TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ ĐẾN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003-2013
Trang 1Mục lục
Trang 2TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ ĐẾN LẠM PHÁT
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2003-2013
Chính sách tỷ giá là một bộ phận của chính sách kinh tế, được sử dụng như một công cụhữu hiệu nhằm đạt được mục tiêu ổn định giá cả Để duy trì một mức tỷ giá cố định haytác động để tỷ giá biến động đến một mức cần thiết, thì cần phải có một chế độ tỷ giá và
hệ thống can thiệp thích hợp
Bài tiểu luận này sẽ nói về tác động của chính sách tỷ giá đến lạm phát trong giai đoạn
2003 – 2013 thông qua các kênh dẫn truyền, đồng thời đưa ra một số kiến nghị cho điềuhành tỷ giá trong thời gian tới nhằm kiểm soát tốt lạm phát
1 Các kênh tác động của chính sách tỷ giá tới lạm phát
Hình 1: Các kênh tác động từ tỷ giá tới lạm phát
Qua sơ đồ, tỷ giá tác động gián tiếp đến lạm phát chủ yếu thông qua các con đườngnhư xuất khẩu ròng, cán cân thanh toán, giá hàng hóa nhập khẩu và đây đều là các mốiquan hệ đồng biến (khi tỷ giá USD/VND tăng thì cán cân thương mại, cán cân thanh toán
và giá hàng tiêu dùng nhập khẩu đều tăng làm lạm phát gia tăng)
Kênh thứ nhất: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua xuất nhập khẩu ròng đó là khi
đồng nội tệ giảm giá so với đồng tiền nước ngoài, xuất khẩu ròng tăng lên, cán cânthương mại có thể được cải thiện; do xuất khẩu ròng là một thành phần của tổng cầu AD,nên khi xuất khẩu ròng tăng, đường AD dịch chuyển lên trên (trong mô hình AD-AS), tácđộng làm lạm phát gia tăng
Kênh thứ hai: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua cán cân thanh toán Cơ chế truyền
dẫn này trải qua hai giai đoạn:
Tỷ giá danh nghĩa
Trang 3- Khi tỷ giá tăng, xuất nhập khẩu ròng sẽ tăng lên, góp phần cải thiện tình trạng cán cânthương mại Mặt khác khi xuất nhập khẩu ròng tăng, đường IS dịch chuyển sang phải(mô hình IS-LM), lãi suất trong nước tăng lên, trong ngắn hạn luồng vốn đổ vào trongnước tăng (nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp) làm cán cân vốn tăng lên, từ đó cáncân thanh toán tổng thể được cải thiện.
- Khi cán cân thanh toán tổng thể thặng dư, tức là luồng vốn nước ngoài đổ vào trongnước tăng lên, lúc này sẽ có hai khả năng xảy ra:
NHTW sẽ phải cung ứng thêm tiền để mua ngoại tệ nhằm giữ tỷ giá không bị giảmxuống để khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, mặt khác để tăng cường
dự trữ ngoại hối quốc gia Như vậy, tác động không mong muốn là cung tiền tănglên, đường LM dịch chuyển sang phải (mô hình IS- LM) làm cân bằng tiền hàngtrong nền kinh tế thay đổi, lạm phát sẽ tăng lên
Nếu NHTW không vì mục tiêu giữ cho đồng bản tệ được định giá thấp để khuyếnkhích xuất khẩu và giả định rằng dự trữ ngoại hối đã đủ mức cần thiết và khôngcần tăng thêm, trong trường hợp cán cân tổng thể thặng dư thì vẫn có một lượngngoại tệ tăng lên trong nền kinh tế Với những nước có nền kinh tế bị đôla hóa ởmức độ cao, tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế trong trường hợp này vẫntăng lên vì nó bao gồm hai phần là: Tổng phương tiện thanh toán bằng nội tệ vàtổng phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ Khi tổng phương tiện thanh toán tănglại gây sức ép lên giá cả và đẩy lạm phát tăng lên
Kênh thứ ba: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua giá hàng nhập khẩu Giá hàng nhập
khẩu bị tác động bởi hai thành phần là giá nhập khẩu trên thị trường thế giới và tỷ giádanh nghĩa Khi tỷ giá danh nghĩa tăng làm giá hàng nhập khẩu tăng và ngược lại2 Hàngnhập khẩu có thể là hàng hóa phục vụ cho sản xuất trong nước hoặc phục vụ tiêu dùng.Nếu là hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất, khi tỷ giá tăng dẫn đến chi phí các yếu tố đầuvào tăng, sản phẩm đầu ra cũng phải tăng giá Nếu là hàng nhập khẩu tiêu dùng, khi tỷgiá tăng dẫn đến giá của hàng hóa tính bằng nội tệ tăng nên cũng là một nguyên nhân gây
