Bên cạnh những kết quả đã đạt được, từ thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cũng bộc lộ những khó khăn, hạn chế, yếu kém làm ảnh hưởng đến hiệu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
NGƯỜI CAM ĐOAN
Khúc Thị Hòa
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
XHCN : Xã hội chủ nghĩa TGPL : Trợ giúp pháp lý
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang Lời cam đoan
Danh mục từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 9
VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 9
1.1 Khái quát về Luật sư và trợ giúp pháp lý của Luật sư 9
1.1.1 Khái quát về Luật sư 9
1.1.2 Khái quát về trợ giúp pháp lý của Luật sư 13
1.1.2.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý 13
1.1.2.2 Khái niệm trợ giúp pháp lý của Luật sư 19
1.1.2.3 Đặc điểm trợ giúp pháp lý của Luật sư 20
1.1.2.4 Nội dung, lĩnh vực, hình thức, phương thức, kinh phí thực hiện trợ giúp pháp lý của Luật sư 27
1.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư 30
1.3 Ý nghĩa hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư 33
1.4 Sự thể hiện vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý 35
1.4.1 Luật sư đóng vai trò là chủ thể trực tiếp thực hiện tư vấn pháp luật 36
1.4.2 Luật sư trực tiếp tham gia tố tụng, đại diện bào chữa trước Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng được trợ giúp pháp lý 39
1.4.3 Luật sư trực tiếp thực hiện đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý trong các vụ, việc 41
1.4.4 Luật sư trực tiếp tham gia hòa giải, hướng dẫn thủ tục hành chính cho người được trợ giúp pháp lý 43
1.4.5 Thông qua hoạt động của mình, Luật sư tuyên truyền, phố biến pháp luật, góp phần hoàn thiện pháp luật liên quan đến trợ giúp pháp lý 46
1.5 Hiệu quả vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý 47
1.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý 47
1.5.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của Luật sư trong trợ giúp pháp lý 53
Trang 61.6 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý 56 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 62 Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ QUA THỰC TIỄN ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI 63 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở thành phố Hà Nội tác động đến vai trò trợ giúp pháp lý của Luật sư 63 2.2 Khái quát về cơ sở pháp lý và Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội trong hoạt động trợ giúp pháp lý 68
2.2.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư ở thành phố Hà Nội 68 2.2.2 Khái quát về Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội trong công tác trợ giúp pháp lý 70
2.3 Thực tiễn vai trò của Luật sư Đoàn luật sư thành phố Hà Nội trong trợ giúp pháp lý 73
2.3.1 Thực tiễn vai trò của Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội trong hoạt động
tư vấn pháp luật 74 2.3.2 Thực tiễn vai trò của Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội trong hoạt động tham gia tố tụng 80 2.3.3 Thực tiễn vai trò của Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội trong hoạt động đại diện ngoài tố tụng 83 2.3.4 Thực tiễn vai trò của Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội trong hoạt động hòa giải, hướng dẫn thủ tục hành chính 85 2.3.5 Thực tiễn vai trò của Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội trong hoạt động tuyên truyền, phố biến pháp luật, hoàn thiện pháp luật liên quan đến trợ giúp pháp lý 86
2.4 Thực tiễn hiệu quả vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý ở Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội 88
2.4.1 Số lượng Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý và số lượng các vụ việc được Luật sư trợ giúp pháp lý tại Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội 89
Trang 72.4.2 Hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư ở Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cơ bản phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, không xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của các chủ thể khác 90
2.4.3 Hầu hết đối tượng được Luật sư ở Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội trợ giúp pháp lý đều cảm thấy hài lòng về thái độ và chất lượng trợ giúp pháp lý của Luật sư 90
2.4.4 Các vướng mắc liên quan đến pháp luật cơ bản được Luật sư tháo gỡ, từ đó, quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý và các chủ thể liên quan được bảo vệ, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho họ 91
2.5 Đánh giá chung về vai trò của Luật sư ở Đoàn luật sư thành phố Hà Nội trong hoạt động trợ giúp pháp lý 92
2.5.1 Những thành tựu 92
2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 96
2.5.2.1 Những hạn chế 96
2.5.2.2 Nguyên nhân 98
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 101
Chương 3 NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG 102
TRỢ GIÚP PHÁP LÝ 102
3.1 Các quan điểm và yêu cầu về việc nâng cao vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý 102
3.1.1 Quan điểm về việc nâng cao vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý 102
3.1.2 Yêu cầu về việc nâng cao vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý 106
3.2 Các giải pháp chung nhằm nâng cao vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý 109
3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về trợ giúp pháp lý 109
3.2.2 Tăng cường công tác thông tin, truyền thông về trợ giúp pháp lý nói chung và quyền được trợ giúp pháp lý của người dân nói riêng để người dân có cơ hội tiếp cận và nắm bắt được vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý 111
3.2.3 Kiện toàn, nâng cao năng lực, thực hiện tốt chính sách khen thưởng, kỷ luật đối với Luật sư trong trợ giúp pháp lý 114
3.2.4 Tăng cường trách nhiệm lãnh đạo, giám sát, quản lý nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền đối với hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư 117
Trang 83.2.5 Tăng cường hợp tác quốc tế về trợ giúp pháp lý 118
3.3 Các giải pháp nâng cao vai trò của Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội trong trợ giúp pháp lý 120
3.3.1 Tiếp tục xây dựng và thực hiện cơ chế nghĩa vụ trợ giúp pháp lý của Luật sư ở thành phố Hà Nội 120 3.3.2 Có chính sách thu hút các Luật sư giàu kinh nghiệm nghề nghiệp tham gia trợ giúp pháp lý, đồng thời khuyến khích, tạo sự chủ động cho các Luật sư trẻ trong công tác trợ giúp pháp lý ở thành phố Hà Nội 122 3.3.3 Đề ra các tiêu chí về kinh nghiệm hành nghề đối với các Luật sư khi tham gia vào công tác trợ giúp pháp lý 123 3.3.4 Tăng cường sự kiểm tra, giám sát của Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội đối với các Luật sư; xây dựng cơ chế phối hợp thuận lợi và hợp lý giữa các cơ quan liên quan đến việc thực hiện trợ giúp pháp lý của Luật sư 123 3.3.5 Xây dựng cơ chế lấy ý kiến phản hồi của các đối tượng được trợ giúp pháp lý để làm căn cứ đánh giá hiệu quả trợ giúp pháp lý của các Luật sư ở thành phố Hà Nội 126 3.3.6 Vận dụng linh hoạt các hình thức, đổi mới phương pháp trợ giúp pháp lý của Luật sư ở thành phố Hà Nội 127 3.3.7 Bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc và kinh phí hoạt động cho Luật
sư Đoàn luật sư thành phố Hà Nội 129 3.3.8 Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm phát huy các nguồn lực, hỗ trợ các Luật sư trong trợ giúp pháp lý 130 3.3.9 Cần có sự chuyên môn hóa trong các lĩnh vực trợ giúp pháp lý của Luật sư 131
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 133 KẾT LUẬN 134 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trợ giúp pháp lý là chức năng quan trọng trong hệ thống tư pháp của mọi quốc gia, đặc biệt là đối với những đối tượng người nghèo và nhóm yếu thế trong xã hội Qua thực tiễn hoạt động, trợ giúp pháp lý đã chứng minh là “cầu nối” quan trọng để người nghèo và đối tượng yếu thế có thể tiếp cận công lý
Nhìn thấy được vai trò quan trọng của trợ giúp pháp lý, Chính phủ Việt Nam
đã nỗ lực thành lập hệ thống trợ giúp pháp lý trong toàn quốc vào 1997 Đây là cột mốc quan trọng và rõ nét trong hệ thống tư pháp của Việt Nam Đồng thời thể hiện
sự chăm lo, quan tâm của Đảng và Nhà nước đến các đối tượng nghèo và thiệt thòi trong xã hội Cho đến nay, hệ thống trợ giúp pháp lý của Việt Nam đã phát triển và trở thành một trong những bộ phận quan trọng của đời sống pháp lý và mục đích của
nó là hỗ trợ người dân tiếp cận công lý Trải qua một thời gian dài đi vào đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý đã được hình thành và hoàn thiện thông qua Luật trợ giúp pháp lý được ban hành ngày 29 tháng 06 năm 2006 nhằm khẳng định vị trí, vai trò của mình trong hệ thống tư pháp, tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển bền vững cho
cả hệ thống trợ giúp pháp lý
Công tác trợ giúp pháp lý sau 20 năm hình thành và phát triển đã đạt được những kết quả quan trọng, thành lập nhiều trung tâm trợ giúp pháp lý, không chỉ dừng lại ở việc tranh tụng tại Tòa án đối với các vụ án hình sự, hoạt động tham gia
tố tụng của tổ chức trợ giúp pháp lý còn được hiểu là việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự trong vụ án dân sự, lao động đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Luật sư tham gia vào công tác trợ giúp pháp lý tăng cả về số lượng và chất lượng Qua thực tiễn ở Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, với trách nhiệm nghề nghiệp, các luật sư đã tích cực tham gia vào công tác tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp
lý miễn phí cho người nghèo, các đối tượng yếu thế và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ và tạo niềm tin cho xã hội Hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí của Luật sư thể hiện khá sôi nổi, với nhiều chiến dịch tuyên truyền pháp luật, tư vấn pháp luật
Trang 10miễn phí cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, bào chữa cho người bị hại là trẻ em và phụ nữ bị xâm hại, bạo hành …
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, từ thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp
lý của Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cũng bộc lộ những khó khăn, hạn chế, yếu kém làm ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động này như: đội ngũ Luật sư, trợ giúp viên pháp lý chưa thực sự chuyên nghiệp trong tham gia tố tụng; kinh phí đảm bảo cho công tác trợ giúp pháp lý của Luật sư còn hạn chế và phân bổ các khoản chi chưa hợp lý; công tác xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý còn chậm; nhiều luật sư giàu kinh nghiệm chưa hào hứng tham gia vào hoạt động trợ giúp pháp lý hoặc tham gia với tinh thần thiếu tự nguyện, tự giác; vai trò trợ giúp pháp lý của Luật sư chưa được nhận thức đúng đắn và quan tâm đúng mực…
Hơn nữa, về mặt lý luận, hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư đã được các nhà lý luận nghiên cứu ở khía cạnh này hay khía cạnh khác, tuy nhiên, về vấn đề vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý qua thực tiễn Đoàn luật sư thành phố Hà Nội đến nay chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp nào về vấn đề này tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư thuộc Đoàn luật sư thành phố Hà Nội
Từ thực tế đó, việc nghiên cứu đề tài “Vai trò của Luật sư trong trợ giúp
pháp lý qua thực tiễn đoàn Luật sư thành phố Hà Nội” là cần thiết cả về lý luận
và thực tiễn, nhằm nâng cao vai trò của Luật sư, đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân- do dân- vì dân
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, trên phạm vi cả nước đã có một số đề tài nghiên cứu tiến sĩ, thạc sĩ, đề tài cấp Bộ và các bài báo, tạp chí, chuyên đề nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến lĩnh vực trợ giúp pháp lý, cụ thể như sau:
Về đề tài nghiên cứu cấp Bộ:
- Đề tài “Mô hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực
Trang 11hiện trong điều kiện hiện nay” do Viện khoa học pháp lý- Bộ tư pháp chủ trì thực
hiện Chủ nhiệm đề tài TS Tạ Thị Minh Lý Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, mục đích, ý nghĩa của hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó đề xuất phương hướng
tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian tới
- Đề tài “Luận cứ khoa học và thực tiễn xây dựng pháp lệnh trợ giúp pháp
lý” do Viện khoa học pháp lý- Bộ tư pháp chủ trì thực hiện Chủ nhiệm đề tài TS
Tạ Thị Minh Lý Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng Pháp lệnh trợ giúp pháp lý thông qua việc phân tích, đánh giá, so sánh các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong thời gian qua
Các luận án tiến sĩ, luật văn thạc sĩ:
- Luận án tiến sĩ Luật học "Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt
Nam trong điều kiện đổi mới" của Tạ Thị Minh Lý Luận án đã tập trung nghiên
cứu cơ sở lý luận, pháp lý của điều chỉnh pháp luật và điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý; thực trạng điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý và phương hướng hoàn thiện việc điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý trong điều kiện đổi mới
- Luận văn thạc sĩ Luật học: "Hoàn thiện pháp luật về người thực hiện trợ
giúp pháp lý ở Việt Nam" của Vũ Hồng Tuyến Luận văn tập trung nghiên cứu cơ
sở lý luận, pháp lý và thực tiễn về người thực hiện trợ giúp pháp lý, từ đó có các giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật về người thực hiện trợ giúp pháp lý
- Luận văn thạc sĩ Luật học "Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý" của Phan
Thị Thu Hà Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền được trợ giúp pháp lý và các giải pháp nhằm bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người dân
- Luận văn thạc sĩ Luật học "Phát triển trợ giúp pháp lý ở cơ sở" của
Đặng Thị Loan Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về các mô hình trợ giúp pháp lý ở cơ sở và đưa ra các giải pháp để phát triển mô hình trợ giúp pháp lý ở cơ sở
- Luận văn thạc sĩ Luật học "Chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt
Nam" của Phạm Quang Đại Luận văn đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn vấn đề
Trang 12chất lượng hoạt động trợ giúp pháp lý cũng như làm rõ thực trạng chất lượng trợ giúp pháp lý hiện nay và quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý
- Luận văn thạc sĩ Luật học ” Hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư ở Việt
Nam hiện nay” của Trần Thị Việt Hà Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận
và thực tiễn, thực trạng, phương hướng hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý và pháp luật về luật sư để bảo đảm cho vai trò của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý đạt kết quả tốt nhất
Ngoài ra còn một số bài viết của các tác giả đăng trên tạp chí chuyên ngành như:
- Bộ tư pháp, Tạp chí dân chủ và pháp luật Sách chuyên đề “ Xây dựng Luật
trợ giúp pháp lý”, Nxb Tư pháp
- Bài viết “Bàn về khái niệm trợ giúp pháp lý” của tác giả Tạ Thị Minh Lý,
đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật tháng 10/2005
- Bài viết “Những nội dung cơ bản của đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp
lý giai đoạn 2015-2025” của Cục trợ giúp pháp lý- Bộ tư pháp, đăng trên Tạp chí
dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 9/ 2015
- Bài viết “Giải pháp thúc đẩy Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý” của tác giả
Nguyễn Thị Vân Hằng, đăng trên Tạp chí dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 9/ 2015
- Bài viết “Thực trạng xã hội hóa công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn
thành phố Hà Nội” của Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố Hà Nội, đăng trên Tạp
chí dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 9/ 2015
- Bài viết “Tham gia hoạt động tố tụng của trợ giúp viên pháp lý” của tác giả
Nguyễn Minh Chánh, đăng trên Tạp chí dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 9/ 2015
- Bài viết “Người được trợ giúp pháp lý theo Luật trợ giúp pháp lý năm 2006” của
tác giả Bùi Đức Độ, đăng trên Tạp chí dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 9/ 2015
- Bài viết “Huy động nguồn lực tài chính cho công tác trợ giúp pháp lý” của tác
giả Đặng Công Khôi, đăng trên Tạp chí dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 9/ 2015
Nhìn chung, các công trình trên đã nghiên cứu các mặt, các khía cạnh khác nhau của hoạt động trợ giúp pháp lý như nghiên cứu mô hình tổ chức và hoạt động
Trang 13trợ giúp pháp lý; về quyền được trợ giúp pháp lý; chất lượng trợ giúp pháp lý ở Việt Nam; nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm trợ giúp pháp lý; thực trạng hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam… Trong phạm vi nghiên cứu của mình, các công trình
đã làm sáng tỏ được những nội dung liên quan đến trợ giúp pháp lý nhưng chủ yếu chỉ tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về hoạt động trợ giúp pháp lý; một số công trình được thực hiện trong giai đoạn trước khi có Luật trợ giúp pháp lý năm
2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành nên không còn phù hợp với thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý trong giai đoạn mới
Hơn nữa, các công trình nghiên cứu nói trên chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạt động trợ giúp pháp lý trong phạm vi toàn quốc, ở tầm vĩ mô Về vấn đề vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý qua thực tiễn Đoàn luật sư thành phố Hà Nội đến nay chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp, chuyên sâu, toàn diện và tổng thể cả về
lý luận và thực tiễn nào về vấn đề này, đặc biệt là đi sâu vào vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý qua thực tiễn ở Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội là công trình
hoàn toàn mới Vì vậy, với đề tài "Vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý qua
thực tiễn Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội ", tác giả luận văn sẽ đi sâu phân tích
làm sáng tỏ các vấn đề có liên quan cả về mặt lý luận và thực tiễn về vai trò của Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội trong trợ giúp pháp lý, góp phần tìm ra giải pháp, định hướng nâng cao vai trò của Luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về vai trò của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý qua thực tiễn Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, trên cơ sở đó đánh giá về thực trạng vai trò trợ giúp pháp lý của Luật sư Đoàn luật
sư thành phố Hà Nội Từ đó, đưa ra các quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao vai trò trợ giúp pháp lý của luật sư nói chung và Luật sư Đoàn luật sư thành phố Hà Nội nói riêng trong thời gian tới
