1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại tòa án trong tố tụng dân sự thực trạng và giải pháp hoàn thiện

63 1,2K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 747,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

để tìm hiểu sâu hơn về công tác hòa giải và tìm ra những biện pháp giúp các cặp vợ chồng có thể hàn gắn lại với nhau nên người viết đã chọn đề tài: " Quy định của pháp luật về hòa giải v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT - -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

KHÓA 2012 – 2015

Đề Tài:

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN LY HÔN

TẠI TÒA ÁN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ- THỰC TRẠNG VÀ

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Thân Thị Ngọc Bích Lâm Hồng Diễm

Bộ môn: Luật Hành Chính MSSV: S1200004 Lớp: Luật B2 Đồng Tháp

Khóa: 38

MỤC LỤC

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Cấu trúc luận văn 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN LY HÔN 1.1 Khái niệm, ý nghĩa hòa giải vụ án ly hôn 4

1.1.1 Khái niệm hòa giải vụ án ly hôn 4

1.1.2 Ý nghĩa hòa giải vụ án ly hôn 5

1.2 Các loại hòa giải trong tranh chấp khi ly hôn 7

1.2.1 Hòa giải tại cơ sở 7

1.2.2 Hòa giải tại Tòa án 8

1 3 Nguyên tắc tiến hành hòa giải vụ án ly hôn 12

1.3.1 Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự 12

1.3.2 Nội dung thỏa thuận của các đương sự không được trái với pháp luật và trái với đạo đức xã hội 13

1.4 Chủ thể trong hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa 14

1.4.1 Chủ thể tiến hành hòa giải vụ án ly hôn 14

1.4.2 Chủ thể tham gia hòa giải trong vụ án ly hôn tại Tòa 16

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN ĐỐI VỚI VỤ ÁN LY HÔN 2.1 Những vụ án ly hôn không tiến hành hòa giải được 18

2.1.1 Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt 19

2.1.2 Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính đáng 19

Trang 3

2.1.3 Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng

lực hành vi dân sự 20

2.2 Những vụ án ly hôn không được tiến hành hòa giải 22

2.2.1 Yêu cầu đồi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước 22

2.2.2 Những vụ án ly hôn phát sinh từ giao dịch trái pháp luật và trái đạo đức xã hội 23

2.3 Trình tự thủ tục hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa 27

2.3.1 Thông báo về phiên hòa giải 27

2.3.2 Thành phần phiên hòa giải 28

2.3.3 Nội dung và phạm vi hòa giải 29

2.3.4 Trình tự hòa giải 31

2.3.5 Biên bản hòa giải 32

2.4 Hậu quả pháp lý của hòa giải vụ án ly hôn 33

2.4.1 Hòa giải thành 34

2.4.1.1 Lập biên bản hòa giải thành 34

2.4.1.2 Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 34

2.4.1.3 Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 35

2.4.2 Hòa giải không thành 36

2.5 Chi phí hòa giải 37

CHƯƠNG 3 BẤT CẬP TRONG VỤ ÁN LY HÔN VÀ PHƯƠNG PHÁP HOÀNG THIỆN 3.1 Thực tiễn về quyền hạn của Thẩm phán trong quá trình hòa giải vụ án ly hôn 39

3.1.1.Thực tiễn áp dụng 39

3.1.2 Phương pháp hoàng thiện 39

3.2 Quyết định được công nhận khi toàn bộ vụ án được giải quyết trong vụ án ly hôn 45

3.2.1 Thực tiễn áp dụng 45

3.2.2 Phương pháp hoàng thiện 48

3.3 Bất cập liên quan đến quyết định đưa vụ án ra xét xử khi các bên đương sự đồng ý ly hôn trong vụ án ly hôn 50

3.3.1 Thực tiễn áp dụng 50

Trang 4

3.3.2 Phương pháp hoàng thiện 53

Kết luận 56

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Hiện nay tình trạng ly hôn của các cặp vợ chồng trẻ xảy ra rất nhiều, vì những lý

do rất đơn giản như bất đồng ý kiến, có chút mâu thuẩn nhỏ trong gia đình Con người hiện nay sống với tư tưởng rất thoáng "hợp thì ở không hợp thì chia tay" Ngày xưa tình trạng ly hôn xảy ra rất ít, tư tưởng của người xưa còn mang đậm chất phong kiến, người phụ nữ khi lấy chồng rồi là phải suốt đời theo chồng, không thoáng như bây giờ Bên cạnh đó ngày xưa người ta sống với nhau vì tình nghĩa dú có những cặp hôn nhân không quen biết nhau trước khi kết hôn mà do người khác mai mối Dù trong gia đình xó xảy ra mâu thuẩn thì không bao giờ họ nghĩ đến việc phải bỏ nhau, giận rồi thôi, sau đó lại tiếp tục cuộc sống vui vẽ trong gia đình Nhưng hiện nay các cặp vợ chồng xảy ra chút mâu thuẩn là đưa đơn ra Tòa ly hôn, để tìm kiếm một mối tình khác Trên thực tế có nhiều người kết hôn đến hai ban làn nhưng vẫn không tìm được hạnh phúc, không tìm được một người hợp với mình để sống đến răng long đầu bạc Hâu quả của những người kết hôn nhiều lần như vậy chính là những đứa con, những đứa con cùng cha khác mẹ, những đưa con cùng mẹ khác cha, có người có đến hai ba dòng con, anh em cùng chung một gia đình nhưng lại không có chung người mẹ Ngoài ra một hậu quả khác của việc ly hôn đó chính là những ông bà đã đến tuổi về hưu không còn đủ sức lao động nhưng cũng phải cồng lưng ra để làm kiếm tiền để nuôi những đứa cháu vì cha mẹ chúng ly hôn, cha mẹ chúng đi làm an xa không thể nuôi các con phải gửi cho ông bà nuôi giùm

Đó là những trường hợp gặp rất nhiều trong cuộc sống hiện nay, để làm giảm bớt

đi tình trạng này thì đây là một vấn đề rất khó khăn Vì vậy mà việc có thể làm để khắc phục một số ít tình trạng trên là thực hiện công tác hòa giải khi các căp vợ chồng muốn ly hôn Hiện nay thì công tác hòa giải tại cơ sở luật không bắt buộc,

có thể hòa giải hay không là tùy vào các cặp vợ chồng ly hôn và những người liên quan đến quan hệ vợ chồng của họ và chính quyền địa phương Còn công tác hòa giải tại Tòa là việc bắt buộc trong các vụ án ly hôn Cho nên, thông qua việc hòa

Trang 6

giải, những người tiến hàn hòa giải có thể hướng dẫn cho các cặp vợ chống muốn

ly hôn, phân tích cho họ biết những hậu quả của những cuộc hôn nhân tan vỡ, để

họ hiểu và nhìn lại cuộc hôn nhân của mình có thể cứu vãn được

Vì vậy mà giai đoạn hòa giải là một giai đoạn rất quan trọng, đây là giai đoạn ta có thể giải thích cho các cặp vợ chồng muốn ly hôn về những hậu quả sau khi khi lôn như về vấn đề con cái, tài sản, nợ chung, khuyên răng họ suy nghỉ, nhường nhịn nhau trước khi đi đến quyết định ly hôn để tìm hiểu sâu hơn về công tác hòa giải

và tìm ra những biện pháp giúp các cặp vợ chồng có thể hàn gắn lại với nhau nên

người viết đã chọn đề tài: " Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại

Tòa án trong tố tụng dân sự - thực trạng và giải pháp hoàn thiện"

Qua đề tài này người viết muốn tìm ra những giải pháp, những pháp pháp có thể giúp cho các cặp vợ chồng có ý định muốn ly hôn, sau công tác hòa giải thì họ sẽ thay đổi suy nghỉ để hàn gắn lại mối quan hệ hôn nhân của mình, giảm bớt đi một phần nhỏ tình trạng ly hôn như hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Tìm hiểu những quy định của pháp luật về công tác hòa giải tại Tòa tìm ra những giải pháp để giúp cho các cặp vợ chồng muốn ly hôn có thể hàn gắn lại được với nhau Bên cạnh đó, qua bài viết này người viết mong muốn các cặp nam nữ hiện nay hãy suy nghĩ thật kĩ trước khi kết hôn, để sau khi kết hôn không phải hối tiết,

vì kết hôn là một chuyện rất đơn giản đủ điều kiện trong luật quy định là hai người

có thể nắm tay nhau đến nơi có thẩm quyền đăng kí kết hôn, nhưng khi ly hôn thì không đơn giản như khi kết hôn, phải trãi qua những thủ tục rườm rà của quá trình

tố tụng, thì họ mới có thể chấm dứt được mối quan hệ hôn nhân không mong muốn của họ Ngoài ra qua bài viết này người viết mong tìm ra những giải pháp có thể giúp cho công tác hòa giải ngày càng hoàn thiện hơn, hạn chế tình trạng ly hôn xảy ra ngày càng nhiều làm cho nhiều gia đình bị tan vỡ, để cho những đứa con của họ không phải sống trong tình trạng tự ti vì cha mẹ của chúng ly hôn

