1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“ Thực trạng và giải pháp về vấn đề lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn năm 2007 – 2008” .

58 934 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu Tư Trực Tiếp Ra Nước Ngoài Của Việt Nam. Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả Đinh Thị Tuyết Nhung
Người hướng dẫn ThS. Phan Thu Hiền
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Đầu Tư
Thể loại Bài viết
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 461 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam hiện nay, tốc độ lạm phát đang gia tăng ở mức 2 con số là 12.63% năm 2007 và 19.89% năm 2008, tuy chưa phải là một mức cao, đáng báo động nhưng so với mặt bằng chung của nền kinh tế nhỏ, quy mô chưa cao thì đây cũng là một điều cần phải nghiên cứu, xem xét. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, t«i đã chọn đề tài “ Thực trạng và giải pháp về vấn đề lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn năm 2007 – 2008” .

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Hội nhập kinh tế quốc tế xét cho đến cùng là quá trình mỗi quốc giangày càng tạo điều kiện tự do hóa và hỗ trợ thuận lợi nhất (theo các camkết song phương và đa phương cấp chính phủ) cho các hoạt động cho cácdòng vốn hàng hóa, dịch vụ và lao động qua biên giới nước mình theo cảhai chiều: Thu hút FDI từ nước ngoài vào trong nước và tiến hành đầu tưtrực tiếp ra nước ngoài Song dường như có sự nhận thức khá phiến diện ởnhiều nước tham gia vào dòng chảy hội nhập kinh tế quốc tế chung của thếgiới : họ chỉ coi trọng dòng vào, thu hút càng nhiều đầu tư nước ngoài càngtốt và ít quan tâm hỗ trợ dòng ra

Thực tiễn thế giới đã chứng minh rằng một nước mà dòng đầu tư ranước ngoài càng mạnh thì càng có nhiều khả năng mở rộng thị trường vàtăng cơ hội đầu tư kinh doanh và tăng động lực phát triển kinh tế đất nước.Việt Nam là một nước đang phát triển, có tình hình phát triển kinh tếđạt được mức cao, tuy khía cạnh đầu tư ra nước ngoài đã đạt được mức độnhất định nhưng còn rất nhỏ bé và có rất nhiều hạn chế Trước tình hìnhnày nguyện vọng muốn thấy được thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt

Nam hiện tại và có một số giải pháp do đó Tôi đã chọn đề tài: “ Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Thực trạng và giải pháp”

Mặc dù có nhiều cố gắng song do thời gian nghiên cứu và khả năng cóhạn chế nên bài viết này không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót

Em rất mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo và các bạn quantâm đến vấn đề này

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáoThs.Phan Thu Hiền đã giúp em hoàn thành đề tài này

Trang 2

Chương I: Một số vấn đề lý luận chung

I Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

Đầu tư ra nước ngoài là phương thức đầu tư vốn và tài sản ở nướcngoài, để tiến hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mục đích kiếm lợinhuận và mục tiêu kinh tế xã hội nhất định Dưới góc độ tài chính quốc tếthì đó là sự chuyển một luồng vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác đểkinh doanh với mục đích là kiếm lợi nhuận cao Quá trình đầu tư ra nướcngoài chịu ảnh hưởng tác động rất lớn của tỷ giá hối đoái trên thị trườngquốc tế và những rủi ro của các biến động kinh tế chính trị thế giới

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hình thức chủ đầu tư nước ngoài đầu

tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn vào các dự án nhằm dành quyền điềuhành và trực tiếp điều hành đối tượng mà họ đã bỏ vốn

Theo nghi định của Chính Phủ số 78/2006/NĐ-CP quy định về đầu tư

trực tiếp ra nước ngoài, thì Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư

chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếptham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài

Bản chất của của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là sự di chuyển mộtkhối lượng nguồn vốn kinh doanh dài hạn giữa các quốc gia nhằm thu lợinhuận cao hơn Đó chính là hình thức xuất khẩu tư bản để thu lợi nhuậncao Do đi kèm với đầu tư vốn là đầu tư công nghệ và tri thức kinh doanhnên hình thức này thúc đẩy mạnh mẻ quá trình CNH-HĐH ở các nước nhậnđầu tư

1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một hình thức đầu tư quốc tế ,tức là

nó đưa vốn ra nước ngoài tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh với

Trang 3

nhiều mục đích khác nhau,có thể mục đích lợi nhuận,hay một mục đíchchính trị nào khác Nó có một số đặc điểm như sau:

- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có đặc điểm khác với cácnguồn vốn khác với các nguồn vốn đầu tư trong nước khác là việc xuất cácnguồn vốn này không phải là một hình thức cho vay, đây không phải là mộtnguồn nợ đối với nước nhận vốn đầu tư Nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm vềhiệu quả hoạt động của nguồn vốn Thay vì nhận được lãi suất trên vốn đầu

tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tưhoạt động có hiệu quả

- Chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp điều hành hoặc tham gia quản lý

và điều hành quá trình thực hiện và vận hành dự án đầu tư tùy theo tỷ lệgóp vốn

- Vốn đầu tư trực tiếp bao gồm vốn góp để hình thành vốn pháp định,vốn vay hoặc vốn bổ sung từ lợi nhuận của doanh nghiệp để triển khai, mởrộng dự án

- Thông qua vốn đầu tư của doanh nghiệp, nước tiếp nhận vốn có thểtiếp thu khoa học công nghệ, kỷ thuật tiến tiến, kinh nghiệm quản lý hiệnđại của nước đi đầu tư hoặc là nước đi đầu tư sẽ tận dụng được sự pháttriển của nước nhận đầu tư về nguồn nhân lực trình độ cao, cơ sở hạ tầngphát triển, phương tiện thông tin liên lạc hiện đại …Tạo mọi điều kiệnthuận lợi mà bên trong nước của chủ đầu tư không có được, hoặc yêu cầucủa dự án cần nền tảng tương thích mới có thể phát triển được

1.3 Các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.3.1 Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh ( BCC).

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hay nhiềubên( gọi là các bên hợp doanh) qui định trách nhiệm và phân chia kết quảkinh doanh cho mỗi bên để tiến hành kinh doanh mà không thành lập mộtpháp nhân mới

Trang 4

Hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có sự tham gia hay bên hợp doanh

là nước nhận đầu tư, hợp đồng này khác với hợp đồng khác đó là nó phânchia kết quả kinh doanh và trách nhiệm của các bên cụ thể được ghi tronghợp đồng không áp dụng đối với hợp đồng thương mại, hợp đồng giaonhận sản phẩm, mua thiết bị trả chậm và các hợp đồng khác không phânchia lợi nhuận Nội dung chính của hợp đồng này bao gồm:

- Quốc tịch, địa chỉ, đại diện có thẩm quyền của các bên hợp danh

- Mục tiêu và phạm vi kinh doanh

- Sản phẩm tiêu thụ chủ yếu, tỷ lệ xuất khẩu và tiêu thụ sản phẩmtrong nước

- Quyền và nghĩa vụ của các bên hợp doanh

- Đóng góp của các bên hợp doanh, phân chia kết quả kinh doanh, tiến

độ thực hiện hợp đồng

Trong quá trình kinh doanh các bên hợp doanh được phép thỏa thuậnthành lập ban điều phối để theo dõi giám sát công việc thực hiện hợp đồng,những ban điều phối không phải là đại diện pháp lý cho các bên hợp doanh.Mỗi bên hợp doanh phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình trướcpháp luật và có nghĩa vụ tài chính tùy theo bên nước nhận đầu tư qui đình.Trong quá trình hoạt động các bên hợp doanh được quyền chuyển nhượng vốncho các đối tượng khác nhưng cũng phải ưu tiên cho đối tượng đang hợp tác Hình thức này có đặc điểm :

- Hai bên hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng phân địnhtrách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi

- Thời hạn hợp đồng do hai bên thõa thuận

- Vấn đề nguồn vốn kinh doanh không nhất thiết phải đề cập trongbản hợp đồng

1.3.2 Hình thức Doanh Nghiệp liên doanh.

Hình thức Doanh Nghiệp liên doanh là một tổ chức kinh doanh quốc

tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau Trên cơ sở góp vốn cùng

Trang 5

kinh doanh, nhằm thực hiện cam kết trong hợp đồng liên doanh và điều lệdoanh nghiệp liên doanh, phù hợp với khuôn khổ luật pháp nước nhận đầu

tư Nhiều công ty thâm nhập thị trường nước ngoài bằng cách xây dựngmột liên doanh với những công ty đóng tại thị trường đó Hầu hết các liêndoanh cho phép hai công ty tận dụng được các lợi thế so sánh tương đốiriêng của chúng trong một đề án nhất định Chẳng hạn hãng General Milltiến hành liên doanh với Nestle SA, nhờ đó ngũ cốc được General Mill sảnxuất có thể bán ra nước ngoài thông qua mạng lưới phân phối bán hàng doNéstle thiết lập Hãng Xerox và Fuji của nhật đã tiến hành một liên doanhcho phép Xerox thâm nhập vào thị trường Nhật và cho phép Fuji tham giavào kinh doanh Photocopy

Hình thức này có đặc điểm :

- Về pháp lý: Hình thức liên doanh là một pháp nhân của nước nhậnđầu tư Hoạt động theo luật pháp của nước nhận đầu tư Hình thức liêndoanh do các bên tự thỏa thuận, phù hợp với các quy định của luật phápcủa nước nhận đầu tư Như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tráchnhiệm vô hạn, các hiệp hội góp vốn…Quyền lợi và nghĩa vụ của các bên vàquyền quản lý Doanh nghiệp liên doanh phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn vàđược ghi trong hợp đồng liên doanh và điều lệ của doanh nghiệp