ra lạm phát
Kênh thứ tư: Tác động của lạm phát kỳ vọng Lãi suất huy động của đồng nội tệ có
thể đại diện cho sự kỳ vọng về lạm phát do cơ sở để xác định lãi suất huy động là kỳvọng trung bình của nhà đầu tư về lạm phát và lãi suất thực dương Việc điều chỉnh tỷ giáliên tục của NHTW có thể khiến cho lãi suất huy động đồng nội tệ tăng cao Điều này sẽlàm giảm lòng tin của dân chúng và nhà đầu tư khi có sự kỳ vọng về giảm giá đồng nội tệtrong tương lai, gây ra vòng xoáy “lạm phát-tỷ giá”
2 Các yếu tố ảnh hưởng tới các kênh tác động từ tỷ giá tới lạm phát
Thứ nhất, cơ chế điều hành lãi suất: Nếu lãi suất do nhà nước ấn định hoặc chịu sựcan thiệp mang tính chất hành chính sẽ không phản ánh đúng bản chất của lãi suất là giá
cả của quyền sử dụng vốn trên thị trường Như vậy, xem xét kênh dẫn truyền thứ hai, khiđường IS dịch chuyển làm lãi suất tăng lên trong ngắn hạn, nhưng NHTW lại ấn định lãi
Trang 4suất (không làm thay đổi mức lãi suất trên thị trường) nên không thể thu hút các dòngvốn nước ngoài đổ vào trong nước, như vậy sẽ không cải thiện được cán cân vốn và từ
đó, không cải thiện được cán cân tổng thể
Thứ hai, mức độ di chuyển vốn quốc tế thể hiện khả năng thay thế cho nhau giữa tàisản trong nước và tài sản nước ngoài Mức độ di chuyển vốn hoàn hảo khi tài sản trongnước và tài sản nước ngoài có thể hoàn toàn thay thế cho nhau với chi phí thấp vànhanh chóng Mức độ di chuyển vốn không hoàn hảo khi có những rào cản về dichuyển vốn như những quy định pháp luật, chi phí di chuyển vốn cao, thời gian thực hiện
di chuyển vốn chậm
Thứ ba, mức độ nhạy cảm của xuất nhập khẩu với tỷ giá Độ nhạy cảm này thể hiện ở
hệ số co giãn xuất, nhập khẩu với tỷ giá Các nhà kinh tế chính trị học nổi tiếng AfredMarshall (1842- 1924) và Abba Lerner (1903- 1982) đã chứng minh rằng, việc giảm giáđồng nội tệ chỉ có tác dụng cải thiện cán cân thương mại của một nước nếu nền kinh tếcủa nước đó thỏa mãn điều kiện ( ŋX + ŋM > 1 ); trong đó ŋX là độ co giãn giá của cầu đốivới hàng xuất khẩu theo tỷ giá (được tính bằng phần trăm thay đổi của giá trị hàng xuấtkhẩu chia cho phần trăm thay đổi của mức giá - cũng chính là phần trăm thay đổi của tỷgiá) và ŋM là độ co giãn giá của cầu hàng nhập khẩu theo tỷ giá (được tính bằng phầntrăm thay đổi của giá trị hàng nhập khẩu chia cho phần trăm thay đổi của mức giá,cũng chính là phần trăm thay đổi của tỷ giá) Nếu tổng của hai độ co giãn này nhỏ hơnmột thì việc phá giá sẽ làm tổn hại cán cân thương mại
Thứ tư, cơ chế điều hành tỷ giá: Trong cơ chế tỷ giá linh hoạt, mối quan hệ giữa tỷgiá- lãi suất, lãi suất- tỷ giá vận hành khá linh hoạt theo tín hiệu của thị trường Trong cơchế tỷ giá cố định, hoặc khi cơ chế điều hành tỷ giá kém linh hoạt, tỷ giá bị ấn định hoặcchậm được điều chỉnh không phản ánh các yếu tố thị trường, tác động của tỷ giá đếnxuất khẩu ròng là rất hạn chế
Thứ năm, mức độ đô la hóa của nền kinh tế: Một nền kinh tế có mức độ đô la hóa caohoặc khả năng thay thế giữa tài sản trong nước và tài sản nước ngoài hoàn hảo thì lãisuất nội tệ sẽ không thể độc lập thay đổi dưới tác động của NHTW mà bị chi phốimạnh bởi lãi suất quốc tế Nếu đi kèm với cơ chế tỷ giá kém linh hoạt, tác động của tỷgiá đến thu hút dòng vốn từ nước ngoài đổ vào trong nước bị hạn chế
3 Khái quát tình hình lạm phát giai đoạn 2003-2013
Trước năm 2003, tình hình lạm phát trong nước tăng nhẹ, ổn định, từ mức giảm phát 0,8% vào năm 2000 lên tới 3% vào năm 2003 Nhưng đến năm 2004, lạm phát có dấuhiệu gia tăng trở lại, đến 9,5% tăng vọt so với các năm trước đó
-Giai đoạn 2004-2006, lạm phát giảm nhẹ, xuống 8,4% vào năm 2005 và 6,6% vàonăm 2006 Đây là một nỗ lực rất lớn của chính phủ trong việc kiểm soát tình hình lạmphát tăng cao ở thời kỳ trước đó
Trang 5Hình 2: Biểu đồ thể hiện tỷ giá và lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2003-2013.