3 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu tất cả các văn bản quy định của pháp luật mà Nhà nước đã ban hành

có liên quan đến công tác hòa giải những vụ án ly hôn, những vấn đề liên quan đến

Trang 7

hòa giải trong ly hôn Bên cạnh đó cũng nghiên cứu thực tế công tác hòa giải tại các Tòa, góp phần ngày càng hoàn thiện hơn công tác hòa giải tại Tòa

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng các phương pháp phân tích, đánh giá, nhận định, so sánh và tổng hợp một cách khách quan về các công tác hòa giải tại Tòa Bên cạnh đó cũng tiến hành những chuyến đi thực tế đến các Tòa án để tìm hiểu cách tiến hành hòa giải của các Thẩm phán, Thư kí ở các Tòa án, để từ đó

có thể rút ra những kinh nghiệm, hạn chế những mặt tiêu cực phát huy những mặt tích cực trong công tác hòa giải

5 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài " Quy định của pháp luật về hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa án trong tố tụng dân sự - thực trạng và giải pháp hoàn thiện" chủ yếu là tìm hiểu, phân tích, làm rõ, đưa ra những giải pháp tích cực góp phần hoàn thiện công tác hòa giải của các Thẩm phán, Thư kí trong giai đoạn hòa giải tại Tòa trong vụ án ly hôn

6 Cấu trúc luận văn:

Cấu trúc luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về hòa giải vụ án ly hôn

Chương 2: Quy định của pháp luật về hòa giải tại Tòa án đối với vụ án ly hôn Chương 3: Bất cập trong vụ án ly hôn và phương pháp hoàn thiện

Trang 8

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN LY HÔN

Gia đình là một tế bào nhỏ trong một xã hội lớn, gia đình hạnh phúc thì xã hội mới phát triển Nhưng hiện nay vì những mâu thuẩn nhỏ trong gia đình, nhiều cặp vợ chồng đưa đến ly hôn, chính vì vậy mà có nhiều gia đình bị tan vỡ, cha mẹ ly hôn, con cái thiếu sự quan tâm của cha mẹ, dẫn đến nhiều tình trạng đáng tiếc mà hiện nay báo chí nói đến rất nhiều…Chính vì tình trạng ly hôn hiện nay rất nhiều cho nên hòa giải tại tòa trước khi đưa ra tòa xét xử là một vấn đề rất quan trọng, đây là giai đoạn giúp cho các cặp vợ chồng có thể hàn gắn lại mối quan hệ hôn nhân giúp cho gia đình tránh được sự đỗ vỡ, con cái có đủ tình thương yêu của cha mẹ mới

có thể phát triển khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần

1.1 Khái niệm, ý nghĩa hòa giải vụ án ly hôn

1.1.1 Khái niệm hòa giải vụ án ly hôn

Pháp luật luôn ghi nhận và bảo vệ những cuộc hôn nhân hợp pháp, đồng thời cũng trao quyền được ly hôn cho vợ và (hoặc) chồng khi họ không thế tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân Ly hôn không đơn giản chỉ là một thủ tục pháp lý tại Tòa án mà là một “sự kiện” chứa đựng trong đó không ít những vấn đề nhức nhối

về nguyên nhân và hậu quả Do đó, hoạt động hòa giải trong ly hôn luôn đóng một vai trò quan trọng, có ý nghĩa xã hội to lớn

Ly hôn xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, và nhiều khi đó lại là những nguyên nhân không đáng để người trong cuộc đi đến ly hôn Có thể quyết định ly hôn được đưa ra trong cơn nóng giận, bực tức, ức chế của vợ hoặc chồng, cũng có thể ly hôn xuất phát từ những nguyên nhân trẻ con của những cặp vợ chồng chưa tới tuổi trưởng thành Mặc khác, phía sau mỗi cuộc ly hôn luôn là những hậu quả, nhiều khi rất nặng nề, ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống của những người trong cuộc và con cái họ Đó là áp lực của việc một mình kiếm sống, một mình nuôi con, là “chấn thương tinh thần” hậu ly hôn Với cuộc ly hôn từ những nguyên nhân chưa đủ “độ” và hơn hết, tình cảm vợ chồng giành cho nhau chưa hẳn đã nguội lạnh thì những hậu quả ấy là không đáng có

Trang 9

Một cuộc hôn nhân nằm trong tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tranh chấp thường xuyên xảy ra, sau đó là các cặp vợ chồng kéo nhau ra tòa ly dị Cho nên sau khi thụ lý tòa án sẽ tiến hành hòa giải

Vì vậy hòa giải là: "một chế định quan trọng của Luật tố tụng dân sự, là một phương thức giải quyết vụ án mà bằng chính sự thỏa thuận, thương lượng của các đương sự Đây là một thủ tục bắt buộc khi giải quyết vụ án dân sự (trừ những việc không được hòa giải), khi hòa giải Tòa án chủ động tổ chức và trực tiếp tham gia với vai trò hướng dẫn giải thích động viên các đương sự thỏa thuận, thương lượng với nhau về việc giải quyết vụ án"1

Đối với hòa giải trong vụ án ly hôn thì hòa giải là một công tác rất quan trọng, hòa giải là thời gian để hai người ngồi lại với nhau, với sự chủ trì, giải thích

về mặt thực tế cũng như về mặt pháp luật hậu quả sau khi ly hôn của Thẩm phán cho các đương sự biết sau đó để các đương sự tự thỏa thuận xem xét lại có nên tiếp tục tiến hành ly hôn hay không

Hòa giải trong vụ án ly hôn cũng giống như các loại hòa giải khác trong tố tụng dân dự Để giải quyết vụ án ly hôn tòa án tiến hành giải thích pháp luật, giúp đỡ các đương sự giải quyết các mâu thuẫn, thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp khi ly hôn Hoạt động này của tòa án gọi là hòa giải vụ án ly hôn trong tố tụng dân sự

Tuy nhiên trên thực tế chưa có một khái niệm rõ ràng về hòa giải trong vụ

án ly hôn chỉ có khái niệm về hòa giải trong các vụ án dân sự nói chung, từ những khái niệm nói về hòa giải vụ án dân sự nói chung mà người viết suy ra khái niệm

hòa giải trong vụ án ly hôn : "hòa giải vụ án ly hôn là hoạt động trong tố tụng dân

sự do tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết các tranh chấp khi ly hôn trong tố tụng dân sự"

1.1.2 Ý nghĩa của hòa giải vụ án ly hôn

Mục đích chính của hòa giải là tạo cơ hội để vợ, chồng có thể đoàn tụ, hàn gắn quan hệ Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là với những cuộc hôn nhân thực

sự không còn có khả năng cứu vãn thì hoạt động hòa giải tỏ ra vô tác dụng! Trong những trường hợp này, hòa giải lại đóng vai trò góp phần giảm thiểu xung đột và

1Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp và Hồ Thị Nệ, Những điều cần biết về Luật tố tụng

dân sự, NXB Công an nhân dân, 2001, trang 92

Trang 10

mâu thuẩn gay gắt giữa các bên, để cuộc chia tay được diễn ra “êm đẹp”, dù hết tình nhưng vẫn còn nghĩa; cần giữ lại được uy tín, danh dự cho nhau, con cái vì thế mà cũng có cái nhìn “thiện cảm” hơn về bố mẹ từ cuộc chia tay của hai người

Ý nghĩa hòa giải trong vụ án ly hôn cũng giống như ý nghĩa hòa giải trong các vụ án dân sự gồm có các ý nghĩa sau:

- Tòa án hòa giải thành một vụ án ly hôn thì không cần phải mở phiên tòa xét xử vụ án, giảm bớt một giai đoạn tố tụng kéo dài và cực kì phước tạp, tiết kiệm được thời gian và tiền của cho Nhà nước cũng như cho nhân dân

Như đã nói ở phần trên khi một vụ án được thụ lý để giải quyết, ai cũng muốn nhanh chống được giải quyết kết thúc sớm Trong thực tế có những vụ án được giải quyết nhanh chống ở giai đoạn hòa giải hòa giải nhưng cũng có những vụ án

vì nhiều lý do như nẩy sinh nhiều tranh chấp phước tạp nên phải mở phiên tòa xét

xử mới có thể được giải quyết Việc hòa giải thành sẽ giúp cho thời gian giải quyết

ly hôn được nhanh chóng, thuận lợi; các bên sẽ không mất nhiều thời gian tới lui

để “hầu” tòa, nếu có tranh chấp về tài sản mà hòa giải thành, các bên chỉ phải mất 50% án phí Như vậy, ý nghĩa của thủ tục hòa giải của tòa án không chỉ là tạo cơ hội cuối cùng để các bên có thể hàn gắn lại quan hệ vợ chồng mà còn tạo những điều kiện thuận lợi nhất định cho quá trình ly hôn Với hoạt động hòa giải ly hôn ở tòa án, không thể phủ nhận vai trò của người thực hiện hòa giải, đó là thẩm phán Trong vai trò này, thẩm phán không chỉ là vị quan tòa “cầm cân nảy mực” mà còn phải là người có ý thức trách nhiệm và kỹ năng nghề nghiệp: sự kiên trì, khéo léo, tinh tế, khá năng nắm bắt, tác động vào tâm lý

