MỞ ðẦU
Tớnh cấp thiết của ủề tài
Du lịch ngày nay đóng vai trò như sứ giả hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc Tại nhiều quốc gia, du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế hàng đầu, với tỷ trọng GDP ngày càng tăng trong tổng GDP của nền kinh tế quốc dân Ngành du lịch không chỉ tạo ra nguồn thu ngoại tệ cho đất nước mà còn tạo ra nhiều việc làm cho người dân, thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác Điều này thể hiện rõ trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong bối cảnh đổi mới, kinh tế - xã hội Việt Nam ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện, du lịch Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng, với năm 2007 vượt mốc 4 triệu lượt Dự báo, Việt Nam sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch quốc tế trong trung và dài hạn Sự phát triển của du lịch nội địa cũng gia tăng nhờ cải thiện đời sống Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển nhanh chóng, ổn định chính trị và du lịch bền vững sẽ đảm bảo Việt Nam là lựa chọn lý tưởng cho du khách.
Hoà Bỡnh là tỉnh miền nỳi cửa ngừ vựng Tõy Bắc tiếp giỏp với Thủ ủụ
Hà Nội, cú nhiều tuyến ủường bộ, ủường thủy nối liền với cỏc tỉnh Phỳ Thọ,
Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa và Sơn La là những vùng có tiềm năng phát triển kinh tế xã hội Đặc biệt, Hà Nội mới mở rộng đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho Hòa Bình trong việc khai thác tiềm năng này Hòa Bình từ lâu đã nổi tiếng với bốn vùng Mường lớn, góp phần vào sự phát triển bền vững của khu vực.
“Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động” là những địa danh gắn liền với nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng, nơi có sự hiện diện của người Mường Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (2006-2010) đã khẳng định du lịch là ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Trong chương trình hành động của Tỉnh ủy, nghị quyết Đại hội X nhấn mạnh việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và quản lý nhà nước về du lịch, ưu tiên nâng cấp các khu du lịch trọng điểm và các vùng phụ cận Đồng thời, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các loại hình du lịch, xây dựng hệ thống nhà nghỉ, khách sạn và hạ tầng du lịch theo quy hoạch, đặc biệt là thu hút đầu tư vào khu du lịch hồ Sông Đà.
Hồ Sông Đà, thuộc tỉnh Hòa Bình, được hình thành sau khi công trình thủy điện Hòa Bình khởi công năm 1979 và hoàn thành năm 1994 Hồ có diện tích rộng nhất 2 km, độ sâu từ 80m-110m và chiều dài trên 200km, với dung tích chứa 9 tỷ m³ nước Khi thủy điện Sơn La hoàn thành, dung tích hồ có thể tăng cao hơn nữa Với thiên nhiên phong phú và cảnh quan đa dạng, nhiều du khách khi tham quan nơi đây đã ví Hồ Sông Đà như một Hạ Long thu nhỏ Trong chuyến thăm và làm việc tại Hòa Bình, Thủ tướng Phan Văn Khải đã phát biểu tại hội nghị cán bộ chủ chốt rằng: “Hồ Hòa Bình là một trong những hồ đẹp nhất của Việt Nam” và nhấn mạnh về chủ trương đưa hồ Hòa Bình vào khu du lịch Quốc gia Hiện nay, UBND tỉnh đã gửi văn bản lên Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để trình Thủ tướng Chính phủ.
Mặc dù tỉnh Hòa Bình có tiềm năng du lịch lớn, việc phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch hồ Sông Đà, vẫn còn chậm chạp Quy hoạch tổng thể du lịch chưa hoàn thiện, đầu tư cơ sở hạ tầng cho du lịch lòng hồ vẫn ở mức thấp Công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên du lịch chưa thống nhất, dẫn đến hiệu quả khai thác thấp Nhận thức về những vấn đề này còn hạn chế, vì vậy cần thiết phải đầu tư nghiên cứu để thúc đẩy sự phát triển du lịch hồ Sông Đà, nhằm tương xứng với tiềm năng của khu vực Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khai thác tiềm năng du lịch hồ Sông Đà để phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hòa Bình”.
Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên tiềm năng và thực trạng khai thác du lịch hồ Sông Đà tại tỉnh Hòa Bình, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa việc khai thác du lịch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm tới.
