1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài tiềm năng du lịch của tỉnh Khánh Hòa

34 784 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 6,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài nguyên du lịch: Theo khoản 4 Điều 4 Luật Du lịch của Việt Nam thì tài nguyên du lịch là cảnhquan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sángtạo củ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT KHOA LUẬT HỌC – LỚP LHK33NT

Khoá học 2010 - 2013

-TIỂU LUẬN THỰC TẾ

ĐỀ TÀI:

TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA TỈNH KHÁNH HÒA

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

4 Nguyễn Thị Kiều Thư - MSSV: 0920285

5 Nguyễn Tiến Thuận - MSSV: 0920281

6 Nguyễn Duy Huy - MSSV: 0920211

7 Nguyễn Văn Nam - MSSV: 0920238

8 Nguyễn Trọng Nhựt - MSSV: 0920251

Nha Trang, ngày 18 tháng 8 năm 2013

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam là một trong số các quốc gia có ngành du lịch phát triển nhanh trongthập niên qua Sự góp phần của nguồn thu nhập du lịch vào GDP và cán cân thanhtoán trở nên đáng kể và ngày càng gia tăng Với các lợi thế về giá cả, nguồn tàinguyên thiên nhiên, văn hóa khá phong phú, nguồn nhân lực dồi dào và là điểm đếnmới, Việt Nam hiện là quốc gia đang thu hút du khách quốc tế Tuy nhiên, so với bứctranh tổng thể của ngành du lịch khu vực và thế giới, du lịch Việt Nam chỉ có tỷ phầnkhiêm tốn 2.3% và 1.8% trên lượng khách đến và thu nhập của khu vực, và vị thứ chỉ

số cạnh tranh du lịch 17/25 và 89/133 trong khu vực và trên thế giới So sánh với tỷphần và vị thứ tương ứng của nước láng giềng Malaysia - 11.4%, 8.2%, 3/25, và32/133 - Việt Nam sẽ phải cần rất nhiều nỗ lực và thời gian để có thể thu ngắn khoảngcách phát triển ngành du lịch với các quốc gia có lợi tức trung bình như Malaysia vàThái Lan

Du lịch đã thu hút được sự tham gia của các thành phần kinh tế và thành phầndân dư trong xã hội, tạo ra diện mạo mới của du lịch Việt Nam, sôi động và rộng khắptrong phạm vi cả nước.So với thời điểm năm 1999, du lịch Việt Nam hiện nay đanghội nhập mạnh mẽ với du lịch khu vực và quốc tế, thông qua các cam kết về du lịchsong phương, đa phương, trong Tổ chức du lịch thế giới (WTO) và của khu vực(PATA, ASEANTA,…)

Mặc dù hoạt động du lịch đã có những chuyển biến tích cực, đặc biệt trong 5năm gần đây, song vẫn chưa xứng tầm với tiềm năng và lợi thế phát triển du lịch tolớn của đất nước.Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề ra chủ trương “phát triển

mục đích cùng phát triển du lịch của địa phương trong thời gian tới và lâu dài

Đề tài này được thực hiện qua những kiến thức đã tiếp thu được trong chươngtrình tại lớp học và được đi thực tế tại Tháp bà Ponagar Trong thời gian thực hiện đềtài nhóm chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu, trao đổi trực tiếp, so

Trang 3

sánh và tìm hiểu qua tài liệu trên mạng internet, các báo cáo của địa phương Dokhuôn khổ thời gian bài viết có hạn và trình độ nhận thức của nhóm tiếp thu cònhạn chế, nên trong bài viết chưa thể hiện được tổng thể hết những tiềm năng dulịch của Khánh Hoà Rất mong nhận được nhiều sự góp ý từ cô giáo và các anh chịtrong lớp để bài viết của chúng tôi được bổ sung, sửa chữa hoàn thiện hơn.

Trang 4

I KHÁI NIỆM DU LỊCH VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH.

