Tuy nhiên trong thời gian qua, việc thực hiện công khai kết luận vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: các cơ quan thanh tra chưa thực hiện việc cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về kết
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KẾT LUẬN THANH TRA – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Cần Thơ, 11/ 2013
Trang 2
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TRA VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA 3
1.1 Khái quát chung về thanh tra 3
1.1.1 Khái niệm thanh tra 3
1.1.2 Đặc điểm 4
1.1.3 Phân loại thanh tra 6
1.2 Khái quát chung về hoạt động thanh tra 10
1.2.1 Khái niệm về hoạt động thanh tra 10
1.2.2 Đặc điểm hoạt động thanh tra 11
1.2.3 Các nguyên tắc 11
1.2.4 Hành vi bị cấm trong hoạt động thanh tra 17
1.3 Sơ lược về quy trình thanh tra 18
1.3.1 Chuẩn bị thanh tra 18
1.3.2 Tổ chức thực hiện thanh tra 21
1.3.3 Kết thúc thanh tra 22
1.4 Vai trò của hoạt động thanh tra 24
1.5 Các chủ thể trong hoạt động thanh tra 26
1.5.1 Chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra 26
1.5.2 Chủ thể là đối tượng thanh tra 28
1.5.3 Người có quyền và nghĩa vụ liên quan 29
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KẾT LUẬN THANH TRA 31
2.1 Căn cứ ban hành kết luận thanh tra 31
2.2 Xây dựng và ban hành kết luận thanh tra 34
2.3 Công khai kết luận thanh tra 37
2.3.1 Vai trò và ý nghĩa của nguyên tắc công khai trong kết luận thanh tra 41
2.3.2 Chủ thể công khai kết luận thanh tra 44
2.3.3 Hình thức công khai kết luận thanh tra 45
2.3.4 Thời điểm công khai kết luận thanh tra 46
2.3.5 Địa điểm công khai kết luận thanh tra 46
2.4 Thực hiện kết luận thanh tra 47
2.4.1 Chủ thể thực hiện kết luận thanh tra 47
Trang 32.5 Giám sát, kiểm tra kết luận thanh tra 51
2.5.1 Giám sát về kết luận thanh tra 52
2.5.2 Kiểm tra về kết luận thanh tra 52
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CÔNG KHAI, THỰC HIỆN KẾT LUẬN THANH TRA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT 53
3.1 Hiệu quả của công tác thanh tra trong những năm gần đây 53
3.1.1 Về lĩnh vực kinh tế - xã hội 54
3.1.2 Về lĩnh vực giải quyết khiếu nại - tố cáo 56
3.1.3 Về công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng 59
3.2 Thực tiễn và giải pháp về việc công khai kết luận thanh tra 62
3.2.1 Những khó khăn, vướng mắc trong việc công khai kết luận thanh tra 62
3.2.2 Giải pháp, kiến nghị trong việc công khai kết luận thanh tra 64
3.3 Một số tồn tại, hạn chế và giải pháp trong việc thực hiện kết luận thanh tra 67
3.3.1 Khó khăn, hạn chế về việc thực hiện kết luận thanh tra 67
3.3.2 Một số giải pháp đảm bảo thi hành các kết luận, kiến nghị thanh tra 69
KẾT LUẬN 75
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển của một đất nước thì quyền lực của Nhà nước luôn gắn liền với quá trình đó, đi đôi với quyền lực nhà nước là chức năng quản lý nhà nước Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và thanh tra chính là một chức năng
của quản lý đồng thời cũng là công cụ quản lý hữu hiệu của Nhà nước “Ở đâu có
quyền lực thì ở đó có thanh tra” Hoạt động thanh tra là một hoạt động không thể
thiếu trong hoạt động quản lý nhà nước, đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh nhưng để đảm bảo được điều đó thì công tác thanh tra phải thục hiện tốt, đặc biệt là giai đoạn kết luận thanh tra
Kết luận thanh tra là một khâu quan trọng trong hoạt động thanh tra, là cơ sở
để Đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra thực hiện quyền kết luận, kiến nghị trong hoạt động thanh tra Kết luận thanh tra được xây dựng dựa trên cơ sở báo cáo kết quả thanh tra, ý kiến giải trình của đối tượng thanh tra và ý kiến của các cơ quan, đơn vị liên quan Theo quy định của pháp luật, kết luận thanh tra phải được công khai theo các hình thức được pháp luật quy định Đây là nguyên tắc quan trọng trong hoạt động thanh tra - hoạt động thanh tra phải đảm bảo yêu cầu công khai, dân chủ
Tuy nhiên trong thời gian qua, việc thực hiện công khai kết luận vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: các cơ quan thanh tra chưa thực hiện việc cung cấp thông tin đầy
đủ, kịp thời về kết quả hoạt động của các Đoàn thanh tra cho các cơ quan thông tấn, báo chí; việc công bố kết luận thanh tra tại nơi được thanh tra rất hạn chế…Ngoài ra,
quy định của pháp luật hiện nay còn thiếu thống nhất, chưa rõ ràng có điểm mâu thuẫn
nhất là việc phân định kết luận thanh tra thuộc loại tài liệu “mật”, hay “không mật”
Bên cạnh vấn đề công khai kết luận thanh tra thì việc thực hiện kết luận thanh tra cũng tồn tại những khó khăn Thực tiễn theo dõi nhận thấy không phải cuộc thanh tra nào cũng được đối tượng chấp hành thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nội dung quyết định
xử lý, còn về phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thật sự kiên quyết trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện xử lý
Để làm rõ và tìm hiểu sâu hơn nữa những quy định của pháp luật về việc công khai kết luận thanh tra và thực hiện kết luận thanh tra là hết sức cần thiết Vì vậy,
người viết quyết định chọn đề tài “Kết luận thanh tra – Thực trạng và giải pháp” để
làm luận văn tốt nghiệp
Trang 52 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Trọng tâm của đề tài này người viết nghiên cứu trong các quy định của pháp luật về kết luận thanh tra bao gồm việc công khai và thực hiện kết luận thanh tra theo quy định hiện hành tại Luật Thanh tra và Nghị định 86/2011/NĐ-CP Qua việc phân tích các quy định của pháp luật để tìm ra những vướng mắc còn tồn tại và đưa ra những hướng giải quyết Đồng thời đưa ra một số kiến nghị đối với việc công khai và thực hiện kết luận thanh tra Qua những nghiên cứu này góp phần hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động trong công tác thanh tra, tăng cường công tác phòng, chống các hành vi tham nhũng
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật về kết luận thanh tra, công khai kết luận thanh tra và việc thực hiện kết luận thanh tra Đồng thời người viết tìm hiểu thực trạng của quá trình công khai và thực hiện kết luận thanh tra trên một số lĩnh vực cụ thể như kinh tế, xã hội…
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Nhằm để hoàn thiện bài viết một cách tốt hơn, người viết đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu để làm cơ sở cho việc nghiên cứu của mình như sau:
Phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến việc công khai
và thực hiện kết luận thanh tra
Phương pháp đối chiếu, so sánh các quy định của pháp luật về kết luận thanh tra trong quá trình công khai và thực hiện kết luận thanh tra
5 Kết cấu của đề tài
Trong đề tài này ngoài Lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về thanh tra và hoạt động thanh tra
Chương 2: Quy định của pháp luật về kết luận thanh tra
Chương 3: Thực trạng vấn đề công khai, thực hiện kết luận thanh tra và hướng hoàn thiện pháp luật
Trang 6CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TRA VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA
1.1 Khái quát chung về thanh tra
1.1.1 Khái niệm thanh tra
Tùy theo từng góc độ, thanh tra được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau điển hình có một số cách hiểu như sau:
Theo tiếng Latinh, thanh tra có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm
tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một đối tượng nhất định;
Đối với Từ điển tiếng Việt, “Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm
của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”;
Còn Từ điển pháp luật Anh - Việt, thanh tra là “sự kiểm soát, kiểm kê đối với
đối tượng bị thanh tra” 1;
Từ điển Luật học thì quy định, thanh tra "là sự tác động của chủ thể đến đối
tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định” 2
Ngoài ra, thanh tra còn được hiểu là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân
Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: “Người làm nhiệm vụ
thanh tra” “Đoàn thanh tra” và “đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định”3
Bên cạnh hoạt động quản lý nhà nước là thanh tra còn có kiểm tra và giám sát Kiểm tra là một trong những hoạt động quản lý nhà nước, kiểm tra là một khái niệm rộng, được hiểu theo hai góc độ sau:
Thứ nhất, kiểm tra là hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước cấp trên
với cơ quan nhà nước cấp dưới trong mối quan hệ trực thuộc nhằm xem xét, đánh giá mọi hoạt động của cấp dưới khi thấy cần thiết hoặc trong trường hợp cần kiểm tra một
Trang 7vấn đề cụ thể nào đó Vì vậy khi tiến hành kiểm tra, cơ quan cấp trên hoặc thủ trưởng
cơ quan có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế kỷ luật, bồi thường thiệt hại vật chất hoặc áp dụng các biện pháp tác động tích cực với đối tượng bị kiểm tra như động viên khen thưởng về vật chất hoặc tinh thần
Thứ hai, kiểm tra là hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội như kiểm tra
của các tổ chức xã hội đối với hoạt động hành chính nhà nước Hoạt động kiểm tra này ít mang tính quyền lực nhà nước và không trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chỉ áp dụng các biện pháp tác động mang tính xã hội
Còn giám sát là hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan tư pháp, các tổ chức xã hội và mọi công dân nhằm đảm bảo sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong quản lý nhà nước và quản lý xã hội Như vậy, hoạt động giám sát chủ yếu được thực hiện ngoài quan hệ trực thuộc theo chiều dọc; hoạt động này được tiến hành bởi Quốc Hội, HĐND các cấp, các cơ quan tư pháp và toàn thể nhân dân thông qua hoạt động thực hiện chức năng, thẩm quyền do pháp luật qui định
1.1.2 Đặc điểm
Thanh tra là nội dung không thể thiếu của quản lý nhà nước, là giai đoạn cuối cùng trong chu trình quản lý, có vai trò kiểm định, đánh giá hiệu quả của quản lý nhà nước Chính vì vậy, trong hoạt động quản lý nhà nước phải có thanh tra và thanh tra phải phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước Ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó phải
có thanh tra Quản lý nhà nước mà không có thanh tra sẽ dẫn tới quan liêu và xa rời thực tiễn Do đó, thanh tra mang những đặc điểm sau:
Tính quyền lực nhà nước
Là một chức năng của quản lý nhà nước, thanh tra phải thể hiện như một tác động tích cực nhằm thực hiện quyền lực của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản
lý Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra gắn bó chặt chẽ với tính quyền
