Đến với Hòa Bình du khách sẽ được biết đến hồ thủy điện Hòa Bình là một trong những khu có rất nhiều điểm du lịch.. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu tiềm năng du lịch, cá
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là “Sứ giả của Hòa Bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia các dân tộc” Trên thế giới, du lịch hiện được xem là một trong những ngành kinh tế
hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốc gia tham gia vì lợi ích kinh tế - xã hội mà nó mang lại Điều này càng thể hiện rõ hơn trước xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa
Nhận thức được vị trí cũng như vai trò quan trọng của ngành du lịch trong việc phát triển đất nước Tại phiên họp ngày 30/12/2011, Thủ tướng chính phủ đã
ký quyết định số 2473/ QĐTTg phê duyệt chiến lược phát triển du lịch Việt Nam
đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đã đặt ra mục tiêu “Năm 2020 du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở đồng bộ, hiện đại, chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và trên thế giới, phấn đấu năm
2030 Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển”.
Ngành du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng trong việc phát triển kinh tế cả nước nói chung và của tỉnh Hòa Bình nói riêng Hòa Bình là một vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa, gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Hòa Bình còn là quê hương của nền văn hóa thời tiền sử - nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng thế giới với hơn 70 di chỉ phân bố trong các thung lũng đá vôi của tỉnh, là minh chứng cho sự hình thành và phát triển của loài người Thiên nhiên cũng ưu đãi ban tặng cho Hòa Bình nhiều danh lam thắng cảnh đẹp kỳ vĩ, những hang động, những cánh rừng nguyên sinh và hồ nước đầy thơ mộng, nơi đây có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống với nền văn hóa lâu đời
là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch
Đến với Hòa Bình du khách sẽ được biết đến hồ thủy điện Hòa Bình là một trong những khu có rất nhiều điểm du lịch Với sức người và thiên nhiên nơi đây
đã tạo cho Hòa Bình một vùng lòng hồ và ven hồ thơ mộng với đầy đủ các vịnh,
Trang 2đảo và bán đảo mà ở đó động thực vật quý hiếm được bảo tồn Thấp thoáng các bản Mường, Dao, Thái, H’mông rải rác ven hồ, ven thung lũng tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình.
Tuy nhiên, cho đến nay việc đầu tư, khai thác, phát triển các loại hình du lịch ở hồ thủy điện Hòa Bình chưa mang đầy đủ những đặc trưng, tiềm năng vốn
có của nó Do đó việc nghiên cứu nguồn tài nguyên du lịch này là rất quan trọng bởi nó sẽ đánh giá đúng thực trạng nguồn tài nguyên mà nó góp phần vào việc hoạch định khả năng khai thác du lịch ở hồ thủy điện Hòa Bình
Chính vì những lý do trên mà em chọn đề tài “Tiềm năng du lịch hồ thủy
điện Hòa Bình”.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu tiềm năng du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn hiện có của vùng lòng hồ và ven bờ của hồ thủy điện Hòa Bình
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch hồ thủy điện Hòa Bình trong thời gian qua
- Xác định tiềm năng, cơ hội thách thức cho phát triển du lịch hồ thủy điện Hòa Bình
- Đề xuất các giải pháp phát triển du lịch hồ thủy điện Hòa Bình trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tiềm năng du lịch, các hoạt động du lịch tại vùng hồ thủy điện Hòa Bình và một số địa điểm du lịch được chọn nghiên cứu trên địa bàn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu tiềm năng lợi thế và đánh
giá thực trạng phát triển du lich ở hồ thủy điện Hòa Bình trong một số năm gần đây Từ đó đưa ra những giải pháp cơ bản để phát triển du lịch ở hồ thủy điện Hòa Bình trong những năm tới
Trang 3Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại vùng hồ thủy điện Hòa Bình
tỉnh Hòa Bình
Về thời gian: số liệu được thu thập trong giai đoạn 2008 - 2011.
4 Phương pháp nghiên cứu
Để giúp cho việc thực hiện khóa luận của mình được tốt hơn tôi có sử dụng một số phương phát nghiên cứu như sau:
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Các điểm du lịch vùng hồ thủy điện
Hòa Bình nằm rải rác ở huyện Đà Bắc, Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu và thành phố Hòa Bình Để đạt được mục đích đề ra, trong các khu vực trên tôi đã chọn ra một số điểm đặc thù để khảo sát và thu thập các đặc điểm của từng tài nguyên du lịch đồng thời tiến hành điều tra du khách trong nước và quốc tế tại các địa điểm
du lịch Cụ thể, tôi đã chọn các điểm phục vụ cho việc nghiên cứu là: Điểm du lịch đền Chúa Thác Bờ, Động Thác Bờ, Vịnh Suối Hoa - Động Hoa Tiên, Bản dân tộc Mường ở Giang Mỗ Tôi chọn các khu du lịch này là điểm trọng tâm do tính chất đặc thù của các tài nguyên hiện đang được khai thác phục vụ du lịch và được sự quan tâm đặc biệt của ngành du lịch tỉnh cũng như sự quan tâm của các du khách trong và ngoài nước
- Phương pháp khảo sát thực địa: Là phương pháp quan sát thực tế, phỏng
vấn nhằm xác nhận, kiểm tra các thông tin đã thu thập được từ trước và cập nhật thông tin mới nhất
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Nguồn thông tin thứ cấp: Thu thập số liệu từ các báo cáo kinh tế, xã hội của tỉnh, của các sở, ban ngành và của các huyện, các khu du lịch, niên giám thống kê của tỉnh và của cả nước, các tài liệu, công trình nghiên cứu đã được công bố, các chủ trương chính sách về khai thác tiềm năng du lịch của Đảng và Nhà nước
+ Nguồn thông tin sơ cấp: Số liệu được thu thập qua việc điều tra, phỏng vấn
du khách về những vấn đề liên quan đến mục đích và nội dung nghiên cứu theo các
Trang 4phiếu điều tra đã được chuẩn bị sẵn
- Phương pháp tổng hợp so sánh và phân tích thống kê: Phương pháp này sử
dụng để so sánh, đánh giá kết quả kinh doanh du lịch qua các năm, giữa các khu du lịch trong cùng năm và giữa các loại hình du lịch khác nhau,…
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phục lục, bố cục khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về Hòa Bình và hồ thủy điện Hòa Bình
Chương 2: Thực trạng phát triển du lich ở hồ thủy điện Hòa Bình
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch hồ thủy điện Hòa Bình
Trang 5Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HÒA BÌNH VÀ HỒ THỦY ĐIỆN HÒA BÌNH
1.1 Khái quát về tỉnh Hòa Bình
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Hòa Bình là một tỉnh miền núi, nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc của tổ quốc có
vị trí địa lý quan trọng của vùng chuyển tiếp từ đồng bằng lên miền núi, điểm trung chuyển sức hút ảnh hưởng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của một vùng trung tâm lớn là thủ đô Hà Nội Tỉnh Hòa Bình có diện tích tự nhiên là 4.596,35 km², nằm trong giới hạn 20°19’ - 21°08’ vĩ bắc và 105°48’ - 105°40’ kinh độ đông, phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía Đông giáp thành phố Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Sơn
La và Thanh Hóa, phía Nam giáp tỉnh Ninh Bình, Hà Nam 1
Tỉnh Hòa Bình gồm có 10 huyện và 1 thành phố: Lương Sơn, Kim Bôi, Lạc Thủy, Tân Lạc, Lạc Sơn, Cao Phong, Kỳ Sơn, Đà Bắc, Mai Châu và thành phố Hòa Bình Trung tâm tỉnh lỵ đặt tại thành phố Hòa Bình, cách thủ đô Hà Nội 76
km theo quốc lộ 6 Tính đến năm 2008, toàn tỉnh có 210 xã phường và thị trấn, dân
số toàn tỉnh là: 832.543 người 2
* Điều kiện tự nhiên.
Hòa Bình với vị trí là tỉnh miền núi, tiếp giáp với phía tây đồng bằng sông Hồng, Hòa Bình có địa hình núi cao, chia cắt phức tạp, độc dốc lớn và theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, phân chia thành 2 vùng: vùng núi cao nằm về phía Tây Bắc
có độ dốc trung bình từ 600 – 700 m, địa hình hiểm trở, diện tích 212.740 ha, chiếm 44,8% diện tích toàn vùng; vùng núi thấp nằm ở phía Đông Nam, diện tích 262.202 ha, chiếm 55,2% diện tích toàn tỉnh, địa hình gồm các dải núi thấp, bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20° - 25°, độ cao trung bình từ 100 – 200 m 3
21, Sở Văn Hóa – Thể Thao và Du lịch, Du lịch văn hóa Hòa Bình, Thiết kế và in Công ty cổ phần truyền thông
Hoàng Kim, 2009, trang 5.
Trang 6Hòa Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình hàng năm trên 23°C Tháng 7 có nhiệt độ cao nhất trong năm, trung bình 27° - 29°C, tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, trung bình 15,5°C – 16,5°C 4.
Khí hậu Hòa Bình được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa
- Mùa mưa (nóng ẩm, mưa nhiều): Thường bắt đầu vào tháng 5 tới cuối tháng
10 Lượng mưa trung bình năm trong mùa mưa đạt 1.700 – 2.500 mm, chiếm trên 90% tổng lượng mưa cả năm, riêng vùng núi cao Mai Châu và đồng bằng mùa mưa thường đến muộn từ 15 – 20 ngày Đặc biệt trong 3 khu vực là Kim Bôi, Chi Nê và Yên Thủy có tổng lượng mưa mùa cũng như có tổng lượng mưa năm và mùa mưa nhỏ hơn cả
- Mùa khô (lạnh, khô): Thường bắt đầu từ tháng 11 năm trước tới tháng 4 năm sau, với tổng lượng mưa trung bình nhiều năm đạt 150 – 250 mm, chỉ chiếm khoảng 10% tổng lượng mưa năm, đặc biệt vào các tháng chính đông (tháng 12, 1, 2) tổng lượng mưa tháng phổ biến ở các nơi chỉ đạt xấp xỉ 30 mm
Nhìn chung khí hậu Hòa Bình mát mẻ quanh năm lại có nhiều núi cao, phong cảnh thiên nhiên hữu tình nên thích hợp cho việc nghỉ ngơi du lịch
Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi trên địa bàn phân bố tương đối đồng đều với các sông lớn như: sông Đà, sông Bôi, sông Bưởi, sông Bùi
1.1.2 Khái quát lịch sử hình thành và điều kiện kinh tế - văn hóa xã hội tỉnh Hòa Bình
1.1.2.1 Lịch sử hình thành
Tỉnh Hòa Bình được thành lập ngày 22 tháng 6 năm 1886 theo nghị định của Kinh lược Bắc Kỳ với tên gọi tỉnh Mường, tách phần đất có người Mường cư trú của tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình Tỉnh lỵ đặt ở thị trấn Chợ Bờ
(thuộc châu Đà Bắc) nên cũng gọi là tỉnh Chợ Bờ, đến tháng 11 năm 1886 chuyển
về xã Phương Lâm (thuộc huyện Bất Bạt, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây lúc bây giờ)
Tháng 4 năm 1886 được đổi tên thành tỉnh Phương Lâm, do công sứ Pháp cai trị
Trang 7Ban đầu gồm cả Mộc Châu, Yên Châu và Phù Yêu Châu (tháng 7 năm 1888 cắt 3 châu này nhập vào Đạo Quan binh thứ tư, sau nay thuộc Sơn La), cùng với vùng
có dân tộc Mường thuộc hai châu Thanh Sơn và Yên Lập (tháng 10 năm 1888 cắt
2 châu này về tỉnh Hưng Hóa).
