LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Sau một thời gian dài “trầm lắng” thì từ cuối năm 2003 đến nay, vấn đề lạm phát lại trở nên sôi động, trở thành tiêu điểm của những cuộc tranh luậ
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG 3
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LẠM PHÁT 1.1 Khái niệm về lạm phát 12
1.2 Thước đo lạm phát 13
1.3 Quan điểm của các trường phái khác nhau về lạm phát 16
1.4 Các giải pháp để kiềm chế lạm phát 23
1.5 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong kiềm chế lạm phát và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 24
CHƯƠNG 2: LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2003 ĐẾN NAY 2.1 Tổng quan về tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn 2003 đến nay 31
2.1.1 Những thành tựu kinh tế đạt được trong giai đoạn 2003 đến nay 31
2.1.2 Những vấn đề còn tồn tại trong nền kinh tế vĩ mô Việt Nam 36
2.2 Diễn biến, tác động và nguyên nhân lạm phát giai đoạn 2003-2007 39
2.2.1 Diễn biến của chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn 2003-2007 39
2.2.2 Những tác động của lạm phát 43
Trang 22.2.3.Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2003 -2007 46
2.3 Các giải pháp kiềm chế lạm phát Việt Nam đã thực hiện trong giai đoạn 2003 – 2007 và hệ quả 68
2.4 Đánh giá chung 73
CHƯƠNG 3: GỢI Ý MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH VĨ MÔ ĐỂ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 3.1 Nhận diện lại bối cảnh kinh tế thế giới và Việt Nam 75
3.1.1 Bối cảnh thế giới 75
3.1.2 Bối cảnh kinh tế Việt Nam 77
3.1.3 Quan điểm định hướng cho giai đoạn hiện nay 79
3.2 Một số kiến nghị 80
3.2.1 Các giải pháp kiềm chế lạm phát cấp thời 80
3.2.2 Các giải pháp kiềm chế và kiểm soát lạm phát trong dài hạn 82
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: GDP bình quân đầu người tính bằng VND và tính bằng USD theo
tỷ giá hối đoái
Bảng 2.2 Tỷ lệ hộ nghèo qua các năm của Việt Nam
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa, nhập siêu và tỷ lệ nhập siêu
qua các năm
Bảng 2.4: Tỷ lệ chi ăn uống, hút trong chi tiêu cho đời sống (%)
Bảng 2.5: Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam 2003-2007
Bảng 2.6 : Chỉ số phát triển diện tích và sản lượng lúa của Việt Nam qua các
năm (năm trước = 100%)
Bảng 2.7: Điều chỉnh giá xăng dầu của Việt Nam từ năm 2003 -2007
Bảng 2.8: Vốn đầu tư phát triển, cơ cấu và hiệu quả đầu tư
Bảng 2.9: Thu, chi ngân sách Nhà nước, 2003-2007
Bảng 2.10: Tốc độ tăng tổng mức bán lẻ qua các năm gần đây
Bảng 2.11: Một số chỉ số của thị trường cổ phiếu chính thức
Trang 4DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 1.1: Mẫu hình đường tổng cung và tổng cầu
Đồ thị 2.1: Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam, 2003-2007 (tỷ USD)
Đồ thị 2.2: Các chỉ số kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2003 - 2007
Đồ thị 2.3: Hệ số chênh lệch giàu nghèo giữa nhóm người giàu (20% dân số
có thu nhập cao nhất ) và nhóm người nghèo (20% dân số có thu nhập thấp nhất)
Đồ thị 2.4: Cơ cấu rỏ hàng hóa dịch vụ tính chỉ số giá tiêu dùng hiện nay của
Việt Nam
Đồ thị 2.5: Tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng, 2003-2007
Đồ thị 2.6: Sự tăng, giảm giá của các ngoại tệ mạnh và VNĐ so với USD
trong năm 2007
Đồ thị 2.7: Tăng trưởng cung tiền, tín dụng và lạm phát 2004- 2007
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Sau một thời gian dài “trầm lắng” thì từ cuối năm 2003 đến nay, vấn đề lạm phát lại trở nên sôi động, trở thành tiêu điểm của những cuộc tranh luận kéo dài giữa các học giả trong, ngoài nước và các nhà hoạch định chính sách Đặc biệt năm 2007 – một năm sau ngày Việt Nam chính thức ra nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) bên cạnh việc đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (8,48%) thì tỷ lệ lạm phát của chúng ta cũng đạt 12,63% - mức cao nhất
kể từ 11 năm trở lại đây, và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có mức lạm phát cao nhất trong khu vực Tỷ lệ lạm phát cao những năm gần đây đặt ra nhiều câu hỏi về nguyên nhân của lạm phát; và chắc chắn, theo suy nghĩ của nhiều nhà kinh tế và công chúng, nguyên nhân của lạm phát trong những năm gần đây không giống nguyên nhân lạm phát của những năm 1980
và đầu những năm 1990 Lạm phát cao ảnh hưởng tiêu cực đến những thành qủa của tăng trưởng kinh tế xã hội và vấn đề kiềm chế lạm phát trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Để lý giải nguyên nhân của lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 2003 đến nay, đã có nhiều quan điểm và những ý kiến khác nhau được đưa ra Một
số ý kiến thiên về quan điểm của trường phái trọng tiền (monetarist) cho rằng, lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua không khác gì với lạm phát những năm 1980 và Ngân hàng Trung ương là người phải chịu trách nhiệm Một số ý kiến khác lại thiên về quan điểm của trường phái cơ cấu (Structuralist), cho rằng lạm phát ở Việt Nam là do tăng chi phí sản xuất mà
nó bắt nguồn từ các yếu tố khách quan bên ngoài cho nên lạm phát là điều tất yếu và không đáng lo ngại
Trang 6Vậy thực chất nguyên nhân của lạm phát ở Việt Nam trong những năm qua là ở đâu? Chính sách nào có thể kiểm soát lạm phát cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay? Việc tìm ra nguyên nhân cốt lõi của lạm phát sẽ là tiền đề
để có thể đưa ra những chính sách kiểm soát lạm phát hữu hiệu Bởi ổn định lạm phát ở mức vừa phải là một môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Xuất phát từ lý do đó tôi đã lựa chọn đề tài: “Lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2003 đến nay và những gợi ý chính sách” làm luận văn thạc sỹ của mình
do nó gây ra
Đã có không ít những nghiên cứu về vấn đề lạm phát ở Việt Nam Phạm vi nghiên cứu rất rộng, bao gồm: các mối quan hệ tác động qua lại như lạm phát và chính sách tiền tệ; lạm phát và chính sách tài khóa; quan hệ của lạm phát với tăng trưởng kinh tế, quan hệ của lạm phát tới phúc lợi xã hội và
sự phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư… Các nghiên cứu về chủ
đề này có thể chia làm hai nhóm, dựa theo những quan điểm khác nhau lý giải nguyên nhân của lạm phát ở Việt Nam Nhóm nghiên cứu thứ nhất là theo quan điểm của trường phái tiền tệ, cho rằng nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam không có nguyên nhân gì khác là do lượng cung tiền quá lớn vượt
xa so với cầu tiền của nền kinh tế Có thể kể ra đây công trình nghiên cứu của
Trang 7tác giả Nguyễn Cao Đức (2006), “Các nhân tố quyết định lạm phát ở Việt Nam dựa trên cách tiếp cận tiền tệ”, trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (335),
tr3-16; tác giả Châu Đình Phương (2005), “Lạm phát tiền tệ - một số vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong điều kiện kinh tế vĩ mô ở giai đoạn hiện nay”,
trên tạp chí Kinh tế và dự báo, (3), tr18-20, bằng những bằng chứng thực
nghiệm tác giả đã chỉ ra sự gia tăng của biến số tổng phương tiện thanh toán (M2) có ý nghĩa quan trọng với sự gia tăng của lạm phát Tác giả đã chỉ ra rằng chính việc tăng cung tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách là nhân tố đáng
kể dẫn đến lạm phát ở Việt Nam thời gian qua Việc tăng cung tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách đã tạo ra sự mất cân đối giữa tổng phương tiện thanh toán (M2) so với tổng sản phẩm quốc nội Và trong khi hệ thống tài chính còn chưa phát triển, và nền kinh tế còn được coi như nền kinh tế tiền mặt thì điều này sẽ làm giảm khả năng ứng phó với các cú sốc và khả năng giảm thiểu bớt ảnh hưởng ngoại lai tiêu cực từ các cú sốc này của Việt Nam Nhóm nghiên cứu thứ hai là theo quan điểm của trường phái cơ cấu, trường phái này cho rằng do sự tăng trưởng của nguồn cung không theo kịp với sự tăng trưởng của cầu đã gây ra sự mất cân đối trong cung cầu Sự thiếu hụt của nguồn cung đã đẩy giá cả tăng cao, và sự tăng cao của giá cả trong thời gian dài đã đẩy nền kinh tế vào tình trạng lạm phát Những người theo trường phái cơ cấu chỉ rõ