Du lịch:

Theo quy định pháp luật Việt Nam (khoản 1 Điều 4 Luật Du lịch 2005)

Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi

cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định

Tài nguyên du lịch:

Theo khoản 4 Điều 4 Luật Du lịch của Việt Nam thì tài nguyên du lịch là cảnhquan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sángtạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứngnhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến

du lịch, đô thị du lịch

Tài nguyên du lịch có mấy loại?

Tài nguyên du lịch gồm có hai loại đó là tài nguyên du lịch tự nhiên và tàinguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác

Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khíhậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mụcđích du lịch

Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa,văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình laođộng sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thểđược sử dụng phục vụ mục đích du lịch

Tài nguyên du lịch có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cánhân

(Theo Điều 13 Luật Du lịch)

II TIỀM NĂNG (TÀI NGUYÊN) DU LỊCH CỦA KHÁNH HÒA:

Du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn của Khánh Hòa Để đưa du lịch pháttriển xứng với tiềm năng và lợi thế, tỉnh Khánh Hòa tập trung khai thác tối đa thếmạnh về biển đảo, du lịch núi rừng, thăm quan các di tích lịch sử, danh lam thắngcảnh, văn hóa và các loại hình du lịch đa dạng, hấp dẫn khác trên địa bàn, nhằm ngàycàng thu hút đông đảo khách du lịch trong nước và nước ngoài, góp phần vào nhiệm

Trang 5

vụ phát triển kinh tế - xã hội Năng lực kinh doanh và môi trường du lịch ngày càngđược cải thiện, nhờ vậy số lượng khách, doanh thu và cả chỉ tiêu nộp ngân sách củangành du lịch Khánh Hòa tăng bình quân trên 16%/năm Riêng doanh thu du lịchKhánh Hòa tăng từ 6.9 tỷ(năm 1990) lên 300 tỷ (năm 2002) và hơn 2.560 tỷ (năm2012), dự kiến đến năm 2020 doanh thu du lịch đạt 7.000 tỷ đồng.

Giờ đây, trên bản đồ du lịch Đông Nam á, Nha Trang - Khánh Hòa là mộttrong những trung tâm có nhiều cơ sở lưu trú ven biển chất lượng cao 5 năm trở vềtrước, mùa cao điểm thường “cháy” phòng ở phân khúc khách sạn từ 3 sao trở xuống,nhưng bây giờ, những khách sạn từ 4 sao trở lên, đặc biệt là nhóm 5 sao như SheratonNha Trang, Ninh Vân Bay, Evason Hideway at Ana Mandara, Vinpearl luxury, AnaMandara, luôn luôn đầy khách

1 Đặc điểm tình hình địa phương:

Khánh Hòa là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa, tại đây đã từng tồn tại mộtnền văn hóa Xóm Cồn, có niên đại lâu trước cả văn minh Sa Huỳnh Quốc sử quántriều Nguyễn – sách Đại Nam nhất thống chí còn ghi vùng đất tỉnh Khánh Hòa ngàynay chính thức trở thành đất đai Đại Việt vào năm 1653.Tuy nhiên,phải đến đời vuaMinh Mạng thứ 13,năm 1832, tên gọi tỉnh Khánh Hòa mới được xác lập

Dưới triều Nguyễn và thời Pháp thuộc,thủ phủ của Khánh Hòa đóng tại BìnhKhanh,sau đó dời về Diên Khánh.Dưới thời chính quyền ngụy Sài Gòn,được dời vềNha Trang.Sau giải phóng miền Nam,trải qua hai lần tách nhập tỉnh,nhưng Nha Trang

vẫn là trung tâm hành chính của Khánh Hòa.Khánh Hòa là vùng đất có bề dày lịch sử,vănhóa Nhiều tài liệu khảo cổ học đã chứng minhrằng ngay từ thời tiền sử, con người đã sinh sống

ở đây Trên Hòn Tre, người ta đã phát hiện ranhiều công cụ bằng đá Việc phát hiện ra đàn đáKhánh Sơn đã minh chứng rằng chủ nhân của nó từng sống vào giữa thiên niên kỷ Itrước Công nguyên Những dấu tích còn lại sau thời đại kim khí ở Khánh Hòa chophép khẳng định ở đây đã từng tồn tại một nền văn hóa Xóm Cồn,có niên đại lâutrước cả văn minh Sa Huỳnh