uy - phục tùng - một đặc tính quan trọng của quản lý nhà nước Nói về quyền lực nhà nước trong quá trình thanh tra cũng có nghĩa là xác định về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức thanh tra Đối với các quốc gia trên thế giới, chủ thể tiến hành thanh tra luôn là cơ quan nhà nước, dù mô hình tổ chức thanh tra có khác nhau Vì vậy, thanh tra phải được nhà nước sử dụng như một công cụ có hiệu quả trong quá trình quản lý, bởi theo Lênin, thanh tra mà thiếu quyền lực là thanh tra suông Tính quyền lực nhà nước của hoạt động thanh tra được thể hiện ở những mặt sau đây:
- Ra các quyết định bắt buộc thực hiện đối với các đối tượng bị thanh tra về những vấn đề đã bị thanh tra phát hiện và xử lý;
Trang 8- Yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị của thanh tra; yêu cầu truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người vi phạm pháp luật;
- Trong những trường hợp cần thiết, trực tiếp áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước
Ngoài ra, tính quyền lực nhà nước của thanh tra còn được cụ thể hoá ở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng tổ chức thanh tra; phương thức tiến hành thanh tra; xử lý kết quả thanh tra; trong mối quan hệ giữa cơ quan thanh tra với đối tượng thanh tra cũng như trong sự phối hợp giữa các tổ chức thanh tra nhà nước theo cấp hành chính và theo ngành, lĩnh vực Hoạt động thanh tra đòi hỏi phải sử dụng đồng
bộ Tính quyền lực nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, có như vậy mới phát huy hiệu quả của thanh tra
Tính khách quan
Bản chất của thanh tra là xem xét, đánh giá một cách khách quan việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân nhằm đưa ra kết luận đúng, sai, đánh giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý vi phạm góp phần bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Vì thế, hoạt động thanh tra phải mang tính khách quan Tính khách quan của hoạt động thanh tra được biểu hiện ở chỗ mọi hoạt động thanh tra đều dựa trên cơ sở pháp luật và phải tuân theo pháp luật Pháp luật về nguyên nghĩa là ý chí của giai cấp cầm quyền (ý chí nhà nước) Nhà nước đặt ra pháp luật và pháp luật là công cụ để nhà nước thực hiện quản lý xã hội Theo đó, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và hoạt động của thanh tra nói riêng đều phải dựa trên cơ sở pháp luật, bởi nếu hoạt động thanh tra mà không dựa trên cơ sở pháp luật thì nó sẽ mất đi tính công minh, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước
Tính độc lập tương đối
Tính độc lập tương đối là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra Khác với hoạt động kiểm tra thường do bản thân các cơ quan quản lý nhà nước tự tiến hành, hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi một cơ quan chuyên trách Vì vậy, khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, ngoài việc đảm bảo sự phối kết hợp nhịp nhàng với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, hoạt động thanh tra còn có tính độc lập tương đối trong quá trình thực thi nhiệm vụ Điều này được thể hiện ở chỗ, các tổ chức thanh tra được phép tự mình tổ chức các cuộc thanh tra trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội theo thẩm quyền đã được pháp luật quy định Trên cơ sở kết quả thanh tra, ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý theo các quy định của pháp luật
về thanh tra, chịu trách nhiệm về quyết định thanh tra của mình
Trang 9Tính độc lập của thanh tra chỉ là tương đối bởi vì, hoạt động thanh tra ngoài việc căn cứ vào pháp luật, chính sách hiện hành còn xuất phát từ thực tế cuộc sống, phải đặt sự vật, hiện tượng trong sự phát triển biện chứng với quan điểm khoa học, khách quan, lịch sử, cụ thể Tính độc lập của hoạt động thanh tra cũng khác với tính độc lập trong xét xử của toà án Đối với thanh tra xem xét mọi việc không chỉ căn cứ vào tính hợp pháp mà còn căn cứ vào tính hợp lý; trong khi đó hoạt động xét xử của toà án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Bên cạnh đó, không phải mọi hoạt động thanh tra đều mang tính tài phán; còn hoạt động của toà án đều mang tính chất tài phán (xét xử) Trong hoạt động thanh tra, về nguyên tắc, người có quyền quyết định cuối cùng trong việc xử lý kết quả thanh tra là thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước; còn trong hoạt động xét xử, người có thẩm quyền quyết định cuối cùng là Hội đồng xét xử
Thanh tra luôn gắn với quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước và thanh tra có điểm chung là nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện sự tác động lên các đối tượng quản lý Hơn nữa, với tư cách là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, thanh tra gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước Như vậy, quản lý nhà nước và thanh tra có mối quan hệ mật thiết với nhau Thanh tra chỉ xuất hiện khi có nhà nước và ở đâu có quản lý nhà nước thì ở đó có thanh tra Trong mối quan hệ này, quản lý nhà nước giữ vai trò chủ đạo, chi phối hoạt động của thanh tra Hơn nữa, hoạt động chấp hành của quản lý nhà nước thường bao hàm cả sự điều hành, cho nên trong quá trình chấp hành các văn bản pháp luật đòi hỏi phải có sự kiểm tra nghiêm ngặt của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy nhiên, xét về mặt cơ cấu, chức năng của quản lý thì thanh tra chỉ là phương tiện, công cụ để quản lý nhà nước
Ngoài ra, với tư cách là một khâu trong chu trình quản lý, thanh tra bị ràng buộc, chế ước bởi quản lý nhưng đồng thời lại tác động trở lại, góp phần điều chỉnh cách thức, phương pháp quản lý của chủ thể quản lý Nhờ có thanh tra mà mục đích của quản lý được đảm bảo Thực tế cho thấy rằng, một thể chế hành chính và cơ chế quản lý nhà nước sẽ không đầy đủ và kém hiệu quả nếu thiếu thanh tra Hoạt động có tính hiệu quả của thanh tra sẽ ngăn chặn được nguy cơ biến dạng, tuỳ tiện, thiếu kỷ cương trong hoạt động của bộ máy nhà nước
1.1.3 Phân loại thanh tra
Hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước bao gồm một hệ thống các cơ quan thanh tra được thành lập từ trung ương đến địa phương (Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, Thanh tra cấp tỉnh, Thanh tra cấp
Trang 10huyện, Thanh tra Sở) để xem xét, đánh giá, xử lý đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý; kiến nghị các biện pháp khắc phục những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân
Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.4
Theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010, giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành có sự khác nhau cơ bản, nhất là về đối tượng thanh tra, trình
tự, thủ tục thanh tra và hậu quả pháp lý sau thanh tra
Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.5
Cụ thể, thanh tra hành chính là thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức thuộc phạm vi quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, nếu phát hiện có vi phạm thì kiến nghị Thủ trưởng
cơ quan quản lý nhà nước xử lý Nói khái quát, thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra từ trên xuống, hướng vào đối tượng bên trong bộ máy nhằm mục tiêu chung
là đánh giá, xem xét trách nhiệm của bộ máy quản lý
Về mặt chủ thể, hoạt động thanh tra hành chính do Thanh tra Chính phủ và các
cơ quan Thanh tra nhà nước khác (Thanh tra bộ, thanh tra cấp tỉnh, Thanh tra sở, thanh tra cấp huyện) quyết định và tiến hành Ngoài ra, đối với những vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cơ quan, đơn vị hoặc đối với những
vụ việc đặc biệt phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều cấp, nhiều ngành thì Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước (Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện) ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra hoặc Đoàn thanh tra liên ngành để thực hiện nhiệm vụ thanh tra
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành
Trang 11pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.6
Khác với thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra việc thực hiện pháp luật chuyên ngành, việc chấp hành các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ, ngành, trừ công việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mang tính chất công vụ Đây là hoạt động thanh tra hướng ra ngoài bộ máy, ra ngoài xã hội nhằm đảm bảo trật tự kỷ cương, pháp luật phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực Hoạt động thanh tra chuyên ngành được tiến hành thường xuyên, nếu phát hiện có vi phạm thì xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự
Không như thanh tra hành chính, hoạt động thanh tra chuyên ngành chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực quyết định và thực hiện Cụ thể là, Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra
để thực hiện quyết định thanh tra Khi xét thấy cần thiết, Bộ trưởng, Giám đốc sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra.7
Căn cứ vào phạm vi, quy mô của cuộc thanh tra có: Thanh tra diện rộng, thanh
tra diện hẹp
Thanh tra diện rộng là hình thức thanh tra thường được áp dụng khi tiến hành
thanh tra một cơ quan, một ngành hay một lĩnh vực quản lý để đánh giá kết quả hoạt động một cách tổng thể, toàn diện trong việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật hoặc cơ chế quản lý để phát hiện, chấn chỉnh những yếu kém, sai phạm, đổi mới hoạt động nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước của cơ quan, một ngành hay lĩnh vực đó
Thanh tra diện rộng có tác dụng không chỉ để chấn chỉnh, đổi mới trực tiếp một
cơ quan, một ngành hay một lĩnh vực mà còn có tác dụng rất quan trọng để các cơ quan, người có thẩm quyền chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô.8
Thanh tra diện hẹp là hình thức thanh tra chỉ tập trung vào một chuyên đề hoặc
một vụ việc cụ thể nhất định nào đó để phát hiện, chấn chỉnh những yếu kém, sai phạm trong chuyên đề, vụ việc đó nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước của cơ quan, của ngành, lĩnh vực
Trang 12Khác với thanh tra diện rộng, thanh tra chuyên đề, vụ việc có phạm vi, quy mô hẹp hơn và có đối tượng, nội dung cụ thể, rõ ràng hơn, tính chất của vụ việc rõ hơn Vì thế, cơ quan (người có thẩm quyền thanh tra) cũng dễ dàng hơn trong việc xác định trọng tâm, trọng điểm cần thanh tra và thời gian thanh tra cũng thường ngắn hơn
Căn cứ vào chương trình thanh tra có: Thanh tra theo kế hoạch, thanh tra
thường xuyên, thanh tra đột xuất
Thanh tra theo kế hoạch là hình thức thanh tra được tiến hành theo kế hoạch
