1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiềm năng du lịch hồ thủy điện hòa bình

24 1K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 139,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại phiên họp ngày 30/12/2011, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 2473/ QĐTTg phê duyệt chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đã đặt ra mục tiêu “Năm

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Du lịch là “Sứ giả của Hòa Bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia các dân tộc” Trên thế giới, du lịch hiện được xem là một trong những

ngành kinh tế hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc gia tham gia vì lợi ích kinh tế - xã hội mà nó mang lại Điều này càng thể hiện rõ hơn trước xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa

Nhận thức được vị trí cũng như vai trò quan trọng của ngành du lịch trong việc phát triển đất nước Tại phiên họp ngày 30/12/2011, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 2473/ QĐTTg phê duyệt chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đã đặt ra mục tiêu

“Năm 2020 du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở đồng bộ, hiện đại, chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và trên thế giới, phấn đấu năm 2030 Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển”.

Ngành du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng trong việc phát triển kinh tế cả nước nói chung và của tỉnh Hòa Bình nói riêng Hòa Bình là một vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa, gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Hòa Bình còn là quê hương của nền văn hóa thời tiền sử - nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng thế giới với hơn 70 di chỉ phân bố trong các thung lũng đá vôi của tỉnh, là minh chứng cho sự hình thành và phát triển của loài người Thiên nhiên

Trang 2

cũng ưu đãi ban tặng cho Hòa Bình nhiều danh lam thắng cảnh đẹp kỳ vĩ, những hang động, những cánh rừng nguyên sinh và hồ nước đầy thơ mộng, nơi đây có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống với nền văn hóa lâu đời là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch.

Đến với Hòa Bình du khách sẽ được biết đến hồ thủy điện Hòa Bình là một trong những khu có rất nhiều điểm du lịch Với sức người và thiên nhiên nơi đây đã tạo cho Hòa Bình một vùng lòng hồ và ven hồ thơ mộng với đầy

đủ các vịnh, đảo và bán đảo mà ở đó động thực vật quý hiếm được bảo tồn Thấp thoáng các bản Mường, Dao, Thái, H’mông rải rác ven hồ, ven thung lũng tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình

Tuy nhiên, cho đến nay việc đầu tư, khai thác, phát triển các loại hình du lịch ở hồ thủy điện Hòa Bình chưa mang đầy đủ những đặc trưng, tiềm năng vốn có của nó Do đó việc nghiên cứu nguồn tài nguyên du lịch này là rất quan trọng bởi nó sẽ đánh giá đúng thực trạng nguồn tài nguyên

mà nó góp phần vào việc hoạch định khả năng khai thác du lịch ở hồ thủy điện Hòa Bình

Chính vì những lý do trên mà em chọn đề tài “Tiềm năng du lịch hồ

thủy điện Hòa Bình”.

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu tiềm năng du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn hiện có của vùng lòng hồ và ven bờ của hồ thủy điện Hòa Bình

- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch hồ thủy điện Hòa Bình trong thời gian qua

Trang 3

- Xác định tiềm năng, cơ hội thách thức cho phát triển du lịch hồ thủy điện Hòa Bình.

- Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch hồ thủy điện Hòa Bình trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu tiềm năng du lịch, các hoạt động du lịch tại vùng hồ thủy điện Hòa Bình và một số địa điểm du lịch được chọn nghiên cứu trên địa bàn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tiềm năng lợi thế

và đánh giá thực trạng phát triển du lich ở hồ thủy điện Hòa Bình trong một số năm gần đây

Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại vùng hồ thủy điện Hòa

Bình tỉnh Hòa Bình

Về thời gian: số liệu được thu thập trong giai đoạn 2008 - 2011.

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giúp cho việc thực hiện khóa luận của mình được tốt hơn tôi có sử dụng một số phương phát nghiên cứu như sau:

- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát thực địa

- Phương pháp thu thập số liệu

Trang 4

- Phương pháp tổng hợp so sánh và phân tích thống kê.

