Đề tài “Hiệu quá sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật?. Lịch sử vấn đề Nghiên cứu việc sử dụng yếu tổ ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong th
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN 3X of foe aoe ek ke aca
NGUYEN QUANG DAI
HIEU QUA SU DUNG CAC YEU TO
NGON NGU CUA PHONG CACH HOI THOẠI
TRONG THO PHAM TIEN DUAT
KHOÁ LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYÊN QUANG ĐẠI
HIỆU QUÁ SỬ DUNG CAC YEU TO
NGON NGU CUA PHONG CACH HỘI THOẠI
TRONG THO PHAM TIEN DUAT
KHOÁ LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3PHẢN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nói đến sáng tạo thơ không thể không nói đến sáng tạo ngôn ngữ
Nói đến nghệ thuật thơ không thể không nói đến nghệ thuật ngôn từ Trong
thơ, ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng Nó dường như vượt qua ngoài phạm trù hình thức Và chỉ có ở thơ vai trò của ngôn ngữ mới có tính đặc thù như vậy Do đặc trưng của thể loại, thơ nghiêng hẳn về phương diện bộc lộ
cảm xúc, tâm hồn, đôi khi có ngẫu hứng xuất thần Nhà thơ Hàn Mặc Tử đã
viết: “Người thơ phong vận như thơ ấy” Chính vì thễ, việc nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá cái hay, cái đẹp của tác phẩm, đồng thời góp phần khẳng định được nét độc đáo, phong cách riêng của mỗi tác gia văn học
1.2 Phạm Tiến Duật là một nhà thơ có tài và có phong cách độc đáo
Điều nay ai cing biét Nhung chỉ ra được một cách khoa hoc tai tho độc đáo
ấy, nhất là lý giải nó lại vô cùng khó Sự không biết mà dường như biết này làm cho ít ai “cất công di tìm cái vân tay mà nhà thơ đã điểm vào từng trang giấy” [15, tr.2] Tai nang cua Pham Tiến Duật là sự sáng tạo mới mẻ về nội
dung và hình thức nghệ thuật, đặc biệt là cách sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh Vì thế, các tác phẩm của ông không chỉ được đưa vào giảng dạy trong
nhà trường phố thông mà còn được đông đảo bạn đọc yêu mến
Việc nghiên cứu thơ Phạm Tiến Duật không những có ý nghĩa khoa học ngôn ngữ mà còn đáp ứng được yêu cầu của thực tế giảng dạy môn Ngữ văn
nói chung, phân môn tiếng Việt nói riêng trong nhà trường
1.3 Thơ Phạm Tiến Duật là một kiến trúc ngôn từ khác lạ, một ngôn
Trang 4thống kê, có thể chỉ ra được những nét độc đáo trong cách sử dụng ngôn từ Việc nghiên cứu ngôn ngữ để khẳng định phong cách cá nhân và sự sáng tạo của tác gia văn học là việc làm cần thiết của tất cả những người học văn và yêu văn Nghiên cứu ngôn ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật là đề tài phong phú khiến nhiều người quan tâm, trong đó nỗi bật lên là yếu tố ngôn ngữ khẩu ngữ trong thơ ông Đề tài “Hiệu quá sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật? nằm trong hệ thống các đề tài thuộc chuyên ngành phong cách học mà chúng tôi nghiên cứu Nó không chỉ
có giá trị về mặt lý thuyết, cho việc giảng dạy mà còn giúp cho học sinh thêm yêu quý hơn sự giàu có và phong phú của tiếng Việt
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn như trên, chúng tôi lựa chọn
nghiên cứu đề tài này
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu việc sử dụng yếu tổ ngôn ngữ của phong cách hội thoại
trong thơ Phạm Tiến Duật đã được nhiều tác giả quan tâm, khai thác ở nhiều khía cạnh:
2.1 Tác giả Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết “Jẳng trăng quảng lửa -
Tập thơ đẫu tay của Phạm Tiến Duật" [4 tr.381] đã chỉ ra bản chất của phong
cách hội thoại - yếu tố ngôn ngữ khâu ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật ở các phương diện:
- Đề tài:
Tác giả đã chỉ ra những “nét độc đáo, khó nhằm lẫn” trong thơ Phạm Tiến Duật đó là “Anh viết về bộ đội, về không quân, về những người lái xe, về thanh niên xung phong, về bà mẹ và em bé, cảnh sinh hoạt hằng ngày, về
