1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nhân tố nhà trường và sự hỗ trợ từ gia đình, xã hội trong việc giáo dục nhân cách cho học sinh tiểu học ở nhật bản (từ nửa sau thế kỷ xx đến nay)

81 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

5 TÓM TẮT CÔNG TRÌNH Với mong muốn tìm hiểu về mối quan hệ cũng như vai trò của nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục nhân cách trẻ em Nhật Bản, nhóm đã thực hiện đề tài ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

BẬC TIỂU HỌC Ở NHẬT BẢN (TỪ NỬA SAU THẾ KỶ XX ĐẾN NAY)

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Nguyễn Quốc Khánh, Lớp Nhật 1, Khóa 2014 – 2018

Thành viên: Nguyễn Huỳnh Như, Lớp Nhật 2, Khóa 2014 – 2018

Trần Nguyễn Quỳnh Như, Lớp Nhật 2, Khóa 2014 – 2018

Trần Thị Phương Thanh, Lớp Nhật 2, Khóa 2014 – 2018

GV hướng dẫn: ThS Trần Bảo Ngọc, ngành Châu Á học, Khoa Nhật Bản học

Tp Hồ Chí Minh, Tháng 04/2017

Trang 2

1

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã nhận

sự hỗ trợ và giúp đỡ rất lớn từ quý thầy cô Trường Đại học Khoa học xã hội

và Nhân văn và Khoa Nhật Bản học

Nhóm nghiên cứu xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Phòng Quản

lý khoa học – Dự án đã tổ chức các lớp chuyên đề, tập huấn về phương pháp

và kỹ năng Nghiên cứu khoa học

Nhóm cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô Khoa Nhật Bản học đã giảng dạy, cung cấp một nền tảng kiến thức làm cơ sở để nhóm tiến hành nghiên cứu

Trên hết, chúng tôi vô cùng biết ơn sự hướng dẫn, và giúp đỡ tận tình từ cô Trần Bảo Ngọc, giảng viên hướng dẫn đề tài Cảm ơn cô đã quan tâm, đốc thúc để nhóm hoàn thành đề tài nghiên cứu đúng thời hạn, đưa ra những lời khuyên để nhóm có kinh nghiệm trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Cuối cùng, nhóm nghiên cứu kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và thành công trong công tác nghiên cứu và giảng dạy

Trân trọng

Trang 3

2

MỤC LỤC

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 5

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Tính cấp thiết của đề tài 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 8

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 10

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4.1 Đối tượng nghiên cứu 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11

5.1 Cơ sở lý luận 11

5.2 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 12

7 Kết cấu của đề tài 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NỀN GIÁO DỤC NHẬT BẢN HIỆN ĐẠI 14

1.1 Cơ sở lý luận: Khái niệm Nhân cách và giáo dục nhân cách 14

1.2 Mục tiêu và nội dung cải cách giáo dục bậc tiểu học ở Nhật Bản ở giai đoạn hiện nay (nửa sau thế kỷ XX) 16

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 24

Trang 4

3

CHƯƠNG II VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ NHÀ TRƯỜNG TRONG

VIỆC GIÁO DỤC NHÂN CÁCH TRẺ EM Ở BẬC TIỂU HỌC 26

2.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức trong chương trình học tiểu học 26

2.2 Nội dung giáo dục đạo đức trong chương trình học tiểu học 29

2.3 Hoạt động dạy và học trong nhà trường 32

2.4 Hoạt động trải nghiệm và hoạt động tập thể ngoài giờ 37

TIỂU KẾT CHƯƠNG II 41

CHƯƠNG 3 VAI TRÒ HỖ TRỢ CỦA GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG TRONG KHU VỰC ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC NHÂN CÁCH TRẺ EM Ở BẬC TIỂU HỌC 42

3.1 Vai trò của gia đình 42

3.1.1 Nề nếp, thói quen sinh hoạt 42

3.1.2 Mối quan hệ trong gia đình 46

3.2 Vai trò của cô ̣ng đồng khu vực 49

3.3 Một số đề xuất cho viê ̣c giáo du ̣c nhân cách cho ho ̣c sinh bâ ̣c tiểu ho ̣c ở Việt Nam hiê ̣n nay 54

3.3.1 Về phương diện giáo dục Nhà trường 54

3.3.2 Về phương diện giáo dục trong gia đình 55

3.3.3 Về phương diện cộng đồng 57

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 59

KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

PHỤ LỤC 70

Trang 5

4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Số giờ học của khối tiểu học trong một năm 29 Bảng 2.2: Hệ thống các môn học trong khung chương trình giáo dục học sinh cấp tiểu học 29 Bảng 2.3: Các mảng giáo dục đạo đức trong trường tiểu học Nhật Bản 31

Trang 6

5

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH

Với mong muốn tìm hiểu về mối quan hệ cũng như vai trò của nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục nhân cách trẻ em Nhật Bản,

nhóm đã thực hiện đề tài nghiên cứu về Vai trò của nhân tố nhà trường và

sự hỗ trợ từ gia đình, xã hội trong việc giáo dục nhân cách cho học sinh tiểu học ở Nhật Bản (từ nửa sau thế kỷ XX đến nay)

Mục tiêu của bài nghiên cứu là tìm hiểu về vai trò của nhà trường và vai trò của gia đình, cộng đồng xã hội trong việc hỗ trợ, phối hợp cùng nhà trường định hình, giáo dục nhân cách của trẻ em Nhật Bản bậc tiểu học – lứa tuổi quan trọng, chịu ảnh hưởng nhiều nhất với các môi trường xung quanh,

và là giai đoạn nền tảng để định hình các xu hướng tính cách sau này Từ đó đưa ra một số đề xuất trong việc giáo dục nhân cách trẻ em bậc tiểu học ở Việt Nam hiện nay Thực hiện bài nghiên cứu này, nhóm sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp tổng hợp và phân tích các tài liệu liên quan đến giáo dục cho trẻ em Nhật Bản bậc tiểu học, từ đó phân tích vai trò của nhà trường, gia đình và cộng đồng trong khu vực trong việc định hình, phát triển nhân cách cho học sinh bậc tiểu học; phương pháp đối chiếu các số liệu để chứng minh cho vai trò mang tính quyết định của nhà trường và vai trò

hỗ trợ của gia đình và cộng đồng khu vực trong giáo dục nhân cách trẻ em; phương pháp phỏng vấn trên một số phụ huynh người Nhật đang có con theo học tiểu học tại các trường tiểu học ở Nhật Bản để tìm ra những điểm chung trong cách giáo dục con của người Nhật

Qua trao đổi với giáo viên hướng dẫn, nội dung của bài nghiên cứu được thống nhất gồm 3 chương như sau: Chương 1 – Tổng quan về nền giáo dục Nhật Bản hiện đại, Chương 2 – Vai trò của nhân tố nhà trường trong việc giáo dục nhân cách trẻ em ở bậc tiểu học và Chương 3 – Vai trò hỗ trợ của gia đình và cộng đồng trong khu vực đối với việc giáo dục nhân cách trẻ em ở bậc tiểu học Chương 1 giải thích các khái niệm về nhân cách, giáo dục nhân

Trang 7

6

cách; trình bày quá trình cải cách và các nội dung mục tiêu giáo dục của Nhật Bản từ sau Thế chiến thứ II Chương 2 trình bày cách thức giáo dục, phát triển nhân cách trẻ em được áp dụng tại trường tiểu học Nhật Bản, cách phân bố số lượng môn, thời lượng tiết học, hình thức giảng dạy, nội dung một số môn học Nhân cách của học sinh tiểu học Nhật Bản không chỉ được giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng qua môn học có vai trò quan trọng nhất là môn Giáo dục đạo đức, mà còn thể hiện ở các hoạt động trong trường học, các buổi ngoại khóa

Từ đó làm rõ hơn vai trò mang yếu tố chủ đạo, quyết định của nhà trường trong việc định hình, phát triển nhân cách của học sinh tiểu học Chương 3 trình bày vai trò của gia đình và cộng đồng xã hội trong khu vực trong việc hỗ trợ nhà trường giáo dục nhân cách trẻ em thông qua các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình với trẻ, các hoạt động được tổ chức trong cộng đồng

Qua bài nghiên cứu này, nhóm đã có cái nhìn sâu hơn về nền giáo dục Nhật Bản ở bậc tiểu học Từ đó có thể lí giải được những hành vi của trẻ em Nhật Bản nói riêng và người Nhật nói chung trong cuộc sống hàng ngày, những câu chuyện về nhân cách, đức tính tốt đẹp của người Nhật mà khiến mọi người trên thế giới đều từ ngỡ ngàng, xúc động đến cúi đầu kính phục

Trang 8

7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhật Bản là một quốc gia có nền giáo dục phát triển, trong đó giáo dục đạo đức con người được Chính phủ và người dân đặc biệt chú trọng ngay từ khi học sinh ngồi vào ghế nhà trường Cho đến nay, có rất nhiều câu chuyện cảm động liên quan đến đạo đức, nhân cách cao cả của người dân Nhật Bản được lan truyền đến các quốc gia trên thế giới Điển hình trong số đó là hình ảnh người dân Nhật Bản nhường nhịn, giúp đỡ lẫn nhau, kiên nhẫn xếp hàng

để nhận hàng cứu trợ sau thảm họa động đất sóng thần kép xảy ra tại vùng Tohoku vào ngày 11 tháng 3 năm 2011 Và gần đây nhất là sau trận động đất tại tỉnh Kumamoto vào giữa tháng 4 năm 2016 thì hình ảnh đó một lần nữa lại làm sáng ngời nhân cách của con người Nhật Bản Vì sao mà trong lúc khó khăn nhất, thiếu thốn nhất, người Nhật Bản vẫn luôn nhường nhịn, chia sẻ nhau từng miếng ăn, thức uống, xếp hàng ngay ngắn để nhận hàng cứu trợ mà không có một chút phàn nàn, tranh giành hay thậm chí cướp giật nhau? Những hành vi này, đức tính này không phải tự nhiên sinh ra mà có, mà phải trải qua một quá trình giáo dục lâu dài, sống trong một môi trường mà có những người cùng ứng xử như thế Qua đó có thể thấy rằng, giáo dục con người đóng một vai trò quan trọng trong việc đình hình, phát triển nhân cách của mỗi cá nhân, từ đó có những hành vi ứng xử phù hợp Vậy giáo dục con người vào thời điểm nào là quan trọng nhất? Có thể trả lời rằng, giáo dục con người là một quá trình rèn luyện lâu dài, của cả “một trăm năm” để “trồng người”, trong đó giai đoạn “uốn cây từ thuở còn non, dạy con còn thuở con còn bi bô” nói cách khác là giai đoạn lúc trẻ còn nhỏ thì việc giáo dục, định hình và phát triển nhân cách đóng một vai trò quyết định đến hình thành các đức tính, hành vi ứng xử sau này

Xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, Việt Nam cũng đang từng ngày

cố gắng hoàn thiện, đổi mới hệ thống giáo dục, tạo nhiều cơ hội học tập suốt

Trang 9

8

đời cho người dân Đặc biệt, trong giai đoạn phát triển đất nước, cùng với xu thế hội nhập thế giới, Việt Nam cần rất nhiều nhân tài cùng nhau chung tay, góp sức xây dựng và phát triển đất nước Những nhân tài này chính là kết quả của một quá trình giáo dục lâu dài thông qua từng cấp học So với Nhật Bản, giáo dục Việt Nam vẫn còn nhiều điểm hạn chế, cần phải khắc phục Bước vào thế kỷ XXI, thì cải cách giáo dục Việt Nam đang là một vấn đề nóng hổi, đáng quan tâm của dư luận và xã hội Cải cách như thế nào, tiến hành ra sao, nội dung cần thay đổi như thế nào, là những vấn đề được đặt ra nhận được nhiều sự quan tâm của toàn thể xã hội Là sinh viên Khoa Nhật Bản học, đang học về ngôn ngữ Nhật Bản và các kiến thức về đất nước mặt trời mọc này, nhóm nghiên cứu chúng tôi hi vọng bằng khả năng hiện tại của mình, có thể làm điều gì đó để đóng góp vào quá trình phát triển của đất nước Giáo dục nhân cách một con người không chỉ là trách nhiệm của trường học, mà còn là trách nhiệm chung của cả gia đình và xã hội, điều mà dường như đang bị bỏ qua tại Việt Nam Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu của chúng tôi quyết định bắt tay vào nghiên cứu đề tài “Vai trò của nhân tố nhà trường và sự hỗ trợ từ gia đình và xã hội trong việc giáo dục nhân cách cho học sinh bậc tiểu học ở Nhật Bản (từ nửa sau thế kỷ XX đến nay) để từ việc tìm hiểu những thành tựu giáo dục Nhật Bản, rút ra những kinh nghiệm cho cải cách giáo dục ở nhà trường phổ thông Việt Nam giai đoạn hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Qua tìm hiểu của nhóm, tại Việt Nam, Nhật Bản và trên thế giới có khá nhiều sách, công trình nghiên cứu viết về đề tài giáo dục Nhật Bản Tuy nhiên, trong khả năng tìm hiểu của nhóm, hiện tại chưa có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ và vai trò giữa nhân tố nhà trường, gia đình và cộng đồng trong khu vực trong việc giáo dục nhân cách trẻ em bậc tiểu học tại Nhật Bản (từ nửa sau thế kỷ XX đến nay) Ở Việt Nam, có các công trình nghiên cứu về giáo dục Nhật Bản tiêu biểu như “Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ:

Tư tưởng cải cách giáo dục” của PGS.TS Nguyễn Tiến Lực viết về quan

Trang 10

9

điểm cải cách giáo dục của hai nhà tư tưởng Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ Từ việc so sánh sự giống và khác nhau của tư tưởng trên đưa ra nhiều giải thích về sự thành công trong việc thực thi tư tưởng cải cách của Fukuzawa tại Nhật Bản và lí do vì sao tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ hầu như không được thực thi ở Việt Nam Ngoài ra, công trình “Cải cách giáo dục tại Việt Nam và Nhật Bản – vai trò của quá trình tập đoàn hóa các trường đại học” – công trình dự thi giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học Euréka lần thứ XIV năm 2012 của Ngô Huyền Trân; Luận văn thạc sĩ “So sánh quá trình hình thành và phát triển của hệ thống giáo dục Việt Nam và Nhật Bản ( Từ cuối thế kỉ XIX đến trước chiến tranh thế giới thứ hai)” của Võ Thị Hoàng Ái;

“Giáo du ̣c Nhâ ̣t Bản hiê ̣n đa ̣i” của GS.TS Đoàn Văn An,…cũng tập trung trình bày về những yếu tố kinh tế, xã hội, văn hoá và những nguyên nhân dẫn đến sự hình thành hệ thống giáo dục Nhật Bản hiện đại

Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu đến giáo dục Nhật Bản ở Nhật Bản đã tiếp cận được như “Yêu thương không cấm đoán” của Ohmae Kenichi viết về cách giáo dục con của gia đình Ohmae; “Cải cách giáo dục Nhật Bản” của Ozaki Mugen viết về quá trình cải cách giáo dục ở Nhật Bản

từ thời Minh Trị, trong đó nói đến những cột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển giáo dục hiện đại của Nhật Bản như sau Chiến tranh thế giới thứ 2

và những năm 80 của thế kỷ XX, và nhờ những cuộc cải cách đó mà Nhật bản trở thành một nền kinh tế lớn trên thế giới; hay “Hiện đa ̣i hóa giáo du ̣c Nhâ ̣t

Bản” của Toshio Nakuchi, Hajime Tajima, Toshiko Saito; “Nhâ ̣t Bản cách tân giáo du ̣c thời Minh Tri ̣” của Fukuzawa Yukichi; “Giáo du ̣c Nhâ ̣t Bản” của Seiya Munakata, “Kĩ năng hình mẫu của thế kỷ 21 là gì - So sánh quốc tế về cải cách giáo dục dựa trên năng lực” (21 世紀型スキルとは何か―コンピテンシーに基づく教育改革の国際比較, 株式会社明石書店) của Matsuo Tomoaki (松尾知明)

Trang 11

10

Bên cạnh đó, ở nước ngoài có các công trình nghiên cứu đến giáo dục Nhật Bản đã tiếp cận được như “Giáo dục Nhật Bản từ năm 1945: một nghiên cứu dựa trên các tài liệu” (Japanese Education since 1945: A documentary study) của Edward R Beauchamp viết về nền giáo dục thời hậu chiến của Nhật Bản, nhằm mục đích làm sáng tỏ sự phát triển chính sách giáo dục của Nhật Bản…

Nhìn chung, tuy đều viết về giáo dục Nhật Bản, nhưng những tài liệu trên chưa cung cấp những thông tin mang tính tổng hợp về những ảnh hưởng

từ phía nhà trường, gia đình cũng như xã hội đến sự hình thành, phát triển nhân cách của trẻ em bậc tiểu học ở Nhật Bản trong giai đoạn từ nửa sau thế

kỉ XX đến nay

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu và làm rõ vai trò của nhân tố nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục nhân cách trẻ em tiểu học Nhật Bản trong giai đoạn từ nửa sau thế kỷ XX đến nay Đây là giai đoạn mà nhiều cuộc cải cách giáo dục đã được tiến hành và thành công của chúng kéo theo sự phát triển của nền kinh tế

- xã hội Nhật Bản, đưa Nhật Bản từ một nước bại trận sau chiến tranh trở thành một trong những cường quốc phát triển nhất thế giới với những con người có những đức tính cao đẹp khiến thế giới ngưỡng mộ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, tìm hiểu khái niệm nhân cách, nội dung, mục tiêu giáo dục Nhật Bản qua các cuộc cải cách

Thứ hai, tìm hiểu vai trò mang tính chủ yếu của nhà trường trong việc định hình, phát triển nhân cách trẻ em tiểu học ở Nhật Bản

Thứ ba, tìm hiểu vai trò của gia đình và xã hội trong việc hỗ trợ nhà trường giáo dục, phát triển nhân cách trẻ em tiểu học

Trang 12

11

Cuối cùng, từ những gì đã tìm hiểu, đưa ra các đề xuất trong việc giáo dục nhân cách trẻ em bậc tiểu học ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong bài nghiên cứu này là vai trò của nhân tố nhà trường, gia đình và cộng đồng trong khu vực đối với việc giáo dục nhân cách học sinh bậc tiểu học ở Nhật Bản trong giai đoạn hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về nội dung, mục tiêu giáo dục, phương pháp giảng dạy, hình thức tổ chức những hoạt động trong và ngoài nhà trường (gia đình, cộng đồng) hướng tới hình thành, phát triển nhân cách, kĩ năng sống cho học sinh ở độ tuổi tiểu học tại Nhật Bản trong giai đoạn từ nửa sau thế kỷ XX đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của đề tài này dựa trên quan điểm Triết học của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Nghĩa là phải đặt các hiện tượng giáo dục trong thời gian, không gian cụ thể, trong mối quan hệ tương tác với các hiện tượng khác trong xã hội Hoạt động giáo dục luôn vận động và phát triển vì vậy phải nghiên cứu nó trong sự vận động và phát triển

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tổng hợp và phân tích: tổng hợp các tài liệu liên quan đến mục tiêu, chính sách giáo dục Nhật Bản qua các thời kỳ, sách hướng dẫn

về nội dung và phương pháp giảng dạy của từng môn học, những tài liệu và

số liệu đề cập đến các hoạt động của hội phụ huynh và của cộng đồng cư dân đối với việc nuôi dưỡng về thể chất và tinh thần cho thế hệ trẻ Từ những tài

Trang 13

Phương pháp phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn một số phụ huynh người Nhật có con hiện đang học tiểu học tại các trường tiểu học Nhật Bản Dựa trên nội dung của bản phỏng vấn, phân tích, đánh giá, tìm ra những điểm chung trong cách giáo dục con cái của gia đình người Nhật trong giai đoạn hiện nay Trong khả năng của nhóm, nhóm đã thực hiện phỏng vấn các phụ huynh có con theo học tại trường tiểu học Nishitera ở Hiroshima

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: Đề tài cung cấp những thông tin chi tiết, đầy đủ và hữu ích về các phương pháp giáo dục nhân cách cho học sinh tiểu học Nhật Bản trong giai đoạn hiện tại Làm rõ vai trò của gia đình và cộng đồng trong khu vực trong việc hỗ trợ nhà trường giáo dục, phát triển nhân cách trẻ em Nhật Bản Từ đó đưa ra các đề xuất trong việc giáo dục nhân cách trẻ em Việt Nam dựa trên kinh nghiệm của Nhật Bản

