Phạm Vĩnh Cư trong bài thơ hành lạc của Nguyễn Công Trứ, ông khẳng định: “Nhu cầu hưởng thụ của con người, nâng nó lên thành một triết lý có sức thu phục nhân tâm tuy không mấy ai làm đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguy ễn Thị Huệ
CON NGƯỜI HÀNH LẠC TRONG THƠ CHỮ HÁN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguy ễn Thị Huệ
CON NGƯỜI HÀNH LẠC TRONG THƠ CHỮ HÁN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LU ẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
PGS.TS LÊ THU YẾN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể thầy cô khoa Ngữ Văn, phòng sau đại học Trường Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường
Nhân đây, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên và chia sẻ với tôi những khó khăn
Đặc biệt, xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất tới PGS.TS Lê Thu Yến, người thầy đã tận tâm hướng dẫn và góp ý cho tôi để hoàn thiện luận văn này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Huệ
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những nội dung được trình bày trong luận văn là nghiên cứu của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Thu Yến
Mọi tham khảo và trích dẫn trong luận văn đều ghi nguồn gốc cụ thể (tên tác giả, tên công trình, thời gian công bố)
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Học viên
Nguyễn Thị Huệ
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
M Ở ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG 9
1 Bối cảnh thời đại 9
2 Con người Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ 13
3 Khái niệm con người hành lạc 20
3.1 Khái niệm con người nghệ thuật và con người hành lạc 20
3.2 Con người hành lạc trước và sau Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ 24
CHƯƠNG 2 CẢM HỨNG HÀNH LẠC TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUY ỄN DU VÀ THƠ NGUYỄN CÔNG TRỨ 30
2.1 Nhu cầu về rượu 31
2.2 Nhu cầu về chơi 43
2.3 Nhu cầu thưởng thức cái đẹp 56
2.3.1 Cái đẹp diễm lệ của thiên nhiên 57
2.3.2 Cái đẹp của giai nhân, mỹ nữ 64
2.4 So sánh con người hành lạc trong thơ hai tác giả 74
CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI HÀNH LẠC TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU VÀ THƠ NGUYỄN CÔNG TR Ứ 79
3.1 Thể loại 79
3.2 Ngôn từ 84
3.3 Giọng điệu 92
K ẾT LUẬN 96
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 98
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Nguyễn Du được gọi là đại thi hào dân tộc không chỉ bởi ông có “Truyện
Kiều” mà vì ông còn có khối lượng sáng tác chữ Hán đồ sộ và giàu ý nghĩa nhân văn Mai Quốc Liên cũng đã nhận xét về văn học chữ Hán của Nguyễn Du như sau: “Truyện Kiều là “diễn âm” do Nguyễn Du “lỡ tay” mà thành kiệt tác Còn
thơ chữ Hán mới đích thị là “sáng tác ” nên xem nó là phát ngôn viên chính thức
của Nguyễn Du” [82, 120] Đúng vậy, thơ chữ Hán Nguyễn Du, đằng sau những
trang viết ta thấy hình ảnh Nguyễn Du với cõi lòng ủ ê tê tái, với cá tính rõ mồn
một ấy là những suy nghĩ sâu xa của nhà thơ về con người, về xã hội, về những
hiện tượng lịch sử phong phú diễn ra trước mắt ông Thơ Nguyễn Du thực sự là
một cách Nguyễn Du đặt vấn đề trực tiếp về số phận của mình, gắn liền với vận
mệnh của thời đại, của quần chúng
Nguyễn Công Trứ cũng là một nhà thơ lớn của dân tộc Trái ngược với Nguyễn Du, ông là một nhà thơ hầu hết sáng tác bằng chữ Nôm và thiên về thể
loại hát nói Nguyễn Công Trứ được xem là “ông hoàng hát nói”, ông có công trong việc nâng thể loại hát nói thành một thể thơ hoàn chỉnh, linh hoạt Thơ ông
thể hiện sự khinh bỉ và ngán ngẩm thế thái, chán chường với chốn quan trường nhưng ông không chán đời Ông vốn yêu đời, lại là người “chịu chơi”, với ông cái gì cũng có thể đem chơi kể cả tài kinh bang tế thế Con người đào hoa,
mê hát ả đào của ông đã được thể hiện trong nhiều bài ca trù đa tình Con người hành lạc trong thơ Nguyễn Công Trứ được xem là hình tượng có cá tính độc đáo hơn cả Con người ấy có những thú vui vừa tao nhã vừa táo bạo, nhất là xét về
độ táo bạo thì hơn hẳn Nguyễn Du Con người hành lạc cũng chính là bức tự họa
về bản thân Nguyễn Công Trứ
Hình ảnh con người hành lạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du và thơ Nguyễn Công Trứ chưa được nghiên cứu sâu Vì thế, đây vẫn thật sự là một đề
Trang 7tài rất mới Nghiên cứu về đề tài này sẽ tạo ra những phát hiện thú vị không chỉ
về thơ văn mà còn là cả con người, cá tính đặc biệt cuả hai ông Chúng ta sẽ bất
ngờ trước những điểm chung thú vị của cả hai tác gia lớn của văn học trung đại
Từ đó, soi vào hiện tại để thấy sự nối tiếp chủ nghĩa nhân văn từ trước tới nay, đồng thời suy nghĩ về một cách sống đẹp hơn, người hơn trong cuộc sống hiện
tại Ngoài ra, đề tài này sẽ góp phần vào công việc nghiên cứu thơ văn Nguyễn
Du và Nguyễn Công Trứ, bổ sung cho các mảng nghiên cứu về hai nhà thơ lớn
của dân tộc
Việc nghiên cứu đề tài này có tác dụng bổ trợ cho việc giảng dạy Ngữ văn
ở bậc THPT, giúp các giáo viên dạy văn có thêm nguồn tư liệu tham khảo để
hiểu sâu hơn về các tác gia trên để từ đó có những bài dạy hấp dẫn hơn
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Thơ chữ Hán Nguyễn Du cho đến nay đã có hơn 20 công trình nghiên cứu nhưng ở đây chúng tôi chỉ nêu ra một số ý kiến của một số tác giả có liên quan đến con người hành lạc trong thơ chữ Hán Nguyễn Du
Trong “Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong Thơ chữ Hán”, Nguyễn Huệ Chi đã tìm hiểu khá sâu sắc lý tưởng chính trị và tâm sự đau buồn,
bế tắc, thái độ bi quan của Nguyễn Du trước cuộc đời Sau đó tác giả đề cập đến
tư tưởng hành lạc ở Nguyễn Du như một hệ quả của thái độ bi quan đó “bế tắc, cùng quẫn Nguyễn Du cũng như bao người khác, có lúc chán nản hết thảy,
muốn vứt bỏ hết thảy mà tìm vào đạo Phật, đạo Lão, tìm vào hành lạc…” [82, 62] Nguyễn Huệ Chi cũng đã chỉ ra nét riêng trong thái độ hành lạc của Nguyễn
Du “và tiếng rằng có nghĩ tới hành lạc, chưa bao giờ thấy Nguyễn Du ngạo nghễ, thoả thuê trong cái thú hành lạc như một Nguyễn Công Trứ”:
Trong trướng gấm ngọn đèn hoa nhấp nháy
Nhất toạ hoa lê áp hải đường
(Tu ổi già cưới vợ hầu)
Trang 8Còn Trương Chính trong “Tâm sự Nguyễn Du qua thơ chữ Hán” đã lý giải cái “bất đắc chí” của Nguyễn Du là “do hiện thực cuộc sống dưới triều Nguyễn đem lại và không chỉ có thế nó còn bắt nguồn từ tâm trạng khác của nhà thơ, tâm
trạng này có từ những ngày “gió bụi” và do bao nhiêu tư tưởng, lý thuyết tiêu
cực, duy tâm của thời phong kiến gây nên” [82, 108] Cụ thể của tư tưởng, lý thuyết tiêu cực ảnh hưởng đến Nguyễn Du là việc nhà thơ đi tìm vào đạo Phật, đạo Lão và từ đó “ông còn tìm vào hành lạc nữa” [82, 109] Cũng giống như Nguyễn Huệ Chi, Trương Chính đánh giá tư tưởng hành lạc của Nguyễn Du là
“chẳng qua nói như vậy thôi, chứ hoàn cảnh ông lúc bấy giờ không cho phép ông phóng túng như thế được” tức là mới chỉ nói chứ chưa làm thật sự Và theo Trương Chính “thời bấy giờ uống rượu một ít như thế đã là “hành lạc”rồi Nhưng chắc chắn Nguyễn Du là con người hiếu động cho nên cách hành lạc chính của ông là đi săn” [82,110]
Tiếp đến Nguyễn Lộc với bài viết “Thơ chữ Hán Nguyễn Du và tâm sự của nhà thơ” dài 30 trang nhưng chỉ dành không đầy một trang nói về tư tưởng hành
lạc Nội dung chính của công trình này là nói đến tấm lòng nhân đạo cao cả của Nguyễn Du và nỗi buồn lớn của thi hào trước thời cuộc: “Một ấn tượng sâu sắc
để lại cho người đọc là nhà thơ rất buồn Lúc nào cũng buồn … Buồn thương như một tiếng đàn réo rắt, não ruột vang lên trong hầu khắp các thi phẩm của ông” [6, 305] Và theo Nguyễn Lộc, chính nỗi buồn ấy đã đưa Nguyễn Du đến
