Trong những năm qua, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hành nghiêm chỉnh Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HUỲNH PHƯƠNG MINH
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CÁO TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HUỲNH PHƯƠNG MINH
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CÁO TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Trang 3Cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua
Đặc biệt tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Phan Thị Thanh Mai người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Huỳnh Phương Minh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Huỳnh Phương Minh
Trang 6Bảng 3.1.1b Thống kê số lượng bị cáo là người chưa thành niên trong tổng
số bịcáo xét xử trên cả nước năm 2013-2017
Bảng 3.1.5 Số liệu tổng số vụ án hình sự sơ thẩm có luật sư tham gia các
năm 2015, 2016 Biểu đồ 3.1.5 Tỉ lệ vụ án có luật sư bào chữa năm 2015, 2016
Bảng 3.1.6 Số lượng bị cáo thực hiện quyền kháng cáo và tỷ lệ số bị cáo
thực hiện quyền kháng cáo trên tổng số bị cáo Tòa án sơ thẩm
đã xét xử
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 7 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CÁO TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 7 1.1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 7 1.2 Ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 14 1.3 Những điều kiện bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 15 1.4 Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 22 CHƯƠNG 2 29 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CÁO TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 29 2.1 Quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 29 2.2 Nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 53 CHƯƠNG 3 58 THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CÁO TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ MỘT
SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM BẢO ĐẢM THỰC HIỆN 58 3.1 Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự 58 3.2 Nguyên nhân và một số kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 76 KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xét xử sơ thẩm mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, được coi là giai đoạn trung tâm của tố tụng hình sự Bị cáo là một trong những chủ thể tham gia tố tụng hình sự, việc nhà nước bảo đảm cho bị cáo quyền bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ là việc làm hết sức cần thiết Điều 72 Hiến pháp
năm 2013 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi
chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại
về vật chất và phục hồi danh dự” Nhưng việc bảo đảm quyền không có nghĩa
là họ không phải thực hiện những nghĩa vụ khi tham gia tố tụng, song song với việc có các quyền lợi pháp lý thì họ cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, sự bình đẳng cho những người tham gia tố tụng, đặc biệt đối với bị cáo phải được pháp luật tôn trọng và thực hiện triệt để, nhằm giúp cho quá trình giải quyết vụ án được nhanh chóng, khách quan và chính xác, đồng thời là cơ sở để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dân chủ, văn minh
Trong những năm qua, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hành nghiêm chỉnh Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 20201
, các cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đạt được nhiều thành tích trong việc bảo đảm và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của công dân Tuy nhiên, các quy định pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng
về vấn đề bảo đảm việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của bị cáo vẫn còn tồn tại bất cập Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị cáo
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về
chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Trang 9nhưng vẫn còn những vi phạm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của
họ, chưa bảo đảm thực hiện đúng đắn quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự Nguyên nhân của tình trạng trên một phần do bản thân các bị cáo vẫn chưa có sự tự giác trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình, một
số bị cáo còn cố tình tránh né và phải chờ đến khi có sự cưỡng chế từ cơ quan
có thẩm quyền thì mới thực hiện nghĩa vụ, mặt khác, pháp luật về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm còn nhiều hạn chế
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 đã bổ sung nhiều quy định mới liên quan đến quyền và nghĩa vụ của bị cáo; do đó cần phải được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện để
từ đó có những giải pháp bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đạt hiệu quả hơn, khắc phục được những tồn tại, hạn chế so với các bộ luật trước Chính vì vậy, xuất phát
từ vị trí là một học viên, một người nghiên cứu pháp luật, tác giả lựa chọn đề
tài: “Quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự” làm luận văn thạc sĩ luật học với hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc
làm cho vấn đề này ngày một thực tế, hoàn thiện và phù hợp hơn, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cho bị cáo khi tham gia tố tụng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự là một vấn đề quan trọng Việc tuân thủ pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo nhưng trên thực tế, quyền lợi của họ thường không được bảo đảm Đã có nhiều công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học, giáo trình, bình luận khoa học nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể
tên một số công trình nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu có tính đại cương như: Giáo trình Luật tố tụng hình sự
Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (Nxb Công an nhân dân, 2018)
do PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên; Bình luận khoa học Bộ luật Tố
Trang 10tụng hình sự Việt Nam của Học viện Khoa học xã hội (Nxb Tư pháp, 2012)
GS.TS Võ Khánh Vinh, Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự
2015 (Nxb Chính trị quốc gia, 2016) do PGS.TS Nguyễn Hòa Bình chủ biên
- Nghiên cứu lí luận làm cơ sở cho nghiên cứu đề tài: Luận án tiến sĩ
luật học “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Lại Văn Trình (Trường Đại học
Luật thành phố Hồ Chí Minh, 2011); Bài viết “Đảm bảo quyền con người của
bị cáo trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và định hướng tiếp tục hoàn thiện” (Khoa học pháp lý, Số 6/2009) của tác giả Võ Thị Kim Oanh
- Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài: Luận văn thạc sĩ luật học
“Quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị buộc tội trong Luật tố tụng hình sự
Việt Nam” của tác giả Đinh Hải Ninh (Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội,
2017); Luận văn thạc sĩ luật học “Quyền bào chữa của người bị buộc tội
trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự” của tác giả Nguyễn Trần Hà Linh (Đại
học Luật Hà Nội, 2016)
- Những nghiên cứu trực tiếp về đề tài: Đáng chú ý là: Luận án tiến sĩ
“Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
của TAND cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Võ Quốc Tuấn (Học
viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2017); Luận án tiến sĩ luật học “Hoàn
thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền của bị can, bị cáo” của
tác giả Nguyễn Sơn Hà (Đại học Luật Hà Nội, 2015); Luận văn thạc sĩ
“Quyền của bị cáo trong Tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Trần Thị Thanh Thúy (Đại học Luật Hà Nội, 2013); Bài viết “Hoàn thiện quy định về
bị can, bị cáo trong Bộ luật Tố tụng hình sự” (tạp chí Kiểm sát số 01/2009)