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ số liệu của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam.
Trong giai đoạn 2006 tới 2008 lạm phát tăng nhanh trở lại Lí giải cho điều này donhiều nguyên nhân, nhiều nhất là từ phía cung Trong đó gồm có: sự gia tăng giá cả hànghóa nhập khẩu, chính sách quản lý lỏng lẻo và chính sách tỷ gía cứng ngắt và do tác độngsuy thoái từ các nền kinh tế bên ngoài Theo Tổng cục Thống kê, năm 2008, tính bìnhquân, chỉ số giá tiêu dùng tăng 23,07% so với năm 2007 Tất cả 10 nhóm mặt hàng trong
rổ hàng hoá đều tăng giá, trong đó nhóm văn hoá giải trí tăng giá thấp nhất, chỉ 3,5%;lương thực tăng cao nhất, tới 46,98% Đặc biệt, chỉ duy nhất dịch vụ bưu chính viễnthông là nhóm nhỏ có sự giảm giá, với mức giảm tới 11,23% so với bình quân năm 2007.Theo đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2008 giảm 0.68% so với tháng 11, và cảnăm CPI tăng 19,89% so với tháng 12/2007
Trong năm 2009 lạm phát đã giảm xuống chỉ còn 6,52% khác với dự kiến ban đầu khichính phủ sủ dụng gói kích cầu, tín dụng và tăng cung tiền những tưởng sẽ làm cho lạmphát tăng cao nhưng mọi việc đã đi ngược lại
Tới năm 2010, lạm phát lại tăng gần gấp đôi đạt 11,75% còn nếu tính từng tháng thìlạm phát năm 2010 tăng 9,19% so với năm 2009
Bước sang năm 2011, lạm phát đã liên tục gia tăng trong nửa đầu năm, gây nguy cơmất ổn định kinh tế vĩ mô Tháng 8/2011, tỷ lệ lạm phát so cùng kì năm trước đã lên tới23%, cao hơn hẳn mức lạm phát 19,89% của năm 2008 Trước tình hình trên, Chính phủ
đã có Nghị quyết số 11/NQ-CP (ngày 24/02/2011), đề ra 6 nhóm giải pháp nhằm ổn địnhkinh tế vĩ mô, trong đó tập trung vào kiềm chế lạm phát Nhờ thực hiện quyết liệt nhữnggiải pháp trên, tình hình lạm phát đã được cải thiện trong cuối quý 3/2011 khi tốc độ tăngCPI hàng tháng bắt đầu giảm từ tháng 8/2011 và duy trì ở mức dưới 1% cho đến cuốinăm Sang tháng 1/2012, mặc dù là tháng Tết, chỉ số giá CPI cũng chỉ tăng 1% so với
Trang 6tháng trước Nếu loại trừ nhóm lương thực thực phẩm, CPI tháng 1/2012 chỉ tăng là0,99% so với tháng trước (thấp hơn mức 1,31% của tháng 1/2011) Nếu so với mức lạmphát của tháng 11/2011 của các nước được thống kê bởi Tradingeconomics, tỷ lệ lạmphát của Việt Nam chỉ đứng sau Kenya và Venezuela là hai nước có tỷ lệ lạm phát là18,91% và 27,7% Như vậy, từ năm 2007, lạm phát có chiều hướng mất ổn định hơn vàbiểu hiện tính chu kì Chu kì này vào khoảng 3 năm khi tỷ lệ lạm phát đã lên đến đỉnhđiểm vào tháng 8/2008 (28,23%) và tháng 8/2011 (23,02%) Trước tình hình trên, Chínhphủ đã đề ra chủ trương với các biện pháp mạnh, CPI hằng tháng giảm nhanh, bắt đầu từ8/2011 Lạm phát tháng 8/2011 (so cùng kỳ) là 23% đã giảm, đến 8/2012 chỉ còn 5%
