1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo ngành sữa

22 292 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước khi tìm hiểu về ngành sữa Việt Nam, cần có cái nhìn tổng quát về thị trường sữa thế giới, đặc biệt là cung-cầu và giá cả nguyên liệu sữa bột, vì hơn 70% nguyên liệu sữa tại Việt N

Trang 2

Trong những năm trở lại đây, sữa là một trong những ngành đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong ngành thực phẩm

ở Việt Nam, với mức tăng trưởng doanh thu trung bình trong giai đoạn 2005-2009 đạt 18%/ năm (EMI 2009) Với một

đất nước đang phát triển, có tốc độ đô thị hóa và tăng dân số cao như ở Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ sữa sẽ tiếp tục tăng

trong những năm tới Trước khi tìm hiểu về ngành sữa Việt Nam, cần có cái nhìn tổng quát về thị trường sữa thế giới,

đặc biệt là cung-cầu và giá cả nguyên liệu sữa bột, vì hơn 70% nguyên liệu sữa tại Việt Nam đến từ nhập khẩu

Thị trường sữa thế giới

Bảng 1: Thị trường sữa thế giới

Tổng sản lượng sữa (triệu tấn)

Tổng thương mại (triệu tấn)

Nhu cầu các nước đang phát triển (kg/ đầu người/năm)

Nhu cầu các nước phát triển (kg/ người/ năm)

2008

691,7 40,5 65,6

246

2009P

700,9 38,6 65,7

248

2010F

713,6 40,6 67,2 247,6

Sản xuất sữa thế giới trong năm 2009 ước đạt 701 triệu tấn, tăng 1% so với năm ngoái Tốc độ tăng trưởng sản xuất ở

các nước đang phát triển nhanh hơn các nước phát triển, và rõ nét hơn vào năm 2010, với dự kiến là tăng trưởng ở

các nước đang phát triển sẽ là 4% so với sản lượng không mấy thay đổi ở các nước phát triển Sản xuất sữa năm 2010

sẽ tăng khoảng 2% lên 714 triệu tấn (Bảng 1)

Tổng thương mại sữa thế giới năm 2009 sụt giảm 4,6% so với năm 2008, nguyên nhân chủ yếu là do tác động của

cuộc suy thoái kinh tế Tuy nhiên, dự báo năm 2010, tổng thương mại sữa thế giới có thể bằng mức của năm 2008, đạt

khoảng 40.6 triệu tấn (Bảng 1) Chính nhu cầu về các sản phẩm về sữa tăng nhanh ở các nước đang phát triển là động

lực chính cho tăng trưởng thương mại sữa thế giới trong năm tới, do nhu cầu này ở các nước phát triển đã ở trong giai

đoạn bão hoà

Cung-cầu và giá cả sữa bột nguyên liệu thế giới

Đầu vào cho ngành chế biến sữa bao gồm sữa tươi và sữa bột, trong đó thương mại giữa các nước về sữa bột chiếm

chủ đạo Sữa bột nguyên liệu bao gồm sữa bột gày và sữa bột nguyên kem, có những biến động mạnh từ năm 2007

trở lại đây (Biểu đồ 1)

Biểu đồ 1: Diễn biến giá nguyên liệu sữa xuất

khẩu từ Châu Úc 2007-nay

Đơn vị: Giá FOB (USD/ tấn)

Sữa bột nguyên bơ

Sự phục hồi của giá sữa thế giới từ giữa năm 2009 ban đầu được coi là hiện tượng ngắn hạn, song được củng cố khi giá sữa bột giữ mức trên 3.000 USD/ tấn FOB từ cảng châu Úc Xu thế tăng giá của sự bột được dự đoán là sẽ tiếp

tục trong năm 2010 do nhu cầu gia tăng, khi GDP các nước phát triển và đang phát triển đạt lần lượt là 1,7% và 5,5% trong năm 2010 Nhà nhập khẩu chính là Trung Quốc có thể đạt mức tăng GDP 9,3% trong năm tới