sự mất cân đối của cung cầu thể hiện ở sự mất cân đối giữa xuất khẩu với nhập khẩu (thường là nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu), sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nước (thường là chi lớn hơn thu), …và chính những mất cân đối trong nền kinh tế này, cộng với những tác động của nhân tố bất lợi của thị trường thế giới, và sự hậu thuẫn của mở rộng tiền tệ quá mức trong nước là nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam thời gian qua Đây là quan điểm được rất nhiều người ủng hộ Với những công trình tiêu biểu có thể kể
đến là Lê Huy Trọng (2004), “Tăng trưởng và lạm phát”, Tạp chí thuế Nhà
Trang 8nước; Lê Quốc Lý ( 2005), “Kiềm chế lạm phát bằng đẩy mạnh sản xuất, phát triển thương mại”, Tạp chí Ngân hàng…
Các nghiên cứu nói trên đã có những đóng góp thiết thực nhất định cho quá trình tìm hiểu và hoạch định chính sách kiềm chế và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu và những cách tiếp cận khác nhau nên không thể tránh khỏi những ý kiến không đồng nhất Hơn nữa, những nghiên cứu ở những thời điểm khác nhau lại đưa ra những nhận định
và ngụ ý khác nhau Để phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài, việc xem xét tình hình nghiên cứu về lạm phát ở Việt Nam thời gian qua là không thể thiếu Các bài nghiên cứu của các tác giả đã mô tả tình trạng và nguyên nhân lạm phát của Việt Nam trong các thời kỳ dựa theo các cách tiếp cận khác nhau Và đều đã đưa ra những lý lẽ khá thuyết phục Tuy nhiên, hiện nay khi Việt Nam
đã ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, thì luồng vốn và hàng hoá vào ra nền kinh tế thay đổi nhanh và liên tục Do vậy, nguyên nhân dẫn đến lạm phát trong điều kiện mới này đã có nhiều thay đổi so với thời gian trước đó Nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam hiện nay là tổng hợp của các yếu tố nội tại trong nền kinh tế
và những biến động bất lợi của thị trường quốc tế Các công trình nghiên cứu trước đã chưa xem xét thấu đáo yếu tố mới này như là một nguyên nhân của lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Sau một thời gian duy trì mức lạm phát thấp thì từ cuối năm 2003 đến nay mức lạm phát lại có xu hướng tăng cao qua các năm, việc tìm ra nguyên nhân sự tăng cao của lạm phát sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc hoạch định chính sách vĩ mô Luận văn này là một nỗ lực nhằm tìm ra nguyên nhân căn bản của lạm phát ở Việt Nam từ cuối năm 2003 đến nay và từ đó đi đến gợi ý
Trang 9chính sách nhằm kiềm chế và kiểm soát lạm phát trong những năm tiếp theo
Do đó, mục đích chính của luận văn là đi trả lời câu hỏi nghiên cứu sau:
- Động thái và diễn biến của lạm phát từ năm 2003 đến nay
- Nguyên nhân của lạm phát thời kỳ 2003 đến nay
- Tác động của lạm phát đến nền kinh tế
- Những gợi ý chính sách để kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ
mô giai đoạn tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu diễn biến và các khía cạnh của lạm phát ở Việt Nam từ 2003 đến nay trong mối quan hệ qua lại với một loạt các chỉ số vĩ mô quan trọng như: đầu tư và thu chi NSNN, sản xuất
và thương mại, tiền tệ và tín dụng, lãi suất…
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề về lạm phát ở Việt Nam từ năm 2003 đến nay Từ phân tích đánh giá lạm phát qua các thời kỳ, để đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoạch định chính sách kiềm soát lạm phát trong giai đoạn hiện nay và thời gian tiếp theo
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở xác định tác động của vấn đề lạm phát đến các chỉ số vĩ mô quan trọng, và những động lực của phát triển kinh tế khác, nghiên cứu này trước hết sẽ khảo cứu và cập nhật những lý luận về nguyên nhân gây ra lạm phát Nghiên cứu sử dụng rộng rãi các phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh dựa trên những phân tích số liệu Luận văn sử dụng mô hình đường tổng cung và tổng cầu để giải thích nguyên nhân của lạm phát nhằm nâng cao độ tin cậy của những phân tích và đánh giá Ngoài ra, luận văn còn đánh giá các tác động của các yếu tố có liên quan đến lạm phát trong các thời kỳ (Đầu tư
Trang 10và thu chi ngân sách Nhà nước, tiền tệ tín dụng, sản xuất thương mại, xuất nhập khẩu…) dựa trên những số liệu được tổng hợp từ các báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục thống kê, báo cáo thường niên của Bộ Kế hoạch và đầu tư, IMF…
6 Dự kiến đóng góp mới của đề tài
Vấn đề lạm phát không phải là vấn đề mới, nhưng lại luôn tạo được sự quan tâm chú ý của các nhà kinh tế, các nhà khoa học, các nhà chính trị và các nhà quản lý mỗi khi nó xuất hiện Bởi mỗi lần xuất hiện thì lạm phát thường để lại những hậu quả rất lớn và làm phai mờ những thành tựu tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên lạm phát xuất hiện ở những giai đoạn khác nhau lại bắt nguồn từ những nguyên nhân khác nhau và ứng với đó là những giải pháp kiểm soát tương ứng Và do đó các biện pháp kiểm soát lạm phát đưa
ra chỉ có ý nghĩa tạm thời nhằm giải quyết vấn đề cấp bách tại thời điểm đó Nguyên nhân gây ra lạm phát trong giai đoạn hiện nay đã khác trước rất nhiều, những chính sách kiềm chế lạm phát cũng đòi hỏi có sự biến đổi linh hoạt cho phù hợp với điều kiện mới của nền kinh tế
Luận văn cố gắng cung cấp một cái nhìn tổng quan về lạm phát ở Việt Nam trong suốt thời kỳ từ cuối năm 2003 đến nay, tiến hành phân tích cái được và chưa được của các chính sách mà Nhà nước đã thực hiện nhằm kiểm soát lạm phát Luận văn cũng đánh giá tính tính khả thi và triển vọng của các biện pháp mà nhà nước đã thực hiện để kiểm soát lạm phát trong thời gian qua và từ đó đưa ra một số gợi ý chính sách vĩ mô để kiểm soát lạm phát trong bối cảnh mới hiện nay ở Việt Nam
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và phụ lục tài liệu tham khảo đề tài gồm
ba chương:
Trang 11Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về lạm phát
Chương 2: Lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn từ 2003 đến nay Chương 3: Gợi ý một số giải pháp và chính sách vĩ mô để kiểm soát lạm pháp trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam
Trang 12Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN VỀ LẠM PHÁT
Trong chương mở đầu này tác giả sẽ khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về lạm phát như: khái niệm, thước đo, các quan điểm của các trường phái khác nhau về lạm phát ….để từ đó có cơ sở cho những phần tiếp theo của luận văn
1.1 Khái niệm về lạm phát
Một định nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận và khá phổ biến
là định nghĩa cho rằng: “Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung hay là quá trình đồng tiền liên tục giảm giá”1 Phân tích sâu hơn về định
nghĩa này cần chú ý rằng: lạm phát là sự gia tăng của mức giá chung trong cả
nền kinh tế tức là sự thay đổi mức giá của một hàng hóa gắn trong mối quan
hệ với sự thay đổi mức giá của những hàng hóa khác Thêm nữa, sự thay đổi
của giá cả chung phải diễn ra liên tục qua một thời kỳ dài, tức là sự gia tăng
