...Nghiên cứu khoa học húa dũng h Vit Nam ca Trng Nam2, Tớnh th [dũng h] v tc ph Hn Quc ca Lee Soo Geon3 Tuy nhiờn,... phi hp xut bn, H Ni, 2010, tr 402 405 Nghiên cứu đông bắc á, số 8(162) 8-2014 Nghiên cứu khoa học Khi tỡm hiu v dũng h Hn Quc, chỳng tụi bt gp nhng s liu v s lng tc danh khỏ chờnh lch, ú ỏng... xut bn i hc Seoul, 2003, tr 345 347 Nghiên cứu đông bắc á, số 8(162) 8-2014 73 Nghiên cứu khoa học 74 22 Cao 114 Mc 206 Quõn 23 Vn 115 Qu 207 Diờu 24 Tụn 116 Bỡ 208 Bt 25 Lng 117 Hỡnh
Trang 1Về vấn đề dòng họ của ng-ời việt và ng-ời hàn
Cao thị thanh tâm* D-ơng thị thanh ph-ơng**
Túm tắt: Trờn cơ sở so sỏnh những điểm tương đồng và dị biệt trong hệ thống tộc danh
và vai trũ của dũng họ trong đời sống hiện đại của 2 dõn tộc Hàn, Việt, cỏc tỏc giả đó đi đến nhận xột: Hệ thống tộc danh của 2 dõn tộc Hàn, Việt đều chịu ảnh hưởng từ hệ thống thõn tộc của văn húa Hỏn mà họ đó tiếp thu từ những thế kỷ đầu cụng nguyờn, đều thể hiện sõu sắc về ý thức nguồn cội, xem đú như một chỗ dựa tinh thần quan trọng để vươn lờn khẳng định bản thõn và dũng họ trong xó hội hiện đại, nhất là với những dũng họ “trõm anh thế phiệt”
Từ khúa: Việt Nam, Hàn Quốc, Dũng họ, Tộc danh, Văn húa dũng họ
hỳng ta đang sống trong một xó hội
hiện đại, mọi vấn đề của cuộc sống
tưởng chừng đó bị*chi phối bởi cỏc mối quan
hệ chớnh trị, kinh tế, thế nhưng**quan hệ
dũng họ (clan, trong tiếng Hàn là soeng shi
/성 씨 / 性氏) - một dấu tớch cú nguồn cội từ
thời cụng xó thị tộc của hàng chục vạn năm
về trước, vẫn cũn tồn tại và cú tỏc động
khụng nhỏ tới cỏc mối quan hệ kinh tế, chớnh
trị, xó hội hiện đại Rừ ràng, hiện nay, dũng
họ khụng chỉ đơn thuần là những dấu hiệu
gúp phần phõn biệt giữa cỏc cỏ nhõn, mà trờn
hết là một hiện tượng văn húa độc đỏo, gúp
phần thể hiện rừ nột hơn bản sắc văn húa tộc
người, nhất là với cỏc dõn tộc Á Đụng Ở
Nhật Bản, nhiều tập đoàn cụng nghiệp hàng
đầu và nổi tiếng thế giới vẫn mang dậm dấu
ấn dũng họ như Toyota – 豐 田 /“Phong
Điền”, Suzuki – 鈴 木/“Linh mộc” , Honda
– 本 田/“Bản điền”, Phải chăng, yếu tố
huyết tộc của những thành viờn trong hội
đồng quản trị của cỏc tập đoàn núi trờn đó
gúp phần làm nờn thành cụng của họ, giỳp
* Giảng viờn Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Đà Lạt
** Giảng viờn Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Đà Lạt
cho cỏc tập đoàn đú vượt qua biết bao thăng trầm của khủng hoảng kinh tế, ngày càng khẳng định vị thế của mỡnh trong bức tranh kinh tế Nhật Bản và thế giới
Trong quỏ trỡnh tỡm hiểu văn húa Hàn Quốc, khụng mấy khú khăn để nhận ra nhiều điểm tương đồng trong văn húa truyền thống giữa 2 dõn tộc Hàn, Việt, trong đú cú vấn đề dũng họ và vai trũ của dũng họ trong xó hội Trong bài viết này, chỳng tụi muốn thử so sỏnh một số điểm tương đồng và dị biệt xung quanh vấn đề tộc danh cũng như vai trũ dũng