của tác giả Phạm Hồng Hải; bài viết “Bất cập về thực hiện một số quyền và
nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong thực tiễn” (Tạp chí nhà nước và pháp luật
số 12/2010) của tác giả Nguyễn Khắc Quang…
Những công trình khoa học, bài viết nghiên cứu khoa học này hoặc chỉ chú trọng tìm hiểu đến quyền con người, quyền của bị cáo trong tố tụng
Trang 11hình sự mà chƣa nghiên cứu về nghĩa vụ của bị cáo, hoặc nghiên cứu ở góc độ bảo đảm quyền của bị cáo mà không nghiên cứu trực tiếp về quyền của bị cáo; hoặc chỉ nghiên cứu quyền và nghĩa vụ của bị cáo ở phạm vi rộng mà chƣa có một công trình nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện cả về quyền
và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Bên cạnh
đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) đã có những quy định mới về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm nên việc nghiên cứu đề tài là cần thiết và không trùng lặp nội dung… Nhiều vấn đề lý luận thực tiễn xung quanh vấn đề quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cũng đòi hỏi phải đƣợc tiếp tục nghiên cứu một cách tổng quan, toàn diện và sâu sắc hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, tác giả đề xuất một vài kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn xây dựng khái niệm về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; làm rõ ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; từ
đó xác định các điều kiện bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị cáo Luận văn nghiên cứu sơ lƣợc lịch sử phát triển của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; phân tích, đánh giá quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về vấn đề này và so sánh với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003; từ đó làm rõ thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ
Trang 12thẩm vụ án hình sự; xác định nguyên nhân của những hạn chế vướng mắc và kiến nghị sửa đổi bổ sung một vài điều trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 và kiến nghị một số giải pháp khác nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, những quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu khái niệm quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; ý nghĩa và những điều kiện bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự Tập trung phân tích quy định của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa
vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong 5 năm từ năm 2013 đến năm 2017 trên phạm vi cả nước Tìm hiểu nguyên nhân, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
5 Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm và đường lối của Đảng, Nhà nước về pháp luật, về quyền con người, quyền công dân Phương pháp nghiên cứu khoa học được sử dụng là phương
Trang 13pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết, phân tích tổng hợp thực tiễn, phương pháp lịch sử, phương pháp lí luận kết hợp với thực tiễn, phương pháp so sánh luật
để làm rõ các vấn đề nghiên cứu,…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học:
Ở một khía cạnh nhất định, có thể nói luận văn đóng góp một phần nhỏ
bé vào khoa học pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Luận văn góp phần thống nhất nhận thức đối với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn được bảo vệ thành công sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu, học tập tại các cơ sở đào tạo luật; luận văn cũng có thể
là tài liệu tham khảo cho những người làm công tác thực tiễn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2: Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về quyền
và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 3: Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số kiến nghị bảo đảm thực hiện
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CÁO TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm bị cáo
Theo Từ điển tiếng Việt thì “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định
đưa ra xét xử”2 Còn theo từ điển Hán Nôm thì “Bị cáo là người bị tố cáo
được đưa ra xét xử”3
Định nghĩa bị cáo được đưa ra đầu tiên trong bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự kèm theo Thông tư số 16/TANDTC
ngày 27/9/1974 của Tòa án nhân dân tối cao, theo đó “Bị cáo là người bị truy
cứu trách nhiệm hình sự trước Tòa án nhân dân Trong giai đoạn xét xử TAND chỉ được đưa một người ra xét xử với tư cách là bị cáo nếu VKSND đã truy tố người đó trước TAND, nếu Viện kiểm sát không truy tố thì TAND không được xét xử một người với tư cách là bị cáo trừ những người mà TAND xét xử về việc hình phạt nhẹ” Tiếp đó, BLTTHS năm 1998 ra đời thì khái
niệm bị cáo được quy định tại Điều 34 của bộ luật4 và sau này, khái niệm bị cáo tiếp tục được sửa đổi, ghi nhận theo hướng diễn đạt ngắn gọn hơn tại
Điều 50 BLTTHS năm 2003, theo đó: “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết
định đưa ra xét xử” Như vậy, kể từ thời điểm Thẩm phán được phân công
chủ tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị can trở thành bị cáo
và tư cách này tồn tại suốt giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và chỉ chấm dứt khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ra đời là một bước phát triển mang tính đột phá trong lịch sử lập pháp của nước ta, làm thay
Trang 15đổi nhận thức truyền thống về tội phạm và hình phạt Lần đầu tiên BLTTHS năm 2015 ghi nhận bị cáo là người hoặc pháp nhân Khoản 1 Điều 61
BLTTHS năm 2015 quy định: “Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án
quyết định đưa ra xét xử Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân” BLTTHS
năm 2015 cũng đồng thời quy định quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự đối với pháp nhân thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân BLTTHS năm 2015 đã xây dựng một chương riêng là Chương XXIX – Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân, từ Điều 431 đến Điều 446 Cụ thể: Điều 431 BLTTHS năm 2015 quy định phạm vi áp dụng của BLTTHS đối
với pháp nhân, theo đó: “Thủ tục tố tụng đối với pháp nhân bị tố giác, báo tin
về tội phạm, kiến nghị khởi tố , bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tiến hành theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này” Như vậy, với tư
cách là chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS, pháp nhân thông qua người đại diện theo pháp luật có quyền và nghĩa vụ tham gia đầy đủ vào các giai đoạn TTHS Mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân Pháp nhân phải
cử và bảo đảm cho người đại diện theo pháp luật của mình tham gia đầy đủ các hoạt động theo yêu cầu của cơ quan, người có th ẩm quyền Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử hoặc không thể tham gia tố tụng được thì pháp nhân phải cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tố tụng Trường hợp pháp nhân thay đổi người đại diện thì pháp nhân phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền THTT Tại thời điểm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà pháp nhân không có người đại diện theo pháp luật hoặc có nhiều người cùng
là đại diện theo pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền THTT chỉ định một người đại diện cho pháp nhân tham gia tố tụng.5
5 Điều 434 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Trang 16Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận khái niệm bị cáo là cá nhân hoặc pháp nhân là toàn diện và đầy đủ, đáp ứng yêu cầu cấp bách từ thực tiễn, khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân trong thời gian qua Dưới góc độ luật tố tụng hình sự, khái niệm bị cáo được hiểu là cá nhân hoặc pháp nhân bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử
Bị cáo là người hoặc pháp nhân bị buộc tội trong giai đoạn xét xử, thời điểm