Ngày 18 tháng 3 năm 1891 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đổi tên tỉnh Phương Lâm thành tỉnh Hòa Bình với 6 châu: Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn,
Lạc Thủy, Mai Châu (châu Mai) và Đà Bắc.
Ngày 24 tháng 19 năm 1908, châu Lạc Thủy chuyển sang tỉnh Hà Nam và đến ngày 1 tháng 12 năm 1924, một số xã của Lạc Thủy được nhập vào phủ Nho Quan thuộc tỉnh Ninh Bình
Năm 1939, hợp nhất châu Mai (tức Mai Châu) và châu Đà Bắc thành châu
Mai Đà
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hòa Bình có 4 huyện: Lương Sơn,
Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Mai Đà, riêng huyện Lạc Thủy vẫn thuộc tỉnh Hà Nam, sau này
mới trả về Hòa Bình Ba huyện của Hòa Bình (Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn) thuộc
Liên khu 3, trong khi huyện Mai Đà lại thuộc Liên khu Việt Bắc từ tháng 11 năm
1949 cho đến ngày 9 tháng 8 năm 1950 mới trả về Liên khu 3 5
Ngày 21/9/1956, huyện Mai Đà chia thành 2 huyện: Đà Bắc ở phía bắc sông
Đà và Mai Châu ở phía nam sông Đà
Ngày 15/10/1957 huyện Lạc Sơn chia thành 2 huyện: Lạc Sơn và Tân Lạc.Ngày 17/4/1959 huyện Lương Sơn chia thành 2 huyện: Lương Sơn và Kim Bôi.Ngày 17/8/1964 huyện Lạc Thủy chia thành 2 huyện: Lạc Thủy và Yên Thủy.Ngày 27 tháng 12 năm 1975 tỉnh Hòa Bình hợp nhất vởi tỉnh Hà Tây thành tỉnh Hà Sơn Bình Theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII kỳ họp thứ 9 ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Hà Sơn Bình tách thành 2 tỉnh Hòa Bình và Hà Tây Khi
đó tỉnh có diện tích là 4.697 km², với dân số 670.000 người, gồm 1 thị xã Hòa Bình
Trang 8và 9 huyện: Đà Bắc, Mai Châu, Lương Sơn, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Kim Bôi, Tân Lạc, Yên Thủy.
Tháng 12 năm 2001 huyện Kỳ Sơn chia thành 2 huyện: Kỳ Sơn và Cao Phong
Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, 4 xã Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình và Yên Trung đều nằm ở phía Bắc của huyện Lương Sơn, được tách ra và sát nhập
vào thành phố Hà Nội
1.1.2.2 Điều kiện về Kinh tế - văn hóa
Kinh tế: Do đặc điểm địa lý tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng và thủ đô Hà
Nội, có điều kiện tự nhiên, đất đai, tài nguyên khoáng sản, đặc điểm văn hoá đa dạng và phong phú đã tạo điều kiện cho tỉnh Hòa Bình phát triển mạnh một số lĩnh vực kinh tế lợi thế
Nền kinh tế Hòa Bình đang có những biến chuyển đáng kể về mặt cơ cấu Tỉ trọng của các khu công nghiệp - xây dựng và dịch vụ liên tục tăng nhanh Sự phân
bố các cơ sở sản xuất trong tỉnh ngày càng hợp lý Các vùng chuyên canh đang được hình thành, tạo điều kiện tốt cho việc thực hiện các chương trình kinh tế Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh, cung cấp vật liệu xây dựng cho vùng và các tỉnh lân cận Công nghiệp chế biến nông - lâm sản phát triển như đường, tinh bột, chè khô, hoa quả đóng hộp
Bên cạnh đó, diện tích đất lâm nghiệp chiếm khoảng 55%, diện tích rừng đã phủ xanh 41% với nhiều vạt rừng kinh tế được phép trồng và khai thác phục vụ công nghiệp chế biến lâm sản Dựa trên địa thế tiếp giáp với trung tâm công nghiệp lớn là Hà Nội và tiềm năng lao động dồi dào, cộng thêm số lao động ở nông thôn chiếm 84%, trong khi thời gian sử dụng chỉ đạt 74%, do đó Hòa Bình có thể thuận lợi phát triển công nghiệp cơ khí điện tử, may mặc, giày da 6
Nhìn chung, kinh tế Hòa Bình vẫn là nền kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp
như-ng vai trò của cônhư-ng như-nghiệp và dịch vụ như-ngày cànhư-ng tănhư-ng
Trang 9Văn hóa: Hòa Bình là một trong những vùng đất mà các nhà khảo cổ học
chứng minh đã có người Việt cổ sinh sống cách đây hàng vạn năm Nơi đây còn đọng lại nhiều dấu ấn của một nền văn hóa Hòa Bình rực rỡ qua việc tìm thấy 47 chiếc trống đồng cổ trong đó có trống đồng Đông Sơn và Miếu Môn thuộc loại đẹp
và cổ
Hòa Bình là một tỉnh đa dân tộc Các dân tộc vừa phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc mình, vừa hòa đồng trong cộng đồng Người Tày, Thái có nhiều nét giống nhau trong sinh hoạt và phong tục Dân tộc Mường có nền văn học dân gian phong phú, hát ví Mường với nhạc trống đồng, nhạc cồng chiêng, trường ca Đẻ
Đất Đẻ Nước Dân tộc Thái có làn điệu dân ca Thái tinh tế (hát khắp Thái) giàu
hình tượng Múa xòe Thái là điệu múa mang tính chất cộng đồng cao Người H'mông có múa khèn, múa ô Đặc biệt uống rượu cần là một nét sinh hoạt văn hóa không thể thiếu được trong các dịp lễ tết, hội hè, tiếp khách quý của người Mường
và Thái Các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình có rất nhiều lễ hội như lễ hội cầu mát, lễ hội cầu phúc bản Mường, lễ cơm mới, lễ khẩn chiêm, hội xéc bùa, hội xên bản, xên Mường, hội cầu mưa
1.1.3 Những tiềm năng cơ bản du lịch tỉnh Hòa Bình
1.1.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Có vị trí địa lý thuận lợi, vùng khí hậu phong phú đã tạo cho Hòa Bình những tài nguyên thiên nhiên hết sức phong phú, đa dạng và đặc thù phục vụ cho du lịch.Với địa hình tương đối phức tạp có nhiều đồi núi xen kẽ nhau do đó đã hình thành các thác nước, hang động đẹp có cả giá trị về khảo cổ học, nhiều hồ nối tiếp nhau hết sức hùng vĩ và thơ mộng Khu liên hồ Phú Lão huyện Lạc Thuỷ; động Tiên Phi thành phố Hòa Bình; động Hoa Tiên, thác Lũng Vân huyện Tân Lạc Tài nguyên rừng, động thực vật thảm che phủ thực vật ở Hòa Bình cũng hết sức phong phú, cùng với nhiều khoáng sản quý, quặng màu đặc biệt là nguồn nước khoáng Kim Bôi … phục vụ đắc lực cho du lịch địa phương
Trang 10Những rừng có giá trị khai thác phục vụ cho du lịch có thể kể đến đó là rừng lim, rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ.
Điều đặc biệt ở Hòa Bình đó là hồ nước sông Đà mênh mông với hàng trăm hòn đảo nhỏ kết hợp với đập thuỷ điện tạo thành một cảnh quan và mô hình kinh tế thuỷ năng - thuỷ sản - lâm sản có đầy đủ thu hút khách du lịch trên mọi phương diện
1.1.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Nền văn hoá Hòa Bình nổi tiếng có nhiều di tích di chỉ khảo cổ, có nhiều truyền thuyết độc đáo, hấp dẫn như: Sử thi đẻ đất, đẻ nước; truyền thuyết ông Đùng bà Đùng… và cả các di tích lịch sử văn hoá, lịch sử cách mạng được xếp hạng tiêu biểu như :
- Di tích khảo cổ: Động Phú Lão huyện Lạc Thuỷ thuộc niên đại tầng văn
hoá cách đây 10 vạn năm có nhiều xương răng động vật đã hoá thạch nằm trong trầm tích Hang Muối huyện Tân Lạc là nơi cư trú của người nguyên thuỷ vào thời đại đá giữa thuộc nền văn hoá Hòa Bình có niên đại cách đây 7 nghìn đến 10 nghìn năm Hang Khoài thuộc huyện Mai Châu là di tích chỉ khảo cổ thuộc thời đại đá giữa cách đây 11.000 đến 14.000 năm và các khu mộ cổ ở Kim Bôi, Mai Châu như khu mộ cổ Đống Thếch, Kim Truy 7
- Di tích lịch sử văn hoá: Đền, miếu Trung Báo huyện Kim Bôi thờ các danh
thần thiên tướng Đại Vương Tản Viên Sơn Thư Vương, Hiền Thánh Khuông Quốc Hiểu Ứng Vương, Mẫu Thiên Tiên Bảo Hoa công chúa, Chùa Hang (Yên Thuỷ) trong hang đá các tượng phật tạc từ thế kỷ XVIII là di sản độc đáo thể hiện nhân bản hiếm khi của dân tộc Mường, cũng ở huyện này có hang Chùa là nơi cư trú của người nguyên thuỷ - thuộc nền văn hoá Hòa Bình Động Mường Chiềng thuộc huyện Tân Lạc có chính, tả, hữu, hậu cung với nhiều nhũ đá, măng đá, cột đá kỳ thú Ngoài ra còn động Tiên Phi (thành phố Hòa Bình); động Đá Bạc, Mãn Nguyện
Trang 11(Lương Sơn); hang Nước, động Thiên Tôn (Yên Thuỷ): hang Mỏ Luông (Mai Châu)… là những hang động mang nhiều dấu ấn thần tiên kỳ thù 8.