Tuy nhiên, năm 2012 tình hình lạm phát đã được kiểm soát đáng kể, giảm phát đángngạc nhiên Ngân hàng nhà nước đã tiến hành kiểm soát tốt cung tiền và tín dụng đi kèmvới ổn định tỷ giá đã làm cho lạm phát giảm dần và đạt mức 6,81% Dấu ấn rõ rệt nhấtcủa năm 2012 là đã bất ngờ tái lập được sự ổn định sau 2 năm 2010- 2011 đầy bất ổn,góp phần tích cực vào mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, sự ổn định của lạmphát năm 2012 chưa thật sự vững chắc do chủ yếu chịu sự chi phối của tổng cầu tăngthấp, cả đầu tư và cầu tiêu dùng niềm tin kinh doanh và niềm tin tiêu dùng không cao
Năm 2013, diễn biến lạm phát một mặt vẫn chịu dự tác động bởi các chính sách quản
lý thị trường giá cả truyền thống cũng như xu thế tiếp tục tăng chậm của tổng cầu đầu tư
và tiêu dùng, mặt khác, lại chịu ảnh hướng của các chính sách kích cầu, tháo gỡ khó khăncho doanh nghiệp và cố gắng đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2012
Năm 2013 được đánh giá là năm có chỉ số lạm phát tháp nhất trong vòng 10 năm qua,tuy nhiên so với tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ đạt 5,4% thì tình hình kinh tế đã ở mứcchạm đáy, tuy có những động thái chuyển biến tích cực nhưng không nhiều và không rõrệt lắm
Đó là bức tranh tổng quan nhất về tình hình lạm phát 10 năm qua của kinh Việt Nam
4 Tỷ giá, chính sách tỷ giá trong thời gian 2003-2013
Việt Nam đã có nhiều điều chỉnh trong cơ chế tỷ giá kể từ khi đất nước chấm dứt cơchế tập trung quan liêu bao cấp năm 1989 Tuy nhiên, xét về bản chất các thay đổi nàyđều xoay quanh chế độ neo tỷ giá Ở Việt Nam, đồng USD gần như được mặc định làđồng tiền neo tỷ giá Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) công bố tỷ giá VND/USD.Căn cứ vào tỷ giá quốc tế giữa USD và các đồng tiền ngoại tệ khác, các Ngân hàngThương mại (NHTM) sẽ xác lập tỷ giá giữa các ngoại tệ đó với VND
Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng cơ chế tỷ giá của Việt Nam một mặt cần được duytrì ổn định, nhưng mặt khác nên linh động hơn nữa theo tín hiệu thị trường
Nhìn vào diễn biến của tỷ giá danh nghĩa từ năm 1992 đến 2010 (Hình 1) có thể thấy
tỷ giá chính thức VND/USD có xu hướng đi theo một chu kỳ rõ rệt gồm hai giai đoạn: (i)trong giai đoạn suy thoái kinh tế hoặc khủng hoảng, VND mất giá khá mạnh; và (ii) khigiai đoạn suy thoái kết thúc, nền kinh tế đi vào ổn định thì tỷ giá lại được neo giữ tươngđối cứng nhắc theo đồng USD Chu kỳ này đã được lặp lại hơn hai lần từ năm 1989 đếnnay
Trang 7Hình 3: Tỷ giá danh nghĩa VND/USD ở Việt Nam giai đoạn 1992-2013.
Tác giả tổng hợp từ số liệu từ website Vietstock.
