1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm quan phật giáo trong thơ phạm thiên thư qua động hoa vàng và đoạn trường vô thanh

177 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 15,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VŨ THỊ HUỆ CẢM QUAN PHẬT GIÁO TRONG THƠ PHẠM THIÊN THƯ QUA ĐỘNG HOA VÀNG VÀ ĐOẠN TRƯỜNG VÔ THANH LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60.22.01.21 Người hướ

Trang 1

VŨ THỊ HUỆ

CẢM QUAN PHẬT GIÁO

TRONG THƠ PHẠM THIÊN THƢ QUA ĐỘNG HOA VÀNG

VÀ ĐOẠN TRƯỜNG VÔ THANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018

Trang 2

VŨ THỊ HUỆ

CẢM QUAN PHẬT GIÁO

TRONG THƠ PHẠM THIÊN THƯ QUA ĐỘNG HOA VÀNG

VÀ ĐOẠN TRƯỜNG VÔ THANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Công Lý

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018

Trang 3

thực, đảm bảo độ chuẩn xác cao nhất có thể và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác Các tài liệu tham khảo, các kết quả của các nhà nghiên cứu đi trước khi trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Vũ Thị Huệ

Trang 4

thân, tôi còn nhờ vào sự chỉ bảo, giúp đỡ, động viên tận tình của quý thầy cô, gia đình, bạn bè, các đồng nghiệp và học trò

Trước hết, tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và tri ân sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Công Lý, người đã tận tâm hướng dẫn khoa học, định hướng, gợi mở, truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu, giúp tôi giải quyết các vấn đề và những khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô Khoa Văn học, thầy cô trong hội đồng thông qua đề cương và chấm luận văn đã truyền dạy kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường và có những đóng góp quý báu giúp tôi trong quá trình hoàn thành luận văn khoa học này

Xin cảm ơn Phòng Sau đại học, Thư viện Trường Đại học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học Tổng hợp đã tạo điều kiện để tôi tham khảo tài liệu khi thực hiện luận văn

Đặc biệt, xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Tổ Ngữ văn và các đồng nghiệp trường THPT Hiệp Bình, Quận Thủ Đức và Trung tâm Thăng Long, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi thuận lợi trong công tác, hỗ trợ nhiệt tình cho tôi trong thời gian học tập

Sau cùng, xin cảm ơn mẹ, anh chị và người chồng yêu quý đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Trân trọng!

Vũ Thị Huệ

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

M ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch s vấn đề 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

3.1 Mục đích nghiên cứu 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp của luận văn 13

7 Cấu trúc luận văn 13

Chương 1 PHẠM THIÊN THƯ: CUỘC ĐỜI VÀ HÀNH TRÌNH THƠ 14

1.1 Cuộc đời Phạm Thiên Thư với nhiều mối lương duyên 14

1.2 Hành trình thơ Phạm Thiên Thư 18

1.3 Nhà thơ Phạm Thiên Thư trong dòng chảy thơ Thiền thời hiện đại 35

Tiểu kết chương 1 38

Chương 2 CẢM QUAN PHẬT GIÁO TRONG THƠ PHẠM THIÊN THƯ QUA ĐỘNG HOA VÀNG VÀ ĐOẠN TRƯỜNG VÔ THANH NHÌN TỪ NỘI DUNG THỂ HIỆN 39

2.1 Tư tưởng Phật giáo trong hai tập thơ Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 39

2.1.1 Triết lí Tính Không và tư tưởng Vô trụ 39

2.1.1.1 Sơ lược về triết lí Tính Không và tư tưởng Vô trụ 39

2.1.2 Triết lí nhân quả 55

Trang 6

2.2.1 Bức tranh thiên nhiên trần thế 61

2.2.2 Bức tranh thiên nhiên trong mộng tưởng 62

2.3 Con người trong Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh qua cảm quan Phật giáo của Phạm Thiên Thư 66

2.3.1 Hình ảnh người tu hành đắc đạo 67

2.3.2 Con người buông bỏ, phá chấp 69

2.3.3 Hình ảnh người chân quê hiền hòa 72

2.3.4 Con người với tình yêu thánh thiện 74

2.4 Tinh thần dân tộc trong Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh qua cảm quan Phật giáo của Phạm Thiên Thư 76

2.4.1 Niềm tự hào về những giá trị văn hóa truyền thống 77

2.4.2 Tư tưởng đại đồng thế giới 85

Tiểu kết chương 2 88

Chương 3 CẢM QUAN PHẬT GIÁO TRONG THƠ PHẠM THIÊN THƯ QUA ĐỘNG HOA VÀNG VÀ ĐOẠN TRƯỜNG VÔ THANH NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT BIỂU ĐẠT 89

3.1 Thể thơ lục bát trong Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 89

3.1.1 Thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại 89

3.1.2 Giọng điệu thơ lục bát trong Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 93

3.1.3 Nhịp điệu thơ lục bát trong Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 96 3.1.4 Vần trong thơ lục bát ở Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 99

3.1.6 Sự sáng tạo trong thơ lục bát ở Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 106

3.2 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 108

Trang 7

và Đoạn trường vô thanh 112

3.2.3 Thế giới từ láy phong phú trong Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 114

3.2.4 Nghệ thuật sử dụng các phép tu từ trong Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 116

3.3 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 119

3.4 Nghệ thuật khắc họa hình tượng nhân vật trong Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 120

3.4.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 121

3.4.2 Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh 124

3.5 Nghệ thuật miêu tả tiếng đàn trong Đoạn trường vô thanh 131

Tiểu kết chương 3 135

KẾT LUẬN 137

TÀI LIỆU THAM KHẢO 140 PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ Đ U

1 L do chọn đề tài

Như một hạt giống tốt được ươm mầm trên mảnh đất màu mỡ, phì nhiêu, Phật giáo được truyền vào nước ta từ rất sớm h o l o kết hợp với tín ngưỡng văn hoá bản địa, Phật giáo đã b n rễ trong lòng dân tộc, trở thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt tinh thần của người dân đất Việt và luôn đồng hành c ng lịch

s đất nước Theo Nguyễn Công Lý (2016a), chính cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã từng ghi nhận: Dân tộc ta có hai lần nhảy vọt về tư tưởng: Lần đầu dân tộc ta gặp Phật giáo; lần thứ hai gặp chủ ngh a Mác – Lê-nin” (tr 52) Trong sinh hoạt văn hoá dân gian, qua nhiều câu tục ngữ, ca dao, cha ông ta đã răn dạy con cháu những bài học đạo lí làm người thấm nhuần tư tưởng Phật giáo Ch ng hạn như: Cứu một mạng người hơn xây chín toà tháp”, hiền gặp lành”, Bụt ở trên tòa, gà không dám mổ”, Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”… Rồi như một lẽ tự nhiên, những thuật ngữ Phật học đi vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, như: hiền như bụt, tâm Phật, tu tâm dưỡng tính…

C ng với biến động của lịch s dân tộc, đạo Phật cũng không ít lần thăng trầm Phát triển đỉnh cao ở thời Lí – Trần rồi có vẻ chững lại dưới thời Lê – Nguyễn, lúc Nho giáo thắng thế trên chính trường, để sang thời hiện đại ( đầu thế kỉ

XX và hiện nay), Phật giáo lại được ho ng dương, hưng thịnh sau bao lần o n mình đầy đau đớn chống lại sự tàn bạo của phong trào đàn áp Phật giáo dưới thời thực dân Pháp đô hộ và thời Ngô Đình Diệm cầm quyền Lịch s đất nước đã ghi nhận công lao đóng góp của các thiền sư: huông Việt, Pháp Thuận, Vạn ạnh, Mãn Giác Nhiều vị vua thời Lí – Trần s ng bái đạo Phật đã trị vì đất nước bình yên, an lạc như Lí Công Uẩn, Trần Nhân Tông hi phải đương đầu với bão l a hung tàn của thế lực xâm lược phương Tây, không ít nhà sư đã cởi áo cà sa khoác chiến bào” để góp phần vào sự nghiệp thống nhất đất nước, m a xuân năm 1975

Nếu tiến hành một cuộc khảo sát về tình cảm của công chúng với mỗi tác

phẩm văn học dân tộc, tôi tin r ng Truyện Kiều của Nguyễn Du sẽ chiếm vị trí đỉnh

cao Có lẽ nói không ngoa cơ hồ cả dân tộc đều yêu tác phẩm này Ch ng thế mà dù

Trang 9

người khai sinh ra Truyện Kiều đã về với tổ tiên gần 200 năm nhưng Truyện Kiều

vẫn có sức hấp dẫn đặc biệt Người ta ngâm Kiều, bói Kiều, vịnh Kiều, lẩy Kiều,

sân khấu hóa Kiều…và viết tiếp Truyện Kiều Kiều đã đi vào lời ăn tiếng nói của

người Việt, theo chân người chiến s ra chiến trường: Dẫu súng đạn nặng đường ra

hỏa tuyến/ Đi đường dài, em giữ Truyện Kiều theo!” ( G i iều cho em năm đánh

M ” – Chế Lan Viên) Có nhiều cụ già không biết chữ nhưng thuộc làu 3254 câu lục bát mà cứ day dứt thương nàng iều: Nước Nam mình đẹp nhất cô Kiều mà khổ nhất cũng cô iều”! Người yêu Kiều đã thành lập Hội Kiều học Năm 2015, nhân dịp kỉ niệm 250 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du, trên cả nước đã long trọng

tổ chức ba cuộc hội thảo tại quê hương à T nh của tác giả, tại Hà Nội – nơi nhà thơ sinh ra và tại trường Đ X &NV TP CM thu hút đông đảo người ái mộ

tham gia Tính đến nay đã có 7 cuốn Hậu Truyện Kiều: Đào Hoa Mộng kí của Mộng Liên Đình, Đào Hoa Mộng kí diễn ca của à Đạm Hiên, Kiều tân thời của Bạch Diện, Kiều bình dân học vụ của Nguyễn Văn Trinh, Đoạn trường vô thanh của Phạm Thiên Thư, Đoạn trường nhất thanh của Trần Thanh Vân, Truyện Kiều đọc ngược của Phạm Đan Quế Trong số những tác phẩm ấy, cố GS Cao Xuân Hạo (2006) đã có đánh giá khá công tâm r ng Đoạn trường vô thanh của Phạm Thiên

Thư là thành công hơn cả” (tr.175)