Ý nghĩa thực tiễn: đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo dành cho những đối tượng quan tâm đến giáo dục Nhật Bản

7 Kết cấu của đề tài

Nội dung chính gồm 3 chương:

Trang 14

13

Chương 1 – Tổng quan về nền giáo dục Nhật Bản hiện đại Chương 1 giải thích các khái niệm về nhân cách, giáo dục nhân cách; trình bày quá trình cải cách và các nội dung mục tiêu giáo dục của Nhật Bản từ sau Thế chiến thứ

II

Chương 2 – Vai trò của nhân tố nhà trường trong việc giáo dục nhân cách trẻ em ở bậc tiểu học Chương 2 trình bày các phương pháp giáo dục được áp dụng tại trường tiểu học Nhật Bản, cách phân bố số lượng môn, thời lượng tiết học, hình thức giảng dạy, nội dung một số môn học Nhân cách của học sinh tiểu học Nhật Bản không chỉ được giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng qua môn học có vai trò quan trọng nhất là môn Giáo dục đạo đức, mà còn thể hiện trong các hoạt động trong trường học, các buổi ngoại khóa Từ đó làm rõ hơn vai trò mang yếu tố chủ đạo, quyết định của nhà trường trong việc định hình, phát triển nhân cách của học sinh tiểu học

Chương 3 – Vai trò hỗ trợ của gia đình và cộng đồng trong khu vực đối với việc giáo dục nhân cách trẻ em ở bậc tiểu học Chương 3 trình bày vai trò của gia đình và cộng đồng xã hội trong khu vực trong việc hỗ trợ nhà trường giáo dục nhân cách trẻ em thông qua các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình với trẻ, các hoạt động được tổ chức trong cộng đồng

Trang 15

14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NỀN GIÁO DỤC NHẬT BẢN

HIỆN ĐẠI

1.1 Cơ sở lý luận: Khái niệm Nhân cách và giáo dục nhân cách

Khi tìm hiểu về vai trò của môi trường xã hội, cụ thể là nhà trường, gia đình và xã hội, trong việc giáo dục nhân cách cho học sinh tiểu học Nhật Bản

ở giai đoạn hiện nay, trước hết chúng ta sẽ đi tìm hiểu khái niệm nhân cách và

giáo dục nhân cách là gì? Trong cuốn Giáo dục học đại cương, xuất bản năm

2004, Khoa Tâm lý giáo dục, trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, khái

niệm nhân cách 1 được trình bày khá đầy đủ trên các phương diện: tâm lý học, quan niệm truyền thống, cách tiếp cận giá trị và giáo dục học

Theo tâm lý học, thì nhân cách là tổ hợp các thái độ, thuộc tính riêng

trong quan hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật

do con người sáng tạo ra, với xã hội và với bản thân (Phạm Minh Hạc, Một số

vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục, 1986) Nhân cách là bộ mặt tâm lý –

đạo đức của mỗi người – đó là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý qui

định giá trị xã hội và hành vi xã hội của người đó Theo đó, nhân cách của

con người được đánh giá ở ba mức độ khác nhau: mức độ bên trong cá nhân: thể hiện ở dạng cá tính, sự khác biệt của người này với những người khác; mức độ giữa các cá nhân: thể hiện trong mối quan hệ, liên hệ mà nó tham gia trong hoạt động cộng đồng, thể hiện trong các hành vi, cử chỉ xã hội của nó;

và mức độ cao nhất: nhân cách vượt ra ngoài khuôn khổ của cá tính và những mối quan hệ, liên hệ với các cá nhân khác, ở đây nhân cách được xem như một chủ thể hoạt động, giá trị của nó thể hiện ở những tác động mà nhân cách này gây ra đối với những biến đổi của các nhân cách khác Như vậy, nhân

cách con người là mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thước đo giá trị của

1 Nguyễn Thị Bích Hồng và Võ Văn Nam (2004), Giáo dục học đại cương – Khoa Tâm lý giáo dục,

trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, trang 58 – trang 61

Trang 16

15

người ấy với thang giá trị và thước đo giá trị của xã hội, độ phù hợp càng cao thì nhân cách càng lớn

Còn theo quan niệm truyền thống, nhân cách là sự kết hợp thống nhất

giữa phẩm chất và năng lực của cá nhân bao gồm các phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, tác phong và các năng lực, sở trường, năng khiếu Người có nhân cách phải là người thống nhất được hai mặt phẩm chất và năng lực, tức

là thống nhất giữa mặt đức và tài

Theo cách tiếp nhận giá trị thì cốt lõi của nhân cách là hệ thống định

hướng giá trị mà mỗi cá nhân lực chọn cho mình, bao gồm các giá trị tư tưởng (lý tưởng, niềm tin, ), các giá trị đạo đức (lương tâm, trách nhiệm, lòng nhân

ái, lòng trung thực, ), các giá trị nhân văn (học vấn, nghề nghiệp, tình yêu, thời trang, tài năng,…)

Theo giáo dục học, nhân cách bao gồm tất cả các nét, các mặt, các

phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một con người Nhân cách là toàn bộ các đặc điểm tâm sinh lý của cá nhân được xã hội đánh giá tạo nên giá trị của cá nhân đó Tùy theo trình độ phát triển của xã hội mà các đặc điểm của cá nhân được nhìn nhận và đánh giá khác nhau Những đặc điểm của cá nhân cũng được đánh giá khác nhau tương ứng với những vai trò khác nhau của họ

Định nghĩa giáo dục nhân cách có thể được hiểu là quá trình hình thành

và phát triển nhân cách con người một cách tự giác thông qua những nhân tố tác động có mục đích, có tổ chức của xã hội Nhân tố đó có bao gồm nhà trường, gia đình và xã hội Trong đó, nhà trường và gia đình có ảnh hưởng trực tiếp và tác động thường xuyên, mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em Việc tổ chức giáo dục nhân cách chủ yếu được những người có kinh nghiệm, có chuyên môn đảm nhận như các nhà giáo dục, sư phạm Nhà trường là nơi tổ chức quá trình giáo dục một cách có hệ thống, có

kế hoạch chặt chẽ nhất

Trang 17

16

Trong các giai đoạn giáo dục và phát triển nhân cách của trẻ, thì giai đoạn từ 6 đến 11 tuổi, tức là giai đoạn học sinh tiểu học, là giai đoạn trẻ bắt đầu tham gia vào hoạt động học tập mang tính xã hội hóa mạnh mẽ để tiếp nhận hệ thống tri thức khoa học của loài người Dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập, nhân cách của trẻ có nhiều biến đổi phong phú và sâu sắc Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học nổi bật ở những nét như khả năng nhận thức phát triển nhanh chóng nhờ hoạt động học tập; đời sống xúc cảm, tình cảm chiếm ưu thế hơn và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động, nhận thức của trẻ; tính hồn nhiên, vui tươi hướng về những cảm xúc tích cực; hay bắt chước những người gần gũi, có uy tín với trẻ (cha mẹ, thầy cô, bạn bè,…); hành vi ý chí chưa cao, bản tính hiếu động, khó kiềm chế, kém tự chủ nên dễ phạm lỗi, nhất là đối với các yêu cầu có tính nghiêm ngặt, đòi hỏi sự tập trung cao độ, gây căng thẳng Nhân cách của học sinh tiểu học chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: gia đình, nhà trường và xã hội Trong đó những ảnh hưởng từ cha mẹ, thầy cô là rất quan trọng vào đầu tuổi và sau đó là các ảnh hưởng từ bạn bè và phương tiện thông tin đại chúng (sách báo, phim ảnh,…)2

Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ dựa vào định nghĩa khái niệm nhân cách theo giáo dục học làm cơ sở để phân tích vai trò của các yếu tố nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục nhân cách học sinh tiểu học bậc tiểu học Nhật Bản

1.2 Mục tiêu và nội dung cải cách giáo dục bậc tiểu học ở Nhật Bản

ở giai đoạn hiện nay (nửa sau thế kỷ XX)

Tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng quân Đồng Minh vô điều kiện và tiếp nhận tuyên ngôn Postdam sau khi Mĩ ném hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki Tuyên ngôn Postdam là văn bản được đưa ra sau Hội nghị Postdam (Đức), một trong những nội dung chính của Hội nghị này là yêu

2 Nguyễn Thị Bích Hồng và Võ Văn Nam (2004), Giáo dục học đại cương – Khoa Tâm lý giáo dục,

trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, trang 81 – trang 82

Trang 18

17

cầu Nhật đầu hàng và đưa ra phương châm quản lí nước Nhật thời hậu chiến Ngày 30 tháng 8, Tư lệnh tối cao quân đội Liên hợp quốc Mac Arthur đã đến căn cứ Atsuki Từ tháng 9, sự chiếm đóng của quân đội Liên hợp quốc chính thức bắt đầu Đến ngày 2 tháng 9, lễ kí văn bản đầu hàng đã được diễn ra trên chiến hạm Missouri

Trong bối cảnh đó, Bộ trưởng Bộ giáo dục lúc bấy giờ là Maeda Tamon một mặt tiến hành việc giải trừ thể chế giáo dục dưới thời chiến như bãi bỏ động viên lao động đối với học sinh, sinh viên; một mặt tích cực bày tỏ phương châm giáo dục sau chiến tranh Trong văn bản có tên Phương châm

giáo dục nhằm xây dựng nước Nhật mới (15/9/1945) có viết: “Giáo dục từ

bây giờ trở đi sẽ vừa tiếp tục giữ gìn quốc thể vừa loại trừ tư tưởng quân phiệt và những chính sách của nó, khiêm tốn phản tỉnh nhằm xây dựng quốc gia hòa bình” Văn bản này nhắm tới mục đích xóa bỏ chủ nghĩa quân phiệt,

duy trì trật tự chính trị với Thiên hoàng là trung tâm để thoát ra khỏi tình thế khó khăn

Từ tháng 10 đến tháng 12, Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân Đồng Minh (GHQ – General Headquarters of the Supreme Commander for the Allied Powers) – hoạt động như một cơ quan giám sát các hoạt động của Nhật Bản –