Trang 6

Khánh Hòa vốn là nơi sinh sống của bộ tộc Cau – một trong hai thị tộc chínhcủa vương quốc Chăm-pa xưa Đây từng là Thành đô của Vương quốc Chăm-pa,vớikhu tháp thờ bà mẹ xứ sở Ponagar Hiện ở Khánh Hòa vẫn còn nhiều di tích văn hóaChăm-pa như bia Võ Cạnh, miếu ông Thạch, Am chúa… Dấu vết thành Diên Khánhngày nay là chứng tích một công trình văn hóa vật thể,được xây dựng từ khi bắt đầuhình thành phủ Thái Khang và Diên Ninh.

Khánh Hoà là một tỉnh thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, có diện tích

tự nhiên trên đất liền là 5.217,6 km2, có bờ biển dài hơn 200 km và gần 200 hòn đảo

lớn nhỏ cùng nhiều vịnh biển đẹp như Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh trong đó

có quần đảo Trường Sa thân yêu của Tổ quốc, với khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình26⁰C, có hơn 300 ngày nắng trong năm và nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếngkhác Khánh Hòa còn có vị trí đặc biệt quan trọng, là cửa ngõ ra biển đối với NamTây Nguyên, tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh gắn kết với các tỉnh Nam Trung Bộ vàTây Nguyên phát triển mạnh kinh tế biển nói riêng, kinh tế - xã hội trên địa bàn nóichung Với những lợi thế đó Khánh Hòa đã trở thành một trong những trung tâm dulịch lớn của Việt Nam

Khánh Hòa là một trong những tỉnh có đường bờ biển đẹp của Việt Nam.Thềmlục địa tỉnh Khánh Hòa rất hẹp, đường đẳng sâu chạy sát bờ biển Tỉnh nằm trong khuvực khí hậu nhiệt đới gió mùa Thường chỉ có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng.Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 9 đến giữa tháng 12 dương lịch Từ tháng 01đến tháng 8, có thể coi là mùa khô, thời tiết thay đổi dần Những tháng đầu mùa, trờimát, nhiệt độ từ 17-25 °C, nhưng từ tháng 5 đến tháng 8 trời nóng nực, nhiệt độ có thểlên tới 34 °C (ở Nha Trang) và 37-38 °C (ở Cam Ranh)

Người dân Khánh Hòa chân thành, cần cù, giản dị, thân thiện và hiếu khách.Không kín đáo như người Hà Nội, không cầu kì như người Huế và nhịp sống cũngchậm hơn người Sài Gòn, người Khánh Hòa có tính cách phóng khoáng mà giản dịhệt như những đặc tính của vùng biển Khánh Hòa kín gió, sóng nhẹ

2 Tiềm năng du lịch: (còn được gọi là tài nguyên du lịch) Tài nguyên du lịch

gồm có hai loại đó là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

Trang 7

Nhưng để phân tích sâu hơn nhóm của chúng tôi xin chọn tài nguyên du lịch nhânvăn Trong tài nguyên du lịch nhân văn có hai yếu tố hợp thành đó là: Di tích lịch sửvăn hóa, danh lam thắng cảnh và văn hóa lễ hội.

+ Di tích lịch sử văn hóa: (gọi chung là di tích) là những tài sản có giá trị lịch

sử văn hóa từ các đời trước để lại, là một bộ phận của di sản văn hóa vật thể

Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợpgiữa cảnh quan thiên nhiên và công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ cao hoặc địaghi dâu hoạt động của con người trong lịch sử để lại, có giá trị về lịch sử, văn hóa,khoa học

Tại Khánh Hòa có các di tích lịch sử văn hóa như: Tháp bà Ponagar, Chiếnkhu Đồng Bò, Chùa Long Sơn (Nha Trang); Khu di tích Alexandre Yesin, Thành cổDiên Khánh, Am Chúa (Diên Khánh), Đình Phú Cang (Vạn Ninh), Lăng Bà Vú, TàuKhông số 235 (Ninh Hòa), Đàn đá Khánh Sơn …

