1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vai trò của thư ký trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự lý luận và thực tiễn

56 1,5K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 750,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy từng cấp Tòa án cụ thể mà Thư ký được phân công các công việc khác nhau nhưng tương đồng đều có chức năng chung là giúp việc cho Thẩm phán với nhiệm vụ: ghi chép, tống đạt văn bản tố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Bộ môn Luật Tư pháp MSSV: 5106035

Lớp Luật Thương mại 2_K36

Cần Thơ, năm 2013

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

  

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013 Chữ ký giảng viên hướng dẫn

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

  

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013 Chữ ký giảng viên phản biện

Trang 4

Mục lục

  

Trang Lời nói đầu 1

1 Lý do nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục đề tài 3

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƯ KÝ TÒA ÁN 4

1.1 Giới thiệu chức danh Thư ký Tòa án 4

1.1.1 Khái niệm về Thư ký Tòa án 4

1.1.2 Sự hình thành chức danh Thư ký Tòa án 5

1.2 Những yêu cầu đối với Thư ký Tòa án trong khi làm nhiệm vụ 8

1.2.1 Những việc Thư ký Tòa án cần phải làm 8

1.2.2 Những việc Thư ký Tòa án không được làm 9

1.3 Vị trí và vai trò của Thư ký Toà án 11

1.3.1 Thư ký Tòa án là công chức nhà nước 11

1.3.2 Thư ký Tòa án là người tiến hành tố tụng 12

1.3.3 Vị trí và vai trò của Thư ký Tòa án trong hoạt động tư pháp 13

1.4 Mối quan hệ giữa Thư ký Tòa án và những người tiến hành tố tụng 15

1.4.1 Mối quan hệ giữa Thư ký Tòa án với Chánh án và Thẩm phán 15

1.4.2 Mối quan hệ giữa Thư ký Tòa án với Hội thẩm 17

1.4.3 Mối quan hệ giữa Thư ký Tòa án với Kiểm sát viên 18

Chương 2 VAI TRÒ CỦA THƯ KÝ TÒA ÁN TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 21

2.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thư ký Tòa án trong giai đoạn thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 22

Trang 5

2.1.1 Nhận hồ sơ vụ án 22

2.1.1.1 Kiểm tra các bút lục có trong hồ sơ vụ án 23

2.1.1.2 Kiểm tra các vật chứng kèm theo vụ án 24

2.1.1.3 Kiểm tra thẩm quyền xét xử 25

2.1.2 Thụ lý vụ án 26

2.1.3 Giai đoạn chuẩn bị xét xử 27

2.1.3.1 Soạn thảo và giao các văn bản 28

2.1.3.2 Liên hệ, mời những người tiến hành và tham gia tố tụng 29

2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thư ký Tòa án tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 31

2.2.1 Các công việc trước khi mở phiên tòa 31

2.2.1.1 Đề nghị cơ quan Công an cử lực lượng Cảnh sát hỗ trợ tư pháp bảo vệ phiên tòa 31

2.2.1.2 Kiểm tra các việc chuẩn bị cần thiết cho việc mở phiên tòa 32

2.2.2 Các công việc tại phiên tòa 33

2.2.2.1 Kiểm tra danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa 33

2.2.2.2 Phổ biến nội quy phiên tòa và báo cáo danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa 34

2.2.2.3 Ghi biên bản phiên tòa 35

2.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của Thư ký Tòa án sau phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự 37

2.3.1 Kiểm tra biên bản phiên tòa 37

2.3.2 Vào sổ kết quả xét xử và làm các thủ tục khác để hoàn thành thủ tục phát hành bản án 38

2.3.3 Giao, tống đạt và niêm yết bản án 38

2.3.4 Nhận và kiểm tra đơn kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm 39

Chương 3 THỰC TIỄN HỖ TRỢ XÉT XỬ CỦA THƯ KÝ TÒA ÁN – MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 41

3.1 Thực tiễn hỗ trợ xét xử của Thư ký Tòa án 41

3.1.1 Những kết quả đạt được trong công tác hỗ trợ xét xử của Thư ký Tòa án 41

3.1.2 Một số tồn tại trong công tác hỗ trợ xét xử của Thư ký Tòa án 43

Trang 6

3.1.2.1 Vấn đề kiểm tra các tài liệu có trong hồ sơ vụ án 43 3.1.2.2 Ghi biên bản phiên tòa 44 3.1.2.3 Một số tồn tại khác 44

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Thƣ ký Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 45 Kết luận 49 Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

  

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Trong bộ máy nhà nước ta, Tòa án có vị trí vô cùng quan trọng Điều 127 Hiến

pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Tòa án nhân

dân tối cáo, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Điều 72 Hiến pháp năm 1992 cũng khẳng định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu luật pháp luật” Đây là cơ sở pháp lý để xác định vị trí quan trọng của Tòa án trong hệ

thống các cơ quan tư pháp Tòa án là một trong bốn hệ thống cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là nơi biểu hiện tập trung quyền tư pháp Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật, hệ thống ngành Tòa án đã góp phần rất to lớn bảo

vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân

Có thể thấy, trong nhiều giai đoạn lịch sử của Nhà nước ta, Tòa án đã trải qua những cuộc cải cách và đổi mới về tổ chức cũng như phương thức hoạt động để đáp ứng nhiệm vụ ngày càng nặng nề của nền tư pháp, nhất là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nhìn chung, những thay đổi, cải cách của

hệ thống Tòa án đã mang lại những kết quả tích cực về tổ chức và hoạt động, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ chính trị đặt ra trong từng giai đoạn bảo

vệ và xây dựng đất nước Tuy nhiên, trước yêu cầu đặt ra từ thực tiễn xét xử cũng như yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong việc tổ chức và thực hiện quyền tư pháp thì đòi hỏi ngành Tòa án phải được cải cách mạnh mẽ từ nhận thức, pháp luật, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực phục vụ việc xét xử Những năm qua, đội ngũ Thư ký Tòa án các cấp luôn thiếu về số lượng, trình độ năng lực, kinh nghiệm công tác và phẩm chất đạo đức vẫn còn hạn chế, bất cập trước yêu cầu của công tác xét xử Bên cạnh đó, đội ngũ Thư ký Tòa án vẫn chưa nhận thức hết vị trí, vai trò của mình, xem việc tham gia xét xử đơn thuần là giúp việc cho Thẩm phán khi có yêu cầu; luôn ở góc nhìn là người học việc, làm nguồn bổ nhiệm Thẩm tra

Trang 8

xét xử Để nâng cao vị trí, vai trò của Thư ký Tòa án trong công tác xét xử cũng như tìm hiểu quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của Thư ký Tòa án, người

viết đã chọn đề tài “Vai trò của Thư ký trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình

sự - lý luận và thực tiễn” để làm luận văn tốt nghiệp Thông qua đề tài này, người

viết muốn làm rõ thêm thực tiễn hỗ trợ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Thư ký Tòa án, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật

về Thư ký Tòa án và nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án các cấp