- Về tổ chức: Hội đồng quản trị của doanh nghiệp là mô hình chungcho mọi doanh nghiệp liên doanh, không phụ thuộc vào quy mô, lĩnh vực,ngành nghề Đây là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Doanh nghiệp liêndoanh

- Về kinh tế : Luôn có sự gặp gỡ và phân chia lợi ích giữa các bêntrong liên doanh và cả các bên đứng phía sau các liên doanh Đây là vấn đềhết sức phức tạp

- Điều hành sản xuất kinh doanh: Quyết định sản xuất kinh doanh dựavào các quy định pháp lý của nước nhận đầu tư về việc vận dụng nguyêntắc nhất trí hay quá bán

Trang 6

1.3.3 Doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài :

Doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanhquốc tế có tư cách pháp nhân, trong đó nhà đầu tư nước ngoài đóng góp100% vốn pháp định, tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanhcủa doanh nghiệp

Đặc điểm cơ bản của hình thức này là :

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một pháp nhân của nướcnhận đầu tư nhưng toàn bộ doanh nghiệp lại thuộc sở hữu của người nướcngoài Hoạt động sản xuất kinh doanh theo nước nhận đầu tư và điều lệ củadoanh nghiệp Hình thức pháp lý của Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

do nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn trong khuôn khổ của pháp luật Quyềnquản lý doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài hoàn toàn chịu tráchnhiệm

- Nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của doanhnghiệp Phần kết quả của doanh nghiệp sau khi hoàn thành nghĩa vụ tàichính với nước sở tại là thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài

- Nhà đầu tư nước ngoài tư nước ngoài tự quyết định các vấn đề cácvấn đề trong doanh nghiệp và các vấn đề liên quan để kinh doanh đạt hiệuquả cao nhất trong khuôn khổ của pháp luật cho phép

Ngoài ra, tùy từng quốc gia có thể có các hình thức đầu tư trực tiếpkhác như hình thức BOT; BTO; BT ; Hình thức cho thuê – bán thiết bị ;công ty cổ phần ; công ty quản lý vốn

1.4 Vai trò của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.

1.4.1 Một số mô hình đầu tư ra nước ngoài:

a Mô hình MacDougall-Kempt

Mục tiêu của mô hình chỉ ra rằng Khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài,năng suất cận biên của việc sử dụng vốn giữa các nước chủ nhà có xuhướng cân bằng Kết quả là các nguồn lực kinh tế được sử dụng có hiệu

Trang 7

quả, tổng sản phẩm gia tăng và đem lại sự giàu có cho các nước tham giađầu tư.

Mô hình được xây dựng dựa trên giả định sau:

+ Nền kinh tế thế giới được thực hiện bởi nước đầu tư và nước chủnhà, trong đó nước đầu tư có sự dư thừa vốn còn nước chủ nhà lại khanhiếm về vốn đầu tư

+ Năng suất cận biên của vốn đầu tư giảm dần và điều kiện cạnhtranh của 2 nước là hoàn hảo, giá cả của vốn đầu tư được qui định bởi luậtnày

U

O1 S Q O2Trong đó :

O1M : Năng suất cận biên ở nước đầu tư

O2m : Năng suất cận biên ở nước chủ nhà

O1O2: Tổng vốn đầu tư của cả hai nước

O1Q: Tổng vốn đầu tư của nước đầu tư

O2Q : Tổng vốn đầu tư của nước chủ nhà

Trước khi có đầu tư trực tiếp nước ngoài

Nước đi đầu tư sản xuất được tổng sản phẩm là O1MTQ và của nướcnhận đầu tư là O2mUQ Giá cả sử dụng vốn ở nước nhận đầu tư là QT thấphơn ở nước chủ nhà là QU, do đó vốn đầu tư sẽ chảy tư nước đi đầu tư sang

T

P U

Trang 8

nước tiếp nhận đầu tư (Q → S) cho đến khi năng suất cận biên của hainước là bằng nhau:

SP = O1E = O2e

Tổng sản phẩm của hai nước là:

O1MTQ + O2mUQ

Sau khi có đầu tư trực tiếp nước ngoài:

Tổng sản phẩm của nước đi đầu tư là O1MPS và của nước tiếp nhậnđầu tư là O2SPm Lợi ích thu được từ hoạt động đầu tư nước ngoài :

- Tổng sản phẩm của hai nước sau khi có đầu tư nước ngoài là( O1MPS + O2mPS ) và có sản lượng tăng thêm là PUT Như vậy kết quả làđầu tư nước ngoài đã góp phần làm tăng sản lượng thế giới