bị can trở thành bị cáo là thời điểm Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Từ khái niệm trên, có thể thấy bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, tư cách bị cáo xuất hiện khi Thẩm phán được phân công chủ
tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Như vậy, bị cáo chỉ là khái niệm mang tính hình thức, căn cứ vào văn kiện tố tụng được áp dụng đối với người đó mà hình thành nên tư cách bị cáo Một người sẽ trở thành bị cáo khi
bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử, quyết định đó có thể đúng nhưng cũng có thể sai6 Bị cáo không phải là người có tội, bị cáo chỉ trở thành người có tội nếu sau khi xét xử họ bị Tòa án ra bản án kết tội và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật
Thứ hai, đặc điểm về chủ thể: bị cáo có thể là là cá nhân hoặc pháp
nhân Cá nhân là bị cáo bao gồm cả công dân, người nước ngoài Bị cáo là cá nhân là nhóm phổ biến nhất Bị cáo là pháp nhân tuy không phổ biến bằng nhóm bị cáo là cá nhân nhưng thực trạng đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới đã minh chứng, hiện nay ở Việt Nam và trên thế giới ngày càng xuất hiện nhiều các tội phạm kinh tế, tội phạm môi trường, người phạm tội không chỉ là cá nhân mà còn là các pháp nhân Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và xác định tư cách bị cáo đối với pháp nhân thương mại là một vấn đề mới được đặt ra BLTTHS năm 2015 quy định bị cáo là cá nhân
và pháp nhân là một tiến bộ, tạo nên môi trường xã hội an toàn, lành mạnh cho mọi người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước
6
Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, 2018
Trang 171.1.2 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của bị cáo
Khái niệm quyền và nghĩa vụ có thể được tiếp cận ở nhiều góc độ khác
nhau Theo định nghĩa trong Đại từ điển tiếng Việt thì “Quyền là thế, sức
mạnh, lợi lộc được hưởng do pháp luật công nhận hoặc do địa vị đem lại”7
Theo Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp thì “Quyền
là một khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế”8 Có thể đưa ra định nghĩa quyền là những điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi
Khi tham gia vào hoạt động tố tụng hình sự, dù với tư cách là người bị buộc tội thì bị cáo vẫn được pháp luật bảo vệ và tôn trọng dựa trên những quyền con người, quyền công dân mà Hiến pháp đã ghi nhận cho họ, tuy nhiên có những hạn chế nhất định nhằm bảo đảm thuận lợi cho các hoạt động
tố tụng được thực hiện, đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khác Trong luận văn này, tác giả tiếp cận quyền dưới góc độ là những điều một người được làm hoặc buộc phải làm
Thông qua các quy định của BLTTHS, Nhà nước trao cho con người những phương tiện cần thiết để bảo vệ các quyền của mình và thiết lập các cơ chế để giải quyết cũng như đảm bảo các quyền của các chủ thể tham gia tố tụng Các quyền này khi được pháp luật tố tụng hình sự quy định tức là đã được Nhà nước chính thức thừa nhận chủ thể đó có các quyền tố tụng nhất định mà bất kì ai trong xã hội cũng đều phải tôn trọng Trong các quyền của
bị cáo có những quyền là chủ động, tức là bị cáo tự mình quyết định hành động mà không bị chi phối bởi người khác, bị cáo có quyền được hưởng những việc mà cơ quan THTT, NTHTT phải làm cho mình, có những quyền
Trang 18bị động như quyền yêu cầu cơ quan THTT, NTHTT làm cho mình, tuy nhiên đối với yêu cầu của bị cáo, cơ quan THTT, NTHTT có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận Từ đó có thể đưa ra khái niệm quyền của bị cáo như sau: Quyền của bị cáo là những điều mà người bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử theo quy định của BLTTHS được hưởng, được làm, được đòi hỏi
Mỗi người khi thực hiện quyền của mình đồng thời cũng phải có nghĩa
vụ tuân thủ pháp luật, tôn trọng và không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Về nghĩa
vụ của bị cáo: Theo Từ điển tiếng Việt: “Nghĩa vụ là việc mà pháp luật hay
đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác” 9
kể cả biện pháp cưỡng chế
Theo quy luật tất yếu của cuộc sống, quyền được đặt trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với xã hội và được giải quyết trên cơ sở đảm bảo lợi ích xã hội Người được hưởng những quyền lợi nhất định đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ và người thực hiện nghĩa vụ thì phải được hưởng quyền Quyền của người này có thể là nghĩa vụ của người khác Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, con người được coi
là trung tâm của mọi chính sách kinh tế, xã hội, được tạo mọi điều kiện phát triển Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân là mối quan hệ bình đẳng trên
cơ sở pháp luật Quyền và nghĩa vụ của Nhà nước và công dân được pháp luật quy định rõ ràng và minh bạch Nhà nước và công dân đều phải thực hiện quyền và nghĩa của của mình trên cơ sở quy định của pháp luật
Trang 19Trong tố tụng hình sự, bị cáo là hạt nhân trong quá trình THTT ở mọi quốc gia, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị cáo tức là bảo đảm lợi ích hợp pháp của công dân Nếu nghiên cứu quyền của bị cáo dựa trên cơ sở quyền công dân thì quyền của bị cáo trong TTHS chính là mối quan hệ pháp lý trong
đó bị cáo được yêu cầu chính đáng đối với NTHTT hoặc đối với cơ quan THTT nhằm thực hiện một trách nhiệm liên quan tới việc thực hiện quyền của
bị cáo Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là quyền và trách nhiệm của cá nhân, pháp nhân được quy định trong BLTTHS, đặt trong mối quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa bị cáo và Tòa án Việc ghi nhận quyền và nghĩa vụ của bị cáo tạo cơ hội tốt cho bị cáo tham gia vào quá trình tố tụng Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra định nghĩa về quyền và nghĩa vụ
của bị cáo nhưng có thể kết luận: Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là tổng hợp
những điều mà Bộ luật Tố tụng hình sự quy định cho người bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử được hưởng, được làm, được đòi hỏi và những điều mà người này bắt buộc phải làm đối với Tòa án
1.1.3 Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo từ điển Luật học: “Xét xử là hoạt động xem xét đánh giá bản chất
pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc”11 Từ điển Luật
học giải thích: “Xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa
án có thẩm quyền 12” Quan điểm này mang tính chất khái quát chung, phản
ánh đặc trưng của xét xử sơ thẩm là “lần đầu tiên” đưa vụ án ra xét xử và do
“một Tòa án có thẩm quyền xét xử” Như vậy, xét xử sơ thẩm là xét xử lần
đầu do Tòa án có thẩm quyền thay mặt Nhà nước tiến hành việc xét xử tổng thể vụ án hình sự một cách toàn diện, trên cơ sở bản cáo trạng của Viện kiểm sát, xem xét, đánh giá chứng cứ và dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa
Trang 20làm cơ sở để ra các phán quyết công minh, có căn cứ và đúng pháp luật bằng bản án và quyết định của mình13
Trong tố tụng hình sự, hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được coi
là giai đoạn trọng tâm của quá trình tố tụng vì “Không ai bị coi là có tội và
phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” 14 Như vậy, để xác định một người có tội và phải chịu hình phạt hay
không đòi hỏi phải đưa họ ra xét xử trước phiên tòa, đầu tiên là ở phiên tòa sơ thẩm Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử vụ án đó ở cấp đầu tiên, do Tòa
án có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật TTHS Bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, bản án, quyết định đó có thể
bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn luật định Trong hệ thống cơ quan tư pháp, Tòa án là cơ quan duy nhất được phân công thực hiện chức năng xét xử, trong đó có xét xử hình sự Việc xét xử của Tòa