Trang 5thiên nhiên và tình yêu” Đỏ chính là lỗi tư duy dân đã phù hợp với tâm hồn
và tính cách Việt
- Giọng điệu - kết cấu hình thức:
Phạm Tiến Duật đi đến cái hiện đại từ cái truyền thống, vần nhịp, dạng
thái câu thơ, hình thức kết cấu “đã có sức mạnh của nó” Nó phụ thuộc vào nội dung, biến đối cùng nội dung
- Ngôn ngữ:
+ Sử dụng rộng rãi ngôn ngữ đời thường, tự nhiên, sinh động Nhà thơ không phải “cø há” mà có thể “nói bình thường”
+ Các biện pháp kết hợp và so sánh bất ngờ, biến đối hình thức theo
nhu cầu của nội dung mới
+ Dùng phương thức ví von nhân hoá, dùng hình ảnh thiên nhiên dân
đã đề nói tới tình cảm của con người
+ Sử dụng lối đối đáp, các đại từ phiếm chỉ, từ láy
Hệ thống các luận điểm đã được tác giả Nguyễn Văn Hạnh khai thác,
phân tích khá chi tiết và được triển khai thành các ý rõ ràng, cụ thể Nhà
nghiên cứu đã nêu được những thành công của Phạm Tiến Duật về nội dung,
nghệ thuật và một số biểu hiện của yếu tổ ngôn ngữ đời thường trong thơ ông
Nhưng thực chất tính chất của chuyên luận là lý luận và phê bình văn học Vì
vậy, những biểu hiện mà tác giả đưa ra mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét,
minh hoa
2.2 Tac gid Dé Trung Lai trong “Mét chang đường thơ Phạm Tiến
Dud?” (10, tr.147] da viết “Nếu biết khí chất anh thì thấy điều đó càng đúng
Nhưng thông thường, ta phải làm ngược lại - từ thơ mà tìm ra khí chất nhà tho”[10, tr.147] Tác giả đã nhận xét về sự thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ đời thường trong thơ Phạm Tiến Duật “Trước Phạm Tiến Duật
Trang 6không phải chưa có người đưa những chỉ tiết thực vào thơ Nhưng có thể nói,
chưa ai làm được một cách ô ạt và thành công nhự vậy ” [10, tr.148]
2.3 Tác giả Mã Giang Lân trong “Nhận xét ngôn ngữ thơ hiện đại Việt Nam” [LI, tr.16] đã có những nhận xét chung về ngôn ngữ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ trong đó có Phạm Tiến Duật như sau:
“Đây là thời kỳ chuyển hoá giữa cái cũ và cái mới Khi thơ có tác dụng thiết
thực tới cuộc song, có ÿ thức gan bó chặt chẽ với cuộc sống của nhân dân thì
ngôn ngữ thơ thực sự là ngôn ngữ của nhân dân Các nhà thơ xuất hiện từ phong trào sáng tác của quân chúng ở các cơ sở sản xuất, các đơn vị bộ đội
đã có những đóng góp cho ngôn ngữ thơ Ngôn ngữ thơ của họ là ngôn ngữ cuộc sống, từ cuộc song đi vào thơ, không cầu kỳ, gò bó mà giản dị như lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân đân” [11, tr.L7]
2.4 Tác giả Trần Đăng Xuyền trong “Phong cách thơ Phạm Tiến
Dudt” [18, tr.43] cũng đã khảo sát, phân tích và làm nổi bật phong cách riêng của Phạm Tiến Duật Trong quá trình tìm hiểu tác giả đã đề cập tới các biểu
hiện về ngôn ngữ và khẳng định “Phạm Tiến Duật là nhà thơ trẻ trong thời kỳ
chống Mỹ, tiêu biểu cho khuynh hướng mở rộng cánh cửa nghệ thuật để ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày, ngôn ngữ xô bồ của đời sống và vào thơ Thơ anh như lời nói thường, sử dụng nhiều khẩu ngữ Ngôn ngữ thơ anh bạo mà không thô, đẽo gọt mà không uốn éo” [18, tr.45]
2.5 Trong bài “Cuộc thi thơ trên Báo Văn nghệ 1969, thành công tốt
đẹp”, đánh giá về những đóng góp của các nhà thơ đoạt giải trong việc tìm tòi những cách diễn đạt mới mẻ, độc đáo, Ban Giám khảo cuộc thi nhấn mạnh
“Thơ Phạm Tiến Duật hỗn nhiên mà sâu lắng, cụ thể mà khái quát, rất gân tiếng nói hằng ngày mà lại rất thơ ”
2.6 Bài “Cách tân của Phạm Tiến Duật trong Tiểu đội xe không kính”
Trang 7Tiến Duật, đồng thời tác giá cũng đã đề cập đến sự thành công trong nghệ
thuật cách tân, chính là sự cách tân về ngôn ngữ “Phạm Tiến Duật đã thành công trong việc tạo nên một ngôn ngữ thơ mới mẻ, thoát ly hẳn mọi ước lệ, mọi giọng điệu, âm điệu quen thuộc, thậm chí không cân đến mĩ từ Pháp Cái