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về khai thác tiềm năng du lịch trong phát triển kinh tế-xã hội;
- đánh giá tiềm năng du lịch vùng hồ sông đà tỉnh Hoà Bình;
- đánh giá thực trạng khai thác tiềm năng du lịch hồ sông đà trong phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh thời gian qua;
Định hướng quy hoạch và các giải pháp nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch hồ Sông Đà, Hòa Bình sẽ đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là khu vực hồ Sông Đà.
ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
- ðối tượng nghiên cứu: Tài nguyên du lịch, các cơ sở kinh doanh du lịch và khách du lịch ựến tham quan vùng hồ sông đà
Nghiên cứu tập trung vào nguồn tài nguyên du lịch khu vực hồ Sông Đà, bao gồm các địa điểm thuộc thành phố Hòa Bình, huyện Cao Phong, Tân Lạc, Đà Bắc và Mai Châu.
Đề tài tổng hợp nghiên cứu các nội dung trong khoảng thời gian từ năm 2004 đến 2008, đồng thời đề xuất các giải pháp đến năm 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020.
Bảng 1.1 Cỏc ủơn vị hành chớnh trong và ngoài phạm vi nghiờn cứu du lịch Hồ Sông ðà Hòa Bình năm 2008
TT Đơn vị hành chính Số xã
(người/km 2 ) Vùng quy hoạch du lịch hồ Sông Đà
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hòa Bình
Hồ sông Đà Hòa Bình nằm trong địa phận của 5 huyện và thị xã, với tổng chiều dài 70km Mặc dù hồ kéo dài tới Sơn La, nhưng nghiên cứu này chỉ tập trung vào 4 huyện: Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu, Đà Bắc và thành phố Hòa Bình Các huyện này nằm trên đường phân thủy của địa hình, với lưu vực chủ yếu đổ về hồ sông Đà Hòa Bình Trong đó, đặc biệt chú trọng tới các địa phương nêu trên.
- Phắa đông Bắc - Thành phố Hoà Bình có xã Thái Bình, Thái Thịnh, phường Tân Thịnh và Phương Lâm
- Phắa đông Nam - Huyện Cao Phong có xã Bình Thanh và Thung Nai
- Phía Nam - Huyện Tân Lạc có xã Ngòi Hoa và Trung Hoà
Phá Bắc thuộc huyện Đà Bắc, bao gồm các xã Đồng Ruộng, Toàn Sơn, Hiền Lương, Tiền Phong, Vầy Nưa, Yên Hoà, Tân Dân và một phần xã Cao Sơn (có bản Xưng).
- Phía Tây, Tây Nam - Huyện Mai Châu có xã Phúc Sạn, Tân Mai
- Khu bảo tồn rừng Quốc gia Pu Canh - đà Bắc
Hầu hết các xã kể trên đều có mối quan hệ mật thiết với hồ Sụng đà Hoà Bình, tập trung vào giao thông và kinh tế Giao thông chủ yếu diễn ra qua đường thủy, đặc biệt là ở các xã (trừ các phường thuộc thành phố Hoà Bình) Tổng diện tích của các xã này là 522,9 km² (52.290 ha), trong khi tổng diện tích của năm huyện là 2.249 km².
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cơ sở lý luận
2.1.1.1 Khái niệm về du lịch và ngành du lịch
Du lịch (DL) là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, với nội dung hoạt động ngày càng phong phú và mở rộng Khái niệm về DL không mới, bắt nguồn từ thời kỳ cổ đại, cụ thể là vào thế kỷ VIII trước Công nguyên với các cuộc hành hương của người Hy Lạp đến đỉnh Olympus Tuy nhiên, do sự đa dạng trong cách tiếp cận và hiểu biết về DL ở các quốc gia khác nhau, cũng như tính chất đặc thù của hoạt động này, hiện tại vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm chung về DL trên toàn thế giới.
Thuật ngữ “du lịch” ngày nay rất phổ biến và có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “tornos”, có nghĩa là ủi một vũng Từ này đã được chuyển hóa sang tiếng Latinh thành “tornus” và sau đó xuất hiện trong tiếng Pháp với nghĩa là cuộc dạo chơi hoặc đi vòng quanh.