họ trong xó hội Việt Nam và Hàn Quốc hiện đại, với hy vọng sẽ gúp thờm một vài cứ liệu cho việc khắc họa rừ nột hơn những đặc trưng của văn húa Việt, Hàn
1 Những vấn đề liờn quan tới dũng họ và văn húa dũng họ của người Việt và người Hàn đó từng được đề cập trong khỏ nhiều cụng trỡnh của cỏc học giả Việt Nam và Hàn
Quốc Tiờu biểu là cỏc cụng trỡnh Họ và tờn người Việt Nam của TS Lờ Trung Hoa1, Văn
1
TS Lờ Trung Hoa, Họ và tờn người Việt Nam, Nxb
Khoa học xó hội, Hà Nội, 2002
C
Trang 2hóa dòng họ Việt Nam của Đỗ Trọng Nam2,
Tính thị [dòng họ] và tộc phả ở Hàn Quốc
của Lee Soo Geon3 Tuy nhiên, trong phạm
vi hiểu biết của chúng tôi, việc so sánh dòng
họ và văn hóa dòng họ giữa 2 dân tộc Hàn,
Việt, cho tới nay vẫn chưa dành được sự
quan tâm của các học giả Ở đây, trong
khuôn khổ một bài báo khoa học và với năng
lực có hạn của bản thân, chúng tôi cũng
không dám khẳng định sẽ làm sáng tỏ mọi
khía cạnh liên quan tới vấn đề vừa nêu, mà
chỉ nêu lên một vài nhận thức bước đầu của
mình xung quanh vấn đề đó
2 Trước hết, cần phân biệt hai khái niệm
rất dễ nhầm lẫn trong tiếng Việt – dòng họ
và tộc danh (tức tên gọi dòng họ) Dòng họ
(clan) cổ xưa ở người Việt, theo PGS.TS
Cao Thế Trình, còn mang đậm dấu ấn của
tục thờ totem, tức đạo “thờ vật tổ”, cụ thể là
họ Hồng Bàng, thờ chim và một loài bò sát
(về sau gọi là “long”/“rồng”) làm vật tổ4;
còn dòng họ hiện nay ở người Việt là một
đơn vị huyết tộc tính theo dòng cha, được
thể hiện rõ nét thông qua gia phả và việc các
thành viên có cùng huyết thống đều thờ
chung một vị thủy tổ (thực chất đó chỉ là ông
tổ xa nhất mà ký ức còn lưu giữ được, lẽ
đương nhiên vị thủy tổ đó vẫn có cha mẹ
sinh ra, nhưng không còn được biết đến);
còn tộc danh (family name) là tên gọi dòng
họ - một khái niệm lớn hơn nội hàm khái
niệm dòng họ, bởi dưới một tộc danh có thể
2 Đỗ Trọng Nam, Văn hóa dòng họ Việt Nam, Nxb Văn
hóa Thông tin, Hà Nội, 2011
3 이 수 건, 한 국 의 성 씨 와 죽 보 , 서 울 대 학 교 출
판 문 화 원, 2003, (Lee Soo Goen, Tính thị [dòng họ] và
tộc phả ở Hàn Quốc, Viện văn hóa xuất bản Đại học
Seoul, 2003)
4 Xem: Cao Thế Trình, “Thử tìm hiểu bức tranh tín
ngưỡng ở các cư dân thời Hùng Vương”, Tạp chí Dân tộc
học, số 2 – 2002, tr 30-38
bao gồm hàng chục, hàng trăm, thậm chí nhiều hơn thế nữa số lượng dòng họ Chẳng
hạn, dưới một tộc danh là Nguyễn ở Việt
Nam hiện nay, rõ ràng có tới hàng trăm họ Nguyễn khác nhau Dấu hiệu nhận diện điều này thể hiện rõ nét qua tục lệ hôn nhân của người Việt – những người cùng dòng họ (cùng đơn vị huyết thống) thì không được phép kết hôn với nhau, cho dù là cách xa bao nhiều đời, tức thế hệ (dẫu rằng, khoản 3,
điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình hiện
hành ở nước ta cũng chỉ cấm kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống trực hệ, những người có họ trong phạm vi 3 đời) Chúng tôi đã nhận được những thiệp mời đám cưới, trong đó cả 6 người – cô dâu, chú