- Di tích lịch sử cách mạng: nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã nhất tề đứng
lên làm cách mạng đã góp phần cùng cả nước đánh đổ thực dân đế quốc và phong kiến các di tích lịch sử âm vang mãi với những chiến công như:
+ Chiến khu Mường Khói - thuộc huyện Lạc Sơn đã kéo cờ khởi nghĩa 8/1945 giành chính quyền ở châu Lạc Sơn
+ Khu căn cứ Hiền Lương huyện Đà Bắc nơi phong trào cách mạng huấn luyện cán bộ quân sự Ngày 22/8/1945 lực lượng tự vệ đã phối hợp với quân chính quy giành chính quyền
+ Di tích Dốc Tra xã Toàn Sơn huyện Đà Bắc nơi lưu giữ chiến công của đội
du kích Toàn Sơn và anh hùng liệt sĩ Triệu Phúc Lịch 9
Ngoài ra khu căn cứ cách mạng Mường Diềm (Đà Bắc), khu căn cứ cách mạng Cao Phong, đài tượng niệm anh hùng liệt sĩ Cù Chính Lan ở Giang Mỗ Bình Thanh và nhà tù Hòa Bình
Hòa Bình còn là cái nôi của nhiều dân tộc sinh sống (Mường - Kinh - Thái - Dao - H’mông…) chứa đựng đầy ắp nguồn gốc bản sắc văn hoá và những làng nghề truyền thống như: dệt thổ cẩm, đan, thêu cùng với trang phục hấp dẫn của người Mường, người Thái, người H’mông vẫn giữ được nét đặc sắc riêng, được phân biệt rõ nhất là trang phục của người phụ nữ từ kiểu dáng, màu sắc, họa tiết hoa văn Ngoài ra, còn có các nguồn ẩm thực với các món ăn phong phú dân tộc như cơm Lam, rượu Cần, rượu sữa…
Lễ hội ở Hòa Bình cũng đa dạng và mang đậm bản sắc văn hoá của các dân tộc Lễ hội Cồng chiêng cầu phúc của bản Mường, lễ hội Chá Chiêng cầu mưa của dân tộc Tày, Thái…
8
Trang 12Âm nhạc và múa ở Hòa Bình tiềm ẩn một khả năng lớn để phát triển về múa người Mường đặc trưng với múa xéc bùa, múa chuông, múa đắm đuống Người Thái múa xòe, nhảy sạp Người H’mông múa khèn bè, múa ô Về âm nhạc, người Mường có hát mời trầu, hát vè Người Thái còn hát gọi bạn, gọi người yêu Người H’mông thể hiện qua khèn, đàn môi Ngoài ra, còn có nhiều điệu hát ru, hát giao duyên của người H’mông và các dân tộc khác Còn nhiều những nhạc cụ, đạo cụ khác nếu biết khi khai thác và phát triển thì chắc chắn sẽ hấp dẫn đối với khách du lịch đến với Hòa Bình
Ngoài những tài nguyên nhân văn thuộc nền văn hoá Hòa Bình còn có tài nguyên là các công trình kiến trúc do con người xây dựng và đặc biệt đó là thuỷ điện Hòa Bình - công trình thuỷ điện lớn nhất Đông Nam Á với các đường hầm, tổ máy, mặt đập và tượng Bác Hồ Đây là công trình không những mang lại lợi ích về thuỷ điện mà còn có lợi ích về thuỷ lợi và điều hòa mưa lũ và là một trong những điểm thu hút khách đến Hòa Bình, đặc biệt là khách đi với mục đích nghiên cứu.Hòa Bình có tài nguyên phong phú để phát triển du lịch và sản phẩm du lịch
sẽ có đặc thù cao là điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch
1.2 Hồ thủy điện Hòa Bình
1.2.1 Qúa trình hình thành và phát triển
Hồ thủy điện Hòa Bình hay thường gọi là hồ Hòa Bình nằm trên dòng sông
Đà thuộc tỉnh Hòa Bình nằm trong địa giới của 17 xã, thuộc 5 huyện với tổng chiều dài 70 km Phía Bắc thuộc huyện Đà Bắc, phía Nam thuộc huyện Tân Lạc, phía Đông Bắc thuộc thành phố Hòa Bình, phía Đông Nam thuộc huyện Cao Phong, phía Tây và Tây Nam thuộc huyện Mai Châu Hồ thủy điện Hòa Bình là hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam có chiều dài trên 230 km từ Hòa Bình lên Sơn
La10 Hồ được hình thành từ việc đắp đập ngăn sông, chinh phục thiên nhiên của nhân dân Việt Nam ở thế kỷ XX
Trang 13Trước đây khi chưa có Nhà máy thủy điện Hòa Bình vùng lòng hồ bây giờ là dòng sông nhỏ và chảy siết có nhiều thác ghềnh rất nguy hiểm Hàng năm mỗi khi mùa lũ đến nước sông Đà, sông Hồng đổ vào nhau tạo thành một lưu lượng lớn gây ứng lụt, tàn phá nặng nề vùng đồng bằng Bắc Bộ Chinh phục sông Đà đã trở thành niềm mơ ước của nhân dân Việt Nam Ngay từ cuối năm 1970, khi đất nước còn trong khói lửa của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, Đảng cộng sản Việt Nam đã quyết định xây dựng nhà máy thủy điện trên sông Đà, chọn tuyến Hòa Bình làm đầu mối của công cuộc trị thủy, khai thác sông Đà, sông Hồng coi đây là công trình trọng điểm có tầm quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã
hội của nước ta Ban chấp hành trung ương Đảng khẳng định: “Việc xây dựng công trình thủy điện Hòa Bình có ý nghĩa chính trị và kinh tế to lớn đối với chế độ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Với tác dụng chống lũ lụt, công trình đảm bảo một phần quan trọng cho nhân dân, đồng thời tạo ra những khả năng lớn cho việc phát triển kinh tế quốc dân Đây là công trình xây dựng cơ bản lớn nhất miền Bắc, có vị trí
ưu tiên số một” (Trích thông báo số 10 – TB/VPTU ngày 24/6/1972 quyết định
của Bộ chính trị về việc xây dựng công trình thủy điện trên sông Đà) Nhận thức được tầm quan trọng trong việc trị thủy mang ánh sáng tới mọi miền của đất nước Con cháu thời đại Hồ Chí Minh đã bắt tay vào công cuộc chinh phục sông Đà.Sau nhiều năm khẩn trương chuẩn bị ngày 6 tháng 11 năm 1979, lễ khởi công xây dựng công trình thủy điện sông Đà được tổ chức trọng thể trong không khí thi đua sôi nổi lập thành tích chào mừng kỷ niệm lần thứ 62 cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng mười Nga vĩ đại
Ngày 12 tháng 1 năm 1983 hoàn thành việc ngăn sông đợt một Lễ ngăn sông đợt hai được Bộ xây dựng, Bộ điện lực và Uỷ ban nhân tỉnh Hà Sơn Bình tiến hành trọng thể trong ngày 6 tháng 1 năm 1986 Đứng 13 giờ 30 phút, hai con đập khép lại liền hai dẫy núi ông Tượng và núi 206, lái dòng chảy của đường hầm xả lũ số 2
để chạy về xuôi, buộc thiên nhiên phải theo sự điền khiển của con người
Dòng sông hung dữ đã bị ngăn lại nước dâng lên ngập cả một vùng rộng lớn, những ngọn núi cao vời vợi trước kia bỗng chốc trở thành những hòn đảo bồng
Trang 14bềnh, nhấp nhô trên mặt nước và hình thành nên các vịnh Cư dân sống trong khu vực bị ngập nước được sự giúp đỡ của các cấp, các ngành, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã di chuyển lên chỗ ở mới Trong đó một bộ phận được chuyển đi vùng kinh tế mới miền Nam, số còn lại ổn định tại chỗ và di chuyển đến một số điểm trong xã, trong huyện, trong tỉnh, hình thành nên vùng chuyển dân sông Đà tỉnh Hòa Bình Theo thống kê từ những năm 1978, 1979 đến 1989 tổng số dân vùng lòng hồ phải di chuyển để phục vụ cho việc giải phóng mặt bằng và vùng ngập nước là 4.483 hộ dân, trong đó vùng ngập lòng hồ sông Đà là 4.023 hộ riêng
Đà Bắc là 2.930 hộ, 7.987 mồ mả và một di tích lịch sử (bia Lê Lợi) 11 Tại nơi ở mới, người dân khai hoang đất đai, tăng ra sản xuất, xây dựng đường giao thông và các công trình công cộng Các công ty xí nghiệp được tạo điều kiện xây dựng lại nhà xưởng, cơ quan chính quyền cũng sớm ổn định đi vào làm việc phục vụ nhu cầu của nhân dân Sau gần một phần tư thế kỷ chuẩn bị và thi công ngày 20 tháng
12 năm 1994 công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà đã hoàn thành
Hiện nay vùng lòng hồ có chiều rộng 1 – 2 km, sâu từ 80 – 100 m, chiều dài trên 230 km từ Hòa Bình lên Sơn La, có dung tích trên 9 tỷ m³ nước12 Từ ngày có đập thủy điện Hòa Bình nạn lũ lụt khủng kiếp vẫn thường xuyên xảy ra ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã được khắc phục hiệu quả Việc điều tiết dòng chảy của sông
Đà đã giải quyết được vấn đề tưới tiêu chủ động khoa học trên một diện tích hàng ngàn héc – ta Giao thông đường thủy cũng được cải thiện tốt hơn, thuận tiện cho việc đi lại của cư dân giao lưu thông thông thương với các tỉnh khác mang lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài những chức năng trên với sức người và thiên nhiện nơi đây
đã tạo cho Hòa Bình một vùng lòng hồ và ven hồ thơ mộng với đầy đủ các vịnh đảo và bán đảo mà ở đó động thực vật quý hiếm được bảo tồn Thấp thoáng các bản Mường, Dao, Thái, H’mông sống rải rác ven hồ, ven thung lũng tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình
2005, trang 285.
Trang 15Thăm hồ thủy điện Hòa Bình, du khách được ngả lưng trên con tàu lướt nhẹ trên sóng nước, nghe hướng dẫn viên nhắc lại đôi nét về âm vang của những dòng sông, ngọn thác đã đi vào lịch sử và văn thơ của đất nước Cũng ở khu vực này còn mang nhiều di tích của các triều đại phong kiến trong lịch sử Vào thế kỷ XV, người anh hùng dân tộc Lê Lợi đã trừ bọn phản nghịch ở gần đây, sau khi dẹp xong loạn đã dừng chân ngắm cảnh Thác Bờ rồi hạ lệnh cho quân sĩ đào rộng lòng sông cho nước chảy đỡ xiết, nhân dịp này một tấm bia đã được dựng ở đây trên mặt khắc một bài minh và một bài thơ của Lê Lợi Với tấm bia này, Lê Lợi đã căn dặn hậu thế cách bảo toàn bờ cõi thống nhất giang sơn và khả năng chinh phục giang sơn của con người Hiện nay tấm bia này đã được di chuyển nguyên vẹn đặt tại Bảo tàng Hòa Bình, trở thành một dấu tích văn hóa – lịch sử đặc sắc thu hút đông đảo du khách.13
Du khách cũng có thể ngủ lại trên tàu để ngắm trăng trên một vùng sông nước hữu tình hay trên các nhà sàn để nghe hát dân ca, thưởng thức rượu cần, các món đặc sản dân tộc và nhảy múa cùng các chàng trai, cô gái miền sơn cước Đó là những điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch
1.2.2 Những tiềm năng phát triển du lịch trên khu vực Hồ thủy điện Hòa Bình
Tài nguyên du lịch vùng hồ thủy điện Hòa Bình tương đối đa dạng và phong phú với nhiều cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử, văn hoá và nhiều giá trị nhân văn khác, có sức thu hút lớn đối với du khách trong nước và quốc tế Trong bài khóa luận này tôi xin giới thiệu một số điểm du lịch trọng tâm mang tính chất đặc thù của các tài nguyên hiện đang được khai thác phục vụ du lịch và được sự quan tâm đặc biệt của ngành du lịch và du khách
* Vịnh Suối Hoa – Động Hoa Tiên.