Tháp bà PoNagar :

Tháp Bà PoNagar

Po Nagar (tên đầy đủ là Po Ina Nagar, hay còn gọi là Tháp Bà) là ngôi đền Chăm

Pa nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ cao khoảng 10-12 mét so với mực nước biển, ở

Trang 8

cửa sông Cái (sông Nha Trang) tại Nha Trang, cách trung tâm thành phố khoảng

2 km về phía bắc, nay thuộc phường Vĩnh Phước Tên gọi "Tháp Po Nagar" được

dùng để chỉ chung cả công trình kiến trúc này, nhưng thực ra nó là tên của ngọn tháplớn nhất cao khoảng 23 mét Ngôi đền này được xây dựng trong thời kỳ đạo Hindu(Ấn Độ giáo) đang cường thịnh khi Chăm pa trong giai đoạn có tên gọi là HoànVương Quốc

Truyền thuyết về Bà Thiên Y A Na ( Nữ thần PohNagar) :

+Theo người Chăm :

Trang 9

Nữ vương Po Ina Nagar (còn gọi là Yan Pu Nagara, Po Ino Nagar hay Bà Đen

mà nguời Việt gọi là Thiên Y Thánh Mẫu Ana) là vị nữ thần được tạo nên bởi ángmây trời và bọt biển, người tạo dựng ra Trái Đất, sản sinh gỗ quí, cây cối và lúa gạo

Bà có 97 chồng, trong đó chỉ một mình Po Yan Amo là người có uy quyền và đượctôn trọng hơn cả Bà có 38 người con gái, tất cả đều hóa thân thành nữ thần, trong đó

có ba người được người Chăm chọn làm thần bảo vệ đất đai và còn thờ phụng cho tớingày nay: Po Nagar Dara - nữ thần Kauthara (Khánh Hòa); Po Rarai Anaih - nữ thần

Panduranga (Ninh Thuận) và Po Bia Tikuk

-nữ thần Manthit (Phan Thiết)

Tương truyền, tượng bà Thiên Y Thánh MẫuAna theo tín ngưỡng phồn thực của ngườiChăm, không có quần áo Po Nagar hiện nayđược người Việt Nam sử dụng, nhưng đã cho

nữ thần ăn mặc theo kiểu Phật Ngôi đền nàycũng nổi tiếng đối với các du khách

+ Theo Người Việt :

Đến khi đất Kauthara thuộc về người Việt, thì nữ thần Poh Nagar cũng trở thành vị nữthần của người Việt với tên gọi là Thiên Y A Na và sự tích của bà cũng được Việthóa

Tuy những lời kể có đôi nét khác nhau, nhưng đại để như sau:

Xưa kia tại núi Đại An (nay là Đại Điền), có hai vợ chồng tiều phu già không con,trồng rẫy dưa Dưa chín, thường bị hái trộm Rình rập, một đêm ông lão bắt được thủphạm Khi biết được kẻ hái là một cô gái nhỏ xinh đẹp nhưng mồ côi, ông liền mang

về nuôi Không ngờ, cô gái ấy vốn là tiên nữ, vì lí do nào đó, phải giáng trần!

Một hôm, mưa lụt lớn, cảnh vật tiêu điều, khiến tiên nữ thêm nhớ cảnh tiên xưa Chonên, cô lấy đá và hoa lá tạo thành một hòn giả sơn (hòn non bộ) Cho rằng việc làm đókhông thích hợp đối với một phụ nữ, nên người cha nuôi có nặng lời quở mắng Vì

Trang 10

vậy, nhân thấy một khúc kỳ nam đang trôi dạt, cô bèn biến thân vào khúc cây ấy, đểxuôi ra biển cả rồi tấp vào bờ biển nước Trung Hoa.