"Du lịch" có nguồn gốc từ từ "tourisme" trong tiếng Pháp, "typuzm" trong tiếng Nga, và "tourism", "tourist" trong tiếng Anh, lần đầu tiên xuất hiện vào khoảng năm 1800 (LV Ths, Trần Bá Uẩn-2006).
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), du lịch là hoạt động di chuyển đến một địa điểm khác với môi trường sống thường xuyên của con người, nhằm mục đích tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hoặc các mục đích khác, với thời gian lưu trú không quá một năm Du lịch bao gồm việc đến một nơi xa lạ để thư giãn và nghỉ dưỡng trong thời gian rảnh rỗi.
Du lịch là hoạt động của những người di chuyển tạm thời với mục đích tham quan, khám phá, tìm hiểu và trải nghiệm, hoặc để nghỉ ngơi, giải trí và thư giãn Nó cũng có thể bao gồm các mục đích nghề nghiệp và những lý do khác, diễn ra liên tục nhưng không quá một năm, tại một môi trường khác với nơi cư trú Tuy nhiên, du lịch không bao gồm những chuyến đi có mục đích chính là kiếm tiền Đây cũng được xem là một hình thức nghỉ ngơi năng động trong một môi trường hoàn toàn khác biệt.
Tại hội nghị LHQ về du lịch diễn ra ở Roma, Italia từ ngày 21/8 đến 5/9/1963, các chuyên gia đã định nghĩa du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế phát sinh từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hoặc tập thể bên ngoài nơi ở thường xuyên hoặc quốc gia của họ, với mục đích thư giãn Nơi lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.
Theo Mathieson và Wall (1982), du lịch được định nghĩa là sự di chuyển tạm thời của con người đến những địa điểm khác ngoài nơi cư trú thông thường của họ Hoạt động này bao gồm các hoạt động giải trí và các phương tiện được phát triển để đáp ứng nhu cầu của du khách.
Theo Macintosh và Goeldner (1986), du lịch được định nghĩa là tổng hợp các hiện tượng và mối quan hệ phát sinh giữa du khách và nhà cung cấp dịch vụ du lịch.
Theo luật du lịch Việt Nam năm 2005, du lịch được định nghĩa là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên, nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
* Ngành du lịch: Ngành Du lịch ủược xem là ngành lớn nhất trờn thế giới
Ngành du lịch bao gồm một số lượng lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng với các tập đoàn đa quốc gia lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng thị trường Chẳng hạn, tại Châu Âu, năm công ty hàng đầu chiếm hơn 60% số chuyến bay quốc tế Ngành này tạo ra nhiều việc làm cho nhân viên du lịch, văn phòng du lịch, nhân viên phục vụ trên máy bay và tàu thủy, tài xế, nhân viên khách sạn lớn và nhà nghỉ gia đình, cũng như các thợ thủ công mỹ nghệ và những người cung cấp dịch vụ du lịch khác Sự phức tạp của ngành này đặt ra những thách thức cụ thể cho nhân viên và cộng đồng địa phương trong việc học hỏi và xây dựng mối quan hệ với ngành du lịch.
2.1.1.2 Khái niệm về khách du lịch và phân loại khách du lịch
Khách du lịch được định nghĩa là những người đến một địa điểm khác với nơi cư trú thường xuyên của họ vì lý do không liên quan đến công việc hay kiếm tiền Định nghĩa này áp dụng cho cả khách quốc tế và khách nội địa.
Khách thăm viếng một ngày (Day Visitor) Là loại khách thăm viếng lưu lại ở một nơi nào ủú dưới 24 giờ và khụng lưu trỳ qua ủờm
Khách du lịch là những người đến thăm và lưu trú tại một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ khác trong thời gian trên 24 giờ Họ thường nghỉ qua đêm với mục đích nghỉ dưỡng, tham quan, thăm gia đình, hoặc tham gia các sự kiện như hội nghị, tôn giáo và thể thao.
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới, du lịch được xác định dựa trên các thống kê liên quan đến lượng khách du lịch.
Những chuyến ủi ủến đến các môi trường sống khác thường xuyên hơn sẽ mang lại trải nghiệm phong phú hơn so với những chuyến ủi lại trong khu vực cư trú quen thuộc Điều này giúp người ủú mở rộng tầm nhìn và hiểu biết về những nơi khác nhau.