Trang 143.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu các nội dung sau đây
- Lý luận về vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý: các khái niệm, đặc điểm của hoạt động trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư;
- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý thời gian qua Thực trạng vai trò trợ giúp pháp lý của Luật sư tại Đoàn Luật sư thành phố
Hà Nội Từ đó phát hiện những khó khăn, hạn chế, vướng mắc, bất cập, nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện
- Đề xuất các giải pháp cụ thể, có tính khả thi nhằm nâng cao vai trò của Luật
sư nói chung và Luật sư của Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội nói riêng trong trợ giúp pháp lý thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về hoạt động trợ giúp pháp lý do luật
sư thực hiện với những vấn đề liên quan như: khái niệm luật sư; trợ giúp pháp lý của Luật sư; cơ sở pháp lý của hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư; vai trò, ý nghĩa của hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là thực trạng vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý qua thực tiễn Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; thực tiễn hiệu quả vai trò của Luật sư ở Đoàn luật sư thành phố Hà Nội trong trợ giúp pháp lý; đưa ra những đánh giá chung về vai trò của Luật sư ở Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội trong trợ giúp pháp lý
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn ở cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn về vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý, thực trạng, phương hướng hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý và pháp luật về luật sư qua thực tiễn tại Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội để bảo đảm cho vai trò của luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp
lý đạt kết quả tốt nhất
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Trang 15Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Các văn kiện của Đảng, Hiến pháp, Luật trợ giúp pháp lý, Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp luận của triết học Mác - Lênin là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp cụ thể như hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê Đồng thời, tác giả còn sử dụng phương pháp khai thác và sử dụng các tư liệu thực tiễn của Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội để hoàn chỉnh luận văn
6 Đóng góp mới của luận văn
- Luận văn nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về vai trò của Luật
sư trong trợ giúp pháp lý Đưa ra một số quan điểm góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý
- Mô tả thực trạng về vai trò của Luật sư Đoàn luật sư thành phố Hà Nội trong trợ giúp pháp lý; đánh giá một cách có hệ thống về vai trò của Luật sư trong hoạt động trợ giúp pháp lý
- Trên cơ sở đó đưa ra một số quan điểm và giải pháp chung và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò của Luật sư Đoàn luật sư thành phố Hà Nội trong công tác trợ giúp pháp lý
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa thiết thực cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề vai trò trợ giúp pháp lý của luật sư qua thực tiễn Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về cơ sở
lý luận, pháp lý về trợ giúp pháp lý của luật sư; đánh giá đúng những kết quả đã đạt
Trang 16được của luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội trong hoạt động trợ giúp pháp lý, cũng như phát hiện những khó khăn, hạn chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến hoạt động này của Luật sư; từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao vai trò của luật sư trong hoạt động này Từ đó góp phần xây dựng cơ sở khoa học về vai trò trợ giúp pháp lý của Luật sư cả nước nói chung và Luật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng chính sách liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư nói chung và Luật sư của Đoàn Luật sư Hà Nội nói riêng trong thời gian tới Đồng thời, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứu
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có
3 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý
Chương 2: Thực trạng vai trò trợ giúp pháp lý của luật sư qua thực tiễn Đoàn
Luật sư thành phố Hà Nội
Chương 3: Nâng cao vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
1.1 Khái quát về Luật sư và trợ giúp pháp lý của Luật sư
1.1.1 Khái quát về Luật sư
Theo nghĩa rộng, nói đến nghề Luật là nói đến công việc chuyên môn của những người hoạt động liên quan đến pháp luật như: Thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, luật sư, chấp hành viên, giám định viên, công an….hay những nghề liên quan đến pháp luật như công chứng viên, chuyên viên pháp lý, giảng viên luật….Hiểu theo nghĩa này chúng ta dễ thấy rằng nghề luật thật đa dạng, phong phú
Cụ thể hơn theo nghĩa hẹp, khi đề cập đến nghề Luật ta thường nghĩ đến Luật sư Nghề Luật sư không giống như những nghề bình thường khác, ngoài yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì yêu cầu về nghề luật sư còn phải tuân thủ theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, đây là một nét đặc thù của hành nghề Luật sư
Ở Việt Nam, hoạt động luật sư đã có từ trước Cách mạng tháng 8/1945 Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, bộ máy tư pháp được tổ chức lại Chỉ hơn một tháng sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945 về tổ chức đoàn thể luật sư Sắc lệnh này đã quy định việc duy trì tổ chức luật sư trong đó đã có sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật của chế độ cũ về luật sư nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hoà Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946 đã khẳng định quyền tự bào chữa hoặc mượn luật sư bào chữa là quyền quan trọng của bị cáo, một trong những quyền cơ bản của công dân [31, Điều 67] Tuy nhiên, chỉ đến năm 1987, Pháp lệnh tổ chức luật sư đầu tiên được ban hành ngày thì quy định về hoạt động Luật sư mới thực sự được thể chế hóa rộng rãi Đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa lịch sử trong việc khôi phục nghề luật sư và mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật sư ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Pháp lệnh tổ chức luật sư quy định tiêu chuẩn để được công nhận là luật sư, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực giúp đỡ pháp lý của luật sư Pháp lệnh cũng quy
Trang 18định về việc tổ chức các Đoàn luật sư ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Chỉ sau gần 10 năm, ở hầu hết ở các tỉnh, thành phố đã thành lập được Đoàn luật sư, với đội ngũ luật sư lên tới hàng nghìn người Hoạt động nghề nghiệp luật sư cũng đã
có bước phát triển đáng kể Ngoài việc tham gia tố tụng, các luật sư đã từng bước
mở rộng hoạt động nghề nghiệp sang lĩnh vực tư vấn pháp luật và thực hiện các dịch
vụ pháp lý khác Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đến năm 2006 Luật Luật sư được ban hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư, tạo cơ sở pháp lý đẩy nhanh quá trình xây dựng đội ngũ luật sư, nghề luật sư mang tính chuyên nghiệp, ngang tầm với nghề luật sư ở các nước tiên tiến trên thế giới Đặc biệt, Luật Luật sư đã quy định hoàn chỉnh hệ thống các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư từ Trung ương tới các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Như vậy, so với nhiều quốc gia khác trên thế giới, nghề luật sư xuất hiện tại Việt Nam muộn hơn Đó là hệ quả trực tiếp do quá trình xâm nhập của nền văn minh phương Tây tạo ra Quá trình xây dựng, sửa đổi, ban hành những quy định pháp luật về luật sư cho thấy, nghề luật sư được Đảng và Nhà nước quan tâm Trong thời gian tới, để phát triển nghề luật sư, đáp ứng yêu cầu hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đại hội XII của Đảng xác định: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của luật sư, bổ trợ tư pháp”
Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của cá nhân luật sư Nói cách khác,phẩm chất và năng lực cá nhân của luật sư là yếu tố quyết định trong nghề luật sư Người muốn hành nghề luật phải được công nhận là luật sư Pháp luật các nước trên thế giới thường không đưa ra khái niệm luật sư mà chỉ quy định về tiêu chuẩn (qualification) để trở thành luật sư Tiêu chuẩn phổ biến
để được công nhận luật sư là:
a) Là công dân ở nước sở tại;
b) Có bằng cử nhân luật;
c) Có phẩm chất đạo đức tốt
Ngoài các tiêu chuẩn trên, muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề, tập
sự hành nghề luật sư hoặc chỉ cần đỗ kỳ thi quốc gia để được công nhận luật sư,
Trang 19điều đó còn phụ thuộc vào quy định pháp luật mỗi nước
Hiện nay theo quy định của pháp luật Việt Nam thì luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và Nhà nước trước Tòa án và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác Tại Điều 2 Luật Luật sư năm
2006 quy định "Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan,
tổ chức" [36] Tiêu chuẩn luật sư được quy định tại Điều 10 Luật Luật sư như sau
"Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân Luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì
có thể trở thành Luật sư" [36] Ngoài ra, người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 10 của Luật Luật sư muốn hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật và gia nhập một Đoàn luật sư Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì việc hành nghề luật sư còn phải tuân theo quy chế đạo đức nghề nghiệp Điều này tạo nên nét đặc thù riêng của nghề luật sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề
Như vậy, một trong những tiêu chuẩn quan trọng không thể thiếu của Luật
sư là phải được cấp thẻ hành nghề luật sư sau khi đã tốt nghiệp cử nhân Luật Chức năng của Luật sư là cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, tổ chức bao gồm việc tham gia tố tụng để bào chữa hoặc biện hộ cho bị can, bị cáo, đương sự; tư vấn pháp luật cho cá nhân, tổ chức và các dịch vụ pháp lý khác Sứ mệnh xã hội của Luật sư
là góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa Ngoài việc phải tôn trọng, tuân thủ pháp luật, Luật sư còn phải tuân theo quy tắc hành nghề, trong đó có các quy tắc đạo đức nghề nghiệp do tổ chức hiệp hội Luật sư ban hành Nguồn thu nhập của Luật sư là thù lao do khách hàng trả khi sử dụng dịch vụ
Nghề luật sư rất chú ý đến vai trò cá nhân, uy tín nghề nghiệp của Luật sư
Trang 20TS Hà Hùng Cường trong cuốn “Pháp lệnh luật sư năm 2001 với việc đáp ứng yêu
cầu hội nhập khu vực và thế giới” quan niệm “ nghề luật sư đòi hỏi tiêu chuẩn đạo
đức nghề nghiệp cao, tương tự như nghề y Luật sư mang trên vai gánh nặng niềm tin mà xã hội và khách hàng ủy thác cho họ Nếu như người bệnh tin tưởng phó thác sức khỏe, đời sống của mình vào bác sĩ vì người bệnh hy vọng rằng chính bác sĩ mới
là người có đủ khả năng cứu giúp họ, thì cũng tương tự như vậy, khách hàng đặt quyền lợi vật chất hoặc cao hơn nữa là sinh mạng, chính trị, tự do, nhân phẩm của mình vào Luật sư.” [tr 19]
Về khái niệm Luật sư theo quy định của Luật Luật sư năm 2006, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau và chia thành ba luồng quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo quy định của Điều 2 Luật Luật sư thì có thể hiểu luật sư là người có Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ luật sư, nhưng phải thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng
Quan điểm thứ hai cho rằng, khái niệm luật sư là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và được cơ quan nhà nước cấp Chứng chỉ hành nghề Khi luật sư đủ tiêu chuẩn theo luật định, được cơ quan nhà nước cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì có quyền hành nghề và đăng ký hoạt động mà không nhất thiết phải có một điều kiện nữa là gia nhập một Đoàn luật sư Theo quan điểm này thì luật sư là người đủ tiêu chuẩn theo quy định của Điều 10 Luật Luật sư và được Bộ
Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư
Quan điểm thứ ba cho rằng, Luật sư là người đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề luật sư, cụ thể là được cấp Chứng chỉ hành nghề và Thẻ luật sư, do đó khi một người được cấp Chứng chỉ hành nghề thì chưa phải là luật sư
Mỗi quan điểm nêu trêu lại đưa ra khái niệm Luật sư dựa trên những cơ sở, điều kiện khác nhau Tuy nhiên, mỗi quan điểm lại có những hạn chế nhất định Theo quan điểm thứ nhất, thì có thể dù có Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ Luật
sư vẫn chưa được gọi là luật sư Chỉ được gọi là luật sư khi một người có Chứng chỉ hành nghề luật sư, Thẻ luật sư và cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng Thực tế hiện nay, có một số người có Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ luật sư, nhưng họ
Trang 21không hành nghề trong Văn phòng luật sư hoặc Công ty luật hoặc hành nghề với tư cách cá nhân, thì không thể nói rằng, họ không phải là luật sư Theo quan điểm thứ hai, thì có thể hiểu luật sư là người có đủ tiêu chuẩn luật sư và được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư Kể từ thời điểm có Chứng chỉ hành nghề luật sư, thì người có Chứng chỉ hành nghề luật sư được gọi là luật sư Tuy nhiên, trong Luật Luật sư không có một quy định nào xác nhận người có Chứng chỉ hành nghề luật sư
là luật sư Theo quan điểm thứ ba, thì Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề luật sư, có nghĩa là được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ luật sư thì mới được gọi là Luật sư Và như vậy giấy tờ xác nhận một người là luật sư là Thẻ luật
sư, bởi vì, phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư thì mới được gia nhập Đoàn luật sư
và mới được cấp Thẻ luật sư Tuy nhiên, trong Luật Luật sư cũng không có một quy định nào xác định thời điểm một người là luật sư khi có Thẻ luật sư, mà chỉ có quy định thành viên Đoàn luật sư là các luật sư (Điều 60 Luật Luật sư)
Tổng hợp những quan điểm trên và dựa vào quy định của Luật luật sư năm
2006, tác giả đưa ra khái niệm tổng quát về Luật sư như sau: Luật sư là người tốt
nghiệp đại học chuyên ngành Luật, có chứng chỉ hành nghề Luật sư và được cấp thẻ Luật sư, có đủ sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt và thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi chung là khách hàng)
1.1.2 Khái quát về trợ giúp pháp lý của Luật sư
1.1.2.1 Khái niệm trợ giúp pháp lý
Trợ giúp pháp lý là hoạt động phúc lợi xã hội có lịch sử hơn 500 năm nay và được bắt nguồn tại Anh từ thế kỉ XV- XVI Cùng với xu hướng phát triển của các quốc gia Châu Âu, tư duy về quyền được trợ giúp pháp lý trở thành trào lưu chung,
trợ giúp pháp lý gắn liền với khái niệm “Luật cho người nghèo”
Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về trợ giúp pháp lý phụ thuộc vào tình hình chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi nước Hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới dựa trên lý luận về nhân quyền
và bảo đảm nhân quyền, coi trợ giúp pháp lý như là một biện pháp bảo đảm tư pháp dành cho người không có điều kiện kinh tế để tiếp cận sử dụng pháp luật, như pháp
Trang 22luật của Đức thì coi trợ giúp pháp lý là giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật hoặc đại diện bào chữa trước Tòa án Tại Hoa Kỳ, thuật ngữ trợ giúp pháp lý được
biết đến với thuật ngữ “Legal aid” được hiểu là cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí
cho những người không thể đáp ứng được chi phí pháp lý Tại Trung Quốc, trợ giúp pháp lý có nghĩa là cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp cho người xứng đáng được miễn phí hoặc với tỷ lệ giảm bớt hoặc trợ cấp thường trong các vụ kiện, tranh chấp Theo pháp luật của Anh và xứ Wales thì “trợ giúp pháp lý là giúp đỡ pháp lý cho những người không có khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý” Người Úc thì cho rằng “ trợ giúp pháp lý là giúp đỡ cho một người có được hoàn cảnh và điều kiện tương tự như người khác trong việc tiếp cận pháp luật, tức là tạo
ra sự công bằng khi tiếp cận với pháp luật”
Như vậy, ở một số nước trên thế giới, thuật ngữ “trợ giúp pháp lý” được thể hiện qua ba tính chất: kinh tế, pháp lý và nhân đạo Tính kinh tế và nhân đạo thể hiện ở chỗ hoạt động này nhằm giúp đỡ cho những đối tượng không có khả năng về tài chính hoặc khó khăn về tài chính để chi trả các chi phí khi tiếp cận với dịch vụ pháp lý Tính pháp lý thể hiện qua sự giúp đỡ, hỗ trợ các vấn đề có liên quan đến pháp luật
Thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" có nguồn gốc từ tiếng Anh là "legal aid" được sử dụng phổ biến trên thế giới từ giữa thế kỷ 20 Theo đó "legal aid" được
dịch ra tiếng Việt với nhiều tên gọi và thuật ngữ khác nhau Theo Từ điển Anh -
Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1997 thì "legal aid"
có nghĩa là "trợ cấp pháp lý" [20] Trong Từ điển pháp luật Anh -Việt, Nhà xuất bản Thế giới do Nguyễn Thành Minh chủ biên, 1998 thì "legal aid" trong cụm từ
"legal aid schem" (kế hoạch bảo trợ tư pháp) có nghĩa là "bảo trợ tư pháp"
Trong một số tài liệu khác còn dịch là "hỗ trợ pháp luật", "hỗ trợ pháp lý" hoặc
"hỗ trợ tư pháp" Từ điển Anh - Việt, Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Khoa học
xã hội và nhân văn quốc gia (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1999)
không đưa ra thuật ngữ chung bằng tiếng Việt về cụm từ "legal aid" mà diễn giải
Trang 23nghĩa của thuật ngữ này bằng tiếng Việt là "lấy tiền từ công quỹ để trả chi phí cho
việc cố vấn hoặc làm đại diện pháp lý" [46]
Ở Việt Nam, thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được sử dụng trong các tài liệu nghiên cứu từ năm 1995, bắt đầu từ Đề án nghiên cứu về hoạt động trợ giúp pháp
lý ở Việt Nam của Bộ Tư pháp Đến năm 1996, thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" được
sử dụng trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Mô hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay" của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp Năm 1997, thuật ngữ này được sử dụng trong Quyết định số 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Tiếp đó, các văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện Quyết định 734/TTg
và một số văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực khác cũng đề cập đến thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" như Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật
sư ban hành kèm theo Quyết định số 356b/2002/QĐ-BTP ngày 05/8/2002 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp…