- Hòa giải thành một vụ án ly hôn giúp tòa án giải quyết được mâu thuẫn giữa các đương sự, góp phần xây dựng mối quan hệ tốt cho các đương sự

Trong thực tế có nhiều cặp vợ chồng sau khi ly hôn bằng sự quyết định xét xử của tòa án họ vẫn còn mẫu thuẫn với nhau về tài sản, con cái, nợ nần sau khi được chia xong là họ không bao giờ nhìn mặt nhau, những đứa con bị cha mẹ của chúng cấm đoán không cho gặp mặt người còn lại, mâu thuẫn trong vấn đề cấp dưỡng dẫn đến tranh chấp cãi vã, rồi đến nhờ tòa án giải quyết thêm lần nữa, đó là kết quả không

ai mong muốn

Khi mà vụ án ly hôn được giải quyết bằng sự thỏa thuận của các bên, tính mâu thuẫn có thể sẽ giám bớt đi rất nhiều, chính các đương sự sẽ tự thỏa thuận với nhau về tài sản, con cái, nợ nần và vấn đề cấp dưỡng cho các con nên họ sẽ phải tuân theo những gì mà chính mình đã quyết định.Vì vậy mà hòa giải là một giai

Trang 11

đoạn rất quan trọng trong một vụ án ly hôn, giúp cho các đương sự hạn chế được nhiều tranh chấp sau khi ly hôn

- Ngoài ra việc hòa giải còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức và hiểu biết pháp luật, nâng cao trình độ dân trí, giáo dục nếp sống và làm việc theo pháp luật trong nhân dân Trong trường hợp hòa giải vụ án dân sự không thành thì việc hòa giải cũng giúp tòa án có điều kiện nắm vững hơn nội dung vụ

án, hiểu biết rõ hơn tâm tư, tình cảm của đương sự cũng như những vướng mắc trong suy nghĩ của họ, từ đó có thể xác định được đường lối giải quyết vụ án khi đưa vụ án ra xét xử

- Ngoài ra hòa giải thành sẽ giúp cho việc thi hành án được dễ dàng thuận tiện hơn vì: thông thường trong các trường hợp hòa giải thành, các đương sự điều thi hành với ý thưc tự nguyện cao không cần sự tác động của Nhà nước (cơ quan thi hành án) việc thi hành án đơn giản, dễ dàng

Thông qua việc xét xử, kết quả xét xử là do tòa án quyết định, vì vậy với quyết định của Tòa án thì sẽ có những trường hợp trái ý muốn của một số đương sự, họ

sẽ không đồng ý với kết quả mà Tòa án đã quyết định Cho nên khi tiến hành thi hành án sẽ có một số trường hợp không đúng với ý muốn của một số đương sự thì việc thi hành án sẽ rất là khó khăn, đối với những trường hợp này thì cần phải có

sự tác động của Nhà nước, làm cho việc thi hành án sẽ trở nên khó khăn hơn Nhưng khi các đương sự tự thỏa thuận với nhau qua việc hòa giải, đó là những kết quả mà họ mong muốn, đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng của các đương sự nên

họ sẽ tự nguyện chấp hành, không cần đến sự tác động của Nhà nước, sẽ giúp cho việc thi hành án dễ dang, mau lẹ hơn

1.2 Các loại hòa giải trong tranh chấp khi ly hôn

1.2.1 Hòa giải tại cơ sở

Trước đây trong vụ án ly hôn pháp luật có quy định bắt buộc phải tiến hành hòa giải ở cơ sở rồi mới được kiện ở tòa án nhưng theo Điều 5 Luật hòa giải ở cơ

sở năm 2013 thì không quy định hòa giải ở cơ sở là bắt buộc mà chỉ khuyến khích

và trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định không bắt buộc phải tiến hành hòa giải tại cơ sở rồi mới được đưa đơn kiện lên tòa án

Điều 86 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định: “Nhà nước và xã hội

khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn Việc hòa giải

ở cơ sở được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở” Theo

Trang 12

pháp luật về hòa giải cơ sở, việc ly hôn có thể hòa giải từ nội bộ gia đình, cộng đồng dân cư; từ thôn, ấp, bản, làng đến UBND xã, thị trấn (nếu ở nông thôn); hòa giải từ tổ dân phố, khu phố, đến UBND phường (nếu ở đô thị) Ngoài ra, việc hòa giải ở cơ sở cũng có thể được tiến hành ở cơ quan làm việc của cả vợ, chồng Theo

điều 86 Luật hôn nhân gia đình ở trên thì việc hòa giải ở cơ sở là không bắt buộc,

tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò to lớn của hoạt động này Hòa giải ở cơ sở với hòa giải viên là những người gần gũi, gắn bó với vợ, chồng nên hiểu rõ nhất về con người, tính cách của mỗi người cũng như quan hệ hôn nhân của họ Từ đó, có thể đưa ra những lời khuyên đúng đắn và cần thiết nhất cho những người trong cuộc Tuy nhiên, thực tế cho thấy, hiện nay hoạt động hòa giải ở cơ sở chưa đạt được hiệu quả, hầu như chỉ mang tính “hình thức”, tỷ lệ các cặp vợ chồng quay lại với nhau sau khi được hòa giải ở cơ sở là không nhiều

Hòa giải ở cơ sở hiện nay chỉ mang tính khuyến khích vì tỉ lệ thành công của nó không cao, nó chỉ thành công với những vụ ly hôn đơ giản, tính mâu thuẩn không cao, còn đối với những vụ ly hôn phước tạp thì cần phải đến tòa án mới có thể giải quyết được Như đã nói ở trên người đứng trung gian giúp các đương sự hòa giải ở cơ sở là những người thân thuộc quen biết với các đương sự hiểu được hoàng cảnh của họ có thể khuyên họ, giúp họ nhìn ra hậu quả sau khi ly hôn như thế nào, thì hòa giải ở cơ sở cũng là rất quan trọng Cho nên các vụ án ly hôn nên tiến hành hòa giải ở cơ sở trước khi đưa đơn kiện lên tòa án sẽ có khả năng cứu vãn một cuộc hôn nhân và làm giảm bớt đi một giai đoạn tố tụng phước tạp

1.2.2 Hòa giải tại Tòa án

Hòa giải là một hoạt động tố tụng của Tòa án khi tiến hành giải quyết các

vụ án dân sự

+ Đặt điểm của hòa giải tại Tòa:

Hòa giải trong vụ án ly hôn cũng giống như hòa giải trong các vụ án dân sự nói chung, có các đặt điểm sau:2

- Hòa giải là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

Về nguyên tắc, thủ tục hòa giải phải thực hiện sau khi Tòa án tiến hành điều tra và trước khi xét xử sơ thẩm, và chỉ sau khi điều tra Tòa án mới có thể nắm được nội dung vụ án, nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp, từ đó mới có điều kiện

2Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp và Hồ Thị Nệ, Những điều cần biết về Luật tố tụng

dân sự, NXB Công an nhân dân, 2001, trang 93

Trang 13

giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án Bên cạnh đó cũng

có những trường hợp luật quy định không được tiến hành hòa giải như: hủy hôn trái pháp luật, đồi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, những việc phát sinh từ giao dịch trái pháp luật,

- Khi tiến hành thủ tục hòa giải, Tòa án là người tổ chức, bố trí cho các đương sự thỏa thuận, thương lượng với nhau; giải thích pháp luật, động viên, khuyến khích họ hòa giải với nhau và cuối cùng là ghi nhận các ý kiến thống nhất hoặc không nhất trí về giải quyết vụ án của đương sự thành một văn bản có tính chất pháp lý đó là: biên bản hòa giải thành hoặc không thành

Cần phân biệt hòa giải là một thủ tục tố tụng bắt buộc do Tòa án tiến hành tại Tòa án khác với hòa giải ở tổ hòa giải hay việc tự hòa giải của đương sự Vì trong trường hợp các đương sự tự hòa giải thì Tòa án có thể đình chỉ việc giải quyết vụ án, còn việc hòa giải ở tổ hòa giải cơ sở thì lại không phải là một thủ tục

tố tụng bắt buộc

- Hòa giải là sự thỏa thuận thông qua thương lượng của các đương sự các đương sự là chủ thể của các tranh chấp, các mâu thuẫn, nên họ có quyền tự định đoạt để giải quyết các mâu thuẩn bằng cách thỏa thuận với nhau Việc thỏa thuận giữa họ chỉ đạt được trên cơ sở có sự thương lượng giữa các bên với nhau một cách trung thực, hợp lý, hợp tình

+ Yêu cầu của việc hòa giải tại Tòa:

Khi tiến hành hòa giải, Tòa án phải đảm bảo được các yêu cầu sau đây3

- Phải có sự tự nguyện thật sự của các đương sự trong việc thỏa thuận về phương hướng giải quyết vụ án Đây là yêu cầu cơ bản đầu tiên khi tiến hành hòa giải, vì không thể đạt được một sự thỏa thuận nếu giữa các đương sự không có sự

tự nguyện, không có thiện chí để bàn bạc cách giải quyết vụ án, dưới sự vận động, thuyết phục có lý, có tính của Tòa án