2 Tình hình nghiên cứu

Từ trước tới nay đã có nhiều đề tài luận văn nghiên cứu về địa vị pháp lý hoặc quy định pháp luật cũng như vai trò của những chủ thể khác trong tố tụng hình sự như Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư,… nhưng người viết chưa tìm thấy đề tài luận văn nào nghiên cứu về địa vị pháp lý hoặc quy định pháp luật cũng như vai trò của chức danh Thư ký Tòa án

Cũng đã có một số tài liệu, bài viết về vị trí, vai trò cũng như quyền và nghĩa vụ của Thư ký Tòa án trong tố tụng hình sự, tuy nhiên các tài liệu này thường có nguồn gốc từ Tòa án nhân dân tối cao và do các Luật gia, các vị lãnh đạo ngành Tư pháp nghiên cứu nhưng các tài liệu này thương mang tính chuyên

đề, giảng dạy là chính Người viết nhận thấy chức danh Thư ký Tòa án có tầm quan trọng rất to lớn trong việc giải quyết vụ án hình sự với địa vị là người tiến hành tố tụng Trong khi đó, người viết chưa tìm thấy luận văn cử nhân, luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu về vị trí, vai trò cũng như quyền hạn và nghĩa vụ của Thư

ký Tòa án trong vụ án hình sự nói chung và Thư ký Tòa án trong việc giải quyết

sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng

Vì vậy, việc nghiên cứu về vai trò của Thư ký trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là rất cần thiết nhằm làm rõ vị trí, vai trò, quyền hạn và nghĩa vụ của Thư ký Tòa án khi lần đầu vụ án được đưa ra xét xử

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn về vai trò của Thư ký Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Từ đó chỉ ra những vấn đề chưa phù hợp, chưa hiệu quả trong các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của Thư ký Tòa án trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự Đồng thời chỉ ra những hạn chế, thiếu sót cũng như thực tiễn về vai trò của Thư ký Tòa án trong bộ máy tư pháp hiện nay để từ đó đưa ra những biện pháp, phương hướng hoàn thiện, khắc phục và đảm bảo cho việc tiến hành tố tụng được thực thi một cách hiệu quả triệt để và hoàn thiện hơn

Trang 9

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về vị trí, vai trò cũng như quyền và nghĩa vụ của Thư ký Tòa án trong một giai đoạn của tố tụng hình sự - giai đoạn xét xử sơ thẩm trong vụ án hình sự nước ta hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tiếp cận và làm sáng tỏ các nội dung cần nghiên cứu của đề tài, người viết dựa trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng Người viết đã sử dụng một

số phương pháp như: Phương pháp phân tích, liệt kê, thu thập tài liệu, so sánh, thống kê và xử lý tài liệu; đồng thời đối chiếu các quy định của pháp luật với thực tiễn, tổng hợp sách bình luận khoa học, giáo trình tài liệu, trang web có liên quan để giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài

6 Bố cục đề tài

Đề tài “Vai trò của Thư ký trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sư – Lý luận và thực tiễn” được chia bố cục như sau:

- Lời mở đầu

- Chương 1: Khái quát chung về Thư ký Tòa án

- Chương 2: Vai trò của Thư ký Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

- Chương 3: Thực tiễn hỗ trợ xét xử của Thư ký Tòa án – một số tồn tại và giải pháp hoàn thiện

- Kết luận

- Danh mục tài liệu tham khảo

Em xin chân thành cám ơn quý Thầy cô đã truyền đạt những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập để em có thể hoàn thành đề tài luận văn này Trong quá trình nghiên cứu, em đã gặp một số khó khăn nhưng nhờ sự hướng dẫn tận tình của Giảng viên Trần Hồng Ca và các Anh chị trong Tòa án nhân dân Quận Cái Răng –Thành phố Cần Thơ nên em mới hoàn thiện được đề tài này Em xin cám ơn Cô và các Anh chị Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nổ lực của bản thân song vẫn còn nhiều điểm thiếu sót và chưa hoàn thiện Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý Thầy cô

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƯ KÝ TÒA ÁN 1.1 Giới thiệu chức danh Thư ký Tòa án

1.1.1 Khái niệm về Thư ký Tòa án

Thư ký Tòa án là một chức danh công chức1 được quy định trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân hiện hành, do đó Thư ký Tòa án có địa vị pháp lý nhất định Địa vị

pháp lý nói chung theo từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng là “Tổng thể

các điều kiện pháp lý mà pháp luật đòi hỏi để xác định cho một chủ thể có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”

Theo từ điển Luật học thì địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là vị trí của chủ

thể pháp luật trong mối quan hệ với chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật Là sự thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật

Pháp luật tố tụng được chia ra nhiều giai đoạn khác nhau Tương ứng với mỗi giai đoạn đó có các cơ quan tiến hành tố tụng Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (tố tụng hình sự); Viện kiểm sát, Tòa án (tố tụng dân sự, tố tụng hành chính) Trong mỗi cơ quan tiến hành tố tụng, pháp luật quy định những người có thẩm quyền thực hiện các hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng và những người đó được gọi là những người tiến hành tố tụng với địa vị pháp lý rất khác nhau Những người tiến hành tố tụng này có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng nhưng đều có trách nhiệm là phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Tại Tòa án, những người tiến hành tố tụng gồm có: Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án Thư ký Tòa án ở Việt Nam bao gồm: Thư ký Tòa án nhân dân tối cao, Thư ký Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Thư ký Tòa án

1

“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp

Trang 11

nhân dân cấp huyện và Thư ký Tòa án quân sự các cấp Tuy từng cấp Tòa án cụ thể

mà Thư ký được phân công các công việc khác nhau nhưng tương đồng đều có chức năng chung là giúp việc cho Thẩm phán với nhiệm vụ: ghi chép, tống đạt văn bản tố tụng, nhận, giữ, sắp xếp, chuyển hồ sơ; hướng dẫn, phổ biến cho đương sự, bị can,

bị cáo; và làm những công việc khác đảm bảo cho Thẩm phán Tòa án thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật

Cũng cần phân biệt Thư ký Tòa án khác với Thư ký phiên tòa Thư ký phiên tòa là người tiến hành tố tụng, được Chánh án phân công làm Thư ký đối với từng

vụ án cụ thể có nhiệm vụ cùng với Thẩm phán và Hội đồng xét xử giải quyết vụ án Thư ký phiên tòa có thể là Thư ký Tòa án hoặc Chuyên viên hoặc Thẩm tra viên của Tòa án được Chánh án hoặc người được Chánh án uỷ quyền phân công làm nhiệm

vụ Thư ký trong từng phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Còn Thư ký Tòa án là một chức danh công chức của Tòa án

