Ngành du lịch mang tính tổng hợp: Hoạt động du lịch là hoạt động mang tính tổng hợp, trong quá trình hoạt động du lịch, khách du lịch có các nhu cầu về đi lại ăn ở, du ngoạn, vui chơi gi
Trang 1L ỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học cao học tại trường đại học Tài Chính - Marketing , Tôi
đã có dịp học hỏi và trao đổi với các thầy cô giáo đã tận tình giảng dậy cho tôi có thêm
kiến thức và chuyên môn , đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn TS Phan Đình Quyền đã
tận tình giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Xin cảm ơn các bạn học cùng lớp đã có thời gian chia sẻ kiến thức và cuối cùng tôi xin trân thành cảm ơn bố
mẹ và gia đình đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập
H ỌC VIÊN THỰC HIỆN
SOULYNHA SISOMBOUN
Trang 2B ẢNG VIẾT TẮT
SLST Du lịch sinh thái
CHDCND Lào Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
TTCP Thủ tướng chính phủ
WTO World Trade Organization
UNWTO United Nation World Trade Organization OECD Organization Economic Country Development NGOs Non Government Organizations
Trang 3DANH M ỤC BẢNG, ĐỒ THỊ
Bảng 1.1: Khái quát lại với 3 loại du lịch sinh thái chủ yếu 18
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh năm 2010 – 2012 35
Bảng 2.2: Tổng hợp hoạt động du lịch sinh thái của tỉnh Salavan từ năm 2010-2012 40
Bảng 2.3: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh du lịch của tỉnh Salavan từ năm 2010
-2012 41
Bảng 2.4: So sánh một số chỉ tiêu về khách du lịch, doanh thu từ du lịch năm 2012
của tỉnh Salavan so với cả nước 42
Bảng 2.5: Thống kê số lượng khách đến du lịch tại tỉnh theo loại hình du lịch từ năm
2010 – 2012 43
Bảng 2.6: Các loại hình DLST chủ yếu được du khách chọn lựa khi đến tỉnh Salavan 44
Bảng 2.7: Tổng quan dự án đầu tư về du lịch tỉnh Salavan đến từ năm 2010-2012 47
Sơ đồ 3.1: Kênh phân phối sản phẩm DLST đối với khách nội địa 65
Sơ đồ 3.2: Kênh phân phối sản phẩm DLST đối với khách quốc tế 66
Trang 4M ỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tổng quan về tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4
C hương 1: Cơ sở khoa học về du lịch và du lịch sinh thái 1.1 Một số lý luận chung về du lịch và du lịch sinh thái 6
1.1.1 Một số lý luận chung về du lịch 6
1.1.2 Khái niệm Du lịch sinh thái 13
1.2 Những nguyên tắc và điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái 19
1.2.1 Những nguyên tắc của du lịch sinh thái 19
1.2.2 Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái 20
1.3 Sản phẩm du lịch sinh thái 22
1.3.1 Khái niệm về sản phẩm du lịch sinh thái 22
1.3.2 Đặc điểm của sản phẩm du lịch sinh thái 23
1.3.3 Những điều kiện để phát triển sản phẩm du lịch sinh thái 26
1.4 Tính tất yếu về sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động DLST 30
1.5 Tài nguyên du lịch sinh thái 31
1.5.1 Khái niệm tài nguyên DLST 31
1.5.2 Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái 32
1.6 Các tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển du lịch sinh thái bền vững 32
1.6.1 Tiêu chuẩn về kinh tế 32
1.6.2 Tiêu chuẩn về xã hội, con người 33
1.6.3 Tiêu chuẩn về môi trường 33
C hương 2: Thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại tỉnh Salavan nước cộng hòa dân ch ủ nhân dân Lào 2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội của tỉnh Salavan 34
2.1.1 Tổng quan về địa lý kinh tế tỉnh Salavan 34
Trang 52.1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh Salavan 35
2.2 Tiềm năng phát triển DLST tỉnh Salavan 36
2.2.1 Tài nguyên DLST tự nhiên của tỉnh Salavan 36
2.2.2 Tài nguyên DLST nhân văn tỉnh Salavan 37
2.3 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Salavan nước CHDCND Lào 38
2.3.1 Loại hình du lịch sinh thái tại tỉnh Salavan 38
2.3.2 Hoạt động kinh doanh du lịch tại tỉnh Salavan 40
2.4 Khảo sát khách du lịch và DLST về các nội dung liên quan đến hoạt động DLST ở tỉnh Salavan 41
2.4.1 Lượng khách du lịch đến tỉnh Salavan 41
2.4.2 Đối tượng khách DL và DLST đến tỉnh Salavan 43
2.4.3 Thời gian lưu trú và tính thời vụ trong DLST ở tỉnh Salavan 45
2.5 Tình hình đầu tư phát triển DLST của tỉnh Salavan từ năm 2010 – 2012 46
2.6 Một số thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động phát triển DLST tại tỉnh Salavan 47
2.6.1 Thuận lợi 47
2.6.2 Một số khó khăn và tồn tại 48
2.6.3 Một số hạn chế 49
C hương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái tỉnh Salavan đến năm 2020 3.1 Phương hướng phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Salavan đến năm 2020 51
3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Salavan đến năm 2020 51
3.1.2 Mục tiêu 52
3.1.3 Các điểm du lịch sinh thái trọng tâm cần phát triển 52
3.2 Nguyên tắc và yêu cầu đối với phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Salavan đến năm 2020 52
3.2.1 Nguyên tắc 52
3.2.2 Yêu cầu 55
3.3 Một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Salavan đến năm 2020 57
3.3.1 Giải pháp phát triển các điểm, tuyến, khu DLST 57
3.3.2 Nhóm giải pháp về vốn đầu tư 58
Trang 63.3.3 Nhóm giải pháp về lao động và đào tạo nguồn nhân lực 59
3.3.4 Nhóm giải pháp về Marketing DLST và xúc tiến hỗn hơp, mở rộng thị trường cho DLST ở Salavan 62
3.3.5 Nhóm giải pháp liên kết du lịch vùng 65
3.4 Một số kiến nghị đối với việc phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Salavan của nước CHDCND Lào trong thời gian tới 66
3.4.1 Kiến nghị với Bộ Văn hóa và Du lịch Lào 66
3.4.2 Đối với nhân dân tỉnh Salavan của CHDCND Lào 67
3.4.3 Kiến nghị với Sở Văn hoá và Du lịch tỉnh Salavan 67
3.4.4 Kiến nghị với các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm DLST trên địa bàn tỉnh 68
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 9MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào) đã và0T 0Tđang thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần0T 0Tvận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ0T 0Tnghĩa (XHCN), bước đầu đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành du lịch CHDCND Lào0T 0Tmới bắt đầu hội nhập và hợp tác nên khả năng chủ động đưa ra các dự án hợp tác còn nhiều hạn chế Dịch vụ du lịch hiện nay chưa đa dạng, phong phú, cơ sở hạ tầng chưa theo kịp tốc độ phát triển, chất lượng0T 0Tdịch vụ thấp, giá cả cao, sản phẩm chưa phong phú, chưa khai thác và bảo tồn những tài nguyên tự nhiên theo đúng qui định…
là những thách thức lớn đối với0T 0Tngành du lịch nói chung và đối với du lịch tỉnh Salavan nói riêng
Tỉnh Salavan được biết đến là một thành phố du lịch thơ mộng với sông Sê-Đôn xanh êm đềm và Núi Trường sơn hùng vĩ Về tình hình kinh tế xã hội của tỉnh năm 2011-2012 có tổng thu nhập quốc gia đạt được 2.407.26 tỷ kíp, trong đó ngành nông nghiệp chiếm 53% công nghiệp chiếm 19,49%, dịch vụ chiếm 26,76% Cùng với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh phấn đấu đạt tổng thu nhập quốc gia của tỉnh năm tới là GDP tăng 11-12%, dự kiến tăng trưởng cho các ngành khác như nông nghiệp dự kiến tăng khoảng 9,63%, công nghiệp 15,19% và dịch vụ 13,34% Trong
đó, doanh thu từ ngành du lịch cũng chiếm phần khá lớn trong tổng thu nhập quốc gia của tỉnh, và GDP bình quân trên đầu người là 805$/người/năm Từ đó, có thể thấy du lịch là một lĩnh vực rất quan trọng trong nền kinh tế xã hội của tỉnh Salavan
Du lịch nói chung và du lịch sinh thái trong hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng là loại hình du lịch vẫn còn mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản lý kinh doanh không chỉ đối với Lào mà cho tất cả các nước khác trong giai đoạn mở cửa
và hội nhập Với lợi thế hơn nhiều nước trong khu vực, tiềm năng phong phú và đa dạng của các hệ sinh thái, nên ngay từ thời gian đầu của quá trình phát triển kinh tế của đất nước, việc phát triển du lịch sinh thái ở nước CHDCND Lào nói chung và tỉnh
Trang 10bảo tồn thiên nhiên và khu rừng văn hóa, lịch sử làm cơ sở vững chắc cho sự phát triển du lịch sinh thái Sự định hình và khởi sắc của Du lịch sinh thái ở các địa phương trong thời gian qua là cơ sở và nền tảng để ngành Du lịch tỉnh Salavan hoạch định chiến lược phát triển du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên nhiên một cách ổn định
và bền vững
Với đặc trưng của tỉnh là gồm có nhiều dân tộc và có nét văn hóa khác nhau của nhân dân sống trong tỉnh Salavan Đồng thời, tỉnh Salavan là tỉnh có nhiều rừng núi, đồng bằng với nhiều khu bảo tồn sinh thái của tỉnh cũng như của quốc gia cần được bảo tồn và khai thác một cách hiệu quả, cùng với chính sách bảo tồn khu du lịch sinh thái của nhà nước trong những năm qua, và sự cần thiết trong công tác tuyên truyền những lối sống và những sinh hoạt của người dân trong những khu vực rừng sinh thái