đã được phê duyệt9 Kế hoạch thanh tra là văn bản xác định nhiệm vụ chủ yếu về
thanh tra của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong 01 năm do Thủ trưởng cơ quan thực hiện chức năng thanh tra xây dựng để thực hiện Định hướng chương trình thanh tra và yêu cầu quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp10
Thanh tra thường xuyên được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành11
Thanh tra đột xuất là hình thức thanh tra được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định12
Thanh tra đột xuất thường gắn với những vấn đề cấp thiết, bức xúc nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những sai phạm để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của hoạt động thanh tra có: Thanh tra kinh tế
- xã hội; thanh tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; thanh tra công vụ
Thanh tra kinh tế - xã hội là hình thức thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những yếu kém, sai phạm để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế và xã hội13
Thanh tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo là hình thức thanh tra được tiến hành đối với cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những yếu kém, sai phạm trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của cá nhân, cơ quan, tổ chức và nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước14
Trang 13Thanh tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có thể tiến hành đối với một hoặc một số hoặc tất cả các nội dung của quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo như: công tác tổ chức tiếp công dân; tiếp nhận và xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo; giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo và công tác quản lý nhà nước về khiếu nại, tố cáo
Luật Cán bộ, công chức không đưa ra định nghĩa “thanh tra công vụ” mà quy định trực tiếp (mô tả) phạm vi của “thanh tra công vụ” bằng việc quy định về thanh
tra công vụ tại Điều 74:
- Thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan
- Thanh tra việc thực hiện tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm, đánh giá, thôi việc, nghỉ hưu, khen thưởng, xử lý
kỷ luật công chức, đạo đức, văn hóa giao tiếp trong thi hành công vụ của công chức và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động công vụ
1.2 Khái quát chung về hoạt động thanh tra
1.2.1 Khái niệm về hoạt động thanh tra
Hoạt động thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là một trong ba yếu tố cấu thành nên sự lãnh đạo, quản lý đó là: Ban hành quyết định, tổ chức thực hiện quyết định; và thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quyết định Thực chất thanh tra là việc xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét và kết luận phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm
vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế nhà nước, bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và công dân, bảo vệ lợi ích quốc gia
Luật Thanh tra năm 2010 cũng có quy định “Hoạt động thanh tra do Đoàn
thanh tra, thanh tra viên và người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thưc hiện” (Điều 6)
Có thể thấy, hoạt động thanh tra là phương thức thể hiện vị trí vai trò và chức năng của các cơ quan thanh tra nhà nước Hoạt động thanh tra theo quy định của pháp luật bao gồm: xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra; quyết định việc thanh tra, tiến hành thanh tra trên thực tế; báo cáo kết quả thanh tra, kết luận thanh tra và xử lý kết luận thanh tra Hoạt động thanh tra được các cơ quan nhà nước tiến hành trên cơ
sở hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành Các cơ quan thanh tra tiến hành trên cơ sở chương trình, kế hoạch thanh tra đã được thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp phê duyệt hoặc khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao (thanh tra đột xuất)
Trang 14Như vậy, hoạt động thanh tra không chỉ giới hạn là hoạt động thanh tra kinh tế
- xã hội được thực hiện bởi các cơ quan thanh tra nhà nước mà hoạt động thanh tra còn được thể hiện dưới nhiều hình thức như thanh tra trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo; thanh tra trách nhiệm việc thực hiện pháp luật về thanh tra, thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng
1.2.2 Đặc điểm hoạt động thanh tra
Thanh tra được coi là công cụ có hiệu quả của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng của quản lý Do đó, quyền lực của thanh tra là một bộ phận không thể thiếu của quyền lực nhà nước, chỉ có thông qua hoạt động thanh tra, quyền lực nhà nước mới được thực hiện, nền dân chủ nhân dân mới được bảo đảm Vì vậy, hoạt động thanh tra mang những đặc điểm sau:
Thứ nhất, hoạt động thanh tra là hoạt động tổng hợp và đa dạng gắn với mọi
mặt hoạt động kinh tế - xã hội, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng
Thứ hai, thanh tra là loại hình hoạt động thường phải đấu tranh với những vi
phạm trong việc chấp hành pháp luật nói chung và các quyết định quản lý, quy chế nội
bộ của các cơ quan đơn vị
Thứ ba, tổ chức và các cá nhân được thanh tra vừa là đối tượng thanh tra vừa
là chủ thể quản lý
1.2.3 Các nguyên tắc
Có thể hiểu, “Nguyên tắc trong hoạt động thanh tra là những tư tưởng chủ đạo,
những tiêu chuẩn hành động mà các cơ quan nhà nước, các tổ chức, công dân cũng như đối tượng của thanh tra phải tuân theo trong quá trình thanh tra” 15
Các nguyên tắc trong hoạt động thanh tra chỉ đạo và chi phối các mối quan hệ trong thanh tra nhằm đảm bảo cho hoạt động thanh tra đạt được mục đích đề ra Theo
Điều 7 Luật Thanh tra 2010 xác định nguyên tắc hoạt động thanh tra bao gồm: “Tuân
theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra”
Như vậy, quy định trên là những tư tưởng chỉ đạo làm nền tảng cơ bản, mang tính xuyên suốt đối với hoạt động thành tra được quy định trên cơ sở kế thừa và phát huy những nguyên tắc của hoạt động thanh tra đã được Đảng và Nhà nước xác định từ trước tới nay Theo đó, các nguyên tắc cơ bản của thanh tra bao gồm:
15
Lê Thị Hương, Giáo trình Lý luận và pháp luật về thanh tra, Học viện Hành chính, Hà Nội, 2011, tr.31
Trang 151.2.3.1 Bảo đảm pháp chế trong việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của hoạt động thanh tra
Một trong những nguyên tắc cơ bản của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước
ta là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc pháp chế là nhằm bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ một cách tuyệt đối, không có một thực thể nào đứng trên pháp luật hay đứng ngoài pháp luật Nguyên tắc pháp chế phải được thể hiện ở việc chấp hành pháp luật cả từ phía các cơ quan nhà nước và từ phía các cá nhân, tổ chức
là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước
Thanh tra là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý việc thực hiện quy định pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo trình tự pháp luật quy định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước,
bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Vì vậy, yêu cầu trước tiên đối với hoạt động thanh tra là phải tuân theo pháp
luật Nguyên tắc này thể hiện quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền
Việt Nam xã hội chủ nghĩa, là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân, “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật” Thanh tra là công cụ quản lý hữu hiệu của Nhà nước, vì về mặt lý thuyết “Ở đâu có quyền lực thì ở đó có thanh
tra” Vì vậy, hoạt động thanh tra phải được tiến hành trước hết bởi các quy định của
pháp luật; phải tuân thủ các quy định của pháp luật - Luật Thanh tra và các văn bản pháp luật có liên quan
Để bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, nội dung của hoạt động thanh tra phải bảo đảm việc tuân thủ đúng quy định của pháp luật có liên quan:
Thứ nhất, hoạt động thanh tra phải được thực hiện theo phương thức thành lập
Đoàn thanh tra hoặc thông qua thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập
Thứ hai, thời hạn mỗi cuộc thanh tra phải tuân thủ trình tự, thủ tục pháp luật
quy định.16
Thứ ba, người có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch thanh tra hàng năm và quyết
định các cuộc thanh tra cụ thể
Thứ tư, Đoàn thanh tra có Trưởng đoàn và các thành viên hoạt động theo nhiệm
vụ, quyền hạn được pháp luật quy định
Như vậy, bảo đảm việc tuân thủ nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật, về nguyên tắc hoạt động của Thanh tra là không vi phạm những điều cấm của pháp luật
16
Khoản 1 Điều 45 Luật Thanh tra năm 2010
Trang 16khi thanh tra, kiểm tra, bảo đảm cho đối tượng bị thanh tra nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật một cách nghiêm chỉnh
Tuy nhiên, do những nguyên nhân khác nhau, không phải lúc nào, ở đâu pháp luật cũng được thực thi nghiêm chỉnh Hành vi vi phạm pháp luật đã, đang và sẽ còn là một vấn đề thực tế cần được giải quyết một cách liên tục, nhanh chóng Để giải quyết, Nhà nước đã áp dụng các biện pháp từ giáo dục, thuyết phục đến cưỡng chế hành vi của đối tượng vi phạm, cho nên mọi biện pháp thực hiện đều cần đến công tác thanh tra Chỉ có qua thanh tra mới có thể đánh giá được một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào
đó chấp hành pháp luật như thế nào, có vi phạm pháp luật hay không, vi phạm ở mức
độ nào Từ đó mới có thể đề ra những biện pháp xử lý thích hợp Do vậy, thanh tra chính là phương thức bảo đảm pháp chế, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi
giải quyết khiếu nại, tố cáo đã cho thấy:
Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, đó là hoạt động tự kiểm
tra việc thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật và các quyết định quản lý trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trên cơ sở hệ thống Thanh tra được tổ chức theo cơ quan thực hiện chức năng thanh tra: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh, Thanh tra sở, Thanh tra huyện Ngoài ra có các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành Vì vậy, thanh tra luôn gắn liền với chức năng pháp lý trong quản lý nhà nước, tuy nhiệm vụ của thanh tra cũng là kiểm tra nhưng thanh tra hẹp hơn kiểm tra
Bên cạnh đó, thanh tra được coi là “tai mắt” của cấp trên, có vai trò như một bộ