- Nội dung sự thỏa thuận của các đương sự không được trái với quy định của pháp luật

Đây là yêu cầu hết sức quan trọng bởi lẽ Nhà nước chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, mặt khác khi giải quyết vụ án Tòa án phải dựa vào các căn

3Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp và Hồ Thị Nệ, Những điều cần biết về Luật tố tụng

dân sự, NXB Công an nhân dân, 2001, trang 94

Trang 14

cứ pháp luật để áp dụng, do đó mọi sự thỏa thuận, thương lượng trái với pháp luật đều không có giá trị

-Việc hòa giải phải được tiến hành vừa tích cực, vừa kiên trì;

Những người có trách nhiệm không thể coi hòa giải chỉ là một thủ tục hình thức, lám qua loa đại khái cho xong, nếu như vậy sẽ dẫn đến nhiều vụ án lẽ ra phải được giải quyết nhanh chống bằng con đường hòa giải, song lại mang ra xét xử , vừa làm mất thời gian vừa tốn kém vô ích Tuy nhiên cũng trách tình trạng kéo dài thời gian một cách tùy tiện, nếu thấy không thể hòa giải được, Tòa án nên chủ động đưa vụ án ra xét xử để tránh việc lãng phí thời gian

+ Phương pháp hòa giải tại Tòa:4

Phương pháp hòa giải là những biện pháp cách thức mà Tòa án áp dụng khi tiến hành hòa giải

Trước khi hòa giải Tòa án phải tiến hành điều tra nắm vững nội dung vụ án, nguyên nhân, điều kiện phát sinh vụ án Phải thích cho các đương sự hiểu pháp luật áp dụng giải quyết vụ án kết hợp giải quyye61t những vướng mắc trong tư tưởng tình cảm của họ

Tòa án cũng có thể kết hợp với chính quyền địa phương, tổ chức xã hội trong việc hòa giải, Tòa án phải chủ động trong việc hòa giải, nếu thấy có khả năng điều kiện hòa giải thì Tòa án tổ chức hòa giải không đợi đương sự yêu cầu và có thể tổ chức hòa giải nhiều lần nếu thấy cần thiết

Thẩm phán tiến hành hòa giải phải có thái độ khách quan, chí công vô tư, không

áp đặt, cưỡng ép các đương sự Thẩm phán phải tạo ra điều kiện làm việc thân mật, thoải mái Điều này đồi hỏi người Thẩm phán phải là người có kiến thức pháp luật, có trách nhiệm và tinh thần trách nhiệm cao

Những quy định trên là thủ tục bắt buộc đối với tất cả những vụ án dân sự nói chung và cũng là thủ tục bắt buộc đối với những vụ án ly hôn nói riêng (trừ những trường hợp ly hôn luật quy định không được tiến hành hòa giải):

Khi hòa giải ở cơ sở không thành, hoặc với những vụ ly hôn đơn giản không nhất thiết phải qua hòa giải ở cơ sở, đương sự có quyền nộp đơn ly hôn trực tiếp cho Tòa án Trong thực tế khi các đương sự nộp đơn lên tòa án mong muốn của họ là được xét xử để giải quyết nhanh vụ án, nhưng Tòa án lại tiến hành hòa

4Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp và Hồ Thị Nệ, Những điều cần biết về Luật tố tụng

dân sự, NXB Công an nhân dân, 2001, trang 101

Trang 15

giải, nhiều đương sự lại không muốn phải tiến hành cuộc hòa giải Nhiều người cho rằng họ đã thuận tình ly hôn thì không cần phải hòa giải nữa, họ chỉ muốn tòa tuyên bố họ được ly hôn, nhưng họ đâu biết rằng pháp luật Việt Nam luôn hướng thiện và có tính nhân đạo, hòa giải chính là giai đoạn pháp luật tạo điều kiện cho

họ ngồi lại với nhau để nhìn lại những mâu thuẫn những tranh chấp, ai đúng và ai sai, để có thể nhường nhịn nhau bỏ qua những lỗi lầm của nhau để họ có thể tiếp tục bước cùng nhau trên con đường hôn nhân mà họ đã chọn trước đó Dù các đương sự có muốn hay không thì hòa giải vẫn là một thủ tục bắt buộc theo quy định tại Điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 180 BLTTDS thì:

Điều 88 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 chỉ rõ: “Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly

hôn, Tòa án phải tiến hành hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự”

Hòa giải trong vụ án ly hôn nói riêng cũng giống như hòa giải trong các vụ án dân

sự nói chung thì theo Khoảng 1 Điều 180 BLTTDS cũng quy định: "trong thời

hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án trừ những vụ án không được tiến hành hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 181 và Điều

182 của BLTTDS"

Khác với hoạt động hòa giải ở cơ sở, hòa giải tại Tòa án là một thủ tục bắt

buộc, kể cả khi hai bên thuận tình ly hôn Trong trường hợp hòa giải đoàn tụ

không thành, các bên đồng ý ly hôn, tòa sẽ hòa giải để các bên thỏa thuận vấn đề nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản, nợ chung… Nếu các bên thỏa thuận được, Tòa án sẽ lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn Sau bảy ngày kể từ ngày lập biên bản, nếu các bên vẫn không thay đổi ý kiến, Tòa án sẽ ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự

Hòa giải tại Tòa là một thủ tục bắt buộc như đã phân tích ở phần trên Bên cạnh đó thì hòa giải tại Tòa ngoài giai đoạn phải hòa giải trước khi tiến hành xét xử Tòa án phải tiến hành hòa giải co các đương sự, thì đây là giai đoạn bắt buộc, nhưng trong khi tiến hành xét xử mà các đương sự muốn tự thỏa thuận thương lượng với nhau thì Tòa án cũng sẽ chấp nhận và sẽ công nhận những thỏa thuận của các đương sự,

và hòa giải giai đoạn này cũng là hòa giải tại Tòa, nhưng hòa giải giai đoạn này thì luật không bắt buộc, vì đây là sự phát sinh ngoài ý muốn của các đương sự cũng như của Tòa án, còn tùy thuộc vào sự tiến triễn của vụ án mà Thẩm phán quyết

Trang 16

định công nhận hây không công nhận những sự thỏa thuận của các đương sự trong quá trình xét xử Trong quá trình xét xử nếu đương sự hòa giải được với nhau sẽ giúp cho vụ án được giải quyết một cách nhanh chống, không làm lãng phí nhiều thời gian của Tòa án cũng như của đương sự

1.3 Nguyên tắc tiến hành hòa giải vụ án ly hôn

Theo quy định tại khoản 2 Điều 180 của BLTTDS thì có 2 nguyên tắt khi tiến hành hòa giải:

1.3.1 Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 180 của BLTTDS :"tôn trọng sự tự

nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng

vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình"

Theo quy định của nguyên tắt này thì hòa giải là phải tôn trọng sự tự nguyện của các đương sự, chính là sự tôn trọng sự tự nguyện tham gia hòa giải và phải tôn trọng nội dung thỏa thuận của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án

- Hòa giải trong vụ án ly hôn như đã nói ở chương 1, chính là sự tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự, quyền tự định đoạt của các đương sự bao gồm quyền muốn tham gia hòa giải hay không và quyền thỏa thuận các nội dung trong quá trình hòa giải Điều đó cho thấy hòa giải trong vụ án ly hôn cũng như trong các vụ án dân sự nói chung thì tiến hành hòa giải là trách nhiệm của Tòa án

và cũng là quyền của các đương sự trong vụ án

- Quyền muốn tham gia hòa giải hay không của các đương sự được quy định tại khoản 1, 2 Điều 182 BLTTDS, đương sự có quyền tham gia hay không tham gia phiên hòa giải, Tòa án không có quyền ép buộc hay đe dọa bắt buộc họ phải tham gia nếu bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn

cố tình vằng mặt thì Tòa án có quyền ra quyết định là không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử Còn trường hợp nếu đương sự không thể tham gia phiên hòa giải nhưng có lý do chính đáng thì Tòa án phải hoãn phiên hòa giải và thông báo cho các đương sự biết thời gian địa điểm của phiên hòa giải sau Còn đối với những trường hợp vắng mặt một số đương sự nhưng phiên hòa giải vẫn diễn ra thì phải được sự đồng ý của những đương sự còn lại, những thỏa thuận trong phiên hòa giải này không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những đương sự vắng mặt