đã được mọi cùng với sự phát triển bền vững tránh được những sự tàn phá của văn hóa
phương tây Vậy đề tài “Giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Salavan đến
năm 2020” làm luận văn cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh của mình
2 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Tình hình nghiên cứu ở Lào
Với tiềm năng và tài nguyên du lịch lớn, đa dạng và phong phú, ngành Du lịch Lào đã có những bước đi tương đối vững chắc, tạo ra bước phát triển mới Từ một ngành kinh tế tổng hợp, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế - xã hội, đến nay
Du lịch đã được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong thời kỳ hiện nay Đạt được những thành quả của sự phát triển Du lịch trong những năm qua có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó không thể không nói đến nhân tố có ý nghĩa quyết định: đó là sự ổn định về chính trị của đất nước, sự nghiệp quốc phòng - an ninh được giữ vững Chính điều đó đã tạo ra một điểm đến an toàn, thân thiện, thu hút du khách đến với Lào; đồng thời, khẳng định trên thực tế giữa quốc phòng - an ninh và du lịch
đã từng bước có sự gắn bó cần thiết, vì lợi ích chung là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việc nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái hiện nay ở Lào vẫn là loại hình du lịch mới, chưa có điều kiện khai thác và đưa nó trở thành một trong những ngành kinh
tế dịch vụ trọng điểm Do đó, du lịch sinh thái ở tỉnh Salavan mới chỉ được đầu tư, nghiên cứu trong những năm gần đây
Trang 11Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Từ nửa cuối thế kỷ 19, cùng với sự ra đời của các Vườn quốc gia các hình thái
du lịch thiên nhiên đã thu hút du khách một cách đặc biệt Vườn quốc gia Yellowstone (Mỹ) là một VQG đầu tiên của thế giới được thành lập vào năm 1893
Thuật ngữ “Du lịch sinh thái” mới chỉ được sử dụng và đề cập đến nhiều trong thế kỷ 20 khoảng những năm đầu của thập kỷ 90 Về nguồn gốc, Du lịch sinh thái bắt nguồn từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời Ban đầu các hình thức du lịch này không gắn liền với mục tiêu bảo tồn Cho đến thập niên 70 thì ngày càng nhiều các du khách tham quan nhận thức được hậu quả sinh thái mà họ có thể gây ra cho giá trị của thiên nhiên và có thể làm tổn thương sâu sắc đến quyền lợi lâu dài của người dân địa phương Do đó, đã hình thành nên các tour du lịch chuyên môn hóa mà chỉ đơn giản là xem chim, cưỡi lạc đà trên sa mạc, đi bộ ngoài thiên nhiên có người hướng dẫn… đang tăng dần lên Đến lúc này có thể nói là ngành Du lịch sinh thái (DLST) đã hình thành và phát triển
DLST là một hiện tượng phức tạp và đa lĩnh vực Vấn đề giảm thiểu tác động môi trường được coi là một tiêu chuẩn đầu tiên cho sự phát triển ngành DLST Từ đó thuật ngữ “Công nghệ Sinh thái “ đã được sử dụng nhiều trong kế hoạch xây dựng các chương trình Du lịch sinh thái
Hiệp định Du lịch ASEAN, Ngày 04 tháng 11 năm 2001, tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 7, Brunei Darussalam đã ký kết Hiệp định Du lịch ASEAN Việt Nam và các nước trong khu vực đã nhận thức được tầm quan trọng chiến lược của ngành Du lịch sinh thái đối với tăng trưởng kinh tế bền vững của các nước thành viên ASEAN, cũng như sự đa dạng về văn hoá, kinh tế và các lợi thế sẵn có của khu vực,
có lợi cho sự phát triển du lịch của ASEAN nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, hòa bình và thịnh vượng của khu vực Đây là cơ hội để du lịch Lào nói chung và tỉnh Salavan nói riêng tìm cho mình một hướng đi mới trong loại hình du lịch mới này
3 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu nghiên cứu:
Trang 12Góp phần tích cực vào việc quản lý, phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng tại tỉnh Salavan trong thời gian tới
- Hệ thống cơ sở lý luận về khung lý thuyết du lịch sinh thái và cách phân loại du lịch sinh thái hiện nay
- Nghiên cứu, khảo sát tổng hợp phân loại các tài nguyên du lịch nhằm phục vụ
du lịch sinh thái của tỉnh trong thời gian qua và định hướng phát triển một số loại hình
du lịch sinh thái mới phù hợp với xu thế phát triển của quốc gia và thế giới
- Đánh giá thực trạng kinh doanh du lịch sinh thái ở các điểm, khu, tuyến điểm
du lịch sinh thái của tỉnh Salavan trong thời gian qua
- Đánh giá tiềm năng, thế mạnh để phát triển du lịch sinh thái của tỉnh
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch và du lịch sinh thái, tiềm năng du lịch và
các sản phẩm du lịch sinh thái
- Nghiên cứu tổng quan về du lịch sinh thái của tỉnh Salavan
- Nghiên cứu tình hình phát triển của ngành du lịch tỉnh Salavan trong những năm qua
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Salavan
- Đề ra những giải pháp cho sự phát triển du lịch sinh thái và đưa ra hệ thống
tuyến điểm du lịch sinh thái của tỉnh Salavan trong thời gian tới
4 ĐÓI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Salavan
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Chỉ nghiên cứu các loại hình hoạt động du lịch sinh thái tại tỉnh Salavan
+ Về thời gian: Từ nay đến năm 2020
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trang 13- Phương pháp nghiên cứu sẽ dựa vào phân tích số liệu thứ cấp với mục tiêu
chủ yếu là đánh giá đúng thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Salavan của
nước CHDCND Lào trong thời gian qua
- Đề tài cũng sử dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và cách tiếp
cận hệ thống cùng phương pháp phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh trong quá trình
thực hiện để đảm bảo tính khách quan, khoa học, chính xác
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn (sử dụng dữ liệu thứ cấp)
Trang 14
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI
1 1 Một số lý luận chung về du lịch và du lịch sinh thái
Một cách tổng quát hơn, du lịch được hiểu là sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ cho các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng
Hay đó là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gian nhàn rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
Năm 1963 tại hội nghị Liên hợp quốc về du lịch ở Roma đã đưa ra khái niệm về
du lịch thống nhất của tổ chức du lịch thế giới: Du lịch là tổng hợp mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội bao gồm 2 nội dung chính:
Trang 15Kinh tế: Đó là hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế từ kinh doanh nguồn tài
nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn
Xã hội: là hoạt động giúp nâng cao dân trí, phục hồi sức khỏe cộng đồng, giáo
dục tình yêu thiên nhiên, tình yêu đất nước, yêu hòa bình và tình đoàn kết
Quốc hội CHDCND Lào số 10/TTCP, ngày 9/11/2005, Điều 2 nêu: Du lịch là
du hành từ nơi sinh sống của mình đến nơi khác hay nước khác để thăm viếng, tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi, sự trao đổi văn hóa, thể thao, y tế, nghiên cứu giáo dục
1.1.1 2 Đặc trưng của ngành du lịch
Ngành du lịch mang tính kinh tế: Ngành du lịch là ngành mà mục tiêu cơ bản của nó là ở chỗ thông qua thúc đẩy, xúc tiến cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch để tạo thu nhập của nền Kinh tế quốc dân Tuy nhiên, cấu tạo chủ yếu của ngành du lịch
là các doanh nghiệp du lịch, các doanh nghiệp này thực hiện các hoạt động kinh doanh
du lịch, do đó mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận Vì vậy ngành du lịch phải tiến hành hạch toán kinh tế Với quan niệm này, về cơ bản ngành du lịch phải là ngành mang rõ nét tính kinh tế
Ngành du lịch mang tính tổng hợp: Hoạt động du lịch là hoạt động mang tính tổng hợp, trong quá trình hoạt động du lịch, khách du lịch có các nhu cầu về đi lại ăn
ở, du ngoạn, vui chơi giải trí, mua sắm… Để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của kinh doanh du lịch đòi hỏi phải có các ngành nghề khác nhau cùng sản xuất và cung ứng các sản phẩm và dịch vụ cho khách du lịch như: cung cấp, tư vấn tin tức, cung cấp các tuyến điểm du lịch, cung cấp phương tiện giao thông, cung cấp nhà nghỉ cho du khách… Các sản phẩm và dịch vụ này không phải là những sản phẩm độc lập, riêng biệt mà là một “chuỗi dịch vụ” vừa kết hợp với nhau vừa đan xen với nhau, vừa lặp đi lặp lại nhiều lần Vì thế, sản phẩm và dịch vụ du lịch phải là sản phẩm tổng hợp của sự phối hợp liên ngành như công ty du lịch, đơn vị bán hàng lưu niệm du lịch… đồng thời, bao gồm các đơn vị sản xuất khác… sản xuất tư liệu phi vật chất như văn hoá, giáo dục, khoa học kĩ thuật, y tế, tài chính, hải quan, bưu điện… cuối cùng phải được khách du lịch chấp nhận
Ngành du lịch mang tính phục vụ: Vì sản phẩm du lịch chủ yếu cung cấp dịch vụ