Người ủng hộ phải ở dưới 12 tháng liên tục tại nơi trú ẩn, nếu ở từ 12 tháng trở lên sẽ được coi là cư trú thường xuyên tại đó theo quan điểm của thống kê.
Thực tiễn và kinh nghiệm khai thác tài nguyên du lịch ở nước ngoài và trong nước
2.2.1 Th ự c ti ễ n và kinh nghi ệ m qu ả n lý khai thác tài nguyên du l ị ch ở n ướ c ngoài
Du lịch quốc tế tại khu vực Đông Nam Á đã ghi nhận mức tăng trưởng 21% trong nửa đầu năm 2006 so với cùng kỳ năm 2005, trong khi toàn cầu tăng 4,5% Sự phục hồi này một phần nhờ vào việc khôi phục du lịch ở những khu vực bị ảnh hưởng bởi sóng thần vào tháng 12/2004 và sự vượt qua dịch SARS năm 2003 Cụ thể, Maldives đã tăng trưởng du lịch lên đến 97% trong năm 2006 so với năm 2005, trong khi lượng khách quốc tế qua sân bay Bangkok, Thái Lan, cũng tăng 29% trong ba tháng đầu năm.
Năm 2006, du lịch ở khu vực tăng trưởng mạnh mẽ nhờ vào sự gia tăng liên tục ở Ấn Độ (+15%), sự tự do đi lại của du khách tại Trung Quốc, và sự phát triển của các dịch vụ hàng không giá rẻ trong khu vực Tại Đông Nam Á, các quốc gia như Campuchia (+19%), Philippines (+13%), Singapore (+15%), và Việt Nam (+12%) đều ghi nhận mức tăng trưởng hai con số trong lượng khách du lịch quốc tế trong nửa đầu năm 2006 Điều này cho thấy sự tăng trưởng du lịch trong khu vực diễn ra nhanh chóng và không có dấu hiệu giảm.
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và dịch cúm A/H1N1 từ năm 2008 đã làm chậm lại sự tăng trưởng du lịch thế giới Tuy nhiên, tình hình này dự kiến sẽ được cải thiện khi nền kinh tế phục hồi.
Trung Quốc không chỉ là một quốc gia mà còn là một thế giới đa dạng và phong phú Chuyến hành trình đến "người khổng lồ" Trung Quốc sẽ để lại nhiều cảm xúc và kiến thức về nền văn hóa đặc sắc Nếu bạn có thời gian và sự kiên nhẫn, hãy thực hiện chuyến vi hành đến những địa danh nổi tiếng như Con đường Tơ lụa, sông Dương Tử, và Vạn Lý Trường Thành.
Hầu hết các nhà hàng đều cộng phí dịch vụ 10% Tại các nhà hàng trong khách sạn, mức phí thường được tính là 15%, đặc biệt đối với những bàn tiệc có trên 10 khách.
Trung Quốc cú rất nhiều hồ nước tuyệt ủẹp như:
Hồ Thanh Hải, với diện tích 4.583 km² và độ cao 3.266 m so với mực nước biển, là hồ lớn nhất tại Trung Quốc Còn được biết đến với tên gọi "Koko Nor" ở Mông Cổ và "Tso Ngonpo" ở Tây Tạng, hồ này nổi bật với vẻ đẹp tự nhiên và giá trị sinh thái quan trọng.
Hồ Thanh Hải là ủảo chim rộng hơn 1.000m2 là nơi chim di trỳ tập trung nhiều nhất vào mùa xuân và mùa hè, với cả trăm loài
Hòn đảo luôn rộn ràng tiếng kêu líu lo của hàng nghìn con chim, bao gồm ngỗng, mòng biển, các loài chim nhỏ sống ở sông, chim cốc và én.
Hồ Kanas, với diện tích 44,78 km² và độ cao 1.340 m so với mực nước biển, được miêu tả như "màu của thượng đế" với sắc thái đa dạng Khi nước trong veo, hồ hiện lên với màu xanh dương và xanh lục, trong khi dưới những đám mây mỏng, nước có màu hồng; khi mây phủ kín, hồ lại mang màu xanh và xám Đây là hồ nước sạch sâu nhất Trung Quốc, với độ sâu 184 m tại một điểm Hình thành cách đây khoảng 200.000 năm, hồ là nơi sinh sống của 798 loài thực vật và 117 loại chim Nơi đây cũng là quê hương của hơn 1.400 người dân tộc thiểu số Tuva, tổ tiên của họ đã di cư từ Siberia hơn 1.000 năm trước.