mới mẻ đó chủ yếu là cải mới mẻ của đời sống ”, và tác giả đã khẳng định:
Phạm Tiến Duật là nhà thơ đã đưa “chất thơ sử thi lan thấm vào những vần
thơ đời thường” [7, tr.57]
2.7 Tác giả Mai Hương trong “7hơ Việt Nam qua hai cuộc chiến tranh
cách mạng” [6, tr.50] đã nhận xét khi phân tích bài thơ “1œ đèn” như sau:
“Từ ánh “lửa đèn”, Phạm Tiến Duật suy nghĩ và khái quát một cách độc đáo
về bản lĩnh, sức sống mãnh liệt của dân tộc Nhiều câu thơ, hình ảnh của bài
thơ gợi cảm, giàu chất dân gian nhưng cũng giàu triết lý - một thứ triết lý dân gian, hỗn hậu và tươi trẻ ” [6, tr.50]
Như vậy, việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật được nghiên cứu không chỉ ở lĩnh vực nghiên cứu
và phê bình văn học mà còn ở cả góc độ ngôn ngữ Các tác giả phần nào đã chỉ ra được hiệu quả nghệ thuật của ngôn ngữ hội thoại trong thơ Phạm Tiến
Duật Có thể nói đây là một van dé quan trọng, có giá trị lý luận và thực tế để
khẳng định phong cách thơ Phạm Tiến Duật Tuy vậy, các công trình nghiên
cứu mới chỉ dừng lại ở việc điểm qua, nếu có bàn tới thì chỉ bó hẹp trong một
tác phẩm hoặc là điểm xuyết trong cả chặng đường văn học Như thế, chưa thấy cái hay, cái đẹp và sự phong phú, sinh động của ngôn ngữ hội thoại trong
thơ Phạm Tiến Duật Mặt khác, những ví dụ trong thơ Phạm Tiến Duật được
lấy làm dẫn chứng chỉ để minh hoạ, thuyết minh và làm sáng tỏ cho một vấn
đề lý thuyết ngôn ngữ mà chưa được nghiên cứu chuyên sâu thành hệ thống Trên cơ sở gợi ý của các tác giả đi trước Chúng tôi lựa chọn đề tài
“Hiệu quá sứ dụng các yếu tố ngôn ngữ cúa phong cách hội thoại trong thơ
Trang 8Phạm Tiến Duật" với hy vọng đưa ra được những kết quá thống kê, phân
loại, nhận xét bước đầu về mức độ sử dụng và hiệu quả nghệ thuật của các
yếu tố ngôn ngữ hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật từ góc độ ngôn ngữ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Đề tài cung cấp những tư liệu giúp chúng tôi trong việc nghiên cứu, học tập thơ nói chung và thơ Phạm Tiến Duật nói riêng Mặt khác, góp phần vào việc bồi dưỡng cho bản thân năng lực phân tích và cảm thụ thơ văn Từ
đó, đề tài có thể là tư liệu phục vụ cho giảng dạy văn học và tiếng Việt ở nhà
trường phổ thông sau này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Tập hợp những vấn đề lý thuyết ngôn ngữ có liên quan đến đề tài
- Khảo sát, thống kê, phân loại các ngữ liệu ngôn ngữ (từ, câu, văn bản )
- Vận dụng phương pháp phân tích phong cách học đề chỉ ra đặc điểm
và hiệu quả sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, đồng thời qua đó khẳng định yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật từ góc
độ ngôn ngữ
Trang 94.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ
Phạm Tiến Duật
4.2 Phạm vỉ nghiên cứu
Khảo sát từ góc độ ngôn ngữ qua ngữ liệu thống kê tap tho “Vang trang
và những quảng lửa” của Phạm Tiến Duật, Nxb Văn học, H, 1983
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, hệ thống hoá và phân loại các phương tiện và
biểu hiện của yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật từ góc độ ngôn ngữ
- Phương pháp miêu tả và phân tích phong cách học đề nhận biết về đặc điểm cũng như hiệu quả sử dụng các phương tiện ngôn ngữ
Trang 10PHAN NOI DUNG
hợp để xây dựng lớp phát ngôn (văn bản) trong đó thể hiện vai của người
tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày” [§, tr.122]
Phong cách sinh hoạt hằng ngày được chia ra hai biến thể: sinh hoạt
hằng ngày tự nhiên (thông tục) và sinh hoạt hằng ngày văn hoá (thông dụng)
Phục vụ sự trao đối thân mật giữa các cá nhân và là ngôn ngữ đời thường của đông đảo những người dân trong xã hội nên phong cách sinh hoạt hằng ngày