giá cả không phải chỉ diễn ra trong một ngày, một tuần, hay một tháng Theo như định nghĩa này thì trong thực tế dù có bất kỳ sự tăng giá của một mặt hàng riêng lẻ nào đó thì chưa thể gọi là lạm phát, khi giá của một vài hàng hóa khác lại giảm và mức giá chung không tăng Hơn nữa, cho dù mức giá chung có tăng nhưng chỉ tăng trong một thời gian ngắn (chẳng hạn như dịp lễ tết nhu cầu tăng cao nên dẫn đến giá cả tăng lên) nhưng sau đó lại giảm và ổn định thì cũng không được gọi là lạm phát Chỉ có thể kết luận nền kinh tế có lạm phát khi hội đủ hai đặc điểm là mức giá chung tăng lên và tăng liên tục trong một thời gian dài
Trang 13
Với mục đích nghiên cứu về lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn từ
2003 đến nay, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa về lạm phát nói trên, điều đó sẽ cho tác giả cơ sở để lý giải sự tác động của lạm phát tới các chỉ số vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế trong thời gian lạm phát xảy ra
1.2 Thước đo lạm phát
Tỷ lệ lạm phát có thể tính theo công thức:
Lt =
1 _
1 _
- Pt: tổng giá cả giai đoạn t
- Pt-1:tổng giá cả giai đoạn t-1
- (t và t-1 là hai giai đoạn kế tiếp nhau)
Có một số phương pháp tính tổng mức giá, phổ biến có thể kể đến đó là chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giảm phát GDP, chỉ số hàng hóa bán lẻ (RPI), chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số hàng hóa bán buôn (WPI)
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ số quan trọng mà các nước thường lấy để đo tỷ lệ lạm phát và được xem là để đo lường chi phí liên quan đến rổ hàng hóa cụ thể mà hộ gia đình điển hình mua trong thời gian là một năm Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh giá của rổ hàng hóa trong nhiều năm khác nhau so với giá của rổ hàng hóa trong năm gốc Về mặt tính toán chỉ số giá tiêu dùng CPI được tính như sau:
1 1
Trang 14Trong đó: Pit: là giá hàng hóa sản phẩm trong giai đoạn t
Pio: là giá hàng hóa sản phẩm trong giai đoạn cơ sở
Qio: là tổng lượng hàng hóa sản phẩm i (i=1 đến n) trong giai đoạn
cơ sở (rổ hàng hóa được ấn định đối với một năm cơ sở và Q là trọng số, n là tổng số sản phẩm)
Công thức trên cho thấy việc tính chỉ số CPI không phải là cộng tất cả các giá cả lại và chia cho tổng khối lượng hàng hóa mà là cân nhắc từng mặt hàng theo tầm quan trọng của nó trong rỏ hàng hóa, dịch vụ của các hộ gia đình Như vậy, chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hóa tiêu dùng Cách tính chỉ số giá tiêu dùng có một số nhược điểm, đầu tiên có thể nhận thấy đó là chỉ số này có mức độ bao phủ giới hạn do sử dụng trọng số cố định trong tính toán Mức độ bao phủ của chỉ
số này chỉ giới hạn đối với một số hàng hóa tiêu dùng và trọng số cố định dựa vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hóa cơ bản của các hộ gia đình mua vào năm gốc Với mức bao phủ giới hạn và trọng số cố định, chỉ số này không phản ánh được sự biến đổi trong cơ cấu hàng hóa tiêu dùng cũng như thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hóa khác nhau theo thời gian Thêm nữa nó cũng không phản ánh được đầy đủ sự cải thiện chất lượng sản phẩm và sự cải tiến kỹ thuật sản xuất
Để khắc phục những nhược điểm của cách tính chỉ số giá tiêu dùng, một số quốc gia đã sử dụng chỉ số giảm phát GDP Chỉ số giảm phát GDP là
tỷ lệ của GDP danh nghĩa trên GDP thực tế Nó biểu thị chi phí để mua hàng hóa được sản xuất ra ở hiện tại so với chi phí để mua hàng hóa đó trong năm
cơ sở Chỉ số giảm phát GDP được coi là chỉ số giá phản ánh bình quân giá cả của tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước Do vậy, chỉ số này có thể nói là toàn diện hơn chỉ số giá tiêu dùng CPI vì nó bao quát hết các
Trang 15loại hàng hóa và dịch vụ, và trọng số tính toán được điều chỉnh tùy thuộc vào mức độ đóng góp tương ứng của loại hàng hóa và dịch vụ vào giá trị gia tăng Chỉ số này được dùng để tính giảm phát GDP danh nghĩa và tính GDP thực
tế Có thể tính chỉ số giá giảm phát GDP theo công thức sau:
1 1
Trong đó: LGDP: là chỉ số giá giảm phát GDP
Qit: là lượng hàng hóa, sản phẩm i (i = 1 đến n) trong giai đoạn t
Qi0: là lượng hàng hóa, sản phẩm i(i= 1 đến n) trong gian đoạn gốc
Pit: là giá của hàng hóa, sản phẩm i trong giai đoạn t
Pi0: là giá của hàng hóa, sản phẩm i trong giai đoạn gốc
Có thể thấy về mặt khái niệm, chỉ số giảm phát GDP là chỉ số đại diện tốt hơn cho việc tính toán tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế Tuy nhiên, chỉ số này cũng có một số nhược điểm đó là không thể hiện sự biến động tỷ giá hối đoái, từ đó không phản ánh trực tiếp sự biến động trong giá hàng hóa nhập khẩu Thêm nữa chỉ số này cũng không thể hiện được sự thay đổi của chất lượng hàng hóa khi tính toán tỷ lệ lạm phát và chỉ số này không phản ánh được sự biến động của giá cả trong từng tháng
Trong những năm qua, Việt Nam sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính tỷ lệ lạm phát Mặc dù không phải là chỉ tiêu hoàn hảo nhưng chỉ số giá tiêu dùng CPI không quá tồi để phản ánh lạm phát, và hiện nay rất nhiều nước
sử dụng chỉ số này để đo lường lạm phát
Trang 161.3 Quan điểm của các trường phái khác nhau về lạm phát
Trong phần này tác giả đi điểm qua lại một số lý thuyết tiêu biểu giải thích nguyên nhân của lạm phát, và đi xây dựng mẫu hình tổng cung tổng cầu
để làm cơ sở lý thuyết cho giải thích vấn đề lạm phát ở Việt Nam trong những phần tiếp theo
Theo lời phát biểu nổi tiếng của Milton Friedman - một đại diện tiêu
biểu của trường phái tiền tệ, lạm phát có nguyên nhân tiền tệ: “Lạm phát luôn luôn và ở mọi nơi là hiện tượng tiền tệ” Thực ra, Friedman xem lạm phát là hiện tượng tiền tệ Tuy nhiên thì đằng sau hiện tượng tiền tệ đó là vô số các
nguyên nhân
Irving Fisher (1911) - một đại diện tiêu biểu cho các nhà kinh tế học cổ điển đã cho rằng thu nhập danh nghĩa của nền kinh tế (PY: trong đó P là mức giá tổng quát, Y là GDP thực tế của nền kinh tế) và lượng tiền (M) là có quan
hệ ổn định, và được dự đoán thông qua phương trình định lượng MV=PY
Trong đó V là vận tốc lưu thông của tiền, và ở đây V được giả định là ổn định Mối quan hệ giữa lượng tiền (M) và mức giá tổng quát (P) được thiết lập trên cơ sở giả định thêm rằng (1) lượng tiền tệ (M) là biến ngoại sinh chỉ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương; (2) GDP thực tế (Y) khá ổn định và không phụ thuộc và các yếu tố phi tiền tệ; và (3) tiền chủ yếu được sử dụng để giao dịch, tức là nó chỉ có một chức năng là trung gian trao đổi
Với những giả định như vậy, từ phương trình MV=PY có thế đi đến một kết luận rằng cung tiền quyết định đến giá cả chung trong nền kinh tế, khi cung tiền tăng thì giá cả chắc chắn sẽ tăng Và cung tiền tăng liên tục trong thời gian dài thì có nghĩa là giá cả trong nền kinh tế cũng tăng liên tục và lúc
đó hiện tượng lạm phát xuất hiện Cách giải thích này là khá đơn giản nhưng
đã chứa đựng một cơ sở giải thích nguyên nhân gây ra lạm phát - đó là sự gia
Trang 17tăng của cung tiền trong khi những yếu tố khác trong nền kinh tế lại khá ổn định
Lý thuyết kinh tế của Keynes đã tạo ra một cuộc cách mạng về lý thuyết – chống lại lý thuyết cổ điển khi cho rằng cầu không nhất thiết bằng cung Keynes đã giả định rằng chẳng hạn do tâm lý bi quan vì sự bất ổn của nền kinh tế trong tương lai sẽ làm cho cầu hiện tại giảm sút Sự giảm sút của cầu làm cho lượng tồn kho tăng và các nhà máy sản xuất phải thu hẹp sản xuất cho tới khi cung cầu gặp nhau ở mức cân bằng thiểu dụng (mức sản lượng nhỏ hơn mức sản lượng toàn dụng nhân công) Để nền kinh tế thoát khỏi suy thoái, Keynes cho rằng cần phải thực hiện các chính sách để kích cầu trong nền kinh tế như: thực hiện chính sách tài khóa mở rộng thông qua tăng cầu tiêu dùng của Chính phủ, hoặc thực hiện giảm thuế Trên cơ sở giả thiết đầu tư không nhạy cảm đối với sự biến động của lãi suất, Keynes cho rằng in thêm tiền và tăng tín dụng không làm thay đổi cầu Ông cho rằng lạm phát là