Từ đập thủy điện Hòa Bình, khách tham quan đi bằng thuyền máy hoặc tàu thủy du lịch khoảng 3 giờ đến địa phận xóm Ngòi, xã Ngòi Hoa, huyện Tân Lạc Đến đây du khách sẽ được tham quan một quần thể tự nhiên: Vịnh Suối Hoa – Động Hoa Tiên
Trang 16Vịnh Suối Hoa là khu vực có điều kiện tự nhiên tốt nhất trong toàn khu du lịch của hồ thủy điện Hòa Bình Nơi đây từng được ví như một Vịnh Hạ Long thứ
2 Là một hồ nước rộng (khoảng 1000 ha), nước trong hồ quanh năm trong xanh, núi non trùng điệp, mây trắng bồng bềnh và hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ, hai bên bờ
ẩn hiện những bản dân tộc còn nguyên bản sắc đã tạo nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình.14 Du khách có thể nghỉ lại trên thuyền để ngắm trăng trên một vùng sông nước mênh mông, hay trên các nhà sàn để nghe hát dân ca, thưởng thức rượu cần, các món đặc sản dân tộc và nhảy múa cùng các chàng trai, cô gái miền sơn cước Động Hoa Tiên: Là sản phẩm của tự nhiên, với không gian thoáng rộng Động nằm ở lưng chừng núi Ba Dâm Từ chân núi, du khách đi theo các bậc đá chừng 100m tới cửa động thứ nhất Đứng ở cửa động nhìn xuống theo lối cầu thang bằng sắt vững chắc, du khách sẽ ngỡ ngàng trước một tòa động nguy nga Vòm động cao 20 m, rộng chừng 50 m với vô vàn khối nhũ lớn nhỏ Có khối nhũ khổng lồ
“mọc” từ dưới lên như “Phật tọa hoa sen”15 Lại có những nhóm tượng nhỏ nhấp nhô bên cạnh Cột nhũ động Hoa Tiên quả là to lớn và đẹp hiếm có, với cột chống tận vòm động cao tới 20m Đi sâu vào bên trong là những hồ nước trong vắt, có hồ sâu tới 1m, có hồ phẳng lặng, nước chỉ dừng gang tay Các dải nhũ mềm mại buông xuống trông thật đẹp mắt, khi có ai đó gõ vào thì cả thế giới âm thanh như tiếng cồng chiêng từ thủa hồng hoang vọng lại Bên cạnh hồ nước là cả một dải các hòn đá cuội xinh xắn, trơn bóng, màu nâu, màu đen, màu trắng, tròn trịa, lấp lánh dưới ánh đèn, trải vào tận vách hang Địa điểm này đã được bộ văn hóa công nhận
Trang 17đầy thì du khách có thể dập dềnh từ thuyền sang nhà nổi, đi cầu phao được kết bằng những thân cây bương chạy dài khoảng 50 m cho tới bậc đá lên động.
Động Thác Bờ nằm ở sườn núi phía Bắc của dãy núi Chùa nhìn ra mặt sông Cửa động cao tới 25 m, rộng 20 m, thuộc xã Ngòi Hoa Dãy núi đá vôi này kéo dài khoảng 8 km Trải dài nằm sát và bao bọc một phần lòng hồ thủy điện Hòa Bình
Từ xã Ngòi Hoa nhìn lại, dãy núi Chùa trông uy nghi, hùng vĩ, sừng sững giữa trời, dòng sông Đà vào mùa khô trong xanh, dịu dàng uốn lượn ven chân núi.Động có chiều sâu tới 100 m Lòng động gập ghềnh, nhấp nhô chỗ rộng, chỗ hẹp, nơi rộng tới 20 m Động chia làm 3 cung phòng lớn Cung phong thứ nhất rộng rãi thoáng đãng, vòm trần cao Cung này được bố trí như một phong chờ hay một phòng khách lớn Các khối nhũ 2 bên vách không nhiều nhưng rất đặc sắc Chúng không phân bố riêng rẽ mà tạo thành từng cụm lớn khiến ta liên tượng tới những bức tranh của trường phái trừ tượng hay ấn tượng
Đặc biệt trên vách phía Tây, với dấu ấn của thời gian trôi qua đã để lại cho chúng ta một khối nhũ lớn mang hình tượng cá chép đang hóa rồng Từ ngoài đi vào bên trong ta phải qua một cây cầu nhỏ dài 30m bắc qua hồ nước Vào mùa khô
hồ không có nước, chỉ khi nước sông Đà dâng cao tràn qua của động thì hồ lại ăm
ắp nước Nước không sâu, nhưng trong vắt, du khách có thể thưởng ngoạn hàng đàn cá đang bơi lội (đó là cá từ sông theo nước đầy vào hang)
Dọc đường đi, du khách sẽ bắt gặp một khối tượng rất kỳ lạ mọc từ nền động và cao tới gần 2 m Từ xa nhìn lại ta cứ ngỡ đây là một hướng dẫn viên của động đang chỉ đường cho du khách
Băng qua hồ nước, du khách sẽ được sững sờ khi chiêm ngưỡng cá tiên cảnh bên trong Có thể nói đây là nơi đặc sắc nhất, là trung tâm, là linh hồn của động Thác Bờ Ba sự ly kỳ, diễm lệ của động đều ẩn chứ bên trong, bước chân vào tới đây, cảm giác đầu tiên của du khách sẽ là sững sờ và choáng ngợp: Cả rừng nhũ đá đua nhau mọc lên, vươn xuống, với những hình thù thật kỳ lạ hấp dẫn cho du khách Giữa động có một cột đá khá lớn, xung quanh là tầng tầng lớp lớp các cột
đá mộc lên như rừng bụt mọc
Trang 18Ngẩng đầu nhìn lên ta bắt gặp một vòm trần lô nhô căng chật hàng trăm, hàng nghìn khối nhũ đá rủ xuống, chỗ thì trắng xóa, lóng lánh bầu thon như những viên ngọc, chỗ thì vàng óng tỏa ra như một rừng hoa, chỗ thì rực rỡ như một phòng đèn trang trí, chỗ thì sắc cạnh như lớp lớp san hô hay những bụi xương rồng Các khối nhũ đá được chạm chổ tinh tế những hình thù kỳ lạ bí ẩn, đường nét uyển chuyển, mềm mại
Hữu cung nằm cao hơn chính cung tới 10 m, đường lên cheo leo, ngoằn nghèo hơi khó đi, khiến cho du khách có cái háo hức như đang tham gia vào một cuộc tìm kiếm, khám phá những điều bí ẩn Là một cung phòng khá lớn có chiều dài tới 30 m, chiều rộng tới 15 m, vòm trần cao, không khí thoáng đãng mát lành, được xem là nơi thờ phật: Các cột đá mọc lên từ những nền hang như những tượng phật Bàn thờ phật được trang trí khá ngăn nắp, các tượng phật được tọa lạc từ thấp tới cao
Hệ thống hang động là bảo tàng sống chứa những bằng chứng của quá khứ về điều kiện khí hậu, địa chất, động thực vật và thậm chí cả dấu vết, các hoạt động của con người
Qua tìm hiểu và nghiên cứu thực tế, về mặt địa chất, địa mạo động Thác Bờ thuộc loại hình hang động Karst có giá trị về địa chất địa mạo và du lịch
Động Thác Bờ đã được bộ văn hóa xếp hạng là di tích thắng cảnh cấp quốc gia năm 2007
Trang 19* Đền Chúa Thác Bờ.
Đền Bờ là điểm du lịch tín ngưỡng từ hàng trăm năm nay của dân tộc Kinh, Mường Nơi đây được đánh giá là hạt nhân quan trọng của khu du lịch hồ thủy điện Hòa Bình
Để tới được Đền Bờ du khách phải đi tàu, thuyền khoảng gần 2 giờ đồng hồ Khi mặt trời lên đỉnh núi, mặt nước như dát bạc, lấp lóa theo gợn sóng lăn tăn Từ trên thuyền, du khách sẽ được đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên đẹp huyền diệu, cảm thấy lòng thư thái, nhẹ nhàng Hai bên bờ hồ là những khu rừng phòng
hộ xanh mát Làng, bản bà con dân tộc Mường, Dao thấp thoáng trong nắng mai Vào tháng giêng, nước hồ trong xanh Mùa này, mực nước thấp để lộ ra những vách đá với những hình thù kỳ lạ Những hòn đảo nhỏ lô nhô tô điểm cho cảnh sắc tạo nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình
Tương truyền rằng, Đền Bờ gắn liền với chuyến đi dẹp giặc phản loạn đèo Cát Hãn của vua Lê Lợi vào năm 1431 Bà Đinh Thị Vân, người Mường ở Hào Tráng và một bà người Dao ở Vầy Nưa đã đứng ra lo liệu quân lương, thuyền mảng giúp vua vượt qua con thác dữ Khi hai bà mất, vua truy phong công trạng, ban chiếu cho dân lập đền thờ trên núi đá đoạn ngang giữa Thác Bờ xưa Khi công trình thuỷ điện Hòa Bình được xây dựng, chính quyền và nhân dân địa phương đã dựng lại ngôi đền tại hai địa điểm mới thuộc xã Vầy Nưa, Đà Bắc và xã Thung
Nai, Cao Phong Nhân dân địa phương thường gọi là đền “Chúa Thác Bờ” Dân
trong vùng thường xuyên hương khói và mở hội vào ngày mồng 7 tháng giêng hàng năm Ngôi đền có 38 pho tượng lớn, nhỏ, trong đó có 2 pho tượng đồng là tư-ợng thờ chính
Gần khu Thác Bờ tại xã Hào Tráng trước đây còn có bài thơ chữ Hán của Lê Lợi khắc trên vách đá Du khách hãy tưởng tượng giữa mênh mông nước, trước khi nước dâng do đập chắn, từng hiển hiện trên một núi đá Vách núi nghiêng bên hồ đã lưu giữ bài thơ lịch sử, bài thơ với giọng văn hào sảng, chan chứa tình vua - dân:
Trang 20Gập ghềnh đường hiểm chẳng e xa
Dạ sắt khăng khăng mãi đến già
Lẽ phải quét quang mây phủ tối Lòng son san phẳng núi bao la Biên cương cần tính mưu phòng thủ
Xã tắc sao cho vững thái Hòa Ghềnh thác ba trăm lời cổ ngữ
Từ nay xem chẳng nổi phong ba 16
Tấm bia khắc bài thơ của vua Lê Lợi nay đã được di chuyển về Bảo tàng Hòa Bình để lưu giữ
Đến trẩy hội Đền Bờ, du khách không chỉ được tượng nhớ bà Chúa Thác Bờ, cầu an khang, thịnh vượng, thưởng thức cảnh đẹp sơn thuỷ hữu tình mà còn được tìm hiểu những sản vật của địa phương như: măng đắng, lặc lày, chuột hun khói
và thưởng thức món cá nướng thơm phức Nhiều loại cá đặc sản như: cá dầm xanh,
cá lăng, trắm, chép đã làm hài lòng những du khách sành điệu
* Bản dân tộc Mường - Giang Mỗ.