mang tính chất tự nhiên, thoải mái và do đó trở nên sinh động thân mật, gần
gũi thậm chí suéng sa
1.2 Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ hội thoại
Nếu như ngôn ngữ thơ (ngôn ngữ nghệ thuật) có đặc trưng là tính hình tượng, tính hàm súc, tính cá thé hoa thì ngôn ngữ của phong cách hội thoại lại mang những đặc trưng chung là: tính cá thể hoá, tính cụ thể và tính cảm xúc
Phong cách hội thoại thiên về những chỉ tiết riêng, cụ thể, sinh động, bộc lộ rõ rệt tình cảm, thái độ hơn là những chi tiết chung chung, trừu tượng,
trung lập, vô can Những lời nói chung chung, trừu tượng, khô khan không thé coi là những lời nói hay trong phong cách hội thoại
1.3 Đặc điểm của phong cách hội thoại
1.3.1 Đặc điểm ngữ âm
Trang 11Sử dụng tat cả các biến thé phat 4m dé tao nên sự phong phú, đa dạng
Trong phong cách hội thoại, người ta có thể phát âm thoải mái theo một tập quán phát âm địa phương với sự thể hiện không theo chuẩn mực chung của cách phát âm phụ âm đầu, phụ âm cuối, nguyên âm và thanh điệu
1.3.2 Đặc điểm về cách dùng từ
- Đặc điểm nổi bật nhất trong sử dụng từ ngữ của phong cách hội thoại
là ưa dùng từ ngữ mang tính cụ thê, giàu hình ảnh và màu sắc cảm xúc Đó là cách so sánh ví von, dùng từ láy, nói quá, nói tắt, nói gộp
- Dùng nhiều từ địa phương, nhiều ngữ khí từ (à, nhỉ, nhé, nào ), dùng
các từ khâu ngữ (thằng, đứa, cái ) nhiều thán từ đề biểu thi cảm xúc và thực
hiện chức năng tạo tiếp
Ví dụ: Từ “nhé” có chức năng khuyên răn hay giao hẹn trong câu “Bác nói cho cháu nghe nhé”
1.3.3 Đặc điểm về cú pháp
Đặc điểm nổi bật của phong cách hội thoại về mặt cú pháp là hay dùng
những câu hỏi, những câu cảm thán, câu hô đáp, câu có thành tố chèm xen đưa đầy, câu rút gọn, câu trực tiếp Đặc biệt phong cách hội thoại dùng những kết cầu ngữ pháp riêng mà các phong cách khác ít dùng
- Dùng “đã lại ” thay cho “không những mà còn”
VD: “Anh ta đã không tuân thủ luật đi đường lại còn phá rồi trật tự”
- Dùng kết cầu “động từ - gì mà - động từ" biêu thị thái độ phủ định
VD: “Học hành gì mà chỉ ăn với chơ†”
Trang 121.3.4 Đặc điểm về bố cục, diễn dat
Phong cách hội thoại được sử dụng trong cả dạng nói và dạng viết
- Dạng nói: Đó là những lời chào hỏi, chuyện trò, tâm sự, bàn bạc, trao
đổi về mọi vấn đề Giao tiếp trong phong cách hội thoại, người ta dù muốn hay không vẫn phải lựa chọn những từ ngữ thân mật, giàu hình ảnh và cảm xúc Bố cục văn bản ở dạng nói thường không chặt chẽ, luôn có sự chuyền đổi
đề tài Diễn đạt dài dòng, “đây cà dây muống”
- Dạng viết: Đó là một mẫu thư của bạn bè, người thân để thăm hỏi
hoặc báo tin cho nhau, một trang nhật ký cá nhân, v.v
1.4 Đặc điểm sử dụng biện pháp tu từ
Như đã khẳng định ở trên, phong cách hội thoại có đặc trưng chung là
tính cụ thể, tính cảm xúc, tính cá thể hoá Đề tạo ra chất đời thường, màu sắc
dân gian trong ngôn ngữ thơ, các nhà thơ rất chú ý khai thác sử dụng một số
biện pháp nghệ thuật tiêu biểu như: biện pháp dẫn ngữ, biện pháp so sánh ví
von, biện pháp phóng đại, biện pháp cải danh
1.4.1 Biện pháp dẫn ngữ
“Dẫn ngữ là phương tiện tu từ bao gồm những thành ngữ, tục ngữ, danh ngôn, điển có hoặc thơ văn có giá trị, được dùng hoà lẫn vào lời nói đang được trình bày, miêu tả để thay thế cho cách diễn đạt thông thường, trung hoà về tu từ học nhằm làm cho lời nói thêm hàm súc, giàu hình tượng (rong thơ văn) hoặc tăng thêm sức thuyết phục (rong nghị luận)” [9, tr.71)
Có nhiều cách dẫn khác nhau:
- Mượn một phần hoặc một về của câu thành ngữ, ca dao
VD: “Giặc Pháp la cai v6 quýt dày thì chúng ta phải có thời gian mà mài móng tay cho thật nhọn rồi mới xé tan xác chúng ra”
(Hồ Chí Minh)
- Trích dẫn y nguyên một câu thành ngữ, ca dao
Trang 13VD: “Nhớ nhau chân cứng đá mềm em nhé
Hẹn ngày đánh Mỹ xong sẽ về tìm nhau”