do cầu vượt quá mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế và thặng dư cầu không phải là do thặng dư cung tiền mà là do việc đẩy mạnh tiêu dùng Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ hơn thì việc chi tiêu của chính phủ và giảm thuế là không thể thực hiện trong một thời gian kéo dài, và cuối cùng phải thừa nhận rằng lạm phát là do tăng cung tiền Tự bản thân chính sách tài khóa không thể gây nên lạm phát nếu không có sự tiếp ứng của Ngân hàng Trung ương
Lý thuyết cầu tiền của M.Friedman – một đại diện tiêu biểu của trường phái trọng tiền đã bảo vệ cho lý thuyết lạm phát của các nhà kinh tế học cổ điển Theo như lý thuyết cầu tiền của M.Friedman thì cầu tiền thực tế (
P
M
) có mối quan hệ phụ thuộc ổn định với một số biến như cổ tức, lãi suất trái
Trang 18phiếu,lãi suất thị trường, mức lãi suất kỳ vọng và thu nhập thường xuyên.2
Bằng những bằng chứng thực tế, M.Friedman chỉ ra rằng cầu tiền thực tế không nhạy cảm với sự biến động của lãi suất nhưng lại rất nhạy cảm với thu nhập thường xuyên Tuy nhiên thu nhập thường xuyên lại khá ổn định cho nên cầu tiền thực tế cũng là khá ổn định, lúc này sự thay đổi của lượng tiền sẽ quyết định sự thay đổi của mức giá tổng quát
Đến tận những năm 1970, hầu hết các nhà kinh tế khi nghiên cứu về chu kỳ kinh tế thường tập trung nghiên cứu về phía cầu và ít khi bàn đến phía cung như các cú sốc về công nghệ, tăng việc làm, tăng chi phí đầu vào….Chính sự tách bạch này làm cho mô hình kinh tế vĩ mô thời kỳ đó tở nên bất lực khi dự đoán những tác động thay đổi đối với sản lượng, giá cả khi
có những điều kiện kinh tế thay đổi Hai nhà kinh tế học nhận giải Nobel
2004 là Kydland và Prescott đã chỉ ra rằng việc tăng giá có thể do cú sốc về phía cung gây ra, sự tăng giá của các đầu vào làm cho chi phí sản xuất tăng cao và điều đó dẫn tới sự suy giảm tổng cung của nền kinh tế, và kết quả là giá cả tăng cao Song trong trường hợp này lạm phát chỉ xảy ra khi có sự đáp ứng lại của cú sốc cung thông qua phát hành tiền, nếu không nền kinh tế sẽ tự điều chỉnh về trạng thái cân bằng
Như vậy có thể khẳng định lại lời phát biểu của Milton Friedman: Lạm phát luôn luôn và ở mọi nơi là hiện tượng tiền tệ Tuy nhiên, nguyên nhân nào đứng đằng sau hiện tượng này thì cần phải chỉ rõ ở đây Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả sẽ sử dụng mô hình đường tổng cung và tổng cầu để làm
2 Theo lý thuyết cầu tiền của M.Friedman thì:
d P
Trang 19GDP thực
AS3 AS
Đồ thị 1.1: Mẫu hình đường tổng cung và tổng cầu 3
Mức giá
Trên đồ thị AS1, AS2 , AS3 và AD1, AD2, AD3 lần lượt là các đường tổng cung và tổng cầu trong ngắn hạn Và AS là đường tổng cung trong dài hạn, đường này là đường thẳng đứng và nằm tại mức sản lượng Yn tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (mức sản lượng Yn còn được gọi là mức sản lượng toàn dụng nhân công) Trục hoành thể hiện tổng sản lượng và dịch vụ được sản xuất ra của nền kinh tế, thường được đại diện bởi GDP khi giá cố định Trục tung biểu diễn mức giá của nền kinh tế, được đại diện bởi chỉ số
3
Phạm Sỹ An, Trần Thị Kim Chi (2008), “Lạm phát Việt Nam năm 2007, thực trạng và đề xuất chính sách”
Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 359, tr3-13
Trang 20giá tiêu dùng CPI Ban đầu nền kinh tế cân bằng ở điểm A là giao điểm của đường tổng cung AS1 và đường tổng cầu AD1
Trước hết chúng ta xem xét tại sao cú sốc cung lại liên quan đến hiện tượng tiền tệ và từ đó dẫn đến lạm phát Khi giá các nguyên vật liệu đầu vào của nền kinh tế tăng lên sẽ làm chi phí sản xuất tăng lên, từ đó dẫn đến sản lượng của nền kinh tế giảm Trên đồ thị sự suy giảm của sản lượng thể hiện ở
sự dịch chuyển của đường tổng cung sang trái AS1 sẽ dịch chuyển đến AS2 và điểm cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu khi đó là điểm B Tại đây ta có thể thấy rằng mức giá cao hơn mức ban đầu của nền kinh tế khi ở điểm A, và sản lượng thấp hơn mức sản lượng ở mức toàn dụng nhân công Nếu chính phủ không dùng chính sách tài khóa hay chính sách tiền tệ can thiệp vào nền kinh
tế thì đường tổng cầu vẫn là đường AD1 và lúc đó tỷ lệ thất nghiệp tăng Tỷ lệ thất nghiệp cao, mức sản lượng ở dưới mức sản lượng tiềm năng sẽ tạo ra áp lực đẩy AS2 phải quay về AS1; sở dĩ như vậy là vì tỷ lệ thất nghiệp cao sẽ làm giảm tiền lương và do đó làm tăng cầu lao động, tăng hoạt động sản xuất và
từ đó làm tăng sản lượng Kết quả cuối cùng là, nếu chính phủ không có bất
kỳ sự can thiệp nào vào nền kinh tế thì trong tương lai nền kinh tế sẽ tự trở lại
vị trí cân bằng tại điểm A
Tuy nhiên, tại điểm B, khi mà đường tổng cung dịch chuyển từ AS1, đến AS2 do cú sốc cung các nhà lập chính sách cho rằng để nền kinh tế đi từ điểm B đến điểm A cần một thời gian dài Như vậy thì tình trạng thất nghiệp
sẽ kéo dài, từ đó tạo ra áp lực buộc chính phủ phải có chính sách can thiệp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm thất nghiệp Chính phủ có 2 cách
để thúc đẩy tăng trưởng và giảm tỷ lệ thất nghiệp đó là sử dụng chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Giả sử chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ để can thiệp vào nền kinh tế, nhằm giảm thất nghiệp và tăng sản lượng do cú sốc từ mặt cung Chính phủ thực hiện mở rộng cung tiền Lúc này, đường tổng cầu sẽ
Trang 21dịch chuyển từ AD1 đến AD2 tại vị trí đường tổng cầu AD2 gặp đường AS2 tại mức sản lượng toàn dụng nhân công, hay tại A’ Mặc dù sản lượng tăng nhưng mức giá chung của nền kinh tế cũng tăng so với mức cũ tại A Nếu nền kinh tế vẫn chịu tác động từ việc chi phí các loại đầu vào quan trọng trong nền kinh tế tăng và chính phủ vẫn tiếp tục tăng cung tiền nhằm đảm bảo tốc
độ tăng trưởng kinh tế thì kết quả tất yếu là mức giá sẽ tăng lên liên tục Như vậy là mặc dù lạm phát do nguyên nhân cú sốc từ mặt cung của nền kinh tế và được gọi là lạm phát chi phí đẩy thì cuối cùng lạm phát vẫn là hiện tượng tiền
tệ Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chính phủ thực hiện chính sách tài khóa để chống lại tác động của cú sốc cung? Chính phủ thấy cần phải theo đuổi mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhằm đạt mức sản lượnng tiềm năng bằng chính sách tài khóa mở rộng Chính phủ có thể làm điều đó bằng cách giảm thuế hoặc tăng chi tiêu chính phủ hoặc cả hai Khi đó đường tổng cầu dịch chuyển
từ đường AD1 đến đường AD2 và gặp đường tổng cung AS1 tại D, nhưng tại điểm D mức sản lượng cao hơn mức sản lượng toàn dụng nhân công của nền kinh tế Với mức sản lượng này, nền kinh tế sẽ gây sức ép tăng lương, gây ảnh hưởng đến sản xuất và do đó đường tổng cung AS1 sẽ dịch chuyển đến đường AS2 Đường tổng cung AS2 cắt đường tổng cầu AD2 tại điểm A’ Tại điểm A’ mức giá cao hơn mức giá ở điểm A và điểm D và sản lượng ở mức toàn dụng nhân công Nếu Chính phủ vẫn tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng (giảm thuế, tăng chi tiêu chính phủ hoặc cả hai) nhằm theo đuổi mục tiêu sản lượng tiềm năng thì theo lập luận như cũ mức giá sẽ tăng liên tiếp đến A’’, …An Tuy nhiên việc giảm thuế và tăng chi tiêu của Chính phủ
là có giới hạn, bởi việc tăng chi tiêu và giảm thuế quá lâu sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách Có hai nguồn thường được sử dụng để tài trợ cho cho thâm hụt: (1) phát hành tín phiếu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước, hoặc trái phiếu Chính phủ (có thể gọi chung là trái phiếu Chính phủ) và (2) là in thêm tiền