Trang 17

- Quyền thỏa thuận các nội dung trong quá trình hòa giải chính là để cho các đương sự tự do trình bày ý kiến của mình và các bên đương sự tự thảo luận,tự giải quyết và thống nhất với nhau chọn ý phù hợp với nguyện vọng của mõi bên, không bên nào được dùng vũ lực đe dọa uy hiếp đến tính mạng, sức khỏe, dạnh

dự, uy tính, nhân phẩm của bên còn lại để bên kia chấp nhận những phương pháp giải quyết của mình trong quá trình hòa giải tại Tòa, như vậy là trái quy định của pháp luật và không được xem là sự tự nguyện, tự do thỏa thuận, không đúng với ý nghĩa của việc hòa giải mà pháp luật đã quy định Riêng đối với Thẩm phán, nhiệm vụ của Thẩm phán trong quá tình hòa giải là phải phân tích những điều luật liên quan đến vụ án cho các đương sự hiểu các quy định của pháp luật mà có hướng giải quyết cho đúng với pháp luật, Thẩm phán không được tiết lộ phương pháp giải quyết của Tòa án Cho nên, vai trò của Thẩm phán trong giai đoạn hòa giải khác với vai trò trong giai đoạn xét xử, hòa giải là do chính các đương sự tự quyết định mọi việc, còn xét xử Thẩm phán dựa vào những chứng cứ để phán xét các đương sự không có quyền quyết định Vì vậy mà, hòa giải là giai đoạn mà pháp luật Việt Nam để cho các đương sự tụ suy xét lại những hành động của mình

và để cho các bên tự ngồi lại với nhau giải quyết những mâu thuẫn của mình, để cứu vãn những cuộc hôn nhân có thể chưa đi đến kết cục tan vỡ

1.3.2 Nội dung thỏa thuận của các đương sự không được trái với pháp luật

và trái với đạo đức xã hội

Theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 180 của BLTTDS: "nội dung thỏa

thuận của các đương sự không được trái với pháp luật và trái đạo đức xã hội"

Thỏa thuận của các đương sự trong quá trình hòa giải là các đương sự tự giải quyết những mâu thuẫn của mình nhưng cũng không vì thế mà các thỏa thuận đó được phép trái với những quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, nếu những thỏa thuận trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội thì sẽ không được pháp luật công nhận và sẽ không có giá trị pháp lý để bắt các bên thực hiện nghĩa vụ và quyền với nhau Vì vậy mà nhiệm vụ của Thẩm phán là phải theo dõi và hướng dẫn các đương sự thỏa thuận theo đúng với quy định của pháp luật

Trang 18

1.4 Chủ thể trong hòa giải vụ án ly hôn tại Tòa

1.4.1 Chủ thể tiến hành hòa giải vụ án ly hôn

Hòa giải một vụ án ly hôn cũng giống như hòa giải một vụ án dân sự phải tuân theo những quy định trong BLTTDS nói chung Những chủ thể tiến hành hòa giải vụ án ly hôn gồm có Thẩm phán và Thư kí

+ Thẩm phán: Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa

Trong quá trình tố tụng dân sự Thẩm phán có nhiệm vụ sau:

- Giải quyết những vụ án dân sự theo sự phân công của Chánh án

- Áp dụng các biện pháp cần thiết do pháp luật quy định để lập hồ sơ vụ án được giao giải quyết; bảo đảm cho việc giải quyết vụ án nhanh chống đúng pháp luật

- Tích cực hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp

- Trong quá trình giải quyết vụ án nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì phải cung cấp tài liệu cho Viện Kiểm sát, khởi tố về hình sự

- Phải chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không được từ chối việc giải quyết vụ án được phân công, nếu không có căn cứ từ chối theo quy định của pháp luật

Thẩm phán có các quyền hạn sau:

-Triệu tập lấy lời khai của các đương sự;

-Triệu tập lấy lời khai của người làm chứng;

-Ra các quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án;

- Quyết định việc ủy thác điều tra, trưng cầu giám định, định giá tài sản;

- Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các bên đương sự, nếu thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật và đạo đực xã hội;

- Tham gia Hội đồng xét xử khi được phân công xét xử;

- Yêu cầu tổ chức, cá nhân thi hành những quyết định có liên quan đến việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật

+ Thư kí: Thư kí là người giúp việc cho Thẩm phán, phải thực hiện mọi mệnh lệnh của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án Có nhiệm vụ quản lý, sắp xếp hồ

sơ vụ án, tống đạt các giấy tờ cho các đương sự và phải làm công tác chuẩn bị mở phiên Tòa xét xử vụ án theo yêu cầu của Thẩm phán

Trang 19

Khi tham gia phiên tòa Thư kí phải ghi chép đầy đủ, trung thực các diễn biến tại phiên tòa vào bên bản phiên tòa

Đây là những nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán và Thư kí trong suốt quá trình tố tụng nói chung Riêng trong giai đoạn hòa giải thì Thẩm phán và Thư kí có những nhiệm vụ sau:

Thẩm phán là người chủ trì phiên hòa giải cho các đương sự, nhiệm vụ của Thẩm phán là giải thích pháp luật cho các đương sự về những quy định có liên quan đến những vấn đề mà họ muốn được giải quyết, còn nhiệm vụ của Thư kí trong cuộc hòa giải là ghi biên bản lại những thỏa thuận của các đương sự Trong quá trình hòa giải Thẩm phán là người chủ trì cuộc hòa giải nhưng Thẩm phán không có quyền được quyết định những vấn đề mà các đương sự đang tranh chấp, phải để cho các đương sự tự thỏa thuận với nhau, Thẩm phán phải tôn trọng những thỏa thuận của các đương sự, giải thích cho các đương sự biết những chổ nào sai so với quy định của pháp luật, từ đó giúp cho các đương sự tìm được hướng giải quyết đúng với quy định của pháp luật và cũng đúng theo nguyện vọng của họ Thẩm phán cũng là người công nhận sự thỏa thuận cho các đương sự thành hay phải đưa

- Là một người trọng tài Thẩm phán phải biết lắng nghe cả hai bên, chắt lọc và gợi

ý để đi đến thỏa thuận chung

Vì vậy tùy theo từng loại vụ án (dân sự, kinh doanh, ly hôn ) mà Thẩm phán thể hiện từ phong thái đến phương án hòa giải và xử lý tình huống trong quá trình hòa giải, các kỹ năng chắt lọc thông tin, tổng hợp, ngôn ngữ và tư duy của Thẩm phán

khi hòa giải” Vì vậy mà nhiệm vụ của Thẩm phán trong quá trình hòa giải là rất quan trọng

Còn đối với Thư kí là người trực tiếp ghi biên bản các thỏa thuận của các đương

sự, sau đó đưa cho Thẩm phán xem xét lại và cho các đương sự kí tên vì vậy vai

Trang 20

trò của Thư kí trong quá trình hòa giải cũng rất quan trọng là người giúp đỡ và hỗ trợ cho Thẩm phán trong quá trình hòa giải cho các đương sự

1.4.2 Chủ thể tham gia hòa giải trong vụ án ly hôn tại Tòa

Chủ thể chính trong quá trình hòa giải trong vụ án ly hôn tại Tòa là các

đương sự "Đương sự" trong tố tụng dân sự nói chung là cá nhân, pháp nhân, cơ

quan, tổ chức khởi kiện, bị kiện hoặc có quyền, lợi ích liên quan đến các quan hệ đang tranh chấp.5

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì các đương sự tham gia tố tụng dân

sự phải có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng mà cá nhân, pháp nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo pháp luật về tố tụng dân sự quy định

Trong vụ án ly hôn thì đương sự bao gồm các nguyên đơn và bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, hoặc người đại diện hợp pháp của đương

sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch

Nguyên đơn là người chồng hoặc người vợ khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết mối quan hệ hôn nhân của họ

Bị đơn trong vụ án ly hôn là người còn lại bị nguyên đơn khởi kiện

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án ly hôn tuy là người không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án ly hôn có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị

và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia hòa giải với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đối với việc giải quyết vụ án ly hôn mà có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người khác mà không ai yêu cầu họ có mặt trong quá trình hòa giải thì tòa án phải đưa họ vào tham gia hòa giải với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trong quá trình hòa giải nếu có đương sự vắng mặt, các đương sự khác vẫn đồng ý tiến hành hòa giải thì quá trình hòa giải vẫn diễn ra nhưng nếu các đương

sự còn lại không đồng ý yêu cầu phải có mặt của đương sự vắng mặt đó thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải lại và Thẩm phán phải thông báo cho các đương sự biết về việc hoãn phiên hòa giải và việc mở lại phiên hòa giải cho các đương sự

Điều 56 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011

Trang 21

biết Trong những trường hợp cần thiết thì Thẩm phán vẫn có thể yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham giai phiên hòa giải và người phiên dịch nếu đương sự không biết tiếng Việt

Vì vậy trong thực tế có những vụ ly hôn đơn giản là chỉ giữa hai người, những trường hợp như vậy thì họ chỉ yêu cầu tòa án chấm dứt mối quan hệ hôn nhân của họ còn những vấn đề khác thì họ tự giải quyết với nhau không cần sự can thiệp của Tòa an, trường hợp này thì Tòa án chỉ mở phiên hòa giải để hàn gắn cuộc hôn nhân của họ, nếu thỏa thuận không thành thì Thẩm phán sẽ ra quyết định đoàn tụ không thành cho họ ly hôn mà không cần phải đưa ra tòa xét xử Bên cạnh