(Nguyễn Đình Thi)
- Mượn ý của câu thành ngữ, ca dao
“Biển ở đâu mà muỗi mặn lời nỗng”
(Phạm Tiến Duật) 1.4.2 Sử dụng biện pháp tu từ cải danh
“Cải danh là một biến thể của lỗi nói chuyển nghĩa có tính chất an du, trong đó người ta dùng tên riêng thay cho tên chung hoặc dùng tên chung
thay cho tên riêng Ở cả hai dạng của cải danh, sự định danh thứ hai đều dựa
vào sự giống nhau giữa hai khách thé” (9, tr.60]
- Dạng thứ nhất của cải danh về cơ bản là đặc điểm của lời nói hội
thoại Nó được dùng như một khuôn sáo đề nêu tính cách của con người
VD: “Hiến là một thằng Sở Khanh”
Nhằm chỉ một người đàn ông phụ tình như Sở Khanh
Hiệu quả tu từ của dạng này không lớn, vì trong những trường hợp này,
cải danh xuất hiện như một ấn dụ đã phai mờ Tuy nhiên, trong lời nói nghệ
thuật, cải danh có thể được hồi sinh và thực hiện chức năng cơ bản và nêu tính cách của con người một cách có hình tượng
của các nhân vật cũng là một trong những thành tố của cấu trúc văn bản
Trang 14VD: “Vâng lời Bụt, Người làm vũ khí và vững vàng chờ đợi, khi Quỷ
Ác mở cuộc tấn công đã vấp phải một cuộc đánh trả kiên cường”
(Truyện Cây nêu ngày tết) Như vậy, sử dụng phép cải danh da thé hiện rất rõ những đặc trưng của phong cách hội thoại Theo tac gia Cu Dinh Tu [14, tr.111] “Nguoi ta tim những cách đặt tên có khả năng gợi ra những hình ảnh, những đặc điểm riêng biệt, cụ thể thường có ở một người” [14, tr.111]
VD: “Cô thanh niên xung phong ấy, anh Ba Lé, chị Bếp ”
1.4.3 Sử dụng biện pháp tu từ cải dung
“Cai dung là một phương thức hoán dụ chỉ cải chứa đựng thay cho vật
chita dung” [9, tr.205] Có thể nói, cải dung là cách nói có tinh chat vừa khái
quát, vừa cu thé va rất phô biến trong phong cách hội thoại
VD: - “Cở trường vui vẻ trong ngày hai mươi tháng mười một”
- “Cả Hà Nội tưng bừng cờ hoa”
1.5 Kết luận
1.5.1 Từ sự tìm hiểu về khái niệm, đặc trưng, đặc điểm của phong cách hội thoại ta thấy: ngôn ngữ trong phong cách hội thoại có ưu điểm là sinh
động, thân mật, dân dã, giao tiếp nhanh chóng và có khả năng biểu cảm cao
Phong cách hội thoại thê hiện một cách tự nhiên những phong tục, tập quán,
lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân Đây chính là kho tàng ngôn ngữ đồ
sộ mà các nhà văn, nhà thơ đã và đang nghiên cứu, khai thác học tập Sử dụng
ngôn ngữ khẩu ngữ, ngôn ngữ giao tiếp sinh hoạt hằng ngày vào trong thơ
không những vẫn đảm bảo các đặc điểm ngôn ngữ thơ (tính cảm xúc, tính nhạc, tính đa nghĩa) mà còn là một biện pháp nghệ thuật làm cho ngôn ngữ thơ có màu sắc tự nhiên, gân gũi
Trang 15- Sử dụng biện pháp dẫn ngữ là một phương thức phô biến trong các phong cách ngôn ngữ Đặc biệt là trong phong cách ngôn ngữ văn chương,
biện pháp này mang lại hiệu quả cao Cụ thể là, nó tạo ra màu sắc dân gian, màu sắc hội thoại, tạo ra sự đồng cảm giữa những người cùng chung một vốn
ngôn ngữ, một truyền thống văn hoá Đồng thời nó làm cho câu nói dé hiểu,
có tính hình tượng và tính biểu cảm cao
1.5.2 Sứ dụng ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày của quần chúng nhân dân trong thơ là một biện pháp nghệ thuật
Mặc dù ngôn ngữ thơ (ngôn ngữ nghệ thuật) và ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày (ngôn ngữ hội thoại) có những đặc trưng khác biệt, gần như đối lập, nhưng việc sử dụng ngôn ngữ của phong cách hội thoại vào trong thơ không làm mắt đi tính ước lệ, tính thâm mĩ, tính hàm súc của ngôn ngữ thơ Trái lại, nó sẽ làm cho ngôn ngữ thơ trở nên gần gũi tự nhiên, dễ hiểu hơn với đông đảo bạn đọc Đó chính là hiện tượng “xuyên thấm phong cách” Tuy
nhiên cũng cần lưu ý rằng ngôn ngữ của phong cách hội thoại khi đi vào thơ
đã trở thành những chỉ tiết nghệ thuật phục vụ cho mục đích sáng tạo của tác giả