Trang 22Phát hành trái phiếu Chính phủ thường được nhiều quốc gia sử dụng, tuy nhiên, nếu phát hành trái phiếu chính phủ liên tục nhằm tài trợ cho thâm hụt thì đồng thời với nó là làm giảm các thành tố khác của tổng cầu, chẳng hạn như đầu tư và tiêu dùng Nếu phát hành trái phiếu Chính phủ liên tục, và nếu Chính phủ bán trực tiếp, bán toàn bộ trái phiếu cho các ngân hàng thương mại thì cung tín dụng sẽ làm giảm giá của trái phiếu và đẩy lãi suất tăng và kết quả là giảm đầu tư Cung trái phiếu Chính phủ nếu bán cho khu vực hộ gia đình, chi tiêu của hộ gia đình sẽ giảm Do đó chính sách tài khóa nới lỏng có thể tăng chi tiêu của Chính phủ nhưng lại làm giảm chi tiêu của hộ gia đình
và đầu tư trong tổng cầu Như vậy việc tổng cầu có tăng khi Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng là điều không chắc chắn Trong một nền kinh tế có thị trường tài chính kém phát triển và trái phiếu Chính phủ không thể bù đắp thâm hụt ngân sách liên tục thì để thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng liên tiếp nhằm theo đuổi mục tiêu tăng trưởng tiềm năng chỉ có cách thứ hai là in thêm tiền Cách này cuối cùng sẽ dẫn đến: lạm phát là hiện tượng tiền tệ mặc dù nguyên nhân thực sự là thâm hụt ngân sách
Tiếp theo chúng ta sẽ xem xét lạm phát bắt nguồn từ tổng cầu của nền kinh tế (còn gọi là lạm phát cầu kéo) và nó có liên quan thế nào đến hiện tượng tiền tệ Để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt đến tăng trưởng tiềm năng (mức sản lượng tiềm năng mà chính phủ mong muốn là mức Ym trên đồ thị) Chính phủ có thể thực hiện chính sách tài khóa nới lỏng hoặc chính sách tiền tệ mở rộng để để đẩy đường tổng cầu AD1 đến đường tổng cầu AD2 Tại đây, đường tổng cầu AD2 cắt đường tổng cung AS1 tại điểm D, tại đây mức giá cao hơn mức ban đầu và sản lượng cũng cao hơn sản lượng toàn dụng nhân công tại điểm A ban đầu Bởi vì sản lượng Ym cao hơn mức
Yn, tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, nền kinh tế sẽ tạo sức
ép tăng tiền lương, tiền lương tăng đến lượt nó lại tác động làm giảm hoạt
Trang 23động sản xuất và kết qủa là làm giảm sản lượng Cuối cùng sản lượng sẽ quay trở lại mức sản lượng toàn dụng nhân công Yn Hay nói cách khác, khi tiền lương tăng, đường tổng cung sẽ dịch chuyển từ AS1 đến AS2 và cắt đường tổng cầu AD2 tại A’ Nếu chính phủ dừng ở đây mức giá không tăng thêm nữa
và tỷ lệ lạm phát là bằng không Tuy nhiên, chính phủ lại không bằng lòng với mức sản lượng tại điểm A’ và vẫn cho rằng mức sản lượng tại đó là thấp hơn mức sản lượng tiềm năng Và tiếp tục thực hiện chính sách kích cầu (thực hiện chính sách cung tiền mở rộng), đường tổng cầu tiếp tục dịch chuyển từ
AD2 sang AD3 và đường tổng cung sau đó dịch chuyển tiếp từ AS2 sang AS3
cứ như vậy, cuối cùng mức giá cao hơn và tỷ lệ lạm phát là dương Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng mặc dù lạm phát bắt nguồn từ sự dịch chuyển của tổng cầu trong nền kinh tế nhưng nguyên nhân cuối cùng vẫn liên quan đến vấn đề tiền tệ Nếu chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng để tác động mở rộng cầu thì cũng gây ra một tác động tương tự như là tác động ở phần tổng cung
Như vậy, với việc sử dụng mẫu hình tổng cung tổng cầu, ta có thể giải thích được nguyên nhân của lạm phát dù bắt nguồn từ đâu thì lạm phát vẫn là một hiện tượng tiền tệ Đây chính là cơ sở lý thuyết để tác giả phân tích sâu hơn nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn từ 2003 đến nay
1.4 Các giải pháp để kiềm chế lạm phát
Trên những quan điểm khác nhau để giải thích nguyên nhân của lạm phát, các trường phái lại đưa ra những giải pháp khác nhau để kiềm chế lạm phát Các nhà kinh tế học theo trường phái cấu trúc cho rằng lạm phát là do tình trạng mất cân đối thường xuyên giữa cung và cầu lương thực; ngoại tệ
có hạn do nhập siêu nhiều hơn xuất; ngân sách thâm hụt và bị hạn chế do thu được ít nhưng nhu cầu chi tiêu cao Do vậy, để kiểm soát được lạm phát đòi
Trang 24hỏi chúng ta phải loại bỏ những mất cân đối nêu trên, điều đó có nghĩa là cần phải tăng sản xuất lương thực – thực phẩm, tăng xuất khẩu trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất để xuất khẩu, đồng thời phải điều chỉnh cơ chế tỷ giá hối đoái cho có lợi cho người làm xuất khẩu, hạn chế chi tiêu của Chính phủ và xã hội, chi tiêu ở mức hợp lý, chỉ chi ở mức thu được, không để thâm hụt ngân sách lên cao quá mức
Các nhà kinh tế học theo trường phái tiền tệ thì lý giải rằng lạm phát trong nền kinh tế chung quy vẫn là do lượng cung tiền vượt quá cầu, họ cho rằng nếu không có cung tiền tệ tăng lên thì cầu hàng hóa sẽ bị khống chế lại
và giá cũng không tăng lên do đã tạo ra được một sự cân bằng thị trường mới
ở mức cung cầu tiền tệ và hàng hóa giới hạn Nhà kinh tế học nổi tiếng Milton Friedman – nhà kinh tế học tiêu biểu cho trường phái tiền tệ cho rằng “lạm phát ở mọi lúc mọi nơi là hiện tượng tiền tệ” Điều đó cho ta một cơ sở để có thể đưa đến một kết luận rằng: việc kiểm soát lạm phát phải xuất phát từ việc kiểm soát cung tiền của nền kinh tế Và bên cạnh đó, trong tình hình có lạm phát cao thì một điều kiện tiên quyết mà chính phủ cần phải đưa ra mục tiêu
rõ ràng là “ổn định kinh tế vĩ mô chứ không thể chỉ vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao” Khi đã xác định rõ mục tiêu cần hướng tới thì sẽ có định hướng cho các chính sách để kiểm soát lạm phát
1.5 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong kiềm chế lạm phát và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Lạm phát không phải là căn bệnh của riêng một nền kinh tế nào, cùng chịu tác động của những điều kiện khách quan như nhau nhưng không phải quốc gia nào cũng có tỷ lệ lạm phát giống nhau Trong năm 2007, mặc dù cùng chịu tác động của giá nguyên nhiên vật liệu thế giới tăng cao, những bất
ổn của nền kinh tế Mỹ … nhưng tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc là 6,5%
Trang 25không cao như Việt Nam (12,63%) Trung Quốc đã làm gì để kiểm soát lạm phát hiệu quả? Việc xem xét kinh nghiệm của các nước để có bài học trong kiểm soát lạm phát ở nước mình là hết sức cần thiết Trong khuôn khổ của luận văn này tác giả sẽ chỉ ra một số cách phản ứng chính sách của Trung Quốc trong năm 2007 để duy trì lạm phát ở dưới tốc độ tăng trưởng kinh tế
Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho Việt nam trong việc kiểm soát lạm phát trong giai đoạn hiện nay
Trung Quốc gia nhập WTO sớm hơn Việt Nam, trước sức ép của lộ trình hội nhập, Trung Quốc cũng đã phải áp dụng các biện pháp kiềm chế lạm phát và tăng giá Chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của Trung Quốc mấy năm qua tỏ ra tương đối hiệu quả Vì thế, Trung Quốc vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và tỷ lệ lạm phát vẫn được kiềm chế ở mức độ có thể chấp nhận được Đây là bài học mà Việt Nam có thể tham khảo trong điều kiện hiện nay
để tìm lời giải cho bài toán chống lạm phát và hạn chế tăng giá Việt Nam và Trung Quốc là hai nước có những điều kiện tương đối giống nhau, là những nền kinh tế có mức tăng trưởng cao nhất tại châu Á năm 2007 Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với tình trạng lạm phát Trong tháng 11-2007, lạm phát tại Trung Quốc đã tăng lên 6,9% - mức cao nhất trong vòng 11 năm qua, khiến Chính phủ Trung Quốc lo ngại Tuy nhiên, so với các nước đang phát triển khác, tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc chưa phải là quá cao và so với Việt Nam (12,6%) thì vẫn ở mức tương đối thấp Trước sức ép lạm phát, Trung Quốc đã tiến hành thực hiện các biện pháp cơ bản để bình ổn giá cả trong nước như: kiểm soát chặt chẽ về giá, giảm lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường, và sử dụng chính sách tỷ giá hối đoái như một công cụ để kiềm chế lạm phát
i, Kiểm soát chặt chẽ giá cả thị trường: Trước sự tăng giá rất nhanh của các
mặt hàng tiêu dùng, đặc biệt là các mặt hành tiêu dùng thiết yếu, Ủy ban Phát