Trong nền văn học dân tộc, văn học Phật giáo Việt Nam là một bộ phận không thể thiếu vì có sự đóng góp khá lớn với lực lượng sáng tác khá đông đảo tạo nên một diện mạo riêng Bắt nguồn từ văn học dân gian, khởi sắc ở thời đại Lí - Trần rồi như một dòng chảy thông suốt hàng ngàn năm, văn học Phật giáo ngày càng gặt hái được nhiều thành tựu đáng ghi nhận Sự giao thoa, ảnh hưởng của văn hoá – tư tưởng Phật giáo đối với văn học dân tộc ngày càng rõ nét Trong các sáng tác của những nhà văn, nhà thơ hiện đại, nhiều tác phẩm thấm đẫm tư tưởng Thiền – Phật như: thơ Quách Tấn, Bùi Giáng, một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp,

Mảnh đất l m người nhiều ma của Nguyễn hắc Trường, C nh đ ng ất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Thiên th n s m h i của Tạ Duy nh,

Trang 10

Trong số những tác giả nổi danh có đóng góp không nhỏ đối với văn học Phật giáo thì Phạm Thiên Thư là một cái tên không thể không nhắc đến Cả đời ông thu chung” với một kiểu sáng tác là chỉ viết về Phật giáo Là người Việt Nam đầu tiên thi hoá kinh Phật, Phạm Thiên Thư nổi tiếng trên thi đàn với những vần thơ nhẹ nhàng, cảm xúc miên man, chan chứa tình yêu đời, yêu người, yêu thiên nhiên, vạn vật Thơ ông làm đắm say lòng người không chỉ bởi giàu nhạc điệu, nhiều bài đã được nhạc s tài hoa Phạm Duy phổ nhạc mà còn thấm đẫm hương vị Thiền, chứa đựng triết lí Phật giáo uyên sâu Trong số những tác phẩm nổi danh ấy, 100 đoản

khúc trong tập Động hoa vàng và truyện thơ Hậu Kiều - Đoạn trường vô thanh đã

ngân vọng mãi trong lòng người yêu thơ

Hai tập thơ này còn để lại ấn tượng sâu đậm bởi vẻ độc đáo vừa chứa đựng tư tưởng Phật giáo vừa rất dung dị, đời thường Tác giả của hai tập thơ này cũng độc đáo như tác phẩm của mình Ông gia nhập chốn Thiền môn từ biến cố cuộc đời rồi khi thấu triệt tư tưởng Phật giáo lại hoàn tục về với đời vì bổn phận làm con nhưng vẫn tu Thiền theo cách của riêng mình ông, ta nhận ra tư cách k p của một tu s - thi s Vậy nên thơ ông hấp dẫn người đọc và dễ đi vào lòng người

Như chúng ta đã biết, Phật giáo được coi gần như là một quốc giáo của người Việt từ bao đời Mỗi con người trong cốt tu đều có Phật tính Việc nghiên cứu Phật học trong tác phẩm văn chương cũng là một trong những cách để người viết học hỏi, tu dưỡng, hiểu mình, hiểu người, hiểu đời hơn

Chính vì những lẽ trên, chúng tôi chọn đề tài: Cảm quan Phật giáo trong thơ Phạm Thiên Thư qua “Động hoa vàng” và “Đoạn trường vô thanh”

2 Lịch ử v n đề

Có thể nói, Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh c ng người khai sinh ra

tác phẩm có sức quyến rũ đặc biệt đối với công chúng yêu thơ Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tìm được 40 bài viết về tác giả và hai tác phẩm này Tuy nhiên, trong mục này, chúng tôi chỉ đề cập tới những bài viết tập trung, gần sát với

đề tài của mình Tiêu biểu như:

Trang 11

Đầu tiên, người cùng thời với tác giả là oàng Vũ (1974) có viết bài Định hướng dân tộc và con đường Việt hóa tư tưởng nghệ thuật Đông phương qua sự

nghiệp thi ca của Phạm Thiên Thư” in trên Văn học, số 179 Trong bài viết này, bác

s oàng Văn Đức (tên thật của bút danh oàng Vũ) đã rút ra một số đặc điểm về tư

tưởng và đặc sắc nghệ thuật của Đoạn trường vô thanh Về tư tưởng, tác phẩm đã giải nghiệp vận của Việt Nam và Việt hóa Truyện Kiều Còn về nghệ thuật, tác giả

phân tích khá thấu đáo nghệ thuật tả người, nghệ thuật tả tiếng đàn c ng nghệ thuật diễn tả tâm lí

Bẵng đi một thời gian sau ngày đất nước thống nhất, Phạm Đan Quế (2002)

có viết trong cuốn Lục bát hậu truyện Kiều đã đánh giá cao về sự nghiệp sáng tác

của Phạm Thiên Thư:

Trong những quyển Hậu Kiều thì Đoạn trường vô thanh của Phạm Thiên

Thư là thành công hơn cả, ít nhất về cái bình dị, tự nhiên đậm chất ca dao dân ca trong câu thơ lục bát Tác phẩm đã đoạt giải Nhất văn chương tại miền Nam tạm chiếm năm 1973 Tác giả là một tu s , ông được phú cho một năng khiếu thơ bẩm sinh, đặc biệt là thơ lục bát (tr 32)

hi những tác phẩm của Phạm Thiên Thư được tái bản đồng loạt, nhà xuất bản cho in lại những bài cảm nhận của những nhà nghiên cứu Trong đó, Giáo sư Cao Xuân ạo – nhà ngôn ngữ học (2006) trong bài Đôi lời vô thanh” cũng có nhận x t

về Phạm Thiên Thư, tác giả cuốn Đoạn trường vô thanh: Những dòng thơ lục bát

rất gần gũi với câu iều và thiên tự sự đầy hình tượng và màu sắc của anh về đoạn sau của đời nàng iều mà Nguyễn Du chưa kịp viết” (tr 202)

Ngoài ra, Lê Thanh Cảnh (2006) với bài viết Đôi dòng cảm đề” cũng đã bày

tỏ cảm nhận của mình về Phạm Thiên Thư: Qua tác phẩm Đoạn trường vô thanh,

Phạm Thiên Thư, với lời thơ thanh nhã và siêu thoát đã xứng đáng đứng vào hàng ngũ con dân khả ái của Đất Nước vậy” (tr 230)

Rồi òa Thượng Thích Tâm Giác (2006) trong Hội Hoa Đàm cũng có lời

giới thiệu về nhà thơ Phạm Thiên Thư như sau:

Trang 12

Phạm Thiên Thư đã mở ra một trang s mới cho nền văn học Phật giáo

Việt Nam trong việc thi hóa kinh Phật và mang giáo ngh a giải thoát vào thi ca dân tộc Mỗi khi nghe lời thơ Đạo Ca, ngâm Đoạn trường vô thanh

và đọc Kinh Ngọc, Kinh Thơ, Kinh Hiền của thi s họ Phạm, người ta

như thể không còn phân biệt nổi biên giới giữa Đạo và Đời mà dường như

bị hút vào một dòng sinh lực không gian vô tận dung hòa mọi tư tưởng nhân sinh Phải chăng, đó là n t đặc th của Phật giáo Việt Nam đã hơn một lần chói sáng qua triều đại Lý, Trần ? (tr 11)

C ng cảm mến tác giả và say mê Đoạn trường vô thanh còn có Vương Mộng Giác (2006) với bài viết Cảm đề sau khi đọc xong Đoạn Trường Vô Thanh” cũng

cho r ng:

Thi ca của Phạm tiên sinh tiếp nối suối nguồn thi ca dân tộc Việt và thi ca Nguyễn Du Qua miền đoạn trường, kẻ thức giả chợt nhận ra r ng, thì ra thi ca cũng là tiếng kêu sâu th m của một thực tại v nh c u, có năng lực diệu dụng độ khách lữ thứ qua bến hàn giang vào một chiều thu cô liêu (tr 224)

Phạm Thiên Thư còn nhận được sự quan tâm của những nhà báo Anh Hồ, Hoài Giang (2008) trong bài viết Phạm Thiên Thư hoa vàng vẫn nở” rất thích thú khi tìm hiểu về nhà thơ độc đáo này:

Ch ng bao giờ xuất hiện trước đám đông nhưng rất nổi tiếng, không nhớ nhiều về mình và tác phẩm của mình nhưng viết toàn trường ca, trong thời gian nương náu c a ch a lại nổi tiếng về thơ tình, sau khi hoàn tục lại được trao k lục Phật giáo Việt Nam Người đàn ông gắn liền với cái trái khoáy (tr 1)

à Dương (2008) đăng trên báo An ninh thủ đô bài đánh giá về sự nghiệp

văn học của Phạm Thiên Thư với tiêu đề Người phá k lục thơ lục bát của Nguyễn

Du” đã kh ng định r ng:

Với Đoạn trường vô thanh, Phạm Thiên Thư đã phá k lục thơ lục bát của

Nguyễn Du b ng 3.254 câu lục bát - hơn 20 câu (thực ra thì hơn 44 câu –

Trang 13

đính chính của tác giả luận văn) Và sau 200 năm, Phạm Thiên Thư đã làm

việc chưa từng có ở văn học Việt Nam là mạnh dạn viết tiếp Truyện Kiều

b ng chữ Việt 100%”, cốt truyện theo đánh giá của các nhà phê bình văn

học nổi tiếng thì sức hấp dẫn không thua Kim Vân Kiều (tr 6)

Một bài viết có giá trị về tu s - thi s này phải kể đến Thái Doãn Hiểu (2009)

trong bài hi sư ông xả thân làm tín đồ thơ!” in trên Tạp chí Sông Hương, số 179

Thuý iều như đoá hoa ngát hương trong vũng lầy xã hội phong kiến ai

quyển Kiều có chỗ nhất quán là cuộc đời, ý thức vượt lên định đoạt thân

phận con người, đòi quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc (tr 4) …Nghệ

thuật biểu hiện linh hoạt và ngôn ngữ cẩm tú của Đoạn trường vô thanh có khá nhiều câu, đoạn, chương hay nghiêng ng a với Đoạn trường tân thanh ai quyển Kiều có giá trị bổ sung nâng đỡ làm đẹp cho nhau, chứ

không phải loại trừ nhau như có người lầm tưởng (tr 7)

Bên cạnh những bài viết khái quát về sự nghiệp của nhà thơ hay tác phẩm cụ thể của ông còn có những bài viết nghiên cứu sâu về một khía cạnh của tác phẩm

Hồ Tấn Nguyên Minh (2011), trong bài viết “Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư

- Cõi Thiền hay không gian thoát tục” có đoạn:

Tựa một viên ngọc lung linh huyền ảo, nó dẫn người đọc tìm về một thế giới tịch lặng, đơn sơ đẫm hương Thiền Nơi ấy con người có thể tìm được con đường nuôi dưỡng chân tâm hầu mong một cuộc sống bình an, thanh thản n không mấy khó khăn để nhận ra r ng văn hóa Thiền thấm đẫm

trong từng câu, từng chữ và làm nên n t đẹp thâm trầm, ý nhị cho bài thơ

(tr 1)