Thư ký Tòa án có thể được phân công làm Thư ký phiên tòa Thư ký phiên tòa

có nhiệm vụ ghi chép thành biên bản diễn biến của phiên tòa; kiểm tra sự có mặt của những người tham gia tố tụng được triệu tập đến phiên tòa, làm rõ lý do của những người vắng mặt và báo cáo danh sách đó cho Hội đồng xét xử; ghi lại một cách đầy đủ trong biên bản phiên tòa các diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc và cùng với Chủ tọa phiên tòa ký vào biên bản đó

Tóm lại, Thư ký Tòa án là công chức nhà nước trong bộ máy tư pháp mà cụ

thể là Tòa án với nhiệm vụ giúp việc cho Thẩm phán theo quy định pháp luật, là một trong những chủ thể tiến hành tố tụng, nhân danh pháp luật góp phần vào những phán quyết mang tính mệnh lệnh, thực thi công lý xã hội và pháp luật

1.1.2 Sự hình thành chức danh Thƣ ký Tòa án

Thư ký Tòa án không chỉ là một chức danh tiến hành tố tụng trong hoạt động

tư pháp, một loại công chức nhà nước mà còn được xác định là một nghề độc lập ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước tư bản phát triển Đại đa số các quốc gia, Thư ký Tòa án thường không phải là cử nhân luật mà họ được tuyển dụng từ nhiều đội ngũ khác nhau như: sinh viên, luật sư, … và không phân biệt độ tuổi nếu đáp ứng được yêu cầu từ người phỏng vấn Khi được tuyển dụng, các Thư ký chỉ được đào tạo trong một khoảng thời gian rất ngắn so với các chức danh tư pháp

Trang 12

khác theo một chương trình chuyên sâu về các kỹ năng của nghề Thư ký Tòa án và

có thể phục vụ xuyên suốt với chức danh này

Khác với các nước, Thư ký Tòa án ở nước ta chưa được xác định là một nghề theo đúng nghĩa của nó mà coi Thư ký là nguồn đào tạo bổ nhiệm Thẩm tra viên, Thẩm phán Phần lớn đội ngũ Thẩm phán và Thẩm tra viên của các Tòa án ở nước

ta đều trưởng thành từ Thư ký Tòa án

Đội ngũ Thư ký Tòa án các cấp ở nước ta trước đây được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau với trình độ chuyên môn nghiệp vụ không đồng đều: cử nhân, trung cấp pháp lý hoặc có bằng cấp chuyên môn không phải về pháp luật… Từ năm

1998 đến nay, theo Nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì chỉ có những người có trình độ cử nhân luật và có đủ các tiêu chuẩn khác (phẩm chất đạo đức tốt, sức khoẻ…) mới được tuyển dụng vào ngạch Thư ký Tòa án Hiện nay, số Thư ký Tòa án (đã được tuyển dụng trước đây) chưa có trình độ cử nhân luật không nhiều, chủ yếu là vùng sâu, vùng xa và đang từng bước được đào tạo để có trình độ

cử nhân luật hoặc tương đương

Từ trước đến nay Thư ký Tòa án ở nước ta chưa được đào tạo nghề theo một chương trình chính quy và cơ bản như các loại công chức nhà nước khác Họ học nghề Thư ký Tòa án chủ yếu thông qua thực tiễn công tác hàng ngày và kinh nghiệm của những người đi trước Trường cán bộ tòa án trong những năm gần đây

đã tổ chức được một số lớp tập huấn nghiệp vụ Thư ký Tòa án ngắn ngày (từ 5 ngày đến 2 tuần) cho Thư ký Tòa án mới được tuyển dụng vào ngành Tòa án Tuy nhiên nội dung và chương trình học của các lớp này chưa mang tính đào tạo, dạy nghề Thư ký Tòa án mà mới dừng lại ở mức độ phổ biến, truyền đạt lại kinh nghiệm thức tiễn công tác Thư ký Tòa án

Cùng với sự hình thành bộ máy nhà nước, ngành Tòa án nhân dân ra đời từ năm 1945, nhưng chức danh Thư ký Tòa án xuất hiện rất muộn trong hệ thống pháp luật Việt Nam Luật tổ chức Tòa án nhân dân đầu tiên của nước ta ban hành năm

1960 vẫn chưa có quy định Thư ký ở Tòa án các cấp Tuy nhiên trên thực tế hoạt động tố tụng đều cần phải có đội ngũ Thư ký Mãi đến năm 1992 Luật tổ chức Tòa

án nhân dân mới có quy định chức danh công chức Thư ký ở Tòa án các cấp

Trang 13

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội và sự tiến bộ mạnh

mẽ về mặt lập pháp từ những nhà làm luật đã góp phần đánh dấu một cột mốc mới đối với nền lập pháp Việt Nam với việc ban hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân

2002 (luật hiện hành) – một lần nữa lại nhấn mạnh Thư ký Tòa án là cán bộ, công chức nhà nước Vì vậy hiện nay, trước hết muốn được tuyển dụng làm Thư ký Tòa

án thì phải có đủ tiêu chuẩn để được tuyển dụng làm cán bộ, công chức Theo điều

36 (Luật cán bộ, công chức 2008) thì những người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển công chức:

- Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;

- Đủ 18 tuổi trở lên;

- Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng;

- Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;

- Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;

- Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ

Mặt khác, Thư ký Tòa án phải tiến hành tố tụng, cho nên muốn được tuyển dụng làm Thư ký Tòa án là người tiến hành tố tụng phải có đủ các tiêu chuẩn để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng Theo quy định hiện nay của ngành Tòa án, một người muốn được tuyển dụng làm Thư ký Tòa án cần có đủ tiêu chuẩn sau đây:

- Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực;

- Có trình độ đại học luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa;

- Có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ;

- Một số tiêu chuẩn khác như ngoại ngữ, tin học

Từ năm 2003, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định Thư ký Tòa án phải

là người tốt nghiệp đại học Luật hệ chính quy2 của các Trường đại học như Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học xã hội nhân văn, Đại học Huế, Đại học Cần Thơ,… không được tuyển dụng hệ tại chức, Đại học từ xa…

Trang 14

Những người được tuyển dụng vào ngạch Thư ký Tòa án, tuy công tác ở Tòa án các cấp khác nhau, tính chất công việc có khác nhau nhưng đều có các quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản giống nhau

