Vậy nguyên nhân gây ra lạm phát cao ở Việt Nam: Nguyên nhân trực tiếp và ngắn hạn: • Các cú sốc thâm hụt ngân sách • Các cú sốc tăng tổng cầu một số lĩnh vực phát triển nóng • Các cú sốc về điều chỉnh giá và tăng giá nguyên liệu đầu vào của hàng nhập khẩu Nguyên nhân cơ bản và dài hạn: • Các yếu tố gây nên lạm phát cơ cấu • Các yếu tố gây nên lạm phát tiền tệ Nguyên nhân khách quan: Lạm phát cơ cấu Lạm phát chi phí đẩy • Hình thức của lạm phát do chi phí đẩy xuất phát từ phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng .Điều này chỉ có thể đạt trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả với giá cao hơn • Bên cạnh đó giá cả nhập khẩu cao hơn được chuyển cho người tiêu dùng nội địa cũng là một yếu tố gaay lên lạm phát .Nhập khẩu càng trở lên đắt đỏ khi đồng nội tệ yếu đi hợac mất giá so với đồng tiền khác. Nguyên nhân chủ quan: Lạm phát cầu kéo và lạm phát tiền tệ • Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu. Nguyên nhân chính là do tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kịp. • Việc tăng cung ứng tiền tệ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tăng cầu về hàng hoá và dịch vụ. Nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhất làm tăng cầu
Trang 1NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT VỀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1.1 Khái niệm lạm phát
Lạm phát là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung Điều này không
nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa dịch vụ đồng thời phải tăng theo cùng một tỷ lệ mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Bện cạnh đó lạm phát cũng có thể được hiểu là sự suy giảm sức mua của đông tiền
1.2 Số liệu diễn biến lạm phát ở Việt Nam 2003 - 2013
Năm 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 201
2 2013
Lạm phát(%) 3 9.5 8.4 6.6 12.6 19.89 6.52 11.75 18.1
3 6.81 6.3
NHẬN XÉT
Các số liệu thống kê CPI nước ta từ năm 2003 - 3013 cho thấy “thông lệ” rất rõ ràng Đó là cứ một năm CPI tăng thấp thì hai năm tiếp theo đều tăng cao
CPI năm 2003 chỉ tăng 3%, đến hai năm 2004 và 2005 lần lượt tăng hơn 9% và 8% Kế đến năm 2006, mức tăng CPI đã giảm xuống còn 6,6%, hai năm
2007 và 2008 lần lượt tăng gần 12,6% và 19,89% Năm 2009, CPI quay về mức thấp chỉ tăng 6,52%, quy luật diễn tiếp năm 2010 11,75% và 18,13% Như vậy, sau khi chỉ tăng 6,81% trong năm 2012 thì việc CPI năm 2013 vẫn tăng ở mức thấp 6,3%, trái với “thông lệ” đường đi phi quy luật đã hình thành từ năm 2003 đến nay
II NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT
Khi nhu cầu của thị trường về một mặt hàng nào đó tăng lên sẽ kéo theo
sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo
đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hóa trên thị trường
Chi phí đẩy của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên, vì thế mà giá thành sản phẩm cũng sẽ tăng lên nhằm bảo toàn lợi nhuận và thế là mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng sẽ tăng được gọi là “lạm phát do chi phí đẩy”
Với ngành kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp tăng dần tiền công
“danh nghĩa” cho người lao động Nhưng cũng có những nhóm ngành kinh doanh không hiệu quả, doanh nghiệp cũng theo xu thế đó buộc phải tăng tiền công cho người lao động Nhưng vì những doanh nghiệp này kinh doanh kém hiệu quả, nên khi phải tăng tiền công cho người lao động, các doanh nghiệp này buộc phải tăng giá thành sản phẩm để đảm bảo mức lợi nhuận và làm phát sinh lạm phát