Nguồn cung xuất khẩu được dự báo là sẽ hạn chế Bên

cạnh cầu nhập khẩu nguyên liệu sữa tăng lên do sự phục hồi của nền kinh tế, các nguồn cung xuất khẩu được dự báo sẽ bị hạn chế vì sản lượng sữa nội địa của Mĩ và Châu Âu có thể sẽ giảm vào năm 2010, trong khi dự báo sản lượng ở Châu Úc còn chưa thực sự rõ ràng (USDA, 2009) Dựa trên những dự báo trên, giá sữa năm 2010 sẽ tăng so với năm 2009 Theo dự báo của USDA, giá trung bình cho các loại sữa năm 2010 là

(Nguồn: FAO 2010) khoảng 3.600-3.700 USD/ tấn, tức là tăng khoảng 20% so với

năm 2009 (Dairyvietnam, 2010)

Trang 4

NGÀNH SỮA VIỆT NAM

Biểu đồ 2: Doanh số sữa của Việt Nam

gia tăng doanh số từ sữa của các hãng sản xuất tại Việt Nam, với tổng doanh thu các mặt hàng sữa tăng ổn định qua các năm Năm 2009, tổng doanh thu đạt hơn 18.500

tỉ VNĐ vào năm 2009, tăng hơn 14% so với năm 2008 (Biểu đồ 2) Điều này cho thấy rằng khủng hoảng kinh tế trong 2 năm vừa qua không ảnh hưởng nhiều đến tiêu thụ sữa tại Việt Nam

Hiện nay, tiêu dùng các sản phẩm sữa tập trung ở các thành phố lớn, với 10% dân số cả nước tại Hà Nội

và thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ 78% các sản phẩm sữa (Somers, 2009) Bình quân mức tiêu thụ hàng năm hiện đạt 9 lít/người/năm, vẫn còn thấp so với các nước

(Nguồn: EMI 2009a,b)

trong khu vực như Thái Lan (23 lít/ người/ năm) hay Trung Quốc (25 lít/ người/ năm); do đó, theo xu hướng của các

nước này, mức tiêu thụ tại Việt Nam sẽ tăng lên cùng với GDP (VINAMILK 2010) Cùng với nhu cầu về các sản phẩm

sữa ngày càng tăng lên tại Việt Nam, thị trường sữa hiện có sự tham gia của nhiều hãng sữa, cả trong nước và nước

ngoài, với nhiều sản phẩm phong phú

1 Các sản phẩm sữa ở Việt Nam

Hình 1: Các sản phẩm sữa ở Việt Nam

Sữa bột

công thức

Sữa uống Sữa khác: sữa chua,

sữa đặc có đường

Sữa nước Sữa bột khác(*) Sữađậu nành

(Nguồn: EMI 2009 a-b, VINAMILK 2010)

Sữa bột là mảng sản phẩm đem lại lợi nhuận cao nhất cho nhà sản xuất

Cạnh tranh trong ngành sữa diễn ra mạnh nhất ở mảng sữa bột (bao gồm cả sữa bột công thức và các loại sữa bột khác) Mảng sữa bột, đặc biệt là các loại sữa bột thuộc phân khúc cao cấp sẽ là đối tượng cạnh tranh của các hãng, do lợi nhuận của nhà sản xuất/ giá bán lẻ ở mức rất cao, đạt 40%; và đây cũng là mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu các mặt hàng sữa (Somers 2009) Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt nhất bởi mảng sản phẩm này bởi có sự tham gia của rất nhiều hãng sữa cả trong nước và nước ngoài

1.1.Sữa bột công thức (milk formula)

Sữa bột công thức là sản phẩm sữa bột trẻ em được pha chế theo công thức đặc biệt thay thế sữa mẹ hoặc được bổ

sung những vi chất đặc biệt dành cho các đối tượng đặc biệt; thường là trẻ em dưới 3 tuổi

Bảng 2:

Thị phần theo doanh thu các hãng sữa bột công thức (%)

2005 2006

23,8 14,4 13,9

12 10,1 2,1 23,7

100

23,4 15,6 14,9 12,4 9,3 1,8 22,6

100

Abbott Vietnam Co.Ltd

Vinamilk

Mead Johnson Nutrition

Dutch Lady Vietnam

100

2007

23 16,4 15,1 13,2 8,6 1,6 22,1

100

2008

23,1

17 14,7 13,8 8,5 1,5 21,4

Dupro Gold step 2

Friesland Abbott Mead Johnson Royal Numico NV

Giá/ hộp VNĐ

72.100 70.500 154.700 160.000 164.000

(Nguồn: Các đại lý và website giá của VINAMILK)