án tạo cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh chống tiêu cực Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được quy định trong BLTTHS 2015 là TAND cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực, TAND cấp tỉnh và Tòa án cấp quân khu15
Như vậy, có thể kết luận: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai
đoạn, được thực hiện sau khi Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can bằng một bản cáo trạng và chuyển hồ sơ vụ án hình sự sang Tòa án Khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án cùng với bản cáo trạng, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì mở ra giai đoạn tố tụng hình sự là xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động nhà nước do
Tòa án thực hiện trên cơ sở những tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, quyết định truy tố của Viện kiểm sát, đồng thời bằng việc xem xét, đánh giá tòan diện các chứng cứ, các tài liệu có được qua hoạt động xét xử tại phiên tòa, trên cơ sở đó ra bản án, quyết định xác định có hành vi
Trang 21phạm tội hay không, người thực hiện hành vi phạm tội, hình phạt được áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội và giải quyết các vấn đề khác có liên quan trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật thông qua bản án hoặc quyết định
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Quyền và nghĩa vụ
của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là những việc mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, người bị Tòa án đưa ra xét xử được hưởng, được làm, được đòi hỏi hoặc buộc phải làm trong giai đoạn Tòa
án xem xét, giải quyết vụ án về nội dung ở cấp thứ nhất, từ khi người đó bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử đến khi hết thời gian kháng cáo, kháng nghị hoặc bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
1.2 Ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Việc quy định quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có nhiều ý nghĩa quan trọng
Quy định của BLTTHS về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là căn cứ pháp lý để bị cáo được thực hiện các hoạt động tố tụng,buộc bị cáo phải làm theo yêu cầu của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, đặc biệt là tranh tụng tại phiên tòa nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Quy định về quyền và nghĩa
vụ của bị cáo cũng đồng thời là căn cứ pháp lý buộc Tòa án phải chủ động làm những việc đối với bị cáo hoặc xem xét giải quyết yêu cầu của bị cáo, cho phép Tòa án cấp sơ thẩm được chủ động thực hiện nhiệm vụ trong trường hợp
bị cáo không thực hiện nghĩa vụ Việc nắm vững quy định về quyền và nghĩa
vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và bảo đảm thực hiện giúp Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết vụ án hình sự, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan
Trang 22người vô tội, góp phần bảo đảm lợi ích của nhà nước, của xã hội, đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác
Ý nghĩa chính trị- xã hội:
BLTTHS năm 2015 đã quy định chi tiết, rõ ràng các quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự giúp họ ý thức được quyền và thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ của mình trong quan hệ pháp luật, đồng thời tránh được sự vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Việc xét xử công khai của phiên tòa hình sự sơ thẩm góp phần giáo dục công dân ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng các quy tắc cuộc sống, nâng cao ý thức đấu tranh phòng chống tội phạm ở công dân Những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của bị cáo giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong BLTTHS năm 2015 góp phần nâng cao chất lượng công tác xét xử; nâng cao trách nhiệm của các cơ quan THTT và NTHTT Mọi hoạt động của cơ quan THTT, NTHTT phải được đảm bảo thực hiện khách quan, công tâm, đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, bảo đảm công bằng xã hội, tăng cường dân chủ, củng cố lòng tin của người dân vào Tòa án, từ đó tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của Nhà nước, góp phần ổn định trật tự xã hội
1.3 Những điều kiện bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.3.1 Điều kiện về mặt pháp luật
Trong tố tụng hình sự Việt Nam, quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được bảo đảm thực hiện bằng các chế định mang tính pháp lý có giá trị thực tiễn Quyền và nghĩa vụ của bị cáo được đảm bảo thực hiện thông qua các nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS; việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền của bị cáo và trình tự thủ tục liên quan đến việc thực hiện quyền
và nghĩa vụ của bị cáo
Trang 23Thứ nhất, việc bảo đảm thực hiện quyền của bị cáo được quy định trong nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự:
Nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS là những phương châm định hướng chi phối toàn bộ hay một số giai đoạn của hoạt động TTHS Các nguyên tắc này được cụ thể hóa trong BLTTHS 2015, quy định từ Điều 7 đến Điều 33 Các nguyên tắc cơ bản thể hiện rõ tinh thần bảo vệ quyền của con người trong tố tụng hình sự, trong đó có một vài nguyên tắc chính như sau:
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật Đây là một trong những nguyên tắc hiến định, quy định tại Điều 16 Hiến pháp 2013, theo đó:
“Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong
đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” Nguyên tắc này được cụ
thể hóa tại Điều 9 BLTTHS năm 2015: “Tố tụng hình sự được tiến hành theo
nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế” Nội
dung nguyên tắc thể hiện yêu cầu mọi cá nhân, pháp nhân khi tham gia vào các hoạt động TTHS đều có quyền và nghĩa vụ như nhau, không có sự phân biệt, việc áp dụng các biện pháp tố tụng đối với họ luôn phải dựa trên quy định của pháp luật TTHS Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật là yếu tố không thể thiếu trong một xã hội dân chủ Trong TTHS, quyền bình đẳng trước pháp luật được hiểu là khi tham gia với cùng một tư cách tố tụng sẽ có các quyền và nghĩa vụ tố tụng như sau Tuy nhiên, bình đẳng không có nghĩa
là ngang bằng, nếu chủ thể thuộc nhóm yếu thế trong xã hội, ví dụ như người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì pháp luật có những quy định có tính chất hỗ trợ pháp lý để họ có thể thực sự bình đẳng với các chủ thể khác như được chỉ định người bào chữa trong trường hợp không
có người bào chữa,… hoặc vì lí do nhân đạo như những trường hợp người phạm tội mà khung hình phạt cao nhất đối với tội họ phạm là chung thân, tử
Trang 24hình thì được chỉ định người bào chữa, hoặc do đặc thù của chủ thể (bị cáo
là pháp nhân) thì pháp luật cũng có những quy định khác để bảo đảm quyền lợi cho họ Những chủ thể có đặc điểm giống nhau pháp luật quy định được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Chính từ những yêu cầu đòi hỏi thực tiễn này mà quyền và nghĩa vụ của bị cáo phải được bảo đảm bình đẳng trước pháp luật Chỉ khi bị cáo có sự bình đẳng thì mới có điều kiện thực hiện các quyền mà pháp luật cho phép nhằm chứng minh cho sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình, đồng thời tự bảo vệ mình trước sự xâm phạm bất hợp pháp từ phía cơ quan,người có thẩm quyền THTT
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo trong TTHS được quy định tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 2013 và cụ thể hóa tại Điều 16 BLTTHS
năm 2015: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào
chữa” Quyền tự bào chữa được coi là quyền cơ bản, đặc thù của bị cáo, họ là