với tư tưởng hành lạc và ngay “trong những bài có tính chất thoát ly hưởng lạc, Nguyễn Du vẫn không tránh khỏi nỗi buồn muôn thuở Nguyễn Du nói đến chuyện ở ẩn, chuyện ăn chơi mà nghe sao thấy miễn cưỡng, không thoải mái Ông vẽ ra một cảnh sống thần tiên, xa trần thế, rồi ao ước giá làm sao thoát được cõi trần, chứ nhà thơ chưa bao giờ thoát khỏi trần cả Ông kêu gọi giết chó ăn
thịt, kêu gọi uống rượu … không phải để khoái lạc, mà như nhà thơ nói vì
Trang 9“Chuyện trước mắt hay dở khó mà biết được” và “Kìa trông cửa sổ phía tây, bóng mặt trời đã xế” [6, 305]
Lê Thu Yến trong “Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du” khi viết
về con người lãng mạn trong Nguyễn Du có nhắc đến yếu tố hành lạc trong thơ ông Con người trong thơ Nguyễn Du chưa bao giờ là con người hưởng thụ thực
sự “những buổi tiệc có rượu ngon, có gái đẹp… vẫn là điều thích thú với bao người Nhưng con người hiểu rằng mình sinh ra không phải để hưởng lạc Do tính nết cuồng phóng thời trai trẻ nên đôi khi con người muốn tham dự Muốn
rồi lại thôi Ở đây có sự do dự, ngập ngừng nên hay không” [69, 67]
Từ trước đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Công
Trứ như là một tác giả tiêu biểu của nền văn học Việt Nam thời trung đại Các công trình đó đã xoáy sâu được vào cuộc đời làm quan của ông với công việc
thực hiện “chí nam nhi” với “tư tưởng hành lạc” gắn với cá tính bản thân ông
Lê Trí Viễn cho rằng Nguyễn Công Trứ đã hưởng nhàn từ thủa hàn vi ông mượn nhàn để đợi thời đến lúc ra làm quan lấy nhàn để tự thưởng và giải khuây,
rũ bỏ những mệt nhọc, buồn phiền do va chạm trên đường danh lợi và đến khi
về hưu lấy nhàn để làm thú tiêu dao cho những ngày tàn tháng hết [79, 70]
Tại Hội thảo khoa học năm 1994 bàn về Nguyễn Công Trứ, các nhà nghiên
cứu đã có nhiều bài phát biểu, những chuyên luận khác nhau và đã có một số bài đánh giá về con người ông Năm 1996, tất cả các bài này được tập hợp và in trong cuốn sách Nguyễn Công Trứ - Tác gia và tác phẩm [62] Phạm Vĩnh Cư
trong bài thơ hành lạc của Nguyễn Công Trứ, ông khẳng định: “Nhu cầu hưởng
thụ của con người, nâng nó lên thành một triết lý có sức thu phục nhân tâm tuy không mấy ai làm được như Nguyễn Công Trứ” [62, 126] Nguyễn Công Trứ luôn thể hiện cái khí phách cứng cỏi bản lĩnh cao cường của mình trong thơ Ông vừa diễu cợt người đời vừa diễu cợt bản thân mình Trong công trình Từ
Trang 10điển văn học Việt Nam, từ nguồn gốc đến thế`kỷ XIX [3], tác giả Lại Nguyên Ân
phát hiện ở Nguyễn Công Trứ có những ý chí khát vọng của kiểu anh hùng thời
loạn, cái cốt cách tài tử, phong lưu, tự khẳng định mạnh mẽ cá nhân như một
thực thể xã hội riêng tư với ít nhiều giá trị thực tại và khát vọng tự do
Giáo sư Nguyên Lộc trong giáo trình Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII
h ết thế kỷ XIX (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1997) có một nhận xét về quan
niệm hành lạc của Nguyễn Công Trứ, con người chỉ được hành lạc khi đã hoàn thành nhiệm vụ, chỉ có thể thảnh thơi thơ túi rượu bầu khi nợ tang bồng trang
trắng vỗ tay reo; Hành lạc là sự đãi ngộ, là phần thưởng cho những kẻ anh hùng, cho những người hành động
Hà Như Chi trong Việt Nam Thi văn trích giảng (Nhà xuất bản Văn hoá
Thông tin, Hà Nội 2000) đã đánh giá về quan niệm cầu nhàn hưởng lạc trong thơ văn Nguyễn Công Trứ như sau: “Cụ Nguyễn Công Trứ thường ca tụng cảnh nhàn ca tụng nhiệt tình đến nối người ta có thể xem cụ như một thi sĩ của cảnh nhàn nổi tiếng nhất trong thi văn Việt Nam” [7, 571] Hà Như Chi còn cho rằng:
“Sau những giờ phút hăng hái hoạt động thì người nam nhi có quyền hưởng nhàn, sống an nhàn và hưởng lạc Nhàn theo quan niệm này có thể xem như các
phần thưởng dành riêng cho người đã hoạt động nhiều cho nghĩa vụ, nhàn ở đây
chỉ là cái bổ túc cho hành động” [7, 573] Và vì nhàn có tính cách hưởng thụ nên nhàn và hành lạc thường đi đôi với nhau trong tư tưởng của Nguyễn Công Trứ Năm 2001, nhà xuất bản Thanh niên Hà Nội đã xuất bản ấn phẩm có giá trị thiết thực về thơ Nguyễn Công Trứ cuốn “Đến với thơ Nguyễn Công Trứ” do nhà thơ Ngô Viết Dinh sưu tầm, biên soạn Khi bàn về thơ Nguyễn Công Trứ, các tác giả cũng dựa vào những nét chính trong cuộc đời ông để hiểu một cách toàn diện hơn về văn nghiệp của ông Đặc biệt là bài viết của Nguyễn Duy Diễm khi bàn mấy đặc điểm thơ của Nguyễn Công Trứ, tác giả đã khẳng định: thi ca
Trang 11Nguyễn Công Trứ có hai màu sắc tương phản rõ rệt: điểm hào hùng tranh đấu và điểm tai hoạ, phóng dật Chính do ở điểm tài hoa, phóng dật này mà ông đã tạo được những câu thơ có vẻ đẹp trác tuyệt, kỳ thú làm say mê lòng người Còn trong bài “nghệ thuật văn chương Nguyễn Công Trứ” do hai tác giả Nguyễn Duy Cẩn, Bằng Phong cho rằng: “Để có thể nhận định được giá trị về nghệ thuật văn chương của cụ, chúng ta hãy tìm cách so sánh những ưu, khuyết điểm của
cụ trong tác phẩm, về những phương diện ý tưởng, bố cục lời văn” Ở trong
cuốn này đã chỉ ra đầy đủ về những phương diện được thể hiện trong thơ Nguyễn Công Trứ và đi đến kết luận: “Nguyễn Công Trứ đã đạt được một vị trí khá cao trong nền văn học nước nhà” [63, 102]
Trên đây chúng tôi điểm qua về các công trình tiêu biểu nghiên cứu về thơ
chữ Hán Nguyễn Du và thơ Nguyễn Công Trứ Ngoài ra, còn có hàng chục bài
viết, chuyên luận về thơ hai ông Người ta đã tìm ra được những nét thống nhất trong sự nghiệp của hai ông là “một sĩ phu phong kiến có lương tâm”, “một thi
sĩ tài hoa”, “một sự nghiệp văn chương có giá trị bậc nhất”, ông là một nhân cách lớn trong đám nho sỹ hủ nát mất nhân cách dưới triều Nguyễn
Tuy nhiên, các bài nghiên cứu trên về Nguyễn Du chủ yếu xoay quanh hai
nội dung chính đó là: thái độ của Nguyễn Du đối với các triều đại và tấm lòng đồng cảm yêu thương của đại thi hào với những kiếp người đau khổ trong xã
hội Còn về con người hành lạc của Nguyễn Du thì chưa có công trình nào nghiên cứu như một vấn đề chuyên biệt Chúng tôi thấy các tác giả khi đề cập đến tư tưởng hành lạc còn ở tính chất rời rạc và ở mức độ sơ lược với mục đích
phục vụ cho đề tài, mang tính chất “minh hoạ” cho chủ đề chung của công trình
Vì vậy, số lượng trang viết dành cho tư tưởng hành lạc trong các công trình đó
rất ít ỏi Còn về Nguyễn Công Trứ, việc tìm hiểu về con người hành lạc trong thơ Nguyễn Công Trứ rõ ràng nhiều và sâu hơn so với Nguyễn Du Đó là vì bản thân Nguyễn Công Trứ đã có cá tính phóng túng rất mạnh và nó tạo nên một
Trang 12phong cách riêng mà không ai khi nghiên cứu không nhắc tới Tuy vậy, Nguyễn Công Trứ là một con người đầy mâu thuẫn, phức tạp bởi vậy đọc thơ ông luôn
có cảm giác đầy mới lạ đan xen nhau, nhận thức con người ông mỗi lúc một khác và cần phải khám phá tìm hiểu thêm
Luận văn trên cơ sở kế thừa những kiến thức, kiến giải của các công trình, các bài nghiên cứu đã có, kết hợp với sự tự tìm tòi, khám phá, chúng tôi sẽ luận
giải về con người hành lạc trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và thơ Nguyễn Công
Trứ một cách hệ thống sâu sắc và toàn diện hơn
3 Ph ạm vi nghiên cứu
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du và thơ Nguyễn Công Trứ có nhiều khía cạnh
để nghiên cứu Trong điều kiện cho phép, ở đề tài này, chúng tôi chỉ xoay quanh nghiên cứu về con người hành lạc trên cơ sở khái quát biểu hiện và nghệ thuật
biểu hiện của nó trong thơ của hai tác gia trên
4 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu con người hành lạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du và thơ Nguyễn Công Trứ để có cái nhìn khái quát về thơ của hai ông cũng như tìm ra biểu hiện cụ thể của con người hành lạc và đối chiếu so sánh hai tác giả với nhau để tìm ra nét chung, nét riêng