Rừng Taiga của Siberia kộo dài ủến vựng Kanas, là vựng duy nhất cú cú ủộng vật hoang dó của chõu Âu - Siberia
Việc khai thác du lịch xung quanh hồ ở Trung Quốc đang dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng Tại hồ Taihu, tỉnh Giang Tô, hiện tượng xây dựng không theo quy hoạch và việc chạy theo khai thác du lịch đã góp phần làm xấu đi cảnh quan xung quanh hồ, một trong những hồ tự nhiên lớn và đẹp nhất Trung Quốc.
Để cải thiện chất lượng nước hồ và thúc đẩy ngành du lịch, chính quyền địa phương đã triển khai nhiều chương trình, bao gồm việc mở van xả nước sông Dương Tử vào hồ nhằm giảm ô nhiễm, đồng thời sử dụng hóa chất để xử lý rêu tảo.
Tính đến nay, công nhân vệ sinh tại Wuxi đã vớt hơn 6.000 tấn tảo xanh và nhiều rác thải trên hồ Taihu Ngoài ra, cơ quan bảo vệ môi trường sẽ ra lệnh đóng cửa toàn bộ các công ty xả thải ô nhiễm vào hồ này.
Trong thời gian vừa qua Thái Lan gặp phải những khó khăn bất ổn về chớnh trị ủó gõy ra khụng ớt khú khăn cho ngành du lịch
Theo Apichart Sankary, chủ tịch Hiệp hội các công ty du lịch Thái Lan, nhiều khách đã hủy chuyến đến Thái Lan, trong khi du khách đang ở Bangkok vội vã rời khỏi thành phố Kongkrit Hiranyakit, chủ tịch Hội đồng du lịch Thái Lan, cho biết việc hai sân bay đóng cửa đã khiến doanh thu từ du lịch giảm 1/3, tương đương 4,2 tỷ USD Tình trạng này có thể dẫn đến 200.000 người trong ngành khách sạn mất việc, cùng với các công ty liên quan đến du lịch - lĩnh vực tạo việc làm cho khoảng 2 triệu người Thái - bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Ngành du lịch Thái Lan đang nỗ lực vượt qua khó khăn với chương trình khuyến mại tour và mua sắm cho năm 2009, đầu tư gần 30 triệu USD để quảng bá tại 20 thị trường trọng điểm Chính phủ Thái Lan đã quyết định miễn thị thực cho công dân của 62 quốc gia từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2009 Nhờ vào chính sách visa linh hoạt, chỉ sau hơn 2 tháng từ những bất ổn chính trị, Bangkok đã lấy lại vị trí là điểm trung chuyển lớn nhất Đông Nam Á.
2.2.1.3 Singapo ðến với ủất nước Singapo xinh ủẹp - quốc ủảo sư tử, chỳng ta cú rất nhiều ủịa danh cần phải tới như: Những chuyến du ngoạn vũng quanh cỏc hũn ủảo phớa Nam như Kusu, St John's, Sisters và Lazarus ủược chào bỏn bởi một số các công ty lữ hành Những chương trình này bao gồm các bữa ăn trưa, trà mặn và bữa ăn tối lãng mạn dành cho những kẻ si tình
Năm 2008, lượng khách du lịch đến Việt Nam chỉ tăng 0,6%, trong khi Singapore đạt 4,8%, Malaysia và Indonesia hơn 13%, Campuchia 6% Điều này cho thấy sự chậm chạp và thụ động trong ngành du lịch Việt Nam, khiến nước này ngày càng tụt hạng so với các quốc gia lân cận.