Trang 16hướng dẫn, dịch vụ vận chuyển khách bằng các phương tiện khác nhau, dịch vụ làm thủ tục liên quan tới quá trình du lịch, dịch vụ cho thuê chỗ trọ, dịch vụ phục vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm… Do đặc điểm của dịch vụ du lịch là sản phẩm phi vật chất, vô hình, không nhìn thấy được, khó nhận biết được bằng các giác quan, đồng thời chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động như nguồn cung cấp dịch vụ, người mua dịch vụ (khách du lịch); quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, nên cung cầu dịch vụ không thể tách rời nhau được; dịch vụ không thể tổ chức sản phẩm trước, không thể lưu kho, hoặc dự trữ sử dụng dần
Ngành du lịch mang tính thời vụ: Tính thời vụ thể hiện ở thời gian hoạt động du lịch tập trung với cường độ cao trong năm, xảy ra dưới tác động của một số yếu tố xác định, có yếu tố mang tính tự nhiên (sự thay đổi của thời tiết, khí hậu, sự vận động của mặt trời, mặt trăng, sự thay đổi bốn mùa), có yếu tố mang tính kinh tế - xã hội, tổ chức
kĩ thuật, có yếu tố mang tính tâm lý… thể hiện ở nhiều loại hình du lịch, nhất là ở các loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa
Ngành du lịch mang tính quốc tế: Cùng với sự phát triển của du lịch quốc tế, việc tìm mọi cách để thu hút khách nước ngoài tới nước mình du lịch đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều nước trên thế giới của ngành công nghiệp không khói Bởi vì, kinh doanh du lịch quốc tế không chỉ tăng thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho đất nước Ngoài ra, sự phát triển của du lịch quốc tế còn có ý nghĩa quan trọng đến việc mở rộng, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau vì tình hữu nghị của nhân dân các nước, thúc đẩy giao lưu khoa học kĩ thuật văn hoá theo các hướng: kí kết hợp đồng trao đổi khách giữa các nước, các tổ chức và hang du lịch, tham gia các tổ chức quốc tế về du lịch
Ngành du lịch mang tính nhạy cảm: Trong cung cấp dịch vụ cho khách du lịch cần bố trí chính xác về thời gian, có kế hoạch chu đáo, chi tiết về nội dung hoạt động du lịch, cần phải kết hợp hữu cơ, chặt chẽ giữa các khâu đi lại, ăn nghỉ, du ngoạn, vui chơi giải trí, mua sắm… Chỉ cần một khâu nào đó để xảy ra trục trặc ngoài ý muốn thì có thể gây nên hàng loạt phản ứng dây chuyền, làm mất sự phối hợp nhịp nhàng về cung cấp của toàn ngành du lịch, ảnh hưởng tới việc thực hiện mục tiêu và lợi ích kinh tế của ngành du lịch Ngoài ra, các yếu tố thiện nhiên, chính trị, kinh tế và xã hội v.v… đều
Trang 17ảnh hướng đối với ngành du lịch dẫn tới sự đình đốn du lịch như: động đất, biến đổi khí hậu , dịch bệnh…
Ngành du lịch mang tính phụ thuộc: Tính phụ thuộc của ngành trước hết biểu hiện ở sự phát triển du lịch của mỗi quốc gia mang tính định hướng tài nguyên du lịch Một trong những điều kiện quan trọng để phát triển du lịch cần có là tài nguyên du lịch phải độc đáo, hấp dẫn Hơn nữa, tính phụ thuộc của ngành du lịch còn biểu hiện ở tính phục thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân Nguồn khách là yếu tố sống còn của ngành du lịch, mà việc thu hút khách được quyết định bởi trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia hoặc khu vực; và ngược lại, trình độ kinh tế nước tiếp đón lại quyết định tới khả năng tiếp đón đối với khách du lịch và ảnh hưởng tới chất lượng các dịch vụ ở mức độ nhất định Biểu hiện khác nữa về tính phụ thuộc đó là sự phụ thuộc vào sự hợp tác toàn diện, sự phát triển hợp lý giữa các ngành, nghề có liên quan tới du lịch Bất cứ một ngành nghề nào đó có liên quan tới du lịch mà tuột khỏi “mắt xích” thì hoạt động kinh doanh của ngành du lịch sẽ khó có thể đạt được kết quả như mong muốn
1.1.1.3 Vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và môi trường
Đối với sự phát triển kinh tế:
- Tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Du lịch là một ngành đã giúp nhiều quốc gia thu được hàng tỷ USD mỗi năm, bởi vì, đây là hoạt động
xuất khẩu tại chỗ có hiệu quả nhất Thu nhập từ du lịch quốc tế mỗi năm đều tăng, năm
2003, thu nhập từ du lịch quốc tế đạt 523 tỉ USD, tăng 6,5% so với năm 2002 Tổ chức
du lịch thế giới (WTO) tin rằng du lịch quốc tế sẽ tiếp tục tăng trưởng và đặt mục tiêu khách du lịch sẽ đạt khoảng 1 tỉ người vào năm 2010 và 1,6 tỉ người vào năm 2020 (UNWTO, 2009) Để đạt được thành tựu trên là vì: (1) Du lịch là ngành “xuất khẩu tại
chỗ” những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, … theo giá bán lẻ cao hơn (2) Du lịch là ngành “xuất khẩu vô hình” sản phẩm du lịch, bao gồm như cảnh quan thiên nhiên, giá trị di tích lịch sử - văn hóa, tính độc đáo trong truyền thống phong
tục tập quán…Sản phẩm này không bị mất đi mà giá trị ngày càng được tăng thêm khi
Trang 18chất lượng phục vụ du lịch cao, bởi lẽ cái mà chúng ta bán cho khách không phải là bản thân tài nguyên du lịch mà chỉ là giá trị các khả năng thỏa mãn các nhu cầu đặc trưng
của khách du lịch được chứa đựng trong tài nguyên du lịch
- Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài: Vì du lịch là ngành bỏ
vốn đầu tư thấp hơn so với các ngành công nghiệp nặng khác mà khả năng thu hồi vốn nhanh, kỹ thuật không phức tạp Trong khi quy luật phổ biến trên thế giới hiện nay của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong
tổng sản phẩm xã hội Do vậy, du lịch là một trong những ngành hấp dẫn các nhà kinh doanh trên con đường đi tìm hiệu quả nguồn vốn đầu tư của mình, đặc biệt là kinh doanh các dịch vụ bổ sung
- Du lịch góp phần củng cố mối quan hệ kinh tế quốc tế, phát triển đường lối giao thông quốc tế Nó như là một đầu mối “xuất – nhập khẩu” ngoại tệ, góp phần phát triển quan hệ ngoại hối quốc tế
- Du lịch góp phần làm tăng sản phẩm quốc nội thông qua việc tham gia vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân như sản xuất đồ lưu niệm, chế biến thực phấm, vui chơi
giải trí…
- Góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng, vì thường các vùng phát triển mạnh về du lịch thì kém sản xuất ra của cải vật chất
- Bên cạnh việc tăng sức khỏe cho người dân, thì du lịch nội địa giúp cho việc sử
dụng cơ sở vật chất kỹ thuật hợp lý hơn, tận dụng được toàn bộ giá trị mà nó mang lại,
nhất là và những mùa không phải là thời vụ của ngành du lịch
- Du lịch làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương phát triển du lịch
- Du lịch góp phần thúc đẩy các nền kinh tế khác phát triển, vì hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành, là cơ sở cho các ngành khác phát triển Đối
với nền sản xuất xã hội, du lịch mở ra một thị trường tiêu thụ hàng hóa
- Phát triển du lịch sẽ mở mang, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế như mạng lưới giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện thông tin đại chúng…
Đối với sự phát triển xã hội:
Trang 19- Đóng góp của du lịch vào việc tạo ra việc làm cũng không thể bị xem nhẹ Lao động trong ngành du lịch ngày càng tăng, đầu tư vào du lịch có xu hướng tạo ra việc làm nhiều hơn và nhanh hơn so với đầu tư vào các hoạt động kinh tế khác trong thời gian
vừa qua và trong tương lai
Để phát triển được tài nguyên du lịch ở những vùng, thường là xa xôi, hẻo lánh thì đòi hỏi phải đầu tư cơ sở hạ tầng và các dịch vụ đi kèm thiết yếu khác Do vậy việc phát triển dẫn đến phân phối lại thu nhập và làm giảm bớt nghèo đói; đóng góp vào việc khôi phục các nghề thủ công, lễ hội và truyền thống; và cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao phúc lợi chung của xã hội (UN 1999) Nói chung, du lịch được tin tưởng là sẽ làm giảm
quá trình đô thị hóa ở các nước kinh tế phát triển
- Du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo có hiệu quả cho các nước chủ nhà Xét về mặt kinh tế, các hàng hóa nội địa bao gồm các hàng công nghiệp hoặc tiểu
thủ công nghiệp…được giới thiệu tại chỗ đến khách du lịch, họ sẽ tuyên truyền đến người thân, bạn bè và từ đó có cơ hội mở rộng con đường xuất khẩu cho các mặt hàng này Còn xét về mặt xã hội, đây là kênh để quảng bá về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, con người, phong tục tập quán…Đặc biệt, du lịch văn hóa ngày càng đông, khách du lịch thiên về tham quan các khu di tích, lịch sử…Vì vậy, góp phần làm tôn tạo các ngành nghề thủ công mỹ nghệ nhiều hơn, tô đậm nét văn hóa qua các sản
phẩm này Một yếu tố không kém phần quang trọng là du lịch làm tăng thêm tình đoàn
kết, hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết cá nhân giữa các vùng với nhau và của nhân dân
giữa các quốc gia với nhau Ngoài những ý nghĩa tích cực như ta đã phân tích trên thì phát triển du lịch cũng ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, xã hội Thật vậy, nếu du lịch
quốc tế thụ động phát triển quá tải sẽ làm mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, gây
áp lực lạm phát Hơn nữa nếu việc phát triển du lịch quá tải sẽ gây ra sự phụ thuộc của