Tác giả Cù Đình Tú nhận xét: “Nhờ tai nang sáng tạo đặc biệt của các
nhà văn, nhà thơ, các phương tiện biểu hiện của các phong cách khác đi vào ngôn ngữ văn chương không phải một tập hợp hỗn độn mà như là các thành
tô của một chỉnh thể có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau và tất cả đều hướng về một chức năng: chức năng thẩm mỹ khi tôn trữ với tư cách là một thành tổ của ngôn ngữ văn chương, chúng chỉ gợi ra bóng dáng của các phong cách chức năng này mà thôi” [L4, tr.182]
Đây chính là những cơ sở lý luận dé chúng tôi nghiên cứu đề tài này
Trang 162 Kết quả khảo sát thống kê phân loại
Qua khảo sát 57 bài thơ (in trong tap thơ “Vằng trăng và những quảng lửa” của Phạm Tiến Duật), chúng tôi đã thống kê các ngữ liệu ngôn ngữ (cách
phát âm, dùng từ, đặt câu, tổ chức văn bản, cách sử dụng biện pháp tu từ) để
phân tích và rút ra những nhận xét về hiệu quả sử dụng yếu tố ngôn ngữ hội
thoại trong thơ Phạm Tiến Duật
Dưới đây là bảng kết quả khảo sát:
Cách sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của phong cách hội thoại Số Tỉ lệ
Sử dụng từ ngữ | I Sử dụng từ biên âm 8 1,13 của phong cách | 2 Sử dụng từ khẩu ngữ 167 23,7
thoại 4 Sử dụng kiểu câu của phong cách hội| 23 3,2
thoai
Sử dụng cách | l Mở đâu bài thơ băng một câu kế 2 0,28 diễn đạt và bố cục |2 Bài thơ được tổ chức như một câu 3 0,42
của phong cách chuyện kể
ngôn ngữ hội | 3 Bài thơ là một câu nói, một lời kế dài 2 0,28
thoại dòng
Trang 18
3 Phân tích kết quả thống kê
3.1 Sử dụng vốn từ ngữ của phong cách ngôn ngữ hội thoại
3.1.1 Biến âm để tạo từ khẩu ngữ
Sự phong phú của ngôn ngữ thuộc phong cách hội thoại là sử dụng tất
cả các biến thể phát âm để tạo nên sự đa dạng Trong giao tiếp hằng ngày, người dân ở các địa phương thường phát âm một cách thoải mái theo một tập quán phát âm địa phương với sự thể hiện không theo chuẩn mực của phụ âm
đầu, âm cuối, thanh điệu Sử dụng cách nói biến âm, từ ngữ trong thơ Phạm
Tiến đuật vừa có màu sắc đời thường, vừa có màu sắc địa phương lại vừa có
chất ngang tàng, lãng mạn của người lính Một nét gì vừa quê kệch nhưng
cũng vừa rất gần gũi, đời thường và không khí trận mạc được toát lên từ đó
Qua khảo sát, chúng tôi thấy hiện tượng biến âm trong thơ Phạm Tiến Duật xuất hiện khá nhiều lần (10 phiếu) và cũng phong phú về đạng, loại:
- Biến âm về thanh điệu (thanh sắc thành thanh ngang, hoặc thanh huyền thành thanh ngang )
“Chúng lao xuống nơi nao
Loe anh lua,
Gió thối tắt đèn, bom rơi mắu tra”
(Lửa đèn)
- Biến âm âm chính: (“4” thành “”)
“Trên đỉnh đôi vẫn vừng trăng do ôi”
(Vằng trăng và những quằng lửa)
- Biến âm phụ âm đầu: (“” thành “Z”)
“Đứng ngôi không yên vẫn đẳng chí bộ binh
Chờ dăm phút nữa thôi, có lâu là máy”
(Những mảnh tàu lá)
Trang 19- Biến âm chính: (“z” thành “ø”)
“Em cẩm bùi nhùi ấi đâu đánh lửa
Hớ em? Huyện có gần không”
(Hang đền chín ngọn)
- Biến âm (“ø” thành “7”)
“Thì giò ghé môi hôn cũng là thì giờ đóng cầu dao điện”
(Em ơi, sắp một năm tròn)
- Gộp âm (tổ hợp ba am tiét “Ba muoi lăm tud?” phat 4m gép thanh “ba lam”)
“Ba lăm tuổi chuyện chông con chưa nói”
(Cô bộ đội ấy đã đi rồi)
Từ sự vận dụng biến âm phong phú này tác giả đã tạo nên những sắc
thái nhân mạnh như vằng (vừng), hả (hở), ba mươi lăm (ba lăm) Mặt khác,
bằng sự biến âm tác giả miêu tả không xác định những thời gian, không gian,
địa điểm cụ thể: nào (nao), năm (dăm) Tất cả sự biến âm đó không chỉ tạo
nên sắc thái biểu cảm mà còn không làm mất đi nghĩa gốc của từ Cách nói
biến ấm đề tạo từ khâu ngữ thê hiện mối quan hệ thân mật, tình cảm tự nhiên,
ngôn ngữ không chau chuốt, không cầu kỳ, mà tự nhiên, tự phát, theo thói quen của mỗi cá nhân, mỗi địa phương
3.1.2 Sw dung von từ khẩu ngữ
Từ khẩu ngữ là từ chuyên dùng trong giao tiếp, nói năng hằng ngày Nó