Khái quát về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam Nói một cách chung nhất, trợ giúp pháp lý là việc giúp đỡ pháp lý (tư vấn pháp luật, hòa giải, đại diện, bào chữa, kiến nghị) miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo và đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật nhằm giải toả vướng mắc pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật để họ tự mình biết cách ứng xử phù hợp với pháp luật, thực hiện pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Theo nghĩa rộng, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định Bằng các hoạt động tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho công dân bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trong cách tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội
Trang 24Theo nghĩa hẹp, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước cho người nghèo và được hưởng chính sách ưu đãi thông qua hình thức tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho công dân bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng trong cách tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội Khái niệm trợ giúp pháp lý nêu trên đã chỉ rõ mục đích của trợ giúp pháp lý là hướng tới bảo đảm thực hiện công bằng xã hội, phù hợp với điều kiện ngân sách nhà nước phải chi trả cho hoạt động trợ giúp pháp lý
Theo Điều 3, Luật trợ giúp pháp lý đã được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã đưa ra khái niệm về trợ giúp pháp lý
như sau: "trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người
được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, giúp người được trợ giúp pháp
lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp
và vi phạm pháp luật".[37]
Như vậy, tuy có nhiều cách gọi khác nhau có cùng nghĩa với thuật ngữ
"trợ giúp pháp lý" nhưng thuật ngữ "trợ giúp pháp lý" có nghĩa chung nhất, rõ nhất nêu bật được sự giúp đỡ, hỗ trợ đối với những trường hợp có khó khăn về mặt pháp lý, thể hiện tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc và khái niệm trợ giúp pháp lý được quy định tại điều 3 Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 là phù hợp hơn cả
Từ khái niệm trên, có thể thấy bản chất của hoạt động trợ giúp pháp lý được nhận diện ở những đặc điểm sau đây:
- Trợ giúp pháp lý là một loại hình dịch vụ pháp lý do những người có trình
độ, am hiểu pháp luật thực hiện trên cơ sở pháp luật nhằm phục vụ để thỏa mãn nhu cầu cần giúp đỡ về mặt pháp lý của người nghèo và đối tượng chính sách thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng, giúp đỡ thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giải quyết khiếu nại…Đây là một loại
Trang 25hình dịch vụ pháp lý đặc thù bởi chủ thể thực hiện bao gồm Nhà nước và xã hội, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt tổ chức thực hiện; về mục đích, đối tượng: giúp đỡ về pháp luật cho những người có hoàn cảnh đặc biệt không đủ khả năng để
sử dụng các dịch vụ pháp lý thông thường như: người nghèo, người có công với cách mạng, người khuyết tật, trẻ em, người già cô đơn không nơi nương tựa…; về nội dung dịch vụ cung cấp: giúp đỡ về pháp luật thông qua các hình thức như tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, giúp đỡ thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục hành chính, giải quyết khiếu nại…; về quy trình thực hiện: trên cơ sở các nguyên tắc và quy định của pháp luật, nhằm bảo đảm chất lượng và mục đích của nó là giúp đỡ, hỗ trợ mà không phải là cung cấp dịch vụ có tính chất ngang giá; miễn hoặc giảm phí) Tính chất đặc thù của trợ giúp pháp lý thể hiện rõ nét nhất đó là trợ giúp pháp lý không phải là dịch vụ pháp
lý có tính chất ngang giá, thỏa thuận giữa chủ thể cung cấp và đối tượng cung cấp
mà nó có mục đích giúp đỡ, hỗ trợ cho những người có hoàn cảnh đặc biệt (không có khả năng tiếp cận với dịch vụ pháp lý có thu phí) tiếp cận và sử dụng pháp luật để nâng cao nhận thức pháp luật, tự bảo vệ hoặc được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nhằm bảo đảm công bằng trong tiếp cận pháp luật giữa nhóm người này với những người khác có điều kiện kinh tế trong xã hội
- Trợ giúp pháp lý chứa đựng tính nhân văn sâu sắc, bởi mục tiêu hướng tới, đối tượng phục vụ là những người có hoàn cảnh đặc biệt, cần phải được nhà nước và
xã hội quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ Sự hỗ trợ này sẽ góp phần chia sẻ, giảm bớt những khó khăn của những người yếu thế, tạo sự công bằng trong xã hội
- Trợ giúp pháp lý là một loại dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, có đầy
đủ những đặc trưng của dịch vụ công như: được xác định là một trong những chức năng xã hội của nhà nước; đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý là những người yếu thế, người không có đủ điều kiện tiếp cận với các dịch vụ pháp lý có thu, cần có
sự trợ giúp của Nhà nước; các chi phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý chủ yếu do ngân sách Nhà nước đảm bảo
- Trợ giúp pháp lý mang tính pháp lý, thể hiện qua phương thức hoạt động
Trang 26và mục đích hướng tới của nó Tính pháp lý của trợ giúp pháp lý còn thể hiện ở chỗ trợ giúp pháp lý là một trong các biện pháp thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống, bởi Nhà nước phải có trách nhiệm tạo ra các cơ chế
để giúp người dân biết đến các quy định pháp luật để thực hiện, sử dụng, tuân thủ trong cuộc sống để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đặc biệt khi Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật và giải quyết các vấn đề phát sinh hàng ngày trên cơ sở pháp luật thì yêu cầu cần phải giúp cho người dân hiểu biết pháp luật trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
- Trợ giúp pháp lý có mục đích giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật, góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công
lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật Mục đích ở đây bao hàm cả mục đích trực tiếp (giúp người được trợ giúp pháp
lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật) và mục đích gián tiếp- mục đích chung (góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật)
- Trợ giúp pháp lý là hoạt động được Nhà nước khuyến khích, động viên
và huy động lực lượng xã hội tham gia rộng rãi với nhiều hình thức phong phú Trợ giúp pháp lý được xác định là trách nhiệm của Nhà nước, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt để huy động sức mạnh của toàn xã hội Nhà nước khuyến khích, động viên Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư, luật sư, cơ quan, tổ chức, các nhân khác tham gia vào hoạt động trợ giúp pháp lý Trợ giúp pháp lý thuộc chức năng xã hội của Nhà nước nhằm góp phần khắc phục
sự bất bình đẳng trong tiếp cận với pháp luật và xóa nghèo về pháp luật Thông qua đó, góp phần thiết lập sự ổn định về chính trị, bảo vệ chế độ chính trị và các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước, làm tăng niềm tin của người dân và chế
độ Trợ giúp pháp lý là một trong những phương thức có hiệu quả để Nhà nước giải quyết các mối quan hệ xã hội đang có sự bất ổn, giữ đoàn kết cộng đồng, bảo
Trang 27đảm ổn định trật tự và an toàn xã hội
1.1.2.2 Khái niệm trợ giúp pháp lý của Luật sư
Luật sư là một nghề xuất hiện sớm trong lịch sử, tồn tại gắn liền với luật pháp, tòa án và công lý Để có được vị trí trong xã hội như hiện nay, nghề luật sư đã trải qua quá trình hình thành, theo sự phát triển của nền văn minh nhân loại Quá trình này được khởi đầu bằng việc công nhận sự bình đẳng trong xét xử Thời Hy Lạp cổ đại, người đứng đầu nhà nước A-ten, Pe-ri-cơ-lét (Pericles 495 - 429) đã tạo
ra những tiền đề cần thiết cho quyền bào chữa được hiện hữu trước tòa - một quyền đặc thù của nghề luật sư: “toàn thể những ai tham dự phiên tòa đều có quyền công khai kết tội hoặc bào chữa cho bị can” [47, tr 223] Đến thời La Mã cổ đại, luật sư bắt đầu được công nhận như một nghề thực hiện quyền bào chữa Những hình thái
xã hội trong lịch sử đã chứng minh vai trò của luật sư trong đời sống Hiện nay, đó
là một nghề không thể thiếu trong xã hội Luật sư có thể đảm nhận nhiều loại công việc khác nhau, không chỉ liên quan đến tranh tụng, tư vấn, mà còn trong lĩnh vực hành chính, lập pháp… Đây là một nghề có tính thích ứng xã hội cao, phục vụ nhu cầu của nhiều chủ thể, như cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và nhà nước
Tham gia trợ giúp pháp lý là bổn phận, trách nhiệm với xã hội, là đóng góp
có ý nghĩa rất nhân văn của Luật sư Với trình độ và kỹ năng của mình, các luật sư hành nghề khi trợ giúp pháp lý, bảo vệ quyền lợi của người nghèo sẽ ưu thế hơn bất
cứ thành phần nào khác Điều 31, Luật Luật sư năm 2006 cũng đã quy định nghĩa vụ
trợ giúp pháp lý miễn phí của các luật sư: “Khi thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí,
luật sư phải tận tâm với người được trợ giúp như đối với khách hàng trong các vụ việc có thù lao” [36]
Tại điều 6, Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định “Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; khuyến khích tạo điều kiện để Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức hành nghề luật sư, luật sư, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia đóng góp, hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý” [37]