1.2 Những yêu cầu đối với Thƣ ký Tòa án trong khi làm nhiệm vụ

Thư ký Tòa án là công chức trong ngành Tòa án, ở một khía cạnh nào đó là

“người của Nhà nước”, ăn lương Nhà nước Do vị trí và điều kiện công tác của mình, có thể có những “lợi thế” hơn những người khác và do vậy sẽ có nguy cơ sử dụng những lợi thế này để tiêu cực, tham nhũng,… cố ý làm trái quy định của pháp luật gây ảnh hưởng đến uy tín cơ quan Tư pháp và lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước Chính vì vậy, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ra quyết định số 1253/2008/QĐ-TANDTC về quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức ngành Tòa án, trong đó có nêu rõ những việc Thư ký Tòa án được làm và không được làm trong

khi thực hiện nhiệm vụ

1.2.1 Những việc Thƣ ký Tòa án cần phải làm

Một là, thực hiện việc giải quyết các vụ án được phân công theo đúng các quy

định của pháp luật tố tụng và các văn bản pháp luật khác có liên quan Xuất phát từ

bản chất “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ” vì vậy, mọi công dân không phân biệt thành phần xã hội đều phải tuyệt đối tuân thủ, sống và làm việc theo pháp luật Tùy vào địa vị pháp lý cụ thể sẽ tương ứng với quyền và nghĩa vụ luật định, Thư ký Tòa án là một trong những người tiến hành tố tụng nên trong quá trình giải quyết vụ án có quyền và nghĩa vụ nhất định riêng biệt - đặc thù của chức danh này, được quy định trong Luật tố tụng và các văn bản pháp luật liên quan Nhưng song song với quyền và nghĩa vụ là trách nhiệm, Thư ký cần thiệt hiện đúng các quy định của pháp luật, tránh trường hợp lợi dụng, cố ý làm sai quy định nếu không sẽ bị chính pháp luật chế tài về hành vi của mình

Hai là, phải vui vẻ, cởi mở, hòa nhã, nhiệt tình, trung thực, thận trọng, công

tâm, khách quan, toàn diện, đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh trong giải quyết các loại án; lắng nghe, tôn trọng ý kiến của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng

Ba là, giải thích, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho người tiến hành tố

tụng và người tham gia tố tụng để họ thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của họ theo

Trang 15

quy định của pháp luật Đa phần những người tham gia tố tụng thường không am

hiểu nhiều về mặt pháp lý, đặc biệt hơn là thủ tục tố tụng nên họ thường gặp nhiều khó khăn, trở ngại khi tham gia tố tụng dẫn đến nhiều hệ quả xấu, cản trở tiến trình giải quyết vụ án Vì vậy Thư Ký Tòa án với nhiệm vụ nghề nghiệp của mình cần

phải hỗ trợ về mặt pháp lý, giải thích về quyền và nghĩa vụ khi họ có yêu cầu hoặc

khi cần thiết

Bốn là, tiếp xúc với những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khi

thi hành công vụ tại nơi quy định, đảm bảo tính khách quan, minh bạch, rõ ràng

Ngoài mối quan hệ trong công việc (quan hệ với người tiến hành và người tham gia

tố tụng), Thư ký còn có mối quan hệ ngoài công việc (quan hệ với bạn bè, gia đình, cộng đồng,…), Do đó Thư ký Tòa án cần phân biệt giữa việc công và việc tư, khi giải quyết công việc tuyệt đối phải khách quan, minh bạch, không được vụ lợi cá nhân, thực hiện không đúng quy định về việc tiếp người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng

Năm là, từ chối tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng theo quy định của pháp

luật Thư ký Tòa án là chủ thể giải quyết vụ án trong hoạt động tố tụng, để sự thật của

vụ án cũng như việc giải quyết được đảm bảo khách quan, chính xác đòi hỏi Thư ký Tòa án và các chủ thể tiến hành tố tụng khác phải thật sự vô tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ Do đó, nếu có lý do xác đáng không bảo đảm sự vô tư (điều 42, 47 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 41, 44 Bộ luật tố tụng hành chính; điều 46, 49 Luật tố tụng dân sự) thì Thư ký Tòa án phải từ chối tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng

1.2.2 Những việc Thƣ ký Tòa án không đƣợc làm

Một là, tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm

cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật

Đại đa số, những người tham gia tố tụng thường ít am hiểu về pháp luật, đặc biệt là luật

tố tụng Do đó, đứng ở vị trí là người bảo vệ pháp luật, Thư ký Tòa án có trách nhiệm

tư vấn pháp luật cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác khi họ cần giúp đỡ Tuy nhiên,Thư ký Tòa án cần phải hiểu rõ và xác định đúng vấn đề cần

tư vấn, chỉ đưa ra thông tin phù hợp theo hướng dẫn từ luật định, không được đưa ra thông tin mang tính chất chủ quan mà luật chưa quy định hoặc còn am hiểu mập mờ hoặc cố ý tư vấn sai quy định pháp luật làm cho việc giải quyết vụ án gặp khó khăn

Trang 16

Hai là, đem hồ sơ vụ án, tài liệu trong hồ sơ vụ án ra khỏi cơ quan hoặc sao

chụp hồ sơ tài liệu nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền.Về nguyên tắc thì tài liệu hồ sơ vụ án được coi là tài liệu mật và chỉ có thể được để tại nơi làm việc (trụ sở Tòa án) Vì vậy, Thư ký có trách nhiệm quản lý tài liệu hồ sơ vụ án được phân công, không được để mất tài liệu hồ

sơ và phải thực hiện việc gửi lưu trữ hồ sơ theo quy định vì hồ sơ chỉ có một bộ, một bản gốc duy nhất, quan trọng hơn là một số tài liệu mất rồi sẽ không thể phục hồi lại được như biên bản phạm tội quả tang Do đó, Thư ký Tòa án chỉ được xem tài liệu hồ sơ vụ án tại trụ sở Tòa án, hết giờ làm việc phải bảo quản hồ sơ vụ án trong tủ có khóa của cơ quan Không được đem hoặc sao chụp hồ sơ tài liệu, trừ trường hợp vì lý do công vụ và được sự đồng ý của lãnh đạo cơ quan

Ba là, thực hiện không đúng quy định về việc tiếp bị can, bị cáo, đương sự,

người tham gia tố tụng khác trong vụ án mà mình tham gia tố tụng Khi được

Chánh án phân công giải quyết vụ án thì quan hệ giữa Thư ký Tòa án với bị can, bị cáo, đương sư và nhưng người tham gia tố tụng trong vụ án đó là quan hệ công việc giữa người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng nên Thư ký Tòa án chỉ được tiếp tại trụ sở làm việc

Bốn là, Sách nhiễu, trì hoãn, chậm trễ, gây khó khăn, phiền hà cho người tiến

hành tố tụng và người tham gia tố tụng Ngày này, yêu cầu của nhân dân đối với

các cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp nói chung và Thư ký Tòa