(*)Giá trước tháng 3/2010 (Nguồn: EMI 2009a)

Trang 6

Đây là mảng sản phẩm có tốc độ phát triển nhanh nhất trong ngành thực phẩm đóng gói, với mức tăng trưởng

kép hàng năm (CAGR) đạt 20,8% cho giai đoạn 2004-2009 Năm 2009, tổng doanh thu sữa bột công thức đạt hơn

6.590 tỉ VNĐ, chiếm 35,6% doanh thu toàn ngành sữa, tăng mạnh về cả nhu cầu và nguồn cung sản phẩm đa dạng

(EMI 2009) Các điều kiện kinh tế-xã hội thay đổi, mức sống dân cư tăng lên, cha mẹ ở Việt Nam ngày càng có khả

năng và muốn loại sản phẩm tốt nhất cho con mình Đặc biệt ở các thành phố lớn, người mẹ ít có thời gian hơn để

chăm sóc con mình, sữa bột trẻ em được sử dụng ngày càng nhiều do tiện lợi và đem lại nguồn dinh dưỡng tốt Chất

lượng là yếu tố quan trọng nhất khi chọn mua sản phẩm này, nhất là khi các cha mẹ cẩn thận hơn với các loại sữa có

thể bị nhiễm melamine hoặc có hàm lượng protein thấp

Các loại sữa bột công thức được chia theo lứa tuổi trẻ em, phổ biến là các lứa tuổi: 0-6 tháng, 6-12 tháng, 1-2-3 tuổi, và

lớn hơn 3 tuổi Sữa bột công thức được phân cấp rõ ràng giữa các sản phẩm cao cấp và cấp thấp hơn

Phân khúc thị trường cao cấp chủ yếu nằm trong tay các hãng sữa nước ngoài với các dòng sản phẩm sữa

nhập khẩu Có thể kể đến các sản phẩm như Gain của Abbott, Friso của FrieslandCampina - Dutch Lady Việt Nam,

Enfa của Mead Johnson; với giá bán thường đắt gấp 2 lần các sản phẩm cấp thấp hơn cùng loại; như có thể thấy ở

Bảng 1.4 về ví dụ giá các sản phẩm sữa dành cho trẻ từ 6-12 tháng tuổi của các hãng sữa Tuy nhiên, điều này không

ảnh hưởng nhiều đến thị phần của các hãng sữa nước ngoài, với tổng thị phần qua các năm chiếm hơn 70% thị phần

sản phẩm sữa bột công thức Abbott là hãng sữa chiếm thị phần cao nhất với nhãn hàng Gain, tuy có sụt giảm khoảng

0,1-0,2% trong những năm qua Người tiêu dùng đặt nhiều lòng tin hơn vào các hãng sữa bột ngoại, luôn được coi là

đáng tin cậy và có chất lượng tốt hơn do được sản xuất dưới các điều kiện kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt hơn

Phân khúc thấp hơn do FrieslandCampina Việt Nam - Dutch Lady (các sản phẩm sản xuất trong nước) và

VINAMILK nắm giữ Những sản phẩm của hai hãng này có ưu thế cạnh tranh về giá, do đó có khả năng mở rộng thị

trường ở các khu vực nông thôn Thị phần của hai công ty này tăng đều qua các năm, nhờ mạng lưới phân phối rộng

và các chiến dịch quảng cáo, truyền bá thương hiệu sản phẩm (Bảng 2) Một trong những chiến dịch quảng cáo lớn

năm 2009 là nhãn hàng Dielac của VINAMILK Nhằm dành lại thị phần từ các công ty sữa nước ngoài, VINAMILK

muốn gừi thông điệp là Dielac được sản xuất dành cho nhu cầu dinh dưỡng riêng cho trẻ em Việt Nam, và chất lượng

thì ít nhất bằng các hãng nhập khẩu

1.2.Sữa uống (drinking milk)

Các sản phẩm sữa uống bao gồm: sữa nước, sữa bột khác (không bao gồm sữa bột công thức trẻ em), và sữa đậu