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích tư tưởng hành lạc trong
những bài thơ cụ thể của mỗi tác gia và khái quát lại thành nội dung hành lạc 5.2 Phương pháp so sánh đối chiếu: so sánh tư tưởng hành lạc trong thơ
chữ Hán của Nguyễn Du với tư tưởng hành lạc trong thơ Nguyễn Công Trứ để tìm ra nét độc đáo riêng của mỗi tác gia
Trang 135.3 Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng thao tác thống kê phân loại
Tất cả những phương pháp trên chúng tôi đều nghiên cứu trên quan điểm
lịch sử
6 Đóng góp mới của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu về con người hành lạc trong thơ của hai tác
giả Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ Kết quả nghiên cứu này có thể phần nào giúp chúng ta nhìn nhận đúng hơn về con người của hai tác giả Việc thực hiện
đề tài này có giá trị về mặt lý luận và mặt thực tiễn, nhất là ứng dụng tốt phục vụ quá trình giảng dạy và nghiên cứu về hai tác giả Hơn nữa, việc nghiên cứu này còn góp phần bổ sung nguồn tư liệu quan trọng cũng như gợi mở ra những hướng đi mới trong tương lai ở những đề tài khoa học lớn hơn
7 C ấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai qua 3 chương:
Chương 1 Khái quát chung
Chương 2 Cảm hứng hành lạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du và thơ Nguyễn Công Trứ
Chương 3 Nghệ thuật thể hiện con người hành lạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du và thơ Nguyễn Công Trứ
Trang 14CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG
1 B ối cảnh thời đại
Thời đại theo nghĩa rộng, thời đại là một khái niệm chính trị – kinh tế – xã
hội khái quát tiến trình phát triển của lịch sử loài người, là thời gian rất dài để
chỉ sự phân kỳ lịch sử xã hội và để phân biệt những nấc thang phát triển của hình thái kinh tế xã hội mà theo đó nấc thang cao hơn, tiến bộ hơn sẽ phủ định
nấc thang cũ, lạc hậu để mở đường cho sự phát triển một thời đại mới Theo nghĩa hẹp thì thời đại được hiểu là khái niệm về thời gian để chỉ xu thế và nội dung phát triển trên các phương diện kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, công nghệ…Thời đại chính là cơ sở, là nền tảng bồi đắp nên những tâm hồn lớn,
những nhà văn, nhà thơ lớn Mặc khác, nhà văn, nhà thơ phải biết đời sống xã
hội của thời đại, phải sâu sắc cảm thấy mọi nỗi đau đớn của con người trong thời đại, phải sống và thấu hiểu nhân tình thế thái, hiểu những thăng trầm lịch sử,
những cuộc bể dâu…để đồng cảm và biến nó thành nguồn cảm hứng trong
những đứa con tinh thần của mình
Thời đại của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ có nhiều biến động dữ dội (cuối thế kỉ XVIII — đầu thế kỉ XIX) Chế độ phong kiến Việt Nam cực thịnh vào thế kỷ XV, sang thế kỷ XVI, XVII chế độ này đã bộc lộ những dấu hiệu của
sự suy yếu Mầm mống của cuộc khủng hoảng nội bộ đã xuất hiện Ðây là hai
thế kỷ nội chiến phong kiến Ðến nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX thì
sự suy yếu này không còn là dấu hiệu nữa Có thể nói chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vào thời kỳ khủng hoảng, suy vong trầm trọng, chuẩn bị cho sự
sụp đổ toàn diện của chế độ này vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Sự khủng
hoảng này được bộc lộ trên nhiều phương diện nhưng nổi bật nhất là tính chất
thối nát, suy thoái trong toàn bộ cơ cấu của chế độ phong kiến
Trang 15Về kinh tế thành phần kinh tế chính của đất nước giai đoạn này vẫn là kinh
tế nông nghiệp Nền kinh tế này bị đình đốn Kinh tế sản xuất hàng hóa cũng bị kìm hãm Như một quy luật, kinh tế đình đốn thường dẫn đến sự hỗn loạn về chính trị Những mâu thuẫn vốn có, chứa chất lâu ngày trong lòng chế độ phong
kiến Việt Nam đến đây đã có dịp bùng nổ dữ dội Về mặt văn hóa, nhà Nguyễn
cấm dùng chữ Nôm, cấm đoán về tư tưởng rất nghiệt ngã
Giai đoạn này được mang vinh hiệu là Thế kỷ nông dân khởi nghĩa Có thể nói đây là thời kỳ đấu tranh liên tục, mạnh mẽ, rộng khắp của quần chúng mà
chủ yếu là nông dân Tính chất mạnh mẽ thể hiện ở chỗ có những cuộc khởi nghĩa tập trung hàng vạn người, kéo dài hàng chục năm như cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu (1741-1751); cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương ( 1740-1750); cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất (1736-1769) Ðỉnh cao của phong trào khởi nghĩa lúc này là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn Cuộc khởi nghĩa này
đã dành được những thắng lợi vẻ vang: Ðánh đổ ba tập đoàn phong kiến thống
trị trong nước; đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh xâm lược, lập nên một vương triều phong kiến mới với nhiều chính sách tiến bộ Nhưng đáng tiếc là Quang Trung chỉ ở ngôi được mấy năm Sau khi Quang Trung mất, nhà Tây Sơn
lại trở nên lục đục Nhân cơ hội ấy, Nguyễn Ánh đã trở lại tấn công nhà Tây Sơn, lập nên triều đại nhà Nguyễn (1802) Triều Nguyễn là một tân triều, nhưng triều Nguyễn không đại diện cho cái mới Buổi đầu, để củng cố địa vị thống trị
của mình nhà Nguyễn còn thực hiện được một số chính sách tiến bộ nhưng càng
về sau nhà Nguyễn càng đi vào con đường phản động để rồi trở thành một triều đại phản động nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam Vì thế dưới triều Nguyễn các cuộc khởi nghĩa của nông dân vẫn liên tiếp xảy ra Tuy nhiên khởi nghĩa nông dân trong hoàn cảnh của xã hội đương thời không thể đi đến thắng
lợi hoàn toàn và triệt để Khởi nghĩa của nông dân chỉ mới là động lực thúc đẩy
xã hội phát triển chứ chưa thể làm thay đổi chế độ xã hội
Trang 16Nền kinh tế hàng hóa vốn xuất hiện từ thế kỷ XVI, thế kỷ XVII đã có nhiều bước phát triển đáng kể, đến giai đoạn này lại bị nhiều chính sách kinh tế phản động của chính quyền phong kiến kìm hãm cho nên nó chưa phát triển thành
một cơ cấu kinh tế mới để rồi tạo ra một giai cấp tư sản, nhưng cùng với sự đi lên của thành phần kinh tế này thì tầng lớp thương nhân, thợ thủ công, thị dân ngày càng đông đảo tập trung ở các thương cảng, đô thị
Tầng lớp thị dân do sinh hoạt kinh tế họ đã li khai phần nào với quan hệ sản
xuất phong kiến, cuộc sống của họ là cuộc sống đi đây đi đó nhiều, giao tiếp
rộng rãi kể cả giao tiếp với người nước ngoài cho nên về mặt tư tưởng, tình cảm,
họ trở nên phóng khoáng hơn người nông dân vốn bị trói buộc vào làng quê, hơn
cả nho sĩ vốn bị rập khuôn theo trăm nghìn thể chế, giáo điều chính thống cứng
nhắc Sự có mặt của tầng lớp này cũng đã tạo ra những làn gió mới lan tỏa vào đời sống tư tưởng, tinh thần thời đại Chính xã hội thị dân đã tạo ra môi trường
“văn hóa phi cổ truyền” Chính trong môi trường văn hóa ấy, nhiều cái mới đã được dịp nảy sinh và phát triển mạnh mẽ Thời gian này, xã hội Việt Nam vẫn là
xã hội chuyên chế tập quyền theo mô hình phương Đông nhưng đã bắt đầu xuất
hiện những yếu tố có xu hướng phá vỡ các khuôn khổ của xã hội Và điều cốt
yếu chúng tôi muốn thuật lại ở đây là mỗi loại hình nhà nho đều có sự hậu thuẫn
của một nền tảng kinh tế nhất định Với nhà nho hành đạo thì đó là những đặc ân được phân chia những lợi tức và tô thuế của nhà nước phong kiến; với loại hình nhà nho ẩn dật thì đó là nền kinh tế tự cung tự cấp theo kiểu “cày lấy ruộng mà
ăn, đào lấy giếng mà uống”; còn với loại hình nhà nho tài tử thì đó là sự hậu thuẩn của nền kinh tế đô thị tuy còn yếu ớt nhưng đã được hình thành và dần lớn
mạnh Chính sự khác biệt từ cơ sở kinh tế này đã tạo nên tính đặc thù của loại hình nhà nho tài tử Và theo Phan Ngọc, những con người tài tử lại là những người “học đạo thánh hiền nhưng suy nghĩ theo lối thị dân Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đều tư xưng là tài tử Con người tài tử là điển hình của