phận của quản lý nhà nước Điều này cũng nhằm xác nhận về mặt pháp lý tính chất nhà nước của tổ chức Thanh tra, do đó, Thanh tra được coi là công cụ có hiệu quả của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng của quản lý Khi một cơ quan cấp trên ban hành một chủ trương, chính sách nào đó, thanh tra sẽ giúp cơ quan này biết được việc triển khai thực hiện chủ trương, chính sách đó ở cấp dưới, mà còn biết được tình hình những sơ hở, khiếm khuyết hoặc những nội dung quản lý của địa phương chưa sát với chủ trương, chính sách đó cũng như tình hình thực tế ở địa phương; đồng thời thanh tra còn giúp cho địa phương kịp thời sửa chữa uốn nắn nếu làm sai hoặc làm chậm
Trang 17Vì vậy, những thông tin thanh tra cung cấp cho cơ quan cấp trên, cho người lãnh đạo đòi hỏi có độ chính xác, trung thực cao cũng như tính khách quan của đời sống xã hội Tuy nhiên, để những thông tin có độ chính xác đó, đòi hỏi thái độ của người thanh tra viên phải có tính cẩn trọng, tỉ mỉ khi xem xét một cách thấu đáo và đánh giá vụ việc thanh tra một cách khách quan, trung thực mà không thể áp đặt ý chí chủ quan của mình vào việc kết luận vụ việc thanh tra
Theo Hồ Chủ Tịch: “Thái độ của người cán bộ thanh tra phải cẩn thận
- Nghe không được thiên lệch, nghe một bên, nên nghe người này, nghe người kia
- Phải khách quan Chớ do ý muốn mà suy đoán chủ quan của mình
- Chống quan liêu: Thanh tra muốn biết, muốn thấy, muốn hiểu rõ sự thật ở cơ quan, ở địa phương nào đấy phải đến tận nơi nghe ngóng, tìm tòi, chịu khó Quan liêu
sẽ không làm được nhiệm vụ
Phải cẩn thận khách quan, điều tra, nghiên cữu kỹ lưỡng, chịu khó” 17
Sự phản ánh của thanh tra đòi hỏi tính chính xác, khách quan, song không thể phản ánh một cách đơn giản tình hình vụ việc thực tế, mà sự phản ánh phải mang tính chắt lọc, được xem xét thông qua những phân tích, đánh giá cùng với những kiến nghị
đề xuất phù hợp
1.2.3.3 Bảo đảm tính dân chủ, công khai trong hoạt động thanh tra
Trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX cũng đã nhấn mạnh việc
“định kỳ kiểm tra, đánh giá cán bộ, công chức, kịp thời thay thế những cán bộ, công chức yếu kém và thoái hóa” Nghị quyết cũng xác định một trong những biện pháp
đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng là phải “tăng cường thanh tra, kiểm tra,
kiểm kê, kiểm soát, bảo đảm tính minh bạch trong việc sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công, tài chính đảng, đoàn thể, tài chính các doanh nghiệp nhà nước, các quỹ
do nhân dân đóng góp và do nước ngoài viện trợ”
Theo đó, việc tiến hành thanh tra phải được thực hiện thường xuyên, công khai, bảo đảm tính minh bạch trong công tác thanh tra, nhất là đối với lĩnh vực tài chính của các cơ quan, tổ chức Đảng, Nhà nước Tính công khai, minh bạch phải được thể hiện
ở những nội dung sau18:
Thứ nhất, trong quá trình thanh tra, người tiến hành thanh tra phải thông báo
cho đối tượng thanh tra về những nội dung thanh tra và kết luận thanh tra;
Trang 18Thứ hai, phải bảo đảm các quyền của đối tượng thanh tra trong việc giải trình
những nội dung liên quan, khiếu nại, tố cáo về quyết định thanh tra, quyết định xử lý
về thanh tra, hành vi của Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên và các thành viên khác của Đoàn thanh tra, Thủ trưởng cơ quan thanh tra ;
Thứ ba, bảo đảm yêu cầu không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ
quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra
Như vậy, nguyên tắc dân chủ, công khai minh bạch là một trong những nguyên
tắc nhằm bảo đảm cho hoạt động thanh tra nói riêng, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát nói chung thực hiện được mục đích xem xét, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức cũng như cá nhân, nhằm bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước ngày càng tốt hơn, mà không phải là làm cản trở, đình trệ hoạt động của các cơ quan, tổ chức vị thanh tra Bên cạnh đó việc xác định nguyên tắc này còn nhằm ngăn ngừa hạn chế tình trạng thanh tra trùng lặp, kéo dài, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng bị thanh tra
1.2.3.4 Bảo đảm tính trách nhiệm trong việc phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan, cá nhân thanh tra
Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý mà thiếu sự thanh tra thì đó chính là nguyên nhân của bệnh quan liêu, dẫn đến tham ô, lãng phí Ngay từ năm 1945, trong Sắc lệnh số 64-SL của Hồ Chủ Tịch ký ngày 23/11/1945 về thành lập Ban Thanh tra đặc biệt đã có quy định
quyền hạn của Ban Thanh tra đặc biệt là: “đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào
trong Uỷ ban nhân dân hay của Chính phủ đã phạm lỗi” Sắc lệnh số 138b-SL ngày
18/12/1949 về việc thành lập Ban Thanh tra Chính phủ có quy định nhiệm vụ của Ban
là “thanh tra các nhân viên Uỷ ban kháng chiến hành chính và viên chức về phương
diện liêm khiết” Tại Sắc lệnh số 261-SL ngày 28/3/1956 về việc thành lập Ban Thanh
tra Trung ương của Chính phủ có giao nhiệm vụ “thanh tra việc thực hiện kế hoạch
nhà nước, việc sử dụng, bảo quản tài sản nhà nước, chống phá hoại, tham ô, lãng phí”
Luật Thanh tra 2010 cũng quy định trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan nhà
nước (Điều 8): “Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo hoạt
Trang 19động thanh tra, xử lý kịp thời kết luận, kiến nghị thanh tra và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình”
Luật Thanh tra năm 2010 đã cụ thể hóa trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động thanh tra tại Điều 10:
1 Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra có trách nhiệm thực hiện
yêu cầu, kiến nghị, quyết định về thanh tra, có quyền giải trình về nội dung thanh tra,
có quyền và trách nhiệm theo quy định khác của pháp luật
2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra phải cung cấp đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp; có quyền và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
Để thực hiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, pháp luật cũng quy định cơ quan thanh tra trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan công an, Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc phòng ngừa, phát hiện,
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm
Riêng về Thanh tra nhân dân, Ban Thanh tra nhân dân được thành lập ở xã, phường, thị trấn do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn hướng dẫn tổ chức, chỉ đạo hoạt động Còn đối với Ban Thanh tra nhân dân được thành lập ở
cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước do Ban chấp hành Công đoàn cơ sở ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đó hướng dẫn tổ chức, chỉ đạo hoạt động.19
Như vậy, việc phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi sai phạm của
cá nhân, cơ quan có trách nhiệm, của các cá nhân, tổ chức là đối tượng bị quản lý sẽ bảo đảm trật tự, kỷ cương pháp luật trong hoạt động quản lý Mặt khác, việc tìm ra những sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý, phát hiện những nội dung chưa phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan, từ đó có các biện pháp sửa đổi, bổ sung, khắc phục kịp thời có ý nghĩa tích cực trong việc củng cố trật tự, kỷ cương, hoàn thiện cơ chế quản lý Tuy nhiên, việc phát hiện, tìm kiếm sai phạm, sơ hở, yếu kém trong quản lý cũng chưa đủ, mà thanh tra còn phải phát hiện và khẳng định, đồng thời tạo điều kiện cho những nhân tố mới, cơ chế mới nảy sinh phát triển Có như vậy thì hiệu quả công
19
Điều 12 Luật thanh tra năm 2010
Trang 20tác quản lý mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của thực tiễn, điều này được thể hiện
ở những nội dung sau:
Một là, hoạt động thanh tra (dù được thực hiện bằng phương thức gì, do cơ
quan nào tiến hành) phải thể hiện tính kỷ cương pháp luật Bởi vì, sự hiện diện của các
cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát là nhằm nhắc nhở tới mọi đối tượng chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát rằng: pháp luật phải được tuân thủ Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát định kỳ, thường xuyên hay đột xuất luôn tạo ra một “sức ép” thường trực lên các đối tượng và nhờ đó đã hạn chế sự vi phạm pháp luật Vì vậy, thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ thực hiện chức năng bảo đảm pháp chế mà còn thực hiện chức năng tìm hiểu, giúp đỡ, định hướng cho các đối tượng thực hiện đúng các quy định của pháp luật, nhất là đối với một Nhà nước chuyển từ mô hình kinh tế tập trung sang Nhà nước đảm nhận vai trò dịch vụ công Khi đó, các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát sẽ thực sự trở thành một trong những địa chỉ tin cậy của mọi thành phần kinh tế để có thể nhận được những khuyến nghị, những chỉ dẫn bảo đảm cho hoạt động của mình đúng pháp luật
Hai là, trong quá trình thanh tra, các đánh giá, kết luận và kiến nghị có thể đưa
ra những phân tích sâu sắc, đầy đủ nhất các nguyên nhân, động cơ, mục đích, tính chất, mức độ của một hành vi vi phạm, song các giải pháp được đưa ra không chỉ hướng vào việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật phát hiện được, mà nó còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, nhằm ngăn ngừa những phát sinh những vi phạm pháp luật tương tự xảy ra
Ba là, hoạt động thanh tra dù là loại hình nào cũng luôn luôn có tính định
hướng và tính xây dựng Vai trò phòng ngừa của thanh tra được đề cập ở đây là vai trò phòng ngừa mang tính chủ động Trong rất nhiều trường hợp, thông qua hoạt động thanh tra mà có thể dự báo được một hành vi vi phạm pháp luật sẽ xảy ra trong tương lai nếu không có sự chấn chỉnh, không có sự định hướng lại cho các đối tượng một cách kịp thời
1.2.4 Hành vi bị cấm trong hoạt động thanh tra
Hoạt động thanh tra đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản lý Nhà nước Nhưng trong quá trình hoạt động thanh tra có các hành vi bị nghiêm cấm thực hiện:20
Một là, lợi dụng chức vụ, quyền hạn thanh tra để thực hiện hành vi trái pháp
luật, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra
20
Điều 13 Luật Thanh tra năm 2010
Trang 21Thanh tra viên và những người có thẩm quyền không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu, gây khó khăn cho đối tượng
bị thanh tra
Hai là, thanh tra không đúng thẩm quyền, phạm vi, nội dung thanh tra được
giao
Ba là, cố ý không ra quyết định thanh tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm
pháp luật; kết luận sai sự thật; quyết định, xử lý trái pháp luật; bao che cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật
Bốn là, tiết lộ thông tin, tài liệu về nội dung thanh tra trong quá trình thanh tra
khi chưa có kết luận chính thức