án nói riêng phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là những con người hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm và mọi vi phạm pháp luật Thư ký Tòa án không được lợi dụng vị trí công tác và những hoạt động tố tụng chưa bị ràng buộc bởi thời hạn mà tùy tiện lạm dụng trong thực tiễn để tham nhũng, tiêu cực, gây phiền hà sách nhiễu, gây khó khăn cho người tham gia tố tụng khi tiếp cận công lý, mang lại lợi ích không chính đáng cho bản thân, gia đình

và các cơ quan, đơn vị, cá nhân khác

Năm là, làm sai lệch hồ sơ, kết quả giải quyết vụ án; truy ép, gợi ý cho người

tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trình bày sự việc theo ý muốn chủ quan của mình hoặc của người khác Thư ký Tòa án có nhiệm vụ phải bảo đảm tính

khách quan khi được phân công giải quyết, xét xử một vụ việc cụ thể Khi xét xử

Trang 17

phải lưu giữ tài liệu có trong hồ sơ cẩn thẩn và biên bản phiên tòa phải ghi chép đúng thực tế với những gì diễn ra tại phiên tòa; phải trung thực, không được làm sai lệch hồ sơ vụ án (sẽ bị truy cứu tranh nhiệm hình sự tại điều 300 Luật hình sự về tội danh làm sai lệch hồ sơ vụ án)

Sáu là, tiết lộ bí mật Nhà nước, bí mật công tác của mình và của cán bộ, công

chức khác thuộc ngành Tòa án và các ngành khác; tiết lộ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của bị can, bị cáo, đương sự và những người tham gia tố tụng khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Tóm lại, Ngoài việc tuân thủ pháp luật, đạo đức nghề nghiệp cũng là yếu tố

bắt buộc phải có đối với cán bộ, công chức Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân lại càng là yếu tố bắt buộc và yêu cầu cao hơn Vì vậy, với vị trí là người tiến hành tố tụng, Thư ký Tòa án cần phải mẫu mực về đạo đức,

có lối sống liêm khiết, trong sạch, công chính liêm minh,… không được làm những

gì trái với quy định pháp luật, yêu cầu của xã hội, đúng với mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

1.3 Vị trí và vai trò của Thư ký Tòa án

1.3.1 Thư ký Tòa án là công chức nhà nước

Công chức theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đó là

những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ

và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước Công chức của một quốc gia thường

là công dân, người có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế Phạm vi làm việc của công chức là các cơ quan nhà nước, tuy nhiên pháp luật nhiều nước quy định công chức có thể làm việc không chỉ trong cơ quan nhà nước

Theo quy định tại khoản 2 điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì công

chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện…, Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước… Như vậy Thư ký Tòa án trước hết phải là một công chức nhà nước

Trong Tòa án nhân dân, công chức có nhiều chức danh ở nhiều ngạch công chức khác nhau, không phải chức danh nào cũng được quy định trong Luật tổ chức

Trang 18

Tòa án nhân dân, Thí dụ như: thẩm tra viên, chuyên viên, kế toán, nhân viên… được

quy định ở các văn bản pháp luật khác

Thư ký Tòa án được quy định trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân, bởi lẽ

muốn thực hiện được chức năng, nhiệm vụ được quy định tại “điều 127 Hiến pháp

năm 1992 và điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002”3 thì không thể thiếu

Thư ký Tòa án được; cụ thể: Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 đã quy định:

- Tòa án nhân dân tối cao có Chánh tòa, các Phó chánh tòa, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án (khoản 3 điều 18 Luật tổ chức Tòa án)

- Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Chánh tòa, các Phó chánh tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án (khoản 2 điều 27 Luật tổ chức Tòa án)

- Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Chánh án, một hoặc hai Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án (khoản 2 điều 32 Luật tổ chức Tòa án)

- Các Tòa án quân sự có Chánh tòa, các Phó chánh tòa, Thẩm phán, Hội thẩm quân dân, Thư ký Tòa án (khoản 1 điều 35 Luật tổ chức Tòa án)

1.3.2 Thư ký Tòa án là người tiến hành tố tụng

Người tiến hành tố tụng là những người đại diện các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện những nhiệm vụ trong các giai đoạn tố tụng nhằm đảm bảo giải quyết vụ

án theo đúng pháp luật tố tụng quy định, người tiến hành tố tụng còn là những người thay mặt các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn trong các giai đoạn tố tụng nhằm đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn vụ án, bảo

vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Ngoài Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định chức danh Thư ký Tòa án, thì tất cả các văn bản pháp luật tố tụng đều có những quy định dành riêng cho Thư ký Tòa án là người tiến hành tố tụng trong các vụ án và quy định nhiệm vụ quyền hạn khi tiến hành tố tụng của Thư ký Tòa án

Khoản 2 điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Những người tiến hành tố tụng gồm có:

- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên;

3

Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 19

- Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên;

- Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án

Khoản 2 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: những người tiến hành tố tụng gồm có:

- Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án;

- Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên;

Khoản 2 điều 34 Luật Tố tụng hành chính quy định: Những người tiến hành tố tụng gồm có:

- Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án;

- Viện trưởng Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên

Để khẳng định địa vị pháp lý là người tiến hành tố tụng, luật tố tụng còn quy định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngoài việc ghi rõ họ tên các thành viên

Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, còn phải ghi họ tên của Thư ký (điều 178 Bộ luật tố

tụng hình sự, điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 123 Luật tố tụng hành chính)

1.3.3 Vị trí, vai trò của Thƣ ký Tòa án trong hoạt động tƣ pháp

Theo quy định của pháp luật tố tụng nước ta, trong hệ thống các chức danh tư pháp của các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và thi hành án, chỉ có Tòa án mới có chức danh Thư ký với tư cách là một trong các chủ thể tiến hành tố tụng độc lập Việc quy định chức danh Thư ký Tòa án này trong hệ thống các chức danh tiến hành tố tụng trong ngành Tòa án xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ và chức năng đặc thù của Tòa án Sự tham gia của Thư ký Tòa án nói chung và của Thư ký phiên tòa nói riêng vào quá trình giải quyết các vụ án là một trong các yếu tố, điều kiện không thể thiếu được trong hoạt động xét xử của Tòa án

Vị trí, vai trò của Thư ký Tòa án được thể hiện qua nhiệm vụ, quyền hạn và

trách nhiệm của Thư ký do pháp luật tố tụng quy định Theo điều 41 Bộ luật tố tụng

hình sự, điều 43 Bộ luật tố tụng dân sự và điều 38 Luật tố tụng hành chính thì khi

được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án, Thư ký Tòa án có nhiệm vụ và quyền hạn:

- Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên tòa

- Phổ biến nội quy phiên tòa

- Báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người triệu tập đến

Trang 20

- Ghi biên bản phiên tòa

- Tiến hành các hoạt động tố tụng khác theo sự phân công của Chánh án và theo quy định của pháp luật tố tụng