5 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phục lục, bố cục khóa luận được chia thành

3 chương:

Chương 1: Khái quát về Hòa Bình và hồ thủy điện Hòa Bình

Chương 2: Thực trạng phát triển du lich ở hồ thủy điện Hòa Bình.Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch hồ thủy điện Hòa Bình

Trang 5

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HÒA BÌNH VÀ HỒ THỦY ĐIỆN HÒA BÌNH

1.1 Khái quát về tỉnh Hòa Bình

1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Tỉnh Hòa Bình có diện tích tự nhiên là 4.596,35 km², phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp thành phố Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Sơn

La và Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình, Hà Nam

Tỉnh Hòa Bình gồm có 10 huyện và 1 thành phố: Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy, Tân Lạc, Lạc Sơn, Cao Phong, Kỳ Sơn, Đà Bắc, Mai Châu

và thành phố Hòa Bình Trung tâm tỉnh lỵ đặt tại thành phố Hòa Bình, cách thủ đô Hà Nội 76 km theo quốc lộ 6 Tính đến năm 2008, toàn tỉnh

có 210 xã phường và thị trấn, dân số toàn tỉnh là: 832.543 người

* Điều kiện tự nhiên

Hòa Bình có địa hình núi cao, chia cắt phức tạp, độc dốc lớn và theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm

về phía Tây Bắc và vùng núi thấp nằm ở phía Đông Nam

Hòa Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa

Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi trên địa bàn phân bố tương đối đồng đều với các sông lớn như: sông Đà, sông Bôi, sông Bưởi, sông Bùi

1.1.2 Khái quát lịch sử hình thành và điều kiện kinh tế - văn hóa xã hội tỉnh Hòa Bình

1.1.2.1 Lịch sử hình thành

Tỉnh Hòa Bình được thành lập ngày 22 tháng 6 năm 1886 theo nghị định của Kinh lược Bắc Kỳ với tên gọi tỉnh Mường, tách phần đất có người Mường cư trú của tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình

Tỉnh lỵ đặt ở thị trấn Chợ Bờ (thuộc châu Đà Bắc) nên cũng gọi là tỉnh

Trang 6

Chợ Bờ, đến tháng 11 năm 1886 chuyển về xã Phương Lâm (thuộc huyện Bất Bạt, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây lúc bây giờ) Tháng 4 năm 1886

được đổi tên thành tỉnh Phương Lâm, do công sứ Pháp cai trị Ban đầu

gồm cả Mộc Châu, Yên Châu và Phù Yêu Châu (tháng 7 năm 1888 cắt 3 châu này nhập vào Đạo Quan binh thứ tư, sau nay thuộc Sơn La), cùng với vùng có dân tộc Mường thuộc hai châu Thanh Sơn và Yên Lập (tháng

10 năm 1888 cắt 2 châu này về tỉnh Hưng Hóa).

Ngày 18 tháng 3 năm 1891 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đổi tên tỉnh Phương Lâm thành tỉnh Hòa Bình với 6 châu: Lương Sơn, Kỳ

Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Mai Châu (châu Mai) và Đà Bắc.

Ngày 24 tháng 19 năm 1908, châu Lạc Thủy chuyển sang tỉnh Hà Nam và đến ngày 1 tháng 12 năm 1924, một số xã của Lạc Thủy được nhập vào phủ Nho Quan thuộc tỉnh Ninh Bình

Năm 1939, hợp nhất châu Mai (tức Mai Châu) và châu Đà Bắc thành

châu Mai Đà

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hòa Bình có 4 huyện: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Mai Đà, riêng huyện Lạc Thủy vẫn thuộc tỉnh Hà Nam, sau này mới trả về Hòa Bình Ba huyện của Hòa Bình

(Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn) thuộc Liên khu 3, trong khi huyện Mai Đà

lại thuộc Liên khu Việt Bắc từ tháng 11 năm 1949 cho đến ngày 9 tháng 8 năm 1950 mới trả về Liên khu 3

Ngày 21/9/1956, huyện Mai Đà chia thành 2 huyện: Đà Bắc ở phía bắc sông Đà và Mai Châu ở phía nam sông Đà