đã ban hành Bốn chỉ thị lớn về cải cách giáo dục Chỉ thị thứ nhất mang tên

Chính sách quản lí đối với chế độ giáo dục Nhật Bản đã thể hiện những

nguyên tắc cơ bản của việc quản lí giáo dục như loại trừ triệt để chủ nghĩa quan phiệt, chủ nghĩa quốc gia cực đoan ra khỏi giáo dục và chủ trương để làm được điều đó sẽ tiến hành kiểm tra nội dung giáo dục và những người liên quan tới giáo dục, điều tra các sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy, Chỉ thị thứ

hai Về việc điều tra, loại trừ, chấp thuận giáo viên và viên chức giáo dục

(30/10) đưa ra các nguyên tắc loại trừ những người không đủ tiêu chuẩn ra

khỏi công việc giáo dục Chỉ thị thứ ba là Về việc công bố đình chỉ và giám

sát sự bảo hộ, trợ giúp, duy trì của chính phủ đối với đạo Shinto (15/12) có

nội dung nghiêm cấm việc tài trợ, duy trì, tiến hành nghi lễ, giáo dục liên

Trang 19

18

quan đến đạo Shinto Chỉ thị thứ tư là Về việc đình chỉ môn Tu thân, Lịch sử

Nhật Bản và Địa lí (31/12) quy định chấm dứt giờ học ba môn: Tu thân, Lịch

sử Nhật Bản và Địa lí trong nhà trường Lý do của việc đình chỉ ba môn học này là do nội dung của ba môn học cũ không phù hợp với mục tiêu dân chủ hóa giáo dục Cụ thế, môn Tu thân dạy người Nhật trung thành với Thiên hoàng, môn Lịch sử có chứa nội dung không được chứng minh bằng tư liệu hay môn Địa lý trước đây chỉ ra lãnh thổ nước Nhật bao gồm thuộc địa Môn giáo khoa mới như Nghiên cứu xã hội, Nghiên cứu tự do ra đời nhằm thực hiện dân chủ hoá hệ thống và chương trình giáo dục để giúp học sinh hoàn thiện nhân cách và rèn luyện kỹ năng

Vào tháng 3 năm 1946, Sứ đoàn giáo dục Mĩ do J.D Stodard (người đứng đầu hành chính giáo dục bang New York) đến Nhật và cuối tháng trình lên Mac Acthur Bản báo cáo giáo dục của Sứ đoàn giáo dục Mĩ Trong bản báo cáo này, nêu rõ về chế độ trường học, thiết lập giáo dục nghĩa vụ với sáu năm tiểu học, ba năm trung học bậc thấp và ở phía trên là ba năm trung học bậc cao, miễn học phí, không có thi tuyển, thực hiện nam nữ cùng học chung

Về hành chính giáo dục, đề xuất cắt giảm quyền lực của Bộ Giáo dục, tiến hành phân tán quyền lực, ở từng phủ, tỉnh, đạo thiết lập các Ủy ban giáo dục Dựa trên đề án này, hành chính Bộ Giáo dục được giới hạn trong hành chính chỉ đạo, hướng dẫn và sự phân quyền cho các địa phương trong hành chính giáo dục được xúc tiến3 Về khóa trình giáo dục, nhấn mạnh lấy cá nhân làm

xuất phát điểm để biên soạn nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu “thừa

nhận sự khác biệt giữa các cá nhân học sinh, đặt trọng tâm vào việc phát triển những năng lực tiềm tàng có sẵn trong các cá nhân, làm cho họ tham gia có hiệu quả vào các đoàn thể xã hội thích hợp”4, phủ định môn Tu thân

3 Ozaki Mugen (1999), Nguyễn Quốc Vương dịch (2013), Cải cách giáo dục Nhật Bản, NXB Từ

điển Bách khoa, Hà Nội, trang 220-223

4 (1979), Báo cáo của Sứ đoàn giáo dục Mĩ (ア メ リ カ 教 育 使 節 団 報 告 書), Kodansha Gakujutsubunko (講談社学術文庫)

Trang 20

19

vốn đặt trọng tâm vào việc giáo dục nên tư tưởng tuân phục tuyệt đối, chủ trương tiến hành giáo dục đạo đức thông qua toàn thể khóa trình giáo dục Bên cạnh đó, về giáo viên, bản báo cáo đã đưa ra một số đề xuất như: việc đào tạo giáo viên phải là giáo dục con người theo nghĩa rộng chứ không phải

là chỉ đào tạo nên những giáo viên thiên về tri thức, kĩ thuật chuyên môn hạn hẹp, việc đào tạo giáo viên nên mở rộng với tất cả trường đại học nói chung, giáo dục xã hội cũng cần được tổ chức với các hoạt động tích cực nhằm hỗ trợ việc học tập của công dân

Nhiều bộ luật về giáo dục cũng đã được ban hành trong thời gian này

Trong Luật giáo dục cơ bản 5 (tháng 3/1947) trong phần “Lời nói đầu” có đưa

ra triết lí: “Chúng ta coi trọng sự tôn trọng cá nhân, hi vọng giáo dục nên

những con người theo đuổi hòa bình và chân lí, đồng thời triệt để thực hiện phổ cập giáo dục nhằm sáng tạo ra văn hóa phong phú đặc sắc và mang tính phổ biến” Điều 1 (Mục đích giáo dục) nêu rõ: “Giáo dục phải được thực hiện nhằm hoàn thiện nhân cách và giáo dục nên quốc dân khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần, tràn đầy tinh thần tự chủ, với tư cách là người xây dựng xã hội và quốc gia hòa bình, yêu chân lí và chính nghĩa, tôn trọng giá trị cá nhân, coi trọng lao động và trách nhiệm” Mục đích giáo dục này “phải được thực hiện ở tất cả mọi lúc, mọi nơi” (Điều 2) Một số tổ chức ra đời cùng với

phong trào tự học giúp khuyến khích, hỗ trợ giáo dục xã hội như: tổ chức cha

mẹ (Hahaoya Gakkyu), tổ chức thanh niên (Seinen Gakkyu), Nhiều bảo tàng và thư viện cũng được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân,

thực hiện mục đích giáo dục “mọi lúc, mọi nơi”

Trên cơ sở đó, nhiều bộ luật giáo dục liên quan cũng được ban hành

như Luật giáo dục trường học (3/1947), Luật tổ chức Bộ giáo dục (5/1949),

Luật Ủy ban giáo dục (7/1947) Chẳng hạn, trong Luật giáo dục trường học

5 Luật giáo dục cơ bản (教育基本法):

http://www.mext.go.jp/b_menu/kihon/houan/siryo/07051111/001.pdf

Trang 21

20

(3/1947) cũng đưa ra các quy định chi tiết về việc thành lập trường học các cấp, tiêu chuẩn của đội ngũ giáo viên, mục tiêu giáo dục, thời gian theo học, khóa trình giáo dục, giám sát trường học; về sách giáo khoa, luật quy định đình chỉ chế độ quốc định, tiến hành chế độ kiểm định

Tháng 3 năm 1947, Bộ Giáo dục Nhật Bản ban hành Bản hướng dẫn

học tập Đây là văn bản quy định về mục tiêu, nội dung, phương pháp chỉ đạo

học tập, thời gian dành cho từng môn học cũng như các hoạt động khác trong trường phổ thông từ bậc mầm non tới trung học phổ thông Đối với từng cấp

học sẽ có một Bản hướng dẫn học tập tổng quát và các bản “Giải thích bản

Hướng dẫn học tập” đối với từng môn học Bản hướng dẫn học tập (1947) có

một số nội dung nổi bật như:

Thứ nhất, về sách giáo khoa, chế độ sách giáo khoa quốc định sẽ được thay thế bằng chế sách giáo khoa kiểm định Nghĩa là các nhà xuất bản sách giáo khoa sẽ dựa vào nội dung Bản hướng dẫn học tập tiến hành biên soạn nội dung sách Nội dung của sách sẽ được kiểm duyệt khắt khe bởi Hội đồng thẩm định do Bộ giáo dục thành lập năm 1949 Nếu nội dung sách được đảm bảo được nội dung được đề ra trong Bản hướng dẫn học tập, sẽ được phép xuất bản trên thị trường Chính nhờ sự cạnh tranh giữa các nhà xuất bản tư nhân trong việc ban hành sách giáo khoa dưới sự kiểm duyệt của Hội đồng thẩm định mà nội dung cũng như chất lượng của sách giáo khoa ngày càng được nâng cao, mang tính thực tiễn cao, phù hợp với từng địa phương, khu vực

Thứ hai, về phương pháp học tập, phương pháp thảo luận được khuyến khích áp dụng nhằm thúc đẩy tính chủ động trong học tập của học sinh thông qua các hoạt động tương tác với nhóm Hình thức giảng dạy được làm phong phú hơn thông qua việc đưa vào các hoạt động như thực nghiệm, sử dụng thiết bị nghe nhìn, quan sát thực tế, thu thập dữ liệu, để thay cho phương

Trang 22

21

pháp giáo dục lạc hậu trước đây đó là học sinh tiếp nhận thụ động nội dung bài giảng của giáo viên

Thứ ba, chế độ trường học mới 6-3-3-4 được ban hành: 6 năm tiểu học,

3 năm trung học cơ sở, 3 năm trung học phổ thông, 4 năm đại học Các trường học nắm quyền tự trị thay vì chịu sự chi phối của Bộ Giáo dục

Thứ tư, đội ngũ giáo viên được chú trọng tuyển chọn để đảm bảo về trình độ chuyên môn cao và cả đạo đức nghề nghiệp Để trở thành một giáo viên tiểu học, bắt buộc phải trải qua các vòng kiểm tra khắt khe, từ kiểm tra kiến thức chuyên môn liên quan đến luật giáo dục, các phương pháp giáo dục

cơ bản bằng một bài thi viết, đến kiểm tra khả năng giảng dạy của người giáo viên thông qua một tiết học mô phỏng mà học sinh ở đây chính là những người trong ban kiểm tra trong một thời gian quy định (15 phút) Ngoài ra, các giáo viên tương lai còn được kiểm tra về khả năng chơi một loại nhạc cụ như Piano, hay thổi sáo, sẽ dùng trong các tiết học về Âm nhạc Bài kiểm tra cuối cùng là đứng phát biểu cảm nghĩ của mình về một đề tài mà ban kiểm tra đưa ra, chẳng hạn như là “Suy nghĩ về câu: nhân tài là tài sản của một quốc gia”