Mùi hương từ khúc kỳ nam lan tỏakhắp nơi, khiến nhiều người đến xem,nhưng không một ai nhấc lên nổi Thái

tử nước ấy, nghe tin đồn tìm đến, rồinhẹ nhàng vác khúc gỗ kia mang vềcung Đêm nọ, Thái tử thấy có bóngngười lạ ẩn hiện từ khúc cây kì nam.Rình rập mấy đêm, thì chàng bắt được.Nghe cô gái xinh đẹp tự xưng mình làThiên Y A Na và khi nghe chuyện củanàng xong, ngay hôm sau, Thái tử đãtâu với vua cha cho phép cưới nànglàm vợ Sống với Thái tử, Thiên Y A

Na sinh được một trai đặt tên là Tri vàmột gái đặt tên là Quí

Một hôm, Thiên Y A Na nhớ cảnh cũ người xưa, bèn dắt hai con nhập vào khúc kỳnam, vượt biển trở về cố quốc Khi biết cha mẹ nuôi đã mất, bà cho xây đắp mồ mả,cho sửa sang lại nhà cửa để có chỗ thờ phụng hai ông bà Thấy dân chúng ở Đại Anhãy còn thật thà, chất phác; bà liền đem những gì học được ở quê chồng, như phéptắc, lễ nghi ra chỉ dạy và dạy cả những việc như cày cấy, kéo sợi dệt vải để ngườidân quê mình biết cách mưu sinh

Ít lâu sau, một con chim hạc từ trên mây cao bay xuống, rước bà và hai con về cõitiên Nhớ ơn đức, nhân dân địa phương cùng nhau xây tháp, tạc tượng phụng thờ

Khi đến Đại An, không tin Thiên Y A Na và hai con đã rời bỏ cõi tục, bộ hạ của Thái

tử đã tra khảo người dân rất dữ, vì ngỡ họ cố tình che giấu mẹ con bà Bị oan ức vàđau đớn, nhiều người dân đã thắp hương cúng vái bà Liền đó, một trận cuồng phong

Trang 11

nổi dậy, cát chạy đá bay và toàn bộ những người đến từ phương Bắc đều bị cát vùithây, thuyền bè của họ cũng bị đá đánh chìm hết…

Theo lời người xưa truyền lại, thì những cụm đá ở trước cửa tháp Bà (tức tháp PoNagar ở Nha Trang), giữa cửa sông Cù, là những viên đá đã đánh đắm cả đoàn thuyềnvừa kể.Sự tích này đã được Kinh lược Phan Thanh Giản chép lại thành bài kí, khắclên bia đá, dựng sau tháp Bà ở Nha Trang vào năm Tự Đức thứ 9 (1856)

Ngoài ra, vào năm 1925, bác sĩ Sallet chép lời người dân địa phương kể lại, thêm thắtvài chi tiết, đề có một sự tích nữa, tóm gọn như sau:

Một Thái tử Trung Hoa qua Việt Nam tìm vợ, gặp khúc trầm to, muốn đưa lên thuyền,nên cho lính chặt ra làm ba khúc Tức thì, giông bão nổi lên làm đắm thuyền Khúctrầm trôi ngược vào sông, tấp vào khu vườn ở làng Bình Thủy (Phan Rí) Do đượcbáo mộng, chủ vườn thức dậy, thì thấy khúc trầm to có ghi chữ Thiên Y (Thiên Y ANa) và hai khúc trầm nhỏ (hai đứa con), và ông đã đem lên cất miếu thờ Lâu ngày, gỗtrầm hóa đá

Lại truyền tụng thêm một câu chuyện khác, theo nhà văn Sơn Nam, đó là ngày xưa

“có một phú thương người Hoa thử mua hoặc đánh tráo khúc trầm, đưa lên ghe chở vềTàu, thì giông tố liền nổi lên, khiến thuyền phải quày về chỗ cũ"

Tuy nhiên, hai sự tích ghi sau, ít được phổ biến

Lịch sử Tháp Bà PoNagar :