Trang 17thời đại mới Con người quân tử bị chế giễu, đạo đức sống khắc kỉ phục lễ bị
mạt sát Một trào lưu tư tưởng mới manh nha trong lòng những chàng trai tài
giỏi nhất của thời đại”[4; 103]
Người tài tử coi Tài và Tình là giá trị của con người chứ không phải là đạo đức như các nhà nho chính thống quan niệm Cũng từ việc đề cao chữ tài và
chữ tình, các nhà nho tài tử cũng có cách nhìn nhận mới về các bậc đế vương Các bậc đế vương không còn có quyền hành sinh sát theo kiểu “quân xử thần tử
thần bất tử bất trung” với các nhà nho tài tử nữa Giờ đây, các bậc đế vương lại
là cơ sở để các nhà nho tài tử trổ tài, thậm chí họ còn coi đế vương như những quân cờ trong ván cờ của họ Mối bận tâm hàng đầu của họ là thỏa mãn hoài bão
của cá nhân mình Và, sự trung thành của họ với vương quyền là sự trung thành
có điều kiện Đó là một giao kèo giữa người tài tử và vương quyền để người tài
tử phô diễn tài năng, thỏa mãn hoài bão và vương quyền có người củng cố để
vững chắc Mà người tài tử thì cậy tài, muốn hành động và đổi thay mọi khuôn
khổ, nên sẽ luôn là đối tượng cho sự đề phòng của vương quyền Đế vương và tài tử ở trong một trò chơi đánh đu mà hai bên đều phải nương tựa nhau nhưng
phải đề phòng nhau trong một luật chơi khá sòng phẳng
Cũng do là những con người tài hoa nên họ cũng phô diễn một cái tật đáng yêu của mình là đa tình Thậm chí, hoài bão lớn nhất của họ không phải là
“hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân”, ra mắt và được trọng dụng bởi thiên tử,
mà hoài bão lớn nhất là tri ngộ giai nhân trong cuộc đời hữu hạn của mình, như
lời thơ Nguyễn Công Trứ:
“Minh quân lương tướng tao phùng dị Tài tử giai nhân tế ngộ nan”
(Duyên g ặp gỡ)
Trang 18Như vậy, nhà nho tài tử là những người muốn được thể hiện hết bản thân mình và cũng muốn nếm trải toàn diện các lạc thú ở đời Cũng từ sự chế định
bởi các thiết chế chính trị và quân sự của vương quyền, các nhà nho tài tử có xu hướng ngông cuồng, phá phách, “đề cao triết lí hưởng lạc” như quan niệm của Nguyễn Công Trứ:
“Nhân sinh bất hành lạc Thiên tuế diệc vi thương”
(Đánh thức người đời)
(Đời người mà không hành lạc
sống nghìn năm cũng như đứa trẻ chết yểu) Tóm lại lịch sử dân tộc ta giai đoạn này là lịch sử đau thương nhưng quật
khởi, có bi kịch nhưng cũng có anh hùng ca Nhìn về phía giai cấp thống trị là cả
một sự sụp đổ, tan rã toàn diện của kỷ cương của lễ giáo phong kiến, của bộ máy quan liêu và nói chung là của toàn bộ cơ cấu xã hội Song nhìn về phía quần chúng thì đây là thời kỳ quật khởi, thế kỷ bão táp của các phong trào nông dân
khởi nghĩa, thời đại đấu tranh tháo cũi sổ lồng Xã hội có nhiều biến đổi với sự
ra đời của những tần lớp mới đặc biệt là sự xuất hiện của mẫu hình nhà nho tài
tử Trải qua nhiều biến động nhưng cuối cùng xã hội Việt Nam vẫn lâm vào tình trạng bế tắc không lối thoát Tuy vậy phong trào đấu tranh rầm rộ của quần chúng liên tiếp nổ ra trong suốt thế kỷ cũng đã làm bùng dậy nhiều khát vọng lành mạnh, làm quật cường thêm tinh thần dân tộc, tinh thần đấu tranh chống áp
bức, bóc lột, cổ vũ cho sự vươn dậy của tài năng, trí tuệ của con người
2 Con người Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765), niên hiệu Cảnh Hưng, tại Thăng Long Tổ tiên ông vốn là dòng dõi Nguyễn Xí gốc ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi
Lộc, Nghệ An sau di cư vào xã Nghi Xuân, huyện Tiên Điền (nay là làng Tiên
Trang 19Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) Bởi Nguyễn Xí là đại công thần khai
quốc nhà Lê, do đó sáu bảy thế hệ viễn tổ trước ông đã từng đỗ đạt làm quan Nguyễn Du thuộc về một gia đình khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời
Lê mạt
Thân phụ ông là Nguyễn Nghiễm (1708-1775), đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận Công dưới triều Lê Ngoài là một đại thần, ông Nghiễm còn là một nhà thơ, một nhà nghiên cứu sử
học Ông Nghiễm có cả thảy tám vợ và 21 người con trai Người con trưởng là Nguyễn Khản (1734-1786) đỗ Tam giáp tiến sĩ, làm quan tới chức Tham Tụng, tước Toản Quận Công (con bà chính, rất mê hát xướng, nổi tiếng phong lưu một
thời, thân với chúa Trịnh Sâm), người con thứ hai là Nguyễn Điều đỗ Hương
cống, từng làm trấn thủ Sơn Tây Nếu kể theo thứ tự này, thì Nguyễn Du đứng hàng thứ bảy, nên còn được gọi là Chiêu Bảy
Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần (1740-1778), con gái một người thuộc
hạ làm chức câu kế, người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, trẻ hơn chồng 32
tuổi Bà sinh được năm con, bốn trai và một gái
Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng cuộc sống này kéo dài không quá mười năm Vì 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mồ côi mẹ, ông và các anh em ruột phải đến sống với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản (khi
ấy ông Khản đã hơn Nguyễn Du 31 tuổi)
Năm 1780, khi ấy Nguyễn Du mới 15 tuổi thì xảy ra “Vụ mật án Canh Tý”: Chúa Trịnh Sâm lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử, thay cho con trưởng
là Trịnh Tông Nguyễn Khản giúp Trịnh Tông, việc bại lộ, bị giam Đến khi
Trịnh Tông lên ngôi, Nguyễn Khản được cử lên làm Thượng thư Bộ Lại và Tham tụng Quân lính khác phe (sử gọi là “kiêu binh”) không phục, kéo đến phá nhà, khiến Nguyễn Khản phải cải trang trốn lên Sơn Tây sống với em là Nguyễn
Trang 20Điều rồi về quê ở Hà Tĩnh Thế là anh em Nguyễn Du từ bấy lâu đã đến nương
nhờ Nguyễn Khản mỗi người phải mỗi ngã
Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài), sau đó không rõ
vì lẽ gì không đi thi nữa Trước đây, một võ quan họ Hà (không rõ tên) ở Thái Nguyên, không có con nên đã nhận ông làm con nuôi Vì thế, khi người cha này
mất, Nguyễn Du được tập ấm một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên
Năm 1786, Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà, đến năm 1789, Nguyễn
Huệ, một trong ba thủ lĩnh của nhà Tây Sơn đã kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi mấy vạn quân Thanh sang tiến chiếm Đại Việt Nguyễn Du cũng chạy theo vua Lê Chiêu Thống (1766-1793) nhưng không kịp, đành trở về quê vợ, quê ở Quỳnh Côi ở Thái Bình, sống nhờ nhà người anh vợ là danh sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn (1750-?) Được vài năm, Nguyễn Du về Nghệ An Năm 1796, nghe tin ở Gia Định, chúa Nguyễn Ánh (1762-1819) đang hoạt động mạnh, ông định vào theo, nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An thì đã bị quân Tây Sơn do tướng Nguyễn Thuận chỉ huy, bắt giữ ba tháng Trở về Tiên Điền (Hà Tĩnh), ông sống chật vật một thời gian dài cho đến mùa thu năm 1802, khi chúa Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, thì ông được gọi ra làm quan cho nhà Nguyễn
Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện tại huyện Phù Dung (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên) Tháng 11 cùng năm, đổi làm Tri phủ Thường Tín (Hà Tây, nay thuộc Hà Nội) Kể từ đó, Nguyễn Du lần lượt đảm đương các chức
việc sau: Năm 1803: đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc; Năm 1805: thăng hàm Đông Các điện học sĩ; Năm 1807: làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương; Năm 1809: làm Cai bạ dinh Quảng Bình; Năm 1813: thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc Sau khi đi sứ
về vào năm 1814, ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ
Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng (1791-1840) lên ngôi, Nguyễn Du
lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịp lên đường thì mất đột
Trang 21ngột (trong một trận dịch khủng khiếp làm chết hàng vạn người lúc bấy giờ) ở kinh đô Huế vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức 16 tháng 9 năm 1820 Lúc đầu (1820), Nguyễn Du được táng ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, bốn năm sau ông mới cải táng về Tiên Điền (Hà Tĩnh)