Các Bản hướng dẫn học tập chủ yếu được biên soạn bởi Hội đồng chuyên môn được lập ra trong Bộ giáo dục với thành viên là các nhà khoa học Ngoại trừ bản Hướng dẫn học tập đầu tiên được công bố năm 1947, các bản Hướng dẫn học tập về sau đều do “Hội đồng thẩm định khóa trình giáo dục” biên soạn Hội đồng này được lập ra trong Bộ Giáo dục năm 1950 và đến năm

2001 thì hợp nhất các hội đồng khác như “Hội đồng thẩm định học tập suốt đời”, “Hội đồng thẩm định giáo dục sản xuất và giáo dục khoa học” trở thành “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương” Trên website của Bộ Giáo dục Nhật Bản có công khai quá trình xây dựng Bản hướng dẫn học tập với vai trò chủ đạo của “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương” như sau:

Trang 23

3 Kết quả được công bố rộng rãi để công chúng bình luận, đánh giá

4 “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương” tiếp nhận ý kiến đánh giá, thảo luận và đưa ra kết luận

5 Bộ trưởng Bộ Giáo dục chính thức công bố Bản hướng dẫn học tập Ngay sau khi Bản hướng dẫn học tập được công bố, “Hội đồng thẩm định giáo dục trung ương” lại tiếp tục làm việc để chuẩn bị cho việc sửa đổi văn bản này theo định kỳ khoảng 10 năm một lần cho phù hợp với tình hình thực tế và đưa vào các lý luận, kết quả nghiên cứu mới

Thông thường, các Bản hướng dẫn học tập tổng quát dành cho từng cấp học sẽ có cấu tạo thành ba phần “Tổng quy”, “Nội dung” và “Phục lục” Phần

“Tổng quy” trình bày ngắn gọn về “phương châm biên soạn khóa trình giáo dục”, “những điểm chung về nội dung giữa các môn học và hoạt động giáo dục”, “lưu ý về thực hiện số giờ học”, “những điểm cần lưu ý khi xây dựng kế hoạch chỉ đạo học tập ở trường học” Phần “nội dung” là nội dung của chương trình giáo dục Phần “Phụ lục” là bảng phân phối giờ học dành cho từng môn học và hoạt động giáo dục có tính chất tham khảo Bản hướng dẫn học tập được áp dụng cho tất cả các trường phổ thông không kể quốc lập, công lập hay tư thục Tuy nhiên trên thực tế, ảnh hưởng của văn bản này đối với các trường tư thục yếu hơn so với các trường công lập và quốc lập.6

Để chuẩn bị cho nước Nhật bước vào thế kỉ XXI, Chính phủ nước này tiến hành cải cách giáo dục thêm một lần nữa Cuộc cải cách lớn lần thứ ba bắt đầu triển khai từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX

6 Nguyễn Quốc Vương (2016), Giáo dục Việt Nam học gì từ Nhật Bản – giáo dục và giáo dục lịch

sử trong cái nhìn so sánh Việt Nam – Nhật Bản, NXB Phụ Nữ, Hà Nội, trang 80-82

Trang 24

23

Một số mục tiêu lớn của cuộc đại cải cách giáo dục lần thứ ba7:

Một là hướng tới hoàn thiện giáo dục nhân cách Tăng cường giáo dục

đạo đức, nhân cách trong nhà trường Đồng thời nâng cao khả năng kết hợp

giáo dục với gia đình, địa phương, cũng như giữa gia đình và địa phương, đặc

biệt là trong giáo dục đạo đức Đào tạo đội ngũ giáo viên có năng lực và tận

tâm với nghề, xem đây là nền tảng cho việc đào tạo được những thế hệ học

sinh vừa có năng lực vừa có đạo đức Xây dựng các mối quan hệ hòa đồng,

thân thiện trong nhà trường, phát huy năng lực sáng tạo của cả giáo viên và

học sinh

Hai là thực hiện chế độ trường học để phát huy cá tính của từng học

sinh, tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn cho học sinh Với mục tiêu này có một số

nội dung như sau: Thứ nhất, thay thế hệ thống giáo dục 6-3-3-4 với 9 năm bắt

buộc như hiện nay bằng hệ thống giáo dục mới 6-6-4 (gồm 6 năm tiểu học, 6

năm trung học phổ thông và 4 năm đại học, với 12 năm đi học bắt buộc) Thứ

hai là linh hoạt việc tuyển chọn vào đại học theo hướng để học sinh tự do phát

triển năng khiếu, sở thích Thứ ba là đổi mới phương pháp giáo dục và nội

dung giảng dạy nhằm nâng cao tính sáng tạo cho thầy và trò, gắn nhà trường

với môi trường và cộng đồng, kết hợp giá trị truyền thống của dân tộc và tính

quốc tế trong các môn học,…

Ba là chấn hưng nghiên cứu và cải cách giáo dục đại học theo hướng

phù hợp với vị thế cường quốc trong môi trường vừa cạnh tranh vừa hợp tác

cùng phát triển

Có thể thấy, trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba này, Nhật Bản đã

đã dành sự quan tâm nhiều hơn cho việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho học

sinh, tiến hành đổi mới nhiều hình thức, nội dung giảng dạy của giáo viên

nhằm nâng cao chất lượng giáo dục để phù hợp với vị thế cường quốc thế giới

7 ThS Trần Thị Thu Mai, 2003, Làm giàu nguồn lực con người trong các cuộc cải cách giáo dục ở

Nhật Bản, ĐHSP TP.HCM, Tạp chí khoa học – Khoa học xã hội và nhân văn, Năm thứ 18, tập 29, số

01/2002

Trang 25

24

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Theo Giáo dục học, nhân cách được định nghĩa là bao gồm tất cả các

nét, các mặt, các phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một con người Nhân cách

là toàn bộ các đặc điểm tâm sinh lý của cá nhân được xã hội đánh giá tạo nên giá trị của cá nhân đó Tùy theo trình độ phát triển của xã hội mà các đặc điểm của cá nhân được nhìn nhận và đánh giá khác nhau Những đặc điểm của cá nhân cũng được đánh giá khác nhau tương ứng với những vai trò khác nhau của họ

Định nghĩa giáo dục nhân cách có thể được hiểu là quá trình hình thành

và phát triển nhân cách con người một cách tự giác thông qua những nhân tố tác động có mục đích, có tổ chức của xã hội Nhân tố đó có bao gồm nhà trường, gia đình và xã hội Trong đó, nhà trường và gia đình có ảnh hưởng trực tiếp và tác động thường xuyên, mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em

Trong các giai đoạn giáo dục và phát triển nhân cách của trẻ, thì giai đoạn từ 6 đến 11 tuổi, tức là giai đoạn học sinh tiểu học, là giai đoạn trẻ bắt đầu tham gia vào hoạt động học tập mang tính xã hội hóa mạnh mẽ để tiếp nhận hệ thống tri thức khoa học của loài người Dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập, nhân cách của trẻ có nhiều biến đổi phong phú và sâu sắc

Bản hướng dẫn học tập là văn bản quy định về mục tiêu, nội dung, phương pháp chỉ đạo học tập, thời gian dành cho từng môn học cũng như các hoạt động khác trong trường phổ thông từ bậc mầm non tới trung học phổ thông Các Bản hướng dẫn học tập chủ yếu được biên soạn bởi Hội đồng chuyên môn được lập ra trong Bộ giáo dục với thành viên là các nhà khoa học

Nó được áp dụng cho tất cả các trường phổ thông không kể quốc lập, công lập hay tư thục Thông qua những hướng dẫn của Bản hướng dẫn học tập, nhà trường và đội ngũ giảng dạy có thể tổ chức những hoạt động phù hợp với từng khối lớp giúp phát triển kỹ năng sống và hoàn thiện nhân cách

Trang 26

25

Trải qua nhiều cuộc cải cách giáo dục trong lịch sử, bước vào thế kỉ XXI, một lần nữa Chính phủ nước này tiến hành cải cách giáo dục từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX Một số mục tiêu lớn của cuộc đại cải cách giáo dục lần thứ ba: Một là hướng tới hoàn thiện giáo dục nhân cách, tăng cường giáo dục đạo đức, nhân cách trong nhà trường, kết hợp với giáo dục gia đình

và địa phương Hai là thực hiện chế độ trường học để phát huy cá tính của từng học sinh, tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn cho học sinh Ba là chấn hưng nghiên cứu và cải cách giáo dục đại học theo hướng phù hợp với vị thế cường quốc trong môi trường vừa cạnh tranh vừa hợp tác cùng phát triển Qua đó có thể thấy rằng, tại cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba này, Nhật Bản đã có sự quan tâm đặc biệt đối với việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh bằng việc đổi mới nhiều nội dung, hình thức giảng dạy trong và ngoài nhà trường, tăng cường vai trò hỗ trợ của gia đình và địa phương phối hợp cùng nhà trường giáo dục nhân cách của con trẻ Nhờ đó, chất lượng giáo dục Nhật Bản

đã được cải thiện, đáp ứng được những đòi hỏi của thời đại

Trang 27

26

CHƯƠNG II VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ NHÀ TRƯỜNG TRONG VIỆC GIÁO DỤC NHÂN CÁCH TRẺ EM

Ở BẬC TIỂU HỌC

2.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức trong chương trình học tiểu học

Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II là nước bại trận, rơi vào tình trạng khủng hoảng, khó khăn do hậu quả của cuộc chiến tranh để lại Trước tình hình đó, Nhật Bản buộc phải cải cách chính trị - xã hội - giáo dục một cách toàn diện để đất nước có thể khôi phục sự phát triển như vốn có trước đây, và một trong những cải cách quan trọng đó là cải cách nền giáo dục Nhật Bản Nếu nói về sự cải cách mang tính toàn diện và mới mẻ thì Nhật Bản có hai lần cải cách, một lần vào thời Minh Trị và một lần vào thời hậu chiến sau năm 1945 với mục đích nhằm xác lập nền giáo dục dân chủ