nền kinh tế vào dịch vụ du lịch, dễ dẫn đến tính không bềnh vững của nền kinh tế đó Đồng thời, việc làm ô nhiễm môi trường và tệ nạn xã hội cũng là kết quả mặt trái của du
lịch gây ảnh hưởng tài nguyên và tác hại sâu xa khác trong đời sống tinh thần của dân
tộc
Đối với việc bảo vệ môi trường:
Trang 20Để đáp ứng nhu cầu du lịch phải dành những khoảng đất đai có môi trường ít bị xâm phạm, xây dựng các công viên bao quanh thành phố, thi hành các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước, không khí nhằm tạo nên môi trường sống phù hợp với nhu cầu của du khách
Cải thiện đường sá, hệ thống quản lý cung cấp nước sạch và xử lý nước thải có
thể do việc tăng thu nhập từ ngành du lịch Những cải tiến như thế có thể cắt giảm ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường thiên nhiên
Hoạt động du lịch ồ ạt có nguy cơ làm suy thoái tài nguyên du lịch tự nhiên Sự
tập trung quá nhiều người và thường xuyên tại địa điểm du lịch làm cho thiên nhiên không kịp hồi phục và đi đến chỗ bị hủy hoại Sự có mặt của những đoàn người đã uy
hiếp đời sống của một số loài hoang dã Đây là nguyên nhân chính đẩy chúng ra khỏi nơi cư trú yên ổn trước đây để tìm nơi ở mới
Là nhân tố tác động tiêu cực chủ yếu đến du lịch Giao thông là đầu mối cơ bản
của cả ô nhiễm không khí và tiếng ồn Ô nhiễm nước từ nước thải và sử dụng các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón ở các khu phong cảnh giải trí cũng là những vấn
đề cơ bản cho nhiều địa điểm du lịch
Nhiều hoạt động du lịch như bơi thuyền, lặn sông biển cũng ảnh hưởng đến thiên nhiên như bị xói mòn đường sá, và xói mòn các khu di tích lịch sử Như vậy, dù đem lại
một lượng doanh thu không nhỏ cho kinh tế nước nhà, nhưng mặt trái của ngành du lịch làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường thiên nhiên nếu chúng ta không có một kế
hoạch mang tính chiến lược cho bảo vệ môi trường
Đối với an ninh, chính trị, ngoại giao:
- Tình hình chính trị ổn định của Lào có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển kinh tế, giải quyết việc làm tăng thu nhập cho người lao động, làm tăng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Điều này cũng tác động tích cực trong việc tạo lập và triển khai chiến lược phát triển nền kinh tế Lào nói chung trong đó là du lịch
- Trong xu hướng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, Quốc hội đã ban hành và tiếp tục hòan thiện các Bộ Luật như Luật du lịch để đẩy nhanh tiến trình cải cách kinh tế ở Lào
Trang 211.1.2 Khái niệm Du lịch sinh thái
1.1.2 1 Khái niệm
“Du lịch sinh thái” (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau Đây là một khái niệm rộng, được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau Đối với một số người du lịch sinh thái được hiểu đơn giản là sự kết hợp của 2 từ ghép “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc Song đứng ở góc độ nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm du lịch sinh thái là du lịch thiên nhiên, là khái niệm mà trong thực tế đã có từ đầu những năm
1800 Với khái niệm này, mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ núi… đều được hiểu là du lịch sinh thái
Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO, 2009): du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích chính là để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu vực đó, giúp giảm thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà khách đến thăm Ngoài ra du lịch sinh thái phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với mỗi người dân địa phương và du khách đến thăm
Hay du lịch sinh thái là một khái niệm của phát triển bền vững (UNWTO, 2009)
Hay một dạng mở rộng khác của DLST về văn hóa bản địa: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhắm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” Hoặc du lịch sinh thái là hình thức du
lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường, có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn”
Theo hội thảo xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển du lịch sinh thái 9/1999 tại Viêng chăn: Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa địa phương, có tính giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương
Trang 22Mặc dù các định nghĩa về du lịch sinh thái có khác nhau về cách diễn đạt và ngôn
từ thể hiện, nhưng trong các định nghĩa trên đều có sự thống nhất cao về nội dung của
du lịch sinh thái ở ba điểm:
Thứ nhất: Du lịch sinh thái phải được thực hiện trong môi trường tự nhiên còn hoang sơ hay tương đối hoang sơ gắn với văn hóa bản địa
Thứ hai: du lịch sinh thái có tính giáo dục môi trường cao và phải có trách nhiệm với môi trường
Thứ ba: du lịch sinh thái phải mang lợi ích kinh tế trực tiếp cho cư dân địa phương và phải có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương
1.1.2 2 Đặc điểm của du lịch sinh thái
Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên cả các yếu tố văn hóa bản địa: Đối tượng của du lịch sinh thái là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên, kể cả những nét văn hóa bản địa đặc sắc Đặc biệt, những khu vực tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, ít bị tác động lớn Chính vì vậy, hoạt động du lịch sinh thái thường diễn ra và thích hợp tại lãnh thổ có các vườn Quốc gia và các khu bảo tồn tự nhiên có giá trị
Đảm bảo bền vững về sinh thái, ủng hộ bảo tồn: Đây là một đặc trưng khác biệt
vì nó được phát triển trong môi trường có những hấp dẫn ưu thế về mặt tự nhiên Vì thế, trong du lịch sinh thái, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải được duy trì và quản lý cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du lịch Điều này được thể hiện ở quy mô nhóm khách tham quan thường có số lượng nhỏ, yêu cầu sử dụng các phương tiên, dịch vụ về tiện nghi của du khách thường thấp hơn các yêu cầu về đảm bảo kinh nghiệm du lịch có chất lượng Các hoạt động trong du lịch sinh thái thường ít gây tác động đến môi trường và du khách sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường
Có giáo dục môi trường: Đặc điểm giáo dục môi trường trong du lịch sinh thái là một yếu tố cơ bản phân biệt du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác Giáo dục và thuyết minh môi trường bằng các nguồn thông tin, truyền tải thông tin đến du khách thông qua tài liệu, hướng dẫn viên, các phương tiện tại điểm, tuyến tham quan là những
Trang 23hình thức quan trọng trong việc trong việc làm giàu kinh nghiệm du lịch, nâng cao nhận thức về môi trường và bảo tồn
Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích du lịch: du lịch sinh thái cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đống địa phương trên cơ sở cung cấp về kiến thức, những kinh nghiệm thực tế để đa số người dân có khả năng tham gia vào quản lý, vận hành dịch vụ du lịch sinh thái Đó cũng là cách để người dân có thể trở thành những người bảo tồn tích cực
Cung cấp các kinh nghiệm du lịch với chất lượng cao cho du khách: Việc thỏa mãn những mong muốn của du khách là nâng cao hiểu biết và những kinh nghiệm du lịch lý thú, là sự tồn tại sống còn lâu dài của ngành du lịch sinh thái Vì vậy, các dịch vụ
du lịch trong du lịch sinh thái tập trung nhiều vào việc đáp ứng những nhu cầu nhận thức
và kinh nghiệm du lịch hơn là các dịch vụ cho nhu cầu tiện nghi Thỏa mãn những nhu cầu này của khách du lịch sinh thái chỉ nên đứng sau công tác bảo tồn và bảo vệ những
gì mà họ tham quan
Tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo an toàn cho khách du lịch sinh thái:
Du lịch sinh thái thường ở những nơi có địa hình hiểm trở, sông suối nhiều, nhiều vách núi cao, vì vậy vấn đề đặt ra cho các tổ chức du lịch là cần phải chuẩn bị đầy đủ về
cơ sở vật chất và điều kiện sinh hoạt phòng khi có các sự cố xảy ra như: tai nan do leo núi, chết đuối do tắm suối, rắn cắn…
Các tổ chức du lịch cần phải chuẩn bị điều kiện đầy đủ cho một khu vực du lịch sinh thái đó là:
- Về hướng dẫn viên và nhân viên của khu du lịch cần phải có sức khỏe tốt, biết bơi lội, biết sơ cứu, cấp cứu trong các trường hợp khách du lịch bị xảy ra tai nạn… Các nhân viên bảo vệ luôn được bố trí ở các vị trí, những nơi có thể xảy ra tai nạn như: hồ bơi, thác nước…
- Về dụng cụ, phương tiện phục vụ du lịch như: phao bơi, dụng cụ leo núi, các phương tiên đưa đón khách du lịch phải đảm bảo độ an toàn, đủ tiêu chuẩn cho phép Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn
Trang 24Đây là nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái, tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa du lịch sinh thái với các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên khác Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Với những hiểu biết đó thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái
và văn hóa khu vực
Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái:
Cũng như hoạt động của các loại hình du lịch khác, du lịch sinh thái cũng tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải là những ưu tiên hàng đầu thì ngược lại du lịch sinh thái coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần được tuân thủ, bởi vì:
- Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu của hoạt động du lịch sinh thái
- Sự tồn tại của du lịch sinh thái gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch sinh thái
Với nguyên tắc này mọi hoạt động du lịch sinh thái sẽ phải được quản lý chặt chẽ
để giảm thiểu các tác động đến môi trường, đồng thời phần thu nhập từ hoạt động du lịch sinh thái sẽ được đầu tư trở lại để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển các hệ sinh thái
Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng:
Được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động du lịch sinh thái, bởi vì các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời với các giá trị của hệ sinht thái ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương sẽ làm giảm sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực, vì nó sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến du lịch sinh thái Chính vì vậy, việc phát huy bản sắc
Trang 25văn hóa cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của du lịch sinh thái
Để, Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương:
Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu hướng tới của du lịch sinh thái Nếu như các loại hình du lịch khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc về các công ty điều hành thì ngược lại du lịch sinh thái sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp vào việc cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương
1.1 2.3 Các loại hình du lịch sinh thái
Các kiểu du lịch sinh thái được nhìn nhận dưới các hình thức khác nhau liên quan đến nhiều yếu tố:
- Yêu cầu về đặc điểm của khu tự nhiên
- Quy mô của nhóm du lịch
- Yêu cầu về các điều kiện dịch vụ du lịch của khách
- Nhu cầu về du lịch
- Kinh nghiệm du lịch và mức độ hài lòng
Bảng 1.1: Khái quát lại với 3 loại du lịch sinh thái chủ yếu:
Loại du lịch
sinh thái
Yêu cầu về khu tự nhiên
Quy mô nhóm Phương tiện, cơ sở
Cá nhân hoặc nhóm nhỏ (dưới 10 người)
Dùng vận tải thô sơ; ít nhu cầu về các dịch vụ và cơ
sở hạ tầng
Là kinh nghiệm “bất thường đầu tiên”, yêu cầu mức độ thách thức cao về
sự hiểu biết và các kĩ năng hoạt động ngoài trời
Du lịch sinh
thái nhóm nhỏ
Khu vực đặc biệt và thường
Cá nhân, nhóm tương
Có sử dụng vận tải
cơ giới đặc biệt
Yêu cầu sự thách thức và tính tự lập ở mức trung
Trang 26Du lịch sinh
thái phổ biến
(hay đại trà)
Là các khu vực hấp dẫn về tự nhiên phổ biến
và nổi tiếng
Nhóm khách với số lượng lớn
Dùng vận tải cơ giới lớn, phổ biến
Yêu cầu đáng kể
về sơ sở hạ tầng và các dịch vụ
Yêu cầu kĩ thuật về tính
tự lập và thách thức nói chung là thấp Đáp ứng cho mọi đối tượng du khách, bất kể tuổi tác hoặc khả năng về sức khỏe
Nguồn: Bộ Văn hóa và Du lịch Lào
Nhiều nghiên cứu về các du khách đến thăm các vườn quốc gia trên thế giới cho thấy những khách du lịch sinh thái thực thụ nhìn chung chấp nhận những điều kiện khác với các khách du lịch thông thường Họ thường không đòi hỏi nhiều các nhu cầu về tiện nghi, trong khi lại yêu cầu cao về thông tin, kinh nghiệm du lịch, sử dụng các đồ ăn, vật dụng của địa phương Đồng thời, họ không ngần ngại chi cho chuyến đi, đóng góp cho bảo tồn và phát triển cộng đồng Vì vậy, trong các khu tự nhiên cần được bảo vệ như các vườn quốc gia, kiểu du lịch sinh thái tiên phong và nhóm nhỏ nên được khuyến khích, trong khi cần hạn chế kiểu du lịch sinh thái phổ biến (đại trà)
Ngoài ra trong các khu tự nhiên hay các vườn quốc gia còn có các hoạt động tham quan có quan hệ khá gần gũi với du lịch sinh thái như: tham quan vườn thực vật, khu nuôi thú hoặc nơi trưng bày các mẫu về hệ thực vât - động vật bản địa của các khu
tự nhiên khó tiếp cận Mặc dù yếu tố giáo dục và giải thích, và bao hàm những mục tiêu
du lịch sinh thái, song các hoạt động này không diễn ra hoặc không phụ thuộc trực tiếp
và khu tự nhiên, nên không được liệt vào đối tượng chủ yếu của du lịch sinh thái
1 2 Những nguyên tắc và điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
1 2.1 Những nguyên tắc của du lịch sinh thái
Các cơ sở nền tảng ban đầu làm kim chỉ nam cho hoạt động DLST bao gồm:
Trang 27- Nghiên cứu và bảo tồn các giá trị thiên nhiên, giá trị văn hóa
- Tăng cường nội dung giáo dục môi trường
- Tổ chức đồng bộ và chuyên nghiệp về nghiệp vụ du lịch và lữ hành nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường
- Hướng mọi khả năng đến việc góp phần bảo vệ môi trường Từ đó DLST khi hướng đến mục tiêu bền vững đã xây dựng các nguyên tắc cơ bản sau đây:
+ Sử dụng và bảo vệ tài nguyên một cách bền vững: bao gồm tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn Cân đối hài hòa trong việc sử dụng một cách bền vững nguồn tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc phát triển DLST
+ Bảo tồn tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa,… (chủng loài các hệ động thực vật, bản sắc văn hóa dân tộc,…) vì DLST lấy bảo tồn là tiêu chí hàng đầu trong hoạt động, khai thác du lịch chỉ là hoạt động thứ yếu
+ Thúc đẩy chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lý di sản và các loại tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả Tác động giảm thiểu mức tiêu thụ tài nguyên hiện có, giảm thiểu lượng chất thải một cách triệt để nhằm nâng cao chất lượng môi trường
+ Trong quá trình khai thác họat động DLST, cần phối hợp mục tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương, vì trách nhiệm của DLST là đóng góp vào phúc lợi của cộng đồng địa phương như là một sự đầu tư gián tiếp cho bảo tồn, góp phần tạo tính tương tác bền vững cho hoạt động DLST từ địa bàn sở tại
+ Phối hợp lồng ghép hài hòa giữa chiến lược phát triển du lịch của địa phương, vùng và của quốc gia
+ Tạo điều kiện thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương.Với sự tham gia tích cực của cộng đồng sở tại không chỉ đem lại lợi ích cho riêng cộng đồng, cho môi trường sinh thái mà còn góp phần tăng cường khả năng đáp ứng tính đa dạng sản phẩm của DLST
+ Triển khai các họat động tư vấn các nhóm lợi ích và công chúng Tư vấn giữa công nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan nhằm đảm bảo
Trang 28+ Marketing du lịch một cách trung thực và có trách nhiệm Phải cung cấp cho
du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của
du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa khu du lịch, qua đó góp phần thỏa mãn nhu cầu của du khách
+ Tổ chức đào tạo các thành viên quản lý, chuyên nghiệp hóa các nhân viên
phục vụ trong họat động kinh doanh du lịch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du
lịch
1 2.2 Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Xuất phát từ nguyên tắc và mục tiêu của DLST, có thể tổng quát hóa các điều kiện để phát triển DLST theo năm nội dung cơ bản sau đây:
- T hứ nhất: để có thể tổ chức tốt được loại hình DLST tại một điểm đến điều
kiện trước tiên là ở đó phải tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh học cao, có sức hấp dẫn du khách Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu khu vực và các động thực vật bao gồm: Sinh thái
tự nhiên (Natural Ecology); Sinh thái động vật (Animal Ecology); Sinh thái thực vật(Plant Ecology); Sinh thái nông nghiệp điển hình (Agricultural Ecology); Sinh thái khí hậu (Eco climate); Sinh thái nhân văn (Human Ecology).Các yếu tố sinh thái đặc thù nêu trên góp phần nêu bật tính chất DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên Tuy nhiên ngày nay DLST cũng còn phát triển hoạt động dưới nhiều loại hình khác như: du lịch sinh thái vùng nông thôn (Rural tourism), du lịch trang trại điển hình (Farm tourism), DLST văn hóa (Cultural Ecotourism)
- T hứ hai: tính chất quản lý tổ chức của con người như:
+ Đòi hỏi tính chuyên nghiệp của nhân viên tác nghiệp trong hoạt động DLST
Vì để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao sự hiểu biết cho khách du lịch sinh thái, người hướng dẫn viên du lịch ngoài khả năng về ngôn ngữ truyền đạt, còn là người
có am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng sở tại Yếu tố này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến đến hiệu quả của hoạt động DLST Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải có sự cộng tác của người địa phương để có những hiểu biết tốt nhất truyền đạt đến cho du khách