Trang 14

Trải qua bao năm tháng, nhà thơ Phạm Thiên Thư vẫn được công chúng yêu

mến, kiếm tìm Tuyết Dân (2011) trong bài viết Phạm Thiên Thư – Chủ nhân của Động hoa vàng”, nhận định:

Là một nhà thơ Việt nổi danh song Phạm Thiên Thư lại chọn cho mình một phong cách sáng tác khá lạ, độc đáo - thơ đạo Tức tứ thơ cứ quấn quýt n a đời n a đạo như một tu s quyến luyến chữ tình khiến cho người đọc phải ngẩn ngơ, bất ngờ, thổn thức (tr 1)

Và V nh ảo (2012) lại hết sức ngợi ca trong Đọc Thơ Phạm Thiên Thư”:

Những vần lục bát của Phạm Thiên Thư từ khi có mặt, cuối thập niên

1960, đầu thập niên 1970, cho đến nay, vẫn rung dài âm hưởng trong tôi,

cũng như trong nhiều người khác Nhất là qua thi phẩm Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng với 100 đoản thi, quả thực là vẫn chưa có giòng lục bát

nào sau Nguyễn Du có thể óng ả tuyệt bích như thế (tr 1)

Đặc biệt, sáng tác của Phạm Thiên Thư còn là đối tượng nghiên cứu của những học viên cao học V Thị Ngọc ân (2012) trong Luận văn Thạc s của mình

với đề tài Thơ lục t Phạm Thiên Thư, tác giả đã khảo sát về thơ lục bát để tìm

hiểu những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật trong thơ lục bát Phạm Thiên Thư

Mà Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh là đối tượng nghiên cứu chủ yếu

nhưng chỉ trên phương diện thể hiện của thể loại thơ

Hay Nguyễn Thị Trúc Đào (2013) trong bản tóm tắt Luận văn Thạc s Cảm thức Thiền trong thơ Phạm Thiên Thư đã có cảm nhận khá sâu sắc những biểu hiện

của tính Thiền trong thơ Phạm Thiên Thư ở phương diện nội dung và nghệ thuật biểu hiện

Một nhà thơ Thiền sẽ không có uy tín nếu không dành được cảm tình của những nhà nghiên cứu văn học Phật giáo Phạm Thiên Thư của chúng ta lại được nhiều người mến mộ Tâm Nhiên (2013) trong Suối nguồn thi cảm Phạm Thiên

Thư” có cảm nhận khá tinh tế:

Đi vào c i thơ Phạm Thiên Thư là phiêu du lồng lộng những phương trời bồng bềnh chuếnh choáng, tràn đầy cỏ hoa, chim bướm, sắc nước hương

Trang 15

trời với nhiều quyến rũ thanh kỳ tú lệ Đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác với biết bao thú vị như lạc vào chốn nào thấp thoáng sương

mù, bàng bạc ẩn hiện ánh trăng huyền ảo, rạo rực phơi bày lung linh những sắc màu kỳ hoa dị thảo, lấp lánh long lanh giữa trời thơ đất mộng (tr 1)

Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm (2013) đã rất tâm huyết cảm nhận về Đoạn trường vô thanh qua bài Viền trăng vô tướng qua thi phẩm Đoạn trường vô thanh của Phạm

Thiên Thư”:

Đọc Đoạn Trường Vô Thanh (Thư Viện Hoa Sen), mộng và thực lồng vào

nhau, không gian thời gian đan kết vô ngại Những kiếp người xen kẽ, nối tiếp vô thủy vô chung Những cảnh du sơn, ruổi dong nhật nguyệt cũng là những cảnh trong tâm tưởng Kim, Kiều hiển hiện không bờ mé giữa lòng thực tại mà cũng chính là sự trực nghiệm giữa hai cá thể như một dòng chuyển hóa của tâm thức (tr 1)

Còn Vô Lượng Công Đức (2013) viết Tìm hiểu tác phẩm Đưa em tìm động hoa vàng” đánh giá:

Cuộc chiến đang đến hồi b ng vỡ ở nhiều mặt trận cao nguyên, miền địa đầu giới tuyến, mỗi ngày đều nhìn thấy những chiếc trực thăng trắng chở những chiến s bị thương từ chiến trường về những bệnh viện ở những thành phố miền Nam, tâm trạng thanh niên hoang mang, cảm thấy đời sống buồn bã, thơ Phạm Thiên Thư xuất hiện như viên thuốc an thần (tr 1

Trên báo Gi c Ngộ, tác giả Đặng Tiến (2014) có bài Ngày xuân tìm Động hoa vàng” đã rất công tâm cho r ng:

Động hoa vàng chứng tỏ tài hoa của tác giả, nhưng ít người quan tâm đến

n t thâm trầm của những câu thơ, nói chung là diễn tả giấc mơ thoát tục của con người trong một giai đoạn nhiễu nhương, đồng thời niềm hoài vọng hướng về quá khứ xa xưa của dân tộc, nhớ nhung nhiều k niệm cũ càng, có thật hay hư tưởng, từ quê hương thôn dã, một thuở thanh bình đã

phôi pha (tr 1)

Trang 16

Cũng trong năm này, Hà Minh Châu (2014), ở bài viết Thơ về đạo của

Phạm Thiên Thư” in trong Tạp chí khoa học Văn ho và Du l ch số 18 (72) cũng có nhắc đến Đoạn trường vô thanh nh m minh chứng cho luận điểm thế giới kinh Phật

thấm đẫm hồn dân tộc b ng việc s dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao vào trong thơ (tr 83)

Tác giả Thiên Ca (2014) trong bài viết Thi s Phạm Thiên Thư và nhạc s Phạm Duy trong thành vách sương m của Đạo ca” hết sức tán dương:

Thi s kiêm nhà tu Phạm Thiên Thư (pháp danh Tuệ Không) lúc đó nổi danh trên thi đàn bởi những vần thơ lục bát trác tuyệt, bay bổng n a tăng

n a tục vừa mênh mang hoa lệ, Thiền ý sâu xa, vừa ngông nghênh”

…Phạm Thiên Thư viết Đoạn trường vô thanh – một tác phẩm được coi như hậu Truyện Kiều với những vần thơ lục bát sang trọng, tuyệt mỹ và

điều mà ông tâm đắc nhất chính là sự Việt hóa câu chuyện im iều, như ông nói: Sáng tác phải có chất riêng của Việt Nam” thi phẩm đồ sộ

này, ông còn hơn cụ Nguyễn Du những 20 câu lục bát (thực ra thì hơn 44 câu – đính chính của tác giả luận văn) (tr 1)

Đoàn ưng (2016) đã viết trong Đêm nhạc tâm xuân, phamduy.com cho

r ng:

Có một sắc thái rất riêng biệt trong những tình khúc Phạm Duy phổ thơ Phạm Thiên Thư, mà trước đó trong dòng tình ca Phạm Duy chưa hề có Người nghe nhận ra bàng bạc sắc thái riêng đó qua hai bài nhạc phổ thơ

lục bát Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng và Gọi Em Là Đóa Hoa S u Vẫn là

âm hưởng ngũ cung, nhưng giai điệu của hai ca khúc này thanh thoát, du dương đến lạ lùng! Những câu luyến láy tình tứ vừa mang màu sắc lãng mạn của làng Quan Họ Miền Bắc, mà vẫn có n t vương giả, đài các của

chốn cung đình Huế (tr 3)

Cuối cùng là bài viết của Hồ Tấn Nguyên Minh (2017) khi viết Bài thơ

Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư nhìn từ văn hoá Thiền” cho r ng:

Đến thế k XX, một thế k nhiều vinh quang nhưng cũng quá nhiều cay

Trang 17

đắng của người Việt, văn học lại chứng kiến sự xuất hiện của một nhà thơ Phật giáo: Phạm Thiên Thư – người hiền s ngồi bên lề cuộc sống ta bà,

lặng yên thi hóa kinh Phật” Đọc thơ ông, ta tìm thấy những điều phong

phú và mới lạ về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên Giữa một thời đạn l a, ông bình thản lập cho mình một cõi thi ca riêng: trong trẻo, trữ tình và đậm chất Thiền (tr 1)

Những bài viết trên cũng được chúng tôi đưa vào danh mục tài liệu tham khảo, trở thành tư liệu quý báu giúp chúng tôi hoàn thành luận văn này Những gì tôi trình bày ở trên đã cho chúng ta thấy, Phạm Thiên Thư và hai tập thơ này đã thu hút sự quan tâm của công chúng, của những nhà nghiên cứu Tuy nhiên, những bài viết này chỉ là những cảm nhận chung về tác giả với tất cả các sáng tác của ông hoặc đi sâu vào một chi tiết rất nhỏ của một tác phẩm Ngay cả hai luận văn trước, một công trình đi tìm hiểu sâu về thể thơ, một công trình cũng tìm hiểu cảm thức Thiền (một khái niệm gần với cảm quan Phật giáo) nhưng người nghiên cứu không chọn lọc tác phẩm tiêu biểu mà xét ở bề rộng tức các sáng tác của nhà thơ Trên cơ

sở kế thừa thành tựu của những người đi trước, chúng tôi tập trung nghiên cứu hai tác phẩm có thể nói là tinh tuý nhất của tác giả trên phương diện cảm quan Phật giáo để tìm hiểu về đặc điểm nội dung và hình thức thể hiện trong thơ ông

3 Mục đ ch và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn này sẽ làm sáng tỏ những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật dưới cái nhìn cảm quan Phật giáo trong hai tác phẩm tiêu biểu của Phạm Thiên Thư

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- ệ thống những tư liệu để khắc hoạ chân dung cuộc đời và thơ của Phạm Thiên Thư

- Tìm hiểu cảm quan Phật giáo của Phạm Thiên Thư qua Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh nhìn từ nội dung thể hiện

- Tìm hiểu cảm quan Phật giáo của Phạm Thiên Thư qua Động hoa vàng và

Đoạn trường vô thanh nhìn từ nghệ thuật biểu đạt

Trang 18

4 Phạm vi nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát thơ của Phạm Thiên Thư dưới cảm quan Phật giáo ở hai tác phẩm:

- Phạm Thiên Thư (2006) Động hoa vàng TP.HCM: Văn nghệ, tái bản

- Phạm Thiên Thư (2006) Đoạn trường vô thanh TP.HCM: Văn nghệ, tái

bản

Trong quá trình thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh, chúng tôi có thể s dụng thêm một số tư liệu có sẵn được trích dẫn lại trong các công trình có liên quan đến nội dung đề tài

Đôi lời giới thuyết về tên đề tài:

Trước hết, ta cần làm r khái niệm cảm quan” Trong tiếng Việt từ cảm quan” được s dụng khá phổ biến song để hiểu nội hàm ý ngh a của thuật ngữ này

quả thật là không hề đơn giản Theo Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên) có

viết rất đơn giản: Cảm quan có ngh a là giác quan” (tr 103) Trong tiếng Anh, cảm quan tương ứng với từ: sense” hoặc feeling” đây, chúng tôi nghiêng về phía từ feeling” hơn Bởi sense” là cảm nhận từ giác quan còn feeling” là cảm nhận từ tâm hồn Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Tuyết (2015) đã có những luận giải, phân tích thật thấu đáo về thuật ngữ này thông qua việc dẫn giải những công trình nghiên cứu

ở nhiều l nh vực như triết học, m học, tâm lí, văn học trong bài viết Cảm quan và cảm quan nghệ thuật” Cuối c ng bài viết kết luận: cảm quan là cách nhìn nhận, đánh giá mang tính chất tổng quan, toàn cục, nó tiên báo suy ngh hay lý luận về một vấn đề đang được nói tới, mà vấn đề đó thiên về l nh vực tinh thần (phi vật chất), phi hình thức” (tr 2)

Còn Phật giáo” thường được hiểu là một tôn giáo hướng con người đến sự nhận thức chân lí hay gọi là giác ngộ để giải thoát khỏi phiền não, khổ đau

Như vậy, có thể nói ngắn gọn r ng ở đề tài trên, chúng tôi tìm hiểu cách nhìn nhận của nhà thơ Phạm Thiên Thư về cuộc sống qua lăng lính Phật giáo được thể

hiện trong tập thơ Động hoa vàng và truyện thơ Hậu Kiều - Đoạn trường vô thanh

Trang 19

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã vận dụng chủ yếu các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê: Phương pháp này chúng tôi s dụng trong chương III của luận văn nh m thống kê tần số s dụng các phép tu từ, cách gieo vần, các thuật ngữ Phật học để có cơ sở đánh giá đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Ngay từ khi đặt bút viết Đoạn trường vô thanh, tác giả đã có tinh thần dân tộc, kh ng định giá trị của một kiệt tác văn chương Vì vậy, chúng tôi vận dụng thao tác đối chiếu – so sánh với Truyện Kiều để

thấy được những sáng tạo của nhà thơ trong cách s dụng điển tích, xây dựng hình tượng nhân vật, tạo dựng cốt truyện,…

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: chương II và III, chúng tôi dùng phương pháp này để phân tích những câu thơ để sáng tỏ cho những luận điểm đã rút

- Phương pháp nghiên cứu lịch s - xã hội: Bất kì nhà thơ, tác phẩm nào đều sống đời sống của mình trong mối quan hệ không thể tách rời với đời sống của cộng đồng Cả hai tác phẩm chúng tôi nghiên cứu đều ra đời trong thời đạn bom khốc liệt của cuộc chiến tranh chống M và nhất quán trong cảm quan Hiện thực cuộc sống

h n có những cơn sóng vỗ vào thành vách tư tưởng của tác giả để có những xao động trong quá trình sáng tạo Vì vậy, tìm hiểu đối tượng nghiên cứu, chúng tôi không thể bỏ qua bối cảnh lịch s , những biến động cuộc đời Phạm Thiên Thư Phương pháp lịch s - xã hội ở đây chính là sự phối kết của văn học – lịch s - tâm

lí học

Trang 20

- Phương pháp nghiên cứu thi pháp học: Cả hai tác phẩm chúng tôi tìm hiểu đều được viết b ng thể thơ lục bát Chúng tôi s dụng phương pháp này nh m chỉ ra những đặc trưng thể loại được tác giả tiếp thu đồng thời tìm hiểu những sáng tạo của nhà thơ trong sáng tác của mình ở chương 3 của luận văn

6 Đóng góp của luận văn

Qua luận văn này, chúng tôi mong muốn hệ thống hóa các quan điểm đánh giá, phê bình về thơ Phạm Thiên Thư; khắc họa chân dung một nhà thơ độc đáo theo tinh thần lấy điểm chỉ diện để chỉ ra những n t đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong thơ ông, đặt trong mối tương quan so sánh với các nhà thơ c ng thời Đặc biệt, với lợi thế đã tiếp xúc trực tiếp với tác giả, chủ nhân của luận văn có thể trao đổi những vấn đề còn mơ hồ trong cách hiểu từ ngữ trong thơ để có thể hiểu một cách thấu đáo hơn Đồng thời, tác giả luận văn cũng cập nhật những sáng tác mới của nhà thơ làm cho công trình trở nên đầy đặn, có thể trở thành một tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu về nhà thơ tài hoa này

7 C u trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, trọng tâm của luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Phạm Thiên Thư: Cuộc đời và hành trình thơ

- Chương 2: Cảm quan Phật giáo trong thơ Phạm Thiên Thư qua Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh nhìn từ nội dung thể hiện

- Chương 3: Cảm quan Phật giáo trong thơ Phạm Thiên Thư qua Động hoa vàng và Đoạn trường vô thanh nhìn từ nghệ thuật biểu đạt

Trang 21

Chương 1 PHẠM THIÊN THƯ: CUỘC ĐỜI VÀ HÀNH TRÌNH THƠ

1.1 Cuộc đời Phạm Thiên Thư với nhiều mối lương duyên

Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh ngày 01.01.1940 trong một gia đình làm nghề Đông y và chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật đạo Cha ông là Phạm Ngọc Luyện, quê ở xã Đình Ph ng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Cha Phạm Thiên Thư làm nghề bốc thuốc Bắc và thỉnh thoảng vẫn làm thơ Ông còn nhớ, cha ông đã từng đạt giải Nhì về thơ do một tờ báo ở Hà Nội tổ chức Ông kể

r ng cha ông có tham gia du kích chống Pháp, trong lần đưa thư từ Việt Nam qua Lào đã bị giặc Pháp phục kích sát hại, khi đó ông mới 10 tuổi Mẹ ông là lương y Đái Thị Thành, quê ở xã Trung Mẫu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Nơi ông chôn nhau cắt rốn ở Phường Lạc Viên, Quận Ngô Quyền, Thành phố Hải Phòng Năm

1942, cha ông có mua trang trại Đá Trắng tại Chi Ngãi, Chí Linh, Hải Dương Khi ông lên 5 tuổi, cả gia đình mới rời lên đó, có rất nhiều hoa vàng Ông kể: Năm

1942, khi cả gia đình còn ở xã Chi Ngãi, huyện Chí Linh ( ải Dương), bố tôi mua

h n ngọn đồi Phượng oàng oa cúc dại vàng mênh mông, bát ngát chạy dài che khuất đường chân trời” Có lẽ vì vậy mà thế giới nghệ thuật trong thơ ông tràn ngập sắc vàng Trong đời thường, ông đặt tên cho quán cà phê của mình là Quán Hoa Vàng Và lần nào tôi tới thăm ông, trên cái bàn nhỏ đều có bình bông vàng như là một cách để ông nhớ về thời một thời đã xa

Theo như ông kể, sau khi sinh ba người chị (Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Liện, Phạm Thị Tâm), cha mẹ ông có đến đền Nguyễn Minh Không – Thiền sư nhà Lí, chữa bệnh cho vị vua hoá hổ Lí Thần Tông) cầu tự Thuở nhỏ, ông rất khó nuôi nên được bán khoán cho chùa, bị bệnh uống thuốc không khỏi nhưng đi ch a cầu lại yên Vì vậy, d là con út nhưng cả nhà không gọi tên mà đều gọi là cậu

Ngay từ khi còn nhỏ, ông đã bộc lộ năng khiếu thơ ca nhưng lại mơ ước làm người chiến s Cảnh non nước hữu tình ở các vùng quê Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh sớm in sâu trong tâm trí ông Và sau này, trong những trang thơ, địa danh thân thuộc được nhà thơ đưa vào một cách rất tự nhiên như để sống lại miền kí ức êm đềm của tuổi hồn nhiên

Trang 22

Năm 1954, ông theo gia đình vào Nam sinh sống, theo học Đại học Vạn Hạnh Từng có ước mong theo nghiệp v nhưng sau một biến cố trong cuộc đời, ông xuất gia vào chốn Thiền môn Chuyện là gia đình ông vốn có truyền thống võ học quy tụ cả trăm người Rồi ông có nhóm bạn thơ họa Hồ Quý Ly, tụ tập đàn đúm thơ phú đêm ngày Ng i thấy đám văn nghệ s này cứ "ương ương dở dở" có mùi, cảnh sát chế độ Sài Gòn cũ đã vây bắt Ông từng trôi dạt, ăn cơm chay các ch a Vạn Thọ (Q.1), Kỳ Quang, Bà Đầm (Q.Phú Nhuận), rồi Đại học Vạn Hạnh Sau

đó, ông phải ẩn tu vào chùa Vạn Thọ gần kênh Nhiêu Lộc từ năm 1964 đến 1973 với Pháp danh Thích Tuệ hông Cũng nhờ vậy mà ông không phải cầm súng sát hại đồng bào mình Đi tu, thực ra với ông không h n là tìm một chốn nương náu,

mà ông ngộ ra một điều, ông đã tự tìm cho mình một cõi riêng, một kiểu tu hành

riêng Điều ấy, ta cũng nhận ra trong đoạn phân thân ở Động hoa vàng:

Hỏi con vạc đậu bờ kinh

cớ sao lận đận c i hình không hư vạc rằng:

thưa c Thiên Thư mặc chi cái áo Thiền sư ỡm ờ

(tr 68 – Động hoa vàng)

hông mong mình là nhà thơ nên Phạm Thiên Thư làm thơ để trải lòng mình chứ không làm thơ chuyên nghiệp Vì vậy, mãi đến năm 1968, ông mới tự xuất bản tập thơ đầu tiên, chủ yếu để tự đọc, tặng một số bạn bè thân thiết Thật ra, trong cuộc đời sáng tác, Phạm Thiên Thư không mong mình nổi tiếng Ch ng thế mà có nhiều hôm có những nữ sinh tìm đến quán oa Vàng hỏi thăm nhà thơ Phạm Thiên Thư, lão nông dân” kiêm luôn việc trông coi xe, dẫn khách vào ra cười hiền hậu đáp: Nhà thơ đi vắng rồi!”