28,4

26,6 25,2 23,7

27,8 23,7

2009, tốc độ tăng trưởng giá trị doanh thu so với năm 2008 là 15%, chủ yếu là do giá tăng ở hầu hết các mặt hàng, đạt gần 8.000 tỉ VNĐ trong năm 2009 (EMI, 2009)

? Sữa nước Sữa nước bao gồm sữa tươi nguyên chất (được làm từ 100% sữa tươi) và sữa tiệt trùng (được

chế biến từ sữa bột nhập khẩu) Do nguồn nguyên liệu trong nước hạn chế, các sản phẩm sữa tiệt trùng hiện

chiếm phần lớn trong tiêu thụ sữa nước VINAMILK và Dutchlady là 2 công ty chiếm phần lớn thị phần sữa

nước, với sữa nước dành cho trẻ em và các đối tượng khác Các công nhỏ trong nước khác như Hanoimilk,

Nutifood, Mộc Châu, Ba Vì chiếm thị phần nhỏ về mảng sản phẩm này Năm 2009, Vinamilk đã có bước tăng

trưởng đột phá, vươn lên chiếm 55,4% thị phần sữa nước toàn quốc

? Sữa bột khác Đây là các loại sữa bột dành riêng cho từng đối tượng, thường là người lớn với các sản phẩm

như: Dielac Mama (VINAMILK), Enfamama (Abbott), Frisomum (Dutch Lady - nhập khẩu trực tiếp từ Hà Lan)

- hướng tới đối tượng là phụ nữ mang thai; Anlene (Fonterra Brands) hay Ensure (Abbott) dành cho người có

nhu cầu dinh dưỡng đặc biệt Thị trường chuyên biệt trong ngành sữa thường là dinh dưỡng cho người lớn tuổi

và dinh dưỡng dành cho theo bệnh lý như Vượt trội trong cung cấp calcium cho người lớn tuổi, nhãn hàng

Trang 8

Anlene của công ty Fonterra đã chiếm đến 80% thị phần trong ngành hàng chuyên biệt này Ở mảng sản phẩm

này, các mặt hàng sữa nhập khẩu nước ngoài vẫn chiếm ưu thế về thương hiệu và thị phần

? Sữa đậu nành Sản phẩm này có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong những năm qua, với CAGR giai đoạn

2004-2009 đạt 24,2%, do nhận thức của người tiêu dùng về lợi ích của sữa đậu nành ngày càng tăng, và nhờ

các chiến dịch quảng cáo của nhà sản xuất Hiện nay, công ty sữa đậu nành Việt Nam Vinasoy chiếm 70% thị

phần về sữa đậu nành hộp giấy, với 2 sản phẩm chính là sữa đậu nành Fami và sữa đậu nành mè đen Thị

phần còn lại là của VINAMILK với nhãn hiệu V-fresh VINAMILK đang muốn mở rộng doanh thu ở mặt hàng

này

1.3.Các loại sữa khác

? Sữa đặc có đường Hiện nay, thị trường về sản phẩm này đã bão hòa, với 79% thị phần thuộc về VINAMILK

và 21% thị phần thuộc về Dutch Lady (Somers, 2009) Tuy nhiên, người tiêu dùng, đặc biệt là ở thành phố, bắt

đầu nhận thức được sữa đặc có đường không tốt cho sức khỏe, và hiện nay, sữa đặc có đường hiện phổ biến

hơn đối với người tiêu dùng ở nông thôn Theo EMI, nhu cầu về các sản phẩm sữa đặc ở Việt Nam hiện đang

đến giai đoạn bão hòa

? Sữa chua Sữa chua được nhiều người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng nhờ các thành phần dinh dưỡng có lợi

cho sức khỏe Hiện nay, phần lớn sữa chua được sản xuất bởi các công ty sữa như VINAMILK, Dutchlady, Ba

Vì, Mộc Châu Trong năm 2009, doanh thu sữa chua toàn thị trường tăng 11% so với năm 2008, đạt 2.000 tỉ