Năm là, cung cấp tài liệu, thông tin không chính xác, thiếu trung thực; chiếm
đoạt, tiêu hủy tài liệu, vật chứng liên quan đến nội dung thanh tra
Sáu là, chống đối, cản trở, mua chuộc, đe dọa, trả thù, trù dập người làm nhiệm
vụ thanh tra, người cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan thanh tra nhà nước; gây khó khăn cho hoạt động thanh tra
Bảy là, can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra, lợi dụng ảnh hưởng của
mình tác động đến người làm nhiệm vụ thanh tra
Cuối cùng là, đưa, nhận, môi giới hối lộ
Cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra có trách nhiệm thực hiện yêu cầu, kiến nghị, quyết định về thanh tra, có quyền giải trình về nội dung thanh tra, có quyền và trách nhiệm khác theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010 và các quy định khác của pháp luật có liên quan
1.3 Sơ lược về quy trình thanh tra
Hoạt động thanh tra được tiến hành bởi Đoàn thanh tra, thanh tra viên và người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành (gọi tắt là chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra) Hoạt động thanh tra sẽ được tiến hành qua ba giai đoạn như sau (các giai đoạn này được thể hiện chủ yếu qua hoạt động của Đoàn thanh tra):
1.3.1 Chuẩn bị thanh tra
Đây là giai đoạn trước khi tổ chức thực hiện thanh tra Chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết sẽ góp phần quan trọng làm cho việc thanh tra có hiệu quả và hoàn thành được đúng thời hạn quy định
Khảo sát, nắm tình hình để quyết định thanh tra
Trước khi ra quyết định thanh tra, trong trường hợp cần thiết, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước căn cứ vào yêu cầu của
Trang 22cuộc thanh tra để quyết định việc khảo sát, nắm tình hình đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân được thanh tra (sau đây gọi là đối tượng thanh tra)
Người được giao khảo sát, nắm tình hình có trách nhiệm tổng hợp, phân tích, đánh giá các thông tin thu nhận được, lập báo cáo gửi người giao nhiệm vụ khảo sát, nắm tình hình Báo cáo gồm các nội dung sau:
Thứ nhất, khái quát chung về mô hình tổ chức bộ máy, cơ chế quản lý, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra;
Thứ hai, kết quả khảo sát, nắm tình hình theo từng nội dung: Hệ thống các quy
định của pháp luật liên quan đến hoạt động của đối tượng thanh tra; các thông tin liên quan đến tình hình hoạt động, việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra của các cơ quan chức năng và hoạt động tự kiểm tra, kiểm soát của đối tượng thanh tra; các thông tin liên quan đến các mối quan hệ chủ yếu gắn với tổ chức hoạt động của đối tượng thanh tra và các thông tin liên quan đến những nội dung dự kiến thanh tra;
Thứ ba, nhận định những vấn đề nổi cộm, có dấu hiệu sai phạm, đề xuất những
nội dung cần thanh tra và cách thức tổ chức thực hiện
Ra quyết định thanh tra
Đây là cơ sở pháp lý để tiến hành một cuộc thanh tra Thẩm quyền ra quyết định thanh tra bao gồm: thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành Việc ra quyết định thanh tra phải có một trong các căn cứ sau đây21:
- Kế hoạch thanh tra;
- Theo yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước;
- Khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
- Yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng
Nội dung quyết định thanh tra được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 37 Luật Thanh tra, gồm các nội dung sau:
- Căn cứ pháp lý để thanh tra;
- Đối tượng, nội dung, phạm vi, nhiệm vụ thanh tra;
- Thời hạn tiến hành thanh tra;
- Trưởng đoàn thanh tra và các thành viên khác của Đoàn thanh tra;
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ chỉ đạo, giám sát hoạt động Đoàn thanh tra (nếu có)
21
Điều 38 Luật Thanh tra năm 2010
Trang 23 Xây dựng và phê duyệt kế hoạch tiến hành thanh tra
Thanh tra là một trong những hoạt động quan trọng của quản lý nhà nước Do vậy, cũng như các hoạt động khác, hoạt động thanh tra rất cần được lập kế hoạch chi tiết, rõ ràng để góp phần quan trọng vào việc thực hiện có hiệu quả thanh tra Đồng thời kế hoạch thanh tra cũng là cơ sở để người ra quyết định thanh tra theo dõi, kiểm tra tiến độ thực hiện công việc
Chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra có trách nhiệm xây dựng dự thảo kế hoạch tiến hành thanh tra gồm các nội dung: mục đích, yêu cầu, nội dung thanh tra, đối tượng thanh tra, thời kỳ thanh tra, thời hạn thanh tra, phương pháp tiến hành thanh tra, tiến độ thực hiện, chế độ thông tin báo cáo, việc sử dụng phương tiện, thiết bị, kinh phí và những điều kiện vật chất cần thiết khác phục vụ hoạt động của Đoàn thanh tra
Sau khi kế hoạch thanh tra được người ra quyết định thanh tra phê duyệt, Trưởng đoàn thanh tra tổ chức họp Đoàn thanh tra để phổ biến kế hoạch tiến hành thanh tra được duyệt và phân công nhiệm vụ cho các tổ, nhóm, các thành viên của Đoàn thanh tra; thảo luận về phương pháp, cách thức tổ chức tiến hành thanh tra, sự phối hợp giữa các tổ, nhóm, các thành viên trong đoàn; tổ chức việc tập huấn nghiệp
vụ cho thành viên Đoàn thanh tra khi cần thiết Từng thành viên Đoàn thanh tra xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ được phân công và báo cáo với Trưởng đoàn thanh tra
Xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo
Chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra phải xây dựng được đề cương để yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo và làm căn cứ định hướng cho quá trình nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin từ đối tượng thanh tra và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; tránh tình trạng lan man, không tập trung vào những nội dung chính Đề cương
có thể bao gồm những nội dung như:
- Những kết quả đã đạt được;
- Những vấn đề còn chưa đạt được (những hạn chế, bất cập);
- Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập;
- Những vấn đề liên quan đến đơn, thư khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị của công dân, cơ quan, tổ chức
Thông báo về việc công bố quyết định thanh tra
Chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến đối tượng thanh tra về việc công bố quyết định thanh tra Thông báo phải nêu rõ
Trang 24về thời gian, địa điểm, thành phần tham dự buổi công bố quyết định thanh tra.22 Sự thông báo với đối tượng thanh tra về việc thanh tra là cần thiết để đối tượng thanh tra
có sự chuẩn bị, chủ động bố trí thời gian, địa điểm làm việc
Chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác
Để thực hiện có hiệu quả việc thanh tra, chủ thể thanh tra cần được chuẩn bị chu đáo các điều kiện cần thiết khác như:
- Phương tiện đi lại;
- Kinh phí phục vụ thanh tra;
- Văn phòng phẩm;
- Các loại công văn, giấy tờ liên quan đến thủ tục hành chính;
1.3.2 Tổ chức thực hiện thanh tra
Kết thúc chuẩn bị thanh tra thì giai đoạn tiếp theo của quá trình thanh tra là tiến hành thanh tra Đây là giai đoạn quan trọng góp phần cho kết luận thanh tra đạt hiệu quả cũng như cho việc kết thúc thanh tra được đảm bảo thực hiện
Công bố quyết định thanh tra
Công bố quyết định thanh tra là nội dung đầu tiên trong việc tổ chức thanh tra
Chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm công bố quyết định thanh tra với đối tượng thanh tra.23
Công bố quyết định thanh tra có ý nghĩa rất quan trọng nhằm:
- Khẳng định tính hợp pháp của chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra;
- Thống nhất giữa chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra với đối tượng thanh tra
về quan điểm nhận thức, mục đích, yêu cầu và nội dung của cuộc thanh tra;
- Xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra và của đối tượng thanh tra;
- Xác lập chương trình và mối quan hệ công tác giữa chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra và đối tượng thanh tra
Việc công bố quyết định thanh tra phải được làm thành biên bản
Thu thập, kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh
tra
Chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra có quyền yêu cầu đối tượng thanh tra hoặc các cá nhân, cơ quan tổ chức khác cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến nội dung thanh tra Việc cung cấp hồ sơ, tài liệu được lập thành biên bản giao nhận giữa Đoàn thanh tra và đối tượng thanh tra Việc quản lý, khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu thu thập theo đúng quy định của pháp luật về thanh tra
Trang 25Trên cơ sở văn bản báo cáo của đối tượng thanh tra và các thông tin, tài liệu đã thu thập được, chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra sẽ tiến hành các biện pháp nghiệp
vụ khác nhau để nghiên cứu, phân tích, đối chiếu, so sánh, đánh giá làm cơ sở để xây dựng báo cáo thanh tra và kết luận thanh tra sau này
Trong khi tiến hành thanh tra, nếu phát hiện có sai phạm thì chủ thể tiến hành hoạt động thanh tra phải tiến hành lập biên bản với đối tượng thanh tra để xác định rõ nội dung, tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, nguyên nhân dẫn đến vi phạm Đối với Đoàn thanh tra thì hằng ngày trong quá trình thanh tra phải ghi nhật ký thanh tra
có chữ ký xác nhận của Trưởng đoàn thanh tra Nhật ký Đoàn thanh tra là sổ ghi chép những hoạt động của Đoàn thanh tra, những nội dung có liên quan đến hoạt động của Đoàn thanh tra diễn ra trong ngày, từ khi có quyết định thanh tra đến khi bàn giao hồ
sơ thanh tra cho cơ quan có thẩm quyền
1.3.3 Kết thúc thanh tra
Kết thúc thanh tra phải thực hiện các công việc sau:
Báo cáo kết quả thanh tra
Sau khi kết thúc việc thanh tra, chủ thể thực hiện thanh tra cần tiến hành việc ra văn bản Báo cáo kết quả thanh tra Đây là căn cứ để người ra quyết định thanh tra ban hành kết luật thanh tra Vì vậy báo cáo thanh tra phải bám sát nội dung, kế hoạch tiến hành thanh tra, nêu rõ những nhận xét, đánh giá về từng nội dung đã tiến hành thanh tra; chỉ rõ những vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm đối với những vi phạm; đưa ra những kiến nghị biện pháp xử lý vi phạm; nêu rõ các quy định pháp luật làm căn cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật, tính chất, mức độ vi phạm, kiến nghị biện pháp
xử lý vi phạm.24
Đưa ra kết luận thanh tra
Kết luận thanh tra phải có các nội dung sau đây:25
- Đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của đối tượng thanh tra thuộc nội dung thanh tra;
- Kết luận về nội dung được thanh tra;
- Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan,
Trang 26 Công bố kết luận thanh tra
Kết luận thanh tra phải được công khai, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Hình thức công khai kết luận thanh tra bao gồm:26