Từ khi còn ở trong ch a, nhà thơ đã có cơ duyên gặp gỡ nhạc s tài danh Phạm Duy Ông tự khiêm tốn ví von việc gặp gỡ này giống như một ngọn núi gặp một đám mây” Bởi vì chưa ai biết Phạm Thiên Thư là ai nhưng cái tên Phạm Duy

Trang 23

đã lừng danh khắp nơi Tuy nhiên, theo Thiên Ca (2014) nhạc s họ Phạm lại cho

r ng duyên gặp gỡ nhà thơ họ Phạm đã giúp cuộc đời, sự nghiệp của mình thoát khỏi cảnh chán chường, bế tắc:

Lúc đó tôi tự coi mình là kẻ từ quan tìm được nơi ẩn náu là c i thơ Phạm Thiên Thư Gặp Phạm Thiên Thư tôi như thoát xác, vượt ra khỏi những đắng cay chán chường và bế tắc của tâm ca, tâm phẫn ca, vỉa hè ca Tôi muốn th

đi vào đạo với một tu s mà cái uyên thâm về đạo giáo chắc chắn phải hơn tôi rất xa (tr 3)

Từ đó những vần thơ thánh thót, dặt dìu của Phạm Thiên Thư được chắp thêm đôi cánh bay bổng của âm nhạc Phạm Duy cứ ngân vọng mãi trong lòng công chúng yêu nghệ thuật

Dân gian ta thường nói: Thứ nhất tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu ch a” Ông đã thấm nhuần giáo lí nhà Phật, nhận ra mình có kiểu tu hành riêng Lại thêm trách nhiệm của người con trai duy nhất đối với mẹ già, ông quyết định rời cổng

ch a trở về với gia đình Sau khi hoàn tục, ông sống c ng gia đình tại ngôi nhà trên khuôn viên đất 400 m2

ở c lao Phan Xích Long quận Phú Nhuận trên đường àng

eo (bây giờ là khu vực đường oa Sứ, oa Lan) Nơi ấy, có căn nhà hình chữ L

có c a sổ trổ ra ban công trên gác nhìn ra một con kênh đó, nhà thơ trang trí tre nứa giản dị, mộc mạc, gần gũi với thiên nhiên và có thể thả hồn ngắm trăng sao, đón gió l a để tâm hồn xao động Trước c a căn nhà ấy, nhà thơ trồng một giàn hoa vàng tươi tốt quanh năm Đó cũng là nơi lui tới của nhiều văn nghệ s c ng thời như Trụ Vũ, Sơn Nam, Thụy Long…và nhạc s tài hoa Phạm Duy

Nổi tiếng trong làng thơ nhưng đường tình duyên của ông lại lận đận Ai cũng biết đến mối tình giữa ông và cô Hoàng Thị Ngọ qua bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị” Nhưng ông nói đó chỉ là cảm xúc của tuổi mới lớn Ông chỉ lẽo đẽo theo sau chứ thở mạnh còn không dám huống chi là…Là người kín tiếng, bà Hoàng Thị Ngọ quê gốc Hải Dương chưa từng một lần lên tiếng dù nhiều người đã cất công đi tìm Đã có một chủ báo ở Califoria từng nhận mình chính là nguyên mẫu

Trang 24

của Hoàng Thị Song khi tôi hỏi, ông nói r ng cô Ngọ bây giờ sống cùng chồng con

ở Đức

Ông có đến ba người vợ Vợ đầu là thi s Tuệ Mai (đã mất) – ái nữ của Á Nam Trần Tuấn Khải Người thứ hai đến bên đời ông là bà Mai Trinh Đỗ Thị - người đã bỏ ông ra đi Bà là con gái rượu của nhà văn oàng Ly, một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết đường rừng nổi tiếng ở những thập niên 50 – 70 Sài Gòn Bà cũng là nhà thơ có tiếng Ông có ba người con trai với bà: Phạm Thiên Chương, Phạm Thiên Kim, Phạm Thiên Văn – cả ba người con đều tu Thiền (chỉ có anh Phạm Thiên Kim ở Thổ Nh ỳ là xây dựng gia đình và đã có con) Bây giờ, ông sống với bà thứ ba là nha s Trần Thị Như Báu tại quán cà phê Hoa Vàng trên đường Hồng L nh, khu cư xá Bắc Hải, quận 10, TP HCM Tất cả các bà đều đến với ông cũng bởi mê những vần thơ độc đáo, nhẹ nhàng mà vấn vương của ông Đặc biệt, nhà thơ tâm sự người vợ thứ ba này giống cô Ngọ như chị em song sinh vậy!

Sau năm 1975, có thời gian nhà thơ lui về… ở ẩn Từ năm 1976 đến 1981, Phạm thi s mở quán hớt tóc ở Lăng Cha Cả Từ 1981 – 1983 ông bán tạp hoá, rượu thuốc, trà đá… ở đường Lý Chính Thắng Bây giờ ngẫm lại, ông chia sẻ: Đời tôi làm nhiều thứ rồi nhưng chả thứ gì ra hồn Tôi thấy thành công chỉ đến khi tôi làm thơ”

Từ năm 1983, ông còn nghiên cứu cách chữa bệnh, rèn luyện sức khoẻ thành công theo phương pháp tự thân có tên là PHATHATA cứu độ chúng sinh trước cơn bão càn quét của đại dịch thế kỉ Nghiên cứu của ông đã được Hội Đông y thành phố công nhận và được nhà nước trao tặng b ng khen Ông được bác s – nghệ s Trương Thìn, Viện trưởng Viện Y học dân tộc mời về cộng tác với Viện Trong suốt thời gian ấy, Phạm Thiên Thư vẫn thỉnh thoảng cho đăng báo những bài thơ ngắn và sinh hoạt ở Hội Nhà văn TP HCM Phạm Thiên Thư thực sự hoà nhập trở

lại với văn đàn khi trường thi Đoạn trường vô thanh của ông được tái bản vào năm

2006

Trang 25

tuổi gần bát thập, trình làng khoảng 500.000 câu thơ, nhà thơ vẫn miệt mài sáng tác thơ về đạo Phật Tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp của tác giả, ta thấy có rất nhiều điểm tương đồng ngẫu nhiên với cuộc đời và sự nghiệp của đại thi hào

Nguyễn Du Tác giả của Đoạn trường vô thanh luôn tin r ng Phạm Thiên Thư là

Nguyễn Du tái thế! Ông có trao cho tôi những cơ sở về sự tương đồng ấy mà ông đã cẩn thận, nắn nót ghi lại

Như vậy, như nhân duyên từ tiền kiếp, cuộc đời thi nhân – cư s Phạm Thiên Thư gắn liền với Phật giáo Chính niềm tin nơi Đức Phật đã khiến ngòi bút nhà thơ thăng hoa tạo nên một Phạm Thiên Thư bừng nở giữa thi đàn Ông viết nhiều, viết khỏe như rót thơ từ vô thức Cùng với đó, vị cư s tại gia đã d ng thơ để truyền toả đạo Phật khắp cõi hồng trần, để Phật t thấm nhuần tư tưởng Phật giáo dễ dàng hơn

1.2 Hành trình thơ Phạm Thiên Thư

Ông chia sẻ: Tôi theo nghiệp thi ca từ nhỏ, ba, bốn tuổi đã thích thơ và nhiều lần ứng khẩu thơ với cha” Tới năm 13 tuổi, ông bắt đầu làm thơ, học v để

trở thành v sư và đặc biệt rất thích học Thiền Năm 1954, khi mới 14 tuổi, ông theo

mẹ di cư vào miền Nam, cư ngụ tại khu Tân Định, Sài Gòn Đó là một căn nhà nhỏ

n m đ ng sau chợ Tân Định cách trường Trung học Văn Lang, nơi ông học, gần một cây số Trong lớp, ông có tình cảm đặc biệt với cô oàng Thị Ngọ - người gốc

ải Dương Cũng theo ông kể: ồi ấy nhà Ngọ ở trên đường Trần Quang hải Tan trường, Ngọ ôm cặp đi phía trước, ông lẽo đẽo theo sau Dáng người thanh mảnh, mái tóc buông lơi đã gieo vào lòng ông những cảm xúc vấn vương để sau này ông viết Ngày xưa oàng Thị” Thi phẩm đã được nhạc s Phạm Duy phổ nhạc

và được đông đảo công chúng yêu thích, trở thành một hiện tượng ca nhạc ở miền Nam những năm 70, được coi là một trong những tình khúc vượt thời gian:

Em tan trường về Đường mưa nho nhỏ Chim non giấu mỏ Dưới cội hoa vàng…

Anh trao vội vàng

Trang 26

Chùm hoa mới nở

Ép vào cu i vở Muôn thuở còn vương

Tình yêu trong thơ ông luôn kín đáo, bẽn lẽn, nhẹ nhàng, thánh thiện kiểu kính nhi viễn chi” Bài thơ được viết khi ông đã quy y c i Phật Nhưng không phải

là thất tình đi tu Điều này đã được chính bà Ngọ xác nhận khi người ta tìm đến phỏng vấn bà tại M vào tháng 8/2005 Và lạ l ng thay, người vợ thứ ba của ông hiện tại lại giống cô Ngọ y đúc!

Song đây không phải là bài thơ tình đầu tiên của tác giả hi đã khoác trên mình màu áo nâu sồng, nhà thơ chứng kiến tình yêu của một chú tiểu trong ch a với

cô bé Phật t Về sau, cô b chết trong lần trốn chạy cuộc hành quân của lính Cộng hòa, chú tiểu xót xa, buồn thương khiến ông thổn thức viết nên Vết chim bay”:

Ngày xưa anh đón em Nơi g c chuông chùa nọ Con chim nào qua đó Còn để dấu chân in Anh một mình gọi nhỏ Chim ơi iết đâu tìm

…Ngày xưa em qua đây Cho tình anh chớm nở Như chân chim muôn thuở

In mãi ực thềm rêu Cõi người có ao nhiêu

Mà tình s u vô lượng Còn chi trong giả tướng Hay một vết chim ay

Năm 1969, ông viết Kinh Ngọc – Qua su i mây h ng (thi hoá tư tưởng kinh Kim Cương) với tâm nguyện cúng dường dâng Phật:

Đức vô thượng Như Lai

Trang 27

Chúng sinh c u đạo cả, Chí an trụ nơi đâu,

tư tưởng Tính Không gần gũi, giản dị:

Dùng tâm thân huyễn vọng, Nhìn vạn pháp mây trôi

Thấy chăng Như lai tướng?