Trang 26triển và cải cách nhà nước (Ủy ban Kế hoạch) đã ra thông báo kiểm soát tạm thời giá các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, đặc biệt là thực phẩm (lương thực, sữa, dầu ăn, trứng, ) để đối phó với sự tăng giá nhanh của các mặt hàng tiêu dùng, nhằm làm giảm bớt khó khăn của người có thu nhập thấp và trung bình Theo như quyết định này, các nhà phân phối và sản xuất phải thông báo trước cho chính quyền địa phương trong vòng 24 giờ nếu muốn tăng giá 4%, thông báo trước 10 ngày nếu tăng giá 6% và phải thông báo trước 30 ngày nếu tăng giá 10% Ủy ban này cũng lập danh sách 12 công ty sản xuất và phân phối phải chịu sự giám sát đặc biệt về giá, trong đó có một số nhà sản xuất mì ăn liền, dầu thực vật, sữa Theo đánh giá, dù việc tăng giá hàng hóa bắt nguồn từ nguyên nhân đầu cơ hay khan hiếm hàng hóa thực sự, thì vấn đề lạm phát cũng đang trở thành mối quan tầm hàng đầu của các nhà lãnh đạo Trung Quốc Từ tháng 9-2007 trở lại đây, giá các loại lương thực thiết yếu tương đối
ổn định gần như không tăng, tuy nhiên Trung Quốc vẫn muốn nhân cơ hội này để kiểm soát chặt chẽ các ngành công nghiệp chế biến nông sản và phân phối nhằm đề phòng các biến động lớn trên thị trường Ủy ban Phát triển và cải cách Nhà nước còn tiến hành điều tra trong tất cả các ngành công nghiệp
có dấu hiện tăng giá để phát hiện các liên minh bắt tay nhau chi phối giá trên thị trường Chính phủ Trung Quốc đã ban hành nhiều chỉ thị nhắc nhở các doanh nghiệp phải tuân thủ đúng quy định về giá cả, đồng thời cũng hỗ trợ cho người sản xuất để tránh cho họ những thiệt hại đến mức tối thiểu Chẳng hạn đối với ngành công nghiệp chế biến thịt lợn, vốn bị tác động bởi dịch tai xanh khiến cho giá thịt tăng cao, Chính phủ đã quyết đinh bù lỗ cho người chăn nuôi để khắc phục một phần hậu quả Song song với các biện pháp do
Ủy ban Phát triển và cải cách Nhà nước đưa ra, Quốc vụ viện Trung Quốc cũng đã thông báo một số biện pháp trừng phạt mới nghiêm khắc hơn đối với các doanh nghiệp và tổ chức trong các ngành công nghiệp liên quan Trong
Trang 27lĩnh vực năng lượng - khu vực có giá tăng 10% trong tháng 11-2007 do ảnh hưởng của giá dầu thế giới, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã ra quyết định cấm tăng giá Theo Ủy ban Phát triển và cải cách nhà nước Trung Quốc (NDRC), các biện pháp tăng cường kiểm soát hành vi định giá bất hợp pháp đã giúp giá bán
lẻ khí đốt hóa lỏng giảm tới 19% tại các thành phố lớn của nước này Tuy nhiên, mặt trái của biện pháp này là có nguy cơ đẩy các tập đoàn dầu lửa lớn của Trung Quốc lâm vào tình thế khó khăn do chênh lệch giữa giá dầu trong nước và thế giới Hơn nữa, nó cũng ngăn cản các tập đoàn nâng cao sản lượng
để khắc phục tình trạng thiếu hụt nhiên liệu ở một số khu vực xa trung tâm Cuối năm 2007, vùng Tây Nam, đặc biệt là tỉnh Vân Nam đã bị thiếu xăng trầm trọng, trong khi miền Nam (Quảng Đông) lại bị thiếu than đá, nguyên nhân chính là do chính sách quản lý giá và môi trường Chính vì thế trong một bài xã luận mới đăng gần đây, tờ China Daily đã đặt câu hỏi liệu có nên tiếp tục chính sách quản lý giá xăng dầu hay không Ủy ban Phát triển và cải cách nhà nước cũng cho biết Trung Quốc sẽ nghiêm trị hành vi đầu cơ trục lợi
và hành động khiến lạm phát gia tăng Số liệu thống kê chính thức cho hay giá dầu ăn, thịt lợn và thịt bò hồi cuối tháng 12- 2007 tại 36 thành phố lớn và trên toàn Trung Quốc đã tăng lần lượt 58%, 43% và 46% so với cung kỳ năm trước Trung Quốc vừa quyết định tăng gấp ba lần mức phạt đối với những doanh nghiệp có hành vi điều khiển giá cả Đây là động thái mới nhất của Chính phủ Trung Quốc trong cuộc chiến chống lạm phát gia tăng Chính phủ Trung Quốc còn ra Chỉ thị mới, (có hiệu lực từ ngày 13-1-2008), quy định các doanh nghiệp có thể bị phạt tới 1 triệu NDT (138.000 USD) nếu có hành vi ấn định giá cả hoặc phớt lờ định hướng giá cả của Chính phủ Các công ty bị cho
là thu lợi nhuận bất hợp pháp qua việc tăng giá, có thể phải chịu mức phạt cao gấp 5 lần lợi nhuận và bị mất giấy phép kinh doanh Chỉ thị cũng quy định, nếu các hiệp hội thương mại cố ý tung tin đồn trên thị trường có thể phải đối
Trang 28mặt với mức phạt 500.000 NDT Trong nỗ lực kiềm chế lạm phát, Tân Hoa xã cho biết nhiều khả năng Chính phủ Trung Quốc sẽ áp đặt tỷ suất lợi nhuận và giá trần đối với một số hàng hóa và dịch vụ chủ chốt, nếu giá cả tăng quá mạnh Những biện pháp mạnh tay của Chính Phủ Trung Quốc đã góp phần nào cho việc kiểm soát gia tăng giá cả Chính sự mạnh tay của Chính phủ Trung Quốc trong việc giữ ổn định giá các mặt hàng thiết yếu đã góp phần kiềm chế sự tăng giá của các loại hàng hóa khác trong nền kinh tế và từ đó góp phần vào duy trì chỉ số giá tiêu dùng Kiểm soát giá là một biện pháp cấp thời để kiềm chế lạm phát Nhưng chúng ta cũng cần phải thấy mặt trái của
nó, khi những mặt hàng quan trọng chịu sự kiểm soát giá của Nhà nước, không được tăng giá hoặc tăng không kịp mức tăng chi phí sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm sút hoặc có thể là không có lợi nhuận Từ đó
sẽ ảnh hưởng đến đầu tư và tăng trưởng Việc sử dụng những biện pháp hành chính để chống lạm phát là bất đắc dĩ và cũng chỉ có ý nghĩa trong ngắn hạn, trong nền kinh tế thị trường, thực hiện chống lạm phát bằng kiểm soát giá là trái với các nguyên tắc thị trường qua đó sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế Khi thực hiện biện pháp kiểm soát giá để chống lạm phát Chính phủ Việt Nam cần đặc biệt chú ý đến vấn đề này
ii,Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với ngân hàng trong nước: trong năm
2007 Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã thực hiện tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng, và sau 10 lần tăng lên tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng đã tăng lên mức 14,5% - mức cao nhất trong vòng 24 năm qua Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, đây chưa phải là mức tăng cao nhất Dự báo trong năm tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên nữa, có thể tới 19,5% do sức ép lượng tiền mặt lưu thông vẫn còn cao, đồng thời để giảm bớt lượng tiền mặt lưu thông khi dự trữ ngoại tệ ngày một tăng Tính đến cuối năm 2007, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đạt
Trang 29khoảng 1.530 tỉ USD, tăng 43,3% so với cùng kỳ năm 2006 Bình quân mỗi tháng nước này mua vào khoảng 30 tỉ USD dự trữ Tuy vậy, theo nhà kinh tế
Ha Jiming của China International Capital Corp Ltd, những lần tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng như trên đã gây sức ép lớn đối với các ngân hàng nhỏ và vừa Vì thế, ngoài tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nhiều khả năng Ngân hàng Trung ương Trung Quốc sẽ phải dùng thêm biện pháp khác
là phát hành trái phiếu để giải quyết tình trạng tăng trưởng vay vốn quá mức Hiện tại, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Việt Nam mới ở mức 11% Đây cũng là một gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam trong việc lựa chọn một phương án thích hợp hiệu quả để kiểm soát lạm phát có hiệu quả
iii, Sử dụng chính sách tỷ giá như một công cụ để kiềm chế lạm phát: Là
một quốc gia rất chú trọng xuất khẩu nhưng Trung Quốc đã chịu hi sinh để đồng nội tệ tăng so với USD, trung bình từ năm 2006 đến cuối năm 2007 đồng NDT đã tăng giá 12% so với USD Việc Trung Quốc điều chỉnh tỷ giá hối đoái giữa đồng nhân dân tệ so với đồng đôla Mỹ chắc chắn sẽ tạo thuận lợi cho các nhà xuất khẩu Mỹ vào thị trường Trung Quốc, nhưng bên cạnh đó