chủ thể bị buộc tội nên phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho mình Bên cạnh đó, bị cáo cũng có thể nhờ người khác bào chữa Đối với những bị cáo thuộc nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội mà theo pháp luật về trợ giúp pháp lý thì họ có quyền được trợ giúp pháp lý, được bào chữa miễn phí mà không phải trả tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác theo quy định pháp luật16 Pháp luật quy định về trợ giúp pháp lý giúp những bị cáo thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật cho bị cáo; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội Có thể thấy, nguyên tắc bị cáo được quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa giúp bị cáo có cơ hội tự thể hiện thái độ, quan điểm của mình trước hành vi đã thực hiện và sự cáo buộc của Viện kiểm sát, đồng thời đưa ra những lí lẽ, chứng cứ chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình hoặc nhờ một người có hiểu biết để bào chữa bảo vệ quyền lợi cho mình Cơ quan, người có thẩm quyền THTT có trách nhiệm thông
16
Xem Điều 7 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 ngày 20/6/2017
Trang 25báo, giải thích và bảo đảm cho bị cáo thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền
và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật
Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm: Nguyên tắc này là
sự bảo đảm phù hợp với Hiến pháp 2013, đặt cơ sở pháp lý quan trọng cho việc chuyển hướng tích cực của tố tụng hình sự nước ta, có tính đột phá theo tinh thần của cải cách tư pháp17 được quy định tại Điều 26 BLTTHS năm
2015 Theo đó, tranh tụng cần đến sự phân vai rõ ràng giữa các chủ thể và nhờ đó, các chủ thể hình thành bên buộc tội, bên bào chữa với lợi ích tố tụng độc lập và khác nhau Tố tụng tranh tụng trong xét xử được coi là địa hạt hành động của cả hai phía: phía nhà nước mà đại diện là các cơ quan có chức năng buộc tội; phía bị cáo cùng người bào chữa hoặc do người bào chữa đại diện18 Bản chất của quá trình tranh tụng này là việc các bên đưa ra những trình bày, tranh luận để làm rõ các chứng cứ buộc tội và gỡ tội tại phiên tòa Thông qua tranh tụng giữa các bên, Tòa án có thể hiểu rõ hơn các tình tiết của toàn bộ vụ
án, tái hiện lại vụ án một cách trung thực, khách quan, trên cơ sở đó vận dụng chính xác của quy định của pháp luật để đưa ra phán quyết đúng đắn Nguyên tắc này bảo đảm cho bị cáo được thực hiện các quyền của mình tại phiên tòa,
ví dụ như quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu đồ vật, quyền trình bày ý kiến,… tự bảo vệ mình trước sự buộc tội của Viện kiểm sát
Thứ hai, đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm bằng các quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án Quy định về quyền và nghĩa
vụ của bị cáo cũng đồng thời là căn cứ pháp lý buộc Tòa án phải thực hiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Quyền của bị cáo có thể là nghĩa
vụ đối với Tòa án, cụ thể là với Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Điều
17 BLTTHS năm 2015 quy định: Trong quá trình THTT, cơ quan, người có
17
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020 xác định: “Nâng cao chất lượng trang tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột
phá của hoạt động tư pháp”
18
Nguyễn Hòa Bình (2016), Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr 83
Trang 26thẩm quyền THTT phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình Bộ luật cũng quy định trách nhiệm xử ý khi cơ quan THTT, THTT vi phạm pháp luật trong quá trình xét xử, làm ảnh hưởng quyền của bị cáo thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà
bị xử lý kỉ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Tòa án phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện được đầy đủ quyền của mình, bảo vệ lợi ích chính đáng khi tham gia tố tụng nhằm làm rõ
sự thật khách quan của vụ án Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án là cơ sở để bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thứ ba, bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo bằng các quy định pháp luật về trình tự thủ tục xét xử sơ thẩm liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo và bằng các quy định pháp luật cụ thể về quyền
và nghĩa vụ của bị cáo Để bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho bị cáo, quy định
về quyền và nghĩa vụ của bị cáo phải có sự cụ thể hóa trong các điều luật, tạo nên một trình tự, thủ tục xét xử tại phiên tòa Quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự phải cụ thể, đầy đủ, rõ ràng để bị cáo có thể hiểu và tự bảo vệ quyền của mình, đồng thời nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ, đảm bảo việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong tố tụng hình sự đầy đủ và toàn diện hơn
1.3.2 Các điều kiện khác:
Thứ nhất là điều kiện về con người: Để bảo đảm quyền và nghĩa vụ của
bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, cơ quan THTT, NTHTT phải thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ của mình Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, các chủ thể có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa
án, Luật sư, người bào chữa cho bị cáo và các chủ thể có liên quan Những người này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bị cáo Do vậy, nâng cao
Trang 27nhận thức về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, hay nói cách khác là tăng cường giáo dục quyền và nghĩa vụ cho những người THTT là các Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký, những người tham gia tố tụng là việc làm cần thiết bởi điều đáng lo ngại nhất khi nói đến vấn đề bảo vệ quyền
và nghĩa vụ của bị cáo chính là sự xâm phạm từ phía công quyền, sự xâm phạm này không chỉ thể hiện ở việc pháp luật còn khoảng trống mà phần nhiều nằm ở chính hoạt động cụ thể của NTHTT Bên cạnh đó, đội ngũ luật
sư, trợ giúp pháp lý, cũng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị cáo Luật sư, trợ giúp pháp lý có kiến thức, am hiểu quy định pháp luật thì mới có thể bào chữa, bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho bị cáo Ngoài ra, cần nâng cao khả năng tự bảo vệ, quyền và trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của bị cáo bằng việc tạo điều kiện tốt nhất để họ có thể tiếp cận các dịch vụ pháp lý, thực hiện quyền bào chữa của mình trong quá trình tố tụng và đặc biệt là tăng cường giải thích, giáo dục pháp luật cho bị cáo thì quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mới được đảm bảo trên thực tiễn
Thứ hai là điều kiện về cơ sở vật chất như trại tạm giam, phòng cách li
ở phòng xử án, phòng xử thân thiện với bị cáo dưới 18 tuổi… Điều 35 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam cũng quy định cụ thể về người bị tạm giữ, tạm giam là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi Cụ thể: bị cáo bị tạm giam là phụ nữ có thai được bố trí nơi ở hợp lý, được khám thai, được chăm sóc y tế, được hưởng chế độ ăn uống bảo đảm sức khỏe Nếu sinh con thì được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn theo chỉ dẫn của y sĩ hoặc bác sĩ, được cấp thực phẩm, đồ dùng, thuốc men cần thiết cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh, được bảo đảm thời gian cho con bú trong thời gian nuôi con bằng sữa mẹ, 19 Đây là những quy định mang tính nhân đạo sâu sắc, nhằm bảo đảm sức khỏe cho những bị cáo là đối tượng đặc biệt
19
Điều 35 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015
Trang 28Ngoài ra, cũng cần quan tâm đến điều kiện về phòng xét xử Bị cáo là người chưa thành niên thường có thái độ sợ hãi khi tham gia xét xử tại phiên tòa, nguyên nhân một phần là do không khí nghiêm trang tại phòng xử án
Đối vớibị cáo là người dưới 18 tuổi, Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC quy
định về phòng xử án20