rể, bố mẹ cô dâu, bố mẹ chú rể, đều mang cùng một “họ” (thực chất là 4 họ) Ngược lại,
có nhiều người vì những lý do khác nhau, nên mang những tộc danh khác nhau, nhưng thực chất lại cùng một huyết tộc Tiêu biểu
là dòng họ Mạc Sau sự sụp đổ của vương triều Mạc (1592), để tránh sự truy nã trả thù của tập đoàn Lê-Trịnh cầm quyền, “dư đảng” họ Mạc đã phải phiêu tán khắp nơi và đổi thành 50 họ khác nhau (tính năm 2009), trong đó có không ít những danh nhân nổi tiếng như Phạm Hồng Thái, Phan Đăng Lưu, 5
Trường hợp họ Huỳnh ở phía Nam đất nước trước đây thực chất là họ Hoàng
đọc trệch âm để không bị phạm húy với chúa Nguyễn Hoàng Trong các văn bản chữ Hán,
họ Võ vẫn ghi bằng chữ Vũ, Vì vậy, khi
nói ở người Việt có khoảng 200 dòng họ, thực chất chỉ là khoảng 200 tộc
5
Xem: Phan Đăng Thuận, Hậu duệ nhà Mạc ở Nghệ An,
in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học “Vương triều Mạc
trong lịch sử Việt Nam”, do Trung tâm bảo tồn Khu di tích
Cổ Loa-Thành cổ Hà Nội, Văn phòng Ban chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội và Hội sử học
Hà Nội, phối hợp xuất bản, Hà Nội, 2010, tr 402 – 405
Trang 33 Khi tìm hiểu về dòng họ ở Hàn Quốc,
chúng tôi bắt gặp những số liệu về số lượng
tộc danh khá chênh lệch, trong đó đáng chú
ý nhất thuộc về bản Toàn quốc tính thị và
dân số (ngoại trừ địa vực Bắc Hàn) in trong
cuốn Tính thị và tộc phả ở Hàn Quốc của
Lee Soo Goen, với 274 dòng họ được viết
bằng Hán tự6 và sắp xếp theo thứ tự nhân
khẩu từ cao đến thấp Ngoại trừ một trường
hợp được viết theo kiểu Wasei Kanji (“Hòa
chế Hán tự”) của Nhật Bản (chữ 辻), 273 chữ còn lại đều có thể đọc theo âm Hán-Việt
Để tiện theo dõi, chúng tôi công bố lại bản danh mục nói trên (lược bỏ phần số lượng nhân khẩu của các dòng họ và bổ sung phần phiên âm Hán – Việt và để tiện so sánh, những tộc danh nào trùng với tên gọi dòng
họ ở Việt Nam chúng tôi in chữ nghiêng)
STT CHỮ
HÁN
ÂM HÁN –VIỆT
STT CHỮ
HÁN
ÂM HÁN –VIỆT
STT CHỮ
HÁN
ÂM HÁN –VIỆT
16 黃 Hoàng (Huỳnh) 108 夫 Phu 200 伊 Y
17 宋 Tống 109 皇 甫 Hoàng Phủ 201 鴁 Yêu
6 Lee Soo Goen, Dòng họ và tộc phả ở Hàn Quốc, Viện văn hóa xuất bản đại học Seoul, 2003, tr 345 – 347
Trang 422 高 Cao 114 睦 Mục 206 君 Quân
36 丁 Đinh 128 司 空 Tư Không 220 洙 Thù
42 朱 Chu (Châu) 134 夏 Hạ * 226 水 Thủy
Trang 555 楊 Dương 147 疆 Cương 239 扁 Biển
64 呂 Lữ (Lã) 156 天 Thiên * 248 順 Thuận
Thiết
Trang 687 孟 Mạnh 179 水 Thủy 271 罔 田 Võng Điền
Từ bảng danh mục nêu trên, có thể nhận
thấy số lượng tộc danh ở người Hàn nhiều
hơn 274 so với người Việt hơn 200 tộc danh
Nói ở người Việt có khoảng hơn 200 tộc
danh, bởi cho đến nay vẫn chưa có một bảng
danh mục nào về các tộc danh ở người Việt
Năm 1936, khi công bố công trình Les
paysans du delta Tonkinois (“Những người
nông dân châu thổ Bắc Kỳ”), dựa vào việc
nghiên cứu tại Sở Căn cước Hà Nội và số
liệu kiểm kê dân số tại Bắc Ninh năm 1931,