nó sẽ làm giảm sức ép cho các nhà nhập khẩu Trung Quốc Mặc dù với hệ thống tỷ giá hối đoái cũ các nhà xuất khẩu Trung Quốc tuy có được hưởng lợi nhiều, nhưng các nhà nhập khẩu Trung Quốc lại phải trả giá quá đắt cho các mặt hàng xăng dầu, quặng sắt và các mặt hàng nhập khẩu khác Việc thay đổi
tỷ giá hối của Trung Quốc cho phép đồng nhân dân tệ được tự do lên xuống giá trong giới hạn nhất định, thay vì một tỷ giá hối đoái cố định như trước đây
sẽ tạo điều kiện để kiểm soát lạm phát Bởi việc linh hoạt tỷ giá hối đoái có thể giải quyết cả hai nguyên nhân gây lạm phát là chi phí sản xuất tăng (do phải nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu đầu vào với giá cao) và lượng cung tiền lớn (do phải tung nội tệ ra mua ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái cố định)
Trang 30Lạm phát gây ra những tác động tiêu cực cho tăng trưởng kinh tế, và nó
còn tạo ra những bất ổn xã hội Do vậy việc kiểm soát lạm phát là vô cùng
quan trọng Đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát lên hàng đầu, Chính phủ Trung
Quốc vẫn quyết tâm thực hiện những biện pháp mạnh tay: kiểm soát giá cả thị
trường, thay đổi tỷ giá hối đoái… Việc can thiệp của chính phủ Trung Quốc
vào thị trường gần như là “bất đắc dĩ’’, bởi trong 20 năm qua, Trung Quốc
hầu như từ bỏ việc kiểm soát giá cả, thực hiện thị trường tự do trong cả nước,
việc tăng giá đồng nhân dân tệ cũng tác động không nhỏ đến xuất khẩu…
nhưng trong năm 2007 tốc độ tăng trưởng của nền Trung Quốc vẫn duy trì ở
mức độ cao hơn 11% trong khi tỷ lệ lạm phát chỉ là 6,5%
Những biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát và tăng giá của Trung Quốc
nêu trên có thể là những kinh nghiệm mà các nhà nghiên cứu và hoạch định
chính sách vĩ mô về phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn
hiện nay cần quan tâm Hiện nay vấn đề lạm phát đang trở thành một tiêu
điểm nóng trong hoạch định vĩ mô của Việt Nam việc nghiên cứu những kinh
nghiệm của những nước trong khu vực từ đó áp dụng vào điều kiện cụ thể của
Việt Nam là rất cần thiết
Trang 31
Chương 2: LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG
2.1 Tổng quan về tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn
2.1.1 Những thành tựu kinh tế đạt được trong giai đoạn 2003 đến nay
Thứ nhất, đó là luôn duy trì tốc độ tăng GDP cao, và các ngành đều đạt
được tốc độ tăng trưởng cao
Trong giai đoạn 2003 -2007 một điểm sáng của kinh tế vĩ mô Việt Nam
là luôn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (tốc độ trung bình đạt hơn 8%/năm)(Nguồn Tổng cục thống kê) Đặc biệt là năm 2007 nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng 8,48% - mức cao nhất trong vòng 11 năm qua và đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực Nếu đem so sánh với các nước trong khu vực châu Á trong cùng kỳ thì tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đứng ở vị trí thứ 3 sau Trung Quốc (đạt 11,3%) và Ấn Độ (đạt 9%) Tăng trưởng kinh tế đạt được ở
Trang 32cả ba nhóm ngành Nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy hải sản đạt tốc độ tăng trung bình là 3,758%/năm, năm 2007 mặc dù có gặp rất nhiều khó khăn nhưng tốc độ tăng trưởng của nhóm ngành này cũng đạt 3,41% tương đương với tốc độ tăng trưởng của năm trước đó Nhóm ngành công nghiệp xây dựng luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhất và đạt trung bình khoảng 10,4%/năm Tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ cũng duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao
và đạt trung bình là khoảng 7,83%/năm Trong 3 năm trở lại đây Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao trên 8% (năm 2005 đạt 8,44%; năm 2006 đạt 8,17% và năm 2007 đạt 8,48%)
Bảng 2.1: GDP bình quân đầu người tính bằng VND và tính bằng USD
theo tỷ giá hối đoái
Năm GDP
giá thực tế
(Tỷ VND)
Dân số trung bình (nghìn người)
GDP bình quân đầu người (nghìn VND)
Tỷ giá VND/USD
GDP tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái (Triệu USD)
GDP bình quân đầu người tính bằng USD
Bảng trên cho thấy rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhưng do tốc
độ tăng dân số thấp, và tỷ giá VND/USD tăng thấp nên quy mô GDP tính theo giá thực tế và tính bằng USD tăng qua các năm Năm 2007 là năm có nhiều biến động của nền kinh tế thế giới nhưng Việt Nam vẫn đạt được những thành công đáng kể, quy mô GDP đã đạt 71,2 tỷ USD và GDP bình quân đầu người tăng đáng kể đạt mức 835USD/người và tăng 110,8USD so với năm 2006 và
Trang 33tăng 15USD so với kế hoạch của Quốc hội đề ra Đây có thể là một dấu hiệu khả quan để năm 2008 chúng ta có thể đạt được mục tiêu tổng quát của thập
kỷ vào năm 2008, tức là vượt qua ranh giới của của nhóm nước có thu nhập trung bình thấp
Thứ hai, cán cân thanh toán được cải thiện và dự trữ quốc tế tăng lên
Dự trữ ngoại tệ trong giai đoạn 2003-2007 liên tục tăng
Đồ thị 2.1: Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam, 2003-2007 (tỷ USD)
cả nước đạt 20,3tỷ USD và là mức cao nhất từ trước đến nay tăng hơn 69% so với năm 2006 (10,2tỷ), trong đó vốn giải ngân đạt 5,3 tỷ USD Vốn đầu tư gián tiếp từ thị trường chứng khoán cả năm ước đạt từ 4,5 đến 5 tỷ USD Vốn ODA cam kết tài trợ khoảng 5tỷ USD và mặc dù thực tế mới giải ngân được gần 2 tỷ USD nhưng cũng là mức cao nhất từ trước đến nay Nguồn kiều hối theo đường chính thức ước đạt 5,5 tỷ USD, chi tiêu của khách quốc tế đến Việt Nam ước đạt 3,4tỷ USD Chính nguồn ngoại tệ dồi dào này đã góp phần
bù đắp phần nào cho cán cân thương mại, và còn được mua vào để tăng dự trữ
Trang 34quốc tế, tránh cho đồng Việt Nam lên giá so với USD gây ảnh hưởng đến xuất khẩu và nhập siêu
Thứ ba, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị
trong giai đoạn 2003-2007 có xu hướng giảm xuống Nếu như năm 2003 tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu vực thành thị là 5,78%; năm 2007 tỷ lệ này chỉ còn là 4,64% - tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị đạt tỷ lệ thấp nhất trong vòng 10 năm qua Đây là một điểm sáng cho thấy tác động của tăng trưởng kinh tế đến phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam
Thứ tư, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam giảm đáng kể và Việt Nam được
Liên Hợp quốc đánh giá rất cao trong thành tựu trong việc giảm nghèo
Bảng 2.2 Tỷ lệ hộ nghèo qua các năm của Việt Nam (%)
Nguồn: Tổng cục Thống kê ( www.gso.gov.vn )
Trong giai đoạn 2003-2007, Việt Nam là một trong những nước đạt được tốc độ giảm nghèo nhanh nhất trên thế giới Tỉ lệ nghèo đói trên 8 vùng của Việt Nam đều giảm, giảm từ khoảng 58% năm 1993 xuống 14,75% năm
2007 Nền kinh tế tăng trưởng nhanh và liên tục, với tốc độ khoảng 7% đến 8% mỗi năm là một yếu tố quan trọng trong việc giảm nghèo Như vậy, mối
Trang 35quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo ở Việt Nam đã được thể hiện
rõ nét trong những năm vừa qua Vùng có tỷ lệ nghèo đói thấp nhất là Đông Nam Bộ; các vùng khác tỷ lệ hộ nghèo cũng giảm khá nhiều qua các năm, vùng Tây Bắc tỷ lệ hộ nghèo năm 2004 còn là 46,10% thì năm 2007 đã giảm xuống còn 37,45% (tức là đã giảm 10%), Tây Nguyên đã giảm từ 29,20% năm 2004 xuống còn 22,95% năm 2007 ( tức là giảm được 7%) và Bắc Trung
Bộ cũng đã giảm được 5% ( từ 29,40% năm 2004 xuống còn 25,51% năm 2007) “Nhưng điều làm cho Việt Nam khác với những nền kinh tế mới nổi khác – như Trung Quốc hay Ấn Độ - là việc tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng cũng hạn chế được tốc độ gia tăng bất bình đẳng”, ông Ajay Chhibber- Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam nhận xét và phân tích: Hệ số Gini, một chỉ số xem xét bất bình đẳng thu nhập, chỉ tăng từ 0,34 năm 1993 lên 0,36 năm 2006 – thấp hơn các nền kinh tế mới nổi khác – đã giải thích tốc độ giảm nghèo mạnh Điều đó cho thấy, tăng trưởng kinh tế đã có tác động mạnh đến đời sống của dân chúng Người dân đã thực sự được hưởng những thành quả