Trang 2Khi thị trường giảm nhu cầu tiêu thụ về một mặt hàng nào đó, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm, như giá điện ở Việt Nam), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát
Khi xuất khẩu tăng, dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung (thị trường tiêu thụ lượng hàng nhiều hơn cung cấp), khi đó sản phẩm được thu gom cho xuất khẩu khiến lượng hàng cung cho thị trường trong nước giảm (hút hàng trong nước) khiến tổng cung trong nước thấp hơn tổng cầu Khi tổng cung và tổng cầu mất cân bằng sẽ nảy sinh lạm phát
Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng (do thuế nhập khẩu tăng hoặc do giá cả trên thế giới tăng) thì giá bán sản phẩm đó trong nước sẽ phải tăng lên Khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên sẽ hình thành lạm phát
Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát
Nguyên nhân trực tiếp và ngắn hạn:Các cú sốc thâm hụt ngân sách,các
cú sốc tăng tổng cầu một số lĩnh vực phát triển nóng, các cú sốc về điều chỉnh
giá và tăng giá nguyên liệu đầu vào của hàng nhập khẩu
Nguyên nhân cơ bản và dài hạn: Các yếu tố gây nên lạm phát cơ cấu,
các yếu tố gây nên lạm phát tiền tệ
Tóm lại: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó
"lạm phát do cầu kéo" và "lạm phát do chi phí đẩy" được coi là hai thủ phạm chính.Cân đối thu chi là điều không thể tránh khỏi khi xảy ra lạm phát
III CHÍNH SÁCH CAN THIỆP NHẰM KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
Một là, cần thực hiện chính sách tài chính - tiền tệ năng động và hiệu quả trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.
Hạ lãi suất cho vay để khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất trong nước và xuất nhập khẩu, cung cấp hàng hóa cho nền kinh tế
Hạn chế giải chấp chiết khấu , đề nghị các Ngân Hàng, Công ty chiết khấu tạm ngừng giải chấp, tiếp tục gia hạn hoặc NHNN hỗ trợ tài chính thông qua hoạt động tái chiết khấu để tạo thanh khoản cho các NH
Xử lý cầu đầu tư nước ngoài: Giữ tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào ,nhưng tháo gỡ thủ tục hành chính
Tiếp tục siết chặt chi tiêu công đối với các dự án không hiệu quả: đề nghị
Trang 3Quốc Hội và Chính phủ tiếp tục cắt giảm để tập trung vào đầu tư xuất khẩu góp phần thăng bằng cán cân thương mại
Phòng chống giảm phát
Hai là, đề xuất với Chính phủ thành lập quỹ kích cầu để kích thích tiêu dùng để kích thích nền kinh tế phát triển tránh xu hướng giảm phát trong thời gian tới.
Trước thực trạng nền kinh có dấu hiệu giảm phát, cần phải giảm tốc độ tăng lãi suất huy động của ngân hàng, duy trì tốc độc tăng trưởng 7% là hợp lý.Bên cạnh đó, Chính phủ cần phải bố trí ngân sách quỹ kích cầu để kích thích tiêu dùng để kích thích nền kinh tế phát triển tránh xu hướng giảm phát trong thời gian tới Trước mắt cần đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, tăng năng suất lao động làm cho giá trị của nền kinh tế “thật” không bị thoát li giá trị của nó do nền kinh tế “ảo”
Ba là, tiết kiệm chi phí sản xuất xã hội và chi tiêu công và tư
Giảm mức tăng chi phí phải thực hiện tiết kiệm trong sản xuất xã hội Để làm được điều này, bản thân các doanh nghiệp cần tăng cường quản lý sản xuất theo định mức, kiểm tra chặt chẽ các yếu tố đầu vào theo đúng quy cách, phẩm chất, chủ động nghiên cứu tìm vật tư thay thế với chi phí thấp, nhất là đối với vật tư nguyên liệu nhập khẩu Một giải pháp giảm mức tăng chi phí khác có thể
áp dụng là hoàn thiện công nghệ, đổi mới công nghệ, cải tiến tố chức quản lý nhằm tăng năng suất lao động Đồng thời tiết kiệm chi tiêu công của nhà nước, từng gia đình, cá nhân
Bốn là, tăng cường kiểm tra, giám sát phát huy tính công khai minh bạch của chi tiêu công.