Tại điều 8, Luật luật sư năm 2006 quy định “Nhà nước khuyến khích Luật sư
Trang 28và các tổ chức hành nghề Luật sư tham gia hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí” [36] Bộ quy tắc mẫu đạo đức hành nghề Luật sư do Bộ tư pháp ban hành cũng có quy định “thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách là nghĩa vụ cao cả của Luật sư Khi làm trợ giúp phải tận tâm với công việc và không được đòi hỏi bất kì lợi ích nào từ người mình có trách nhiệm trợ giúp [3] Các quy định trên là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc hiến định của Nhà nước ta
Trong phạm vi hành nghề của mình, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí ở một số các lĩnh vực, như: tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự; tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ việc về tranh chấp dân sự, đất đai, hôn nhân và gia đình, lao động, hành chính; thực hiện tư vấn pháp luật miễn phí; tham gia đại diện ngoài tố tụng cho người được trợ giúp pháp lý để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật…
Xét về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở Việt Nam cả về lý luận và thực tiễn, có thể rút ra khái niệm về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở
Việt Nam như sau: Hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư ở Việt Nam là tổng
thể những công việc, nhiệm vụ của luật sư thực hiện để người được trợ giúp pháp
lý tiếp cận và sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí nhằm thỏa mãn nhu cầu nâng cao nhận thức pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng chính sách, đồng thời góp phần bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan,
tổ chức và cá nhân tuân thủ đúng pháp luật
1.1.2.3 Đặc điểm trợ giúp pháp lý của Luật sư
Hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư mang đầy đủ những đặc điểm chung của trợ giúp pháp lý, ngoài ra lại có những đặc điểm riêng như sau:
- Người thực hiện trợ giúp pháp lý là Luật sư: Nhìn chung trên thế giới hoạt
động trợ giúp pháp lý chủ yếu được thực hiện bởi đội ngũ luật sư chuyên nghiệp
Trang 29Theo pháp luật của các nước thì Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý có tên gọi khác nhau:
+ Luật sư nhân viên (Luật sư công/Luật sư Nhà nước/Luật sư trợ giúp pháp lý) được tuyển dụng vào làm việc tại tổ chức trợ giúp pháp lý để trực tiếp thực hiện trợ giúp pháp lý, hưởng lương hàng tháng từ ngân sách Nhà nước và thực hiện vụ việc theo sự phân công của tổ chức trợ giúp pháp lý Các chức danh này hiện có ở
đa số các nước như: Philippine, Mỹ, Israel, Hàn Quốc, Canada; bang Victoria của
Úc, Nam Phi, Ailen, Nhật Bản, Argentina, Đài Loan…
+ Luật sư tư/luật sư hành nghề tự do theo pháp luật về luật sư: các luật sư này
là thành viên của Hiệp hội luật sư (hoặc Đoàn Luật sư), ký kết hợp đồng với tổ chức trợ giúp pháp lý để thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý và được trả thù lao theo vụ việc (ví dụ: Hà Lan, Malaysia, Nam Phi, Đài Loan, Moldova, Ailen, Nhật Bản, Israel), một số nước thì tổ chức hành nghề luật sư ký hợp đồng với tổ chức trợ giúp pháp lý và giao vụ việc cho luật sư là nhân viên của tổ chức mình (ví dụ: Mỹ, Indonesia) Các nước áp dụng cách thức huy động xã hội thực hiện trợ giúp pháp lý thông qua cơ chế ký hợp đồng và hỗ trợ kinh phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý
đa huy động được đông đảo lực lượng xã hội tham gia, đồng thời có thể kiểm tra, giám sát hoạt động trợ giúp pháp lý do xã hội cung cấp nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý Để có cơ sở trả kinh phí cho luật sư các nước đều ban hành biểu phí cho vụ việc, có thể khoán cho từng loại vụ việc hoặc có thể tính toán cụ thể theo thời gian thực hiện từng vụ việc trợ giúp pháp lý
Ở Việt Nam, như đã phân tích ở mục 1.1.1, cử nhân Luật sau khi tốt nghiệp
và có chứng chỉ hành nghề và thẻ Luật sư thì chính thức được công nhận là Luật sư
Họ có trách nhiệm tham gia trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng chính sách
và nhóm người yếu thế trong xã hội theo quy định của pháp luật
Khi thực hiện trợ giúp pháp lý, luật sư phải có trách nhiệm tuân thủ nghiêm chỉnh các quy tắc hành nghề, đó là:
a) Tuân thủ pháp luật;
b) Trung thực và tôn trọng sự thực khách quan;
Trang 30c) Giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, phẩm giá luật sư;
d) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp của mình Ngoài việc tuân thủ nghiêm chỉnh các nguyên tắc hành nghề, các quy tắc đạo đức nghề nghiệp (trách nhiệm nghề nghiệp), các luật sư còn có trách nhiệm lương tâm (là trách nhiệm đối với cộng đồng) trong khi thực hiện trợ giúp pháp lý Khi thực hiện dịch vụ pháp luật miễn phí, luật sư phải trung thực, khách quan, tận tâm vì quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng được trợ giúp pháp lý, Luật sư phải có trách nhiệm thực hiện nhanh chóng các đề nghị trợ giúp của Trung tâm trợ giúp pháp lý; không được từ chối vụ việc đã nhận, trừ trường hợp có lý do chính đáng
Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho các đối tượng yếu thế trong
xã hội thông qua các hình thức khác nhau như sau: thứ nhất, thông qua Trung tâm trợ giúp pháp lý của nhà nước với tư cách là cộng tác viên; thứ hai, cá nhân luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thông qua tổ chức hành nghề luật sư của mình; thứ ba,
luật sư phối hợp với các tổ chức xã hội khác như: Hội luật gia, Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ để
thực hiện trợ giúp pháp lý; thứ tư, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo Khoản 2
Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
- Đối tượng được trợ giúp pháp lý hướng đến chủ yếu là người nghèo, người
có công với cách mạng, nhóm người yếu thế trong xã hội: Bằng cách con đường
tiếp cận trợ giúp pháp lý khác nhau thì đối tượng tiếp được nhận trợ giúp pháp lý
từ phía luật sư cũng đa dạng và khác nhau Theo Điều 10 Luật trợ giúp pháp lý 2006 quy định:
“Người được trợ giúp pháp lý:
1 Người nghèo
2 Người có công với cách mạng
3 Người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa
4 Người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” [37]
Những đối tượng kể trên là những đối tượng chủ yếu có sự thiếu thốn về vật
Trang 31chất, điều kiện sống - vốn là những điều kiện quyết định sự sinh tồn của con người trong xã hội Những hạn chế về điều kiện kinh tế thường kéo theo những hạn chế về nhận thức pháp luật, dễ bị tổn thương hơn, không có khả năng tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, dễ bị các chủ thể khác xâm hại Các chủ thể này cũng thường xuyên rơi vào vị thế bị thiệt thòi
do không có khả năng tự bảo vệ, thiếu điều kiện tiếp cận thông tin và sử dụng nguồn lực, dịch vụ… Về mặt tâm lý, họ là những người dễ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của đói nghèo, ức chế, dễ bị chèn ép, lợi dụng, lạm dụng nên hay bi quan, chán nản và quyền công dân, quyền con người của họ dễ bị vi phạm, dễ dẫn đến tiêu cực hoặc vi phạm pháp luật Vì vậy, họ là đối tượng chủ yếu của trợ giúp pháp
lý, trợ giúp pháp lý với tư cách là một dịch vụ pháp lý miễn phí sẽ tạo ra cơ hội cho những đối tượng này được tiếp cận, chia sẻ thông tin, giảm ức chế, sử dụng dịch vụ khi có nhu cầu hoặc khi có vướng mắc mà không bị cản trở bởi các điều kiện kinh tế, vị thế xã hội
+ Người nghèo: là người đạt chuẩn nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ trong từng giai đoạn Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Theo Quyết định, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 gồm tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
Đối với tiêu chí về thu nhập, quy định chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị là 900.000 đồng/người/tháng
Ngoài việc xác định chuẩn nghèo theo thu nhập, Thủ tướng Chính phủ nhất trí việc xác định hộ nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều, theo đó có 5 chiều được xác định đó là: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sinh hoạt vệ sinh môi trường và tiếp cận thông tin
+ Người có công với cách mạng: nhóm này có rất nhiều đối tượng khác nhau
và dễ nhận biết thông qua các giấy tờ như: thẻ thương binh, huân huy chương…Họ
là người được tặng kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc bằng “ có công với
Trang 32nước”; người trong gia đình được tặng kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc bằng “ có công với nước” trước Cách mạng tháng Tám năm 1945; người được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến; người trong gia đình được tặng Huân chương kháng chiến hoặc Huy chương kháng chiến; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Lực lượng vũ trang nhân dân; Anh hùng lao động; Thương binh; bệnh binh; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tù đày; người có công giúp
Nhìn chung, hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể khái niệm như thế nào là “cô đơn”, chẳng hạn như người già mặc dù sống chung một mái nhà với con cái, nhưng bị hắt hủi, tranh chấp tài sản…thì có được gọi là cô đơn? Quy định
“không nơi nương tựa” cũng chưa rõ ràng, vì trường hợp nếu một người sống một mình, không có con cái nhưng được chính quyền, đoàn thể, tổ chức từ thiện giúp đỡ…là nơi để nương tựa thì có được xem là “không nơi nương tựa” hay không?