Chỉ thấy nước trăng trôi

(tr 17 - Kinh Ngọc – Qua su i mây h ng) Đánh giá ý ngh a của kinh Kim Cương, Giáo sư Nguyễn Đăng Thục đã từng

chia sẻ: Giữa lúc nhân dân đang chịu cảnh tàn sát, lòng người bất an mà ta tụng

niệm kinh Kim Cương thì thấy tâm hồn dịu lại”

Trong cuốn này, có tuỳ bút văn xuôi: Ngã pháp mây nổi và Hiện hoá pháp

ông viết trong vòng 4 ngày năm 1969 hác với yêu cầu hàm súc của thơ ca, trong

tản văn Ngã ph p mây nổi, Phạm Thiên Thư trải lòng mình với những suy tư, trăn

trở về ý ngh a sinh tồn trên c i đời, về sự tỉnh thức, chân tâm giả tướng:

Chỉ còn tôi và dòng sông dưới kia vẫn tỉnh thức cô quạnh Tôi phải thức với dòng sông, thức vĩnh cửu cho dòng sông chảy mãi, tôi chợt âng khuâng trước một óng bóng dáng trên tường Không đó chỉ là chân dung của tổ B -Đề v c Thiền trượng khai th trên vai, treo chiếc gi y cỏ vi mạt vô minh như một chấm than chênh vênh cu i cùng; chiếc gi y duy nhất đạp lên Nh tướng để lìa cả sự ra đi Trở về và ra đi cũng chỉ là sự gỉa danh, chỉ sự lênh đênh của cuộn mây tr ng Trở về chỉ là sự ra đi trùng sinh, sự ra đi nhập diệu, vì hoàng hôn ên này là triêu dương ên

nọ, cũng như l cờ vĩnh cửu chỉ tung ay trong nhận thức, dòng sông chỉ

Trang 28

chuyển d ch trong huyết mạch, ia mộ chỉ là ia mộ của ảo tưởng thường tại; ảo tưởng này là iến chứng của tâm ệnh tham chấp và mê loạn

(tr 65, 66 - Ngã ph p mây nổi) Còn ở trong Hiện ho ph p, những trăn trở ấy trở nên gi ng x hơn, chứa

đựng triết lí cao sâu, uyên bác hướng con người đến sự giải phóng khỏi khổ não

Tất cả mọi khổ não đều b t đ u từ ý thức Sự giải phóng t i hậu phải là sự giải phóng con người ra khỏi gỉa ngã, và thiên chấp sai biệt Con người vượt thoát hiện tượng giới tức là chuyển đổi tư tưởng giới, giải phóng mọi ràng buộc nô lệ, mọi đ nh thức gi o điều, để ước vào ngưỡng cửa một tâm giới mới, an trụ ở Vô trụ Vô trụ mà thực ra dung hóa được toàn thể trở lực Tôi cho rằng Hiện Hóa Pháp của người Việt hoàn toàn bỏ xa Biện Chứng pháp của Hégel; một thứ biện chứng duy lý, ngưng đọng dựa trênnhững đường xoáy ảo tưởng: một đ u là ngôi v t i cao, một đ u là hư

vô mở rộng Hiện Hóa Pháp Việt Nam không dựa trên một đ nh thức, một con đường nào, nên không chỗ b t đ u và cũng không nơi cu i cùng, mà chỉ là cánh cửa mở tung nhận thức, đập tan mọi kiến chấp hư ngụy để đ i mặt với thực tại ảo diệu, duyên khởi, toàn kh p và nhất như của dòng

s ng, "Khôn cũng chết, Dại cũng chết, Biết thì s ng", "Khôn, Dại" là hai mặt của cuộc đời, là hai cực của tiêu chuẩn hành động, là hai vế của Nh nguyên

(tr 77 - Hiện ho ph p) Động hoa vàng sáng tác năm 1969 trong 7 ngày nhưng phải đến năm 1971

mới xuất bản Tập thơ gồm 100 bài lục bát được trình bày với hình thức khác lạ bộc

lộ nỗi niềm của một bậc chân tu giữa cỏ cây hoa lá, cuộc sống vô thường, với mối tình thuần hậu, sáng trong:

rằng xưa có gã từ quan lên non tìm động hoa vàng ngủ say

(tr 49 - Động hoa vàng)

Trang 29

…Đợi nhau tàn cuộc hoa này đành như c nh ướm đ i tây hững hờ

(tr 23 - Động hoa vàng) Đoạn trường vô thanh chấp bút từ năm 1971, được rất nhiều bạn bè động viên để nhà thơ hoàn thành và được giới thiệu in dần dần trên tạp chí Bách Khoa

Tác phẩm đã đạt giải Nhất văn chương toàn miền Nam năm 1973, do Trần Tuấn Khải làm chủ khảo và đích thân Tổng thống trao giải nhưng nhà thơ không đến nhận Truyện thơ là sự tiếp nối cuộc đời Kiều sau kiếp đoạn trường, đoàn tụ cùng Kim Trọng và gia đình Cuộc đời Kiều đã được hóa giải những oan khiên, trở nên tươi sáng hơn, thanh thản, hạnh phúc nhờ có sư thầy dạy lẽ vô thanh và thấm nhuần

tư tưởng kinh Kim Cương Tác phẩm là 27 bức tranh cuộc đời mà ông vẽ nên b ng

Có một số dịch ra theo thể văn vần như bản của òa thượng Minh Châu và một số bản nữa Phạm Thiên Thư dám làm công việc chuyển đổi sang thể thơ tiếng Việt

Do vậy, công lao của tác giả là vô cùng to lớn, không chỉ đóng góp vào kho tàng

văn học Phật giáo của dân tộc mà còn góp phần phổ biến kinh Phật rộng khắp Kinh Thơ là những lời dạy về triết lí và luân lí do chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

thuyết giảng trong suốt thời gian 45 năm hoá độ chúng sinh Về sau, qua nhiều thời

kì Kết Tập Tam Tạng (Kinh - Luật - Luận), các bậc cao tăng đệ t mới ghi chép lại thành những câu kệ, bài tụng nh m thâu tóm toàn bộ tinh hoa giáo lí uyên áo hiện

có tản mát trong các kinh văn

Theo Thượng toạ Thích Đức Nhuận (1971): Kinh Thơ toàn tập gồm 26

phần, 423 bài tụng và là cuốn kinh thứ 7 trong số 15 cuốn thuộc Tiểu bộ, cũng gọi

Trang 30

là Tiểu A hàm hay Tạp Tạng, n m trong Kinh tạng đạo Phật” mỗi phẩm, người viết kinh đều diễn giải k lưỡng, thấu đáo các vấn đề khác nhau của cuộc sống muôn

vẻ Vì vậy, Kinh Thơ được coi là khuôn mẫu sống cho tất cả các c i, là con đường

dẫn tới giải thoát và giác ngộ

Đọc Kinh Thơ, ta hình dung cảnh thiên nhiên thơ mộng như cõi thần tiên

đó có Từ phụ thuyết pháp, xung quanh là các tỳ kheo xếp hàng lớp lớp trầm hùng như những ngọn núi:

Một thuở, nơi động hoa sỏi ngọc ùn mây tr ng hàng hàng giải tho t tăng

tr m hùng như núi lặng trên cội đ rêu h ng hiền giả A Nan tụng lời như mưa xuân mau như chuông tr m núi thẳm

Như ta đã biết muốn tu hành chính pháp thì điều căn bản là mọi người cần phải thực hành những lời dạy vàng ngọc:

Không làm các việc ác

G ng làm mọi hạnh lành Giữ tâm ý trong sáng

Ấy lời chư Phật dạy

Đó là bức thông điệp muôn thuở mà Đức Phật đã truyền đạt cho con người trong cõi đời này Và nhà thơ Phạm Thiên Thư đã truyền lại cho chúng ta một cách dễ nhập tâm hơn

Nói tóm lại, Kinh Thơ cũng như tất cả kinh điển đạo Phật đều có chung một

mục đích, là dạy cho con người nhận chân được cuộc sống để sống đúng với ngh a sống cao đẹp, là phương thuốc thần diệu để điều trị mọi tâm bệnh, căn bệnh đau khổ của chúng sinh đưa muôn loài đến an lạc, tự tại và giải thoát

Trang 31

Cúng dường kính tặng thơ hoa Trải tam thế mộng một toà s c hương Kiếp sau làm chim làm sương

Hiện chân thường giữa vô thường thế gian Kinh Hiền (Hội Hoa Đàm) gồm 12.062 câu viết trong một năm rưỡi (từ năm

1971) và được nữ s Trần Thị Tuệ Mai nhuận sắc, do cơ sở Văn Chương ấn hành

năm 1973 Phạm Thiên Thư đã chuyển thành thơ từ bản Việt dịch kinh Hiền Ngu

của HT Thích Trung Quán Cuốn kinh này gồm 7 quyển, 46 bài từ bản dịch chữ Hán của Sa-môn Tuệ Giác đời Nguyên - Ngụy; gồm 13 quyển, 69 bài từ Phạn bản

là Damamuka Nidana Sutra thuộc Tạp tạng (Sayukta Nipata) Kinh Hiền Ngu gọi

đủ là Hiền Ngu Nhân duyên kinh Đây là một bộ kinh bao gồm gần như toàn bộ

những yếu pháp của giáo lý Phật giáo: Vô thường, duyên khởi, nhân quả, Bồ-tát hạnh với nỗ lực tu hành cao độ, từ bi, trí tuệ, nhẫn nhục, tinh tấn… Tất cả được trình bày trong bối cảnh thời tiền thân Đức Phật và lúc Ngài còn tại thế, chủ yếu qua những câu chuyện mang tính chất bình dân, dễ hiểu, dễ phổ biến

Nói như oà thượng Thích Giác Toàn (2012): Việc chuyển ý kinh ra thể thơ lục bát của Phạm Thiên Thư hình như là một biệt tài, một sở thích, một yêu cầu mang tính bổn phận của người con Phật, lại hình như là một nhu cầu làm thơ” (tr.6)

Và năm 2009, tác phẩm Kinh Hiền của ông đã được Trung tâm Sách lục Việt Nam công nhận k lục “T c phẩm thi ho theo thể thơ lục t dài nhất Việt Nam”

Đó là sự thể hiện tính chất của thi ca, êm ái, nhẹ nhàng, bồng bềnh, gợi cảm trong nghệ thuật tả cảnh lộng ý mà ta thấy trong những câu thơ chen vào câu chuyện kể

Đọc thơ Phạm Thiên Thư, ta hình dung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, tinh khiết, nơi tu hành của chư Tăng:

Su i mừng cất tiếng nao na Sương mừng rơi ướt hạt nào long lan Dưới ờ dương liễu rờn xan

Trang 32

Chúng Tăng t nh mặc kinh hành đạp hoa

thêm một đời sống khác Nhạc s Phạm Duy đã chọn một đoạn trong hai tác phẩm

này phổ thơ với tên gọi Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đo hoa s u Rồi sự gắn bó thân tình giữa hai người nghệ s tài hoa đã cho ra đời 10 bài Đạo ca Điều ta

khâm phục nhà thơ ở bút lực dồi dào, cảm xúc tuôn chảy tự nhiên mà minh chứng là

10 bài Đạo ca ông chỉ sáng tác trong 2 ngày

Xưa em làm kiếp ao, ưu tư mùa cu i Hạ Anh làm chim ói c , đậu soi mấy mùa trăng Xưa em là chữ iếc, nằm giữa lòng cu n kinh Anh là Thiền sư u n, ng i tụng dưới nh trăng Xưa ta hẹn với nhau, tìm nhau giữa vô thường Anh ho thân làm mực, thấm vào cu n kinh thơm Mai sau chờ nhau nhé, đ u thai vào kiếp hoa

Ch n mây mờ phiêu ạt, chờ đợi chim hót ca

A ha, ta tuy hai mà một ! A ha, ta tuy một mà hai !