Pierre Gourou có đưa ra một con số là 202
dòng họ trong cả vùng châu thổ Bắc Kỳ 7
Tuy nhiên, ông chỉ đề cập đến tỷ lệ vượt trội
của họ Nguyễn so với các dòng họ khác mà
không hề đưa ra một bảng danh mục các
dòng họ ở người Việt ở vùng này Trong
cuốn Văn hóa dòng họ Việt Nam, Đỗ Trọng
Nam có đưa ra Bảng thống kê sơ bộ các
dòng họ ở Việt Nam với 209 tộc danh8
Không mấy khó khăn để có thể nhận ra đó là
một bảng thống kê “vừa thừa - vừa thiếu” và
không ít nhầm lẫn, trong đó đã trùng lặp 2
lần họ Cát (số thứ tự 15 và 18) và 2 lần họ
Hần (số thứ tự 63 với 65), nhầm nhẫn giữa
tộc danh với từ loại dùng để chỉ tên người ở
một số dân tộc bản địa Tây Nguyên như H’,
7 Pierre Gourou, Những người nông dân châu thổ Bắc Kỳ
(bản dịch tiếng Việt), Hội khoa học lịch sử Việt Nam,
Viện Viễn Đông bác cổ Pháp, Nhà xuất bản trẻ, 2003, tr
118
8 Đỗ Trọng Nam, Sđd, tr 212 - 213
K’, Ka, H’ Ma, H; nia (chắc do in nhầm chữ H’nia), Ma, Y; một số trường hợp có thể đã viết nhầm như họ Lều thành họ Lêu, họ Trịnh thành họ Trinh Trường hợp họ Thích
phải chăng chỉ gắn với pháp danh của Phật
tử chứ không phải là một họ bình thường, họ
Huỳnh họ Hoàng được xem là 2 họ, về tộc
danh thực chất chỉ là một Mặt khác, trong bảng thống kê nêu trên lại thiếu chí ít là một
số tộc danh khác ở người Việt như họ Cái,
họ Hán, họ Ung, họ Hoàng Phủ, (đó là
chưa kể tới hàng trăm họ của các dân tộc thiểu số khu vực Trường Sơn-Tây Nguyên
và nhiều vùng khác như Kra Danh, Cil, Liêng Hót, Mlô Duôn Du, Niếk Đăm,
Ngoài ra trong bảng thống kê có tới hàng
chục họ là của người dân tộc thiểu số (Bế,
Ca Kha, Cấn, Đèo, Điểu, Giàng, Kuxuê (?),
Lò, Nông, Nùng, Lù, Lũ, Moong, Quàng, Vử
(Vừ ?), )
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tạm gác sang một bên vấn đề tộc danh của các tộc người thiểu số ở Việt Nam, mà chỉ xin dừng lại ở việc so sánh giữa tộc danh của người Hàn với tên gọi dòng họ ở người Việt
Từ bảng thống kê nêu trên của Đỗ Trọng Nam chúng tôi chỉ lọc ra khoảng hơn 180 dòng họ (tộc danh) ở người Việt và tiến hành
so sánh với bảng danh mục dòng họ của người Hàn Kết quả là đã bắt gặp hơn 80 trường hợp trùng nhau về tộc danh giữa Hàn tộc và Việt tộc (chúng tôi không đưa ra con
Trang 7số chính xác, vì sự so sánh này chỉ mới dựa
trên vỏ ngữ âm Hán-Việt, vấn đề còn liên
quan tới tự dạng chữ Hán của các dòng họ ở
người Việt chưa xác định được đầy đủ, hơn
nữa có không ít dòng họ còn “đồng âm dị
nghĩa”9
, các dấu hoa thị (*) trong bảng danh
mục là chúng tôi lưu ý số lần tộc danh đồng
âm) Khi tiến hành đối chiếu với 100 tộc
danh phổ biến ở người Hán thống kê vào
năm 199010, trong đó có tới 88 trường hợp
trùng nhau giữa tộc danh ở người Hàn với
những tộc danh phổ biến ở người Hán Một
tình trạng tương tự cũng xảy ra khi chúng tôi
đối chiếu giữa gần 200 tộc danh của người
Việt với 100 tộc danh phổ biến của người