- Công bố tại cuộc họp với thành phần bao gồm người ra quyết định thanh tra, Đoàn thanh tra, đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc tổ chức họp báo;
- Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
- Đưa lên trang thông tin điện tử của cơ quan thanh tra nhà nước, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành hoặc cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp;
- Niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức là đối tượng thanh tra;
- Cung cấp theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
Hoàn tất và bàn giao hồ sơ thanh tra
Chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ cuộc thanh tra Hồ sơ cuộc thanh tra phải có những giấy tờ sau:
Quyết định thanh tra, kế hoạch tiến hành thanh tra, các văn bản bổ sung, sửa đổi quyết định, kế hoạch tiến hành thanh tra, thay đổi, bổ sung Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra (nếu có);
Các biên bản làm việc, biên bản kiểm tra, xác minh; các loại báo cáo, báo cáo giải trình của đối tượng thanh tra, các tài liệu về nội dung, chứng cứ (theo từng nhóm nội dung thể hiện tại kết luận thanh tra)
Báo cáo của đối tượng thanh tra; báo cáo tiến độ, báo cáo thực hiện nhiệm vụ của thành viên Đoàn thanh tra; báo cáo kết quả thanh tra; kết luận thanh tra;
Các văn bản về việc xử lý và các văn bản có liên quan đến các kiến nghị xử lý; Nhật ký Đoàn thanh tra và các tài liệu khác có liên quan đến cuộc thanh tra Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày có kết luận thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm tổ chức bàn giao hồ sơ thanh tra cho cơ quan trực tiếp quản lý Trưởng đoàn thanh tra Trường hợp vì trở ngại khách quan thì thời gian bàn giao hồ sơ thanh tra có thể kéo dài nhưng không quá 90 ngày Trong trường hợp người ra quyết định thanh tra không phải là thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý Trưởng đoàn thanh tra thì Trưởng đoàn thanh tra báo cáo người ra quyết định thanh tra để xin ý kiến chỉ đạo việc bàn giao hồ sơ thanh tra cho cơ quan có thẩm quyền Việc bàn giao hồ sơ thanh tra phải được lập thành biên bản.27
Trang 271.4 Vai trò của hoạt động thanh tra
Thanh tra và kiểm tra là những hoạt động thiết yếu, thường xuyên của công tác quản lý Nhà nước, ở đâu có quản lý thì ở đó có thanh tra, kiểm tra Chính vì vậy, khi
bàn về quản lý nhà nước, Lê Nin đã nói: “Điều kiện tất yếu để công tác quản lý được
chính xác là việc kiểm tra tình hình chấp hành Chỉ thị và Nghị quyết Kiểm tra thường xuyên việc chấp hành là một trong những ưu điểm cơ bản nhất, tất yếu nhất của phương thức quản lý ” Nói về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác thanh tra, kiểm
tra, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Thanh tra là một nhiệm vụ vẻ vang và quan trọng
Nó theo dõi, xem xét việc chấp hành đúng đắn đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Chính phủ” Như thế đủ hiểu, công tác thanh tra, kiểm tra giống như
“ngọn đèn pha” giúp nhìn rõ ưu điểm, khuyết điểm, nắm chắc tình hình trong lãnh
đạo, quản lý Theo Hồ Chí Minh, chín phần mười khuyết điểm trong công việc của
chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra Vì thế, “cấp lãnh đạo các bộ, ngành, các cấp nhất
định phải có cơ quan thanh tra của mình để theo dõi công tác ngay từ đầu, kịp thời uốn nắn, sửa chữa sai lầm, thiếu sót có thể xảy ra, đồng thời phải trực tiếp chỉ đạo cơ quan thanh tra của mình” Trên cơ sở tư tưởng đó và thể chế hóa đường lối, chủ
trương của Đảng ta, Điều 2, Luật Thanh tra 2010 quy định về mục đích hoạt động
thanh tra: “nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến
nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”
So với Luật Thanh tra năm 2004 “Hoạt động thanh tra nhằm phòng ngừa, phát
hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức, cá nhân” thì quy định về mục đích thanh tra của Luật Thanh tra năm
2010 có nhiều bổ sung, phát triển Nếu như Luật Thanh tra năm 2004 đề cao mục đích thanh tra là phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thì Luật Thanh tra năm 2010 đã thể hiện rõ hơn mục đích thanh tra theo tư tưởng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh: “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới” Hoạt động thanh tra mang tính quyền lực nhà nước là sự xem xét, phát hiện và ngăn chặn những
gì trái với quy định
Trang 28Luật Thanh tra năm 2010 đã thay đổi thứ tự ưu tiên so với Luật thanh tra năm
2004 đã làm cho hoạt động thanh tra từ chỗ chú trọng phòng ngừa, phát hiện sai phạm, kiến nghị xử lý đã từng bước chuyển sang hoạt động mang tính đồng hành, giúp đỡ và chia sẻ cùng cơ quan, đơn vị, cá nhân là đối tượng thanh tra; khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành; tìm ra những điểm bất hợp lý, những quy định khó thực hiện, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn thiện các quy phạm pháp luật để hoạt động thanh tra nói chung, thanh tra chuyên ngành nói riêng ngày càng mang lại hiệu quả thiết thực hơn
Như vậy, hoạt động thanh tra là nhằm điều chỉnh cách thức, phương pháp quản
lý của các cơ quan quản lý nhà nước, với ý nghĩa là bảo vệ mục đích của quản lý nhà nước được thực hiện bởi chủ thể quản lý nhà nước - nhân danh quyền lực nhà nước, tạo điều kiện cho công dân thực hiện tốt các quyền của mình trên thực tế
Bên cạnh đó, hoạt động thanh tra của các cơ quan thanh tra là nhằm hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động kiểm tra, giám sát Qua đó phát hiện các vi phạm để xử lý theo thẩm quyền của mình và phục vụ cho hoạt động kiểm tra, giám sát nói chung của xã hội
Ngoài ra, thanh tra còn góp phần hoàn thiện cơ chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quá trình quản lý nhà nước Để quyết định quản lý Nhà nước được các cơ quan, tổ chức và cá nhân chấp hành một cách chính xác, đầy đủ thì các cơ quan, cá nhân đã ban hành quyết định phải đề ra quy trình thực hiện quyết định Trong quy trình đó không thể thiếu được hoạt động thanh tra, kiểm tra Thanh tra, kiểm tra là để đánh giá, nhận xét tình hình và kết quả thực hiện quyết định quản lý; để kiểm nghiệm lại chính nội dung và chất lượng quản lý; khi cần thiết phải bổ sung, sửa đổi hoặc có thể phải huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định quản lý
Khi nội dung và chất lượng quyết định quản lý được thực tế kiểm nghiệm là đúng, là phù hợp, nhưng đối tượng thi hành vẫn không tuân thủ và không chấp hành nghiêm chỉnh thì khi đó hoạt động thanh tra, kiểm tra phải phục vụ cho việc làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan, xác định rõ trách nhiệm thuộc khâu nào, thuộc ai
để chấn chỉnh hoặc xử lý khi có vi phạm
Tóm lại, hoạt động thanh tra góp phần bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân Ở
nước ta, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước Nhà nước có nghĩa vụ chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tạo mọi điều kiện để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, tham gia quản
lý nhà nước và quản lý xã hội
Trang 291.5 Các chủ thể trong hoạt động thanh tra
Chủ thể trong hoạt động thanh tra bao gồm: chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra (Đoàn thanh tra, Thanh tra viên, Cộng tác viên thanh tra và người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành thực hiện), chủ thể bị thanh tra (đối tượng thanh tra) và người có quyền và nghĩa vụ liên quan
1.5.1 Chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra
Đoàn thanh tra
Về cơ chế hình thành, Đoàn thanh tra được thành lập khi cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cho rằng việc thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đó có vấn đề cần phải tiến hành thanh tra
Về tổ chức, Đoàn thanh tra có Trưởng đoàn thanh tra và các thành viên Đoàn
thanh tra; trong trường hợp cần thiết, Đoàn thanh tra có Phó trưởng đoàn thanh tra Phó trưởng đoàn thanh tra giúp Trưởng đoàn thanh tra tổ chức thực hiện nhiệm vụ của Đoàn thanh tra, thay mặt Trưởng đoàn thanh tra chỉ đạo hoạt động của Đoàn thanh tra khi được Trưởng đoàn thanh tra giao.28
Về hoạt động, trong giai đoạn chuẩn bị thanh tra Trưởng đoàn thanh tra có
trách nhiệm sau: Xây dựng kế hoạch tiến hành thanh tra; Phổ biến kế hoạch thanh tra;
Đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo
Trong giai đoạn tiến hành thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm sau: Công bố quyết định thanh tra; Thu nhận báo cáo của đối tượng thanh tra, nghe đối tượng thanh tra báo cáo; Thu thập, kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu; Báo cáo tiến
độ thực hiện nhiệm vụ thanh tra; Sửa đổi, bổ sung kế hoạch tiến hành thanh tra; Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của thành viên Đoàn thanh tra
Trong giai đoạn kết thúc thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm sau: Thông báo kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra; Xây dựng dự thảo Báo cáo kết quả thanh tra; Báo cáo kết quả thanh tra; Xây dựng dự thảo Kết luận thanh tra; Công bố Kết luận thanh tra; Rút kinh nghiệm về hoạt động của Đoàn thanh tra; Lập, bàn giao hồ sơ thanh tra
Thanh tra viên
Khái niệm: Thanh tra viên là công chức, sỹ quan Quân đội nhân dân, sỹ quan
Công an nhân dân được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra
và các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước29
Trang 30Thanh tra viên là công chức phải có các tiêu chuẩn chung quy định tại khoản 1 Điều
32 Luật Thanh tra:
- Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Tốt nghiệp đại học, có kiến thức quản lý nhà nước và am hiểu pháp luật;
- Có văn bằng hoặc chứng chỉ về nghiệp vụ thanh tra;
- Có ít nhất 02 năm làm công tác thanh tra
Đồng thời, có các tiêu chuẩn nghiệp vụ cụ thể như sau:30
- Am hiểu chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
để vận dụng vào hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng;
- Nắm được nguyên tắc, chế độ, chính sách, quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội;
- Am hiểu sâu tình hình kinh tế - xã hội;
- Có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành theo lĩnh vực được phân công; có khả năng đảm nhận trách nhiệm là trưởng đoàn, phó trưởng đoàn thanh tra;
tổ chức điều hành hướng dẫn thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra thực hiện nhiệm
vụ thanh tra được giao
Thanh tra viên là sỹ quan Quân đội nhân dân, sỹ quan Công an nhân dân phải