Riêng đối với hoạt động tố tụng dân sự, Thư ký Tòa án còn có nhiệm vụ ghi biên bản lấy lời khai, biên bản đối chất, định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ…thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho cá nhân, cơ quan,

tổ chức tham gia tố tụng

Vai trò của Thư ký Tòa án còn được thể hiện bởi yếu tố chất lượng thực hiện các hoạt động tố tụng Nếu thư ký làm không tốt thì vụ án có thể bị cải sửa hoặc bị huỷ án…

Ví dụ: việc tống đạt không hợp lệ, việc ghi biên bản phiên tòa không đúng…đều có thể dẫn đến hậu quả vi phạm tố tụng nghiêm trọng Trong đó nhiệm vụ ghi biên bản phiên tòa là hoạt động tiến hành tố tụng thường xuyên, quan trọng và đòi hỏi Thư

ký Tòa án phải có những kỹ năng nghiệp vụ nhất định Bởi lẽ biên bản phiên tòa trở thành tập hợp nguồn căn cứ quan trọng cho Tòa án các cấp xem xét khi có kháng cáo, khiếu nại, biên bản phiên tòa đương sự được quyền xem và yêu cầu sửa chữa ngay sau khi kết thúc phiên tòa (điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự,…) Do đó, ghi biên bản phiên tòa vừa phải có kỹ năng về tóm lược nội dung vấn đề, vừa đảm bảo nhanh, chính xác, vừa phải đảm bảo tính khách quan, vô tư

Tóm lại, vai trò và vị trí của Thư ký Tòa án được xác định bởi các nhiệm vụ và

quyền hạn mà pháp luật đã quy định cho họ Các nhiệm vụ của Thư ký Tòa án đồng thời cũng là các quyền hạn của họ và ngược lại Đây là những điều kiện quan trọng nhằm bảo đảm cho Thư ký Tòa án hoàn thành được chức trách, nhiệm vụ của mình trong tố tụng, bảo đảm cho hoạt động xét xử của Tòa án công minh, đúng pháp luật, bảo đảm công bằng xã hội Mặt khác, đây cũng là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp

lý đối với Thư ký Tòa án trong trường hợp họ vi phạm

Vị trí quan trọng của Thư ký Tòa án trong hệ thống tư pháp còn thể hiện ở chỗ thông qua thực hiện xét xử, Thư ký Tòa án sẽ tích luỹ và học tập được nhiều kinh nghiệm quý báu, bổ ích và phong phú về xét xử các loại án để trở thành nguồn bổ sung chủ yếu cho đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên của Tòa án các cấp ở nước ta hiện nay

Trang 21

1.4 Mối quan hệ giữa Thư ký Tòa án với những người tiến hành tố tụng

1.4.1 Mối quan hệ giữa Thư ký Tòa án với Chánh án và Thẩm phán

Trong cơ cấu Nhà nước ta có 3 cấp Tòa án, đó là Tòa án nhân dân tối cao, Tòa

án nhân dân cấp tỉnh, thành phố và Tòa án nhân dân cấp quận, huyện Đứng đầu Tòa án mỗi cấp là các Chánh án, có chức năng quản lý và điều hành Tòa án (đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tối cao còn có Chánh tòa – người đứng đầu một tòa chuyên trách) Còn Thẩm phán cũng là một thành phần trong cơ cấu của Tòa án các

cấp, có chức năng trực tiếp xét xử các vụ án

Chánh án Tòa án căn cứ vào khả năng, trình độ, năng lực của Thư ký Tòa án

để phân công, giao nhiệm vụ cho Thư ký Tòa án thực hiện các công việc của các Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tối cao hoặc Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa

án nhân dân cấp huyện và các đơn vị giúp việc Chánh án Tòa án vừa thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của luật tố tụng, vừa là người được giao nhiệm vụ quản lý, điều hành các hoạt động của cơ quan Tòa án với tư cách là Thủ trưởng cơ quan (hoặc Thủ trưởng đơn vị đối với các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao)

Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của Tòa án các cấp hoặc các đơn vị thuộc Tòa

án nhân dân tối cao, Thư ký Tòa án được giao các nhiệm vụ cụ thể Thí dụ: Thư ký

Tòa án nhân dân cấp huyện có thể được phân công làm Thư ký để giúp Thẩm phán giải quyết, xét xử tất cả các loại án, giúp Chánh án làm công tác thi hành án hình sự, làm công tác báo cáo, thống kê, tổng hợp,… Ở các Tòa án nhân dân cấp tỉnh có các Tòa chuyên trách như Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa lao động, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, các Thư ký Tòa án công tác tại các Tòa chuyên trách này thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do Chánh tòa phân công Tùy theo số lượng Thẩm phán và Thư ký Tòa án được biên chế ở Tòa án mà Chánh án, Chánh tòa phân công công việc, cũng

có thể một Thư ký Tòa án giúp việc cho một Thẩm phán hoặc một Thư ký giúp việc cho hai Thẩm phán

Thẩm phán và Thư ký Tòa án đều là những người tiến hành tố tụng nên mối quan hệ giữa Thẩm phán và Thư ký Tòa án là mối quan hệ được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng và nó chỉ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán không phải là Thủ trưởng của Thư ký Tòa án và Thư ký Tòa án cũng không phải là Thư ký riêng của Thẩm phán Tuy nhiên, Thư ký Tòa án là người giúp việc cho Thẩm

Trang 22

Tòa án phải chịu sự giám sát, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn của Thẩm phán nhằm thực hiện đúng các quy định của pháp luật

Nhiệm vụ của Thư ký Tòa án mà pháp luật tố tụng đã quy định là giúp Thẩm phán thực hiện một số tác nghiệp như ghi biên bản lấy lời khai, biên bản xác minh, biên bản hoà giải, làm giấy triệu tập đương sự, bị can, bị cáo; thực hiện việc chuẩn

bị mở phiên tòa như trích xuất bị cáo, triệu tập phiên tòa, thông báo cho người bào chữa, mời Hội thẩm, liên hệ lấy vật chứng ra Tòa,… Trong một số vụ án lớn, quan trọng hoặc xét xử lưu động Thư ký Tòa án còn giúp Thẩm phán tổ chức họp với các ngành liên quan về việc đảm bảo cho phiên tòa đạt kết quả tốt Những trường hợp cần phải có Giám định viên, người phiên dịch tại phiên tòa thì theo yêu cầu của Thẩm phán, Thư ký Tòa án phải liên hệ với các cơ quan, tổ chức này để cử người tham gia phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật tố tụng