Hán (73 trường hợp) Thậm chí, trong hệ
thống tộc danh ở người Hàn còn có những
tộc danh mang đậm dấu ấn tộc danh của
người Hán mà hầu như không gặp ở người
Việt như Độc Cô (독 고), Đông Phương (동
방) , Trường Cốc (장 곡) , Tiểu Phong (소
봉) , Tây Môn (서 문), Gia Cát (재 갈),
Không nghi ngờ gì nữa, trừ một vài
trường hợp có dấu hiệu tộc danh theo kiểu
Nhật, tương tự như ở Việt Nam, tuyệt đại đa
số các tộc danh ở Hàn Quốc đều có nguồn
gốc từ tộc danh của người Hán Điều đó là
dễ hiểu, bởi cũng giống như người Việt,
cùng với việc tiếp thu văn hóa Hán và
phương tiện chuyển tải của nó – chữ Hán,
các thế hệ tổ tiên của người Hàn cũng đã tiếp
thu cả thiết chế tông tộc của người Hán,
đương nhiên là gắn liền với nó là hệ thống
tộc danh Các tấm bia được dựng trên bán
đảo Hàn vào thế kỷ VI sau CN, như các tấm
9
Phần phiên âm Hán-Việt chúng tôi có nhờ sự giúp đỡ
của PGS,TS Cao Thế Trình và GV Nguyễn Huy Khuyến
– Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Đà Lạt, nhân đây
xin bày tỏ sự cám ơn chân thành tới hai thầy
10
Dựa theo thông tin từ mạng tìm kiếm thông tin Google
với từ khóa “dòng họ ở người Hán”
bia như Mậu Tuất Ổ Tác bi (무 술 오 작 비 /
戊 戌 塢 作 碑) do vua Jin Heung (진 흥 왕,
540 – 576) lập, hay tấm bia Nam Sơn Tân Thành bi (남 산 신 성 비 / 南 山 新 城
碑) do vua Jin Ji (진 지 왕, 576 – 579) lập, đều xác nhận vào thời gian trên ở người Hàn chưa có “họ”11 Điều đó cũng tương tự như ở người Việt, những tên người trước và sau
CN đều chỉ là tên, chứ chưa có họ (Trưng Trắc, Trưng Nhị, Thi Sách, Khu Liên, Cao
Lỗ 12, ) Tuy nhiên, đến thế kỷ III sau CN tên người Việt đều gắn với tộc danh theo
kiểu người Hán như Lý Cầm, Lý Tiến, Trương Trọng, Triệu Thị Trinh, Triệu Quốc Đạt,
4 Có một đặc điểm khá tương đồng về dòng họ giữa Việt Nam và Hàn Quốc là sự chênh lệch về số lượng dân số giữa các dòng
họ là rất lớn Ở người Hàn, chỉ 5 họ lớn đã chiếm già nửa dân số đất nước, trong đó, họ Kim chiếm tới 21,6% dân số, họ Lee (Lý) chiếm tới 14,8% dân số, họ Park (Phác) chiếm tới 8,5%, họ Choe (Thôi) chiếm tới 4,7% và họ Chung (Đặng) chiếm 4,4%13 Tất
cả các dòng họ còn lại chỉ chiếm 46% dân số
cả nước Một tình trạng tương tự cũng diễn
ra ở người Việt, thậm chí có phần “gay gắt” hơn Chỉ 7 họ lớn đã chiếm tới 80% dân số toàn quốc, trong đó họ Nguyễn đã chiếm tới
11
Lee Soo Goen, Sđd, tr 96
12 Lưu ý trường hợp chữ Cao trong Cao Lỗ hoàn toàn không phải là có người họ Cao tên Lỗ, mà theo chúng tôi,
đó chỉ là phiên âm tiền tố K’ trong tiếng Môn-Khơ me cổ, bởi còn có các dị bản chép ông tên là Cao Thông, Đô Lỗ,
Về mặt tự dạng, có bản chữ Hán còn sử dụng chữ “cao” (膏 - một loại dược liệu cô đặc trong Đông y) hoặc 皐 / 皋 (còn có nghĩa là “khấn”, “đất ven hồ”, ) chứ không phải
là chữ “cao” chỉ họ Cao (高)
13
Dẫn theo mạng tìm kiếm thông tin Google với từ khóa
“dòng họ Hàn Quốc” hay “한 국 성 씨”
Trang 8hơn 1/3 dân số toàn quốc (38%), được xem