có các tiêu chuẩn chung quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Thanh tra và Điều 9 của Nghị định 97/2011/NĐ-CP Quy định về thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra
Thanh tra viên có các ngạch từ thấp đến cao như sau:
- Thanh tra viên;
- Thanh tra viên chính;
- Thanh tra viên cao cấp
Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra viên 31
Tham gia xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các vụ việc thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng được giao;
Trực tiếp thực hiện hoặc tổ chức việc phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tiến hành thu thập chứng cứ, hồ sơ có liên quan đến vụ việc thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng được giao;
Lập biên bản, viết báo cáo kết quả thanh tra, làm rõ từng nội dung đã thanh tra, xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm; kiến nghị biện pháp giải quyết;
Tổ chức rút kinh nghiệm việc thực hiện các cuộc thanh tra được giao;
Trang 31Trong quá trình thanh tra, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 47
và Điều 54 Luật Thanh tra;
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước giao
Cộng tác viên thanh tra
Khái niệm: Cộng tác viên thanh tra là người được cơ quan thanh tra nhà nước trưng tập tham gia Đoàn thanh tra Cộng tác viên thanh tra là người không thuộc biên chế của các cơ quan thanh tra nhà nước.32
Cộng tác viên thanh tra là công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, công minh, khách quan, có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ thanh tra của cơ quan trưng tập
Cộng tác viên thanh tra khi tham gia Đoàn thanh tra có nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên Đoàn thanh tra theo quy định tại Điều 47 và Điều 54 của Luật Thanh tra năm 2010
Người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành
Khái niệm: Người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành phải
là công chức của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với chuyên ngành, am hiểu pháp luật, có nghiệp vụ thanh tra.33
Khi tiến hành thanh tra độc lập người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây34:
- Yêu cầu đối tượng thanh tra xuất trình giấy phép, đăng ký kinh doanh, chứng chỉ hành nghề và cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về vấn
đề liên quan đến nội dung thanh tra; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu đó;
- Lập biên bản về việc vi phạm của đối tượng thanh tra;
- Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
- Báo cáo Chánh Thanh tra, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về việc thực hiện nhiệm vụ được phân công; chịu trách nhiệm trước Chánh Thanh tra, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình
1.5.2 Chủ thể là đối tượng thanh tra
Đối tượng thanh tra
Khái niệm: Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước,
do đó đối tượng của quản lý chính là đối tượng của thanh tra Tuy nhiên cần phân biệt:
Trang 32chủ thể quản lý tác động đến đối tượng thường xuyên, liên tục bằng các quyết định quản lý, còn kiểm tra, thanh tra với tư cách là chức năng của quản lý, tác động vào đối tượng bằng việc xem xét đánh giá, kết luận việc chấp hành quyết định quản lý Phạm
vi quản lý mở rộng đến đâu thì phạm vi tác động của kiểm tra thanh tra mở rộng đến
đó, không một tổ chức, cá nhân nào trong hệ thống quản lý nằm ngoài sự tác động của kiểm tra thanh tra
Đối tượng thanh tra có quyền sau đây:
- Giải trình về vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra;
- Khiếu nại về quyết định, hành vi của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra trong quá trình thanh tra; khiếu nại về kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra theo quy định của pháp luật về khiếu nại;
- Yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
- Cá nhân là đối tượng thanh tra có quyền tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra theo quy định của pháp luật về tố cáo35
Nghĩa vụ của đối tượng thanh tra
- Chấp hành quyết định thanh tra;
- Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu theo yêu cầu của người
ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin, tài liệu đã cung cấp;
- Thực hiện yêu cầu, kiến nghị, kết luận thanh tra, quyết định xử lý của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra và cơ quan nhà nước có thẩm quyền36
1.5.3 Người có quyền và nghĩa vụ liên quan
Khái niệm: Người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong một cuộc thanh tra là
người tuy không phải là chủ thể thực hiện thanh tra cũng không là đối tượng bị thanh tra, nhưng việc thanh tra có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc được các chủ thể khác đề nghị và được Trưởng đoàn thanh tra chấp nhận đưa họ vào tham gia cuộc thanh tra để hỗ trợ, cung cấp thông tin và những yêu cầu cần thiết của người có thẩm quyền với tư cách là người có quyền, nghĩa vụ liên
Trang 33quan Trong trường hợp cuộc thanh tra đó có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia thanh tra với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Trưởng đoàn thanh tra phải đưa họ vào tham gia thanh tra với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong thanh tra bao gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền, nghĩa vụ tương tự như đối tượng thanh tra:
- Giải trình về vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra;
- Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra theo quy định của pháp luật về tố cáo;
- Chấp hành quyết định thanh tra;
- Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu cần thiết cho cuộc thanh tra;
- Thực hiện yêu cầu, kiến nghị, kết luận thanh tra, quyết định xử lý của người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra và cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 34CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KẾT LUẬN THANH TRA
Ở chương này, người viết sẽ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về vấn đề ban hành và thực hiện cũng như hình thức của kết luận thanh nhằm giúp hiểu
rõ hơn pháp luật về thanh tra trong việc công khai và thực hiện kết luận thanh tra
2.1 Căn cứ ban hành kết luận thanh tra
Để tìm hiểu căn cứ ban hành kết luận thanh tra, việc công khai và thực hiện kết luận thanh tra thì trước hết phải hiểu như thế nào là kết luận thanh tra
Kết luận thanh tra là “văn bản có tính pháp lý kết thúc một cuộc thanh tra của
Đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên, phản ảnh những kết quả thanh tra: đưa ra những đánh giá, nhận xét về ưu, khuyết điểm của đối tượng thanh tra trong việc thực hiện pháp luật, chính sách, kế hoạch nhà nước, nhiệm vụ được giao; đề xuất, kiến nghị với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xử lý đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật; sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách, pháp luật” 37
.Kết luận thanh tra có tính pháp lý bởi vì do người có thẩm quyền ban hành Kết luận thanh tra thể hiện tính quyền lực nhà nước, được ban hành theo quy trình nhất định và được thể hiện theo hình thức quy định Việc ban hành văn bản Kết luận thanh tra là trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể được trao quyền tức là những người có thẩm quyền ra quyết định thanh tra Đồng thời, kết luận thanh tra được đảm bảo thi hành và có những quyết định xử lý nếu đối tượng thanh tra không thực hiện kết luận thanh tra
Đây chính là tiền đề để khẳng định: “Kết luận thanh tra góp phần nâng cao
hiệu lực thanh tra, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước” Bởi vì, thông qua kết quả
các cuộc thanh tra, được thể hiện cụ thể trong các Kết luận thanh tra, thủ trưởng cơ quan quản lý có cơ sở đánh giá được việc thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các đối tượng quản lý Từ đó các cơ quan quản lý phát hiện những sơ
hở, thiếu sót, để có các đề xuất, kiến nghị nhất là về việc sửa đổi, bổ sung các quyết định quản lý, các biện pháp khắc phục sơ hở, yếu kém hay sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách pháp luật
Chủ thể thanh tra có trách nhiệm thực hiện việc đảm bảo thi hành kết luận thanh tra được quy định cụ thể tại Điều 5 Nghị định 86/2011/NĐ-CP Quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra:
37
Trịnh Văn Toàn, Công khai kết luận thanh tra - Những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, Viện khoa học Thanh tra,
2010, tr.2
Trang 35Người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm xử lý kịp thời kết luận, kiến nghị thanh tra; ban hành quyết định xử lý
về thanh tra; áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền để xử lý đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm; khắc phục kịp thời sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý
Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm chấp hành kết luận thanh tra, quyết định xử lý về thanh tra mà không chấp hành thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà
bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
Kết luận thanh tra được xây dựng dựa trên cơ sở báo cáo kết quả thanh tra, ý kiến giải trình của đối tượng thanh tra và ý kiến tham gia các cơ quan, đơn vị liên quan (nếu có) Do vậy, kết luận thanh tra là văn bản quan trọng nhất của cuộc thanh tra
Để xây dựng kết luận thanh tra thì trước hết cần phải có văn bản báo cáo kết quả thanh tra Vì vậy, văn bản báo cáo kết quả thanh tra được xem là căn cứ để ban hành kết luận thanh tra
Trước khi xây dựng dự thảo Báo cáo kết quả thanh tra thì Trưởng đoàn thanh
tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân là đối tượng thanh tra biết về việc kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra
Trên cơ sở báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của thành viên Đoàn thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm xây dựng dự thảo Báo cáo kết quả thanh tra, tổ chức lấy ý kiến của các thành viên Đoàn thanh tra vào dự thảo Báo cáo kết quả thanh tra
Trong quá trình xây dựng báo cáo kết quả thanh tra, trường hợp cần thiết, Trưởng đoàn thanh tra tham khảo ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để đảm bảo cho việc kết luận, kiến nghị xử lý được chính xác, khách quan
Trưởng đoàn thanh tra lấy ý kiến tham gia bằng văn bản của các thành viên Đoàn thanh tra đối với dự thảo báo cáo kết quả thanh tra và hoàn chỉnh báo cáo kết quả thanh tra Trong trường hợp các thành viên Đoàn thanh tra có ý kiến khác nhau về nội dung của dự thảo thì Trưởng đoàn thanh tra xem xét, quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước người ra quyết định thanh tra về quyết định của mình