Ở tại phiên tòa, Thư ký Tòa án phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Thư ký Tòa án phải kiểm tra sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập đến phiên tòa để báo cáo Hội đồng xét xử quyết định có xét xử hay phải hoãn phiên tòa; phổ biến nội quy phiên tòa; ghi biên bản phiên tòa và nếu những người tham gia tố tụng yêu cầu xem lại biên bản phiên tòa thì phải đáp ứng yêu cầu; có thể phải giúp Thẩm phán thực hiện một số quyết định tại phiên tòa như quyết định hoãn xử, quyết định xem xét tại chỗ, quyết định xử lý người vi phạm nội quy phiên tòa, quyết định bắt tạm giam, quyết định tạm giam, quyết định trả tự do,…

Sau phiên tòa, Thư ký Tòa án giúp Thẩm phán rà soát lại bản án trước khi Thẩm phán (hoặc các thành viên Hội đồng xét xử) ký; chuyển giao bản án, quyết định cho đương sự, bị cáo, các cơ quan liên quan; cấp trích lục bản án, thông báo kháng cáo, kháng nghị, chuyển hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm

Tóm lại, theo quy định của pháp luật tố tụng thì việc giải quyết xét xử các loại

vụ án không giống nhau và đương nhiên chức năng, nhiệm vụ của Thư ký Tòa án trong mỗi lĩnh vực cũng khác nhau Vì thế ở lĩnh vực giải quyết, xét xử loại vụ án này thì chức năng, nhiệm vụ cụ thể của Thư ký Tòa án được điều chỉnh theo pháp luật tố tụng về giải quyết, xét xử loại án đó, còn trong lĩnh vực giải quyết, xét xử loại vụ án khác thì chức năng, nhiệm vụ của Thư ký Tòa án lại được điều chỉnh

Trang 23

(quy định) theo pháp luật tố tụng khác Cũng chính vì vậy mà mối quan hệ giữa Thư

ký Tòa án với Chánh án, Thẩm phán cũng khác nhau, có thể là quan hệ điều hành trực tiếp (như trường hợp Chánh án phân công cho Thư ký Tòa án làm công tác thi hành án hình sự, làm công tác báo cáo, thống kê,…) hoặc Thư ký Tòa án giúp việc trực tiếp cho Thẩm phán Cũng có thể đó là mối quan hệ gián tiếp giữa Chánh án với Thư ký Tòa án thông qua Thẩm phán hoặc Thẩm tra viên

1.4.2 Mối quan hệ của Thƣ ký Tòa án với Hội thẩm

Một trong những đặc trưng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân (điều

2, Hiến pháp 1992) Dựa trên chế độ Nhà nước, chế định Hội thẩm là sự thể hiện tư

tưởng " lấy dân làm gốc", bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân

trong hoạt động xét xử của Tòa án

Hội thẩm là người được bầu hoặc được cử theo quy định của pháp luật để

cùng với Tòa án thực hiện nhiệm vụ xét xử các loại vụ án Hiến pháp 1992 và

Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 đều có quy định “việc xét xử của Tòa

án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật” Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán

Như vậy, việc xét xử các vụ án theo trình tự sơ thẩm bắt buộc phải có sự tham gia của Hội thẩm Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm Trong trường hợp xét xử bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình hoặc trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử gồm hai Thẩm

phán và ba Hội thẩm (điều 185 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 52 Bộ luật tố tụng dân

sự, điều 128 Luật tố tụng hành chính)

Đối với một số trường hợp như khi xét xử người chưa thành niên phạm tội thì một Hội thẩm phải là Giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí

Minh (điều 307 Bộ luật tố tụng hình sự)

Đối với các vụ án xét xử theo trình tự phúc thẩm thì Hội đồng xét xử gồm ba

Thẩm phán, trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm (điều 244 Bộ

luật tố tụng hình sự)

Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán khi xét xử vụ án, do đó để đảm bảo việc

Trang 24

Tòa án phải giúp Thẩm phán làm quyết định đưa vụ án ra xét xử, trong đó có thành phần Hội đồng xét xử là Hội thẩm Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán yêu cầu Thư

ký Tòa án mời Hội thẩm tham gia phiên tòa và triệu tập những người tham dự phiên tòa trong sổ triệu tập phiên tòa của Thẩm phán Căn cứ vào quyết định này của Thẩm phán, Thư ký Tòa án phải liên hệ với Hội thẩm có tên trong quyết định đưa vụ án ra xét xử Trường hợp vì lý do nào đấy Hội thẩm không thể tham gia xét xử được thì Thư ký Tòa án phải báo cáo với Thẩm phán để thay đổi Hội thẩm khác

Thư ký Tòa án có trách nhiệm liên hệ với Thẩm phán để nhận và giao hồ sơ vụ

án cho Hội thẩm nghiên cứu, đồng thời bố trí phòng làm việc cũng như các điều kiện cần thiết khác về ánh sáng, quạt, nước uống… để tạo điều kiện thuận lợi cho Hội thẩm nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án Khi hết giờ làm việc hoặc khi Hội thẩm đã nghiên cứu xong hồ sơ vụ án, Thư ký Tòa án có trách nhiệm nhận và giao lại hồ sơ

vụ án cho Thẩm phán Hội thẩm chỉ được nghiên cứu hồ sơ vụ án tại trụ sở Tòa án, không được mang hồ sơ ra ngoài cơ quan để đảm bảo việc quản lý hồ sơ, tránh thất lạc hoặc có những vi phạm khác về quản lý, bảo quản hồ sơ vụ án

Tại phiên tòa, Thư ký Tòa án và Hội thẩm đều là những người tiến hành tố tụng nhưng vị trí, chức năng, nhiệm vụ khác nhau Thư ký Tòa án phải báo cáo Hội đồng xét xử (trong đó có các Hội thẩm) Hội thẩm có trong thành phần Hội đồng xét xử, có quyền xét hỏi, quyết định các tình huống phát sinh tại phiên tòa,

có quyền nghị án để phán quyết về vụ án, Thư ký Tòa án không có các quyền này

Sau phiên tòa, Thư ký Tòa án phải rà soát bản án để xin chữ ký của Hội thẩm, làm các thủ tục để thanh toán tiền bồi dưỡng phiên tòa cho Hội đồng xét xử, thanh toán tiền cho người làm chứng,… trong đó có Hội thẩm

Tóm lại, mặc dù chức năng, nhiệm vụ của Thư ký Tòa án và Hội thẩm khác nhau nhưng cùng chung mục đích là hoàn thành nhiệm vụ xét xử các loại vụ án, do

đó phải có sự phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện tốt nhất để Hội thẩm hoàn thành nhiệm vụ

1.4.3 Mối quan hệ giữa Thƣ ký Tòa án với Kiểm sát viên

Kiểm sát viên hay Công tố viên (theo tên gọi của các nước tư bản) là những

người làm việc tại các Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hiện quyền công tố, kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết, xét xử các vụ án nhằm bảo vệ