- Mặc dù sản lượng của nước đi đầu tư giảm xuống một khoản làSPTQ nhưng điều đó không có nghĩa làm giảm thu nhập quốc dân, trái lạicòn cao hơn trước khi thực hiện đầu tư Bởi vì nguồn thu nhập gia tăngđược gia tăng từ nước chủ nhà :

( Tổng nguồn thu nhập này = Giá cả sử dụng vốn x Tổng vốn đầu tư

ở nước chủ nhà- SPQW )

Tương tự thu nhập của nước chủ nhà cũng tăng thêm một lượng bằngPWU Một phần tăng của nước chủ nhà trả cho nước đi đầu tư SPWQ Nhưvậy, đầu tư nước ngoài không chỉ làm tăng sản lượng của thế giới mà cònđem lại lợi ích cho cả nước đầu tư và nước chủ nhà

b Lý thuyết chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm :

Giả định : các nhà sản xuất đạt được lợi thế độc quyền xuất khẩu nhờviệc cho ra đời sản phẩm mới, hoặc cải tiến những sản phẩm đang được sảnxuất dành riêng cho thị trường nước ngoài

Trong giai đoạn đầu của vòng đời sản phẩm mới, giai đoạn thửnghiệm sản xuất được tiến hành tập trung tại chính quốc gia đó ( ngay cảkhi chi phí sản xuất ở bên ngoài thấp hơn) Trong giai đoạn này để thâmnhâp thị trường nước ngoài, các công ty có thể thực hiện xuất khẩu sản

Trang 9

phẩm Tuy nhiên, khi sản phẩm trở nên tiêu chuẩn hóa trong giai đoạn pháttriển, các nhà sản xuất sẽ khuyết khích việc đầu tư ra nước ngoài nhằm thuhút tận dụng lợi thế chi phí sản xuất thấp ( yếu tố đầu vào , ưu đãi của nhànước ) và quan trọng hơn cả là nhằm ngăn chặn khả năng mất thị trườngvào tay các nhà sản xuất địa phương.

1.4.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một lĩnh vực mới trong chiến lượcđầu tư ở nước ta Ngày nay đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ngày càng có vịtrí quan trọng, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong công tác đầu tư của nềnkinh tế, thể hiện một vai trò hết sức lớn Cụ thể vai trò của chúng đượcphân tích ở một số khía cạnh sau đây:

Thứ nhất: Tạo cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tàichính Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nó có lợi ích cho cả bên, bên nhậnđầu tư và bên đầu tư Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hình thức luânchuyển vốn dư thừa tương đối trong nước ra nền kinh tế khác ở nước ngoài

Nó giải quyết được vấn đề sử dụng số vốn thừa tương đối này sao cho cóhiệu quả cao nhất Việc mở rộng và phát triển hoạt động đầu tư trực tiếp ranước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển các nguồn lực rakhỏi phạm vi của một quốc gia, với một phạm vi rộng hơn và môi trườngkhác hơn đó là trên bình diện quốc tế Trong môi trường đó các nhà đầu tư

có thể lựa chọn môi trường và lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài có lợi nhuậncao hơn đầu ở trong nước

Thứ hai : Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tạo cơ hội mở rộng thị trườngkinh doanh, tăng cường học hỏi kinh nghiệm kinh doanh, nâng vị thế hìnhảnh của nước chủ đầu tư trên thị trường quốc tế Khi đầu tư trực tiếp ranước ngoài thì sẽ có cơ hội cung ứng sản phẩm sản xuất của doanh nghiệpmình tại nước sở tại một cách hợp pháp, dễ dàng, không chịu các điều kiệnràng buộc ngặt nghèo khi xuất khẩu hàng hóa trực tiếp phải chịu Đây làđiều kiện tốt để thâm nhập sâu vào thị trường nội địa của nước sở tại, mở

Trang 10

rộng thị trường tiêu thụ Khi đầu tư vào một nước phát triển, với cơ sở vậtchất và điều kiện hiện đại, tác phong công nghiệp Đây là cơ hội tốt đểhoàn thiện phương cách quản lý hiện đại của Doanh nghiệp mà trong nướckhông có điều kiện áp dụng, học tập cơ chế quản lý hiện đại

Thứ ba : Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thúc đẩy các nền kinh tế quốcgia nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế thể giới Ngày nay, khu vực hóa