Như đã nói ở chương 1, chương trình giáo dục phổ thông của Nhật từ

sau năm 1945 được thể hiện qua văn bản tên là “Hướng dẫn học tập” do Bộ

Giáo dục ban hành đầu tiên vào năm 1947 Đây được xem là bản “Tham khảo”

vì thật ra mục tiêu hướng tới là nhấn mạnh, khuyến khích sự sáng tạo, tự chủ của các địa phương, các trường và các giáo viên trong việc giáo dục học sinh Tùy theo điều kiện của từng địa phương và từng trường, những phương pháp, hình thức và nội dung giáo dục phù hợp sẽ được vận dụng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân học sinh, của cộng đồng và mục tiêu chung của nền giáo dục

Trong Bản hướng dẫn học tập, mục tiêu giáo dục được trình bày cụ thể,

rõ ràng, cần phải đạt được thông qua việc giáo dục ở trường học Nó được xác định ở bốn phương diện cơ bản là “Đời sống cá nhân”, “Đời sống gia đình”,

“Đời sống xã hội” và “Đời sống kinh tế và đời sống nghề nghiệp” Các mục tiêu cụ thể này có nhiều điều mới mẻ so với mục tiêu giáo dục trước chiến tranh Ví dụ như ở phương diện “Đời sống cá nhân” có mục tiêu cần phân biệt chính tà, thiện ác từ đó có thể tổ chức đời sống bản thân đồng thời sinh sống

Trang 28

27

với tình cảm đạo đức sắc bén Còn phương diện “Đời sống gia đình”, “Đời sống xã hội” thì chú trọng mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng xã hội Với những mục tiêu giáo dục cần hướng đến là giúp học sinh biết yêu quý gia đình, tôn trọng trật tự luân lý của đời sống gia đình, biết tôn trọng tự do của người khác, coi trọng nhân cách đồng thời có thái độ nhường nhịn, tôn trọng ý kiến của người khác…

Qua các mục tiêu cụ thể đó chúng ta có thể thấy rằng mục tiêu giáo dục chung của Nhật Bản đề ra nhắm đến việc giáo dục hoàn thiện con người, trong đó đặc biệt nhấn mạnh nội dung giáo dục đạo đức Bởi đạo đức con người là rất quan trọng, giáo dục giờ đây hướng đến đào tạo con người vừa có năng lực, vừa có phẩm chất đạo đức tốt, phù hợp với xã hội hòa bình, dân chủ

và tôn trọng con người Do đó, việc giáo dục đạo đức, nhân cách được xem là mối quan tâm hàng đầu, nên ngay từ bậc tiểu học nhà trường đã coi trọng việc giáo dục để giúp các em nhìn nhận, hiểu được các giá trị đạo đức con người

Từ đó nhân cách của các em sẽ được hình thành, bồi dưỡng trong suốt quá trình trưởng thành theo hướng tích cực

Việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học được cụ thể thành các mục tiêu rõ ràng Đầu tiên là nhắm đến việc dạy các em cách cư xử chuẩn mực trong đời sống hàng ngày, như biết bảo vệ sức khỏe, độc lập không phụ thuộc vào người khác, tự bản thân vận động làm những điều trong khả năng mình Ngoài ra cần phải cư xử đúng đắn, chuẩn mực với mọi người, biết giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường, yêu thiên nhiên, học được cách sử dụng tiền hay hiểu được giá trị của thời gian, biết sắp xếp việc cá nhân hợp lý

Về mặt tình cảm và nhận thức thì giáo dục đạo đức sẽ dạy các em biết tôn trọng nhân phẩm, ý kiến người khác, biết tự điều chỉnh hành vi của bản thân và hành động theo niềm tin, ý thức đúng của bản thân Những hành động của các em được thực hiện tự do trong khuôn khổ và theo nhận định của chính các em cũng như của người khác Các em được dạy phải có trách nhiệm với

Trang 29

28

việc làm của mình, luôn thành thật, yêu công lý và dũng cảm Ngoài ra các

em cũng được giáo dục tinh thần cố gắng vượt qua khó khăn để đạt được ước

mơ, mục tiêu đúng đắn, phải biết lắng nghe lời khuyên người khác và nhìn lại bản thân Khi hành động hay làm một việc gì phải cân nhắc trước, không được ích kỉ, cư xử một cách tỉnh táo, lịch sự, có tinh thần nhiệt tình khi làm việc, có suy nghĩ trong sạch, và biết quan tâm đến động vật cũng như môi trường sống xung quanh mình

Giáo dục đạo đức cho học sinh ở bậc tiểu học ngoài ra còn cần tập trung vào sự phát triển nhân cách và tinh thần sáng tạo của các em Khơi nguồn cảm hứng cho học sinh, từ đó các em tự tìm tòi, học hỏi, phát huy năng lực của bản thân, từ đó các em biết đặt cho mình mục tiêu và cố gắng nỗ lực đạt được mục tiêu đó một cách xứng đáng Các em cần duy trì thái độ ham học hỏi, áp dụng những ý tưởng tích cực mới và ứng dụng kiến thức được dạy

ở trường vào cuộc sống hàng ngày

Cuối cùng, mục tiêu của giáo dục là đào tạo được người công dân tốt cho xã hội Vì vậy giáo dục đạo đức tiểu học hướng các em trở thành con người tốt, tốt bụng với mọi người, quan tâm đến bạn bè, gia đình hay những người bất hạnh, biết tôn trọng và biết ơn những người đã hy sinh cho cuộc sống của mình Luôn thân thiện với mọi người xung quanh, tin tưởng lẫn nhau, biết giữ lời hứa, đối xử công bằng với tất cả mọi người Phải biết tuân thủ quy định, luôn làm tròn trách nhiệm bản thân, biết yêu bạn bè, gia đình, trường lớp và nhất là phải yêu Tổ quốc

Như vậy, có thể thấy rằng điểm quan trọng của cải cách giáo dục là việc giáo dục đạo đức con người, để các em có thể hình thành nhân cách tốt, trở thành người công dân có ích cho xã hội Muốn có được điều này thì ngay

từ bậc tiểu học, giáo dục đạo đức, giúp các em định hình nhân cách là điều thiết yếu

Trang 30

29

2.2 Nội dung giáo dục đạo đức trong chương trình học tiểu học

Từ sau cuộc cải cách, chương trình học ở Nhật Bản là 6-3-3-4 (gồm 6 năm bậc tiểu học, 3 năm học trung học cơ sở, 3 năm học trung học phổ thông

http://123doc.org/document/677691-so-sanh-giao-duc-tieu-hoc-nhat-ban-va-viet-nam-tu-do-rut-Bảng 2.2: Hệ thống các môn học trong khung chương trình

giáo dục học sinh cấp tiểu học

Trang 31

30

Hai bảng trên đã cho chúng ta thấy rõ giờ học trong một năm của các lớp bậc tiểu học cùng các môn các em được học Để đáp ứng được số giờ học này, các trường công có số ngày giảng dạy trên lớp ít nhất là 210 ngày (hoặc hơn 35 tuần) Có nhiều trường đề ra số ngày đến trường hàng năm là 220 ngày hoặc hơn Lớp 1 thường chỉ học một năm 34 tuần Qua mỗi lần thay đổi của Bản hướng dẫn học tập thì có vài điểm thay đổi như vào năm 1998, nội dung giáo dục được giảm khoảng 30% Số giờ học lớp 6 giảm xuống còn 945 giờ Giờ học tổng hợp còn 3 giờ một tuần Vào năm 2008, theo Bản hướng dẫn học tập thì tổng số giờ học ở mỗi cấp học tăng 10% Lớp 1 và 2 tăng 2 giờ một tuần, từ lớp 3 đến lớp 6 tăng 1 giờ một tuần, ngoài ra ở lớp 5 và 6 hoạt động tiếng Anh cũng được đưa vào chương trình học, số giờ học tích hợp giảm còn 2 giờ một tuần

Tiếp theo khi xét về môn giáo dục đạo đức, chúng ta có thể thấy đây là môn học xuyên suốt qua các năm ở bậc tiểu học, giờ học giáo dục đạo đức chính thức chiếm thời lượng khoảng 34 tiết (lớp 1) và 35 tiết (lớp 2 trở lên)/năm học, giờ học này khá thấp so với các môn học khác Giáo dục đạo đức là môn học cơ bản trong chương trình giáo dục ở Nhật Bản, những điều cần thiết như hình thành thói quen, điều chỉnh thái độ, hành vi của trẻ cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức sẽ được dạy trong môn học này

Với số lượng thời gian như thế thì môn Giáo dục đạo đức có thời lượng

1 tiết/tuần (thường 45 phút/1 tiết) Trong giờ học này, giáo viên có thể kết hợp giữa bài học trong sách giáo khoa cùng những bài học thực tế trong cuộc sống

Đó không phải là những nội dung khô khan, bắt các em học thuộc lòng để trả bài trên lớp mà là những câu chuyện có thật trong cuộc sống xung quanh các

em, qua các câu chuyện đó học sinh sẽ tự mình cảm nhận, suy nghĩ và rút ra cho mình bài học, ý nghĩa riêng Cụ thể, trong cuốn sách giáo khoa Đạo đức dành cho lớp 1 và lớp 2 (私たちの道徳 – Watashitachi no Doutoku), nội dung thường được trình bày rất sinh động bằng những hình ảnh, hình vẽ gần gũi với cuộc sống các em thường ngày Nội dung của cuốn sách gồm bốn nội

Trang 32

31

dung lớn, và trong mỗi nội dung lớn đó, được chia thành các nội dung nhỏ khác, là những nội dung được trình bày như ở trên Thứ tự nội dung các phần thường là: cho các em nêu lên ý kiến của mình từ một tình huống cho sẵn, việc làm đó là đúng hay sai, đâu là việc nên làm và không nên làm; tiếp theo

là một bài đọc ngắn về hành vi ứng xử, câu chuyện đạo đức; sau đó là trang cho các em viết cảm nhận của bản thân hoặc tự đánh giá bản thân qua các việc mà trong sách nêu ra Điểm đặc biệt ở cuốn sách này là do dùng cho cả học sinh lớp 1 và lớp 2 nên ở mỗi phần sẽ có một trang riêng dành cho lớp 1

và lớp 2, để các em điền cảm nghĩ của mình Nhờ vậy mà những gì các em điền vào lúc còn là học sinh lớp 1, khi đến lớp 2 các em có thể dựa vào sự thay đổi cảm nghĩ của bản thân qua từng lớp mà cảm thấy mình trưởng thành hơn Đây cũng là một trong những mục tiêu của chương trình giáo dục, giáo viên chỉ đóng vai trò trung gian, khuyến khích và khơi dậy khả năng tự nhận thức cũng như ý kiến cá nhân của mình về một sự việc nào đó Ở đây các em được ý thức phải hành động như thế nào khi đối diện với những quyết định đạo đức trong đời sống hàng ngày