A ha, ta tuy hai mà một ! A ha, ta tuy một mà hai !

(Đạo ca một – pháp thân) Nổi tiếng với tài thi hoá Kinh Phật, Phạm Thiên Thư còn là một thi s đa

tình Ngày còn đi học ở trường Trung học Văn Lang, nhà thơ thầm thương trộm nhớ một cô nữ sinh họ oàng để rồi ngày ngày lẽo đẽo theo sau nhưng lời yêu chưa dám

ngỏ mà chỉ thổ lộ trong thơ Năm 1973, ông sáng tác Ngày xưa người tình khi

những kỉ niệm xưa cũ a về Tập thơ gồm hơn 70 bài thơ ngắn có tên cho từng bài

Trang 33

Tập thơ in vừa bàn tay cầm đọc từng là món quà tặng của những cặp tình nhân một thuở Bản nhạc "Ngày Xưa oàng-Thị" do Phạm Duy phổ từ thơ Phạm Thiên Thư cũng được rút ra từ tập thơ này

ngày sinh - nhật anh gởi đôi sợi tóc

th t nơ nhung xanh trong khăn lụa bạch hai sợi tóc mai sợi v n, sợi dài lấy nhau chẳng đặng

em ơi thương hoài trời sinh thiên-tài

ng i ôm sợi tóc

(Sinh nhật)

Nhiều chàng trai cô gái như tìm thấy mình trong những dòng thơ nhẹ nhàng mà vương vấn Những tâm sự rất đời thường, gần gũi được tác giả diễn tả thành thơ trở thành phương tiện trao g i tâm tình của người trong cuộc

Năm 1974, ông viết Kinh Hiếu Kinh này là cuốn Kinh số 687 trong Đại tạng Kinh Kinh này mất tên người dịch chữ Phạn ra chữ Hán Bản kinh là những lời

huấn đạo lòng hiếu thảo cho con cháu:

Xả oán nghiệp muôn nghìn tội khổ, Cứu chúng sinh khỏi chỗ nguy nàn

Chư tăng nhiếp thọ cúng dàng, Bảy đời cha mẹ tho t đàng tr n lao

Hoặc cõi tr n sinh vào an hưởng,

L u hào quang, hình tướng tuyệt vời

Th n thông du hý nơi nơi, Phúc oai tự tại, mạng thời dài lâu

(tr 16 – Kinh Hiếu)

Trang 34

Cũng trong năm này, ông sáng tác Quyên từ độ bỏ thôn Đoài gồm 111 bài

trong 23 ngày Trong đó có bài:

trang kinh mây nổi trước hiên nhà những dòng mây như những dòng hoa gọi người nơi cõi mê ừng thức

đập tan cửa hoặc thoát hình ra

(Kinh Mây)

Sau ngày 30 4 1975, đất nước hoà bình thống nhất, khúc khải hoàn ca vang

ngân khắp hai miền Bắc Nam, ông viết Kinh H ng ca ngợi chế độ mới Nhưng tác

phẩm này đã bị cháy, mất cả bản thảo

Sở trường viết thơ lục bát, 51 trang thơ Trại hoa đỉnh đ i ra đời năm 1975 đã

làm giàu thêm gia tài vốn đã giàu có của nhà thơ

Gian nhà rạ hướng đông phương Bên ờ su i m t dưới nương dứa vàng

Ta từng hỏi nước mênh mang Rằng đi r i có nhớ trang trại h ng

Vẫn cảnh bình dị, thân quen, những câu thơ đưa ta về với nếp nhà mái rạ đơn sơ giữa núi rừng mênh mông t nh lặng

Trong 2 năm 1975 – 1977, ông viết Huyền ngôn xanh Tác phẩm là những

cách ngôn giản đơn, nhẹ nhàng kết tinh từ cuộc sống, trải nghiệm mang tính giáo dục cao và sự thấu hiểu Phật pháp:

Có những loài hoa đẹp - không hương thơm - không phải vì thế mà mất đẹp

Có tấm lòng thiện mỹ - không ai hay - không phải vì thế mà chẳng dâng hương Các chủ đề chính của cuốn sách gồm: Phẩm oa ương, phẩm Ngà Ngọc,

phẩm Cười Khóc, phẩm Chiêm Bao, phẩm Trăng Sao

Từ năm 1976 đến năm 1987, ông trăn trở, chiêm nghiệm về lẽ đời Bao nhiêu

tâm tư được nhà thơ kí thác trong Nhân gian Vẫn với sở trường viết thơ lục bát, thi

Trang 35

s có tập thơ viết b ng thể thơ truyền thống của dân tộc Một trăm bức tranh b ng ngôn ngữ được ghi lại trong những phút xuất thần:

Nằm nghe lãng đãng mưa ay Như h n ướm cũ về say nghìn trùng Mệnh đàn tơ chửa ngưng rung

Hạt mưa gieo nhẹ năm cung mơ màng

(tr 6 – Nhân gian) Ngoài ra ông còn viết những lời Tân ngôn với những chiêm nghiệm về lẽ đời

ở nhiều phương diện:

1146 Mưu sâu - thì đ u phải rộng

1147 Tính trước - mới ước sau

1148 Tính vững – thì đứng ch c

(tr 63 – Tân ngôn – viết ngày 24/3/1993)

Là người Việt Nam không ai không biết đến câu chuyện truyền thuyết Sơn Tinh Thuỷ Tinh Năm 2003, Phạm Thiên Thư trở về với thời vua Hùng thứ mười tám viết nên Vua núi vua nước (tức Sơn Tinh, Thuỷ Tinh)

Một sớm mai tuyệt vời

Mỵ Nương về đỉnh núi Làn su i mây lưng trời Đưa Nàng lên chơi vơi

B y hạc vàng lượn múa Hoà sáo trúc vô thanh … Năm 2007, nhà thơ viết Những lời thược dược thể hiện cái nhìn về cuộc đời

nhân thế đầy nhiệm màu đáng sống biết bao nhiêu:

Hoa nhiệm m u trong ta Đất nhiệm m u trong nụ Cây dương c m vũ trụ Đất góp khúc tình ca

Trang 36

Nhân dịp cả nước hướng về Thăng Long – Thủ đô ngàn năm văn hiến, nhà

thơ cho ra đời tập thơ Hát ru Việt sử thi (2009) gồm 3277 câu lục bát (không phải

3225 câu như ghi nhận của ông Trần Thế Phiệt) ghi lại lịch s từ thời ng Vương đến Tây Sơn Năm 2010, Nhà xuất bản Thanh niên tái bản chỉ sau 2 tháng phát hành sách, tác giả có bổ sung thêm 58 câu nữa (không phải 10 câu như nhà thơ – nhà văn Trần Thế Phiệt thống kê) thành 3335 câu lục bát Đây là việc làm hết sức ý ngh a khi giới trẻ ngày nay ít nhiều xa rời lịch s , truyền thống dân tộc Đó là sự về nguồn

có tính giáo dục cao Mỗi lời hát ru như kể lại thăng trầm lịch s được cất lên tự đáy lòng, tự trái tim người Việt Nam thấm đẫm ngh a tình Chuyện kể từ thuở vua Hùng dựng nước tới chiến thắng Đống Đa oanh liệt của người anh hùng áo vải Quang Trung hay câu chuyện Âu Cơ - Lạc Long Quân, Tấm Cám, Hát ru Mỵ Châu, cho tới các triều đại hưng thịnh rồi suy vong và cả các bậc tiền nhân lẫy lừng trong s sách

Cửu Chân có nữ tài ba Nay là họ Triệu, tên là Th Trinh

Võ văn thao lược, nhiệt tình Chí toan “chém c tràng kình iển Đông Cưỡi gió mạnh quét núi sông Cứu dân thoát ách nô vong bấy ngày”

Bà vào núi nứa ngàn mây Chiêu inh nghĩa dũng nghìn tay tung hoành Cùng Triệu Qu c Đạt – người anh Nổi lên vây thành quét sạch Cửu Chân Tôn xưng Nhụy Kiều tướng quân Cưỡi voi xông trận muôn ph n oai nghi

Ba quân theo ngọn tinh kỳ Giặc Ngô khiếp vía khác gì lá bay Lục Dận kéo đến tràn đ y Quân ta thế yếu trước b y sói lang

Trang 37

Máu h ng hoen cả giáp vàng Nhụy Kiều tự s t, tan hàng nghĩa inh

Hăm a tuổi đã hy sinh Tấm gương vì nước quên mình sáng soi

Nêu cao khí thế gi ng nòi Thêm h ng trang sử muôn đời khói hương

A ời, con nhớ noi gương Mai sau khôn lớn phi thường mà đi

(Hát ru Bà Triệu)

Vốn sinh ra từ đời và trưởng thành từ đạo, nhà thơ am hiểu uyên sâu về triết

lí Phật giáo và đã từng thi hoá nhiều bộ kinh Phật nên khi ghi lại lịch s , văn hoá dân tộc, nhà thơ không quên quá trình đạo Phật gieo hạt giống tốt lành trên mảnh đất cong cong hình chữ S:

Đạo theo những cánh bu m cao

Du tăng Đông Độ ghé vào Giao Châu

Tạo nên nề nếp an đ u Càng yêu dân tộc, càng sâu sức Thiền Bụt ra-Cô Tấm thành tiên

N m xương c ng cũng nên phượng h ng

Chỉ mấy câu thơ thôi, người dân Việt hình dung lại thuở đạo Phật theo các sư tăng vào Giao Châu b ng đường biển cùng các thuyền buôn rồi bén rễ, dung hoà

c ng tín ngưỡng bản địa để hưng thịnh như ngày hôm nay

Hay một dấu tích quan trọng trong lịch s phát triển của Phật giáo, một vị vua nhà Lí vốn xuất thân từ chốn Thiền môn:

Ngày xưa có một cảnh chùa

Có th y Vạn Hạnh già nua bạc đ u

Th y tr m tư lẽ nhiệm m u Làm sao hiện hóa Giao Châu diệu huyền

Giúp sao cho vạn đời lên

Trang 38

Cho nhân sinh hóa uyên tuyền một phương

Tìm trong kinh sử cho tường Tìm trong Thiền đạo con đường hội thông

Chăm lo dạy dỗ tiểu đ ng Lòng th y như ngọn lửa h ng sáng soi

Tre già cho lớp măng coi Dạy người để cứu gi ng nòi l m than Dạy con nuôi Lý Khánh Vân