Ngôi tháp bằng gỗ trước kia thờ nữ vương Jagadharma (công chúa Tchou Koti hayThiên Y Thánh Mẫu) (cai trị Lâm Ấp từ năm 646 đến năm 653) được PrithiIndravarman cho xây dựng lại bằng vật liệu cứng tại Aya Tră (Nha Trang), trên mộtngọn đồi cao cạnh cửa sông Cái (Xóm Bóng), để thờ tượng nữ thần Bhagavati (bằngvàng) Năm 774, quân Nam Đảo (Java, Indonesia) vào cướp phá Đền Po Nagar, bịquân Nam Đảo phá hủy, sau đó được Satyavarman cho dựng lại bằng gạch, năm 784thì hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay, nhưng cũng đã bị hủy hoại một phần đáng

kể Sau này quốc vương Harivarman I và con trai ông là Vikrantavarman III sau này

có thể đã lần lượt xây dựng thêm 5 tháp nữa

Trang 12

Những cấu trúc xây dựng còn sót lại có niên đại sớm nhất, theo Trần Kỳ Phương làmandapa?? - nó đã được xây dựng vào thời gian nào đó trước khi có câu khắc trên biavào năm 817, có nói tới nó Trần Kỳ Phương cho rằng tháp nhỏ ở phía tây bắc có niênđại khoảng thế kỷ 10, và ngôi tháp chính có niên đại khoảng thế kỷ 11.

Những bia ký còn sót lại ở Po Nagar cho người ta thấy được dấu vết của một quốc giahùng mạnh đã từng tồn tại trong quá khứ

Kiến trúc Tháp Bà PoNagar :

Quần thể Tháp Bà được xây dựng và tu bổ rải rác qua nhiều thời kỳ, suốt từ thế

kỷ 8 đến thế kỷ 12 Tổng thể công trình kiến trúc gồm ba tầng, đi từ dưới lên trên.Tuy nhiên tầng thấp nhất được coi là cổng tháp nay đã không còn nữa, chỉ còn nhữngbậc thang bằng đá dẫn lên tầng giữa

Tầng giữa : hiện chỉ còn hai dãy cột chính bằng gạch hình bát giác Mỗi bên 5

cột, mỗi cột cao hơn 3m, đường kính hơn 1m Ở hai bên các dãy cột chính có 12 cột

Trang 13

nhỏ hơn, thấp hơn Tất cả cùng trụ trên một nền gạch cao khoảng 1m Từ tầng giữanày có một dãy bậc thang bằng gạch dẫn lên tầng thượng

Trang 14

Tầng trên : cùng là nơi các tháp được xây dựng Dãy tháp phía trước có 3 ngôi,

trong đó tháp chính cao nhất (khoảng 25m) Dãy tháp phía sau hiện chỉ còn lại 1 ngôi.Mặt tiền của các tháp đều hướng ra biển Đông Cả 4 tháp còn lại được xây dựng theokiểu tháp của người Chăm, các tháp được xây bằng gạch rất khít mạch, không nhìnthấy chất kết dính Lòng tháp rỗng tới đỉnh Mặt ngoài thân tháp có nhiều gờ, trụ, đấu.Trên đỉnh các trụ, thường đặt gạch trang trí hoa văn hình vòm tháp, trông như chiếctháp nhỏ đặt lên một tháp lớn.Trên thân tháp đắp nhiều tượng và phù điêu bằng đấtnung như thần Po Nagar, thần Tenexa, các tiên nữ,các loại thú: nai, sư tử, …