Cách trung tâm thành phố Hòa Bình 12 km theo đường quốc lộ 6 cũ Du khách sẽ đến được với một khu du lịch mang đậm văn hóa sắc
Nằm ở xã Bình Thanh ngay dưới chân núi Mỗ Bản dân tộc Mường hiện ra với hơn 100 ngôi nhà sàn còn giữ nguyên bản từ nhà cửa đến nếp sinh hoạt, hệ thống dẫn nước, cối giã gạo, cung nỏ săn bắn, phương thức làm ruộng cùng các
lễ hội, phong tục tập quán Mường Nơi đây đã thu hút hàng trăm khách du lịch
từ Pháp, Đức, Nhật, Mỹ, Tây Ban Nha, Anh đến tham mỗi ngày
Nhà ở của dân tộc Mường có kiến trúc độc đáo: Sàn nhà làm bằng gỗ, luông tre và các loại vật liệu địa phương Nhà được dựng trên các chân đá đẽo
Trang 21lõm, chôn cách mặt đất 5 – 7 cm Cột nhà làm bằng những thân gỗ tròn có đường kính từ 20 – 30 cm Xà, kèo cũng được làm bằng gỗ Mái nhà sàn được lập bằng cỏ tranh Sàn nhà được lát bằng những tấm gỗ hoặc những phiên luồng, bương, nứa Bên trong nhà, nếu quan sát kỹ du khách sẽ thấy trên các cánh cửa sổ thường được trang trí rất đẹp mắt, đặc biệt là vẽ hoặc chạm trổ hình dáng hai chiếc sừng trâu hoặc hình trăng lưỡi liềm 17
Trang phục của người Mường cũng rất đặc sắc: Trang phục nam giới là những
bộ cánh màu chàm, xẻ ngực cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái Trong lễ hội dùng áo lụa màu tím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài khoác áo choàng đen dài tới gối, cài cúc nách ở sườn phải Phụ nữ Mường
thường đội khăn trắng hình chữ nhật, mặc yếm và áo cánh ngắn có xẻ ngực (có nơi
sẻ vai ít cài cúc) Váy của phụ nữ Mường khá dài so với những chiếc cặp váy được
dệt bằng tơ nhuộm màu, tạo những hoa văn với những họa tiết rất đẹp 18
Các bản làng dân tộc Mường thường quần tụ bên các nguồn nước, các dòng suối Khuôn viên nhà Mường được trồng tự do, trồng cây ăn quả: mít, bưởi, đu đủ, chanh… và đặc biệt hơn khi đến tham quan du khách sẽ thấy tính chất cộng đồng được thể hiện rất cao và rõ nét bởi việc không tạo ra hàng rào ngăn chia giữa các
hộ gia đình trong làng xóm
Đến đây, bạn có thể ghé tham bất cứ nhà nào mà bạn muốn Trong các khung nhà sàn ấm cúng du khách sẽ được đón tiếp nồng nhiệt, xem các chương trình văn hóa văn nghệ dân gian, mua quà lưu niệm do chính tay người Mường làm nên Thú
vị hơn, bên bếp lửa hồng, những ly rượu sắn, rượu gạo, rượu chuối hoặc có thể là một bình rượu cần thơm nức, chủ gia thổi sáo ôi, chơi đàn bầu, cùng nhâm nhi, cùng hát và kể cho bạn nghe những câu chuyện, truyền thuyết đầy huyền bí của xứ Mường
652.
18 Tỉnh Uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh Hòa Bình, Địa chí Hòa Bình, Nxb Chính trị Quốc Gia, 2005, trang 620, 621
Trang 22* Các lễ hội diễn ra hàng năm
Du khách tới lòng hồ thủy điện Hòa Bình không chỉ được chiêm ngưỡng cảnh đẹp thiên nhiên mà còn có dịp được tham gia vào các lễ hội diễn ra hàng năm của các đồng bào dân tộc sống xung quanh khu vực lòng hồ
Hội Phường Sắc Bùa (xéc bùa) của người Mường
Theo người Mường, sắc bùa hay còn gọi là xéc bùa, có nghĩa là xách cồng, là một hội vui có tính chất giải trí diễn ra vào dịp đầu năm mới ở những bản Mường
để người ta cầu chúc nhau may mắn, mạnh khỏe Ngoài ra, những dịp vui khác người ta cũng sắc bùa như đón khách quý từ xa đến, dựng nhà mới, đón dâu hoặc những dịp vui khác
Sắc bùa bao giờ cũng do người biết hát, biết đánh cồng và biết đối lập thành một phường Phường bùa bao giờ cũng có một ông chủ, là người biết hát giỏi, biết đánh cồng, ứng phó tốt và là người lựa chọn những con hát cho phường bùa của mình Để có một phường bùa tốt, chủ phường phải lựa chọn kỹ các con hát cho phường Vào phường bùa không phân biệt giới tính và tuổi tác song để cho vui vẻ
và sinh động, thường các ông trùm lựa chọn những cô gái trẻ, xinh xắn, biết múa hát tốt Ngoài ra, cũng có những phường bùa mà ông trùm phường là một phụ nữ,
có những thanh niên, trung niên và các cô gái tham gia Thường một phường bùa như vậy có khoảng 12 người đánh chiêng, 2 người khiêng thúng đựng đồ tặng phẩm đi cuối, tất nhiên còn có ông trùm
Từ sau ngày mồng 2 tết, phường bùa tiến hành đi sắc bùa các gia đình trong bản, những ngày sau đó họ có thể đi sắc bùa ở những làng bên
Trang phục của những người sắc bùa phải đẹp Nam mặc áo dài chít khăn đầu rìu Nữ mặc áo khoác màu vàng, màu hồng, đội nón bằng Đoàn sắc bùa đi theo thứ tự cụ thể, ngoài trùm phường là đến chiêng boong beng, rồi đến chiêng đủm, tiếp theo là đến chiêng khô, cuối cùng là đến chiêng dàm
Đoàn sắc bùa đi đến dâu rộn vang tiếng chiêng đến đó Chiêng là loại nhạc cụ
âm nhạc độc đáo, có giá trị cả về vật chất và tinh thần của người Mường Những
Trang 23bài chiêng truyền thống của phường sắc bùa đánh trên đường phù hợp với hoàn
cảnh đường đi: Khi đi đường thì đánh bài “Đi đường”, lúc lên dốc có bài “Leo dốc”
Từ xa, các gia đình đã biết phường bùa đang sắp xếp nhà mình để chuẩn bị nghênh tiếp, thường là được hẹn trước như lối hẹn người phúc hậu đến xông nhà đầu năm của người Kinh
Do chuẩn bị trước, các gia đình tập trung đầy đủ bà con họ hàng ở trong nhà
để đón phường bùa, song theo lệ, cổng nhà vẫn đóng Vì thế, khi đến nơi, phường
bùa đứng ngoài ngõ đánh cồng, hát bài “Khóa rác” Hát xong, cổng được mở ra
phường bùa tiến vào sàn nhà, vừa đi vừa đánh cồng, sau đó là những bài hát gồm những lời chúc tụng, ngợi ca gia đình sang năm mới sức khỏe, hạnh phúc, phát đạt:
“Anh em phường bùa chúng tôi bước vào
Ở ngoài trông thấy rào chung quanh cắm rợ Cột cửa kén chạm đuôi con cá
Xà cửa cả chạm đuôi con muông ”
Hoặc:
“ Đất ông chào ông Đất chúa chào chúa Lúa nhà ông cấy từ trong năm
Đã mọc xanh xanh rười rượi Con dưới vườn ngọn lên Con trên rủ ngọn xuống ”.
Cứ như vậy người hát cà cồng say xưa hát, còn những người trong gia đình đón nhận một cách nồng nhiệt món ăn tinh thấn này Sau khi các bài hát chúc đã hết, người trùm phường theo lệ cất tiếng hát mời:
Trang 24Thương thiết hỡi lai thương nồng Thương công ở đây rồng bở vắng Núi cái Tản Viên, Ba Vì
Chúng tôi dậy đi Chưa kịp chào hết cây vu (mục) Chưa kịp chào hết tổ kiến bống Con trai đến nhà này chẳng muốn lại Con gái đến nhà này chẳng muốn về Chúng tôi bước chân đi lòng còn luyến tiếc
Đó là lúc phường bùa kết thúc và gợi ý, nếu gia chủ là những người giỏi thường rang, bọ mẹng những bài hát dân ca đối đáp, thì có thể cất lời hát để giữ chân phường bùa Nếu không, gia chủ đem tặng gạo, tặng quà cho phường bùa thì phường bùa sẽ đi sang nhà khác và tiếp tục cuộc hát vui vẻ của mình trong không khí ngày xuân ấm áp
Đó là diễn biến cơ bản của một cuộc hội xéc bùa của người Mường
Lễ cơm mới của người M ường
Lễ hội này mang tính chất gia đình nhiều hơn là cộng đồng, được tổ chức sau mùa thu hoạch vào tháng 10 âm lịch Người Mường chọn những mẻ lúa đầu tiên, sắm xôi, thịt cúng tổ tiên, Thành Hoàng và các vị thần đã phù hộ cho họ một mùa màng thắng lợi Vào ngày này, người Mường cũng trả công cho trâu, con vật đã giúp họ làm lụng cày bừa để có vụ mùa tốt Người ta cho trâu ăn một nắm xôi, miếng thịt Họ cũng cho chó con vật trung thành, gần gũi, coi nhà cho chủ quanh năm ăn những thức ăn của lễ cơm mới cùng người
Đối với các nhà lang xưa ở một số nơi như Mường Bi, lễ cơm mới được tổ chức khá to, có làm bánh chưng và bắt cá về để cúng vía lúa
Việc lựa chọn một số bông lúa nhiều hạt và hạt chắc tập hợp lại thành bó để
trên gác (róng) để giữ vía lúa là một tục lệ được người Mường coi trọng, biểu hiện của sự “giàu cơm lắm lúa”.
Trang 25Hội ném còn của ng ười Mư ờng
Ném Còn xa còn gọi là đánh Còn (đánh đu, đánh đáo) đây là một trò chơi dân
đặc biệt của những vùng Mường và một số dân tộc khác Trò chơi này được lưu truyền từ thời Hùng Vương nghĩa là từ khi còn các quan lang và các cô Mị Nương Còn là một trò chơi quý phái của các tiểu thư con của các lạc hầu lạc trường
Còn là một trái cầu to bằng quả cam lớn được khâu bằng vải trong nhồi bông, hoặc có mềm, hoặc vải vụn, bề ngoài bọc vải mềm có tua ngũ sắc trông sặc sỡ và rất đẹp Mỗi quả Còn thể hiện phong cách riêng của từng thiếu nữ tết Còn Những
cô gái trầm tính thường thể hiện cá tính của mình qua quả còn màu xanh, màu của cây cỏ, núi rừng Những cô gái có cá tính mạnh mẽ biểu hiện qua quả Còn màu đỏ, màu của sức mạnh tình yêu
Tổ chức ném Còn thường chọn trên một khoảng đất rộng người ta trồng một cây tre cao, trên thường treo một lá cờ ngũ sắc phấp phới bay biểu hiện cho cuộc vui chơi ngày xuân, tiếp dưới có buộc một vòng tre đường kính ước độ hơn một gang tay có cuốn giấy xanh đỏ xung quanh vòng
Ngày nay người ta thường dán giấy trắng mỏng, các thiếu nữ chơi Còn đứng
ra hai phía sân để lần lượt thi ném để Còn lọt qua vòng tre Khám giả phần lớn là các thanh niên đứng vây quanh sân Mỗi lần trái Còn đi trúng qua giữa vòng, khán giả hò reo khen ngợi, khích lệ Trái Còn văng đi trái Còn đánh lại, những con mắt ngước theo và có những con tim hồi hộp khi trái Còn từ từ lớt tới vòng Còn Nhiều
cô gái ném trái Còn để bói nhân duyên của mình, nếu trái Còn trúng đích thì người
đó tin rằng sẽ được may mắn trong nhân duyên
Sân chơi kéo dài nhiều ngày và chính nơi đây cũng là những điểm hò hẹn gửi trao những ánh mắt để tạo mối nhân duyên
Lễ hội Chá Chiêng của người Thái
Lễ hội Chá Chiêng là lễ hội tín ngưỡng do ông mùn lớn tổ chức Ông mùn là người có uy tín trong cộng đồng người Thái qua việc chăm sóc phần hồn cho người dân Cứ ba năm, ông mùm lại tổ chức lễ tạ ơn Then Luông và các then khác
Trang 26trên Mường Trời Lễ vật dùng cho việc này đều do các con nuôi, con ruồng (lục liểng, lục nà) đóng góp Lục liểng, lục nà là những người đau ốm được ông trùm
cúng khỏi trở thành người con phụ thuộc vào thầy mùn
Lễ hội Chá Chiêng được tổ chức vào dịp lá mạ non buông rũ xuống mượt mà
(cây mạ là một loại cât mọc ven suối, có hoa từng chùm, màu vàng), vào dịp tháng
giêng, tháng hai âm lịch Ngày làm lễ do ông mùn chọn, tránh những ngày xấu
xốp (cây phá phước), gọt nhiều cánh và nhuộn nhiều màu.