và quốc tế hóa đời sống kinh tế đã trở thành xu thế mang tính thời đại Mởrộng đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ độnghội nhập quan hệ kinh tế quốc tế Việc mở rộng hợp tác quốc tế nhằm mụcđích kết hợp các yếu tố trong nước với các yếu tố nước ngoài và khai tháccác có hiệu quả nguồn lực ngoài nước phục vụ cho sự phát triển kinh tế xãhội của mỗi quốc gia Việc mở rộng các quan hệ tài chính quốc tế thôngqua các hình thức đầu tư ra nước ngoài góp phận thúc đẩy các nền kinh tếquốc gia nhanh chóng hòa nhập với nền kinh tế thế giới Trong điều kiệnnền kinh tế mang tính toàn cầu hóa cao độ, tính liên phụ thuộc nền kinh tếcác nước ngày càng tăng lên, không một quốc gia nào tự mình giải quyếtmọi vấn đề nếu không mở rộng giao lưu kinh tế với các nước khác Đặcbiệt đối với các nước nghèo và chậm phát triển Việc tiến hành hoạt độngđầu tư ra nước ngoài giữa các nước với nhau là tất yếu dẫn đến sự dichuyển các nguồn lực tài chính từ các quốc gia này sang quốc gia khác.Hay nói cách khác thông qua hoạt động đầu tư giữa các nước với nhau cácnguồn tài chính được phân phối trên phạm vi thế giới Sự phân phối có tácđộng tích cực và tiêu cực đến sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia,

do vậy đòi hỏi mỗi một quốc gia nên cân nhắc trên cả khía cạnh sử dụngcác nguồn lực trong nước tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế, trên

cả khía cạnh khai thác và sử dụng các nguồn lực ngoài nước phục vụ cho

sự phát triển của quốc gia mình Các nguồn lực di chuyển không chỉ là vốn

mà quốc gia có thể có thể tranh thủ được công nghệ, kỷ thuật tiên tiến, giảiquyết được vấn đề lao động…

Trang 11

2 Tính tất yếu của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

2.1 Vấn đề toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Toàn cầu hóa, xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ và rộnglớn những mối quan hệ ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau, trong các mốiquan hệ kinh tế - thương mại của tất cả các khu vực, tiểu khu vực, các quốcgia, các dân tộc trên toàn thế giới Toàn cầu hóa là xu thế quốc tế hóa pháttriển ở giai đoạn cao Toàn cầu hóa là xu thế hướng đi đến hình thành mộtnền kinh tế thế giới thống nhất trên phạm vi toàn cầu, trong đó có sự thamgia của các quốc gia trên thế giới Dưới tác động qua lại lẫn nhau ảnhhưởng phụ thuộc lẫn nhau, bổ sung cho nhau của các nền kinh tế ngày càngtăng, các yếu tố cản trở nền sản xuất càng mất đi bởi sự tự do hóa nền kinh

tế và thương mại toàn cầu Một đặc trưng cơ bản của toàn cầu hóa nền kinh

tế thế giới là sự phát triển nhanh chóng của quan hệ kinh tế - thương mại

và quan hệ chủ yếu hàng hóa dịch vụ, vốn, lao động…trên phạm vi toàn thếgiới Trong những mối quan hệ đó các quốc gia liên kết chặt chẽ với nhau,phụ thuộc lẫn nhau trong sự phân công và hợp tác kinh doanh – thương mạitrên phạm vi toàn cầu, có sự lưu thông hàng hóa dịch vụ, vốn, công nghệ,các nguồn nhân lực trên phạm vi toàn cầu, chịu sự điều tiết của các qui tắcchung toàn cầu Chính vì vậy, hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu, quá trìnhmỗi quốc gia tạo điều kiện tự do hóa và hỗ trợ (theo cam kết song phươnghoặc đa phương cấp chính phủ) cho hoạt động của các dòng vốn, hàng hóa,dịch vụ lao động qua biên giới nước mình theo cả hai chiều: dòng vào vàdòng ra…

Thực tiễn thế giới chứng tỏ rằng một nước mà dòng đầu tư ra nướcngoài càng mạnh thì càng có nhiều khả năng mở rộng thị trường, tăng cơhội đầu tư kinh doanh, tăng việc làm và tăng động lực phát triển kinh tế đấtnước Mỹ, Nhật -những nước có nền kinh tế đứng nhất nhì thế giới – cũngđồng thời là những nước có dòng đầu tư ra nước ngoài lớn nhất thế giới.Đặc biệt, chính phủ Nhật Bản là tấm gương điển hình về sự quan tâm hỗ

Trang 12

trợ các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài Những hiệp định đầu tư cấpchính phủ được ký kết để mở lối và tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi, antoàn cho doanh nhân Nhật Bản triển khai các hoạt động kinh doanh củamình ở nước ngoài Ngay cả các điều kiện kèm theo những khoản ODA vàviện trợ khác ( thường là chỉ định nguồn cung cấp và chủ thầu…,cũng cómục tiêu ngầm, nhưng rất quan trọng và rõ ràng là tạo điều kiện cho cácdoanh nhân Nhật Bản bán được hàng, cung cấp thiết bị công nghệ hay trựctiếp đảm nhận tư vấn và tham gia triển khai nhiều dự án được tài trợ từnguồn viện trợ của chính phủ Nhật Bản tại nước nhân viện trợ Hoặc nhưTrung Quốc, không những đứng đầu các nước đang phát triển về kết quảthu hút FDI,mà từ hàng chục năm nay họ còn luôn có dòng đầu tư ra nướcngoài lớn hàng đầu trong nhóm các nước đang phát triển.Điều này gópphần giải thích vì sao hàng xuất khẩu của trung quốc vừa bành trướng ồạt,vừa len lỏi vững chắc vào tận hang cùng ngõ hẻm thị trường trên toànthế giới –nhất là những nơi doanh nhân Trung Quốc đầu tư ra thành côngnhư Mỹ , Liên Bang Nga và các nước SNG …