Trang 29+ Đòi hỏi người quản lý điều hành phải có nguyên tắc cụ thể Trước đây các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có bất kỳ cam kết nào cho việc bảo tồn hoặc quản lý các khu thiên nhiên, họ chỉ đơn giản là tạo cho du khách cơ hội để nhận biết những giá trị tự nhiên và văn hóa mặc cho sau này những giá trị này suy giảm hay vĩnh viễn biến mất Ngược lại các nhà điều hành và quản lý DLST luôn có sự cộng tác chặt chẽ giữa với các nhà quản lý của những khu bảo tồn thiên nhiên và cả cộng đồng địa phương để thiết lập những nguyên tác quản lý với mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa, cải thiện cuộc sống và nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương và khách du lịch
- T hứ ba: mục đích hạn chế đến mức tối đa các tác động có thể có do hoạt động
DLST gây ra cho tự nhiên và môi trường, do đó DLST phải tính đến điều kiện “sức chứa” hoặc “sức tải” Khái niệm sức chứa được hiểu ở 4 khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý học và xã hội học Sức chứa về khía cạnh vật lý được hiểu là lượng khách tối đa
mà điểm đến DLST có thể tiếp nhận, điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu
về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ Công thức chung để xác định sức chứa của một điểm du lịch như sau:
CPI = AR/a
Trong đó: CPI: sức chứa thường xuyên (Instantaneous carrying capacity)
AR: Diện tích của khu vực du lịch (Size of Area )
a: Tiêu chuẩn không gian tối thiểu cho một du khách.[30,24]
Hoặc công thức liên quan đến sức chứa hàng ngày:
CPD = CPI x TR x TR/a
Trong đó: CPD: Sức chứa hằng ngày (Daily Capacity)
TR: Công suất sử dụng mỗi ngày (Turnover rate of users per day)
- Thứ tư: thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách DLST Việc thỏa mãn
những mong muốn của khách DLST với những kinh nghiệm, hiểu biết mới về tựnhiên, văn hóa bản địa là một công việc rất phức tạp nhưng nó lại là yêu cầu thực sựcần thiết
Trang 30phải là ưu tiên hàng đầu chỉ đứng sau công tác bảo tồn những giá trị sinh thái tựnhiên và giá trị xã hội
- Thứ năm: vì khách DLST luôn có nhu cầu và tư duy cao trong việc thưởng ngoạn, đã biến loại hình du lịch này thành loại du lịch trí thức, tư duy tiên tiến Do đó phải xây dựng mẫu khách du lịch sinh thái điển hình, họ là những du khách quan tâm thực sự đến giá trị tự nhiên và nhân văn ở khu vực thiên nhiên hoang dã
1 3 Sản phẩm du lịch sinh thái
1.3 1 Khái niệm về sản phẩm du lịch sinh thái
Sản phẩm du lịch sinh thái là giá trị sinh thái và văn hóa bản địa được khai thác dựa trên các nguồn lực bản địa, với sự tham gia tích cực của cư dân bản địa Một mặt làm thỏa mãn nhu cầu du lịch sinh thái của du khách, mặt khách giáo dục môi trường và góp phần vào sự bảo tồn và phát triển điểm đến du lịch
Có thể khái quát sản phẩm du lịch sinh thái bằng biểu thức sau:
Sản phẩm du lịch sinh thái = Giá trị sinh thái và văn hóa bản địa + Dịch vụ du lịch bản địa + hàng hóa bản địa
Từ góc độ của các nhà cung cấp dịch vụ và hàng hóa đơn lẻ, sản phẩm du lịch sinh thái bao gồm các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho khách du lịch và nó cũng dựa trên
sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực:
cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là mọi nguồn lực được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu khách du lịch đều phải dựa trên cơ sở tại chỗ gắn với bảo vệ môi trường Hơn nữa, du lịch sinh thái vốn dựa vào tài nguyên du lịch là các hệ sinh thái còn tương đối nguyên
sơ, ít bị tác động bởi bàn tay con người nên các sản phẩm du lịch sinh thái phải là các sản phẩm có thể tái sử dụng, dễ phân hủy trong tự nhiên, đảm bảo tính thẩm mỹ của thiên nhiên, có tính giáo dục với người sử dụng và nguồn thu từ việc bán sản phẩm đó phải đem lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương
Từ góc độ của các nhà kinh doanh lữ hành, sản phẩm du lịch sinh thái là các chương trình du lịch sinh thái Chương trình du lịch sinh thái là tâp các dịch vụ, hàng
Trang 31hóa du lịch sinh thái được sắp đặt trước về không gian và thời gian tiêu dùng theo mức giá gộp và được bán trước
Về nguyên tắc, các công ty lữ hành du lịch sinh thái cũng có thể cung ứng đầy đủ các loại hình sản phẩm trong hệ thống sản phẩm của các công ty lữ hành, đó là: các dịch
vụ trung gian, các chương trình du lịch trọn gói, các hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành tổng hợp Các chương trình du lịch sinh thái là sự liên kết các sản phẩm của các nhà cung cấp dịch vụ, sản phẩm du lịch sinh thái đơn lẻ thành một sản phẩm hoàn chỉnh
để bán cho khách du lịch với một mức giá gộp Đây chính là sự khó khăn đối với các công ty lữ hành du lịch sinh thái trước yêu cầu đặt ra phải thống nhât được tiêu chuẩn phục vụ vì môi trường trong khi vô số các dịch vụ, sản phẩm riêng lẻ trong du lịch lại được cung ứng bởi các nhà cung cấp dịch vụ, sản phẩm du lịch khác nhau
1.3 2 Đặc điểm của sản phẩm du lịch sinh thái
Sản phẩm du lịch sinh thái chứa đựng trong nó và phản ánh gía trị tài nguyên tự nhiên và văn hóa bản địa
Tài nguyên tự nhiên trong du lịch sinh thái là những tài nguyên còn tương đối hoang sơ Những nơi có môi trường tự nhiên là những nơi có các hệ sinh thái đang tồn tại gồm các hệ động vật, thực vật và con người cùng tồn tại trong một không gian với một khoảng thời gian tương đối dài Điểm chú ý ở đây là môi trường tự nhiên được đề cập sẽ những nơi còn tương đối nguyên sơ, chưa bị xâm phạm bởi bàn tay con người
Văn hóa bản địa là các di tích kiến trúc, các giá trị văn hóa tồn tại dưới dạng vật thể và phi vật thể được tạo ra bởi chính các điều kiện tự nhiên và lịch sử phát triển của nơi đến du lịch Nơi nào có các rừng quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên cũng như các khu văn hóa lịch sử gắn liền với thiên nhiên là nơi có lợi thế so sánh để phát triển sản phẩm du lịch sinh thái vừa đem lại nguồn thu cho cộng đồng địa phương và chính quyền
sở tại vừa góp phần trong công tác gìn giữ và bảo vệ các hệ sinh thái và môi trường sống Tài nguyên tự nhiên để tạo ra sản phẩm du lịch sinh thái phải đảm bảo tính đa dạng sinh học nhưng phải có giá trị thẩm mỹ thu hút khách du lịch đến với thiên nhiên
Mặc dù, điểm chung trong du lịch sinh thái là đến với thiên nhiên hoang sơ, còn
ít bị tác động bởi bàn tay còn người nhưng mỗi điểm đến du lịch sinh thái, mỗi khu vực
Trang 32bảo tồn thiên nhiên phải đảm bảo tính đa dạng sinh học có đặc thù để mỗi điểm tham quan có sự hấp dẫn riêng đối với khách du lịch
Sản phẩm du lịch sinh thái hướng tới bảo tồn các giá trị tự nhiên, văn hóa và xã hội tại nơi đến du lịch
- Bảo tồn các giá trị tự nhiên của hệ sinh thái vốn có: Sản phẩm DLST được thực hiện với mục đích giúp khách du lịch cũng như các cá nhân và tổ chức liên quan hiểu biết hơn về thiên nhiên, về các hệ sinh thái đang tồn tại để từ đó đánh giá lại những hành động đối với thiên nhiên trong quá khứ, tìm cách sống hòa hợp với hiện tại và cộng sinh cùng phát triển bền vững trong tương lai
- Bảo tồn các giá trị văn hóa của cộng đồng dân cư địa phương: Cộng đồng dân
cư địa phương được coi là những con người vốn sinh ra và cùng tồn tại với các hệ sinh thái tự nhiên trong một khoảng thời gian tương đối dài, có tính lịch sử mà mang nét văn hóa riêng có trong từng vùng, từng khu vực Sản phẩm DLST thừa nhận, tôn trọng các giá trị cố hữu và riêng có của cộng đồng dân cư địa phương Chính các phong tục tập quán, các điệu múa, lời hát trong cuộc sống của người dân địa phương là một phần không thể thiếu trong việc thu hút các khách du lịch, cái mà họ không thể tìm được ở những nơi mà họ đang sống và làm việc
- Bảo tồn và nâng cao các giá trị xã hội của dân cư địa phương: cũng như các cộng đồng dân cư thành thị, cộng đồng dân cư địa phương cũng có những mong muốn, nhu cầu và nguyện vọng sống của mình Họ mong muốn có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, con cái được học hành đến nơi đến chốn…, và họ cũng mong muốn phục hồi ngành du lịch địa phương theo đúng cách Đó là nhưng mong muốn hoàn toàn đúng đắn Nhưng cuộc sống mưu sinh đã làm họ vô tình hủy hoại các tài nguyên sinh thái quý giá
mà họ đang có Khi phát triển sản phẩm du lịch sinh thái sẽ đóng góp một phần trong công cuộc xây dựng và bảo vệ cuộc sống của những người dân địa phương trước những cám dỗ bên ngoài Tính giáo dục trong việc sản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch sinh thái giúp người dân địa phương nhận ra rằng: những giá trị văn hóa mà họ đang có là tài sản vô cùng quý giá và riêng có Chính đó mới là cơ sở để thu hút khách du lịch và mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương của họ
Trang 33Sản phẩm du lịch sinh thái bao hàm cả các dịch vụ thuyết minh, diễn giải mang tính giáo dục