*
Nguyễn Công Trứ tên tục là Củng, tự là Tồn Chất, hiệu là Ngộ Trai, biệt
hiệu là Hy Văn, sinh ngày 01 tháng 11 năm Mậu Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ
39, tức ngày 19 tháng 12 năm 1778; người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh
Hà Tĩnh Cha là Nguyễn Công Tấn, đậu cử nhân năm hai mươi bốn tuổi, làm giáo thụ phủ Anh Sơn, Nghệ An, sau thăng làm tri huyện Quỳnh Côi, rồi tri phủ Tiên Hưng, Thái Bình Khi quân đội Tây Sơn ra Bắc chiếm Thăng Long, Nguyễn Công Tấn xướng nghĩa cần vương chống lại nhưng không thành, ông đưa gia đình về quê mở trường dạy học Nguyễn Huệ mấy lần mời ra làm quan, ông đều từ chối
Mẹ Nguyễn Công Trứ là con gái quan quản Nội thị Cảnh Nhạc bá, họ Nguyễn, người xã Phụng Dực, huyện Thượng Phúc, tỉnh Sơn Nam (nay thuộc
Hà Nội) Gia đình Nguyễn Công Trứ có sáu anh em, ba trai, ba gái, có một bà
rất thông minh, giỏi thơ văn, người đương thời gọi là Năng văn nữ sĩ Năm mười chín tuổi, chồng chết, bà nhất định không chịu tái giá, bỏ nhà đi tu, được Minh
Mệnh ban cho danh hiệu “Trinh tiết khả phong”
Nguyễn Công Trứ từ bé đã sống trong cảnh nghèo khổ Khi nhà Nguyễn đang tích cực củng cố địa vị thống trị của mình, xã hội có vẻ ổn định, Nguyễn Công trứ hăm hở đi học đi thi Năm 1819, ông thi đậu Giải nguyên và được bổ
đi làm quan Bấy giờ ông đã bốn mươi mốt tuổi
Năm 1820 Nguyễn Công Trứ giữ chức Hành tẩu ở Quốc sử quán Sau đó ông liên tiếp giữ các chức Tri huyện Đường Hào, Hải Dương (1823), Tư nghiệp
Trang 22Quốc tử Giám (năm 1824), Phủ thừa phủ Thừa Thiên (1825), Tham tán quân vụ,
rồi thăng Thị lang Bộ hình (năm 1826) Năm 1828, ông được thăng Hữu tham tri
Bộ hình, sung chức Dinh điền sứ, chuyên coi việc khai khẩn đất hoang Năm
1832, ông được bổ chức Bố Chánh sứ Hải Dương, cùng năm thăng Tham tri Bộ binh, giữ chức Tổng đốc tỉnh Hải An Sau nhiều thăng giáng, năm 1845 Nguyễn Công Trứ làm Chủ sự Bộ hình, năm sau làm quyền Án sát Quảng Ngãi,
rồi đổi ra làm Phủ thừa Phủ Thừa thiên, rồi năm 1847 ông thăng làm Phủ doãn
phủ ấy Cũng năm này, ông tròn bảy mươi tuổi ta, Nguyễn Công Trứ xin về hưu, nhưng Thiệu Trị không cho Năm 1848, Tự Đức nguyên niên, ông được về hưu
hẳn
Trong một câu đối làm khoảng cuối đời, Nguyễn Công Trứ tổng kết cuộc đời mình: “Cũng may thay công đăng hoả có là bao, theo đòi nhờ phận lại nhờ duyên, quan trong năm bảy thứ, quan ngoài tám chín phen, nào cờ nào quạt, nào mão nào đai, nào hèo hoa gươm bạc, nào võng tía dù xanh, mặt tài tình trong hội
kiếm cung, khắp trời Nam bể Bắc cũng tung hoành, mùi thế trải qua ngần ấy đủ; Thôi quyết hẳn cuộc phong trần chi nữa tá, ngất ngưởng chẳng tiên mà chẳng
tục, hầu gái một vài cô, hầu trai năm bảy cậu, này cờ này kiệu, này rượu này thơ, này đàn ngọt hát hay, này chè chuyên chén mẫu, tay thao lược ngoài vòng cương
toả, lấy gió mát trăng trong làm tri thức, tuổi trời ít nữa ấy là hơn”
Cuộc đời Nguyễn Công Trứ là cuộc đời của một người say mê hoạt động Lúc nào trong tâm khảm nhà thơ cũng hằn lên một câu hỏi lớn:
“Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông”
Năm 1803, khi còn là thư sinh, Nguyễn Công Trứ đã dâng lên nhà vua Gia Long bản “ Thái Bình thập sách”, một cương lĩnh trị nước:
“Giữ lòng trung ái, Chăm đạo dâu con, Phát triển nông trang,
Trang 23Về “an dân”, Nguyễn Công Trứ có công làm yên những cuộc khởi nghĩa nông dân của Phan Bá Vành ở Nam Định, của Nùng Văn Vân ở Tuyên Quang,
của Lê Duy Phương ở Thanh Hoá, hay cuộc tiễu phạt ở Quảng Yên Nguyễn Công Trứ hết sức chăm lo cho cuộc sống đói nghèo của nông dân Ông đề nghị
“đặt nhà học” cho con em nhân dân được học hành “đặt xã thương” ở các làng
để quản lý thóc gạo, “khi nào giá cao thì bán, giá hạ thì mua, gặp lúc thuỷ hạn
bất thường, đem thóc chiếu cấp cho từng người, năm nào được mùa sẽ theo số
đã cấp thu lại để chứa trữ” (Sớ nói về năm quy ước trong làng; năm 1829) Ông
tố cáo “cái hại cường hào làm cho đến nỗi con mất cha, vợ mất chồng, tính
mệnh phải thiệt hại, tài sản phải sạch không” và đề nghị triều đình “trị tội rất
nặng” (Sớ nói về tệ cường hào; năm 1828), v.v
Trong những việc ông làm, có ích lợi thiết thực và to lớn cho nhân dân hơn cả là công cuộc khẩn hoang Ông tấu xin nhà nước cấp tiền gạo để chiêu tập dân nghèo khai khẩn Ông hướng dẫn nông dân khai phá một vùng đất đai rộng
lớn ven biển thuộc các tỉnh Ninh Bình và Thái Bình, lập nên hai huyện Tiền Hải
và Kim Sơn Ông chỉ huy việc khai khẩn vùng đất ven bờ biển tỉnh Quảng Yên,
Hải Dương Nhân dân các vùng khai hoang rất biết ơn ông Họ lập đền thờ ông ngay khi ông còn sống Trong đền kỷ niệm công cuộc dinh điền ở làng Đông
Trang 24Quách, huyện Tiền Hải, Thái Bình, có câu đối về công lao của ông rất cảm động:
“Đặc địa sinh từ, Đông Ấp nhất bách niên kỷ niệm,
Kình thiên trụ thạch, Hồng Sơn thiên vạn cổ tề cao”
(Trên đất dựng sinh từ, làng Đông Ấp trăm năm kỷ niệm,
Giữa trời trơ cột đá, ngọn Hồng Sơn muôn thủa sánh cao)
Nguyễn Công Trứ là một ông quan rất thanh liêm, chính trực Thuở bé nghèo xác, lớn lên thi đỗ, làm quan, về già Nguyễn Công Trứ vẫn sống đạm bạc ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN ghi lại câu chuyện Nguyễn Công Trứ không chịu nhận tiền hối lộ của Phạm Nguyên Trung, Ngô Huy Phác, bắt giải cả hai người cùng tang vật sang Nam Định để xét xử về tội đi hối lộ Thời gian làm Dinh điền sứ, ông nhận tiền gạo của nhà nước cấp cho dân nghèo làm vốn, số dư
thừa Nguyễn Công Trứ đều đem nộp lại cho công khố Cuối đời, Nguyễn Công
Trứ còn làm một việc rất cảm động Năm 1858, khi nghe tin Pháp đánh Đà
Nẵng, ông đã tám mươi tuổi, nhà thơ vẫn dâng sớ lên vua, tha thiết xin được tòng quân đánh giặc: “ Dù tôi như cái màn, cái lọng rách cũng không nỡ tự nản chí Còn chút hơi thở nào xin lên đường ngay” Nguyễn Công Trứ mất ngày 14 tháng 11 năm Tự Đức thứ 12 Ông thọ 81 tuổi
Suốt cuộc đời bốn phần năm thế kỷ của mình, Nguyễn Công Trứ đã làm nhiều việc, thâm tâm ông bao giờ cũng đinh ninh rằng việc mình làm là “vì dân
vì nước”:
“ Một mình để vì dân vì nước,
Túi kinh luân, từ trước để nghìn sau ”
Trang 253 Khái niệm con người hành lạc
3.1 Khái ni ệm con người nghệ thuật và con người hành lạc
Con người trong văn học trung đại Việt Nam rất phong phú Nó khác biệt
với con người trong văn học dân gian Mỗi thể loại có một cách quan niệm và
biếu hiện con người riêng nhưng vẫn có cái chung Quan niệm chung chi phối văn học trung đại Việt Nam trước tiên là những mẫu hình về con người vũ trụ,
thời trung đại, con người chủ yếu sống bằng nông nghiệp nên thường dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để sống Do đó, con người trung đại tin ở sự thống nhất trong thế giới Thiên nhiên là bạn tri âm tri kỷ của con người Người phương Đông xưa cũng quan niệm: thiên nhiên có mối giao hòa, giao cảm với con người
bởi con người là một "tiểu vũ trụ" có quan hệ tương thông tương cảm với "đại
vũ trụ"- thiên nhiên ngoại giới (Thiên nhân tương cảm, thiên nhân hợp nhất) Con người là một yếu tố trong mô hình vũ trụ: Thiên - Địa - Nhân hợp thành
"Tam Tài" Con người sống trong vòng "Thiên phú địa tái" (Trời che, đất chở) Cho nên, quan niệm “Thiên – Địa – Nhân” hay “Thiên Nhân tương cảm” cổ xưa
ấy đã chi phối nhiều đến sự biểu hiện trong tác phẩm nghệ thuật Do đó thơ văn trung đại thường chỉ xuất hiện một con người đứng trước trời đất
Tiếp đến là sự xuất hiện của con người đạo đức Con người luôn được nhìn nhận ở phương diện đạo đức luân lí Vì thế, văn chương xưa chia xã hội thành hai tuyến: thiện – ác, tốt – xấu với mục đích, chức năng nổi bật là giáo