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018 có hướng dẫn việc bố trí phòng xử án phải phù hợp với việc xét xử từng loại vụ án, vụ việc nhằm bảo đảm chất lượng, hiệu quả xét xử Phòng xử án phải được bố trí thân thiện, phù hợp và bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi Việc
bố trí phòng xử án theo không gian mới sẽ tác động tâm lý tốt tới người chưa thành niên, không làm họ hoảng sợ, việc khai báo chính xác hơn, góp phần bảo đảm chất lượng xét xử vụ án của Tòa án được nâng cao “Phòng xử án thân thiện” còn phù hợp với nguyên tắc áp dụng hình phạt: không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục con người tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm “Phòng xử án thân thiện” là một trong những bước cải cách tư pháp để thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo vệ các quyền của trẻ em, người chưa thành niên đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 199021 Quy định
về phòng xử án thân thiện đã được TAND tối cao đăng tải trên Cổng thông tin điện tử và tổ chức lấy ý kiến rộng rãicác chuyên gia, các nhà khoa học, bảo đảm nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội được khách quan, chính xác, nhân đạo, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và các quy định về thủ tục
tố tụng theo BLTTHS năm 2015 Tuy nhiên thực tế hiện nay chưa có phòng
xử án rành riêng cho bị cáo dưới 18 tuổi, điều này cũng có những ảnh hưởng nhất định đến chất lượng giải quyết vụ án
Trang 29Thứ ba, cần có chế độ, chính sách riêng đối với Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, người bào chữa chỉ định, trợ giúp viên pháp lý Với đặc thù là
cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, nhưng chế độ tiền lương của công chức làm việc trong Tòa án còn thấp Tiền lương và phụ cấp chưa đồng bộ so với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án trong sạch, vững mạnh theo yêu cầu cải cách tư pháp Chế độ bồi dưỡng đối với người bào chữa chỉ định, trợ giúp viên pháp lý còn chưa phù hợp Điều này ảnh hưởng phần nào tới chất lượng làm việc, trách nhiệm trong thi hành công vụ của Thẩm phán, người bào chữa chỉ định
1.4 Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật TTHS Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm có thể phân chia thành các giai đoạn sau:
Giai đoạn Pháp thuộc
Thời kì Pháp thuộc ở Việt Nam có tới ba BLTTHS khác nhau được áp dụng tại Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật khẳng định chỉ còn lại BLTTHS áp dụng tại Bắc Kỳ, còn hai bộ luật còn lại chưa tìm được Tại Điều 20 và Điều 50 BLTTHS Bắc Kỳ thì người tham gia tố tụng được phân loại thành: Bị can, bị cáo; người làm chứng và người bị hại Khái niệm bị can, bị cáo được đồng nhất và chưa có sự phân biệt
rõ ràng trong thời kì này và dường như đã bị trộn lẫn Cụ thể: BLTTHS Bắc
Kỳ có quy định về quyền được tham gia phiên tòa, quyền được tranh luận tại
phiên tòa cũng như quyền kháng cáo của bị can Điều 51 quy định: "Sau khi
kết án, quan chánh thẩm phán phải hiểu thị cho các người đương sự có mặt trước phiên tòa được biết có cái quyền năng kháng cáo và cái kỳ hạn được ứng dụng cái quyền năng ấy Sự hiểu thị ấy phải biên vào án văn, nếu không biên đến thì án ấy vô hiệu Người đương sự có quyền năng kháng cáo là
Trang 30người bị can về tội vi cảnh hoặc bị can về khinh tội, trọng tội hoặc người đại diện đúng phép hoặc người thừa kế của các người ấy"22
Có thể thấy, pháp luật TTHS nước ta thời kỳ Pháp thuộc chịu ảnh hưởng nặng nề của pháp luật TTHS Pháp Tuy đây là công cụ để thực dân Pháp duy trì chế độ thực dân xâm lược, nhưng xét về mặt khoa học pháp lý, một số quy định của pháp luật TTHS thời kỳ này đã bảo đảm quyền năng tố tụng của những người tham gia tố tụng, trong đó có bị cáo
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954
Trong giai đoạn này, mặc dù đã có những quy định mở rộng hơn về quyền của bị cáo nhưng do hoàn cảnh đất nước mới giành độc lập nên việc quy định quyền và nghĩa vụ của bị cáo ở giai đoạn này còn hạn chế Sắc lệnh
số 33C/SL ngày 13/9/194523 quy định người bị kết án (bị cáo) không có quyền kháng cáo bản án, trừ trường hợp người phạm tội bị kết án tử hình, người bị kết án có quyền được đệ đơn lên Chủ tịch Chính phủ xin ân giảm
Sắc lệnh này cũng quy định: “Bị cáo có thể tự bào chữa hay nhờ một người
khách bệnh vực cho”, đồng thời quy định việc xét xử phải được tổ chức công
khai, trừ trường hợp đặc biệt có thể xử kín, nhưng bản án phải được công bố công khai trước dân chúng24 Đây là những điểm tiến bộ được ghi nhận và quy định trong các BLTTHS sau này Thời kỳ này còn cóSắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/194525
quy định về tổ chức các đoàn thể Luật sư Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định về chế định người bào chữa, là cơ sở pháp lý quy định về hoạt động của Luật sư, góp phần đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo Ngày 09/11/1946, Quốc hội khóa 1 đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên, đánh dấu một bước
Trang 31https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Dich-vu-phap-ly/Sac-lenh-46-quy-dinh-to-chuc-doan-the-luat-ngoặt của lịch sử lập pháp nước ta Trong Hiến pháp 194626, quyền của bị cáo
được ghi nhận tại Điều 67 như sau: “Các phiên toà án đều phải công khai, trừ
những trường hợp đặc biệt Bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” Điều 68 còn quy định: “Cấm không được tra tấn, đánh đập, ngược đãi những bị cáo và tội nhân”
Ngay từ khi thành lập nước, vấn đề quyền của bị cáo đã được nhà nước quan tâm, việc tra tấn, đánh đập, ngược đãi bị cáo bị nghiêm cấm, quyền bào chữa của bị cáo đã được mở rộng hơn so với thời kỳ trước Tuy nhiên, vấn đề nghĩa vụ của bị cáo chưa được quan tâm
Giai đoạn từ năm 1955 đến trước năm 1988
Ngày 20/6/1956, Hội nghị Tư pháp toàn quốc đã thông qua: “Đề án
quyền bào chữa của bị cáo”, tiếp đó, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số
2225-HCTP chấn chỉnh việc thực hiện quyền bào chữa của bị cáo và Thông
tư số 101/HCTP ngày 29/8/1957 hướng dẫn về tổ chức bào chữa viên nhân dân, theo đó: Đối với những việc đại hình và những vụ thường phạm có khung hình phạt trên 05 năm tù, nếu bị cáo không có ai bênh vực thì ông Chánh án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của bị cáo cử một người bào chữa27 Năm 1959, Hiến pháp mới ra đời thay thế Hiến pháp 1946 Hiến pháp này28
một lần nữa khẳng định các nguyên tắc quy định về quyền của bị cáo
Cụ thể: Quyền bào chữa của bị can, bị cáo được bảo đảm (Điều 101); Quyền dùng tiếng nói và chữ viết của bị cáo trong quá trình xét xử (Điều 102),…29
Pháp luật TTHS Việt Nam từ năm 1955 đến năm 1985 đã có những quy định khá rõ ràng về quyền của bị cáo Bị cáo có những quyền cơ bản như: quyền bào chữa, quyền đề nghị thay đổi NTHTT, quyền được nhận các quyết định tố tụng, quyền kháng cáo Tại Thông tư số 19 TATC ngày 02/10/1974
Trang 32của TAND tối cao hướng dẫn về trình tự thủ tục phúc thẩm về hình sự có ghi nhận người có quyền kháng cáo là bị cáo, người bào chữa nếu được bị cáo ủy nhiệm hay đồng ý30 Thông tư số 06-TC của TAND tối cao về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo31 quy định cho người bào chữa được thực hiện một
số quyền khác như: được xin hoãn phiên toà, được trình bày lời bào chữa, được xem biên bản phiên toà và bổ sung nếu thấy sai sót;… Ngoài ra, Thông
tư số 06-TC còn bổ sung so với những văn bản trước, đó là: nếu vụ án có ảnh hưởng lớn đến chính trị, vụ án mà bị cáo là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần không thể tự bào chữa được hoặc những vụ án mà bị cáo có thể
bị xử phạt tử hình, thì Toà án cần chỉ định người bào chữa cho bị cáo32 Ngày 27/9/1974, TAND tối cao ban hành Bản hướng dẫn về thủ tục tố tụng sơ thẩm