Ngày 15/10/1957 huyện Lạc Sơn chia thành 2 huyện: Lạc Sơn và Tân Lạc

Ngày 17/4/1959 huyện Lương Sơn chia thành 2 huyện: Lương Sơn và Kim Bôi

Ngày 17/8/1964 huyện Lạc Thủy chia thành 2 huyện: Lạc Thủy và Yên Thủy

Trang 7

Ngày 27 tháng 12 năm 1975 tỉnh Hòa Bình hợp nhất vởi tỉnh Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình Theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ 9 ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Hà Sơn Bình tách thành 2 tỉnh Hòa Bình và Hà Tây Khi đó tỉnh có diện tích là 4.697km², với dân số 670.000 người, gồm 1 thị xã Hòa Bình và 9 huyện: Đà Bắc, Mai Châu, Lương Sơn,

Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Kim Bôi, Tân Lạc, Yên Thủy

Tháng 12 năm 2001 huyện Kỳ Sơn chia thành 2 huyện: Kỳ Sơn và Cao Phong

Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình

và Yên Trung đều nằm ở phía Bắc của huyện Lương Sơn, được tách ra và sát nhập vào thành phố Hà Nội

1.1.2.2 Điều kiện về Kinh tế - văn hóa

Kinh tế: Nền kinh tế Hòa Bình đang có những biến chuyển đáng kể

về mặt cơ cấu Tỉ trọng của các khu công nghiệp - xây dựng và dịch vụ liên tục tăng nhanh

Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh, cung cấp vật liệu xây dựng cho vùng và các tỉnh lân cận Công nghiệp chế biến nông - lâm sản phát triển như đường, tinh bột, chè khô, hoa quả đóng hộp

Văn hóa: Hòa Bình là một tỉnh đa dân tộc Các dân tộc vừa phát huy

bản sắc văn hóa của dân tộc mình, vừa hòa đồng trong cộng đồng Người Tày, Thái có nhiều nét giống nhau trong sinh hoạt và phong tục Dân tộc M-ường có nền văn học dân gian phong phú, hát ví Mường với nhạc trống đồng, nhạc cồng chiêng, trường ca Đẻ Đất Đẻ Nước Dân tộc Thái có làn

điệu dân ca Thái tinh tế (hát khắp Thái) giàu hình tượng Múa xòe Thái là

điệu múa mang tính chất cộng đồng cao Người H'mông có múa khèn, múa

ô Đặc biệt uống rượu cần là một nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu được trong các dịp lễ tết, hội hè, tiếp khách quý của người Mường và Thái Các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình có rất nhiều lễ hội như lễ hội cầu mát, lễ hội cầu

Trang 8

phúc bản Mường, lễ cơm mới, lễ khẩn chiêm, hội xéc bùa, hội xên bản, xên Mường, hội cầu mưa

1.1.3 Những tiềm năng cơ bản du lịch tỉnh Hòa Bình

1.1.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Với địa hình tương đối phức tạp có nhiều đồi núi xen kẽ nhau do đó

đã hình thành các thác nước, hang động đẹp có cả giá trị về khảo cổ học, nhiều hồ nối tiếp nhau hết sức hùng vĩ và thơ mộng Khu liên hồ Phú Lão huyện Lạc Thuỷ; động Tiên Phi thành phố Hòa Bình; động Hoa Tiên, thác Lũng Vân huyện Tân Lạc

Tài nguyên rừng, động thực vật thảm che phủ thực vật ở Hòa Bình cũng hết sức phong phú, cùng với nhiều khoáng sản quý, quặng màu đặc biệt là nguồn nước khoáng Kim Bôi… phục vụ đắc lực cho du lịch địa phương

Những rừng có giá trị khai thác phục vụ cho du lịch có thể kể đến đó

là rừng lim, rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ Điều đặc biệt ở Hòa Bình

đó là hồ nước sông Đà mênh mông với hàng trăm hòn đảo nhỏ kết hợp với đập thuỷ điện tạo thành một cảnh quan và mô hình kinh tế thuỷ năng - thuỷ sản - lâm sản có đầy đủ thu hút khách du lịch trên mọi phương diện