đó thì cũng không ít có những trường hợp ly hôn, ngoài việc yêu cầu tòa án chấm dứt mối quan hệ hôn nhân của họ mà còn giải quyết nhiều vấn đề khác như về tài sản, nợ chung, trên thực tế thì những trường hợp này gặp rất nhiều, nếu hòa giải không thành những vấn đề này phải đưa ra tòa xét xử Do đó ly hôn không chỉ đơn giản chỉ là giữa hai người mà còn liên quan đến nhiều người khác, vì vậy mà hòa giải là giai đoạn để cho các đương sự tự thỏa thuận với nhau, tự giải quyết những mâu thuẩn tranh chấp, như vậy có thể giải quyết được một cách nhanh chống như vậy không chỉ tiết kiệm được thời gian cho các đương sự mà còn tiết kiệm tiền bạc cho họ

Trong một vụ án ly hôn hòa giải tại Tòa là một thủ tục bắt buộc, đây cũng là một giai đoạn quan trọng, nếu hòa giải thành sẽ giúp cho tòa án và đương sự giảm đi một giai đoạn tố tụng phước tạp đó là giai đoạn đưa ra tòa xét xử, bên cạnh đó cũng giảm được tiền bạc và thời gian của các bên Hòa giải tại tòa là để cho các đương sự tự thỏa thuận với nhau, họ tự thương lượng với nhau những vấn đề mà

họ muốn tòa án giải quyết Cho nên cho dù họ có thể hàn gắn hoặc không thể hàn gắn mối quan hệ của họ thì những gì mà họ đã thỏa thuận sẽ đáp ứng được nguyện vọng của họ và làm giảm đi những mâu thuẩn dù thực tế họ không còn là vợ chồng

Trang 22

mà trong Bộ LTTDS Nhà nước ta đã dành riêng …điều để quy định rõ và chặt chẽ

về giải đoạn hòa giải, giúp cho Thẩm phán, Thư kí và các đương sự có thể thực hiện các quy định của pháp luật một cách dễ dàng

2.1 Những vụ án ly hôn không tiến hành hòa giải được

Trong các vụ án dân sự nói chung và trong các vụ án hôn nhân nói riêng thì cũng

có những vụ án không thể tiến hành hòa giải được, theo quy định của luật thì hòa giải là một thủ tục bắt buộc trước khi đưa vụ án ra Tòa xét xử, nhưng trên thực tế cũng có những nguyên nhân khách quan, được quy định tại Điều 182 của BLTTDS sẽ làm cho một vụ án có thể kéo dài, không thể tiến hành hòa giải được, khí đó Tòa án có thể quyết định đưa vụ án ra Tòa xét xử mà không cần tiến hành hòa giải

Bên cạnh đó thì các trường hợp không tiến hành hòa giải được thì trong hồ sơ vụ

án phải chứng minh đầy đủ lý do cho từng trường hợp mà Tòa án không thể tiến hành hòa giải được

Ví dụ như đối với trường hợp bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai

mà vẫn cố tình vắng mặt thì trong hồ sơ phải có tài liệu chứng minh thể hiện đã triệu tập hợp lệ hai lần (thủ tục triệu tập hợp lệ theo các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng tại chương X BLTTDS) và phải lập biên bản hòa giải không được; đối với trường hợp có lý do chính đáng thì trong hồ sơ cũng phải có những tài liệu thể hiện lý do đó

2.1.1 Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố

tình vắng mặt

Trang 23

Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán sẽ gửi thông báo triệu tập các đương sự đến Tòa án để tiến hành hòa giải nếu bị đơn trong vụ án ly hôn vắng mặt thì phiên hòa giải

sẽ bị hủy bỏ và phải tiến hành một cuộc hòa giải khác

Sau khi được triệu tâp lần thứ 1 bị đơn không đến, Tòa án sẽ tiến hành mở phiên hòa giải thứ 2, lần thứ 2 nếu bị đơn tiếp tục không đến thì Thẩm phán sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Sau hai lần triêu tập để cho các bên tự thỏa thuận với nhau nhưng

bị đơn cố tình không đến, chứng tỏ bị đơn không muốn hòa giải, vì vậy tòa án có quyền đưa vụ án ra Tòa xét xử, nhưng nếu trong quá trình xét xử mà các bên muốn hòa giải, tự thỏa thuận được với nhau thì Tòa án vẫn chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự, nếu các thỏa thuận đó đúng theo pháp luật và không trái với đạo đức xã hội

2.1.2 Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính đáng

Trường hợp Tòa án triệu tập các đương sự đến tòa để tiến hành hòa giải nhưng một trong các đương sự có lý do chính đáng không thể đến tòa án để tham gia hòa giải được thì Tòa án phải hủy phiên hòa giải,và Tòa án phải thông báo tiến hành mở một cuộc hòa giải khác, cũng giống như trường hợp trên nếu đương sự vắng mặt lần thứ hai không thể tham gia hòa giải thì Tòa án sẽ quyết định đưa vụ án ra Tòa xét xử Nhưng đối với trường hợp này cũng có một số trường hợp ngoại lệ, theo quy định tại khoản 3 Điều 184 thì trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải, và việc hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự vắng mặt, thì Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải Thẩm phán thông báo việc hoãn phiên hòa giải và việc mở lại phiên hòa giải cho các đương sự biết

Do luật không quy định rõ như thế nào là lý do chính đáng, cho nên những người thi hành pháp luật có những cách hiểu khác nhau, tùy vào ý chí chủ quan của mõi người

Trên thực tế, để phân biệt được thế nào là lý do chính đáng và thế nào là lý do không chính đáng phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của người tiến hành tố tụng khác nhau, có khi cùng một lý do nhưng người tiến hành tố tụng này cho đây là lý do chính đáng nhưng cũng với lý do đó nhưng người tiến hành tố tụng khác thì lại cho rằng đây không phải là lý do chình đáng, trong khi đó thì trong điều luật lại không có quy định rõ thế nào là lý do chính đáng thế nào là lý do không chính đáng Cho nên khi

Trang 24

xét xử vụ án ly hôn thì đương sự vắng mặt với lý do chính đáng hay không là còn tùy thuộc vào ý chí chủ quan của người tiến hành tố tụng

2.1.3 Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành

vi dân sự

Theo điều 22 của Bộ Luật dân sự thì “người mất năng lực hành vi dân sự là

do người đó bị mất bệnh tâm thần hoặc bị bệnh khác mà không thể nhận thức hoặc làm chủ được hành vi của mình”

Người bị mất năng lực hành vi dân sự thì không thể nộp đơn khỏi kiện đến Tòa án xin ly hôn và nếu có nộp đơn thì Tòa án cũng không thụ lý Quyền ly hôn

là quyền nhân thân của con người nên không có ai có thể thay thế được, cho nên những người giám hô của người bị mất năng lực hành vi dân sự cũng không thể nộp đơn xin ly hôn giùm cho người bị mất năng lực hàn vi dân sự được Cho nên,

trường hợp "đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người bị mất năng

lực hành vi dân sự" thì Tòa án không tiến hành hòa giải mà phải đưa vụ án ra Tòa

xét xử, với quy định này thì người khởi kiện là người vợ hoặc chồng là người không bị mất năng lực hành vi dân sự, và người bị khởi kiện là người bị mất năng lực hành vi dân sự Vì luật hiện nay chưa quy định là người bị mất năng lực hành

vi dân sự được quyền nhờ người khác hoặc có thể tự khởi kiện ra Tòa xin ly hôn

Ví dụ:

Anh Nguyễn Văn A và chị Trần Thị C kết hôn được 5 năm, và có cháu trai 4 tuổi

2 năm trước anh A trên đường đi làm về, anh bị tai nạn giao thông dẫn đến chấn thương sọ não Hiện sức khỏe anh không được tốt và mất khả năng nhận thức nên không thể tiếp tục công việc trước đây Tron khi đó chị C vẫn còn trẻ nên muốn ly hôn để chuẩn bị cho cuộc sống mới, và chị C đã quyết định ly hôn.6

Theo như ví dụ trên thì chị C vẫn có quyền ly hôn Để được Tòa án nhân dân cấp có Thẩm quyền chấp nhận đơn ly hôn của chị C thì cị phải làm thủ tục tuyên bố anh A là người bị mất năng lực hành vi dân sự theo khoản 1 Điều 22 của

6Người bị mất năng lực hành vi dân sự, Bùi Vĩnh,

http://baothuathienhue.vn/?gd=6&cn=20&newsid=5-32-22281, [truy cập 05-10-2014]

Trang 25

Bộ luật dân sự, khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mất các bệnh khác mà không thể nhận thức làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mật năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ giám định Dó đó chị C có thể làm đơn yêu cầu tòa án cấp có thẩm quyền tuyên bố anh A bị mất năng lực hành vi dân sự Kèm theo đơn yêu cầu phải có kết luận của cơ quan chuyên môn và các chứng cứ khác để chứng minh anh A bị bệnh tâm thần hoặc mất các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Trong trường hợp Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố anh A bị mất năng lực hành vi dân

sự, lúc này chị C sẽ là người giám hộ đượng nhiên của anh A, theo khoản 1 Điều

62 Bộ luật dân sự Đồng thời khi thaam gia vào các quan hệ pháp luật, cị C cũng là người đại diện theo pháp luật của anh A theo khoản 2 Điều 141 của Bộ luật dân sự Khi chị C nộp đơn ra Tòa làm thủ tục xin ly hôn với anh A, chị C sẽ không còn làm người đại diện tham gia tố tụng cho anh A khi chính chị C có yêu cầu ly hôn