đồng Sữa chua gồm có 2 loại, sữa chua ăn và sữa chua uống VINAMILK đứng đầu thị trường về doanh thu

sữa chua (khoảng 60% thị phần), chủ yếu ở mảng sữa chua ăn Tiếp theo sau là Dutchlady, với ưu thế ở mảng

sữa chua uống; còn lại là sữa chua do hộ gia đình và các nhà máy nhỏ sản xuất (EMI 2009) Tuy nhiên, các

chuyên gia cho rằng, thị trường sữa chua sẽ dần đến giai đoạn bão hòa sau khi tăng trưởng mạnh 10 năm qua

(EMI 2009)

2 Hệ thống phân phối

Hệ thống phân phối trong ngành sữa rất quan trọng đến quyết định doanh thu của các công ty Hiện các công ty phân

phối qua các kênh:

- Từ đại lý lớn tới các tạp hóa nhỏ

- Qua các siêu thị: ngày càng chiếm tỷ trọng lớn do thay đổi trong thói quen tiêu dùng của người dân

- Qua các trung tâm dinh dưỡng, giới thiệu sản phẩm: phối hợp với các bệnh viện (Viện nhi, Viện phụ sản),

các quầy thuốc tại bệnh viện, các trung tâm tư vấn dinh dưỡng (Viện dinh dưỡng quốc gia, Trung tâm khám và

tư vấn dinh dưỡng TP Hồ Chí Minh): kết hợp trực tiếp giới thiệu sản phẩm và tư vấn thông qua các chuyên

gia dinh dưỡng tại đây

Bảng 4: Doanh thu sữa bột trẻ em theo kênh phân phối (%)

Kênh phân phối

2005

39,5 15,0 36,5 9,0

2006

39,5 15,5 36,0 9,0

2007

39,0 16,0 35,5 9,5

2008

39,5 16,5 34,0 10,0

2009

39,0 17,0 33,0 11,0

(Nguồn: EMI 2009)

Trong năm 2009, các cửa hàng tạp hóa nhỏ và siêu thị tiếp tục là hai kênh phân phối chính các sản phẩm sữa bột trẻ

em Lợi thế chính của các cửa hàng tạp hóa nhỏ độc lập là khả năng bao phủ toàn quốc Trong khi đó, điểm mạnh của

kênh phân phối siêu thị là có thể cung cấp các chủng loại hàng hóa đa dạng với giá cả cạnh tranh Các điểm bán lẻ

bệnh viện/ quầy thuốc mất dần tầm quan trọng, vì khả năng bao phủ hẹp, chủ yếu là ở các thành phố lớn Tuy nhiên,

đó vẫn là kênh phân phối quan trọng, với 33% thị phần, vì thị trường thành phố hiện tiêu thụ hơn 70% các sản phẩm

sữa

Các công ty trong nước VINAMILK hay Dutch Lady có hệ thống phân phối riêng của mình VINAMILK hiện có hệ

thống phân phối riêng với 135.000 điểm bán lẻ trên toàn quốc (VINAMILK, 2010) Dutch Lady Việt Nam hiện phân phối

sản phẩm của mình thông qua hơn 150 nhà phân phối và 100.000 điểm bán lẻ (Dutch Lady, 2009)

Các công ty nước ngoài Các công ty sữa nước ngoài khi bán hàng tại Việt Nam phải phân phối qua các đại lý ủy

quyền, từ đó phân phối ra các kênh khác Các công ty sữa ở nước ngoài khi bán hàng tại Việt Nam phải qua 1 đại lý,

để kiểm tra kiểm dịch chất lượng sản phẩm, đóng gói lại theo tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 10

Ngoài ra, các sản phẩm sữa nhập khẩu tại Việt Nam còn qua một kênh phân phối không chính thức là nguồn hàng xách

tay từ Mĩ hoặc Châu Âu Tuy nhiên, số lượng là không đáng kể

Đối với các công ty sản xuất sữa trong nước, nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu sản xuất, trong

khi đó 70% còn lại phải nhập khẩu (Somers, 2009)

3.1.Nguồn nguyên liệu trong nước

Nguồn nguyên liệu trong nước phụ thuộc vào tiềm năng phát triển của ngành chăn nuôi bò sữa