Trang 26Chính vì vậy, con người sống theo luân lí đạo đức, theo lí trí thì được coi
là chân chính; còn những người sống theo xúc cảm, theo những luân lí trần thế, nhân bản thì bị coi thường, chê trách
Bên cạnh đó, con người trong văn học trung đại còn là con người của tấm lòng, con người của chí khí và việc tỏ lòng, tỏ chí khí là nét đặc trưng của họ
Bởi vậy, cái có giá trị nhất của con người thuộc về tấm lòng, muốn đánh giá về
một con người là xem tấm lòng của họ như thế nào Trong Truyện Kiều, để “tỏ lòng” hiếu thảo, Kiều đã bán mình chuộc cha Đó là một hành động phi thường, trên thực tế nàng có thể vay tiền chuộc cha, nhưng như thế thì quá bình thường Tương tự, Kiều Nguyệt Nga cũng thể hiện tấm lòng trinh liệt của mình khi ôm
bức chân dung Vân Tiên nhảy xuống sông tự vẫn
Cùng với mô hình con người vũ trụ và con người đạo đức trong văn học trung đại còn tồn tại một quan niệm khác về con người đó là quan niệm về con người đấng bậc Điều này được thể hiện rõ nét nhất là trong tác phẩm Truyện
Kiều của Nguyễn Du Cách miêu tả của Nguyễn Du chịu sự chi phối của quan
niệm đấng bậc về con người Trong quan niệm của ông, những con người như Kim Trọng, Thúy Kiều, Từ Hải là những “đấng”, những “bậc” đáng kính trọng
Họ là “đấng tài hoa” (Đạm Tiên); “bậc tài danh” (Kim Trọng); “bậc bố kinh” (Thúy Kiều); “đấng anh hùng” (Từ Hải) Đối với những nhân vật ấy, tác giả dành cho những lời trang trọng, tượng trưng Còn bọn Tú Bà, Mã Giám Sinh là
bọn vô loài, bọn chúng không có mẫu mực gì cả, mỗi đứa một vẻ, đều là
“tuồng” vô lại Bọn chúng được miêu tả theo đặc tính thực tế về nghề nghiệp cá nhân theo kiểu “Thoắt trông nhờn nhợt màu da”, hoặc: “Mày râu nhẵn nhụi, áo
quần bảnh bao”… rất hiện thực
Còn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX con người cá nhân dần xuất hiện trong văn học, con người trong văn học đã kêu to lên nhu cầu về quyền sống cá
Trang 27nhân, quyền hưởng hạnh phúc cá nhân như một quyền tự nhiên Con người cá nhân trong văn học chính là sự phản ánh cái tôi, là sự giãi bày, diễn tả thế giới tư tưởng, tình cảm riêng tư của tác giả Nói cách khác, con người cá nhân trong văn
học chính là sự tự khắc họa tâm tư, tình cảm, ý chí của tác giả được thể hiện thông qua những tác phẩm mà họ sáng tác Tùy theo từng giai đoạn, thời kỳ văn
học, mà con người cá nhân có những đặc điểm khác nhau
Riêng đối với văn học trung đại con người cá nhân cũng được thể hiện ở
mức độ đậm nhạt và qua nhiều bình diện khác nhau Cụ thể, ý thức về con người
cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam trải qua hai giai đoạn với những hình thái khác nhau Con người cá nhân tự khẳng định mình bằng cách gắn mình với đạo, với tự nhiên, với nghĩa vụ trong sự nghiệp chung của của cộng đồng Yếu
tố quyền lợi cá nhân chưa được chú ý
Ví như, con người cá nhân với ý thức khẳng định vẻ đẹp và tài năng (thơ
Hồ Xuân Hương); con người với nhu cầu bộc lộ tình cảm riêng tư, tâm sự u uẩn (thơ Nôm Nguyễn Trãi, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, ); con người thể hiện cảm
hứng sống ẩn dật, hành lạc (thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng); con người
với tình yêu lứa đôi, hạnh phúc, khát vọng nhu cầu trần thế (Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái và Truyền kỳ mạn lục); Con người cá nhân với niềm lo sợ
tuổi trẻ chóng tàn (Chinh phụ ngâm), Con người cá nhân công danh hưởng lạc ngoài khuôn khổ (thơ văn Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát); Con người cá nhân
giải thoát bằng hưởng lạc (thơ ca trù cuối thế kỉ XIX), Con người cá nhân trống
rỗng, mất hết ý nghĩa (thơ Nguyễn Khuyến,…)
Qua quá trình khảo sát ta có thể khẳng định rằng, con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam có một quá trình tự ý thức chậm chạp, lâu dài nhưng
mạnh mẽ Tuy qua từng thời kì lịch sử có chịu ảnh hưởng của ý thức hệ thống trị
Trang 28đương thời nhưng không bao giờ đóng khung trong ý thức hệ đó, mà phản ánh quá trình vận động, giải phóng cá tính của con người trong thực tế đời sống
*
Một trong những đặc điểm nổi bật, dễ nhận ra của văn học Việt Nam trung đại là có sự xuất hiện lặp lại của các đề tài, chủ đề, cảm hứng, tư tưởng ở các giai đoạn văn học, các tác giả văn học Dĩ nhiên đó không chỉ là sự lặp lại sáo mòn, công thức máy móc mà đây là một quy luật của quá trình phát triển lịch sử nói chung và văn học nói riêng Một tác phẩm văn học luôn mang dấu ấn chủ quan của tác giả, một giai đoạn văn học thực sự là một “tấm gương phản chiếu
thời đại” (O.Ban zắc) Cho nên sự lặp lại ở đây được hiểu theo nghĩa: Các giai đoạn cũng tạo nên một mạch cảm hứng, một chủ đề chung cho cả một thời kỳ văn học Con người hành lạc cũng nằm trong quy luật phát triển chung đó của văn học
Hành lạc được người ta nói đến nhiều, nhưng để giới thuyết một cách rõ ràng, sâu sắc thì rất không phải việc dễ dàng bởi vậy chúng tôi mặc dù đã rất cố
gắng để giới thuyết về tư tưởng hành lạc một cách cơ bản nhất nhưng dĩ nhiên
vẫn không tránh khỏi những chỗ còn sơ lược, thiếu sót
“Hành lạc” trong “Từ điển Tiếng Việt”của Nguyễn Văn Đạm, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội, năm 1999 là “tìm thú vui trong hoạt động tình dục” Như vậy, định nghĩa hành lạc được thu hẹp trong phạm vi “hoạt động tình dục” -
một hoạt động sinh lý tự nhiên của con người Chúng tôi thấy “hành lạc” được quan niệm như vậy còn phiến diện và hạn hẹp
Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Hà
Nội, năm 2009 thì “Hành lạc là tiêu khiển bằng những thú vui tầm thường,
Trang 29không lành mạnh” Định nghĩa này cũng chưa khái quát được đầy đủ nội dung cũng như tính chất của hành lạc
Còn nhóm biên soạn: Hùng Thắng, Thanh Hương, Minh Nhật, Bàng Cẩm trong “Từ điển Tiếng Việt”, Nhà xuất bản Thống kê năm 2003 lại cho rằng:
“Hành lạc là vui chơi, tiêu khiển, say mê thú vui vật chất” theo nhóm biên soạn này, hành lạc không chỉ bó hẹp trong “hoạt động tình dục” như quan niệm của Nguyễn Văn Đạm mà được mở rộng phạm vi hơn: Thú vui vật chất Sở dĩ chúng tôi nói mở rộng phạm vi hơn là vì “thú vui vật chất” thì bao gồm rất nhiều sở thích như ăn ngon, mặc đẹp, thú vui trong hoạt động tình dục, thú vui được chơi
những trò chơi mới lạ…
Chúng tôi tán đồng với quan điểm thứ hai này Bởi đây là một quan niệm khá đầy đủ toàn diện Và theo quan niệm này, chúng ta có thể thấy rằng, con người hành lạc ở một mức độ nhất định vẫn có mặt tích cực Bởi vì nó nói lên nhu cầu cơ bản, tự nhiên, thuộc bản năng của con người: Khi có tư tưởng hành
lạc tức là khi con người lên tiếng đòi quyền vốn có của mình Tuy nhiên nếu sa
đà vào hành lạc, đẩy tư tưởng hành lạc đến mức cực đoan cùng thì khi đó tư tưởng này đã bộc lộ mặt tiêu cực, đáng phê phán
3.2 C on người hành lạc trước và sau Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ
Một trong những đặc điểm của văn học trung đại Việt Nam là văn chương chưa trở thành một ngành chuyên biệt mà nó còn gắn với hiện tượng văn sử triết
bất phân Các nhà văn, nhà thơ trước hết là nhà nho hoạt động chính trị phục vụ cho triều chính, cho đất nước Mỗi tác giả đều mang trong mình hoài bão cống
hiến cho một xã hội thái bình, thịnh trị Khi không thực hiện lý tưởng tốt đẹp đó
của mình, họ phản ứng lại với xã hội bằng nhiều cách khác nhau Với Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…con đường ẩn dật trở thành phương châm để bảo toàn khí tiết, họ đề cao cuộc sống nhàn tản, ca ngợi cuộc sống thanh bạch
Trang 30Nguyễn Trãi thể hiện trong rất nhiều bài thơ của mình niềm vui với cuộc
sống an bần lạc đạo, cuộc sống không giàu sang, của cải đơn sơ nhưng thanh
bạch :
Cơm ăn chẳng quản dưa muối
Áo mặc nài chi gấm thêu
(Thu ật hứng, bài 22)