1.1.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Nền văn hoá Hòa Bình nổi tiếng có nhiều di tích chỉ khảo cổ, có nhiều truyền thuyết độc đáo, hấp dẫn như: Sử thi đẻ đất, đẻ nước; truyền thuyết ông Đùng bà Đùng… và cả các di tích lịch sử văn hoá, lịch sử cách mạng được xếp hạng tiêu biểu như :

Trang 9

có các nguồn ẩm thực với các món ăn phong phú dân tộc như cơm Lam, ượu Cần, rượu sữa…

r-Lễ hội ở Hòa Bình cũng đa dạng và mang đậm bản sắc văn hoá của các dân tộc Lễ hội Cồng chiêng cầu phúc của bản Mường, lễ hội Chá Chiêng cầu mưa của dân tộc Tày, Thái…

Ngoài những tài nguyên nhân văn thuộc nền văn hoá Hòa Bình còn có tài nguyên là các công trình kiến trúc do con người xây dựng và đặc biệt

đó là thuỷ điện Hòa Bình - công trình thuỷ điện lớn nhất Đông Nam Á với các đường hầm, tổ máy, mặt đập và tượng Bác Hồ

1.2 Hồ thủy điện Hòa Bình

1.2.1 Qúa trình hình thành và phát triển

Hồ thủy điện Hòa Bình hay thường gọi là hồ Hòa Bình nằm trên dòng sông Đà thuộc tỉnh Hòa Bình nằm trong địa giới của 17 xã, thuộc 5 huyện với tổng chiều dài 70 km Phía Bắc thuộc huyện Đà Bắc, phía Nam thuộc huyện Tân Lạc, phía Đông Bắc thuộc thành phố Hòa Bình, phía Đông Nam thuộc huyện Cao Phong, phía Tây và Tây Nam thuộc huyện Mai Châu Hồ thủy điện Hòa Bình là hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam có chiều dài trên 230 km từ Hòa Bình lên Sơn La Hồ được hình thành từ việc đắp đập ngăn sông, chinh phục thiên nhiên của nhân dân Việt Nam ở thế kỷ XX

1.2.2 Những tiềm năng phát triển du lịch trên khu vực Hồ thủy điện Hòa Bình

* Vịnh Suối Hoa – Động Hoa Tiên

Vịnh Suối Hoa: là hồ nước rộng (Khoảng 1000 ha), nước trong hồ quanh năm trong xanh, núi non trùng điệp, mây trắng bồng bềnh và hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ, hai bên bờ ẩn hiện những bản dân tộc đã tạo nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình

Động Hoa Tiên: Là sản phẩm của tự nhiên với không gian thoáng rộng, những nhũ đá hình thù phong phú, với vô vàn khối nhũ lớn nhỏ, tạo nên một cảnh sắc hang động kì thú, đẹp mắt, mà đặc sắc đa dạng, luôn thu

Trang 10

hút được tính thích khám phá, nghiên cứu và chiêm ngưỡng những nét đẹp của thiên nhiên.

* Đền Chúa Thác Bờ

Đền Bờ là điểm du lịch tín ngưỡng từ hàng trăm năm nay của dân tộc Kinh, Mường Nơi đây được đánh giá là hạt nhân quan trọng của khu du lịch hồ thủy điện Hòa Bình

Lễ hội thường được mở vào ngày mồng 7 tháng giêng hàng năm Ngôi đền

có 38 pho tượng lớn, nhỏ, trong đó có 2 pho tượng đồng là tượng thờ chính

* Bản làng dân tộc Mường – Giang Mỗ

- Bản cách trung tâm thành phố Hòa Bình 12 km dọc theo đường quốc

lộ 6 cũ

- Nằm ở xã Bình Thanh, ngay dưới chân núi Mỗ, nơi đây vẫn còn giữ nguyên bản từ nhà của đến nếp sinh hoạt, hệ thống dẫn nước, cối giã gạo…Kiến trúc nhà ở: Sàn nhà làm bằng gỗ, luông tre và các loại vật liệu địa phương Nhà được dựng trên các chân đá đẽo lõm, chôn cách mặt đất