Đàn bò sữa tăng trưởng 16%/năm trong giai đoạn 2001-2009, tập trung chủ yếu ở miền Nam Miền Bắc chỉ chiếm

từ 15-25% tổng số bò sữa tại Việt Nam trong giai đoạn này Ở miền Nam, thành phố Hồ Chí Minh là vùng nuôi nhiều bò

sữa nhất, với hơn 69 nghìn con vào năm 2008 (Phụ lục- Bảng 1)

Mặc dù qui mô đàn bò sụt giảm vào năm 2007 và 2008 so với năm 2006, sản lượng sữa cả nước vẫn tăng đều

qua các năm, với tốc độ trung bình 23%/ năm (Phụ lục - Bảng 1) Tương ứng với qui mô đàn bò, miền Nam sản

xuất hơn 85% lượng sữa tươi cả nước Trong năm 2009, sản lượng sữa cả nước là 278.190 tấn, tăng 6,11% so với

năm 2008 Đây là mức tăng thấp nhất trong thời gian qua, do năng suất sữa toàn ngành trong năm 2009 sụt giảm nhẹ;

với nguyên nhân chính là cơ cấu lại quy mô đàn bò, do đó có một số lượng bò sữa nhất định chưa có khả năng khai

thác sữa

Các công ty sản xuất sữa lớn trong nước như VINAMILK hoặc FrieslandCampina Việt Nam (Dutch Lady), tuy đã

bắt đầu phát triển vùng nguyên liệu riêng của mình Điển hình là VINAMILK, ngoài việc thu mua sữa ở các trang trại

nhỏ lẻ của nông dân, đã xây dựng 5 trang trại nuôi bò, với Nghệ An là trang trại bò sữa lớn nhất Việt Nam hiện nay

Song nhìn chung, Việt Nam không có các điều kiện thuận lợi để chăn nuôi bò sữa, do khí hậu nhiệt đới và quĩ đất chật

hẹp Do đó, tuy nhà nước và các công ty sữa đã chú trọng phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, nhưng hiện hơn

70% đầu vào sản xuất của các công ty sữa Việt Nam đến từ nhập khẩu

3.2.Nguồn nguyên liệu nhập khẩu

Cùng với sự phát triển của ngành sữa về cả sản xuất và tiêu dùng, nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm từ sữa

tăng lên nhanh chóng qua các năm

Bảng 5: Giá trị nhập khẩu sữa và các sản phẩm từ sữa

(Nguồn: Cục chăn nuôi, GSO)

Năm 2009, tổng nhập khẩu sữa được thống kê dự báo sẽ sụt giảm, với mức thống kê cho 11 tháng đầu năm chỉ đạt

287 triệu USD, về số lượng giảm 116,8 triệu tấn so với cùng kì năm 2008 (Agromonitor, 2010) Các nguyên nhân chính

dẫn đến sự sụt giảm giá trị nhập khẩu là do các nước chính mà Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu sữa như New

Zealand, Australia giảm sản lượng xuất khẩu

Việt Nam nhập khẩu sữa bột chủ yếu từ các nước

châu Úc (như New Zealand, Úc), Mỹ, Hà Lan (Biểu

đồ 1.13) Bên cạnh đó, giá trị nhập khẩu từ các nước

Đông Nam Á như Thái Lan, Malaysia cũng chiếm một

phần không nhỏ, chủ yếu là sữa bột thành phẩm nhập

từ các nhà máy chế biến sữa của các công ty sữa đa

quốc gia đặt tại đây như Dumex, Dutch LadyViệt Nam

trong những năm qua nhập khẩu nhiều nhất từ New

Zealand, tiếp đó là Hà Lan, các sản phẩm về sữa Công

ty sản xuất sữa lớn nhất Việt Nam - VINAMILK cũng

nhập phần lớn nguyên liệu sữa đầu vào từ Fonterra -

một tập đoàn đa quốc gia của New Zealand (nắm giữ

1/3 thương mại sữa bột trên thế giới)

Biểu đồ 4: Các nước xuất khẩu sữa chính sang Việt Nam

Úc Thái Lan Khác

(Nguồn: Niên giám thống kê, 2008)

Ngày đăng: 21/10/2015, 21:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Các sản phẩm sữa ở Việt Nam - Báo cáo ngành sữa
Hình 1 Các sản phẩm sữa ở Việt Nam (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w