Song , đối với những nước mới tham gia hội nhập kinh tế quốc tế ,đặcbiệt là nước tham gia WTO như nước ta ,thì vấn đề hỗ trợ các doanh nhân

và doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn chưa quan tâm đúng mức Dường nhưnhiều người còn mang nặng tâm lý : trong nước đang còn thiếu vốn thìkhông nên đầu tư ra nước ngoài, bởi đầu tư ra nước ngoài làm giảm sútnguồn vốn đầu tư trong nước Nói cách khác họ chỉ coi trọng dòng vốnchảy vào ,mà ít quan tâm hỗ trợ dòng vốn chảy ra ,nhất là dòng đầu tư ranước ngoài của doanh nhân , doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế ngoài nhànước

Toàn cầu hóa nó vừa là một xu thế, nó vừa là một cơ hội lớn cho nềnkinh tế việt nam Biết nhận thức hội nhập sâu rộng để tạo thuận lợi cho nềnkinh tế phát triển, tăng vị thế, đưa nước ta lên tầm cao mới

2.2 Rào cản chính sách giữa các nước với nhau trong vấn đề lưu thông

Trang 13

hàng hóa và tiền tệ ( chính sách bảo hộ )

Trong một thế giới mà các nước mở của giao lưu giữa các nền kinh tếvới nhau thì xu hướng cạnh tranh thương mại giữa các nước phát triển vàđang phát triển ngày càng quyết liệt

Do mở cửa, tự do hoá thương mại các nước đang phát triển đang phảitiếp tục đối mặt với chế độ bảo hộ mậu dịch mà chủ yếu bằng các hàng ràophi thuế quan ngày càng quyết liệt của các nước phát triển Mặc dù sự ràngbuộc pháp luật của WTO đối với hàng rào thuế quan ngày càng được hoànthiện nhưng các nước phát triển vẫn lợi dụng những sơ hở trong “luật chơi”

để tiến hành bảo hộ mậu dịch WTO với tư cách là tổ chức thương mại lớnnhất toàn cầu cũng đã có những quy định rõ ràng về chính sách bảo hộ.Nếu công nghiệp nội địa của một thành viên WTO do sự tăng vọt nhậpkhẩu sản phẩm nào đó mà bị tổn hại hoặc đe dọa tổn hại, thì nước đó có thểtạm thời hạn chế nhập khẩu sản phẩm đó Sự tổn hại trong trường hợp nàyphải nghiêm trọng Theo GATT ( điều 19 ) thì có thể áp dụng các biện phápbảo hộ Nhưng không thể áp dụng thường xuyên Trong điều kiện cạnhtranh gay gắt khi bước vào toàn cầu hoá, quyền lợi và mục đích khác nhaunên tranh chấp lợi ích kinh tế thương mại là không thể tránh khỏi Đặc biệt

là tranh chấp thương mại giữa các nước tư bản phát triển và các nước đangphát triển Đây là một xu thế có những nội dung mới đáng chú ý

Vấn đề bức xúc nhất hiện nay đối với các nước đang phát triển là chủnghĩa bảo hộ mậu dịch của các nước công nghiệp phát triển đang cản trở nỗlực tự do hoá mậu dịch nông sản của các nước đang phát triển, cản trở côngcuộc xoá đói giảm nghèo ở các nước này Ngân hàng Thế giới (WB) vừacông bố nghiên cứu cho thấy nếu Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)thành công trong việc dỡ bỏ các rào cản thương mại, các nước nghèo nhấtthế giới sẽ được hưởng lợi nhiều nhất Theo ước tính của WB, việc xoá bỏthuế quan, trợ cấp và các chương trình hỗ trợ trong nước sẽ giúp nền kinh

tế thế giới có thêm 300 tỷ đôla vào năm 2015, trong đó có 2/3 là lợi nhuận

Trang 14

thu được từ nông nghiệp Tính theo tỷ trọng GDP, lợi ích kinh tế mà cácnước đang phát triển nhận được sẽ nhiều hơn 1/3 so với các nước giàu vàlợi ích kinh tế mà các nước châu Phi cận Xahara sẽ được hưởng nhiều nhất.Tại Hội nghị Bộ trưởng của nhóm 20 nước đang phát triển ở Niu Đêli