Cây được phân ra làm hai tầng: Tầng cao nhất (ten chỏm) là tầng của trời,
tầng chủ lễ, tầng dưới là tầng của trần gian treo những vật đan kết bằng sợi lạt tre, nứa tượng trưng cho vạn vật trên mặt đất như ếch, nhái, ve sầu, chim, cá, quả trứng, biểu tượng cho sự sống sinh sôi nảy nở ở cõi trần gian
Mân cỗ đặt trước bàn thờ, gồm có một con gà luộc, gói xôi, quả trứng, cuộn vải trắng, vòng đeo tay bằng bạc, đĩa trầu cau, thanh kiếm và các đồ cúng khác của ông mo
Tham gia cuộc lễ gồm có: Ông mùn luông chủ lễ, một ông mùn khác do mùn
luông mời gọi là ông mùn lam, ông nhồm (còn goị là phằng pang, phụ trò), ông
thổi pí mùn, các con nuôi và đông đảo dân chúng đến dự
Lễ Chá Chiêng diễn ra hai ngày một đêm Ngày thứ nhất, ông mùn luông
cúng xôi phát hạn ho (nơi ở của Tảy, tức là thần của ông mùn luông), xin phép trời hành lễ chá và cho phép thuật được nhập vào mùn luông Lễ này gọi là lễ “pồn cốn pời Mường”.
Ngày hôm sau, ông mùn luông bắt đầu hành lễ, những người khác phụ giúp việc nhà Ông mo vừa mo vừa đuổi ma dữ, ma xấu ra khỏi nhà bằng động tác múa
kiếm và đập bóng bu rộn rã (bóng bu là nhạc cụ bằng ống tre) Sau mo này mới
Trang 27được phép mổ lợn và các con nuôi dâng cỗ Ông mùn làm lễ “an pàn kháu” điểm
mâm cỗ các con nuôi Nhiều trò chơi cùng lúc hòa nhịp với lời mo: Múa kiếm, mua khăn dập bóng bu Các con nuôi hòa vào cuộc múa của thầy mun đóng vai
các ma (phi), các loại người như người mù, người què, mẹ Mường (mẹ trời sinh ra con người), kẻ trộm cắp, kẻ tham ăn diễn tả các động tác lao động như cỡi voi,
phi ngựa, xúc cá, làm mương
Sau những trò diễn trên là phần hát nhặt hoa Hát nhặt hoa là hát đoán số mệnh con nuôi, do ông mùn hát Hát mo tiễn Mường Then về trời được coi là phần kết thúc lễ hội Ông mùn luông cầm con gà trống mào đỏ rực rỡ vừa đi vòng quanh cây hoa vừa hát Hát đứt một chặng mo, mùn luông lại cất lên một tiếng gà gáy
“càng lế ốc” báo hiệu đường lên trời sắp sang ngày mới.
Cuối cùng, ông mùn luông hát lời mo gọi vía cho tất cả mọi người dự hội
Quan niệm cho rằng, khi dự lễ chá, người có vía “non” thường “rơi vía”, sinh ra ốm
đau nên ông mùn phải gọi vía trở lại với mọi người, mong mọi người luôn khỏe
Hội chùa Kè
Hội chùa Kè tổ chức vào ngày 16 tháng 2 âm lịch hàng năm với sự tham gia của cả người Kinh và Mường trong vùng Mường Bi đến dự Đây là một hội chùa khá lớn của vùng Mường Bi
Người đến lễ chùa rất đông, nhưng chủ yếu là để tham gia các sinh hoạt lễ hội
ở không gian quanh chùa với bãi ném còn cho thanh niên nam nữ, bãi đánh quay cho các thiếu niên và bãi thi bắn tên, bắn súng hỏa mai Người chiến thắng cuộc được thưởng góa rượu cần
Những năm được mùa, dân sở tại còn tổ chức mổ trâu làm lễ thờ Phật, tổ chức thổi khèn, hát sắc bùa làm không khí ngày hội vô cùng nhộn nhịp Trai gái ném còn, bắn thi, tre đánh quay, nô đùa, các bố mế vây quanh các ché rượu cần Con nhà lang khoe những khẩu súng hỏa mai đẹp của mình và cùng nhau trổ tài bắn Các cô gái khoe những bộ áo váy mới của mình thể hiện tài thêu thùa trước những cặp mắt háo hức của các chàng trai dự hội
Trang 28Cứ như vây, hội chùa diễn ra trong không khí náo nhiệt và ăn sâu vào ký ức những người dự hội.
Lễ hội đền Bờ
Có lẽ lễ hội có sự tham gia nhiều nhất và lớn nhất của người Kinh trên đất Hòa Bình là lễ hội đền Bờ Song, điều thú vị hơn nữa là lễ hội này lại là biểu tượng của sự đoàn kết ba dân tộc Kinh - Mường - Dao sống trên dải đất Hòa Bình
Đền Bờ hay còn gọi đền Thác Bờ là một di tích lịch sử nổi tiếng Ở đây không những có đền, có thác mà còn có cả một cái chợ nổi tiếng của Hòa Bình, thậm chí
là một thời gian cái tên Chợ Bờ đã từng là tên của tỉnh lỵ Trước khi có đập thủy điện Hòa Bình, đền Thác Bờ được dựng ở đoạn ngang giữa của thác Bờ Sau này, khi xây dựng đập, nhân dân phải chuyển đền lên cao để khỏi bị ngập trong lòng hồ thủy điện sông Đà
Hiện nay, đền Bờ được dựng ở hai nơi: Trên đỉnh đồi hang Thầu thuộc xã Vầy Nưa bên bờ trái sông Đà, và trên đồi thuộc xã Thung Nai, bên bờ phải sông Đà
Tương truyền, năm 1431 -1432, vua Lê Lợi đi dẹp giặc ở Mường Lễ (Sơn La) qua đoạn thác Bờ hiểm trở đã được dân địa phương giúp đỡ rất tận tình Trong số
đó có bà Đinh Thị Vân người Mường ở xã Hòa Tráng và một bà người Dao ở xóm
Mó Nẻ, xã Vầy Nưa đã giúp nhà vua về quân lương, thuyền bè để vượt thác Khi hai bà mất, vua Lê Lợi đã truy phong công trạng của hai bà và ban chiếu cho lập đền thờ Từ đó, người dân ở đây thường mở hội hàng năm vào ngày mùng 7 tháng giêng để tưởng niệm hai bà và các vị thần
Những năm gần đây, di tích và lễ hội này thu hút rất đông khách thập phương
từ xuôi lên Lễ hội tổ chức vào dịp tháng giêng, nên ngoài ngày chính hội người đi
lễ kéo dài suốt cả tháng Hiện nay, du khách đi lễ hai bên tả bên hữu và nhân đó còn đi du ngoạn đường thủy trên lòng hồ sông Đà để thưởng thức phong cảnh tuyệt đẹp của khu vực lòng hồ Sau khi đi lễ đền Bờ bên Đà Bắc, bên Kỳ Sơn đi du lịch lòng hồ, tham quan thủy điện, người ta còn tiện đường tiếp tục chuyến du xuân tận đền Thượng ở thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn - nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn cùng các vị thần trong Tứ Phủ
Trang 29Vì vậy, hội đền Bờ càng ngày càng trở nên hấp dẫn khác hành hương bốn
phương
1.3 Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 đánh giá những tiềm năng du lịch hồ thủy điện Hòa Bình gắn với phát triển du lịch bền vững Qua đó chỉ ra những khó khăn và thuận lợi để có những chính sách và phương hướng khắc phục
Thuận lợi:
Hồ thủy điện Hòa Bình không chỉ là niềm tự hào của nhân dân Hòa Bình nói
riêng và của cả nước nói chung Hồ có vị trí thuận lợi nằm trong khu du lịch trung
tâm phía Bắc của đất nước, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủ đô Hà Nội Là tập hợp của những khu vực có nền văn hóa riêng biệt rất đặc sắc như văn hóa Mường, Thái, Dao, H’mông là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch văn hóa Không những thế vùng lòng hồ có hệ thống đảo, vịnh với hệ động thực vật phong phú, cùng với vị trí đẹp là điều kiện tuyệt vời cho phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái, vui chơi cao cấp và nghỉ cuối tuần
Khó khăn:
Việc quản lý khai thác tài nguyên du lịch còn chưa được quan tâm đúng mức, thiếu tính chuyên nghiệp Công tác tuyên truyền quảng bá xúc tiến du lịch còn hạn chế, du lịch của khu vực chưa chiếm lĩnh được thị trường du lịch Mặt khác các cơ chế chính sách áp dụng ở đây cũng còn rất nhiều hạn chế (Chính sách khuyến khích cho đầu tư du lịch) Ngoài ra còn một số bất lợi như: Mặt nước hồ có thuận lợi về mùa khô nước trong, sạch nhưng đến mùa mưa nước lại có nhược điểm bẩn
và đục Mực nước hồ chênh lệch rất lớn giữa mùa mưa và mùa khô Nhiều nơi địa hình quá phức tạp, giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn
Để khắc phục được những tình trạng trên nhằm hoạt động du lịch của hồ thủy điện Hòa Bình phát triển bền vững, thu hút được ngày càng nhiều khách đòi hỏi các ngành, các cấp đặc biệt bản thân các doanh nghiệp du lịch phải có chương trình hoạt động tổng hợp nhằm huy động mọi nguồn lực đầu tư thích đáng vào việc khai thác và tôn tạo các tài nguyên
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở HỒ THỦY ĐIỆN HÒA
BÌNH
2.1 Cơ sở hạ tầng du lịch ở Hồ thủy điện Hòa Bình
2.1.1 Hệ thống đường giao thông thủy bộ và các phương tiện, trang thiết bị phục vụ du lịch
Hệ thống giao thông trong khu vực hồ thủy điện Hòa Bình là một hệ thống đa dạng cả đường thuỷ lẫn đường bộ Đây chính là một ưu thế cho phát triển du lịch
Hồ thủy điện Hòa Bình tạo nên tuyến đường thuỷ khá thuận tiện, tuyến chính dài 200 km từ Hòa Bình tới Tạ Bú, ngoài ra còn gần 150 km các tuyến nhánh đi tới các điểm dân cư vùng lòng hồ Đập thuỷ điện Sơn La đi vào hoạt động tạo thêm một tuyến đường thuỷ dài trên 400 km tới Lai Châu và các tuyến nhánh Đó là những yếu tố tạo nên những thuận lợi lớn cho lưu vực
Hiện nay có 2 cảng và 1 bến tàu, thuyền cập bến đón khách
Vận chuyển chủ yếu là khách nội địa (khách đi lễ đền Thác Bờ), khách du lịch theo chương trình du lịch của công ty cổ phần du lịch Hòa Bình
Trên lòng hồ thủy điện Hòa Bình hiện có 8 đơn vị và 30 hộ cá thể tham gia
Trang 31kinh doanh vận chuyển khách du lịch Với 95 tàu, thuyền trong đó:
+ 38 tàu, thuyền chở khách du lịch có sức chứa gần 1.500 người
+ 57 tàu, thuyền vừa vận chuyển hàng hóa, vừa vận chuyển khách du lịch theo mùa vụ (3 tháng đầu năm và 2 tháng cuối năm âm lịch), sức chứa gần 2.300 người.Các tàu thuyền được cấp phép lưu hành hàng năm (do chi cục đăng kiểm đường thủy Hà Nội cấp, hoạt động kinh doanh vận chuyển khách du lịch trên hồ thủy điện Hòa Bình do đoạn quản lý giao thông đường thủy nội đía số 9 sở Giao thông vận tải Hòa Bình quản lý
Không có phương tiện thủy tham gia vào hoạt động kinh doanh lưu trú, nhà hàng.Đường quốc lộ gần khu vực hồ thủy điện Hòa Bình gồm: Quốc lộ 6, 12a, 15
và 21 Quan trọng nhất là quốc lộ 6 đã được nâng cấp cải tạo thành đường cấp 3 miền núi Các quốc lộ khác còn lại là đường cấp 4 hoặc cấp 5 miền núi, đường quốc lộ đều cách xa hồ thủy điện Hòa Bình, bởi vậy những đường nối giữa các quốc lộ với hồ là rất quan trọng
Phương tiện giao thông: Do đặc điểm của mạng lới giao thông hiện nay nên phương tiện được sử dựng nhiều nhất tới vùng lòng hồ thủy điện Hòa Bình là ôtô
ổn định Tuy vậy hệ thống cung cấp điện vẫn tiếp tục được nâng cấp, cải tạo vì vậy
Trang 32đôi khi vẫn còn tình trạng gây sự cố cục bộ, không ổn định cho nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động kinh doanh du lịch.