Nội dung môn học Giáo dục đạo đức trong trường học được chia làm 4 mảng đó là tự nhận thức, mối quan hệ với mọi người, mối quan hệ với các nhóm và xã hội, quan hệ với thiên nhiên và vũ trụ.8 Nội dung giảng dạy cụ thể

ở từng mảng như sau:

Bảng 2.3: Các mảng giáo dục đạo đức trong trường tiểu học Nhật Bản

Hiểu rõ bản thân

Tiết chế, điều độ, dũng cảm, tự do và thứ bậc, yêu lẽ phải (love for truth), siêng năng, cần cù, thật thà, tự cải thiện bản thân

Quan hệ với người khác Lịch sự, nhã nhặn, biết ơn và tôn trọng, tình

8 Moral and social education in Japanese schools: Conflicting conceptions of citizenship, Nguồn: http://www.citized.info/vo1%204%20no%201/david%20mccullogh.pdf

Trang 33

32

bạn, khiêm tốn, giản dị

Quan hệ với các nhóm và xã hội

Nghĩa vụ cộng đồng, tham gia các nhóm, tôn trọng các giáo viên, tôn trọng truyền thống, tôn trọng các nền văn hóa khác, phán đoán, công bằng, trách nhiệm, tôn trọng gia đình, đóng góp cho xã hội, yêu đất nước

Quan hệ với thiên nhiên và vũ trụ

Tôn trọng tự nhiên, nhạy cảm, có óc thẩm mĩ, tôn trọng sự sống, cao thượng, thanh cao (nobility)

(Nguồn:http://www.citized.info/ejournal/vo1%204%20no%201/david%20mccullogh.pdf)

Việc giáo dục đạo đức cho học sinh không chỉ tập trung chủ yếu ở mỗi môn Giáo dục đạo đức mà nó còn kết hợp với nhiều tiết học khác như: giờ học tích hợp, hoạt động đặc biệt… hoạt động cộng đồng cũng được xem là mục tiêu giáo dục đạo đức cho các em của nhà trường ở Nhật Bản

Tóm lại, qua chương trình cũng như nội dung môn học giảng dạy mà giáo viên sẽ lồng ghép giữa kiến thức sách vở và giúp trẻ nhận thức được các giá trị đạo đức, từ đó tạo thành các thói quen sinh hoạt, cách ứng xử với bạn

bè, thầy cô, gia đình và mọi người xung quanh Tất cả các yếu tố này góp phần rất quan trọng, nó là nền tảng cơ bản và vững chắc để các em hình thành nhân cách bản thân

2.3 Hoạt động dạy và học trong nhà trường

Ở trường hay lớp học thì giáo viên là người có vai trò quan trọng trong việc giảng dạy và giúp các em định hướng hình thành nhân cách cũng như các phẩm chất đạo đức tốt đẹp của con người cần có Nếu như ở Việt Nam chúng

ta quen với hình ảnh một học sinh chăm ngoan, im lặng, chăm chú lắng nghe giáo viên giảng bài thì ở Nhật có sự khác biệt rõ rệt Đó là trong lớp học, ở bất

kì tiết nào, không khí lớp luôn sôi nổi chứ không im lặng, những cuộc tranh luận hay các em nêu ý kiến, ý tưởng, thắc mắc của mình về các vấn đề liên

Trang 34

là từ một phía, nó như một điều hiển nhiên, đã được hình thành và mọi người phải tuân theo Cụ thể là đa số các lớp học ở Việt Nam, quyền lực của người thầy được phát huy tuyệt đối, ở lớp học thì thầy là nhất, mọi điều thầy nói, thầy làm là đúng Các em luôn có thái độ e dè, sợ thầy, nên từng lời thầy nói đều cố gắng nghe và học theo Kiểu học thầy đọc trò chép là hình thức học quen thuộc từ trước đến giờ của giáo dục nước ta Đây là điều đáng buồn, bởi như thế chúng ta đã vô tình tạo cho các em tính thụ động Trong khi ở Nhật, qua việc khuyến khích các em nêu ý kiến, phát biểu tự do sẽ tập cho học sinh thói quen chủ động, năng nổ và nhiệt tình

Ngoài ra, giáo viên ở Nhật không tiến hành đánh giá, xếp loại hạnh kiểm (đạo đức) học sinh Đối với người Nhật chuyện đánh giá đạo đức người khác là nhạy cảm và nhất là trong trường học, nơi học sinh được học tập, dạy bảo để trở thành người công dân dân chủ, chính vì thế chuyện giáo viên đánh giá đạo đức học sinh là điều khó có thể tưởng tượng Đơn giản vì

họ quan niệm đạo đức hay nhân cách con người khó có thể được đoán tính, đánh giá chỉ thông qua học lực và các hành vi tuân thủ hay không tuân thủ nội quy của trường học Thay vào đó giáo viên sẽ thường xuyên có những nhận xét và trao đổi với gia đình học sinh về sự trưởng thành tâm sinh lý và các hoạt động của học sinh trong trường học Nếu học sinh có những điểm bất thường cần chú ý, giáo viên sẽ gặp riêng phụ huynh để đưa ra lời khuyên và

Trang 35

34

hướng giải quyết Và những nhận xét của giáo viên ở đây là “tuân thủ nội quy” hay “vi phạm nội quy”, “lạc quan vui vẻ”, “cô đơn, không có bạn”, “hướng nội” hay “hướng ngoại”… Việc đánh giá đạo đức học sinh như thế tạo cho các em cảm giác thoải mái về tâm lý, không có nỗi ám ảnh về những quy luật phải tuân theo để có được hạnh kiểm tốt như ở Việt Nam chúng ta Từ đó có thể hình thành nên sự tự ý thức ở bản thân chính các em chứ không phải vì các em sợ làm sai, vi phạm đạo đức và hạnh kiểm yếu

Tại các trường ở Nhật Bản không có thi học sinh giỏi và thông thường cũng không công khai thành tích học tập của học sinh trước lớp và xếp theo thứ tự học sinh theo điểm trung bình Thành tích học tập được coi là một dạng thông tin cá nhân và được tôn trọng Các kỳ thi có tính chất mang tính cạnh tranh ở Nhật thường là thi đấu thể thao, sáng tạo nghệ thuật hay nghiên cứu khoa học chứ không phải kiểm tra kiến thức các môn giáo khoa như ở Việt Nam Điều này có thể thấy người Nhật giúp trẻ hình thành sở thích và năng khiếu, sự sáng tạo trong quá trình học chứ không hướng các em theo hướng cạnh tranh về điểm số hay vị trí hạng xếp ở lớp Hình thức đánh giá năng lực học sinh tạo sự công bằng, bình đẳng ở tất cả các em giúp các em không có thái độ hơn thua, so sánh thành tích hay khả năng với nhau Khi muốn đánh giá tiến bộ của học sinh, giáo viên không chỉ dựa vào điểm số có được từ các bài kiểm tra, bài tập, mà dựa vào các yếu tố khác như thái độ, mối quan hệ với mọi người xung quanh, mối quan tâm hứng thú và các kỹ năng của học sinh,

vì mục tiêu giáo dục phổ thông Nhật Bản theo đuổi là giáo dục công dân có phẩm chất, năng lực phù hợp với xã hội “hòa bình”, “dân chủ”, và tôn trọng con người” Điểm này cũng gần tương tự như Việt Nam, nhưng có điều thực

tế ở nước ta vẫn còn chú trọng vào điểm số, và thường nhìn vào đó để đánh giá, nhận xét học sinh

Nhật Bản có các tiết học như viết chữ thư pháp, hoặc vẽ tranh,…

ở mỗi tiết học như thế tất cả các em học sinh đều tự mình làm ra sản phẩm riêng Sau cuối mỗi giờ học đó những sản phẩm do các em chính tay tạo ra

Trang 36

35

đều được trưng bày ở một góc nào đó trong lớp học Điều này nhằm khuyến khích các em trong việc phát huy tinh thần học tập, cũng như có ý nghĩa trân trọng tất cả sản phẩm, thành quả của các em làm được Để khi nhìn vào, các

em cảm thấy vui hơn, có động lực học hơn Qua đó cũng nhắc các em nhớ đến những công sức mình bỏ ra để có được sản phẩm như vậy Giáo viên luôn khuyến khích sự trao đổi, hợp tác lẫn nhau ở các em, tránh tạo ra xu hướng cạnh tranh quyết liệt ở các em

Và có một điều đáng chú ý ở Nhật đó là sự giáo dục các em trong những sinh hoạt hàng ngày, từ đó tạo cho các em thói quen đạo đức, cũng như cách cư xử theo chuẩn mực xã hội Ví dụ điển hình cho điều này là việc trường học ở Nhật thường cho các em đi bộ đến trường Như tại trường Tokamachi thuộc thành phố Tokamachi tỉnh Niigata, dù là mùa đông thời tiết lạnh lẽo các em vẫn đi bộ đến trường dẫu có tuyết lớn hay nhiệt độ khắc nghiệt Mục đích của việc này là tạo cho các em thói quen đi bộ đến trường là

để rèn luyện sức chịu đựng và sự dẻo dai cho học sinh tiểu học.9

Nhà trường cũng chú ý đến việc tổ chức thời khoá biểu sinh hoạt hàng

ngày (xem thêm Phụ lục 1: Thời khóa biểu của học sinh lớp Năm tại trường

tiểu học Nishitera (Hiroshima)) của các em học sinh giúp hỗ trợ giáo dục đạo

đức cho các em, chẳng hạn như bữa ăn trưa tại trường Mỗi ngày đến trường, mỗi em sẽ mang theo những vật dụng cá nhân như đũa, khăn ăn, bàn chải đánh răng, ly để súc miệng, những vật dụng này sẽ sử dụng trong bữa ăn trưa Đến giờ ăn, các em sẽ được ăn tại lớp Một nhóm học sinh trong lớp được phân công làm nhiệm vụ phục vụ cho các bạn, các em trong lớp sẽ luân phiên nhau nhận nhiệm vụ này Các em phục vụ bữa ăn sẽ được quy định ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm như đeo găng tay, đội mũ và tóc búi gọn gàng… Mỗi em sẽ có nhiệm vụ khác nhau, và khi thực hiện rất chuyên nghiệp, trong đó gồm phần việc như nhận và phát cơm, chia

