và con người cũng như vốn và đầu tư có thể luân chuyển trong khu vực mà không gặp trở ngại "Một cộng đồng nhân dân"
là nơi nhân dân ASEAN có thể tham gia và hưởng thụ những lợi ích từ hội nhập khu vực mang lại(12)
Từ mục tiêu chiến lược nêu trên có thể phân thành các mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội sau:
- Mục tiêu chính trị: Tuyên bố hòa hợp ASEAN II (Tuyên bố Bali II)
(2003) nêu rõ: "Cộng đồng ASEAN thành lập dựa trên ba trụ cột là hợp tác an ninh chính trị, hợp tác kinh tế và hợp tác văn hóa xã hội, gắn bó chặt chẽ với nhau và cùng nhau theo đuổi mục tiêu đảm bảo hòa bình, ổn định và sự thịnh vượng chung trong khu vực"(13)
Mục tiêu này cũng được Hiến chương ASEAN (2007) (Điều 1, mục 1) tái khẳng định là: "Nhằm duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh, ổn định và tăng cường hơn nữa các giá trị hòa bình trong khu vực
- Mục tiêu kinh tế: Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II nêu: "… nhằm tạo ra
một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và cạnh tranh cao với sự tự
do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ và đầu tư vốn được di chuyển tự do hơn, phát triển kinh tế bình đẳng, giảm đói nghèo và khác biệt về kinh tế xã hội vào năm 2020"(14) Mục tiêu này được Hiến chương ASEAN (Chương 1, điều
1, mục 5, 6) tiếp tục làm rõ Mục tiêu kinh tế của hợp tác ASEAN là:
+ Xây dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, ổn định, thịnh vượng, cạnh tranh cao và hội nhập kinh tế; tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư hiệu quả; có sự tự do lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ và đầu tư; các