Hiện nay các tuyến điện trên khu vực hồ thủy điện Hòa Bình và vùng phụ cận
có hệ thống điện như sau:
+ Đường trung thế 22 KV: Hòa Bình - Thung Nai; Thung Nai - Ngòi Hoa; Đà Bắc - Hiền Lương; Đồng Bảng - Bãi Sang; Cao Sơn - Xóm Xưng; Bến Hạt - Đồng Ruộng; Thẩm Luông - Bến Hạt
+ Đường hạ thế 220 V đã được nối tới hầu hết các xã trong khu vực, những tuyến vào khu vực: Trung Hòa; Ngòi Hoa; Thung Nai và Phúc Sạn
2.1.2.2 Hệ thống Bưu chính viễn thông
Thông tin liên lạc là phương tiện quan trọng trong việc nâng cao trình độ dân trí và đưa đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước tới người dân góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Hệ thống thông tin liên lạc trong khu hồ thủy điện Hòa Bình được coi là khá hoàn chỉnh, điện thoại hữu tuyến được phát triển tới các khu du lịch Mỗi xã đều có một điểm bưu điện văn hóa, nhiều nhà có điện thoại cố định và đa số cán bộ công chức, người kinh doanh và rất nhiều người dân dùng điện thoại di động nên rất thuận tiện thông tin liên lạc cho nhau Tuy nhiên do địa hình phức tạp đôi khi gây
ra hiện tượng mất sóng Toàn bộ 100% các xã đã được phủ sóng phát thanh 97%
Hầu hết các huyện trong khu vực là các huyện vùng cao Ngoài diện tích mặt nước sông Đà, diện tích đất còn lại là đồi núi địa hình rất phức tạp, độ dốc lớn Trên địa bàn khu vực xa bờ sông, chỉ có suối nhỏ, độ dốc lớn, khả năng cấp nước
Trang 33và trữ nước rất hạn chế, mùa mưa nước chảy nhiều chảy xiết, mùa hạn thì khô cạn Chương trình nước sạch đang được đầu tư và triển khai ở đây.
Thoát nước thải và vệ sinh môi trường
Hệ thống thoát nước: Trong khu vực chưa có hệ thống thoát nước (nước vẫn
được để thoát tự nhiên, nước thải chưa được xử lý) Nước mưa tự thoát theo địa hình dốc tự nhiên và thoát về phía các sông, suối, ao, hồ và thoát chủ yếu vào hồ thủy điện Hòa Bình
Hồ thủy điện Hòa Bình đã được hình thành khá lâu, nên nhìn chung bờ hồ tương đối ổn định, mức độ trượt lở xẩy ra không đáng kể Đây là một đặc điểm thuận lợi cho việc hình thành những điểm du lịch lâu dài
Nước hồ hiện nay giao động trug bình từ 27 – 28 m Đây chính là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đất đá lộ ra khá rõ khi mực nước rút, tuy nhiên đã phát triển và trồng loại cây xấu hổ có thể tồn tại trong môi trường ngập và trơ nước, tạo nên một thảm thực vật mới tương đối bền vững
Vệ sinh môi trường: Thành phố Hòa Bình đã có ý thức được vấn đề môi
trường, vì vậy vấn đề này đang dần được bảo vệ Tuy nhiên, ý thức trong từng người dân về vệ sinh môi trường chưa được nâng cao, cần phải có biện pháp kịp thời để nâng cao chất lượng vệ sinh trong đời sống, nhất là vấn nạn khai thác gỗ bừa bãi đang là vấn đề bức xúc cần giải quyết dứt điểm, mặc dù khu khai thác gỗ
Tại thành phố Hòa Bình hiện có:
Trang 34- Khách sạn Hòa Bình I (Nhà sàn) với 32 phòng ngủ nhà sàn (Theo kiến trúc dân tộc Mường) - 64 giường (22 phòng quốc tế, 10 phòng nội địa), tiêu chuẩn 2 sao, sức chứa 250 người Khách sạn ở vị trí thuận lợi nằm tiếp giáp với quốc lộ 6.
- Khách sạn Hòa Bình II (Nhà sàn) với 27 phòng ngủ (theo kiến trúc nhà ở dân tộc Mường), 44 giường (19 phòng quốc tế, 8 phòng nôi địa), tiêu chuẩn 2 sao, sức chứa 140 người, các dịch vụ massage, karaoke, phục vụ chương trình văn hóa
du lịch, Trekking, Hikking, cắm trại, ngủ tại bản dân tộc, văn nghệ, rượu cần và hàng lưu niệm, khách sạn ở vị trí thuận lợi trên quốc lộ 6
- Khách sạn Sông Đà với 70 phòng, 140 giường (49 phòng quốc tế, 21 phòng nội địa), 60 phòng ngủ bình dân, nhà hàng sức chứa 160 người Phục vụ khách tham quan thủy điện Hòa Bình, phục vụ hội nghị, các tour du lịch, các dịch vụ massage, karaoke Khách sạn nằm trong khuôn viên làng chuyên gia, nằm trên bờ trái Sông Đà
- Khách sạn Đồng Lợi: Với 45 phòng nghỉ bao gồm cả phòng đơn, phòng đôi
và phòng ba, tiêu chuẩn 2 sao Mỗi phòng đều có đầy đủ trang thiết bị tiện nghi: bồn tắm nóng lạnh, điều hòa không khí, tivi, tủ lạnh, chăn ga gối đệm hàn quốc Ngoài ra còn có các dịch vụ như massage, xông hơi
- Khách sạn Tháp Vàng: với 100 phòng, khách sạn nằm tại tuyến đường trung tâm thành phố rất gần với các cơ quan, văn phòng, thuận tiện cho khách công tác
và ký kết các hợp đồng kinh tế Những lúc rảnh rỗi khách có thể đi bộ mua sắn ở chợ trung tâm thành phố, siêu thị
Tại huyện Mai Châu:
- Hệ thống nhà sàn phục vụ nghỉ qua đêm cho du khách
Tại huyện Tân Lạc:
- Hệ thống nhà nghỉ ít và chưa đạt chuẩn du lịch
Tại huyện Đà Bắc:
Trang 35- Hệ thống nhà sàn, nhà nghỉ cho khách du lịch cũng còn ít và chưa đạt tiêu chuẩn du lịch
Nhìn chung qua việc thống kê các cơ sở lưu trú quanh khu vực hồ thủy điện Hòa Bình ta nhận thấy các cở sở lưu trú tập trung không đồng đều, chủ yếu tập trung ở thành phố Hòa Bình Hiện tại các cơ sở lưu trú tại Hòa Bình nói chung hay tại khu vực hồ thủy điện Hòa Bình nói riêng đang có một thực trạng rất mâu thuẫn
là vừa “khủng hoảng thừa” vừa “khủng hoảng thiếu” Sở dĩ có tình trạng như vậy là
do đặc trưng của du lịch tại đây là có tính mùa vụ Khách thường vắng vào mùa mưa đối với du lịch lòng hồ, hay vào mùa đông và các ngày làm việc trong tuần, tháng, năm nhưng vào các dịp lễ, tết, ngày nghỉ cuối tuần, nghỉ hè… các cơ sở phục vụ du lịch gần như quá tải Có nhiều du khách đã không tìm được chỗ nghỉ phải đi thuê các chỗ trọ ở xa khu du lịch với giá rất cao Còn về mùa vắng khách
thì lượng cơ sở lưu trú bị bỏ trống hay rơi vào tình trạng “khủng hoảng thừa” rất
lớn Và một lý do nữa là cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn cao (được xếp hạng tiêu
chuẩn quốc tế) để phục vụ thị trường khách “đại gia” trên khu vực là chưa có một
cơ sở nào Vì vậy khủng hoảng thiếu có thể diễn ra ngay trong mùa vắng khách
Có nhiều công ty du lịch và lữ hành quốc tế đã thường phải cắt lưu trú trong ương trình tham quan tại Hòa Bình do cơ sở lưu trú hiện có không đáp ứng được yêu cầu của khách
ch-* Cơ sở ăn uống, bán hàng
Hiện tại chưa có một con số thống kê nào về số lượng hệ thống cơ sở ăn uống bán hàng tại khu du lịch hồ thủy điện Hòa Bình nhưng theo điều tra một số người dân địa phương sống ở gần điểm du lịch lâu năm và từ phòng du lịch sở Văn Hóa - Thể Thao và Du Lịch thì trong năm qua hệ thống này luôn được cải thiện về số lượng và chất lượng
Ở các điểm du lịch dịch vụ ăn uống và bán hàng lưu niệm có rải rác khắp mọi nơi, nhà dân cũng tham gian vào việc cung cấp các sản phẩm này Tại các cơ quan chủ quản của các khu du lịch thì khách được phục vụ ăn uống tại các khách sạn,
Trang 36nhà nghỉ hay nhà sàn Đồ ăn thức uống phong phú và đa dạng mang đặc trưng của địa phương như: lợn Mường, cá nướng, gà đồi, cơm lam, rượu cần…du khách có thể tự chọn theo thực đơn Ngoài ra để đáp ứng nhu cầu của du khách các món ăn kiểu tây cũng được phục vụ tận tình, chu đáo Mức giá các loại dịch vụ ăn uống và bán hàng ở đây cũng phong phú đa dạng, tùy theo túi tiền của khách.