là 1 trong 10 dòng họ có số dân đông nhất
thế giới Các họ khác có tỷ lệ dân số khá cao
ở Việt Nam là: họ Trần chiếm tới 11%, họ
Lê 10%, họ Phạm 7%, họ Hoàng 5%, họ
Phan 5%, họ Vũ 4%, 14 Nguyên nhân tình
trạng chênh lệch dân số giữa các dòng họ ở
Hàn Quốc được lý giải là do nhiều người
thuộc tầng lớp bình dân đã cố tình đổi họ
theo những dòng họ “danh gia vọng tộc” -
yang ban, với hy vọng tìm được sự nể trọng
của người khác Không phải ngẫu nhiên mà
trong kho tàng thành ngữ tiếng Hàn lại có
câu “Không phải họ Kim thì cũng là họ
Ly”15 để nói lên tính phổ biến của các dòng
họ này trên bán đảo Hàn Sự phổ biến của
tộc danh Nguyễn ở người Việt cũng do nhiều
nguyên nhân, trong đó việc nhà Trần lấy lý
do “vì Nguyên tổ tên húy là Lý (tức Trần
Lý), mới đổi triều Lý làm triều Nguyễn, vả
lại cũng để dứt lòng mong nhớ của dân
chúng đối với nhà Lý”16 được chính sử xác
nhận, hẳn là một lý do quan trọng (trong bộ
Việt sử lược biên soạn dưới triều Trần –
1377, triều Lý được ghi là nhà Nguyễn, các
nhân vật họ Lý đều chép thành họ Nguyễn
như Nguyễn Tường Nhân, Nguyễn Thúc
Hiến, Nguyễn Thường Kiệt, )17
Đã qua rồi cái thời mà mỗi tộc họ như là
một thực thể thống nhất, mỗi thành viên
14
Dẫn theo mạng tìm kiếm thông tin Google với từ khóa
“dòng họ ở Việt Nam”
15 Xem: 이 기 문, 한 국 독 삼 사 전 , 일 조 각 ( Lee Gi
Moon, Từ điển tục ngữ Hàn Quốc, Nxb Iljogak), 1997, tr
75
16 Xem: Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Nxb Văn hóa
Thông tin, Hà Nội, 2003, tr 16
17 Xem: Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, NXB
Thuận Hóa, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây,
2001
trong đơn vị huyết thống đó là một cộng đồng về thân phận “có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu”, dẫn tới việc “một người làm quan cả họ được nhờ”, nhưng khi mắc tội thì phải chịu “tru di tam tộc” hay “cửu tộc” Hôm nay, dòng họ lại trở về với chức năng
sơ khởi và chủ yếu của nó: duy trì chế độ ngoại tộc hôn (tính theo dòng họ) – một
phản ứng sinh học mang tính tự vệ của loài người để tránh sự suy thoái nòi giống do quan hệ tính giao đồng huyết hay cận huyết Quá trình đô thị hóa đã lôi kéo một bộ phận khá lớn những người dân nông thôn vào các thành phố, thị trấn sinh sống, lập nghiệp, quan hệ họ mạc có phần nhạt nhòa theo năm tháng và nhường chỗ cho những mối quan
hệ mới – quan hệ kinh tế và chính trị Tuy nhiên, không phải vì thế mà dòng họ đã mất
đi vai trò của nó Ý thức nguồn cội và tâm lý mong muốn được sự âm phù từ tổ tiên đã làm cho phần đông dân chúng vẫn cố gắng
“hâm nóng” lại quan hệ họ mạc, huyết thống dưới mọi hình thức Ở Việt Nam là phong trào trùng tu/tôn tạo/xây mới từ đường, lăng
mộ cho tiên tổ; phong trào biên dịch/biên soạn gia phả dòng họ và không ít trường hợp
là “phóng đại” thái quá về dòng dõi vinh hiển của tổ tông (chẳng hạn, “họ ta có tới 18 đời quận công”?); phong trào thành lập các