ðẶC ðIỂM ðỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ðặc ủiểm ủịa bàn nghiờn cứu
Vị trớ ủịa lý: Hoà Bỡnh là một tỉnh miền nỳi, tiếp giỏp với vựng ðồng Bằng
Tỉnh Hòa Bình, được tái lập vào ngày 01/10/1991 từ tỉnh Hà Sơn Bình, nằm cách thủ đô Hà Nội 76km về phía Nam và là cửa ngõ vùng Tây Bắc của tổ quốc Tỉnh giáp với Phú Thọ ở phía Bắc, Hà Nam và Ninh Bình ở phía Nam, Hà Nội ở phía Đông, và Sơn La, Thanh Hóa ở phía Tây Hòa Bình gồm 10 huyện và một thành phố (Thành phố Hòa Bình được công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh từ ngày 27/10/2006), với tổng cộng 214 xã, phường, thị trấn Sau khi cắt 4 xã về Hà Nội vào năm 2008, tỉnh hiện còn 210 xã, phường, thị trấn, trong đó có 67 xã đặc biệt khó khăn và 64 xã vùng cao, cùng 23 xã vùng hồ Sông Đà, được nhà nước đầu tư theo chương trình 135.
Hỡnh 1 : B ả n ủồ vựng h ồ Sụng ð à, t ỉ nh Hũa Bỡnh
Hoà Bỡnh là vựng ủệm trung gian giữa một bờn là vựng ðồng Bằng Bắc
Bộ và một bờn là nỳi cao, rừng rậm của miền Tõy Bắc, ủược thụng giao qua Quốc lộ 6 (ựường bộ) và Sông đà (ựường thủy) ở phắa Bắc
Hồ Sông Đà Hòa Bình có chiều rộng từ 1-2 km và độ sâu từ 80-100 m, trải dài hơn 200 km từ Hòa Bình đến Sơn La, với dung tích lên tới 9 tỷ m³ nước Trong địa giới tỉnh Hòa Bình, hồ nằm trong phạm vi 23 xã thuộc 5 huyện và thành phố, với tổng chiều dài lên đến 70 km.
Phá Bắc thuộc huyện Đà Bắc, Phá Nam thuộc huyện Tân Lạc, Phá Đông Bắc thuộc thành phố Hòa Bình, và Phá Đông Nam thuộc huyện Cao Phong, trong khi phía Tây và Tây Nam thuộc huyện Mai Châu Địa hình nơi đây phong phú, đa dạng và hấp dẫn du khách, với nhiều ngọn núi, khe suối và độ dốc bình quân khoảng 30 độ, cùng với tỷ lệ che phủ đạt khoảng 45%.
Trong số 47 hồ lớn nhỏ, có 11 hồ nước với diện tích 116 ha và 36 hồ nhỏ với diện tích 157,5 ha Phong cảnh sơn thủy hữu tình, hai bên bờ hồ là những cánh rừng núi ngút ngàn, tạo nên vẻ đẹp thơ mộng.
Theo số liệu thống kờ của Cục thống kờ tỉnh Hoà Bỡnh năm 2008, ủộ cao trung bình so mặt nước biển của 5 huyện:
Bảng 3.1 : ðộ cao trung bình của các huyện, thành phố vùng Hồ Sông ðà
Tên ðịa danh ðộ cao trung bình so mặt nước biển (m)
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Hoà Bình)
Huyện Đà Bắc nổi bật với các ngọn núi cao như Phu Canh (1.373m), Phu Xúc (1.373m), Đức Nhõn (1.320m), Biều (1.196m) và Hờu (1.162m) Bên cạnh đó, huyện Tõn Lạc cũng có núi Thạch Bi với độ cao 1.108m Đây là những huyện có các ngọn núi cao trên 1.000m so với mực nước biển, tạo nên cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và thu hút du khách.
Do địa hình bị chia cắt mạnh, sông suối thường ngắn và dốc Vào mùa mưa, lượng mưa nhiều khiến mực nước sông suối dâng cao và chảy xiết, gây ra lụt lội, ảnh hưởng đến nông nghiệp và giao thông Ngược lại, vào mùa khô, tình trạng thiếu nước xảy ra, làm giảm lượng nước ở các sông suối, nhiều suối nhỏ bị khô cạn.
Hồ Sông Đà nằm trong vùng khí hậu khắc hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu nội địa Mùa đông ngắn, lạnh và có mưa, trong khi mùa hè dài, nóng và mưa nhiều.
Bảng 3.2: Chỉ tiờu khớ hậu thời tiết từng thỏng trờn ủịa bàn tỉnh năm 2008
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hòa Bình năm 2008
Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 23,60 °C, với nhiệt độ cao nhất là 28,10 °C và thấp nhất là 20,40 °C Tổng số giờ nắng trong năm là 1.728,5 giờ, trong đó tháng 1 có số giờ nắng thấp nhất và tháng 12 có số giờ nắng cao nhất Nhiệt độ cao nhất thường diễn ra từ tháng 5 đến tháng 9, trong khi nhiệt độ thấp nhất tập trung vào tháng 1 và 2 Độ ẩm trung bình hàng năm là 83,3%, cho thấy tình trạng ẩm ướt thường xuyên, phù hợp với khí hậu ẩm đảm bảo tính sinh thái bền vững.