Trang 25

lợi ích của Nhà nước và lợi ích công cộng Tại phiên tòa xét xử án hình sự, Kiểm sát viên có nhiệm vụ làm rõ các hành vi phạm tội (buộc tội) và đề xuất hình phạt thích hợp Còn trong các phiên tòa xét xử Dân sự và Hành chính, Kiểm sát viên có chức năng kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của mọi người, kể cả Thẩm phán Trong các vụ án hình sự, sự tham gia của Kiểm sát viên là bắt buộc Trong các vụ việc Dân sự, Hành chính sự tham gia của Kiểm sát viên có thể không bắt

buộc trừ những trường hợp quy định tại điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 23

Luật tố tụng hành chính (những vụ án mà do Tòa án thu thập chứng cứ mà

đương sự có khiếu nại hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần,…; phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm)

Mối quan hệ giữa Thư ký Tòa án và Kiểm sát viên là mối quan hệ đặc biệt bởi đây là mối quan hệ giữa các cơ quan tư pháp Tòa án và Viện kiểm sát, đều có nhiệm vụ chung là bảo vệ pháp luật, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân

Thư ký Tòa án có nhiệm vụnhận đơn khởi kiện đối với các loại vụ án dân sự,

hành chính và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp những thông tin liên quan đến

vụ án như: thông báo thụ lý vụ án, thông báo đưa vụ án ra xét xử và gửi kèm theo

hồ sơ vụ án, thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian, địa điểm tổ chức phiên tòa xét xử,… Riêng trong vụ án hình sự, Thư ký Tòa án có trách nhiệm nhận

hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát cùng cấp chuyển sang Sau khi kiểm tra hồ sơ, nếu thấy đầy đủ theo bảng kê các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì Thư ký Tòa án thụ lý

vụ án để báo cáo Chánh án phân công Thẩm phán giải quyết, xét xử vụ án Hiện nay, có một số Tòa án thành lập bộ phận hành chính tư pháp nên việc giao nhận hồ

sơ do bộ phận này thực hiện và ở bộ phận này cũng có các Thư ký Tòa án làm nhiệm vụ tiếp nhận các hồ sơ vụ án hình sự do Viện kiểm sát chuyển đến,…

Do vậy, Thư ký Tòa án và Kiểm sát viên có mối quan hệ độc lập với nhau, mỗi bên tự chịu trách nhiệm đối với công việc của mình nhưng cùng chung nhiệm vụ là những người tiến hành tố tụng phải cùng nhau giải quyết những vướng mắc, bất cập trong hoạt động tố tụng

Trang 26

Tóm lại, mối quan hệ giữa Thư ký Tòa án với Chánh án, Thẩm phán, Hội

thẩm, Kiểm sát viên được hiểu là mối quan hệ của Thư ký với những cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Đây là những mối quan hệ được thiết lập trên

cơ sở pháp luật tố tụng, chỉ phát sinh khi những cơ quan, người tiến hành tố tụng tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, đồng thời đây cũng là mối quan hệ phối hợp để đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật, nhằm giải quyết vụ án đúng đắn Bên cạnh đó, ngoài mối quan hệ với những người tiến hành tố tụng, Thư

ký Tòa án còn có quan hệ công việc với những người tham gia tố tụng như: người bào chữa, người giám định, người phiên dịch,…

Trang 27

Chương 2 VAI TRÒ CỦA THƯ KÝ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM

VỤ ÁN HÌNH SỰ

Trong tố tụng hình sự, các giai đoạn tố tụng lần lượt gồm: khởi tố, điều

tra, truy tố, xét xử, thi hành án Trong đó, xét xử được xem là giai đoạn quan

trọng nhất của quá trình tố tụng, bằng hoạt động xét xử của mình - Tòa án đưa

ra bản án, quyết định thể hiện phán quyết nhân danh Nhà nước đối với một vụ

án hình sự Chỉ có Tòa án mới có quyền kết tội và quyết định hình phạt đối với một con người khi có hành vi phạm tội Không ai có thể bị coi là có tội khi chưa

có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án

Trong giai đoạn xét xử (có hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm) thì xét

xử sơ thẩm được coi là công đoạn đầu trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nhưng là công đoạn bắt buộc và đặc biệt quan trọng, là trung tâm của hoạt động

tư pháp khi vụ án được đưa ra xét xử lần đầu tiên công khai4 tại phiên tòa – mở đầu cho toàn bộ hoạt động xét xử Trong giai đoạn này, cơ quan xét xử có thẩm quyền xem xét và giải quyết vụ án hình sự để xác định một người có tội hay không

có tội Nếu có tội thì người đó phạm tội gì, được quy định tại điều, khoản nào của

Bộ luật hình sự và hình phạt áp dụng đối với người đó như thế nào, khi quyết định hình phạt còn phải xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, tương xứng với mức độ lỗi và hành vi của người phạm tội Xuất phát từ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân nên Việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự phải tuân thủ những nguyên tắc và thủ tục nhất định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

Ở Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, Tòa án quân sự cấp Quân khu, Tòa án nhân dân cấp Huyện, Tòa

án quân sự Khu vực ( Trong đó, Tòa án quân sự là cơ quan xét xử thuộc hệ thống

Tòa án nhân dân được tổ chức trong Quân đội để xét xử những vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của pháp luật.) Cụ thể, Thẩm

quyền xét xử của Tòa án được quy định tại điều 170 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

Trang 28

“Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những

vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây:

- Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

- Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

- Các tội tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224,

225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322, 323 của Bộ luật hình sự

Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.”

Như đã đề cập, Trong Bộ luật tố tụng hình sự thì hoạt động xét xử sơ thẩm vụ

án hình sự là hoạt động của Tòa án mà cụ thể là những người tiến hành xét xử, bao

gồm: Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án Với địa vị pháp lý là một trong những người tiến hành xét xử, bên cạnh các chức danh khác, Thư ký Tòa án có vai trò to lớn trong việc giải quyết các vụ án nói chung, vụ

án hình sự nói riêng từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi bản án được tuyên Do đó, Thư ký Tòa án có vị trí không thể thiếu được trong hoạt động xét xử của Tòa án mà minh chứng là quy định của pháp luật về quyền hạn và nhiệm vụ của chức danh

vô tội Vì vậy, trách nhiệm của cơ quan xét xử mà cụ thể là Thư ký Tòa án chỉ có nhiệm vụ nhận hồ sơ vụ án để xét xử sau khi trải qua quá trình điều tra nghiệp vụ (giai đoạn điều tra) và quyết định cáo trạng từ Viện kiểm sát (giai đoạn truy tố)

Ngày đăng: 05/10/2015, 10:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w