“ban liên lạc dòng họ” nhằm kết nối con cháu trong khắp mọi miền đất nước quy về một mối, đương nhiên là không thể bỏ qua được những nhân vật thành danh (các doanh nhân thành đạt để tranh thủ nguồn tài chính, các vị chính khách, các nhà khoa học, sĩ quan quân đội cao cấp, để lấy tiếng thơm); lập ra các “hội khuyến học dòng họ” để khuyến khích con cháu ra sức học hành, đỗ đạt để “vẻ vang dòng họ, rạng danh tiên tổ”, Không thể phủ nhận khía cạnh tích
Trang 9cực theo hướng “di truyền văn hóa” trong
các phong trào đó, song cái gì cũng có tính 2
mặt của nó Bên cạnh khía cạnh tích cực
cũng tồn tại không ít những điểm tiêu cực
liên quan tới xu hướng “phục hưng văn hóa
dòng họ” như huy động quá thái sức dân vào
việc xây dựng/trùng tu/tôn tạo từ đường,
lăng mộ tổ để không “kém cạnh” so với các
họ khác, là sự kéo bè, kéo cánh những người
cùng huyết tộc vào trong các bộ máy công
quyền để dễ bề thao túng, lũng đoạn, thậm
chí đó đây còn có cả “chi bộ họ ta” thì quả là
không thể chấp nhận được với những “người
cộng sản” như thế
Một tình trạng tương tự cũng diễn ra tại
Hàn Quốc gắn với xu hướng vươn lên để trở
thành yangban (quý tộc) hiện đại và được
xem như là sự tái tạo của truyền thống Về lý
thuyết, chế độ thân phận dựa trên tông tộc đã
được xóa bỏ trên Bán đảo Hàn từ hơn một
thế kỷ trước với cuộc Canh tân Giáp Ngọ
1894, song tâm lý muốn thuộc những người
có huyết hệ cao sang, hậu duệ của dòng dõi
Yangban thì vẫn không hề thuyên giảm
trong xã hội Hàn Quốc hôm nay Theo GS
Eun Ki-soo, Đại học Quốc gia Seoul: “Hiện
tượng giả mạo gia phả của Yangban vốn
xuất hiện từ thế kỷ XVIII và đại bộ phận
những gia phả được làm mới trong thế kỷ
XX là giả Mặc dù vậy, ngay cả trong xã hội
Hàn Quốc thế kỷ XXI, vẫn còn rất nhiều
người muốn thay đổi thân phận của tổ tiên
mình trong quá khứ thành Yangban nên việc
biên soạn gia phả giả vẫn đang diễn ra ở rất
nhiều dòng họ Thành phố Taejeon chuyên
in ấn gia phả Địa điểm in này không bao giờ
hết việc, họ in gia phả quanh năm”18 Cũng
18 Xem: Eun Ki-soo, Biến đổi của văn hóa Hàn Quốc hiện
nay, in trong Xã hội Hàn Quốc hiện đại, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2008, tr 276
theo GS Eun Ki-soo, tâm lý đó không chỉ dừng lại ở việc ngụy tạo gia phả (“ngụy phả”
- 偽 譜), mà còn ở việc tổ chức cúng giỗ theo những nghi lễ cầu kỳ và tốn kém, ở việc xây cất, trang trí mồ mả tổ tiên thật nguy nga, tráng lệ, đang diễn ra như một trào lưu trong những người dư giả về mặt kinh tế, muốn chứng tỏ mình là hậu duệ của một gia môn
có cội nguồn vinh hiển
Trên đây là một vài so sánh sơ bộ của chúng tôi trên bình diện tộc danh và vai trò của dòng họ trong xã hội Hàn Quốc và Việt Nam hiện đại Tuy chỉ là những cái nhìn sơ lược, nhưng cũng phần nào nói lên được sự tương đồng giữa hai dân tộc Hàn, Việt trên lĩnh vực văn hóa dòng họ Khác với hệ thống tộc danh ở người Nhật với số lượng vượt trội (hàng ngàn tên gọi dòng họ), nhưng chủ yếu được đặt ra từ cuối thế kỷ XIX, dưới thời vua Minh Trị và thường mang những đặc điểm về môi trường tự nhiên nơi cư trú