Nhìn chung dịch vụ ăn uống ở các điểm du lịch tại hồ thủy điện Hòa Bình cũng mới được kinh doanh phục vụ ở quy mô nhỏ, chất lượng phục vụ còn thấp, cơ
sở của các dịch vụ còn nghèo nàn Hàng lưu niệm tại các điểm du lịch có cả những sản vật địa phương làm ra song bao gồm cả những mặt hàng ở nơi khác tới, chưa thực sự tạo được sản phẩm ấn tượng, mang nét đặc trưng của văn hóa vùng miền từng khu vực chưa tạo ra sự hấp dẫn cho du khách, trước mắt cần nâng cấp chất lượng dịch vụ, sớm đưa ra giải pháp thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm thủ công truyền thống (như các sản phẩm thổ cẩm dân tộc tự dệt, các nhạc cụ truyền thống, các công cụ sản xuất ) Nâng cao chất lượng, đa dạng hoá mẫu mã tạo nét đặc sắc, mang phong cách riêng cho sản phẩm, góp phần tạo nên tiếng nói cộng hưởng cho du lịch Hòa Bình
2.2 Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực phục vụ du lịch ở Hồ thủy điện Hòa Bình
Cơ quan quản lý trực tiếp lòng hồ thủy điện Hòa Bình là Nhà máy thủy điện Hòa Bình Tuy nhiên công ty không đứng ra tổ chức các tour du lịch, hiện tại các tour du lịch đến với lòng hồ thông qua Công ty cổ phần Du Lịch Hòa Bình và các
tổ chức du lịch khác ngoài tỉnh Nhưng nhìn chung, hiện trạng về hoạt động kinh doanh cũng như chất lượng các dịch vụ lữ hành của hồ thủy điện Hòa Bình là chưa đáng kể, chưa tương xứng với tiềm năng du lịch của khu vực Khách du lịch tới lòng hồ thường tập trung đông nhất vào mùa lễ hội (tháng giêng và tháng 2)
Số lao động trong ngành du lịch hồ thủy điện Hòa Bình hầu như chưa có nhiều chưa phân ngành rõ rệt, tập trung phần lớn ở thành phố, thị trấn Do đó chưa
có con số cụ thể tôi xin lấy lực lượng lao động trong ngành du lịch toàn tỉnh Hòa
Trang 37Bình để tham khảo từ đó đưa ra những nhận định khách quan số lượng cũng như chất lượng toàn tỉnh Hòa Bình (trong đó có hồ thủy điện Hòa Bình).
Do ngành du lịch chưa phát triển mạnh mẽ, số nhân công du lịch tại các địa phương còn hạn chế về số lượng cũng như chất lượng Đa phần người dân làm du lịch ở đây chủ yếu là những người dân thuộc khu vực, có hiểu biết về văn hóa cũng như cảnh đẹp của địa phương và họ làm việc mang tính tự phát
Qua bảng số liệu ta thấy: Với quyết tâm đưa ngành du lịch trở thành kinh tế mũi nhọn của cả nước nói chung và của tỉnh Hòa Bình nói riêng đã thu hút được một lượng lao động đáng kể vào phục vụ ngành du lịch điều này cho thấy rất rõ qua số lượng lao động tăng dần dần qua các năm Năm 2008 số lượng phục vụ cho ngành du lịch 1.400 người, năm 2009 đạt 1.500 người, năm 2010 là 1.680 người tới năm 2011 con số này lên tới 1.830 người Tốc độ phát triển bình quân qua bốn năm là 109,38%
Bên cạnh việc tăng lên về số lượng lao động, chất lượng lao động ngành du lịch cũng tăng lên song chưa thực sự tương xứng với nhu cầu thực tế, còn hạn chế
về chuyên môn, nghiệp vụ Điều này thể hiện rõ qua tỷ lệ số lao động có trình độ
từ trung cấp trở lên so với tổng lượng lao động trong ngành du lịch chiếm tỷ lệ chưa cao và tuy có sự gia tăng qua các năm về số lượng Trong khi đó số lượng chưa qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ lại chiếm số lượng khá đông Năm 2008
là 995/1.400 người chiếm 71,07%, năm 2009 là 1.070/1.500 chiếm 71,33%, năm
2010 là 1.210/1.680 chiếm 72,02%, năm 2011 là 1.325/1.830 chiếm 72,40% Tỷ lệ này cứ tăng dần qua các năm nên mức độ đáp ứng nhu cầu công việc có hạn, không theo kịp tốc độ phát triển của ngành Đây cũng là một trong những nguyên gây ảnh hưởng tới chất lượng phục vụ
Tóm lại, việc phát triển và nâng cao chất lượng về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho nguồn nhân lực trong ngành là cơ sở quan trọng và cấp thiết Đây
Trang 38cũng là một bước để tạo đà nâng cao giá trị sản lượng du lịch trong tương lai đối với du lịch tỉnh Hòa Bình nói chung và du lịch hồ thủy điện Hòa Bình nói riêng.
Bảng chi tiết thực trạng lao động du lịch Hòa Bình giai đoạn 2008 -2011 được thể hiện cụ thể phần phụ lục
2.3 Các sản phẩm du lịch chủ yếu
Hồ thủy điện Hòa Bình được thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh
có tiềm năng lớn về du lịch và tạo ra các sản phẩm đặc sắc hấp dẫn du khách Tuy nhiên, khu vực hồ thủy điện Hòa Bình vẫn còn là khu vực nghèo về các loại hình
du lịch vì nguồn vốn đầu tư, chất lượng lao động của đội ngũ nhân viên làm du lịch, kinh nghiệm tổ chức quản lý về lĩnh vực du lịch còn yếu, cơ sở vật chất đầu tư cho du lịch còn hạn chế
Để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi hiện nay hồ thủy điện Hòa Bình có một số sản phẩm du lịch sau:
- Du lịch ngắm cảnh: Du ngoạn hồ thủy điện Hòa Bình ngắm cảnh sông nước, nhìn sang hai bên bờ sông, đan xen những rừng cây, những ngọn đồi núi non hùng
vĩ tạo nên một khung cảnh sơn thủy hữu tình Du khách sẽ được câu cá, thưởng thức những món ăn đặc trưng của lòng hồ
Vui chơi giải trí trên mặt nước: như câu cá, trượt nước, thả diều, bơi lội, lăn thể thao mạo hiểm: leo núi, khám phá rừng, tìm hiểu hang động
- Du lịch nghỉ dưỡng với các hệ thống khách sạn, các khu nhà nghỉ cao cấp được xây dựng bằng các vật liệu địa phương Du khách có thể nghỉ tại nhà dân tìm hiểu những nét văn hóa hay các làng nghề truyền thống như: nghề dệt, đan lát
- Du lịch tín ngưỡng, lễ hội: Tìm hiểu những nét văn hóa tín ngưỡng dân gian
ở Đền Bờ, Hang Miếng Tìm hiểu các sản vật địa phương như cơm Lam, cá nướng và các lễ hội diễn ra hàng năm
Trang 39- Du lịch tham quan tìm hiểu sản vật, cây trồng địa phương Tìm hiểu con người, văn hóa Mường thưởng thức các món ăn dân gian.
2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch ở Hồ thủy điện Hòa Bình
2.4.1 Về công tác marketing và xúc tiến du lịch
Với lợi thế là mảnh đất giàu tiềm năng du lịch là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa của tỉnh Tuy nhiên, hoạt động quảng cáo xúc tiến phát triển du lịch của hồ thủy điện Hòa Bình chưa mạnh mẽ, các hình
thức quảng bá còn đơn điệu nên chất lượng chưa cao, chưa nhiều và chưa có chiến
lược quảng cáo xúc tiến phát triển du lịch chuyên nghiệp để chiếm lĩnh thị trường
Hiện nay cũng có một số sách báo, ấn phẩm, tờ rơi, tập gấp, cẩm nang ngành du
lịch tỉnh Hòa Bình và các tác giả khác đã phát hành Ngoài ra, vùng lòng hồ cũng
đã hợp tác với đài truyền hình trung ương VTV1 và địa phương xây dựng các phóng sự chuyên đề du lịch nhưng mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái quát các điểm tài nguyên và khá rời rạc Hầu hết các du khách biết đến Hòa Bình chỉ là có nghe nói đến Nhà máy thuỷ điện Hòa Bình và Bản Lát ở Mai Châu
Nhiều du khách trong khu vực và địa phương cũng chưa biết đến sự hấp dẫn của các danh lam thắng cảnh, các nguồn tài nguyên phi vật thể tại sông Đà Nên cần phát huy sự hiểu biết của từng cá nhân, đoàn thể trong các ban ngành đặc biệt
là ngành du lịch cùng với các ngành khác có liên quan cùng làm và tuyên truyền quảng bá một cách có hệ thống và khoa học về các tài nguyên, địa điểm du lịch hồ thủy điện Hòa Bình đồng thời kêu gọi các đơn vị trong và ngoài nước đầu tư vào các điểm du lịch
2.4.2 Số lượng khách du lịch
Khách du lịch là yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của ngành du lịch, bởi vì số lượng khách du lịch đến khu du lịch nhiều hay ít thể hiện qua mức độ phát triển của các hoạt động du lịch của khu du lịch đó Cũng như
Trang 40thể hiện khả năng khai thác tiềm năng, số lượng, chất lượng, các sản phẩm du lịch
để phục vụ du khách
Trong thực tế du lịch hồ thủy điện Hòa Bình đã có các hoạt động du lịch nhưng chưa thực sự hiệu quả, chưa tương xứng với tiềm năng nên việc thống kê lượng khách và các vấn đề liên quan chưa đầy đủ Số lượng khách du lịch hồ thủy điện Hòa Bình chỉ chiếm một lượng nhỏ so với lượng khách tới Hòa Bình
Số lượt khách đến du lịch của Hòa Bình từ năm 2008 - 2011
Đơn vị: Lượt người
Tổng lượng khách 689.092 820.000 1.100.000 1.450.000
Nguồn: Phòng Du lịch Sở Văn Hóa - Thể Thao Và Du Lịch
Số lượt khách du lịch đến Hồ thủy điện Hòa Bình
Đơn vị: Lượt người
Nguồn: Phòng du lịch sở Văn Hóa – Thể Thao và Du lịch
Qua bảng số liệu ta thấy: Lượng khách du lịch đến với hồ thủy điện Hòa Bình chỉ chiếm một lượng nhỏ đối với tổng lượng khách đến Hòa Bình nhưng điều đáng mừng số lượng khách du lịch qua các năm có sự tăng dần Năm 2008 đạt 172.273 người, năm 2009 đạt 205.000 người, tăng 19% so với năm 2008 Năm
2010 đạt 275.000 lượt người, tăng 34.1% so với năm 2009 Năm 2011 đạt 362.500