Trang 15

Tháp thờ chính ở dãy trước khá lớn và cao khoảng 23 mét, là tháp Po Nagar,

mà ta hay gọi là tháp Bà Nguyên thủy chính là tháp thờ thần Parvati, vợ của Shiva.Tháp chính thờ thần Po Nagar (Umar), vợ của thần Siva Tháp Bà xây 4 tầng, mỗitầng đều có cửa, tượng thần và hình thú bằng đá, ở 4 góc có 4 tháp nhỏ Bên trong làtượng nữ thần (cao 2,6 m) tạc bằng đá hoa cương màu đen (trước đó là gỗ trầmhương, và xa hơn nữa là bằng vàng) ngồi trên bệ đá uy nghiêm hình đài sen, lưng tựaphiến đá lớn hình lá bồ đề Đây là một kiệt tác về điêu khắc Chămpa, là sự kết hợp hàihòa giữa kỹ thuật tượng tròn và chạm nổi Người Pháp đã lấy mất đầu tượng, nay chỉcòn đầu tượng bằng xi măng vẽ mặt Rải rác quanh di tích còn có một số tượng người,tượng thú Trên đỉnh tháp có tượng thần Shiva cỡi ngưu thần Nandin, và các tượnglinh vật như chim thiên nga, dê, voi v.v Mặt ngoài tường tháp lại được trang trí bởinhững hình điêu khắc vào đá như những vũ công, người chèo thuyền, xay gạo hay đisăn với cung tên Cửa chính ở phía đông dẫn vào một tiền sảnh, ở hai bên cửa có haitrụ đá được khắc truyền ký, đỡ một phiến đá hình thuẫn có khắc hình nữ thần Durgađang múa giữa hai nhạc công Bên trong tháp tối và lạnh Cuối tháp có một bệ thờbằng đá bên dưới tượng Bà Po Nagar với mười cánh tay Hai bàn tay dưới đặt trên hai

Trang 16

đầu gối, các bàn tay khác thì cầmnhững vât dụng như đoản kiếm, mũitên, chùy và cây lao ở bên phải vàchuông, đĩa, cung và tù và ở bên trái.

Các tháp

Cách tháp này cũng về hướng nam là một tháp còn nhỏ hơn Bên trong thápkhông có bệ thờ mà chỉ có một linga (thạch trụ), và đây là tháp thờ thần Ganesa, thânngười đầu voi, con của Shiva Nhiều tác giả cho rằng linga là linh tượng có hình thùdương vật tượng trưng cho Shiva, dựa theo sự diễn dịch của phương Tây hơi thiên vềtình dục Thực ra, linga tiêu biểu là một trụ đá thấp có ba phần khác nhau tượng trưngcho ba linh thể: phần dưới là hình vuông tượng trưng cho Brahma, phần giữa hình bátgiác tượng trưng cho Vishnu, và phần trên cùng hình tròn tượng trưng cho Rudra (haycòn gọi là Shiva) Vì thế gọi là "linh thạch trụ" thì thích hợp hơn

Trang 17

Ở dãy tháp phía sau có mộtngôi tháp, tương đối ít hư

hại nhất ở

mạn

bắc, với máidài

hình yên ngựa Kiểu mái này chỉ thấy bắt đầu ở những tháp vùng Đồ Bàn - Vijaya(Bình Định ngày nay) sau khi kinh đô được dời xuống từ Mỹ Sơn, Trà Kiệu ở thế kỷ

11 Ở tường có những hình điêu khắc như thần điểu Garuda, sư tử, các tiên nữ Apsara,rắn thần Naga Chính dưới nền của tháp này trong khi tu sửa đầu thế kỷ 20, thực dânPháp đã khám phá và lấy mất một kho tàng được cất dấu gồm những vật cúng dườngbằng vàng và bạc

Ngày nay 2 tháp khác ở phía tây nam là tây đã bị phá hủy Sự phân bố này làm chongười ta có sự so sánh thú vị với các tháp gạch ở Lolei, gần Angkor Wat tạiCampuchia, đã được xây dựng vào thế kỷ 8

Ngày đăng: 05/10/2016, 19:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình yên ngựa. Kiểu mái này chỉ thấy bắt đầu ở những tháp vùng Đồ Bàn - Vijaya (Bình Định ngày nay) sau khi kinh đô được dời xuống từ Mỹ Sơn, Trà Kiệu ở thế kỷ - Đề tài tiềm năng du lịch của tỉnh Khánh Hòa
Hình y ên ngựa. Kiểu mái này chỉ thấy bắt đầu ở những tháp vùng Đồ Bàn - Vijaya (Bình Định ngày nay) sau khi kinh đô được dời xuống từ Mỹ Sơn, Trà Kiệu ở thế kỷ (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w