5 – 7 cm Cột nhà làm bằng những thân gỗ tròn có đường kính từ 20 –

30 cm Xà, kèo cũng được làm bằng gỗ Mái nhà sàn được lập bằng cỏ tranh Sàn nhà được lát bằng những tấm gỗ hoặc những phiên luồng, bương, nứa

Trang phục: Trang phục nam giới là những bộ cánh màu chàm, xẻ ngực cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái Trong

lễ hội dùng áo lụa màu tím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài khoác

Trang 11

áo choàng đen dài tới gối, cài cúc nách ở sườn phải Phụ nữ Mường ường đội khăn trắng hình chữ nhật, mặc yếm và áo cánh ngắn có xẻ ngực

th-(có nơi sẻ vai ít cài cúc) Váy của phụ nữ Mường khá dài so với những

chiếc cặp váy được dệt bằng tơ nhuộm màu, tạo những hoa văn với những họa tiết rất đẹp

* Lễ hội truyền thống

Hội Phường Sắc Bùa (xéc bùa) của người Mường

Theo người Mường, sắc bùa hay còn gọi là xéc bùa, có nghĩa là xách cồng, là một hội vui có tính chất giải trí diễn ra vào dịp đầu năm mới ở những bản Mường để người ta cầu chúc nhau may mắn, mạnh khỏe Ngoài

ra, những dịp vui khác người ta cũng sắc bùa như đón khách quý từ xa đến, dựng nhà mới, đón dâu hoặc những dịp vui khác

Lễ cơm mới của người M ường

Lễ hội này mang tính chất gia đình nhiều hơn là cộng đồng, được tổ chức sau mùa thu hoạch vào tháng 10 âm lịch Người Mường chọn những

mẻ lúa đầu tiên, sắm xôi, thịt cúng tổ tiên, Thành Hoàng và các vị thần đã phù hộ cho họ một mùa màng thắng lợi Vào ngày này, người Mường cũng trả công cho trâu, cho chó

Hội ném còn của ng ười Mư ờng

Ném Còn xa còn gọi là đánh Còn (đánh đu, đánh đáo) đây là một trò

chơi dân đặc biệt của những vùng Mường và một số dân tộc khác Trò chơi này được lưu truyền từ thời Hùng Vương nghĩa là từ khi còn các quan lang

và các cô Mị Nương Còn là một trò chơi quý phái của các tiểu thư con của các lạc hầu lạc trường

Còn là một trái cầu to bằng quả cam lớn được khâu bằng vải trong nhồi bông, hoặc có mềm, hoặc vải vụn, bề ngoài bọc vải mềm có tua ngũ sắc trông sặc sỡ và rất đẹp

Tổ chức ném Còn thường chọn trên một khoảng đất rộng người ta trồng một cây tre cao, trên thường treo một lá cờ ngũ sắc tiếp dưới có buộc

Trang 12

một vòng tre đường kính ước độ hơn một gang tay có cuốn giấy xanh đỏ xung quanh vòng.

Sân chơi kéo dài nhiều ngày và chính nơi đây cũng là những điểm hò hẹn gửi trao những ánh mắt để tạo mối nhân duyên

Lễ hội Chá Chiêng của người Thái

Lễ hội Chá Chiêng là lễ hội tín ngưỡng do ông mùn lớn tổ chức Ông mùn là người có uy tín trong cộng đồng người Thái qua việc chăm sóc phần hồn cho người dân Cứ ba năm, ông mùm lại tổ chức lễ tạ ơn Then Luông và các then khác trên Mường Trời Lễ vật dùng cho việc này đều do

các con nuôi, con ruồng (lục liểng, lục nà) đóng góp Lục liểng, lục nà là

những người đau ốm được ông trùm cúng khỏi trở thành người con phụ thuộc vào thầy mùn

Lễ hội Chá Chiêng được tổ chức vào dịp tháng giêng, tháng hai âm

lịch Ngày làm lễ do ông mùn chọn, tránh những ngày xấu (thường là ngày

lỵ Trước khi có đập thủy điện Hòa Bình, đền Thác Bờ được dựng ở đoạn ngang giữa của thác Bờ Sau này, khi xây dựng đập, nhân dân phải chuyển

Ngày đăng: 04/11/2015, 17:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w