Là Lý Công Uẩn tinh th n sáng cao

Rõ ràng một bậc anh hào

Th y đem nhật nguyệt gửi vào tuổi thơ Truyền võ nghệ, giảng inh thơ Thiền tâm, học thuật mong chờ r ng bay Biết bao tâm huyết đêm ngày Con đường Vạn Hạnh trao tay một người

À ơi! Đi kiếm cả đời Mong sao gặp được như người mà trao

Chính Thiền sư Vạn Hạnh đã giúp cho dân tộc tìm ra được vị minh quân để đất nước phát triển B ng tầm nhìn xa trông rộng của vị vua đầu triều Lí, kinh đô đất nước dời từ thành Đại La ra Thăng Long để đất nước hoá rồng Tập thơ thể hiện tâm huyết cùng vốn hiểu biết sâu rộng của một công dân đầy trách nhiệm đối với

lịch s dân tộc Nhà thơ hi vọng với Hát ru Việt sử thi, lớp trẻ hôm nay không

những hiểu được lịch s đầy biến động của dân tộc mà còn tìm lại những lời ru đã dứt trên môi những người mẹ để trẻ em được lớn lên với những tiếng ầu ơ ngọt ngào, êm dịu, để tâm hồn dân tộc lại chan chứa ân tình

Là nhà thơ nổi tiếng, luôn sống và ngh cho người khác nên ông muốn mở rộng đối tượng thưởng thức văn chương, ông đã b n duyên với văn xuôi Thai ngh n từ năm 1968 nhưng phải đến năm 2012, Phạm Thiên Thư mới khai hoa nở

nhuỵ tác phẩm văn xuôi đầu tiên của đời mình Cuốn Bạn cũ mỏng, vỏn vẹn có 110

Trang 39

trang, với 12 truyện ra đời phần nào giúp ông vơi bớt day dứt với mối tình c ng văn xuôi

Cũng trong năm 2012, ông cho xuất bản bộ Từ điển cười – Từ điển đời – Tiếu liệu ph p Ban đầu ông dự định viết trọn bộ chữ cái tiếng Việt nhưng mới viết

tới chữ G đã được 5000 mục từ đã gần 2000 trang nên ông tạm dừng lại Ví dụ, ông định ngh a về Bà Đanh:

Bà Đanh có lẽ cất ngôi chùa, Đanh đ - cho nên kh ch chẳng ưa

Chẳng ghé v i van, chùa v ng vẻ, Trở thành tục ngữ - tự xa xưa

(tr 94 – Từ điển cười) Với quan niệm cười vui đẩy l i bệnh, khổ, ông coi bộ từ điển trên đó là Tiếu liệu pháp – một kiểu chữa bệnh từ tinh thần mà bất cứ ai cũng thực hiện được Như dân

gian quan niệm: Một nụ cười b ng mười thang thốc bổ” Tác giả đã được Trung

tâm kỉ lục sách Việt Nam công nhận là Người Việt Nam đầu tiên viết Từ điển cười

b ng thơ”

Là nhà thơ quán thông tư tưởng uyên áo của đạo Phật, năm 2015, ông lại

trình làng tác phẩm Thi hóa kinh Lăng Nghiêm:

Khơi lò tr m thanh t nh Ngâm dòng thơ cúng dường Hào quang mười phương Phật Tỏa nh kinh hiền lương Nguyện a thời cõi ph p Tuyên lưu giải tho t hương Giờ Đại đ ng Di Lặc Quan Âm - Th nh Thủy đường Thơ Lăng Nghiêm đệ tử

Đất Việt th p mười phương

Trang 40

Ông cho r ng sau những trang kinh là những huyền vi diệu vợi nên đã thi hóa kinh Phật sang ngôn ngữ đời thường cho nhiều người dễ đọc, dễ hiểu

Cũng bởi nặng lòng duyên nợ với văn xuôi, năm 2016, ông lại trình làng

Lòng đau không tiếng (chuyển thể của Đoạn trường vô thanh) Mở đầu tác phẩm có

đoạn:

Lòng người như đ m mây xanh, t ng t mênh mang, và tấm thân kia, với hạt sương tụ lại, trên những c nh Tâm mai vừa nở.Cho nên trong đời người - như những đ m mưa ay thoảng xu ng; chớp lóe đêm đêm Vậy kiếp người càng đi càng thấy - một nỗi dặm dài, nỗi nỗi cô đơn.Vậy chiếc Thân Tâm - một cõi nghiệp màu h ng, lênh đênh mảnh trăng chìm xu ng,

ên sông ềnh ng mây nổi Giam sự con người tài năng, s mệnh, giả

d i và chân thực - Dù trăm năm kia h dễ nào, một l n ay cao đó… Ôi! Đau lòng chu t thoảng tiếng đàn Đời Kiều năm cung nước chảy, lại trao phận nàng Biết ao nhiêu l n nhục vinh đau khổ - Khiến ta, khiến người -

tự vượt lên, qua khỏi mọi tâm tình, tr c trở Nếu có Sổ Đoạn Trường kia - thì ông hoa Kiều - chính xưa là giọt lệ, nay để lại thành hạt ngọc cho đời sau

(tr 5 - Lòng đau không tiếng)

Nhìn chung trong tác phẩm này tác giả giữ nguyên cốt truyện cũng như câu từ của thi phẩm đã đưa tên tuổi Phạm Thiên Thư lên đỉnh cao của làng thơ, có khác chăng chỉ là cách thức trình bày, sự giãn nở của câu văn cho ph hợp với hình thức văn xuôi

Cũng trong năm này, ông cho ra mắt Tân liêu trai Mỹ nhân H - thi hóa Liêu trai chí d của Bồ T ng Linh Vẫn trên tinh thần dẫn đường của tư tưởng Phật giáo,

ông răn nhủ:

Cướp là đi chạy Giải nghiệp con r i Đổng quỳ cúi xu ng

Ôi vạc kêu sương!

Ngày đăng: 18/04/2021, 22:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ristote & Lưu iệp. (1999). Nghệ thuật thơ ca và Văn tâm điêu long. Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà &Thành Thế Yên Báy. Hà Nội:Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca và Văn tâm điêu long
Tác giả: ristote & Lưu iệp
Năm: 1999
2. Bùi Bích Hạnh. (2015). Thơ trẻ Việt Nam 1965-1975: Khuôn mặt cái tôi trữ tình. Hà Nội: Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trẻ Việt Nam 1965-1975: Khuôn mặt cái tôi trữ tình
Tác giả: Bùi Bích Hạnh
Năm: 2015
3. Bùi Công Hùng. (2003). Sự cách tân của thơ Việt Nam hiện đại. Hà Nội: Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cách tân của thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Bùi Công Hùng
Năm: 2003
4. B i Văn Nguyên & à Minh Đức. (2003). Thơ ca Việt Nam: Hình thức và thể loại. Hà Nội. Đ QG N Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam: Hình thức và thể loại
Tác giả: B i Văn Nguyên & à Minh Đức
Năm: 2003
5. Cao Hữu Đính. (1971). Văn học sử Phật giáo. Sài Gòn: Minh Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học sử Phật giáo
Tác giả: Cao Hữu Đính
Năm: 1971
6. Cao Xuân Hạo. (2006). Đôi lời vô thanh, một người mà gần ba trăm năm sau… Phạm Thiên Thư (tác giả). Đoạn trường vô thanh (trang 202). TP.CM: Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoạn trường vô thanh
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Năm: 2006
7. Châu Minh Hùng. (2011). Nhạc điệu thơ Việt Nam qua những sáng tạo của thơ Mới. (Luận án Tiến s ). LA 20411 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhạc điệu thơ Việt Nam qua những sáng tạo của thơ Mới
Tác giả: Châu Minh Hùng
Năm: 2011
8. Đặng Hoàng Xa. (2014). Phật giáo và tâm thức. Hà Nội: Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo và tâm thức
Tác giả: Đặng Hoàng Xa
Năm: 2014
9. Đoàn Thị Thu Vân. (1996). Khảo sát một s đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỉ XI - XIV. Hà Nội: Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát một s đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỉ XI - XIV
Tác giả: Đoàn Thị Thu Vân
Năm: 1996
10. Đoàn Thị Thu Vân. (1998). Khoảnh khắc quên trong thơ Thiền. Tạp chí Văn học, Hà Nội, 4, trang 90 - 93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn học
Tác giả: Đoàn Thị Thu Vân
Năm: 1998
11. Đức Nhuận. (1970). Phật học tinh hoa. Sài Gòn: Vạn Hạnh xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học tinh hoa
Tác giả: Đức Nhuận
Năm: 1970
152. Đặng Tiến. (17/02/2014). Ngày xuân tìm Động hoa vàng. http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c300/n14236/Ngay-xuan-tim-Dong-hoa-vang.html Link
154. Đỗ Hồng Ngọc. (27/10/2014). Phạm Thiên Thư quyết giống Nguyễn Du. Đồng ương ontum. https://kontumquetoi.com/2014/10/27/bs-do-hong-ngoc-viet-ve-pham-thien-thu/ Link
157. Hồ Tấn Nguyên Minh. (11/02/2011). Động hoa vàng” của Phạm Thiên Thư – cõi Thiền hay không gian thoát tục. http://trannhuong.net/tin-tuc-7310-dong-hoa-vang-cua-pham-thien-thu-coi-thien-hay-khong-gian-thoat-tuc.vhtm Link
159. Lê Bá Duy. (07/01/2009). Thơ và đặc trưng của Thơ. http://baduy.vnweblogs.com/a121882/tho-va-dac-trung-cua-tho/page-3.html 160. Lê Bá Lư. (28/06/2015). Đến động hoa vàng gặp gã từ quan”.https://www.facebook.com/khucthuydu.sgn/posts/1591852637753440 Link
165. Nguyễn Ngọc Bích. Phật giáo trong truyện Kiều. (29/12/2010). https://thuvienhoasen.org/a8362/phat-giao-trong-truyen-kieu Link
166. Nguyễn Thị Tuyết (17/09/2015). Cảm quan và cảm quan nghệ thuật. Tạp Chí Sông Hương. http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p0/c7/n20975/Cam-quan-va-cam-quan-nghe-thuat.html Link
167. Nguyễn Thu Trân. (2013). Thi s Phạm Thiên Thư, Động hoa vàng miên man giấc mơ Việt. http://nhavantphcm.com.vn/chan-dung-phong-van/ngon-ngu-moi-cua-pham-thien-thu.html Link
170. Tâm Nhiên. (07/03/2013). Suối nguồn thi cảm Phạm Thiên Thư. Phật giáo Việt Nam. http://pgvn.vn/doi-song/201303/Suoi-nguon-thi-cam-Pham-Thien- Link
189. Vương Trọng. (08/01/2011). Câu lục lệch chuẩn trong Truyện Kiều. http://lucbat.com/news.php?id=6671 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w