mà tăng trưởng kinh tế mang lại
Đồ thị 2.2: Các chỉ số kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2003 - 2007
T ỷ lệ lạm phát % T ốc độ tăng trưởng kinh t ế % T ỷ lệ thất nghiệp %
Nguồn : Tổng hợp của tác giả từ trang web của Tổng cục thống kê www.gso.gov.vn
Trang 362.1.2 Những vấn đề còn tồn tại trong nền kinh tế vĩ mô Việt Nam
Trong giai đoạn 2003 -2007 mặc dù có nhiều thành tựu nhưng kinh tế
vĩ mô của Việt Nam còn nhiều tồn tại bất cập
Thứ nhất phải kể đến đó là tỷ lệ lạm phát tăng cao, qua đồ thị 2.2 ta có
thể thấy bắt đầu từ cuối năm 2003 tỷ lệ lạm phát có xu hướng tăng cao và năm 2007 đạt mức cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây - ở mức 2 con số (12,6%) Nếu so với tỷ lệ lạm phát cao của năm 1998 (9,2%) và năm 2004 (9,5%) thì tỷ lệ lạm phát của năm 2007 quả là đáng báo động - tốc độ tăng giá của năm 2007 cao gấp rưỡi tốc độ tăng GDP (tăng 12,6% so với 8,4% )
Trong giai đoạn 2003 đến 2007, một đặc điểm nổi bật nữa là tỷ lệ nhập siêu cao và tăng qua các năm, có thể thấy qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, nhập siêu và tỷ lệ nhập siêu
qua các năm
Năm Xuất khẩu
(triệu USD)
Tốc độ tăng (%)
Nhập khẩu (triệu USD)
Tốc độ tăng (%)
Nhập siêu (Triệu USD)
Tốc độ tăng (%)
2003 20.149,3 20,6 25.255,8 27,9 5.106,5 25,3
2004 26.485,0 31,4 31.968,8 26,6 5.483,8 20,7
2005 32.447,0 22,5 36.761,1 15,0 4.314,0 13,3
2006 39.826,0 22,7 44.891,1 22,1 5.064,9 12,7 Ước
1998 đến 2006 (14,9%)
Trang 37Thứ ba, gia tăng sự bất bình đẳng trong xã hội Trong những năm qua,
tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã giảm đi rõ rệt, tuy nhiên mức độ lại khác nhau Vùng Đồng bằng Sông Hồng từ năm 2004 đến 2007 số hộ nghèo chỉ giảm từ 12,9% năm 2004 xuống 9,62% năm 2007 (tức là giảm 3,28%) và Đông Nam Bộ tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 6,1% năm 2004 xuống 4,33% năm
2007 (tức là chỉ giảm 1,77%), trong khi đó vùng vùng Tây Bắc tỷ lệ hộ nghèo giảm 10% từ năm 2004 đến 2007 nhưng tỷ lệ hộ nghèo ở đây năm 2007 vẫn còn rất cao – 37,45% Tỷ lệ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng dẫn đến sự chênh lệch thu nhập ngày càng tăng giữa các vùng Như vậy ngay cả việc giảm tỷ lệ nghèo cũng không hoàn toàn đồng nghĩa với việc giảm phân hoá giàu nghèo Nói cách khác, cùng với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, còn phải quan tâm đến vấn đề phân hoá giàu, nghèo Ngoài sự bất bình đẳng giữa các vùng, sự bất bình đẳng còn có thể thấy qua sự chênh lệch lợi ích hưởng thụ những dịch vụ an sinh xã hội giữa nhóm người giàu và nhóm người nghèo, giữa thành thị và nông thôn trong xã hội
Đồ thị 2.3: Hệ số chênh lệch giàu nghèo giữa nhóm người giàu (20%
dân số có thu nhập cao nhất ) và nhóm người nghèo (20% dân số có thu nhập thấp nhất)
6.2 6.5
7 7.6
8.1 8.3 8.4
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9
Trang 38Theo Báo cáo của Chương trình Phát triển Kinh tế Liên Hiệp Quốc (UNDP) công bố mới đây (22-8-2007), dựa trên các số liệu điều tra về mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2004, cho thấy tình hình an sinh xã hội của Việt Nam đang thụt lùi “Các hộ trong nhóm thu nhập cao nhất - nhóm 20% giàu nhất nhận được gần 40% lợi ích an sinh xã hội Trong khi đó, nhóm nghèo nhất chỉ nhận chưa đến 7% Những người sống ở đô thị có cơ hội hưởng nhiều chính sách an sinh xã hội hơn người sống ở nông thôn… Nhóm giàu nhất nhận được 47% lương hưu, còn nhóm nghèo nhất chỉ nhận được 2% Nhóm giàu nhất nhận được 45% trợ cấp y tế, còn nhóm nghèo nhất chỉ được 7% Tỷ lệ nhận trợ giúp giáo dục của nhóm giàu nhất và nghèo nhất tương ứng là 35% và 15%…” Theo chuẩn nghèo của Ngân hàng Thế giới cũng như theo chuẩn nghèo mới của Việt Nam, tính chung cả nước hiện cứ 5 người dân thì có 1 người nghèo; ở các vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên cứ 3 người dân thì có 1 người nghèo; riêng ở Tây Bắc Bộ, cứ 2 người dân có 1 người nghèo Đáng lưu ý, khi mở rộng chuẩn nghèo, thì tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã tăng khá nhanh, từ 6,9% lên 23,2%, tức gấp 3,4 lần Điều đó cho thấy, ngoài bộ phận dân cư nghèo, còn có một bộ phận dân cư khác thu nhập không cao hơn nhiều so với những hộ nghèo Đây là những hộ
dễ bị tổn thương, sẵn sàng gia nhập vào nhóm các hộ nghèo một khi gặp khó khăn trong sản xuất và đời sống Xét theo ý nghĩa đó, thì kết quả xoá đói giảm nghèo vẫn chưa thật vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn khá cao Mặc dù trong những năm qua, thu nhập của tất cả các nhóm dân cư đều tăng, nhưng do thu nhập của nhóm thu nhập cao nhất (nhóm giàu) tăng cao hơn của nhóm thu nhập thấp nhất (nhóm nghèo) cả về tốc độ tăng, cả về mức tăng tuyệt đối, nên chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu và nhóm nghèo ngày càng có xu hướng dãn ra Mức chênh lệch về thu nhập giữa các vùng, các nhóm dân cư đang tăng lên sẽ là nguyên nhân đẩy tới bất công trong xã hội Vùng có mức thu
Trang 39nhập bình quân cao nhất là Đông Nam Bộ, cao gấp 2,5 lần so với vùng thấp nhất là Tây Bắc Giữa các nhóm dân cư trong xã hội cũng đang xuất hiện sự chênh lệch ngày càng tăng về thu nhập Bất bình đẳng còn thể hiện rất rõ nét giữa các nhóm dân tộc Tỷ lệ nghèo chung của dân tộc Kinh là 23,1%, nhưng
ở nhóm dân tộc thiểu số là 69,3% Khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm thu nhập của dân tộc Kinh là 4,7 lần, nhưng giữa dân tộc Kinh với dân tộc thiểu số là 22,1 lần Những vùng có tỷ lệ nghèo nhiều nhất cũng là những vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống
Như vậy, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong giai đoạn 2003 đến nay đã bộc lộ nhiều mặt bất cập Bên cạnh việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, là một loạt những mảnh tối của nền kinh tế vĩ mô: lạm phát cao, chênh lệch giàu nghèo ngày càng xa… đang làm xói mòn những kết quả kinh tế vĩ mô của chúng ta Đặc biệt là lạm phát cao đang là một vấn đề gây được quan tâm chú ý nhất của những nhà phân tích cũng như những nhà làm chính sách
2.2 Diễn biến, tác động và nguyên nhân lạm phát giai đoạn 2003-2007
Việt Nam dùng chỉ số giá tiêu dùng CPI để đo lường lạm phát Để có thể hiểu được diễn biến và những nguyên nhân của lạm phát giai đoạn từ năm 2003-2007, trước tiên chúng ta cần phải xem xét động thái của chỉ số này qua các năm, tiếp đó đi phân tích chi tiết diễn biến của các yếu tố cấu thành chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam để tìm ra nguyên nhân của lạm phát ở Việt Nam
2.2.1 Diễn biến của chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn 2003-2007
Để xem xét tác động của các nhân tố đến chỉ số giá tiêu dùng, cần xem xét sự biến động của các nhóm mặt hàng trong rỏ hàng hóa tính chỉ số giá tiêu dùng Trong rỏ hàng hóa tính chỉ số tiêu dùng hiện nay của Việt Nam thì
Trang 40nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống chiếm tỷ lệ rất cao (42,85%), nhóm nhà ở
và vật liệu xây dựng chiếm 9,99%, nhóm phương tiện đi lại cũng chiếm đến 9,04% Do vậy sự biến động giá của nhóm mặt hàng này sẽ gây tác động rất lớn đến chỉ số giá tiêu dùng nói chung
Đồ thị 2.4: Cơ cấu rỏ hàng hóa dịch vụ tính chỉ số giá tiêu dùng hiện
nay của Việt Nam
Đồ uống và thu ốc
l á May m ặc, gi ày dé p
Đồ thị 2.5: Tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng, 2003-2007
Lương thực (%) Thực p hẩm (%)
Nhà ở và vật liệu xây dựng (%) Phương tiện đi lại, bưu điện (%)
Chỉ số giá tiêu dùng (%) (thang bên p hải)
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ website của Tổng cục thống kê www.gso.gov.vn