9 Tham khảo từ http://web-japan.org/kidsweb/meet/tokamachi/stepin01.html

Trang 37

Mặt khác, nhà trường tiểu học sử dụng cơ sở vật chất, tài liệu dạy học

để giúp các em hình thành những thói quen học tập tốt, cũng như biết tuân thủ những quy định của nhà trường Ở trong trường học, có các nơi để giày, và các em phải để đúng quy định, ngay ngắn, gọn gàng Các hành lang có vạch ngăn ở giữa, mục đích là ngăn tách để các em đi đúng phía mình mà không lấn sang bên kia, cũng giúp các em hình thành thói quen đi thành một hàng, thói quen xếp hàng ngay từ khi còn học tiểu học Cầu thang là nơi hàng ngày các em đi lên xuống, nắm được yếu tố này, ở các trường đã ghi chú các từ vựng tiếng anh giúp các em dễ dàng học ngoại ngữ hơn Và điểm đặc biệt đáng nói là đi đâu, dù ở ngoài lớp hay trong lớp học vẫn có thể bắt gặp các tủ sách, đây chính là thư viện sách, bằng cách bố trí sách ở khắp nơi có thể giúp các em tính yêu sách, tinh thần ham đọc sách và trau dồi tri thức ngay từ nhỏ Những bố trí trang thiết bị, tài liệu học tập và cơ sở vật chất như vậy sẽ góp phần hình thành lòng say mê với học tập và hình thành thói quen tự chủ, tích cực trong việc tự rèn luyện bản thân

Tóm lại, chúng ta có thể thấy được một điều đơn giản trong việc giáo dục đạo đức giúp hình thành nhân cách, phẩm chất ở trẻ em tiểu học là việc tạo cho các em ý thức, chứ không phải bắt các em tuân theo bất kỳ nội quy chuẩn mực nào Chỉ đơn giản qua các thói quen sinh hoạt hàng ngày mà giúp các em biết cư xử theo lẽ phải, có tinh thần trách nhiệm, và tạo cho các em những thói quen bổ ích như rèn luyện sức khỏe, ham đọc sách… Đây là điểm tiến bộ của giáo dục Nhật Bản mà cả thế giới nhìn vào ngưỡng mộ và học hỏi

Trang 38

37

2.4 Hoạt động trải nghiệm và hoạt động tập thể ngoài giờ

Bên cạnh những hoạt động trên lớp thì các hoạt động ngoại khóa và cộng đồng cũng là cách giáo dục đạo đức để hình thành nhân cách cho trẻ em Tại các cấp học ở Nhật, các câu lạc bộ là nơi các em được tham gia tự nguyện, sinh hoạt cùng các bạn theo năng khiếu sở thích cá nhân Các câu lạc bộ này đóng vai trò quan trọng trong thời khóa biểu hoạt động trong một ngày tại trường của các em học sinh Phần lớn các em sẽ tham gia vào ít nhất một câu lạc bộ thể thao, âm nhạc hoặc các câu lạc bộ văn hóa truyền thống như kiếm đạo, cung đạo,… sau khi kết thúc giờ học trên lớp Sinh hoạt các câu lạc bộ là

cơ hội giúp các em tự tin hơn, phát huy được sở trường, năng lực riêng bản thân, tạo môi trường giao lưu gặp gỡ nhiều bạn, nâng cao khả năng làm việc nhóm, tính năng động, sáng tạo cũng được phát huy, và quan trọng là các em

có nhận thức văn hóa xã hội cùng khả năng xử lý các tình huống xảy ra thực

tế Những điều này trên lớp không thể nào học được

Một năm học ở trường tiểu học Nhật Bản thường bắt đầu vào tháng 4

và kết thúc vào giữa tháng 3 năm sau Mỗi năm có ba học kì, và tương ứng là

ba kì nghỉ lễ Trong đó vào kì nghỉ hè là kì nghỉ dài nhất trong năm nên các

em được giao bài tập về nhà làm Thường sẽ là tập tự nghiên cứu về một đề tài mà các em thích, có thể là cảm nhận về một cuốn sách, trồng hoa và viết báo cáo theo dõi sự phát triển của hoa, tự làm sản phẩm thủ công hoặc vẽ một bức tranh, Những bài tập này giúp cho các em học cách quan sát, theo dõi, ghi nhận của sự vật, sự việc Cuối cùng sau khi có được thành quả, các em sẽ

có bài cảm nhận, báo cáo quá trình làm việc của mình Việc này giúp cải thiện khả năng thuyết trình trước lớp cho các em

Ngoài môn Giáo dục đạo đức, những hoạt động môn khác như môn Khoa học cũng sẽ góp phần nuôi dưỡng nhân cách cho học sinh thông qua các hoạt động như chăm sóc, nuôi dưỡng vật nuôi, làm quen với thiên nhiên, môi trường sống Điều này không những giúp các em tiếp thu kiến thức dễ dàng

Trang 39

38

hơn mà còn hình thành cho các em ý thức yêu thiên nhiên, môi trường, học cách biết yêu quý và chăm sóc các loài sinh vật xung quanh Ở trong trường học, có những khu vực riêng để nuôi cá và các sinh vật nhỏ, có khi là trong lớp học Các em học sinh lần lượt thay phiên nhau chăm sóc cho con vật, ngay cả ngay kì nghỉ các em cũng đến trường để thực hiện nhiệm vụ này Không những thế, các em có thể tự tay trồng cây, trồng hoa, thu hoạch, học cách phân biệt các loại cây, ngắm hoa… Các hoạt động chăm sóc và sản xuất này giúp phát triển nơi học sinh tình yêu đối với thiên nhiên và ý thức bảo vệ môi trường xung quanh để gián tiếp bảo vệ sinh vật

Một ví dụ cho một hoạt động cộng đồng là hoạt động trồng lúa của các

em học sinh là ở trường tiểu học Shinamodai Mùa xuân thì các em được hướng dẫn làm đất và gieo hạt, sau đó chăm sóc cây lúa và đến mùa thu thì thu hoạch Trong suốt quá trình này, các em sẽ được người có chuyên môn của địa phương hướng dẫn từ gieo trồng cho đến thu hoạch Thành phẩm sẽ được chế biến thành bánh mochi Việc vừa cho các em thực hành, vừa giúp các em hiểu kiến thức trong sách này rất có ý nghĩa vì các em sẽ biết được cả quy trình để có được bánh gạo là như thế nào Từ đó hiểu được để có thức ăn thì mất bao công sức, vất vả để tạo ra nguyên liệu và chế biến thành sản phẩm Qua đó các em sẽ biết tiết kiệm thức ăn, yêu quý, tôn trọng, biết ơn người đã làm ra thức ăn Mặt khác, hoạt động này sẽ giúp gắn kết các em lại với nhau

và kết nối các em với người dân địa phương, hình thành các tình cảm yêu quý bạn bè, yêu quê hương trong bản thân các em.10

Bên cạnh đó, nhà trường tổ chức cũng các hoạt động liên quan đến học tập cho các em các hoạt động dã ngoại, vui chơi giải trí, hay các chuyến đi thực tế để tìm hiểu về truyền thống của địa phương mình Các hoạt động ngoại khóa kết hợp cộng đồng như đi câu cá, đi cắm trại… Ở cấp tiểu học, các hoạt động dã ngoại được tổ chức thường xuyên nhằm phục vụ học tập cũng

10 Tham khảo tại: http://web-japan.org/kidsweb/meet/shinanodai/special102.html

Trang 40

39

như tạo điều kiện cho học sinh giao lưu, tiếp xúc với thế giới bên ngoài nhà trường và thực tập hoạt động nhóm, hoạt động tập thể Cuộc dã ngoại có thể diễn ra trong thời gian ngắn như hoạt động thực địa trong một giờ, giáo viên

và học sinh đi thị sát thực tế về cấu trúc của phố xá Hay những hoạt động ngắn kéo dài từ nửa ngày đến một ngày, học sinh được dẫn đến tham quan thực tế để tìm hiểu về hoạt động của siêu thị, các của hàng tiện lợi gần khu vực trường học Thậm chí, học sinh có thể đến đồn cảnh sát để tìm hiểu hoạt động của các cảnh sát; đến nhà dưỡng lão để xem người già được chăm sóc ra sao, thực tập ngồi và đẩy xe lăn để hiểu về cuộc sống và những khó khăn trong sinh hoạt của người tàn tật Học sinh còn được đến nhà văn hóa cộng đồng, tham quan hoạt động cộng đồng và tham gia một số sinh hoạt văn hóa dân tộc với các cụ cao niên… Vào các mùa thì có thể quan sát thiên nhiên, cảm nhận các yếu tố về mùa Lên lớp 5 và 6, học sinh tham gia những chuyến

dã ngoại hai đêm một ngày Đây là những chuyến đi được học sinh rất mong đợi vì các em có cơ hội trải nghiệm sống tự lập và có nhiều kỷ niệm với nhau

vì được cùng ăn, cùng ở với nhau suốt chuyến đi.11

Những cuộc dã ngoại gần được thực hiện bằng cách đi bộ, có khi việc

đi bộ tốn đến 1 tiếng đồng hồ Các cuộc dã ngoại xa tới các địa điểm lịch sử, văn hóa, thì sẽ được tổ chức bằng phương tiện giao thông công cộng như xe buýt hay tàu điện Đây là những dịp học sinh được học hỏi trên thực tế rất nhiều điều, không chỉ là kiến thức, kỷ luật mà còn là cách ứng xử với bạn bè, với những người xung quanh, cách quản lý chi tiêu tiền, và hơn thế nữa học sinh có thể hình thành ý thức chấp hành tuân thủ luật lệ giao thông, ứng xử nơi công cộng

Như vậy chúng ta có thể thấy việc giáo dục nhân cách, phẩm chất của các em học sinh được kết hợp từ rất nhiều khía cạnh khác nhau Dù là trong giờ học hay là các hoạt động ngoài lớp học, nhưng tất cả đều chung mục tiêu

11 Tham khảo từ: nguoi-nhat-2994323.html

Ngày đăng: 14/04/2021, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w