+ Người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn được trợ giúp pháp lý là người thường xuyên sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biết khó khăn theo quy định của pháp luật Vậy đối với những người dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú tại vùng có điều kiện kinh tế-
xã hội đặc biệt khó khăn nhưng lại sống lâu dài ở địa bàn khác không phải là vùng
có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn thì có được coi là đối tượng được trợ giúp pháp lý hay không? Đây là là vấn đề cần hoàn thiện pháp luật liên quan đến đối
Trang 33tượng được trợ giúp pháp lý
Ngoài ra, trong khuôn khổ các dự án hợp tác quốc tế, các đối tượng khác cũng được hưởng trợ giúp pháp lý như: tất cả người chưa thành niên không phân biệt trẻ em hay người chưa thành niên từ 16 tuổi trở lên đến dưới 18 tuổi, người mới ra tù tái hòa nhập cộng đồng; người được trợ giúp pháp lý theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình, của tội phạm mua bán người…
Như vậy, đối tượng được trợ giúp pháp lý chủ yếu là nhóm người nghèo, người yếu thế trong xã hội, không có điều kiện để tìm đến các dịch vụ pháp lý có thù lao Nhờ hoạt động trợ giúp pháp lý, họ được chia sẻ khó khăn về mặt pháp lý, điều này thể hiện tính nhân văn sâu sắc của hoạt động này
- Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý thường là người có chuyên môn, am hiểu
pháp luật sâu rộng và có trách nhiệm nghề nghiệp cao: trợ giúp pháp lý bao gồm
các hình thức như: tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng, bào chữa tại phiên tòa; đại diện ngoài tố tụng; hòa giải, hướng dẫn thủ tục hành chính…Muốn thực hiện được các hoạt động trên cho người được trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp
lý phải là người có kiến thức pháp luật sâu rộng, cụ thể bao gồm: Trợ giúp viên pháp lý, Cộng tác viên, Luật sư và Tư vấn viên pháp luật
Khác với những chủ thể trợ giúp pháp lý khác, Luật sư là người có trình độ chuyên môn và am hiểu pháp luật sâu sắc Điều kiện để trở thành Luật sư theo quy định của Luật hiện hành là phải tốt nghiệp cử nhân Luật, trải qua khóa đào tạo Luật
sư và được cấp thẻ hành nghề Luật sư Ngoài ra, khi hoạt động chuyên môn, Luật sư phải tuân theo Biểu mẫu quy tắc hành nghề Luật sư do Bộ tư pháp ban hành Điều
đó chứng tỏ, Luật sư không chỉ có trình độ chuyên môn mà còn có lương tâm, đạo đức nghề nghiệp cao Khi hành nghề, Luật sư luôn đặt đạo đức nghề nghiệp lên hàng đầu Đặc biệt là khi tham gia trợ giúp pháp lý, đối tượng được trợ giúp pháp lý hướng đến chủ yếu là người nghèo và đối tượng yếu thế, có điều kiện kinh tế khó khăn, nên đạo đức của người Luật sư càng có vai trò quan trọng
Trên thực tế, bất kỳ Luật sư nào, từ những người đã có nhiều năm kinh
Trang 34nghiệm đến những người mới thi đỗ kỳ thi tập sự hành nghề Luật sư đều có thể đăng
ký tham gia trợ giúp pháp lý Điều này đã tạo điều kiện thu hút đông đảo sự tham gia của các Luật sư vào công tác trợ giúp pháp lý Luật sư là những người được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp Như vậy, một Luật sư khi tham gia vào công tác trợ giúp pháp lý, họ đã là những người bước đầu được cung cấp các kỹ năng cơ bản của nghề Luật sư Nhưng quan trọng hơn, các Luật sư này được hoạt động trong môi trường là các tổ chức hành nghề luật sư- nơi mà các kỹ năng hành nghề thường xuyên được trau dồi, hoàn thiện và nâng cao Tất cả những điều này giúp cho công việc trợ giúp pháp lý của Luật sư có điều kiện trở nên chuyên nghiệp và chất lượng hơn
- Hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư là hoạt động bổ trợ tư pháp: Luật sư
là một trong những chủ thể của trợ giúp pháp lý Do vậy, việc tham gia của Luật sư với tư cách là người bào chữa, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý tại Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng khác được coi là hoạt động bổ trợ tư pháp
Luật sư được coi là chủ thể hỗ trợ cho hoạt động của các cơ quan tư pháp nên tất yếu liên quan đến hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng ở tất cả các giai
đoạn tố tụng Luật sư không chỉ xuất hiện trong định chế Người bào chữa qua các
vụ án hình sự mà còn là Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự hay Người
đại diện cho đương sự trong các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động… Luật
sư không chỉ tham gia hoạt động tố tụng ở Tòa án mà còn tham gia tố tụng trọng tài trong các vụ tranh chấp thương mại giải quyết theo thủ tục Trọng tài
Khái quát lại, hoạt động của luật sư hiện diện trong tất cả mối quan hệ pháp luật, tham gia bảo trợ pháp lý cho các tổ chức và công dân ở nhiều tư cách tố tụng khác nhau, Luật sư góp phần hoàn thiện pháp luật, cải thiện chất lượng hoạt động tố tụng, làm tăng thêm tính dân chủ, công bằng tại các phiên tòa, làm giảm thiểu các vụ án oan, sai Nhờ có hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư, pháp chế xã hội chủ nghĩa được đảm bảo, tạo điều kiện cho những đối tượng là người nghèo, đối tượng chính sách, nhóm người yếu thế có điều kiện tiếp cận các dịch vụ pháp lý một cách công bằng
Trang 35- Trợ giúp pháp lý không phải là hoạt động nghề nghiệp thường xuyên của Luật sư: khác với các đối tượng khác đặc biệt là Trợ giúp viên pháp lý là viên chức
nhà nước, làm việc tại các Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, trợ giúp pháp lý là công việc chuyên môn, thường xuyên của họ Trên thực tế, Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý chủ yếu để thực hiện nghĩa vụ theo quy định của luật trợ giúp pháp lý Không nhiều Luật sư tự nguyện tham gia, do đó, hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư không mang tính chất thường xuyên, diễn ra liên tục Hơn nữa, đối tượng được trợ giúp pháp lý chủ yếu là người nghèo, đối tượng chính sách, nhóm người yếu thế trong xã hội, họ không có đủ điều kiện và khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý có thu phí, dẫn đến tâm lý e ngại khi tìm đến Luật sư để được trợ giúp pháp
lý Thay vào đó, họ sẽ tìm đến sự giúp đỡ của các trợ giúp viên pháp lý của các Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước nơi họ sinh sống để tháo gỡ những khó khăn
về mặt pháp lý của mình Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến số lượng các vụ việc trợ giúp pháp lý của Luật sư theo yêu cầu của người được trợ giúp pháp lý không nhiều, mà chủ yếu do chỉ định của cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt
là trong hoạt động bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại phiên Tòa
1.1.2.4 Nội dung, lĩnh vực, hình thức, phương thức, kinh phí thực hiện trợ giúp pháp lý của Luật sư
- Nội dung, lĩnh vực thực hiện trợ giúp pháp lý của Luật sư:
Nội dung thực hiện trợ giúp pháp lý của Luật sư là tổng hợp những yếu tố liên quan đến trợ giúp pháp lý của Luật sư như chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý; đối tượng được trợ giúp pháp lý của Luật sư; nguyên tắc thực hiện trợ giúp pháp lý của Luật sư; các hành vi bị nghiêm cấm trong quá trình Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý; vai trò của Luật sư trong trợ giúp pháp lý…
Lĩnh vực thực hiện trợ giúp pháp lý của Luật sư là phạm vi Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý Hiện nay, chủ yếu các nước trên thế giới thực hiện trợ giúp pháp lý trong lĩnh vực hình sự, dân sự mà không trợ giúp pháp lý trong vụ việc kinh doanh thương mại bởi đối tượng tham gia kinh doanh thương mại là những người giàu có, đủ khả năng chi trả chi phí cho dịch vụ pháp lý, trong khi đó bản
Trang 36chất của hoạt động trợ giúp pháp lý mang tính nhân đạo, dành cho một số đối tượng đặc biệt, có hoàn cảnh khó khăn
Lĩnh vực trợ giúp pháp lý bao gồm: Pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự; pháp luật dân sự, tố tụng dân sự và thi hành án dân sự; pháp luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về trẻ em; pháp luật hành chính, khiếu nại,
tố cáo và tố tụng hành chính; pháp luật đất đai, nhà ở, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng; pháp luật lao động, việc làm, bảo hiểm; pháp luật ưu đãi người
có công với cách mạng và pháp luật về chính sách ưu đãi xã hội khác và các lĩnh vực pháp luật khác liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, hoặc liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
- Hình thức trợ giúp pháp lý của Luật sư: Hình thức trợ giúp pháp lý nói
chung là cách thể hiện, cách tiến hành hoạt động trợ giúp pháp lý cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý Hiện nay, hình thức đại diện pháp lý - hình thức tổ chức trợ giúp pháp lý cử người đại diện bào chữa, bảo vệ cho người được trợ giúp pháp lý trước cơ quan tiến hành tố tụng là hình thức cơ bản nhất, được quy định trong chế định trợ giúp pháp lý của nhiều nước Ở Việt Nam, theo quy định của Luật, các đối tượng chính sách có thể nhờ Luật sư thực hiện các hình thức trợ giúp pháp lý từ đơn giản đến phức tạp và rất phong phú như:
+ Tư vấn giải đáp pháp luật
+ Đại diện ngoài tố tụng
+ Thực hiện bào chữa các vụ án hình sự tại Tòa
+ Tham gia phiên tòa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, lao động…
+ Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật…
- Phương thức thực hiện trợ giúp pháp lý của Luật sư: là cách thức mà chủ
thể thực hiện trợ giúp pháp lý tiến hành nhằm mục đích thực hiện các hình thức trợ giúp pháp lý cho đối tượng Luật sư có thể thực hiện trợ giúp pháp lý tại trụ sở của các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức hành nghề luật sư, hoặc trợ giúp pháp lý lưu động tại các xã, phường, thị trấn, câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, sinh
Trang 37hoạt chuyên đề pháp luật, trợ giúp pháp lý thông qua các phương tiện thông tin truyền thông
- Kinh phí thực hiện trợ giúp pháp lý của Luật sư:
Trợ giúp pháp lý là loại hình dịch vụ công, thực hiện trên nguyên tắc các đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý không phải trả phí, lệ phí hoặc bất kì một khoản thù lao nào khi được cung cấp dịch vụ
Ở một số nước trên thế giới, trợ giúp pháp lý chỉ miễn phí cho một số trường hợp đặc biệt, còn lại phần lớn có thu phí (nhưng ở mức thấp hơn so với những đối tượng bình thường khác) Ví dụ ở Singapore người được trợ giúp pháp lý miễn phí là người có thu nhập bình quân dưới 7000 USD/ năm Ở một số nước như Đức, Úc, Anh…đối với vụ án hình sự, người được trợ giúp pháp lý miễn phí nếu Tòa án tuyên đối tượng vô tội hoặc trắng án, trong trường hợp ngược lại, người bị Tòa án tuyên phạm tội phải thanh toán toàn bộ chi phí trợ giúp pháp lý, kể cả tiền thuê luật sư bào chữa cho đối tượng Ở Thụy Điển quy định đối tượng là nạn nhân của tội phạm nghiêm trọng thì được miễn phí Nhà nước sẽ trả toàn bộ các khoản chi phí trợ giúp pháp lý nếu người bị hại thắng kiện, trong trường hợp ngược lại người
bị hại thua kiện thì phải thanh toán toàn bộ chi phí, kể cả chi phí thuê luật sư bào chữa cho nạn nhân [38, tr35]
Ở Việt Nam, nguyên tắc của hoạt động trợ giúp pháp lý đó là “không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được trợ giúp pháp lý” (Khoản 1, điều 4, Luật trợ giúp pháp lý năm 2006) theo đó, dịch vụ này là miễn phí hoàn toàn, khi đến yêu cầu trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý không phải trả bất kỳ một khoản lệ phí, thù lao nào Pháp luật cấm người thực hiện trợ giúp pháp lý nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ người được trợ giúp pháp lý, sách nhiễu người được trợ giúp pháp lý Các chi phí do ngân sách nhà nước bảo đảm (thu gián tiếp thông qua tiền đóng thuế của người dân) và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ thông qua các dự án hợp tác quốc tế, Quỹ Trợ giúp pháp lý và các nguồn hỗ trợ, đóng góp khác từ các tổ chức và cá nhân và tự bản thân các luật sư
Trang 381.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sƣ
Nói đến cơ sở pháp lý của hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư ở Việt Nam là nói đến những chủ trương, chính sách, quy định pháp luật về hoạt động trợ giúp pháp lý của Luật sư Trong mỗi giai đoạn lịch sử, cùng với sự phát triển của điều kiện kinh tế - xã hội, chế định trợ giúp pháp lý từng bước hoàn thiện thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với người nghèo và đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác
Ngay sau khi giành được độc lập, cùng với sự ra đời của các sắc lệnh liên quan đến tư pháp như sắc lệnh số 46/ SL ngày 10/10/1945 về tổ chức đoàn thể Luật
sư Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức các tòa án vác các ngạch Thẩm phán Sắc lệnh số 163/SL ngày 23/03/1946 về tổ chức các Tòa án binh thì những hoạt động về trợ giúp pháp lý đã manh nha hình thành với hình thức “tư pháp bảo trợ”
Năm 1982, Việt Nam tham gia 2 Công ước lớn: Công ước về các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa và Công ước về các quyền dân sự và chính trị Việc tham gia các Công ước này đòi hỏi Nhà nước ta phải đổi mới tư duy về quyền được tiếp cận Luật sư, người có kiến thức pháp luật của mọi công dân Đây chính là tiền đề để Pháp lệnh Luật sư ra đời năm 1987 Tuy có manh nha các quy đinh về trợ giúp pháp
lý, tuy nhiên, nhìn chung trong giai đoạn này chưa có một văn bản nào quy định cụ thể về trách nhiệm và vai trò trợ giúp pháp lý của Luật sư Hoạt động này chủ yếu
do Luật sư bào chữa viên nhân dân thực hiện trong các vụ án hình sự
Ngày 18 tháng 12 năm 1987, Pháp lệnh tổ chức Luật sư ra đời tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển đội ngũ Luật sư Việt Nam Theo pháp lệnh, Luật sư thực hiện tư vấn pháp luật và các dịch vụ pháp lý khác có giảm chi phí hoặc miễn thù lao cho một số đối tượng trong những trường hợp cụ thể Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách Đây là văn bản pháp lý quan trọng, là căn cứ pháp lý cho sự ra đời, phát triển của hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý
Trang 39Năm 2001, Pháp lệnh Luật sư được thông qua, Pháp lệnh đã thiết lập cơ chế pháp chế khuyến khích, huy động đội ngũ Luật sư tham gia trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách
Ngày 05 tháng 08 năm 2002, Bộ trưởng Bộ tư pháp ban hành quy tắc mẫu về đạo đức hành nghề Luật sư kèm theo quyết định số 356/2002/QĐ- BTP Theo quy chế này, việc thực hiện trợ giúp pháp lý là nghĩa vụ cao cả của các Luật sư Khi thực hiện trợ giúp pháp lý, Luật sư phải tận tâm, tích cực thực hiện như đối với các vụ việc có thù lao
Đến năm 2006, Luật luật sư ra đời Đây là văn bản pháp lý được thể chế hóa thành luật và quy định đối tượng đặc thù cần được trợ giúp pháp lý Thể hiện sự nhận thức đúng đắn, sự quan tâm kịp thời của Đảng và Nhà nước về công tác trợ giúp pháp lý cho một nhóm đối tượng cụ thể, đánh dấu bước chuyển hóa về chất và đưa công tác trợ giúp pháp lý lên một tầm cao mới phù hợp với yêu cầu phát triển của thực tiễn đất nước
Để triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã ban hành nhiều văn bản để thực hiện, một số văn bản nổi bật như sau:
- Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;
- Nghị định số 14/2013/NĐ-CP ngày 05/02/2013 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;
- Quyết định số 792/QĐ-TTg ngày 23/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Quy hoạch mạng lưới Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước và Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008-2010, định hướng đến năm 2015;
- Quyết định số 678/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;
- Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 01/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê
Trang 40duyệt Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015-2025;
- Thông tư liên tịch số VKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý hoạt động tố tụng;
11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC Thông tư liên tịch số 209/2012/TTLT11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC BTC11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC BTP ngày 30/11/2012 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan, tổ chức trợ giúp pháp lý Nhà nước;
- Thông tư số 05/2008/TT-BTP ngày 23/9/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn
về nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý Nhà nước về trợ giúp pháp lý (được sửa đổi, bổ sung một số quy định về thủ tục hành chính tại Thông tư số 19/2011/TT-BTP ngày 31/10/2011 của Bộ Tư pháp);
- Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 05/01/2013 của Bộ Tư pháp về Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý;
- Quyết định số 02/2008/QĐ-BTP ngày 28/02/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước
Như vậy, với các văn bản trên, có thể nói pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đã điều chỉnh một cách khá toàn diện và có hệ thống về các vấn đề về trợ giúp pháp lý của Luật sư, bao gồm các khía cạnh cơ bản như: chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý là Luật sư; đối tượng được Luật sư trợ giúp pháp lý là người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn…đây là những đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong xã hội; các lĩnh vực Luật sư trợ giúp pháp lý bao gồm: dân sự, hình sự, lao động, hành chính, tố tụng dân
sự, tố tụng hình sự, hôn nhân gia đình…Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thông qua các hình thức và phương thức khác nhau như: tham gia bào chữa tại phiên Tòa, đại diện ngoài tố tụng, tư vấn pháp luật, hòa giải, hướng dẫn thủ tục hành chính…Những hoạt động này Luật sư có thể tiến hành tại trụ sở của các tổ chức trợ