Trang 36Chậm nhất 15 ngày, kể từ ngày kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có báo cáo kết quả thanh tra trình với người ra quyết định thanh tra kèm theo báo cáo về những ý kiến khác nhau của thành viên Đoàn thanh tra đối với báo cáo kết quả thanh tra.38
Đánh giá chứng cứ ở Đoàn thanh tra
Khi xây dựng báo cáo kết quả thanh tra hoặc trong trường hợp đề xuất chuyển
vụ việc sang cơ quan điều tra, Trưởng đoàn thanh tra phải tổ chức để các thành viên trong đoàn tham gia đánh giá chứng cứ đối với từng nội dung kết luận, kiến nghị, đề xuất và phải được lập thành biên bản họp Đoàn thanh tra
Chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra phải có văn bản báo cáo kết quả thanh tra Báo cáo kết quả thanh tra phải có các nội dung sau đây:39
- Kết luận cụ thể về từng nội dung đã tiến hành thanh tra;
- Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan,
- Yếu kém về năng lực quản lý;
- Thiếu trách nhiệm trong quản lý;
- Bao che cho người có hành vi tham nhũng
Căn cứ vào mức độ của hành vi tham nhũng mà có những biện pháp xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc có thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
Trong báo cáo kết quả thanh tra phải nêu rõ các quy định pháp luật làm căn cứ
để xác định tính chất, mức độ vi phạm, kiến nghị biện pháp xử lý
Báo cáo kết quả thanh tra được gửi tới Người ra quyết định thanh tra Trong trường hợp Người ra quyết định thanh tra là Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước thì báo cáo kết quả thanh tra còn được gửi cho Thủ trưởng cơ quan thanh tra cùng cấp
Trang 37 Xem xét báo cáo kết quả thanh tra
Để một kết quả thanh tra được chính xác, khách quan thì văn bản báo cáo kết quả thanh tra phải được xem xét, đánh giá toàn diện
Người ra quyết định thanh tra trực tiếp nghiên cứu hoặc giao cho cơ quan, đơn
vị chuyên môn giúp việc nghiên cứu, xem xét các nội dung trong báo cáo kết quả thanh tra
Trường hợp cần phải làm rõ hoặc cần phải bổ sung thêm nội dung trong báo cáo kết quả thanh tra, người ra quyết định thanh tra tổ chức họp Đoàn thanh tra để nghe Đoàn thanh tra báo cáo trực tiếp hoặc có ý kiến chỉ đạo bằng văn bản yêu cầu Trưởng đoàn và các thành viên trong Đoàn thanh tra báo cáo cụ thể
Trong trường hợp cần thiết phải tiến hành thanh tra bổ sung để làm rõ, người ra quyết định thanh tra có quyết định thanh tra bổ sung để làm cơ sở cho Đoàn thanh tra thực hiện
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra
Khi xem xét báo cáo kết quả thanh tra đã xong thì người ra quyết định thanh tra
ra ý kiến chỉ đạo và Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm thực hiện ý kiến chỉ đạo đó
Trưởng đoàn thanh tra tổ chức thực hiện ý kiến chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra; họp Đoàn thanh tra để thảo luận báo cáo bổ sung, làm rõ báo cáo kết quả thanh tra
Trưởng đoàn thanh tra trình báo cáo bổ sung, làm rõ thêm báo cáo kết quả thanh tra với người ra quyết định thanh tra kèm theo những ý kiến khác nhau của thành viên Đoàn thanh tra (nếu có)
2.2 Xây dựng và ban hành kết luận thanh tra
Kết luận thanh tra là văn bản quan trọng trong một cuộc thanh tra Chính vì vậy, để có được một kết luận thanh tra thì quá trình xây dựng và ban hành được kết luận thanh tra là thiết yếu
Xây dựng dự thảo kết luận thanh tra
Sau khi nhận được báo cáo kết quả thanh tra và báo cáo bổ sung, làm rõ (nếu có) của Đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra chỉ đạo Trưởng đoàn thanh tra chủ trì xây dựng dự thảo kết luận thanh tra trình người ra quyết định thanh tra
Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm xây dựng dự thảo Kết luận thanh tra và
Tờ trình về những nội dung đã trình bày trong dự thảo Kết luận đó, trình kèm theo Báo cáo kết quả thanh tra, để người ra quyết định thanh tra xem xét ra Kết luận thanh tra
Trang 38Tuy nhiên, việc giao Trưởng đoàn thanh tra xây dựng dự thảo kết luận thanh tra trong chừng mực nhất định dễ mang tính áp đặt chủ quan khi xem xét, phán quyết vấn
đề vì Trưởng đoàn thanh tra vừa là người lập báo cáo kết quả thanh tra lại vừa là người xây dựng dự thảo kết luận thanh tra Với quy định cứng nhắc như vậy sẽ dẫn đến tình trạng “khoán trắng” mọi việc cho Trưởng Đoàn thanh tra và kết luận thanh tra
sẽ không thể hiện được tính độc lập, khách quan của người ra quyết định thanh tra
Người ra quyết định thanh tra tự nghiên cứu hoặc giao cho cơ quan, đơn vị chuyên môn nghiên cứu dự thảo kết luận thanh tra và tham mưu cho mình trong quá trình ra kết luận thanh tra Ý kiến tham mưu được thể hiện bằng văn bản và được lưu trong hồ sơ thanh tra
Còn trường hợp người ra quyết định thanh tra gửi dự thảo Kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra và đối tượng thanh tra có văn bản giải trình thì Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm nghiên cứu và đề xuất với người ra quyết định thanh tra hướng xử lý nội dung giải trình của đối tượng thanh tra
Khi được giao xây dựng dự thảo Kết luận thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra căn
cứ vào báo cáo kết quả thanh tra, sự chỉ đạo của Người ra quyết định thanh tra để xây dựng dự thảo Kết luận thanh tra trình Người ra quyết định thanh tra
Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định cụ thể về việc xây dựng kết luận thanh tra tại các khoản 1, 2 Điều 50:
1 Chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra, người ra quyết định thanh tra phải ra văn bản kết luận thanh tra và gửi tới Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp, cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên, đối tượng thanh tra Trường hợp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước là người quyết định thanh tra thì kết luận thanh tra còn phải gửi cho Thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp
2 Kết luận thanh tra phải có các nội dung sau đây:
a) Đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của đối tượng thanh tra thuộc nội dung thanh tra;
b) Kết luận về nội dung thanh tra;
c) Xác định rõ tính chất, mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của cơ quan,
Trang 39Một là, trước khi trở thành kết luận chính thức phải có văn bản dự thảo kết luận
thanh tra Văn bản dự thảo này phải được:
- Tất cả thành viên đoàn thanh tra thảo luận;
- Tổng hợp kỹ những nội dung đã kết luận;
- Sự chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra;
- Các cơ quan chức năng cho ý kiến khi cần thiết
Hai là, việc thảo luận về dự thảo kết luận thanh tra phải được lập thành biên
bản
Ba là, trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định thanh tra yêu cầu đoàn
thanh tra tiến hành thanh tra bổ sung để làm rõ thêm một số nội dung Kết quả thanh tra bổ sung phải được báo cáo bằng văn bản, làm cơ sở cho việc ra văn bản kết luận thanh tra
Bốn là, thông báo dự thảo kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra (nếu cần
thiết) để đối tượng thanh tra giải trình và nghe ý kiến các tổ chức Đảng, đoàn thể quần chúng trong cơ quan Việc giải trình của đối tượng thanh tra phải được thực hiện bằng văn bản và có các chứng cứ để chứng minh cho ý kiến giải trình của mình Những giải trình và ý kiến này cần được xem xét để có thể bổ sung, hoàn thành dự thảo kết luận thanh tra
Năm là, nội dung kết luận thanh tra phải có chứng cứ và căn cứ pháp lý để bảo
đảm tính hợp pháp về nội dung Ngoài ra, nội dung kết luận thanh tra cần tính đến yếu
tố hợp lý
Ngoài ra, trong quá trình ra văn bản kết luận thanh tra, người ra quyết định thanh tra có quyền yêu cầu Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra báo cáo; yêu cầu đối tượng thanh tra giải trình để làm rõ thêm về vấn đề cần thiết phục vụ cho việc ra kết luận thanh tra40
Ký ban hành kết luận thanh tra
Trưởng đoàn thanh tra hoàn chỉnh kết luận thanh tra để người ra quyết định thanh tra ký ban hành Kết luận thanh tra được gửi cho đối tượng thanh tra và cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định
40
Khoản 3 Điều 50 Luật Thanh tra năm 2010
Trang 40Trường hợp trong kết luận có những biện pháp xử lý thuộc thẩm quyền của người ra quyết định thanh tra thì Trưởng đoàn thanh tra xây dựng dự thảo quyết định
xử lý theo quy định của pháp luật trình người ra quyết định thanh tra ký ban hành
Trường hợp trong kết luận có những biện pháp xử lý không thuộc thẩm quyền của người ra quyết định thanh tra, kết luận thanh tra được gửi cho thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm cơ sở xem xét xử lý theo quy định tại Điều 44 Luật Thanh tra
2.3 Công khai kết luận thanh tra
Hoạt động thanh tra phải đảm bảo yêu cầu công khai, dân chủ Theo đó, việc thanh tra phải có quyết định thanh tra và được công bố công khai với sự có mặt của đối tượng thanh tra, để đối tượng thanh tra biết trước khi tiến hành thanh tra Bằng quyết định thanh tra và công bố, giao quyết định đó cho đối tượng thanh tra, hoạt động thanh tra đã thực hiện công khai về cả nội dung, thời hạn, thời hiệu thanh tra, công khai thành phần Đoàn thanh tra
Yêu cầu dân chủ được bảo đảm bằng việc các quyền của đối tượng thanh tra và Đoàn thanh tra được tôn trọng thực hiện: thanh tra có quyền chất vấn, đối tượng thanh tra có quyền chứng minh; thanh tra có quyền nhận xét, đánh giá tình hình và ưu điểm, khuyết điểm của đơn vị được thanh tra; đối tượng thanh tra có quyền giải trình; thanh tra có quyền kết luận thanh tra; đối tượng thanh tra có quyền giải trình hoặc khiếu nại kết luận thanh tra Đối tượng thanh tra có quyền tố cáo những hành vi mà họ cho là trái pháp luật của Đoàn thanh tra, các thành viên Đoàn thanh tra
Vấn đề công khai kết luận thanh tra đã được quy định trong Luật Thanh tra năm 2010 và cụ thể hóa trong các văn bản hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ, đặc biệt là hai văn bản Quy chế hoạt động của Đoàn Thanh tra và Quy trình tiến hành một cuộc thanh tra Đồng thời được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như: Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán Nhà nước
Bên cạnh các văn bản nêu trên, quy định về danh mục bí mật nhà nước trong ngành Thanh tra được quy định tại Điều 1 của Quyết định số 588/2004/QĐ-BCA(A11) ngày 25/6/2004 của Bộ trưởng Bộ Công an
Nhằm tăng cường tính minh bạch trong hoạt động thanh tra, tạo cơ sở cho việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước cũng như của các tổ chức và nhân dân, góp phần phòng ngừa tham nhũng, tăng cường kỷ cương trong việc thực hiện kết luận