Tính giáo dục trong sản phẩm du lịch sinh thái là đặc điểm không thể thiếu để phân biệt với các sản phẩm du lịch khác Trong những loại hình du lịch thông thường,
du khách mong muốn được thỏa mãn những nhu cầu thông thường như: nghỉ ngơi giải trí, thư giãn nhằm mục đích chính là tái sản xuất sức lao động để rồi quay trở lại công sở với không khí làm việc mới đầy hứng khởi Du lịch sinh thái là một hình thức du lịch mới và hoàn toàn khác Những ý nghĩa và giá trị mà du lịch sinh thái mang lại vượt ra khỏi những nhu cầu thông thường của khách du lịch Chính mục đích bảo bệ môi trường
tự nhiên, các giá trị văn hóa xã hội của người dân địa phương và được gần gũi với thiên nhiên đã đưa tính giáo dục vào trong du lịch sinh thái Kết quả là, mỗi khách du lịch sau
khi tham gia một chương trình du lịch sinh thái thường học hỏi một cáì đó mới, có ý nghĩa dù đó là kiến thức đơn giản Những bài học này được đưa ra ngay từ khi khách du lịch bắt đầu tham gia tour du lịch thông qua việc cung cấp thông tin về điểm đến tham
quan, những yêu cầu và nguyên tắc tham gia vào một tour du lịch sinh thái
Sản phẩm du lịch sinh thái giúp người tham gia du lịch hiểu biết hơn về các hệ sinh thái Thông thường, mỗi chúng ta đều biết được có rất nhiều loài động thực vật đang sinh sống và cùng tồn tại trên trái đất Việc tồn tại các hệ sinh thái vốn được chúng
ta hiểu như sự sẵn có trong tự nhiên Tuy nhiên, rất ít người trong số chúng ta lại có kiến thức và hiểu biết về từng loài động thực vật đang tồn tại trong tự nhiên, trừ phi đó là những chuyên gia sinh học hoặc các nhà khoa học vì môi trường Sản phẩm du lịch sinh thái trực tiếp mang lại phúc lợi cho cộng đồng dân cư địa phương
- Những đóng góp về vật chất: Cũng giống như các loại hình du lịch khác, du lịch sinh thái đem lại vật chất, cơ hội việc làm cho những người dân địa phương Sự gia tăng
về lượng khách du lịch tới 1 điểm tham quan thường kéo theo sự phát triển của các nhà
hàng, khách sạn cũng như các dịch vụ kèm theo Sự mở rộng các cơ hội tiếp xúc với khách du lịch, sự tăng các nguồn và lượng thông tin trao đổi mới đã thổi một luồng sinh khí cho cộng đồng dân cư địa phương, làm cho họ bừng tỉnh và phải thừa nhận về sự tồn
tại của thế giới bên ngoài hoàn toàn khác biệt với những gì mà họ quen sống Họ nhận thức được rằng còn có những cơ hội việc làm và những nguồn thu nhập khác có thể
Trang 34mang lại cuộc sống dồi dào vật chất hơn Trong bối cảnh này, bằng những cách thức khác nhau, những người dân tộc thiểu số đã và đang hòa nhập vào sự phát triển du lịch nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương nói chung
- Những đóng góp về tinh thần: du lịch sinh thái còn mang lại những lợi ích về tinh thần cho cộng đồng địa phương, đó là những nguồn động lực lớn để thúc đẩy họ tham gia vào hoạt động du lịch một cách tích cực Cộng đồng dân cư địa phương được tôn trọng và không bị phân biệt về văn hóa địa phương, từ giọng nói, ngôn ngữ, cách ăn mặc đến cách sinh hoạt trong đời sống xã hội Họ được thừa nhận quyền làm chủ đối với tài nguyên tự nhiên: động thực vật, rừng, đất đai, nguồn nước nơi họ đã sinh ra và lớn lên Và họ cũng có quyền tham gia, làm công tác tham mưu, lựa chọn và ra quyết định đối với cuộc sống của họ trong các dự án kinh tế xã hội được thực hiện tại địa bàn
- Những đóng góp nâng cao về mặt nhận thức: thông qua du lịch sinh thái, người dân địa phương sẽ ngày càng nhận thức được rằng du lịch ngày càng có xu hướng phát triển và tiềm năng phát triển đó xuất phát từ những mảng thị trường du lịch đang có những nhu cầu mới và đặc biệt mà chính họ là chủ thể đang sở hữu những giá trị to lớn
có thể thỏa mãn được những nhu cầu ngày càng tăng đó Chính những tài nguyên tự nhiên với vẻ đẹp rất đơn giản, nhẹ nhàng hoặc nét văn hóa thường ngày lại chính là điểm cực kỳ hấp dẫn đối với khách du lịch Điều đó khiến họ cần phải gìn giữ các tài nguyên quý gía của chính mình và làm gương để những khách du lịch phải tuân thủ các nguyên tắc và bảo tồn các giá trị riêng có đó
1.3.3 Những điều kiện để phát triển sản phẩm du lịch sinh thái
Tài nguyên tự nhiên, văn hóa bản địa phong phú còn tương đối nguyên sơ có tính đặc thù cao của hệ sinh thái
Du lịch sinh thái được thực hiện tại những nơi có tài nguyên tự nhiên dồi dào mà
cụ thể là các hệ sinh thái được làm giàu bởi nhiều loài động thực vật khác nhau Những yếu tố từ cây cối, nguồn nước, bầu khí quyển, đất đai cũng được tính đến Tất cả các thành phần tự nhiên đó tuy có nhiều về số lượng nhưng không hề phát triển rời rạc, riêng
lẻ Chúng là một khối vững chắc, kết hợp, bổ sung cho nhau, cộng sinh cùng tồn tại và phát triển thành một thể thống nhất để có thể tự tái tạo một khi có sự mất mát, yếu kém
Trang 35ở một bộ phận nhất định Trong một số giới hạn thì những thay đổi do con người gây ra đối với tự nhiên phải là những thay đổi chấp nhận được với khả năng tái tạo cao
Như vậy, du lịch sinh thái không cho phép con người can thiệp vào các hệ sinh thái tự nhiên, cho dù đó là những can thiệp mang lại lợi ích kinh tế xã hội cho con người
và cho dù con nguườ chấp nhận đền bù bằng vật chất cho những thiệt hại mà họ định gây ra đối với tự nhiên
Sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư địa phương trong việc tạo ra sản phẩm du lịch sinh thái
Sản phẩm du lịch sinh thái chỉ hấp dẫn và sẽ càng trở nên hấp dẫn hơn khi có sự tham gia của người dân địa phương Thứ nhất, người bản địa có được những kinh nghiệm truyền thống rất quý báu về tự nhiên ở nơi mà họ đã sinh ra, lớn lên và đang sống Những kinh nghiệm và kiến thức mang tính truyền thống này được đúc kết từ bao đời, thậm chí phải trải qua những hy sinh, tranh đấu để tồn tại trong thiên nhiên mới có được Kiến thức về thiên nhiên của người dân địa phương có lợi và mang lại nhiều thông tin bổ tích cho các hướng dẫn viên làm việc trong các công ty lữ hành, những người làm công tác bảo vệ rừng quốc gia và ngày cả những tổ chức, cá nhân triển khai các dự án kinh tế nói chung và du lịch nói riêng tại một địa bản nhất định Thứ hai, khi người dân bản địa được hưởng lợi ích trực tiếp từ các di sản do thiên nhiên ban cho và tổ tiên để lại thì họ không coi đó như di sản và coi đó là tài sản Điều này có nghĩa là trong nhận thức,
tư duy, hành động và thái độ của họ luôn khuyến khích để đóng góp những kiến thức truyền thống đó vào kho tàng của kiến thức nhân loại Họ nhận thức được rằng cuộc sống sinh nhai của họ sẽ phụ thuộc phần lớn vào việc giữ gìn và bảo tồn bền vững số lượng các tài nguyên tự nhiên mà họ đang có Chính vì vậy họ sẵn sàng tích cực chia sẻ, tham gia đóng góp vào các dự án kinh tế, du lịch liên quan tới cộng đồng địa phương của họ Không thể có sản phẩm du lịch sinh thái khi không quan tâm đến quyền lợi của
cư dân bản địa Chính trị hợp lý và kinh tế công bằng là động lực thúc đẩy cư dân bản địa chủ động tích cực tham gia vào phát triển sản phẩm du lịch sinh thái
Sự cam kết lâu dài và thiết lập hệ thống các nguyên tắc, gía trị đạo đức trong kinh doanh sản phẩm du lịch sinh thái của các chủ thể quản lý Nhà nước và quản trị kinh doanh sản phẩm du lịch sinh thái
Trang 36- Sự cam kết: Chính quyền địa phương là cơ quan quản lý hành chính tại địa phương, và là cơ quan đại diện, bảo vệ quyền lợi của người dân về kinh tế, văn hóa xã hội và sinh thái tại mỗi địa phương nhất định Chính quyền địa phương là cơ quan đưa
ra chính sách, chủ trương tầm vĩ mô nhằm mục địch ngày càng phát triển của địa phương mình
Các cơ quan quản lý về du lịch tương tự như vậy, cũng là các cơ quan quản lý hành chính nhưng đứng trên góc độ làm du lịch Ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, hai cơ quan nói trên cùng phối hợp, hành động để hoạt động du lịch tại mỗi địa phương đạt hiệu quả cao nhất
Kể từ khi các khái niệm về du lịch bền vững và du lịch sinh thái ra đời, phía chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý về du lịch đã nhận thấy xu hướng mới trong hoạt động kinh doanh du lịch Họ có thể đông tình, thể hiện quan điểm ủng hộ trong các cuộc trao đổi, thảo luận với các nhà kinh doanh du lịch, với các tổ chức môi trường phi chính phủ và với cộng đồng dân cư địa phương, nhưng điều quan trọng là những cơ quan này phải thể hiện bằng những cam kết thực hiện của họ không những bằng văn bản mà còn là chiến lược và kế hoạch hành động cụ thể Từ đó, những nhà kinh doanh, những người dân địa phương có cơ sở, đường hướng rõ ràng và điều quan trọng là vững tin vào khả năng thành công trong việc triển khai du lịch sinh thái tại địa phương mình
- Thiết lập hệ thống các ngyên tắc và giá trị đạo đức: Hệ thống các nguyên và giá trị đạo đức trong kinh doanh sản phẩm du lịch sinh thái được thiết lập trên cơ sở trao đổi, bàn bạc thống nhất cách thực hiện, kiểm soát du lịch sinh thái giữa các cá nhân và