Giai đoạn 1 của chu kỳ tương ứng với giai đoạn nền kinh tế có sự biến động mạnh:2008-2011 với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và nỗ lực bình ổn kinh tế vĩ mô Gắnliền với những giai đoạn biến động mạnh này là sự chênh lệch lớn giữa tỷ giá chính thức
và tỷ giá thị trường tự do Sức ép của thị trường đã buộc NHNN phải nới rộng biên độ tỷgiá hoặc chính thức phá giá, làm cho VND mất giá mạnh mẽ so với thời điểm trước đó
Giai đoạn 2 của chu kỳ tương ứng với các thời kỳ nền kinh tế đi vào phát triển ổn địnhnhư giai đoạn 2001-2007 Gắn liền với các giai đoạn này là một cơ chế tỷ giá neo giữtheo đồng USD một cách tương đối cứng nhắc Đây cũng là các giai đoạn mà tỷ giá trênthị trường tự do cũng ổn định và theo sát với tỷ giá chính thức Nguyên nhân là do giaiđoạn trước đó tỷ giá chính thức đã được tăng liên tục và đến cuối giai đoạn đã ngangbằng với tỷ giá thị trường tự do
Giai đoạn 2003 – 2007:
Gắn liền với các giai đoạn này là một cơ chế tỷ giá neo giữ theo đồng USD một cáchtương đối cứng nhắc Đây cũng là các giai đoạn mà tỷ giá trên thị trường tự do cũng ổnđịnh và theo sát với tỷ giá chính thức Nguyên nhân là do giai đoạn trước đó tỷ giá chínhthức đã được tăng liên tục và đến cuối giai đoạn đã ngang bằng với tỷ giá thị trường tựdo
Giai đoạn 2008-2009
Giai đoạn 2008-2009 đánh dấu sự biến động trong các phản ứng chính sách tỷ giá ởViệt Nam Từ năm 2007, do sự gia tăng ồ ạt của luồng tiền FII vào Việt Nam, nguồncung USD đã tăng mạnh Trên thực tế vào nửa đầu năm 2007 và từ tháng 10/2007 đếntháng 3/2008, thị trường ngoại hối Việt Nam đã có dư cung về USD khiến cho tỷ giáNHTM3giảm xuống sàn biên độ VND đã lên giá trong giai đoạn này
Trang 8Hình 3 cho thấy tỷ giá đã có những biến động mạnh trong năm 2008 do lạm phát tăngcao trong nửa đầu năm và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã bắt đầu tác động tới nềnkinh tế Việt Nam vào nửa cuối năm 2008 Từ giữa năm 2008, cùng với sự suy thoái kinh
tế, luồng FII vào Việt Nam đã bắt đầu đảo chiều
Hình 4: Tỷ giá VND/USD theo ngày và biên độ, 2008-2011
Xu hướng chung của năm 2009 là sự mất giá danh nghĩa của VND so với USD Chođến cuối năm 2009, tỷ giá chính thức VND/USD đã tăng 5,6% so với cuối năm 2008.Trong khi trong năm 2008, tỷ giá niêm yết tại các NHTM biến động liên tục, đầu nămcòn có giai đoạn thấp hơn tỷ giá chính thức, thì năm 2009 lại là một năm mà tỷ giáNHTM luôn ở mức trần của biên độ giao động mà NHNN công bố
Ngày 26/11/2009, NHNN đã buộc phải chính thức phá giá VND 5,4%, tỷ lệ phá giácao nhất trong một ngày kể từ năm 1998 để chống đầu cơ tiền tệ và giảm áp lực thịtrường, đồng thời thu hẹp biên độ giao động xuống còn +/-3% Cùng với chính sách tỷgiá, vào thời điểm này NHNN đã nâng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%/năm Các chính sáchnày được cho là hợp lý nhưng khá muộn màng Đồng Việt Nam tiếp tục mất giá trên thịtrường tự do thể hiện qua việc tỷ giá trên thị trường tự do vào thời điểm cuối năm 2009vẫn đứng vững ở mức cao khoảng 19.400 VND cho 1 USD và các NHTM tiếp tục giaodịch ở mức trần
Giai đoạn 2010 – 2011:
Trang 9Năm 2010 tiếp tục chứng kiến các xu hướng tương tự trên thị trường ngoại hối nhưtrong năm 2009 Cụ thể là các NHTM vẫn tiếp tục đặt tỷ giá tại trần biên độ của tỷ giáchính thức trong hầu hết các tháng trong năm và khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷgiá thịtrường tự do có lúc đã tăng lên những mức cao chưa từng có vào cuối năm 2010.