về hình sự (kèm theo Thông sư số 16/TANDTC), trong đó có bổ sung một số trường hợp bắt buộc Tòa án phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo trong các trường hợp sau đây: bị cáo có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình; bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần
mà phạm pháp nghiêm trọng; vụ án có tình tiết quan trọng, phức tạp và có ảnh hưởng lớn đến dư luận nhân dân33
Năm 1980, sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Nhà nước ta ban hành một bản Hiến pháp mới Trong bản Hiến pháp 198034
này, quyền bào chữa của bị cáo tiếp tục được ghi nhận tại Điều
133: “ Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Tổ chức luật sư được
thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý”
Nghiên cứu các quy định về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn này cho thấy quyền của bị cáo mặc dù đã được nhà nước ghi nhận trong Hiến pháp và một số văn bản dưới luật nhưng các quyền này chưa được quy định một cách đầy đủ, khoa học, các quy định bảo đảm thực hiện chưa đồng
30
Tòa án nhân dân tối cao (1976), Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, Hà Nội, tr.211
31 Thông tư số 06-TC ngày 09/9/1967 của Tòa án nhân dân tối cao về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo
32Tòa án nhân dân tối cao (1976), Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, Hà Nội, tr 38
33Tòa án nhân dân tối cao (1976), Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, Hà Nội, tr.45
34
Quốc hội (1980), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 33bộ và thiếu tính khả thi dẫn đến tình trạng quyền và nghĩa vụ của bị cáo chưa thực sự được tôn trọng
Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003
Ngày 28/6/1988, BLTTHS đầu tiên của Nhà nước ta được ban hành thay thế các văn bản riêng lẻ trước đây Sự ra đời của Bộ luật đã đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp TTHS của nước ta, nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng nói chung và bị cáo nói riêng BLTTHS năm 1988
đã dành riêng chương 3 để quy định về những người tham gia tố tụng, về quyền và nghĩa vụ của họ, trong đó có bị cáo Cụ thể: BLTTHS quy định các nguyên tắc bảo đảm quyền công dân nói chung, quyền của bị cáo nói riêng được thể hiện khá rõ nét, ví dụ như nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại tố cáo của công dân,… Ngoài ra, BLTTHS năm 1988 cũng quy định khá cụ thể quyền và nghĩa vụ của bị cáo; bị cáo đã chính thức được pháp luật TTHS trao cho những quyền cơ bản như: quyền được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, có quyền và đồng thời có nghĩa vụ tham gia phiên tòa,…35 Tuy nhiên một số quyền quan trọng của bị cáo vẫn chưa được đề cập đến trong BLTTHS năm 1988 mà phải đến khi BLTTHS năm 2003 ra đời mới được đưa vào quy định của bộ luật này
Trong giai đoạn này, mặc dù đất nước còn nhiều khó khăn nhưng Đảng
và Nhà nước đã có những quan điểm nhất quán trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia tố tụng hình sự nói chung và quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng Điều này thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, là cơ sở trong việc xây dựng pháp luật tố tụng hình sự sau này
Giai đoạn từ năm 2003 đến trước năm 2015
35
Xem Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ngày 28/6/1988
Trang 34Ngày 26/11/2003, Quốc hội Khoá XI đã thông qua BLTTHS năm 2003,
có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 để thay thế cho BLTTHS 1988 Theo quy định của Bộ luật TTHS 2003, quy định về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đã khá đầy đủ BLTTHS 2003 đã kế thừa hầu hết các quy định tiến bộ về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong BLTTHS năm 1988 Xuất phát từ yêu cầu của cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/12/2002 của Bộ Chính trị36, BLTTHS 2003 đã xác định rõ hơn quyền cùa những người tham gia tố tụng, tạo điều kiện để người bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng, tranh luận dân chủ tại phiên tòa để đảm bảo thực hiện đẩy đủ hơn các quyền của bị cáo trong TTHS, góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan THTT, NTHTT Điều 50 BLTTHS năm 2003 quy định bị cáo
có quyền: Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án; các quyết định tố tụng khác; tham gia phiên toà; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa; nói lời sau cùng trước khi nghị án; kháng cáo bản án, quyết định của Toà án; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền THTT Bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án; trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã37 Như vậy, BLTTHS 2003 đã bổ sung khá đầy
đủ và cụ thể các quyền và nghĩa vụ của bị cáo và được bảo đảm thực hiện bằng các quy định khác của Bộ luật này Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ tích cực của BLTTHS năm 2003 về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì BLTTHS 2003 còn bộc lộ một số bất cập ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bị cáo mà sau này BLTTHS năm
2015 đã bổ sung thêm những quy định mới hoàn thiện và đầy đủ hơn
36
Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm
vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội
37
Xem Điều 50 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 ngày 26/11/2003
Trang 35Kết luận chương 1
Nghiên cứu những vấn đề chung về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, tác giả luận văn đưa ra được những khái niệm đáng lưu ý bao gồm:
Thứ nhất, khái niệm về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tiếp cận dưới góc độ là quyền và nghĩa vụ tố
tụng của bị cáo: “Quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự là những việc mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình
sự, người bị Tòa án đưa ra xét xử được hưởng, được làm, được đòi hỏi hoặc buộc phải làm trong giai đoạn Tòa án xem xét, giải quyết vụ án về nội dung ở cấp thứ nhất, từ khi người đó bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử đến khi hết thời gian kháng cáo, kháng nghị hoặc bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật”
Thứ hai, phân tích những điều kiện bảo đảm quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, trong đó có những điều kiện
về mặt pháp lý, điều kiện về con người và các điều kiện khác từ đó xác định
rõ ý nghĩa pháp lý, ý nghĩa chính trị - xã hội của việc quy định quyền và nghĩa
vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thứ ba, nghiên cứu sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật Tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự để hiểu rõ quá trình hình thành và xu hướng phát triển của pháp luật
về quyền và nghĩa vụ của bị cáo qua từng mốc lịch sử
Trang 36CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CÁO TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 2.1 Quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
2.1.1 Quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
* Quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử
Quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử là quyền quan trọng của bị cáo, được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 61 BLTTHS năm 2015 Bị cáo là người bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Đây chính là quyết định đầu tiên mà bị cáo được nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử có tính chất pháp lý quan trọng, kể từ thời điểm có quyết định này, tư cách bị can của người bị buộc tội sẽ chấm dứt và chuyển sang tư cách bị cáo Và đây cũng là căn cứ để
cơ quan THTT áp dụng các biện pháp tố tụng đúng với tư cách của bị cáo
Dựa vào nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo biết được mình bị đưa ra xét xử về tội gì, thời gian, địa điểm mở phiên tòa, tên của những NTHTT: Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác,… Quyết