Do đó, khi Tòa án thụ lý vụ án ly hôn theo yêu cầu của chị C thì căn cứ vào Điều

76 Bộ luật TTDS Tòa án sẽ chỉ định người đại diện: "Trong khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người bị hạn chế năng lựa hành vi dân sự mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1Điều 75 của Bộ luật này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng tại Tòa án" Do đó, người thay mặt anh A tham gia giải quyết việc ly hôn tại Tòa tron trường hợp này, do Tòa án quyết định, trên

cơ sờ đảm bảo được tốt nhất quyền lợi và lợi ích cho anh A Nhưn điểm khác biệ của vụ án ly hôn với người bị mất năng lực hành vi dân sự là sau khi thụ lý, tòa án

sẽ tiến hành đưa vụ án ra xét xử mà không qua thủ tục hòa giải như các vụ án ly hôn thông thường theo khoản 3 Điều 182 của Bộ luật TTDS

Vì vậy trong vụ án ly hôn đương sự là vợ hoặc chồng mà bị mất năng lực

hành vi dân sự thì Tòa án không thể tiến hành hòa giải vì người mất năng lực hành

vi dân sự họ không thể kiểm soát được hành vi của mình, không thể làm chủ được bản thân, tinh thần của họ không được minh mẩn, họ không thể quyết định được vấn đề của họ, không thể tự thỏa thuận để giải quyết những mâu thuẫn Do đó vụ

án ly hôn rơi vào trường hợp này Tòa án phải tiến hành đưa vụ án ra Tòa xét xử,

và quyền lợi của người bị mất nâng lực hành vi dân sự phải được bảo vệ

2.2 Những vụ án ly hôn không được tiến hành hòa giải

Trang 26

2.2.1 Yêu cầu đồi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước

Theo quy định tại khoán Điều 181 của Bộ luật TTDS thì: "yêu cầu đồi bồi thường

gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước", theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2006

của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành Điều 181 của Bộ luật TTDS:

"Tài sản của Nhà nước" được hiểu là tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước quy định tại Điều 200 của Bộ luật dân sự năm 2005 và được điều chỉnh theo quy các định tại mục 1 Chương XIII của Bộ luật dân sự 2005

"Yêu cầu đồi bồi thường thiệt hại đến tài sản của Nhà nước" là trường hợp tài sản của Nhà nước bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật, do hợp đồng vô hiệu, do vi phạm nghĩa vụ dân sự gây ra và người được giao chủ sở hữu đối với tài sản Nhà nước đó có yêu cầu bồi thường

Khi thi hành tại khoản 1 Điều 181 của BL TTDS cần phân biệt:

a) Trường hợp tài sản của Nhà nước được giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang quản lý, sử dụng hoặc đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước thực hiện quyền sở hữu thông qua cơ quan có thẩm quyền, thì khi có yêu cầu đồi bồi thường thiệt hại đến loại tài sản này, Tòa án không được hòa giải, để các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án

b) Trường hợp tài sản của Nhà nước được Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh, có vốn đầu tư của các chủ sở hữu khác theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì khi có yêu cầu đồi bồi thường thiệt hại đến tài sản đó, Tòa án tiến hành hòa giải để các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ

án theo thủ tục chung

Như vậy, đối với trường hợp này chỉ những hành vi gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước mà người gây thiệt hại có lỗi như hành vi trộm cắp, tham ô, làm hư hỏng tài sản Nhà nước, còn những giao dịch liên quan đến tài sản Nhà nước các bên vẫn có thể hòa giải

Cho nên vấn đề yêu cầu đồi bồi thường thiệt hại Nhà nước trong vụ án ly hôn thì trong luật không có quy định một cách cụ thể Tại Nghị Định 70/2001/NĐ-CP

Trang 27

ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành luật Hôn nhân và gia đình ở chương V

về ly hôn tại các Điều 24, 25, 28 như sau:

"Điều 24: Chia quyền sử dụng đất mà vợ, chồng được Nhà nước giao

Điều 25: Chia quyền sử dung đất mà vợ, chồng được Nhà nước cho thuê

Điều 28: Giải quyết quyền lợi của vợ chồng khi ly hôn đối với nhà ở thuê của Nhà nước"

Từ những quy định trên cho thấy Luật không quy định trong quá trình sử dụng có

hư hại gì thì sau khi ly hôn vợ, chồng phải bồi thường như thế nào, nhưng từ những quy định đó ta có thể suy ra, nếu trong quá trình hôn nhân hai vợ chồng có làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước thì sau khi ly hôn hai vợ chồng cũng phải liên đới chiệu trách nhiệm bồi thiệt thiệt hại cho Nhà nước và không cần phải tiến hành hòa giải

2.2.2 Những vụ án ly hôn phát sinh từ giao dịch trái pháp luật và trái đạo đức xã hội

Theo quy định tại khoản 2 Điều 181 của Bộ luật TTDS thì: "những vụ án dân sự

phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội" thì sẽ không được

tiến hành hòa giải mà Tòa án phải đưa vụ án ra Tòa xét xử Đây là quy định chung đối với các vụ án dân sự

Những giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức được hiểu là những giao dịch không có đủ các điều kiện có hiệu lực,các giao dịch vi phạm đều cấm của pháp luật, các giao dịch trái với đạo đức của xã hội được quy định tại các Điều 122,128

Bộ luật dân sự

Đối với vụ án ly hôn, các trường hợp không được hòa giải là:

- Khi kết hôn, một trong hai bên hoặc cả hai bên nam, nữ chưa đủ tuổi kết hôn theo luật định;

- Thiếu sự tự nguyện của nam, nữ kết hôn như có những hành vi cưỡng ép kết hôn hoặc có hành vi lừa dối để kết hôn;

- Các bên nam, nữ vi phạm nguyên tắt kết hôn một vợ, một chồng;

- Các bên nam, nữ đang mắc bệnh tâm thần, không có khả năng nhận thức hành vi của mình;

- Các bên nam, nữ có quan hệ huyết thống với nhau trong phạm vi ba đời; cha mẹ nuôi kết hôn với con nuôi;

- Những người cùng giới tính kết hôn với nhau

Trang 28

Cho nên đối với các vụ án ly hôn nếu các cuộc hôn nhân ban đầu không xuất phát

từ tính tự nguyện của hai bên, mà cuộc hôn nhân đó xuất phát vì bị cưỡng ép, đe dọa hay bị bắt buộc thì cuộc hôn nhân đó khi đưa ra Tòa ly hôn, Tòa án sẽ không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử và tuyên bố cuộc hôn nhân này là vô hiệu Vì theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

thì: "Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép

buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở" Vì trên thực tế,

cũng có rất nhiều trường hợp, cha mẹ ép gã con cái, vì do những mối quan hệ thâm tình của cha mẹ đôi bên, người lớn hứa hôn cho những đứa con của mình, trong khi đó họ không cần biết các con của họ có đồng ý hay không trường hợp này gặp rất nhiều đối với những gia đình còn man nặng tính chất phong kiến với tư tưởng "cha mẹ đặt đâu thì con ngồi đó", không được cải lời cha mẹ, cải lời cha mẹ không làm theo thì cho là bất hiếu với cha mẹ, không kính trọng cha mẹ, họ tìm đủ mọi cách để ép gã hay cưới cho bằng được, ngoài ra bên cạnh đó vì do giữ sĩ diện của mình vì đã hứa rồi thì không thể nuốt lời sẽ làm mất mặt họ, trong khi đó họ không nghỉ gì đến suy nghĩ của con cái, không hiểu được tâm tư tình cảm của con mình, vì những tư tưởng cổ hữ như vậy mà phải làm cho biết bao cặp trai gái yêu nhau, nhưng họ không thể nào đến được với nhau thời xưa những trường hợp này gặp rất nhiều nhưng hiện nay thì còn rất ít, vì tư tưởng của nười thời nay đã thoáng hơn, họ để cho con cái tự quyết định, và tôn trọng sự tìm hiểu của con cái Cũng

có những trường hợp khi cha mẹ hứa gã thì con của họ cũng đồng ý và thuận tình theo ý cha mẹ, đối với những trường hợp này thì không cho là vi phạm quy định của pháp luật vì có sự tự nuyện của của nam và nữ hai bên, không vi phạm quy định của pháp luật và không trái với đạo đức xã hôi Đó là những trường hợp cha

mẹ quyết định việc hôn nhân của con cái là do còn mang tư tưởng phong kiến của thời xưa, ngày nay cha mẹ quyết định việc hôn nhân của con cái còn do vấn đề tiền bạc, kinh doanh của mình, ngày nay cũng có rất nhiều trường hợp cha mẹ ép chuyện hôn nhân của con vì thiếu nợ, vì làm ăn thua lỗ mà quyết định chuyện hôn nhân của con cái để giải quyết vấn đề tiền bạc hay vấn đề kinh doanh của mình

Ví dụ 1:

Vợ chồng ông Nguyễn Văn C vì làm ăn thua lỗ thiếu nợ Ngân hàng một món tiền rất lớn, nếu không có tiền trả thì công ty sẽ phá sản Lê Minh E là một tỉ phú thấy gia đình ông C như vậy và từ lâu E muốn cưới con gái ông C là Nguyễn Thị Z về

Trang 29

làm vợ, trước đó E đã nhiều lần ngõ lời muốn cưới Z, nhưng Z đã không chịu vì Z

đã có người yêu, lợi dụng tình hình gia đình ông C gặp khó khăn E nhảy vào hứa

sẽ giúp đỡ ông C với điều kiện là Z phải lấy E, và ông C vì công ty đã chấp nhận

và bắt Z phải lấy E và ông C đã làm một tờ cam kết với E là sẽ gã Z cho E mặc dù

Z đã nói với ông C là cô không chịu, và cầu xin ông C đừng đồng ý với điều kiện trên, nhưng ông C vẫn quyết định gã Z cho E

Với ví dụ trên cho ta thấy các cuộc hôn nhân xuất phát từ sự không tự nguyện thì pháp luật sẽ không chấp nhận cuộc hôn nhân đó, và khi đưa ra Tòa ly hôn Tòa án

sẽ hủy cuộc hôn nhân đó

Ngoài trường hợp trên thì còn có những trường hợp nam nữ kết hôn chưa đủ tuổi, cùng dòng máu trực hệ, vi phạm nguyên tắt một vợ một chồng, hay những người cùng giới tính kết hôn với nhau thì những vụ án ly hôn rơi vào những trường hợp trên cũng không được tiến hành hòa giải theo quy định của luật

Ví dụ 2:

Năm 1977, ông Bản chung sống không đăng ký kết hôn với bà Tam tại xã Long Trì, huyện Châu Thành 10 năm sau, khi đã có với nhau hai mặt con, ông lên thị xã ăn ở với bà Khuyến Hai người sống tại nhà cha mẹ bà Khuyến, 5 năm sau

ra ở riêng

Năm 1995, ông Bản cung một nhóm bạn đi buôn gỗ ở Campuchia Sau hai năm, ông thành một đại gia ở thị xã Tân An Cùng Năm này, ông và bà Khuyến có với nhau đứa con thứ hai và mua một miếng đất ở một vị trí đẹp để xây dựng khách sạn PN (đặt theo hai tên con chung của ông bà) Một năm trước, hai người jra phương làm giấy đăn kí kết hôn

Việc kinh doanh ngày càng thuận lợi, đến năm 2000, họ tiếp tục xây thêm một khách sạn lớn, đối diện bẹn kia đường Năm 2001, họ thành lập một công ty TNHH đứng tên chung của hia vợ chồng Thế rồi cảnh “cơm không lành, canh không ngọt” xuất hiện khi ông Bản quan hệ với người phụ nữ khác

Vì chuyện này, bà Khuyến nhiều lần gửi đơn tố cáo chồng đến các cơ quan chức năng nhưng không được giải quyết Cuối năm 2007, do không thể cứu vãn được quan hệ, bà gửi đơn lên TAND thị xã Tân An để xin ly hôn Suốt quá trình tòa hòa giải giữa ông Bản và bà Khuyến, người vợ trước của ông là bà Tam không tham gia nhưng tới khi tòa chuẩn bị đưa vụ án ra xử, bà xuất hiện, gửi đơn lên Tòa đồi ông chia phần tài sản

Trang 30

Theo bà Tam, thời còn chung sống bà dành dụm được 200 cây vàng và đã đưa cho ông đi làm ăn, nay biết ông Bản và bà Khuyến ly hôn nên muốn lấy lại phần tài sản này Cạnh đó, bà biết ông có vợ bé (tức bà Khuyến) nhưng vẫn cam chịu cảnh chồng chung bấy lâu nay chứ không hề đoạn tuyệt quan hệ

Về phần mình, sống với bà Khuyến 21 năm nay và có hai mặt con nhưng tại tòa, ông vẫn bảo mình chỉ “cặp chơi”, còn giấy đăng ký kết hôn thì chẳng qua do cần hộ khẩu thị xã để thuận tiện cho việc làm ăn

Ông còn bổ sung “chứng cứ quan trọng” là giấy xác nhận của UBND xã Long Trì (nơi bà Tam sống) trước khi vụ án đưa ra xử 10 ngày, nội dung rằng ông vẫn còn chung sống như vợ chồng với bà Tam, thường xuyên về thăm nom, chăm sóc

vợ con và vẫn hạnh phúc bình thường

Bà Tam cho biết “vợ chồng hiện sống rất hạnh phúc" Trong khi ông Bản là đại gia thì bà vẫn ở trong một căn nhà tồi tàn, đi làm thuê đủ mọi việc để kiếm sống như nhổ cỏ, cấy lúa, ngắt đọt dưa

Còn bà Khuyến và gia đình khẳng định những công việc làm ăn của ông Bản đều do một tay bà góp sức Về việc công ty TNHH trước đây đứng tên của hai vợ chồng nhưng hiện chỉ còn một mình ông đứng tên thì người con chung của họ khẳng định đã bị ông ép ký thay mẹ để làm thủ tục sang tên

TAND thị xã Tân An dựa vào lời khai của ông Bản và bà Tam để công nhận hôn nhân thực tế giữa họ, tuyên hủy quan hệ hôn nhân giữa ông và bà Khuyến Tòa cũng xét rằng khối tài sản hiện nay do một tay ông Bản làm ra, bà Khuyến không có đóng góp Tài sản chung của ông Bản và bà Khuyến chỉ là hơn 3 tỷ đồng doanh thu khách sạn từ năm 2001 đến 2007 Do ông có chứng cứ chứng minh bà Khuyến giữ số tiền này nên bà phải trả lại một nửa

Với phán quyết trên, bà Khuyến không những phải ra đi tay trắng sau 21 năm làm vợ mà còn “ôm” thêm món nợ hơn 1,5 tỷ đồng cùng khoản án phí trên 200 triệu đồng Hiện bà đã làm đơn kháng cáo, đề nghị TAND tỉnh Long An xem xét lại bản án sơ thẩm.7

Như ví dụ trên cho ta thấy, khi bà Khuyến đưa đơn ra Tòa yêu cầu ly hôn với ông Bản thì sẽ được Tòa án thụ lý và không tiến hành hòa giải mà quyết định đưa

ra tòa xét xử vì trường hợp này đã vi phạm vào "nguyên tắt một vợ một chồng"

7http://60s.com.vn/index/1412446/17052008.aspx, [05-10,2014]

Trang 31

Vì theo quy định tại khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 về những trường hợp công nhận vợ chồng: trường hợp quan hệ vợ chồng đợc xác lập trước ngày 03/01/1987, ngày Luật hôn nhân và giai đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng kí kết hôn thì được khuyến khích đăng kí kết hôn Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về luật hôn nhân của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Cho nên, ông Bản và bà Tam sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1977 thì dù không đăng kí kết hôn thì luật pháp vẫn công nhận ông Bản và bà Tam là vợ chồng vì giai đoạn này không bắt buộc phải đăng kí kết hôn mới được công nhận là vợ chồng mà luật chỉ khuyến khích đăng kí kết hôn Nên dù bà Khuyến và ông Bản có đăng kí kết hôn nhưng luật pháp chỉ thừa nhận mối quan hệ hôn nhân giữa bà Tam và ông Khuyến Vì vậy khi bà Khuyến xin ly hôn thì Tòa án sẽ thụ lý và không tiến hành hòa giải mà sẽ đưa ra tòa xét xử và không công nhận mối quan hệ giữa bà Tam và ông Bản là vợ chồng

2.3 Trình tự thủ tục hòa giải vụ án ly hôn

Trình tự thủ tục hòa giải vụ án ly hôn được quy định tại các Điều 183, 184,

185, 185a, 186 của BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, được quy định như sau:

2.3.1 Thông báo về phiên hòa giải

Theo quy định tại Điều 183 của BLTTDS thì: “trước khi tiến hành phiên

hòa giải, Tòa án phải thông báo cho ác đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải, nội dung các vấn

đề cần hòa giải”

Trong vụ án ly hôn, mục đích quan trọng của phiên hòa giải là giúp cho các đương sự đạt được sự thỏa thuận, để giải quyết những tranh chấp, những mâu thuẩn, giúp cho các đương sự có thể tháo gỡ những vướng mắc trong cuộc sống hôn nhân của họ, để cứu vãn một cuộc hôn nhân không bị đỗ vỡ sự thỏa thuận cua các đương sự có thể được tiến hành trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nhưng việc mở phiên hòa giải là cơ hội thuận lợi nhất để cho họ đạt được sự thỏa thuận Thỏa thuận của các đương sự tại phiên hòa giải có sự giúp đỡ và ghi nhận kịp thời của Tòa án Trước khi tiến hành hòa giải Tòa án phải thông báo cho các đương sự biết về thời gian địa điểm tiến hành phiên hòa giải mà còn phải thông báo về nội dung, các vấn đề về hòa giải

Ngày đăng: 01/10/2015, 22:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w