Ngày 11/2/2010, NHNN đã phải tăng tỷ giá chính thức từ 17.941 VND/USD lên18.544 VND/USD, tương đương với việc phá giá 3,3% Cùng với việc nâng tỷ giá này,NHNN đã thực hiện hàng loạt các biện pháp hành chính nhằm giảm áp lực lên thị trườngngoại hối như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ, mở rộng đối tượng chovay ngoại tệ, chấm dứt việc giao dịch vàng trên các tài khoản ở nước ngoài của cácNHTM và các tổchức tín dụng, đóng cửa các sàn vàng và tăng lãi suất cơ bản lên8%/năm
Và từ đầu tháng 7/2010, tỷ giá thị trường tự do lại bắt đầu tăng lên dù lúc đầu chỉ tăngchậm Những xu hướng này phản ánh kỳ vọng của thị trường ngoại hối về sự phá giá củaVND
Vào ngày 17/8/2010, NHNN đã đột ngột tăng tỷ giá thêm 2,1% lên 18.932 VND/USDmặc dù lúc đó áp lực thị trường vẫn chưa rõ ràng vàkhoảng cách giữa tỷ giá thị trường tự
do và tỷ giá chính thức vẫn đang ở mức thấp khoảng 500 VND/USD
Trong những tháng cuối năm 2011, thị trường ngoại hối chứng kiến sự tăng lên nhanh
chóng của cầu về ngoại tệ, Thêm vào đó, cung ngoại tệ giảm sút do các doanh nghiệp
không muốn bán ngoại tệ cho ngân hàng khi họ lo lắng về khả năng NHNN sẽ tiếp tục
phải phá giá VND Kết quả của sự dư cầu ngoại tệ là tỷ giá thị trường tự do bắt đầu tăng
từ tháng 9/2010 lên 20.500 VND/USD vào giữa tháng 10 và lên đến mức kỷ lục là trên
21.500 VND/USD vào cuối tháng 11
Hình 5: Tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do theo ngày VND/USD
giai đoạn 2009-2011.
Tuy nhiên, tỷ giá thị trường tự do chỉ giảm nhẹ đôi chút và vào cuối năm 2010 và đầunăm 2011 vẫn đứng ở mức cao Nguyên nhân là do hầu hết các biện pháp của NHNN,
Trang 10nhất là đối với thị trường vàng chỉ mang tính tạm thời Thêm đó là dự trữ ngoại hối đãliên tục giảm sút từ năm 2009 và do đó tuyên bố của NHNN về việc cung ngoại tệ ra thịtrường không được hoàn toàn đảm bảo và do ảnh hưởng từ lạm phát.
Không thể tiếp tục duy trì tỷ giá, NHNN đã tuyên bố mức phá giá cao nhất trong lịch
sự (9,3%) vào đầu tháng 2/2011, nâng tỷ giá chính thức lên 20.693 VND/USD và giảmbiên độ xuống còn +/-1% Nỗ lực này đã không có kết quả ngay lập tức Tỷ giá thị trường
tự do vọt lên trên 22.100 VND/USD trong vòng vài ngày kể từ sau lần phá giá này
Giai đoạn 2012 – 2013:
Từ quý IV/2011, để kiểm soát kỳ vọng, góp phần ổn định tỷ giá, NHNN thườngxuyên đưa ra các cam kết về việc tiếp tục duy trì ổn định tỷ giá trong từng thời kỳ vớimức biến động trong khoảng 1% giai đoạn cuối năm 2011 và 2-3%/năm cho các năm
2012 và 2013
Tỷ giá bình quân liên ngân hàng được điều chỉnh linh hoạt trong giai đoạn từ tháng8/2011 và duy trì ổn định ở mức 20.828 VND/USD từ cuối năm 2011 Tuy nhiên, từ cuốitháng 5/2013, thị trường ngoại tệ có biến động, tỷ giá tăng và diễn biến phức tạp mặc dùNHNN đã bán ngoại tệ can thiệp thị trường, điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng từmức 20.828 VND/USD tăng 1% lên mức 21.036 VND/USD vào ngày 28/6/2013 Đồngthời ban hành các thông tư quy định giảm lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng VND của tổchức, cá nhân tại tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài, giảm lãisuất cho vay ngắn hạn tối đa của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài để đáp ứng nhucầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế, giảm lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằngUSD của tổ chức, cá nhân tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Hình 6: Đồ thị biểu diễn tỷ giá USD/VND năm 2012
Đối với tỷ giá bán ngoại tệ, khi thị trường có biến động thời điểm cuối tháng 2/2013đầu tháng 3/2013, NHNN đã linh hoạt trong điều hành tỷ giá thông qua việc điều chỉnh