Một tiếng chim kêu, một cành hoa lay, một làn hương nhẹ thoảng, mấy giọt mưa thu rơi, một ngọn gió xuân thổi, tất cả đều có thể rung động cõi lòng nhà thơ Đến với thiên nhiên, Nguyễn Trãi bầu bạn cùng với “mai hạc” “non xanh”,
với “núi láng giềng”, “mây khách khứa”, cho nên nhà thơ đã quét am để đón mây, dành ao để chờ trăng, giữ rừng để đợi chim:
Bẻ cái trúc hòng phân suối Quét con am để chừa mây Trì tham nguyệt hiện chăng buông cá
Rừng tiếc chim về ngại phát cây
(Thơ nôm: Mạn thuật, bài 6)
Nếu như ở Nguyễn Trãi, vấn đề xuất xử là một cuộc đấu tranh nội tâm, lâu dài, quyết liệt thì với Nguyễn Bỉnh Khiêm đó không phải là nỗi băn khoăn lớn
Bởi ông hiểu được lẽ tự nhiên của xã hội, thấy được quy luật tuần hoàn của mọi
việc Ông cho rằng, khi gặp thời thịnh thì người tài giỏi cần ra giúp nước, giúp dân Nhưng khi gặp thời loạn, thấy mình bất lực trước thời cuộc thì “độc thiện kì thân”, lánh xa thời thế Ý thức được thời thế thịnh suy, dưới triều Mạc, Nguyễn
Bỉnh Khiêm nhận thấy triều chính nổi loạn, quan lại lộng thần, ông cáo quan về trí sỹ ở quê hương
Trang 31Lối thoát của Nguyễn Bỉnh Khiêm trước thời cuộc suy tàn là chủ trương
xuất thế lui về cuộc sống ẩn dật:
Cảnh cũ điền viên tìm chốn cũ Khách nhàn sơn đã dưỡng thân nhàn
(M ặc chê khen)
Chính trong chủ trương đó, ở Nguyễn Bỉnh khiêm đã xuất hiện con người
cầu nhàn và cũng chỉ dừng lại ở con người cầu nhàn chứ chưa tìm đến con người hành lạc và con người cầu nhàn đó, cũng giống như Nguyễn Trãi, nhà thơ chốn
Bạch Vân am cũng thể hiện qua thơ văn bằng sự ca tụng cuộc sống tự nhiên nơi thôn dã, gạt bỏ mọi giàu sang danh vọng, vui thú với cỏ cây:
Ba gian am quán lòng hàng mến
Cửa vắng ngựa xe không quấn quýt Đến giai đoạn sau Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Tú Xương… đi gần đến hành lạc hơn
Đọc Thơ chữ Hán của Nguyễn Du chúng ta sẽ bắt gặp; “con người cô đơn, xót mình đầy tâm trạng”(Trần Đình Sử); “con người tự thương mình”(Mai Quốc Liên); con người tráng khí nguội lạnh, chán chường công danh; con người tuổi già sức yếu; con người bệnh hoạn, bất lực (Lê Thu Yến); con người khát khao hưởng thụ những lạc thú cuộc đời…Có thể thấy con người khát khao hưởng thụ
những lạc thú cuộc đời cũng là một kiểu nhân vật trữ tình ẩn hiện bàng bạc qua các tập thơ Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục của ông Ông khuyên con người hãy sống hết mình cho hiện tại, bởi đời người ngắn ngủi, hãy tận hưởng khi còn có thể để không phải nuối tiếc, ân hận
Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan
Tây song nhật lạc thiên tương mộ
Trang 32(Hành l ạc từ, kỳ nhị)
Khuyên anh uống rượu rồi vui chơi
Kìa trông mặt trời đang lặn ở cửa sổ phía tây
Đối với Nguyễn Công Trứ ngoài công danh, ông chủ trương hưởng lạc Nếu công danh là cái tự khẳng định bằng “hướng ngoại”, thì hưởng lạc là sự khẳng định bản thể của cá nhân Nguyễn Công Trứ khi nói đến đời người không dùng
cụm từ “trăm năm” như mọi người mà nói “ba vạn sáu nghìn ngày” là rất thâm thuý : Sự hưởng lạc phải tính từng ngày, “lúc thái bình hà nhật bất xuân phong”
ý này trong bài Trong trần mấy mặt làng chơi càng thấy rõ :
Trăm năm trong cõi người ta,
Xóc sổ tính ngày chơi đà được mấy
Muốn thực hiện chí công danh thì phải đợi thời, sớm muộn tuỳ số phận, còn hưởng lạc thì tuỳ mình :
Cuộc hành lạc chơi bao là lãi bấy,
Nếu không chơi thiệt ấy ai bù
(Chơi xuân kẻo hết xuân đi)
Thơ Cao Bá Quát thể hiện con người của ông, một cá nhân mạnh mẽ, ngang tàng, sống ngoài thói tục Ông tài cao nhưng chí không ở công danh, dám làm điều cấm kỵ Khác với Nguyễn Công Trứ, ông thấy mình lạc lõng Ông không thấy “trời đất dọc ngang ngang dọc” mà thấy “Bãi cát, bãi cát dài – Một bước lại giật lùi… Đường phẳng mờ mịt – Đường hiểm vô cùng” (Bài ca ngắn đi trên bãi cát) và khi về quê ông nuôi chí giải thoát, bỏ không theo dấu xưa vết cũ Trong bài Nhàn vịnh, ông viết :
Bởi ngán phong trần ưa đạm bạc,
Há ham danh lợi chịu ngây ngô Bạn bè có hỏi đường bay nhảy,
Trang 33Cười trỏ tầng xanh mây lửng lơ
Từ khao khát tháo cũi sổ lồng, bay lên trời cao đến hành động nổi dậy ở Mỹ Lương chắc là không xa Thơ chữ Hán Cao Bá Quát thể hiện một con người tài cao, chí lớn, thâm trầm, đôn hậu, không màng danh lợi, hưởng lạc
Trong thơ ca trù, Cao Bá Quát khi thì tỏ chí chán đời, khinh đời, muốn quên hết mọi sự đời để đạt đến cõi tự do tinh thần, được giải thoát khỏi mọi ràng buộc của xã hội, hoà nhập với thiên nhiên :
Bóng thiều quang thấp thoáng dưới Nam Sơn,
Ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ
Khoảng trời đất cổ kim, kim cổ, Mảnh hình hài không có, có không,
Lọ là thiên tứ vạn chung
Có thể nhận thấy ý thức cá nhân trong thơ Cao Bá Quát thể hiện trong một thái độ khinh đời, bất cần đời và ông dùng thái độ ấy để tự khẳng định mình đứng ngoài mọi ràng buộc
Tú Xương là nhà thơ lận đận về danh vọng, không tự khẳng định được mình bằng thi cử, cảm thấy thua lép chúng bạn (“Thua mãi anh em cánh Bắc Kỳ” – Buồn thi hỏng) Đã không làm được quan cho vẻ vang dòng họ và nuôi sống gia đình, lại còn thích ăn chơi : cao lâu, cô đầu, ăn diện thanh lịch, chẳng ra quan, chẳng ra dân, túng thiếu thường xuyên
Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ,
Rượu chè trai gái đủ tam khoanh
Thế mà vẫn nghĩ rằng ta giỏi,
Cứ việc ăn chơi, chẳng học hành
(Tự cười mình)
Trang 34Rõ ràng nhà thơ tự giễu mình, vẽ ra toàn là các tật xấu của mình : nịnh vợ, khinh đời, bài bạc, ruợu chè, trai gái, không học hành Nhưng đồng thời xét trên một ý nghĩa nào đó, đấy không phải là các tật hoàn toàn xấu cả, hoặc thậm chí không lấy gì làm xấu như nịnh vợ, khinh đời Bài bạc, rượu chè, trai gái đã hẳn
là không hay, nhưng đó là cuộc sống ngoài quyền môn, không luồn cúi, tự do
Một trà, một rượu, một đàn bà,
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được cái gì hay cái nấy,
Có chăng chừa rượu với chừa trà
(Ba cái lăng nhăng)
Có thể thấy bước phát triển của con người hành lạc trong từng giai đoạn khác nhau Trước Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ các nhà nho chính thống như Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm với tư tưởng chán ngán thời cuộc, tìm
về với thiên nhiên để di dưỡng tinh thần, ca tụng vui thú với cảnh nhàn, ở đây con người cầu nhàn đóng vai trò đạo Giai đoạn sau những nhà nho tài tử như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Tú Xương… thì con người cầu nhàn đã có bước phát triển mới trở thành con người hành lạc Hành lạc ở đây không chỉ gói gọn trong niềm vui với thiên nhiên mà còn có cả cầm, kỳ, thi, tửu, với “yến yến hường hường” (Nguyễn công Trứ), tận hưởng trọn vẹn những thú vui cuộc đời Đó cũng là cách những nhà nho tài tử này đối lập với xã hội ô trọc đương thời bằng tài năng và những “thú chơi” hơn người của mình
Trang 35CHƯƠNG 2
C ẢM HỨNG HÀNH LẠC TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU
VÀ THƠ NGUYỄN CÔNG TRỨ
Tư tưởng hành lạc là một bước phát triển cao hơn của tư tưởng cầu nhàn, tư tưởng này xuất hiện ở Nguyễn Du và thể hiện mạnh mẽ ở Nguyễn Công Trứ Mỗi tác giả (trước hết là những nhà nho hoạt động chính trị, phục vụ đất nước) đều mang trong mình hoài bão cống hiến cho một xã hội thái bình thịnh trị Nhưng thực tế xã hội nhiều bất công, ngang trái, loạn lạc không cho họ thực hiện lý tưởng tốt đẹp đó Do vậy họ phản ứng xã hội bằng cách quay về ẩn dật,
‘‘lánh đục tìm trong’’để bảo toàn khí tiết