(Nakamura – “Trung thôn”, Inoue – “Tỉnh thượng”, Yamamoto – “Sơn hạ”, Ishikawa –
“Thạch xuyên”, )19
; hệ thống tộc danh cả 2 dân tộc Hàn, Việt đều có liên quan tới việc tiếp thu hệ thống tông tộc của văn hóa Hán
từ những thế kỷ đầu công nguyên, đều có chung tâm lý về ý thức nguồn cội, nhất là với những dòng họ danh giá, đã từng làm vua, làm quan hay có nhiều người đỗ đạt,
và xem đó như những chỗ dựa tinh thần cho con cháu vươn lên lập thân, lập nghiệp, Tuy nhiên, sự thay đổi dòng họ ở người Việt chủ yếu là do những lý do “bất khả kháng” trong lịch sử (tránh sự truy nã, trả thù, do chịu ơn những người đã cưu mang trong cơn hoạn nạn, hiểm nghèo ) và khi những biến
19 Xem: Ngô Thị Hương, Tìm hiểu tên họ người Nhật,
Khóa luận tốt nghiệp đại học, ngành Nhật Bản học, Trường Đại học Đà Lạt, 2011
Trang 10cố đe dọa tới sự tồn vong không còn hay ân
nghĩa đã lùi xa, họ không hề giấu giếm gốc
gác, nguồn cội của mình; trong khi ở người
Hàn vẫn đang có tình trạng ngụy tạo để trở
thành hậu duệ của dòng họ cao quý trong xã
hội hiện đại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Nxb Văn
hóa Thông tin, Hà Nội, 2003
2 Eun Ki-soo, Biến đổi của văn hóa Hàn
Quốc hiện nay, in trong Xã hội Hàn Quốc hiện
đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008
3 TS Lê Trung Hoa, Họ và tên người Việt
Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002
4 Ngô Thị Hương, Tìm hiểu tên họ người
Nhật, Khóa luận tốt nghiệp đại học, ngành Nhật
Bản học, Trường Đại học Đà Lạt, 2011
5 이 기 문, 한 국 독 삼 사 전, 일 조 각
(Lee Gi Moon, Từ điển tục ngữ Hàn Quốc, Nxb
Iljogak), 1997, tr 75
6 이 수 건, 한 국 의 성 씨 와 죽 보, 서
울 대 학 교 출 판 문 화 원, 2003, (Lee Soo
Goen, Tính thị [dòng họ] và tộc phả ở Hàn
Quốc, Viện văn hóa xuất bản Đại học Seoul,
2003)
7 Đỗ Trọng Nam, Văn hóa dòng họ Việt
Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2011
8 Pierre Gourou, Những người nông dân
châu thổ Bắc Kỳ (bản dịch tiếng Việt), Hội khoa
học lịch sử Việt Nam, Viện Viễn Đông bác cổ
Pháp, Nhà xuất bản trẻ, 2003
9 Phan Đăng Thuận, Hậu duệ nhà Mạc ở
Nghệ An, in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học
“Vương triều Mạc trong lịch sử Việt Nam”, do
Trung tâm bảo tồn Khu di tích Cổ Loa-Thành cổ
Hà Nội, Văn phòng Ban chỉ đạo quốc gia kỷ
niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội và Hội sử
học Hà Nội, phối hợp xuất bản, Hà Nội, 2010
10 Cao Thế Trình, “Thử tìm hiểu bức tranh
tín ngưỡng ở các cư dân thời Hùng Vương”,
Tạp chí Dân tộc học, số 2 – 2002, tr 30-38
11 Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch,
Nxb Thuận Hóa, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2001