có màu sắc thông tục và đối lập với màu sắc của phong cách viết, đặc biệt là
phong cách nghệ thuật Trong sáng tác của mình, Phạm Tiến Duật đã sử dụng
từ khẩu ngữ một cách sáng tạo, độc đáo, ông là nhà thơ “ểiêu biểu cho khuynh hướng mở rộng cánh của nghệ thuật đề đón ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày, ngôn ngữ xô bô của đời sống vào trong thơ Thơ anh như lời nói thường sử dụng nhiều khẩu ngữ ” [18, tr.43]
Trang 20Đọc thơ Phạm Tiến Duật chúng ta bắt gặp rất nhiều những từ ngữ ở
làng quê, thô sơ, mộc mạc, song nó lại tạo nên chất thơ rất riêng Khi tìm
hiểu, nghiên cứu chúng ta thấy có những từ nếu đứng riêng thì thông tục (đứa,
cái, nó, vén ), nhưng khi nằm trong cấu trúc câu thơ thì nó lại rất thơ Đó là
vì nhà thơ biết đưa vào đúng lúc, “biết dùng chữ “thanh” nuôi chữ “thô”,
chữ “mát” nuôi chữ “nóng”” [18, tr.45] làm cho người đọc cảm thấy cái đân
dã, đời thường và gần gũi tự nhiên Chúng tôi thống kê được 167 phiếu
(chiếm 23,7%) có thể chia thành các tiểu loại như sau:
3.1.2.1 Sử dụng từ chỉ loại, đại từ (cái, đứa, nó )
VD 1: “Yêu hơn cả cái cầu ao mẹ thường đãi đỗ
Là cái cầu này chụp ảnh xa
Mẹ bảo cầu Hàm Rồng sông Mã
Con cứ gọi: Cải cầu của cha”
(Cái cầu)
VD2: “Cái nhà máy lao xao con chữ
Giấy xoè như bướm bay”
(Công việc hôm nay) Theo “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê (Trung tâm Từ điển học - Đà
Nẵng - 1995, tr.102) thì từ “cá?” là danh từ được dùng với nhiều chức năng,
nhiều ý nghĩa khác nhau
Ở ví dụ 1, từ “cá?” được dùng lặp lại ba lần trong bốn câu thơ nhằm
“chỉ từng đơn vị riêng lẻ thuộc loại vô sinh” - “cái cầu” Biện pháp điệp ngữ
có tác dụng nhắn mạnh hình ảnh một sự vật quen thuộc, gắn bó với làng quê
Cái cầu không chỉ là phương tiện đi lại mà nó còn là kỷ niệm gắn bó với
người cha thân yêu
Trang 21Ví dụ 2, từ “cá?” dùng kết hợp với từ ghép “nhà máy”, “biểu thị ý nhắn
mạnh về sắc thái xác định của sự vật”, nhằm làm nỗi bật đặc điểm của nhà
may 1a “Jao xao con chữ”
Trong cả hai vi du, tir “cai” được dùng linh hoạt làm cho câu thơ trở
nên nôm na, tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày
Rủ nhau bay nhự lũ ma trơ?”
(Lửa đèn)
VD 4: “Cũng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thắm
Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây”
(Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây) Cũng theo “7? điển tiếng Việt? của Hoàng Phê thì từ “J#” là chỉ tập hợp
đông người cùng một lứa tuổi, còn từ “đa” là để chỉ từng cá nhân, người còn
trẻ, thuộc hàng dưới
x3
Nếu như ở ví dụ 3 tác giả sử dụng từ “/ữ” để chỉ những kẻ xâm lược với
sắc thái không thân thiện, khẩu ngữ, suéng sa, thi 6 vi du 4 tir “dia” lai duoc
tác gia sir dung thé hiện sự than mat, gin bé Tuy hai “diva” 6 hai dau của
chién tran, song lại chung một con đường ra trận, chung một lý tưởng cách
mạng và điều đặc biệt là chung một nỗi nhớ Nỗi nhớ ấy đã làm cho “Đường
ra trận mùa này đẹp lắm” Với ý nghĩa đó, từ “đứa” đã góp phần thê hiện tình cảm tự nhiên, giản dị của những chàng trai, cô gái đang cùng chung chiến hào
chống Mỹ
3.1.2.2 Sứ dụng từ khẩu ngữ có sắc thái hồn nhiên thông tục
Loại này chúng tôi thống kê được 27 phiếu (3,8%)
Trang 22VDI: “Vén xanh nhà lại hiện dan
Những hàng bộ đội quân quân nẻo xa”
(Vùng làng) VD2: “Ngói vỡ bởi bom rung hở một mảnh trời nho nhở”
(Qua một mảnh trời thành phố Vinh)
VD3: “Đau bụng: tran bì, bổ bì, bạch truột
Thời nào cũng bốc bấy nhiêu thang”
(Ông già thuốc bắc)
Khi nhận xét về thơ Phạm Tiến Duật nhà nghiên cứu Trần Đăng Xuyển
đã viết “Trong một số bài thơ có những từ, nếu đứng riêng thì rất tục nhưng đọc lên vẫn không thấy sượng vì biết vào đúng lúc, biết dùng chữ “thanh” nuôi chữ “thô”, chữa mát nuôi chữ “nóng” ” [1§, tr.43]
A?