Đến với Nguyễn Du, nhà thơ cũng có tư tưởng cầu nhàn nhưng được nâng lên mức cao hơn là hành lạc và tư tưởng này được thể hiện mạnh mẽ ở Nguyễn Công Trứ Cũng đều thể hiện tư tưởng hành lạc trong thơ văn mình nhưng Nguyễn Du lại có nét khác biệt với Nguyễn Công Trứ Tư tưởng hành lạc được Nguyễn Du thể hiện trực tiếp trọn vẹn trong bài thơ hành lạc 1 và hành lạc 2 Dường như đây là “bản tuyên ngôn” về tư tưởng hành lạc Không những thế, trong rất nhiều bài thơ khác có một câu thơ cũng góp phần thể hiện tư tưởng ấy của Nguyễn Du Đọc bài thơ “Hành lạc từ” ta thấy ông kêu gọi mọi người “Tội
gì giữ nếp nghèo nàn Hãy tìm vào thú vui hành lạc” Nguyễn Du khuyên mọi người ăn thịt chó, uống rượu, vui chơi, đi săn để vui thú cùng hươu nai và thưởng thức cái đẹp ở đời, cái đẹp trong nhạc, trong múa, cái đẹp của mỹ nhân Nhưng Nguyễn Du chỉ khuyên thế thôi chứ thực tế ông không sa đà, không say sưa Nguyễn Du vẫn lấy con mắt tỉnh để xem xét sự đời Ở Nguyễn Công Trứ, ta bắt gặp một con người ngang tàng trong thực hiện chí nam nhi và ngang tàng trong cả hành lạc nữa Ông công khai, ngạo nghễ nói về hành lạc và đẩy lên thành triết lý sống chi phối tất cả, tìm đến say sưa với thú vui nhục thể có ‘‘yến yến hường hường mới thú’’ Nguyễn Công Trứ là con người hành lạc: cầm kì thi
Trang 36tửu, yến yến hường hường….đủ các màu sắc, cách nói chuyện về ăn chơi của ông thật tự nhiên đến mức hồn nhiên Với ông ăn chơi cũng là cách để tự khẳng định mình với nhân gian: khẳng định có cốt cách tài năng đa tình của người tài
tử Do vậy, đọc thơ hành lạc Nguyễn Công Trứ ta không thấy có nỗi buồn thấm thía như trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Nguyễn Du - đằng sau những vần thơ hành lạc là một con người mang đầy tâm sự, luôn đau nỗi đau của cuộc đời và của mọi kiếp người
2.1 Nhu cầu về rượu
Rượu là thú vui, thú chơi của người xưa Nó còn là nguồn cảm hứng vô tận cho thi nhân, khơi nguồn những trang thơ bất hủ Thi hứng thường được bắt nguồn từ tửu hứng Trong các cuộc vui có uống rượu, người xưa thường đọc thơ, bình thơ, nên có thành ngữ “bầu rượu, túi thơ”
Cổ nhân từng viết: “Tửu - nguyệt - phong - hoa vị phẩm đề” (Rượu - trăng - gió - hoa là những thứ không bút nào tả xiết) trong đó rượu được xếp vị trí đầu tiên Đã có bao nhiêu danh sĩ, thi sĩ mê rượu và sành rượu, mượn rượu làm niềm vui thi phú, ngâm thơ vịnh nguyệt Lý Bạch, nhà thơ lớn Trung Quốc đời Đường cho rằng : “Tự cổ thánh hiền giai tịch mịch / Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh” (Xưa nay thánh hiền đều yên lặng / Chỉ người uống rượu là để lại tên tuổi)
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng từng nói đến uống rượu nhưng chưa đến độ say sưa suốt ngày và cũng chỉ trong mấy câu thơ:
Cầm kì khiển hứng cơn say tỉnh Rượu đến cội cây ta sẽ uống
(Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Rượu đối cầm thơ một thủ
Ta cùng bóng lẫn nguyệt, ba người
Trang 37(Tự thán bài 6 – Nguyễn Trãi)
Thi sĩ Tản Đà cũng đắm chìm trong men rượu, rượu càng say, thơ càng ngông:
“Say sưa nghĩ cũng hư đời
Hư thời hư vậy, say thời cứ say Đất say đất cũng lăn quay Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười”
(Say- Tản Đà)
Nói đến uống rượu là phải nhắc đến Lưu Linh người đời Tây Tấn, tính tình phóng khoáng, nổi tiếng về rượu và thơ Ông yêu rượu đến mức làm bài “Tửu đức tụng” để ca ngợi cái đức của kẻ uống rượu Không chỉ con người trẻ tuổi mới ham lạc thú, người già cũng thích tìm kiếm những niềm vui cuộc đời Uống rượu là một trong những lạc thú của người đời xưa nay và cái tôi trữ tình trong thơ thơ chữ Hán của Nguyễn Du và thơ Nguyễn Công Trứ cũng hay nhắc đến lạc thú này
Trong ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, rượu hiện diện đến 16 lần Đáng chú ý là hình ảnh rượu thường có mặt ở kết thúc bài thơ (11 lần) Người xưa thường cho rằng cái hay của một bài thơ thường đọng ở câu kết Những câu kết
về rượu trong thơ Nguyễn Du hé mở cho chúng ta nhiều điều về quan niệm nhân sinh của nhân vật trữ tình
Trong nhiều bài thơ Nguyễn Du ca tụng việc uống rượu, rượu không chỉ là một thứ nước cay nồng mà còn là một lạc thú đối với con người Con người cảm thấy thú vị thật sự khi có nó:
Mỹ tửu lũy bách chi
(Rượu ngon uống hàng trăm chén)
Trang 38Nguyễn Du ao ước một cuộc sống thanh nhàn, vứt bỏ mọi danh lợi bụi trần
để vui với cây đàn chén rượu:
Tự ngôn thần thị tửu trung tiên Bạc thị vinh danh đồng tệ lý
(Đào hoa đàm Lý Thanh Liên cựu tích)
(Tự xưng ta là tiên trong làng rượu Xem nhẹ vinh hoa như chiếc giày rách) Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du nhiều lần nói việc uống rượu của bản thân mình Chỉ có một lần nhà thơ uống rượu để tiễn bạn trong bài Lưu biệt Nguyễn Đại Lang:
Tây phong qui tụ liễu cao lâm Khuynh tận ly bôi, thoại dạ thâm (Gió tây hiu hắt thổi qua rừng cây cao
Hãy cạn chén rượu biệt ly và nói chuyện tận khuya)
Chỉ đọc hai câu này chúng ta chưa thể đưa ra kết luận nhà thơ thích uống rượu được, vì rượu ở đây là chén biệt ly, uống để mà nói chuyện với nhau khi chia tay Nhưng đọc hai câu này trong bài Tạp thi thì rõ ràng thi nhân rất hay uống rượu:
Trang 39
Thôn cư bất yếm tần cô tửu
Thượng hữu nang trung tam thập tiền (Ở thôn quê mua rượu hoài không chán
Trong túi vẫn còn ba mươi đồng tiền)
Nhà nghèo không có tiền mua thuốc, trong túi có ba mươi đồng nhưng ông cũng chỉ nghĩ đến rượu ngon Trong cả hai bài Hành lạc từ nhà thơ khuyên mọi người hãy uống rượu khi còn có thể, đừng lo nghĩ tính toán gì chuyện được mất trước mắt, hãy sống và tận hưởng hết mình trong hiện tại bởi đời người quá ngắn ngủi, phú quí trước mắt như phù vân, kẻ hiền người ngu xưa nay lúc chết đi cũng chỉ còn lại một nắm đất mà thôi:
Hữu tửu thả tu khuynh Nhãn tiền đắc táng dĩ nan nhận
Hà sự mang mang thân hậu danh
(Hành lạc từ, bài một)
(Có rượu cứ nên cạn bầu Chuyện trước mắt, được mất còn khó biết Cần gì phải lo đến cái danh xa vời sau khi chết) Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan
Tây song nhật lạc thiên tương mộ
(Hành lạc từ, bài hai)
Khuyên anh uống rượu rồi vui chơi Kìa trông mặt trời đang lặn ở cửa sổ phía tây
Và ông khuyên người đời:
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu
Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi
(Đối tửu)
Trang 40(Lúc sống không uống cạn hồ rượu Chết rồi ai tưới rượu trên mộ cho) Sinh ra và lớn lên giữa một thời tao loạn, chứng kiến biết bao cuộc đổi thay Ngay gia đình ông cũng là cả một tấn bi kịch với sự phân hóa quyết liệt, vì người mang tâm sự hoài Lê, người nhập cuộc với Tây Sơn, có người chống đối hoặc theo về với nhà Nguyễn Bản thân ông cũng bị xô đẩy, vừa mới được giữ một chức quan nhỏ dưới thời Lê mạt thì phong trào Tây Sơn dấy nghĩa, ông trở thành cánh bèo trôi dạt, khi ở quê vợ Thái Bình, khi về lại núi Hồng, sông Lam Cuộc sống chịu nhiều khó khăn, bệnh tật, chưa đến ba mươi mà mái tóc trên đầu
đã bạc trắng, bao hùng tâm tráng chí giờ chỉ còn biết thở dài mà thôi Tâm trạng
đó càng cho ta thấy được nỗi cô đơn bế tắc của Nguyễn Du trong cõi đời này, nhà thơ dường như không có ai là bạn tri âm tri kỉ trút bầu tâm sự ngoài rượu say, biết đến lúc ra đi có ai còn nhớ tới ông mà tưới rượu lên mồ không ? nỗi trăn trở ấy còn trở đi trở lại da diết trong tâm can nhà thơ:
Ninh tri dị nhật tây lăng hạ
Năng ẩm trùng dương nhất trích vô
(Mạn hứng)
(Chẳng biết rồi đây khi nằm xuống ở dưới gò tây
Có được uống một giọt rượu nào trong tiết trùng dương không?)
Sự cô độc giữa cuộc đời dường như đối với Nguyễn Du đã trở thành nỗi ám ảnh, khác nào một Khuất Nguyên xưa mọi người đều say chỉ mình ta tỉnh bởi thế gian này đâu đâu cũng là sông Mịch La, người người đều là Thượng Quan biết lấy ai thấu hiểu và đồng cảm với tâm sự của ông
Ngoài ca tụng việc uống rượu thì Nguyễn Du cũng nhắc tới tác dụng của rượu rải rác trong các bài thơ chữ Hán của mình Khi cuộc sống nghèo đói đến nỗi bệnh không có thuốc uống, con người chưa đầy ba mươi mà mái tóc đã bạc