Lượng mưa bình quân hàng năm đạt 167.8mm, chủ yếu tập trung từ tháng 4 đến tháng 9, với các tháng mưa nhiều nhất là tháng 5, 6, 7 và 8 Trong thời gian này, có những trận mưa kéo dài liên tục từ 2 đến 3 ngày Ngược lại, lượng mưa trong các tháng 1, 3 và 10 thường không đáng kể, dễ dẫn đến tình trạng hạn hán.
Địa hình phức tạp của Hòa Bình, với lượng mưa trung bình từ 1750 đến 2150 mm/năm, đã tạo ra một hệ thống sông suối và hồ dày đặc Các sông lớn thường chảy ở độ cao thấp hơn so với toàn vùng, trong khi dân cư và đất canh tác lại nằm ở độ cao nhiều hơn, dẫn đến khó khăn trong việc lấy nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt Do đó, người dân địa phương phải phụ thuộc vào nguồn nước từ các suối nhỏ cho cuộc sống hàng ngày.
Tỉnh Hòa Bình nằm trong hệ thống lưu vực của ba con sông chính: sông Đà, sông Bưởi và sông Bôi, với nhiều sông suối lớn nhỏ chảy qua.
Sông Đà bắt nguồn từ độ cao trên 1500m thuộc vùng núi Ngụy Sơn tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, nơi được gọi là sông Bà Biềng và sau đó là sông Lý Tiên Khi vào Việt Nam, sông được gọi là Nậm Tố và đến Lai Châu thì mang tên Sông Đà Sông chảy song song với sông Thao theo hướng Tây và hợp lưu với sông Hồng tại Trung Hà, cách Việt Trì 15 km về phía thượng lưu Tổng chiều dài sông Đà tính từ nguồn đến cửa sông khoảng 980 km, trong đó phần nằm trên lãnh thổ Việt Nam dài 540 km Độ cao trung bình toàn lưu vực sông khoảng 1130 m, trong khi trên lãnh thổ Việt Nam là 900 m.
Sông Đà chảy qua thung lũng hẹp dưới chân những ngọn núi cao, với nhiều thác ghềnh và dốc lớn Hai bờ sông có tổng cộng 68 phụ lưu dài trên 10 km, trong đó bờ tả có các phụ lưu như Nậm Mạ, Nậm Na, Nậm Mu, Nậm Chiến và suối Tấc Bờ hữu có Nậm Pô, Nậm Mức, Nậm Pàn, Nậm Sập Phụ lưu dài nhất là Nậm Mu với chiều dài 165 km.
20 km là 32 phụ lưu; lớn hơn 15 km là 46 phụ lưu
Lưu vực của các phụ lưu tại Việt Nam có diện tích lớn nhất là sông Nậm Mu với 3.400 km² Sông Nậm Na có tổng diện tích lưu vực 6.860 km², trong đó phần Việt Nam chiếm 2.290 km², bắt nguồn từ vùng đất Trung Quốc Nậm Mức có diện tích toàn lưu vực 2.920 km², với 1.100 km² nằm trên đất Lào và chiều dài toàn bộ sông là 110 km Tại thành phố Hòa Bình, hồ chứa Hòa Bình đã được xây dựng trên sông Đà và đi vào hoạt động từ năm 1991 Tuy nhiên, mặc dù đoạn sau thủy điện Hòa Bình có diện tích rộng hơn, diện tích lưu vực lại hẹp hơn Dọc theo chiều dài 45 km từ Hòa Bình đến Trung.
Hà ủộ dốc trung bỡnh là 0,1 m/km
Diện tích lưu vực tính ủến ủập Thủy điện Hòa Bình là 51.800 km², với chiều dài sông chảy qua tỉnh Hòa Bình khoảng 100 km Dữ liệu khí tượng thủy văn cho thấy các thông số liên quan đến hồ Hòa Bình sau khi được vận hành.