Cần soát xét lại các chương trình, dự án đầu tư, hoạt động chi tiêu cả trung ương và địa phương, đầu tư của các thành phần kinh tế, kiểm tra tiến độ thực hiện các dự án, các công trình đầu tư Khẩn trương hoàn thành các dự án, các công trình, đặc biệt là những công trình trọng điểm, hoàn thành dứt điểm các công trình dây dưa kéo dài đểchúng sớm phát huy tác dụng Chủ động điều chỉnh kế hoạch triển khai các dự án đầu tư, tập trung ngân sách vào những công trình cấp thiết, những chương trình không cấp thiết nên chuyển vào những năm sau Công khai minh bạch, thông qua sự giám sát chi tiêu công của các tổ chức phi Chính phủ, các đoàn thể chính trị xã hội và tổ chức quần chúng
Năm là, phải quản lý chặt chẽ hoạt động chi tiêu thu đổi ngoại tệ trên thịtrường
Tích cực thu hút ngoại tệ trong dân bằng việc khuyến khích gửi tiết kiệm ngoại tệvới lãi suất hấp dẫn; thực hiện tỷ giá hối đoái linh hoạt giữa tiền Việt với một số ngoại tệ, nhất là ngoại tệ mạnh chi phối hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam như USD, EURO, Yên, Nhân dân tệ đảm bảo tác động khách quan vào xuất nhập khẩu, không gây thiệt hại chung cho nền kinh tế Khuyến khích chi tiêu không dùng tiền mặt, đặc biệt là khách nước ngoài, cần tạo cơ chế để nhóm khách này có thể giam gia, nhất là đối với thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản
Trang 4Sáu là, Chính phủ nên thực hiện bán trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc cho dân, thu hồi tiền mặt
Hoạt động này có tác dụng rất tích cực làm giảm nhanh lượng tiền mặt trong lưu thông và tác động trực tiếp tới giảm lạm phát.Trong trường hợp cấp bách hiện nay, không nên đấu thầu trái phiếu và tín phiếu qua trung gian.Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước nên triển khai bán trực tiếp cho dân Bán trực tiếp sẽ tránh được các khâu trung gian nên mức lãi suất đối với người mua
sẽ cao hơn, thu hút được nhiều người tham gia Có thể tổ chức thành những chiến dịch phân phối tín phiếu, trái phiếu trong thời gian cụ thể với cơ chế thuận lợi kết hợp với sự tuyên truyền cổ động mạnh mẽ để động viên mọi tầng lớp nhân dân, mọi tổ chức xã hội tham gia
Bảy là, đẩy mạnh phong trào sản xuất cung cấp sản phẩm dịch vụ cho
xã hội, hạn chế những tệ nạn xã hội, giải quyết các vấn đề thuộc an sinh xã hội cho người nghèo, đối tượng chính sách trong xã hội
Lạm phát năm 2007 vượt mức hơn 12%/năm, chỉ số giá tiêu dùng chỉ trong 2 tháng đầu năm đã phi mã tới hơn 6% so với cuối năm ngoái Cho đến tháng 11 năm 2008, lạm phát lại diễn biến phức tạp sang chiều hướng có những đấu hiệu giảm phát, vì vậy kiểm soát lạm phát là một nhiệm vụ mục tiêu hàng đầu của Chính phủ và toàn dân tộc Việt Nam
IV KẾT LUẬN
Lạm phát xảy ra khi mức giá chung tăng lên Ngược lại, nền kinh tế có giảm phát khi mức giá chung giảm xuống Ngày nay, chúng ta tính toán lạm phát bằng cách sử dụng chỉ sốgiá Hai chỉ số giá được sử dụng rộng rãi để đo lường mức giá chung là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số điều chỉnh GDP
Lạm phát trong mỗi thời kỳ có xu hướng dao động xung quanh một mức nhất định, đó chính là tỷ lệ lạm phát ỳ hay tỷ lệ lạm phát dự kiến Đó là tỷ lệ lạm phát mà mọi người đã dự đoán trước và được đưa vào trong các hợp đồng lao động và các thỏa thuận khác