định đưa vụ án ra xét xử phải có đầy đủ các nội dung: Ngày, tháng, năm ra
quyết định; tên Tòa án ra quyết định; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa; Tội danh và điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo; Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án; Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; Họ
Trang 37tên người bào chữa (nếu có); Họ tên những người khác được triệu tập đến phiên tòa; Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa, 38
Quyết định đưa vụ án ra xét xử là cơ sở để bị cáo thực hiện những quyền tiếp theo như quyền và nghĩa vụ tham gia phiên tòa, quyền đề nghị thay đổi NTHTT, người giám định, người phiên dịch, quyền đưa ra những tài liệu
đồ vật, yêu cầu và quan trọng nhất là quyền bào chữa Bị cáo có quyền nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử để chuẩn bị cho việc bào chữa tại phiên tòa Quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho bị cáo hoặc người đại diện của
họ chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa Trường hợp xét xử vắng mặt
bị cáo thì quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện của bị cáo; quyết định đưa vụ án ra xét xử còn phải được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú cuối cùng hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập cuối cùng của bị cáo39 Những quy định này của pháp luật để đảm bảo cho bị cáo sẽ nhận được quyết định đưa vụ án ra xét xử, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 đều quy định bị cáo có quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn luật định40, nhưng trong trường hợp họ không được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét
xử, hoặc việc giao nhận không đảm bảo thời hạn quy định thì hậu quả pháp lý của vấn đề này quy định ở hai bộ luật là khác nhau Điều 201 BLTTHS 2003
quy định: “ Trong trường hợp bị cáo chưa được giao nhận bản cáo trạng
theo quy định tại khoản 2 Điều 49 và quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 182 của Bộ luật này và nếu bị cáo yêu cầu thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa” Với quy định như trên thì hậu quả
pháp lý của việc bị cáo chưa được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn là việc hoãn phiên tòa, đồng nghĩa với việc quyền yêu cầu hoãn
Trang 38phiên tòa của bị cáo được đảm bảo Tuy nhiên, trong khi đó, BLTTHS năm
2015 quy định thủ tục bắt đầu phiên tòa tại mục IV chương XXI gồm các điều
từ Điều 300 đến Điều 305 thì hoàn toàn không đề cập đến việc chủ tọa phiên tòa phải tiến hành hỏi để kiểm tra bị cáo đã nhận được quyết định đưa vụ án
ra xét xử theo đúng thời hạn hay không Điều 297 BLTHS năm 2015 quy
định: “1 Tòa án hoãn phiên tòa khi thuộc một trong các trường hợp: a) Có
một trong những căn cứ quy định tại các điều 52, 53, 288, 289, 290, 291, 292,
293, 294 và 295 của Bộ luật này; b) Cần phải xác minh thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa; Cần tiến hành giám định bổ sung, giám định lại; d) Cần định giá tài sản, định giá lại tài sản ” Đối chiếu các căn cứ nêu trên thì hoàn toàn không có quy định căn
cứ hoãn phiên tòa khi bị cáo chưa được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét
xử theo đúng thời hạn luật định Như vậy đã vô hình chung tước bỏ quyền yêu cầu hoãn phiên tòa của bị cáo trong trường hợp họ chưa được giao nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn luật định
Quyền được nhận quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Trong quá trình xét xử, khi có căn cứ pháp luật và xét thấy cần thiết hoặc không cần thiết áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế thì Tòa án có thể ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế Sau khi thụ lý vụ án, thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế thuộc về Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định41
Theo quy định tại Điều 109 BLTTHS năm 2015 các biện pháp ngăn chặn bao gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh Điều 126 BLTTHS năm 2015 quy định các biện pháp cưỡng chế bao gồm: áp
41
Khoản 1 Điều 278 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Trang 39giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài sản Căn cứ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong từng biện pháp và có các trường hợp áp dụng
cụ thể để khắc phục sự tùy tiện trong thực tiễn, góp phần bảo đảm quyền công dân như: biện pháp áp giải bị cáo được tiến hành trong trường hợp bị cáo
buộc phải có mặt theo giấy triệu tập nhưng “vắng mặt không vì lý do bất khả
kháng hoặc không do trở ngại khách quan”
Mỗi biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đều có những cách thức thực hiện riêng ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau đến quyền lợi của bị cáo Pháp luật quy định bị cáo có quyền được nhận các quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chếcó ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi của bị cáo, là cơ sở để bị cáo biết được mình bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế nào, lý do bị
áp dụng và cách thức thực hiện biện pháp đó, đồng thời là cơ sở để bị cáo thực hiện quyền khiếu nại đối với quyết định này
Quyền được nhận quyết định đình chỉ vụ án
Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm nếu bị hại rút đơn yêu cầu khởi
tố đối với vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc khi có một trong các căn
cứ thấy rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án Đình chỉ vụ án là một trong hai hình thức kết thúc hoạt động xét xử mà nội dung của nó là dựa trên những lý do và căn cứ nhất định chấm dứt hoạt động giải quyết vụ án hình sự trước khi mở phiên tòa xét xử Quy định về đình chỉ vụ án có ý nghĩa xã hội sâu sắc Bản thân bị cáo cũng có quyền được nhận quyết định này để họ biết
Trang 40vụ án đã được đình chỉ và họ được trả tự do nếu họ đang bị tạm giam và thực hiện quyền được bồi thường hoặc khôi phục các quyền lợi khác
Quyền được nhận bản án, quyết định của Tòa án
Bản án là kết quả xét xử của Tòa án, trong bản án phải có các nội dung theo quy định pháp luật42
Sau khi kết thúc phiên tòa, bị cáo có quyền được nhận bản án, quyết định của Tòa án Điều 262 BLTTHS năm 2015 quy định:
“Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao
bản án cho bị cáo,…; gửi bản án cho bị cáo bị xét xử vắng mặt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật này”
Bị cáo là chủ thể quan trọng trong vụ án hình sự, theo quy định tại Điều
262 BLTTHS năm 2015 thì việc được nhận bản án là quyền của bị cáo, việc giao bản án cho bị cáo là nghĩa vụ của Tòa án Bản án là căn cứ pháp lý xác định bị cáo có phạm tội hay không, tội danh của bị cáo, các căn cứ chứng minh bị cáo phạm tội; hình phạt và các biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo Bản án của Tòa án quyết định những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân
sự của bị cáo và những vấn đề khác như xử lý vật chứng, án phí, … Do vậy,
bị cáo phải được nhận để có thể thực hiện những quyền khác của mình Pháp luật quy định bị cáo có thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để kháng cáo bảo vệ quyền lợi cho mình Việc giao bản án cho bị cáo là để họ thực hiện đúng thời hạn theo quy định pháp luật, bảo đảm cho họ được thực hiện quyền kháng cáo Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền của bị cáo, luật sử dụng từ “giao”, chứ không phải từ gửi Việc gửi bản án có thể dẫn đến thất lạc hoặc bị chậm trễ trong quá trình gửi
Ví dụ gửi bản án qua đường bưu điện, quá trình chuyển phát bản án có thể bị thất lạc hoặc chậm trễ thời gian,… dẫn đến bị cáo không nhận được bản án hoặc nhận được bản án sau một thời gian rất lâu, gây ra việc ảnh hưởng đến
42
Xem Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015