+ Dòng chảy bình quân năm Q0 = 1.787m 3 /s
+ Lưu lượng lớn nhất Qmax = 12400m 3 /s
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Ph ươ ng pháp thu th ậ p s ố li ệ u
Nguồn thông tin thứ cấp bao gồm việc thu thập số liệu từ các báo cáo kinh tế, xã hội của tỉnh, các sở, ban ngành, huyện, khu du lịch, niên giám thống kê của tỉnh và cả nước Ngoài ra, các tài liệu, công trình nghiên cứu đã công bố và các chủ trương chính sách về khai thác tiềm năng du lịch của Đảng và Nhà nước cũng được sử dụng làm nguồn thông tin.
Nguồn thông tin sơ cấp được thu thập từ việc điều tra và phỏng vấn du khách về các vấn đề liên quan đến mục đích và nội dung nghiên cứu thông qua các phiếu điều tra đã được chuẩn bị trước Trong quá trình phỏng vấn, kết hợp với việc quan sát và trao đổi kinh nghiệm về các vấn đề có liên quan.
3.2.2 Ph ươ ng pháp x ử lý s ố li ệ u
Số liệu ủược tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel
3.2.3 Ph ươ ng pháp phân tích s ố li ệ u
3.2.3.1 Phương pháp thống kê kinh tế
Sử dụng tốc độ phát triển bình quân để tính toán các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động du lịch qua các năm, như số khách bình quân đến khu du lịch và doanh thu của khu du lịch.
Thụng qua cỏc số tương ủối và tuyệt ủối ủể so sỏnh, ủỏnh giỏ sự vật, hiện tượng theo không gian và thời gian
Phương phỏp này sử dụng ủể so sỏnh, ủỏnh giỏ kết quả kinh doanh du lịch qua các năm
3.2.3.3 Phương pháp chuyên gia ðõy là phương phỏp ủược ủỏnh giỏ cao trong lĩnh vực du lịch hiện nay Do nhu cầu về du lịch rất nhạy cảm với những biến ủộng về an ninh – chớnh trị trờn thế giới Mặt khỏc, ủõy là phương phỏp rất cú ưu ủiểm trong việc sử dụng ủể ủỏnh giỏ cỏc vấn ủề cú tớnh chất ước ủịnh, làm sỏng tỏ cỏc vấn ủề cú tớnh chất kinh tế, kỹ thuật phức tạp, ủồng thời trắc nghiệm lại cỏc tớnh toỏn và những nhận ủịnh làm căn cứ cho việc ủưa ra cỏc kết luận cú tớnh khoa học và thực tiễn Vỡ vậy chỳng tụi ủó thu thập ý kiến của giỏo viờn hướng dẫn, của cỏc nhà nghiờn cứu về du lịch tại ủịa phương, doanh nghiệp về du lịch, các hướng dẫn viên du lịch…
3.2.3.5 Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia (PRA)
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã thu thập ý kiến từ người dân địa phương gần các điểm du lịch và lắng nghe phản hồi từ du khách Nhờ vào sự đóng góp này, chúng tôi đã nắm bắt được thông tin thực tế về tình hình hiện tại, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển phù hợp với nhu cầu thực tế của địa phương.
Cỏc cụng cụ PRA sử dụng là: Phõn tớch cõy vấn ủề, phõn tớch nhõn quả, phương pháp xếp hạng ưu tiên
- ðiều kiện tự nhiên,tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn
- Số lượng, cơ cấu khách du lịch
- Số ngày khách lưu trú bình quân;
Số ngày khách lưu trú BQ = tổng số ngày khách/ tổng số lượt khách
- Doanh thu du lịch: Bao gồm doanh thu từ dịch vụ lưu trú,dịch vụ ăn uống, doanh thu bán hàng và doanh thu khác
- Cỏc ủỏnh giỏ của du khỏch
- Một số chỉ tiêu dự báo;
+ Lượng khỏch du lịch ủến: K =k0 +(k0.r).n
R: tốc ủộ tăng trưởng BQ n: số năm dự báo
+ Doanh thu từ hoạt ủộng du lịch = tổng lượt khỏch * số ngày lưu trỳ bình quân * chi tiêu BQ một khách
+ Nhu cầu vốn ủầu tư cho du lịch = mức tăng thờm GDP du lịch* hệ số ủầu tư