Thật vậy, ở cả ba ví dụ trên, các từ “vén”, “hở”, “bóc nếu tách khỏi
văn bản thì đó là những từ chỉ hành động mang ý nghĩa khẩu ngữ của ngôn ngữ hội thoại tự nhiên Nhà thơ đã khéo léo sử dụng chúng trong những ngữ
cảnh phù hợp với tính từ “xanh” để tạo nên một hoán dụ tu từ Bởi màu xanh
ấy chính là màu của rừng, màu của sức sống, mà ấn sau nó là khu dân cư của những “làng bộ đột” Câu thơ trở nên gần gũi, mộc mạc mà lại có tính hình
tượng cao
Qua các ví dụ trên, chúng ta thấy được nghệ thuật sử dụng từ nhuan
nhuyễn, linh hoạt của Phạm Tiến Duật và có thể khẳng định rằng: ngôn ngữ của thơ là ngôn ngữ của đời thường, của cuộc sông Tác giả Trần Nhuận Minh nhận xét: “Nghệ thuật cao cường của nhà thơ là đặt chữ vào đúng chỗ Ngay
cả những chữ thô tục vào tay những nhà ngôn ngữ cự phách nó cũng mắt đi cái vẻ nguyên sơ ban đầu để thành một biểu tượng mới, lớn hơn và sâu rộng
về nghĩa” [12 tr.55]
3.1.3 Sứ dụng từ ghép sắc thái hoá
Trang 23Tác giả Cù Đình Tú nhận xét “Ưø dùng những từ ngữ giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm là một qui luật trong phong cách khẩu ngữ tự nhiên của
tiéng Vier” [14, tr.110]
Từ ghép sắc thái hoá là từ ghép mang lại hiệu quả nghệ thuật cao được
tác giả Phạm Tiến Duật khai thác triệt để tạo ra màu sắc tự nhiên trong thơ
Chúng tôi thống kê được 27 phiếu chiếm (3,76%)
VDI: “Quả cà chua như cái đèn lỗng nhỏ xíu
Thấp: mùa đông ấm nhưng đêm thâu”
(Lửa đèn) VD2: “Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá
Qua cay chin dé hoe”
(Lửa đèn) VD3: “Kìa thùng nước ông già đã đem ra trận
Giữa trời bay mùi cam thảo thơm lừng”
(Ông già thuốc bắc)
Ở cả ba ví dụ trên chúng ta thấy tác giả đã sử dụng rất khéo léo các từ
ghép sắc thái hoá có khả năng gợi hình, biểu cảm cao “Nhỏ xí” khác với nhỏ
xinh hay nhỏ bé Tur “nho xiu” gợi cho chúng ta hình ảnh những quả cà chua rất nhỏ và máu sắc, hình đáng của nó giống như những chiếc đèn lồng, có sức lan toả ấm cả “những đêm thâu” Từ “nhỏ xíu” thê hiện tình cảm âu yếm, thân thương “Đỏ hoe” khắc với đỏ ửng hay đỏ rực Đỏ hoe là “màu đỏ nhạt nhưng twoi” (Hoang Phê - đd) “Thơm lừng” mà không phải là thơm mát - hay thơm nức, thơm lừng ha “mời thom tod ra manh và rộng” (Hoàng Phê - äd)
Các từ ghép sắc thái hoá đã góp phần làm tăng thêm tính gợi hình và
biểu cảm cho cậu thơ
3.1.4 Sử dụng từ địa phương
Trang 24Từ địa phương là những từ chuyên dùng ở một địa phương cụ thể nào
đó Đây là những từ mang đậm màu sắc khẩu ngữ dân gian có tính chất vùng
miền và thường được sử dụng trong văn nói Văn bản viết đặc biệt là văn bản khoa học thường không sử dụng từ địa phương
Phạm Tiến Duật là một người lính, nhà thơ đã có một thời cùng bao
đồng đội “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” Vì thế ông đi nhiều và sáng tác
nhiều Thơ ông đã in dấu từng miền quê, từng vùng đất không chỉ bằng nội dung mà còn bằng cả những từ ngữ địa phương đó Chúng tôi đã thống kê được 12 phiếu, có thể chia thành các loại theo đặc điểm phương ngữ như sau:
+ Nhóm từ thuộc phương ngữ Bắc Bộ:
“Trời cứ mua dầm đông đất Thái Binh oi”
(Chiều mưa ở Tiền Hải nghe chèo)
“Gao wot sting cho vào niêu nhở”
(Nhớ bà mẹ ở Nam Hoành) + Nhóm từ thuộc phương ngữ Trung và Nam Bộ:
“Màu trắng đêm nỉ là màu trắng bàn tay”
(Nghe hò đêm bốc vác)
“San giọng ngân dài xô một tiếng dô ta”
(Nghe hò đêm bốc vác) Phạm Tiến Duật sinh ra và lớn lên ở vùng Trung du Bắc Bộ Hơn thế,
ông lại là sinh viên sư phạm Ngữ văn Do đó, những từ ngữ mang đậm màu
sắc văn hoá Trung du Bắc Bộ chiếm số lượng nhiều nhất trong thơ ông, ngay
cả những sáng tác ông viết ở Trường Sơn Đó là những từ như: đẫn, chéo vải,
công kênh Sự xuất hiện đậm đặc của nhưng từ này đã mang lại cho thơ ông
hồn quê và tình quê sâu sắc Ở từ ngữ cảnh cụ thể, từ địa phương góp phần