tổ chức có liên quan trong hoạt động du lịch này Những hệ thống này cũng là cơ sở để đánh giá chất lượng và mức độ phù hợp của những tổ chức, cá nhân tham gia, tiến hành hoạt động kinh doanh du lịch sinh thái Tất nhiên, tùy thuộc vào đặc trưng từng địa phương, từng vùng và khu vực mà chi tiết cụ thể trong mỗi hệ thống các nguyên tắc và giá trị đạo đức nêu trên có phần khác nhau giữa các lãnh thổ nhưng phải thừa nhận là có cùng triết lý và nguyên tắc thực hiện chung Các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện du lịch sinh thái đều chịu sự chi phối của những hệ thống các nguyên tắc đó
Có sự tư vấn, giám sát từ các tổ chức môi trường phi chính phủ
Trang 37NGOs là các tổ chức phi chính phủ, quan tâm tới công tác bảo tồn các di sản văn hóa thiên nhiên Các tổ chức này là các nhóm vùng và quốc tế như: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN; Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD; Hiệp hội du lịch châu Á – Thái Bình Dương (PATA); Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới; Tổ chức quốc tế về động vật và thực vật quý hiếm… Các tổ chức NGOs hoạt động vì mục đích phi lợi nhuận, sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ phát triển hoạt động du lịch sinh thái vì nó mang lại những lợi ích thực tiễn bền vững Họ tìm kiếm các hoạt động để hỗ trợ như:
- Bảo vệ môi trường thông qua ngăn ngừa, cải thiện, sửa chữa và phục hồi những tài nguyên bị phá hủy
- Thúc đầy các cá nhân, tổ chức liên quan đến du lịch sinh thái nhận thức tốt hơn
và bởi vậy quan tâm hơn thay vì cố gắng dùng triệt để các tài nguyên
Chính mục đích tốt đẹp vì môi trường và không đứng trên góc độ kiếm lời nên các NGOs được các bên liên quan tới hoạt động du lịch sinh thái đánh giá là tương đối độc lập, khách quan trong việc giữ vai trò tư vấn và giám sát việc triển khai hoạt động
du lịch sinh thái
Nguồn khách du lịch sinh thái có đặc điểm tiêu dùng tương thích với sản phẩm
du lịch sinh thái nơi đến
Khách du lịch sinh thái là người tiêu dùng du lịch với mục đích chính là tham quan nghiên cứu tài nguyên du lịch, có ý thức và trách nhiệm về bảo tồn và phát triển thiên nhiên, có trách nhiệm đối với cộng đồng dân cư bản địa hành vi tiêu dùng của khách du lịch sinh thái có thể khái quát là không giết gì ngoài thời gian, không lấy gì ngoài những bức ảnh và không để lại gì ngoài những dấu chân Sản phẩm du lịch sinh thái có tính hấp dẫn cao, quyến rũ được khách du lịch sinh thái bởi tính hấp dẫn của ba thành phần cốt lõi tạo ra hình ảnh thương hiệu của điểm du lịch sinh thái: Hệ động vật
đa dạng quý hiếm, hệ thực vật phong phú quý hiếm và văn hóa dân gian độc đáo
Điều quan trọng là số lượng và loại khách du lịch sinh thái cần phải phù hợp với những đặc điểm của điểm đến Điều này đòi hỏi phải có giám sát về các du khách Sự hiểu biết về các nhóm khách, động cơ và đặc tính của họ đều là cần thiết để đẩy mạnh việc mở rộng thị trường và lập kế hoạch cung cấp các trang thiết bị và dịch vụ kể cả các
Trang 38khoanh vùng bảo vệ cho các mục đích sử dụng cũng như các loại hình du khách khác nhau
1.4 Tính tất yếu về sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động DLST
Sự trải nghiệm của du khách tại điểm đến nhìn chung thường chịu ảnh hưởng của thái độ của người dân địa phương đối với hoạt động DLST và khách du lịch Sự tiếp xúc ngắn ngủi giữa du khách và người dân bản địa có thể góp phần làm cho trải nghiệm DLST trở nên hoàn hảo hoặc ngược lại Sự tham gia của cộng đồng là một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong quá trình phát triển DLST Điều này được xem là thách thức và cũng là cơ hội lớn cho cả cộng đồng địa phương và các bên tham gia Do đó, cần xây dựng những định hướng phát triển phù hợp cùng với những hành động kịp thời nhằm nâng cao năng lực của cộng đồng địa phương và thúc đẩy sự tham gia của họ vào phát triển DLST
Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động DLST rất cần thiết là vì:- Cộng đồng địa phương chính là người đầu tiên tiếp xúc khai thác sử dụng và có kinh nghiệm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa ở địa phương qua nhiều thế hệ Do đó, nếu họ nhận được những lợi ích thiết thực từ việc tham gia trong hoạt động DLST thì có thể họ sẽ cam kết mạnh mẽ hơn nữa đối với quản lý bền vững các nguồn tài nguyên này
- Nếu cộng đồng địa phương được tham gia vào phát triển DLST thì họ sẽ càng
có thiện cảm với hoạt động DLST và những kết quả đạt được từ hoạt động này cũng sẽ cao hơn
- Kinh nghiệm và những hiểu biết về các nguồn tài nguyên bản địa của người dân địa phương sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm DLST
- Cộng đồng địa phương là những người trực tiếp tiếp xúc với du khách hàng ngày, do đó nếu người dân có thái độ tích cực với đối với hoạt động DLST thông qua việc cùng tham gia, hưởng lợi và cùng quyết định thì điều này sẽ mang lại những nguồn lợi đáng kể cho chính họ, cũng như thỏa mãn được nhu cầu du khách
1.5 Tài nguyên du lịch sinh thái
1 5.1 Khái niệm tài nguyên DLST
Trang 39Tài nguyên DLST là một khái niệm rất rộng bao gồm các yếu tố cơ bản để tạo nên các điểm, các tuyến hoặc khu DLST; có thể bao gồm các cảnh quan thiên nhiên, các
di tích lịch sử, giá trị nhân văn, các công trình do nhân loại tạo nên có thể được sử dụng
để nhằm thỏa mãn cho nhu cầu về DLST Khái niệm về tài nguyên du lịch, theo Luật
Du lịch 2005: “ là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử
dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là các yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
Có hai loại tài nguyên du lịch:
- Tài nguyên du lịch thiên nhiên: bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụmục đích du lịch
- Tài nguyên du lịch nhân văn: bao gồm các truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ nhân gian, di tích lịch sử-cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thểkhác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch
Như vậy rõ ràng tài nguyên DLST lấy cơ sở từ nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa – nhân văn bản địa Tuy nhiên các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể nào đó và các giá trị văn hóa nhân văn bản địa tồn tại và phát triển không tách rời khỏi hệ sinh thái tự nhiên đó Cũng như các giá trị thiên nhiên, các giá trị văn hóa bản địa chỉ trở thành tài nguyên DLST một khi nó được khai thác để tạo ra sản phẩm phục vụ cho mục đích phát triển du lịch
Nhìn chung tài nguyên DLST rất đa dạng và phong phú, thông thường người ta đưa vào khai thác và phục vụ một số dạng tài nguyên DLST chính bao gồm:
- Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù và tập trung chú ý đến những nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loại sinh vật đặc hữu, quý hiếm (như ở các vườn QG, khu Bảo tồn thiên nhiên, các khu dự trữ sinh quyển…)
- Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn trái, làng hoa, vườn trang trại…)
Trang 40- Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển có sự gắn kết với sự tồn tại của hệ sinh thái tự nhiên như các phương thức canh tác truyền thống, các lễhội, các sinh họat truyền thống của cộng đồng…
- Các di sản văn hoá bản địa truyền thống (gồm văn hoá vật thể và phi vật thể)
1.5.2 Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái
- Tài nguyên DLST rất phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên có giá trị vô cùng to lớn và đặc sắc
- Tài nguyên DLST rất nhạy cảm với các tác động
- Tài nguyên DLST có thời gian khai thác khác nhau
- Tài nguyên DLST thường nằm xa các khu dân cư và được khai thác ngay tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch
- Tài nguyên DLST có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài
Tuy nhiên để có điều kiện khai thác tài nguyên DLST một cách hiệu quả đòi hỏi phải có được một hệ thống cơ sở hạ tầng thuận lợi, đồng bộ, từ đó mới tạo nên các tuyến điểm du lịch nối đến các vùng tài nguyên hấp dẫn này
1.6 Các tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển du lịch sinh thái bền vững
Cơ sở để đánh giá sự phát triển bền vững của một chủ thể du lịch là những tiêu chuẩn hoặc yếu tố được dùng để đánh giá quá trình hoạt động, để so sánh về mặt không gian và thời gian ở phạm vi vĩ mô hoặc vi mô của nền kinh tế xã hội Các nhóm tiêu chuẩn hoặc yếu tố dùng làm cơ sở để đánh giá sự phát triển DLST theo hướng bền vững bao gồm 3 tiêu chuẩn chính như sau:
1 6.1 Tiêu chuẩn về kinh tế
- Mức tăng trưởng kinh tế do quá trình phát triển đem lại
- Mức đóng góp cho phát triển kinh tế địa phương
- Sự phát triển phù hợp với mục tiêu đề ra trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và địa phương
1 6.2 Tiêu chuẩn về xã hội, con người