Ấn Độ (tháng 3/2005), các nước này đã tiếp tục đưa ra đề nghị từ bỏ chínhsách bất bình đẳng trong mậu dịch nông sản, tiến tới bãi bỏ hoàn toàn trợgiá xuất khẩu nông sản của các nước phát triển Trong bối cảnh Hội nghịAPEC tại Pusan Hàn Quốc tháng 11/2005 và Hội nghị các Bộ trưởng củaWTO ở Hồng Kông vào tháng 12/2005, nhóm các nước đang phát triển đãthể hiện lập trường ngày càng kiên quyết hơn trong thương lượng về tự dohoá thương mại toàn cầu

Tuy nhiên khả năng đạt được thoả thuận buôn bán toàn cầu là rất khókhăn Vòng đàm phán Đoha tiếp tục trong năm 2005 vẫn còn nhiều tranhcãi và chưa đạt được tiến bộ đáng kể nào Cuộc họp mới đây nhất tạiGiơnevơ và Luân Đôn trong các ngày từ 7-10/11/2005 giữa các nước thànhviên WTO và 5 đối tác buôn bán hàng đầu là Mỹ, Nhật Bản, Liên minhchâu Âu, Ấn Độ và Brazin đã kết thúc mà chưa thể thu hẹp được bất đồng.Cuộc đấu tranh bền bỉ mới đạt được tín hiệu tích cực là chính phủ Mỹ trong

dự thảo ngân sách tài khoá tới đã đề nghị cắt giảm trợ cấp nông nghiệp, trợgiá xuất khẩu và kêu gọi các nước giàu khác cũng nên làm như vậy

Ngoài các cuộc tranh chấp thương mại về hàng nông sản, còn vô sốcác hàng hoá khác của các nước đang phát triển gặp phải các cuộc tranh cãi

mà chưa có hồi kết Ví dụ như tháng 1/2005, Mỹ đã đưa ra phán quyết rằng

Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam, Brazin và Êcuađo đã bán phá giátôm, mở đường cho việc áp đặt thuế trừng phạt trung bình khoảng 17%.Tháng 11/2005, Mỹ tuyên bố duy trì thuế chống phá giá đối với hàng tômđông lạnh của Thái Lan và Ấn Độ, mặc dù hai nước này đã nỗ lực đòi cắtgiảm thuế sau khi bị tàn phá bởi sóng thần ở Ấn Độ Dương hồi cuối năm

2004 Thái Lan là nước xuất khẩu tôm lớn nhất sang Mỹ đã nộp đơn kiện

Trang 15

lên Tổ chức thương mại thế giới WTO và cho rằng loại thuế này của Mỹ đã

vi phạm các luật thương mại

Đối với xuất khẩu hàng hóa gặp các rào cản khó khăn như vậy , nó đòihỏi phải có một chính sách mới để hạn chế tình trạng bảo hộ…gây thiệt hạiđến tình hình phát triển của doanh nghiệp , khả năng xuất khẩu ra nướcngòai của các nước Và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một sự lựa chọnđúng đắn

* Một số rào cản thương mại

Ngoài rào cản truyền thống là sử dụng thuế quan, các nước phát triển

có xu hướng áp dụng một số rào cản thương mại thông dụng khác sau đây:

Rào cản phi thuế quan: Là rào cản không dùng thuế quan mà sử dụng

các biện pháp hành chính để phân biệt đối xử chống lại sự thâm nhập củahàng hoá nước ngoài, bảo vệ hàng hoá trong nước Các nước công nghiệpphát triển thường đưa ra lý do là nhằm bảo vệ sự an toàn và lợi ích củangười tiêu dùng, bảo vệ môi trường trong nước đã áp dụng các biện phápphi thuế quan để giảm thiểu lượng hàng hoá nhập khẩu

Nhật Bản quy định cấm nhập khẩu đậu lạc có chứa Apflatoxin, Phápkhông cho nhập khẩu thịt bò mà trong quá trình chăn nuôi có sử dụng chấttăng trọng Tháng 2/2002 EU loại Trung Quốc ra khỏi danh sách các nướcđược phép xuất khẩu thuỷ sản vào khu vực do nước này không đáp ứngđược yêu cầu kiểm soát dư lượng kháng sinh Cloramphenicol

Rào cản kỹ thuật TBT (Technological Barrier to Trade): Đây là hàngrào quy định về hệ thống quản trị chất lượng, môi trường, đạo đức kinhdoanh, điểm kiểm soát tới hạn , đối với các doanh nghiệp khi thâm nhậpvào thị trường Hệ thống TBT gồm có:

Hệ thống quản trị chất lượng ISO 9001:2000

Hệ thống này đã được trên 140 quốc gia áp dụng ISO 9001:2000 đềcập chủ yếu đến các lĩnh vực về chất lượng, theo Tổ chức Phát triển côngnghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) các doanh nghiệp áp dụng hệ thống

Trang 16

này sẽ:

- Đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước

- Nâng cao tinh thần làm việc và đoàn kết của nhân viên trong doanhnghiệp

- Vượt qua rào cản trong thương mại quốc tế

- Gia tăng thị phần, diện tích, lợi nhuận và phát triển bền vững

Trong thực tế, sản phẩm của doanh nghiệp nào được cấp giấy chứngnhận phù hợp với ISO 9001:2000 sẽ dễ dàng thâm nhập thị trường cácnước phát triển

Hệ thống quản trị môi trường ISO 14001:2000

Hệ thống này xem xét khía cạnh bảo vệ môi trường của tổ chức và củasản phẩm thị trường thế giới hiện nay rất chú trọng đến vấn đề môi trường,

tổ chức Môi trường thế giới đã khuyến cáo các doanh nghiệp nên cung ứngnhững sản phẩm “xanh và sạch” Mức độ ảnh hưởng đến môi trường của 1sản phẩm có vai trò lớn tới sức cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường

Hệ thống thực hành sản xuất tốt GMP (Good Manufacturing Practices).

Đây là 1 hệ thống đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, đặcbiệt là dược phẩm Các nước lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Australia đềuyêu cầu các sản phẩm là thực phẩm và dược phẩm khi nhập vào thị trườngnước họ phải được công nhận đã áp dụng GMP Bộ Y tế Việt Nam quyđịnh đến năm 2005 doanh nghiệp sản xuất dược phẩm nào không đạt GMP

sẽ không được cấp số đăng ký sản xuất thuốc

Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point):

Đây là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp chế biến hàng thuỷsản nếu muốn thâm nhập vào thị trường Mỹ, EU, NB, Australia, Canada ,

Bộ Thuỷ sản Việt Nam quy định các doanh nghiệp chế biến hàng thuỷ sảnphải áp dụng HACCP kể từ năm 2000

Tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội SA 8000:

Trang 17

Đây là tiêu chuẩn quốc tế dựa trên công ước quốc tế về lao động của

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) của Liên hợp quốc về quyền trẻ em vànhân quyền Các nước Mỹ, EU, Nhật Bản, Canada quy định cấm nhậpkhẩu hàng hoá mà trong quá trình sản xuất có sử dụng lao động trẻ em, laođộng cưỡng bức, phân biệt đối xử, bắt người lao động làm việ quá thời hạncho phép của Luật lao động

Ngoài ra còn 1 số hệ thống khác như QS 9000: áp dụng cho các doanhnghiệp sản xuất ôtô; Q-Base: áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa

2.3 Phát triển không đồng đều giữa các ngành trong một kinh tế

Giữa các ngành kinh tế trong một nước có sự phát triển không đồngđều nhau Điều này có được do nhiều nguyên nhân ví dụ như: sự ưu tiênphát triển giữa các vùng của chính phủ; do nền tảng phát triển trước kia củanền kinh tế đó; vị trí địa lý thuận lợi tạo môi trường thu hút vốn; tất cả đềudẫn đến sự phát triển không đồng đều Có ngành phát triển ở mức độ quácao dẫn đến có một tình trạng thừa tương đối các giá trị tư bản dẫn đến hiệntượng chu chuyển tư bản giũa các vùng với nhau, với nhiều mục đích khácnhau: ví dụ như lợi nhuận, sự thuận lợi hơn trong buôn bán hàng hóa, hay

là một mục đích chính trị nào đấy…

2.3.1 Trình độ sản xuất đạt mức độ nhất định

Trình độ phát triển của một nền sản xuất tác động mạnh mẽ đến xuhướng đầu tư ra nước ngoài Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay thì theoviện nghiên cứu quản lý TW (CIEM), trình độ máy móc thiết bị của cácdoanh nghiệp hiện nay đạt mức trung bình tiến tiến Phần lớn các doanhnghiệp đang sử dụng các dây chuyền công nghệ , máy móc thiết bị có mứcđồng bộ từ mức trung bình đến cao và thuộc thế hệ từ những năm 80 trở lạiđây Số doanh nghiệp sử dụng dây chuyền công nghệ đồng bộ thấp và chắp

vá thuộc thế hệ từ những năm 70 còn không nhiều Về mức độ làm chủcông nghệ ,các doanh nghiệp vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nguyên liêunhập khẩu, thiết bị công nghệ nhập khẩu ; phụ thuộc ít hơn vào bí quyết

Trang 18

công nghệ và chuyên gia nước ngoài Nền tảng công nghệ trong nước pháttriển tương đối toàn diện những khoảng cách giữa các ngành có sự chênhlệch Sự khác biệt về trình độ công nghệ giữa các doanh nghiệp phân theongành là tương đối rõ nét do khác nhau về đặc thù ,về lịch sử phát triển ,cấu trúc ,đặc trưng công nghệ ,đặc trưng của sản phẩm thị trường,chiếnlược phát triển của ngành Tuy nhiên việc so sánh trình độ công nghệ giữacác doanh nghiệp thuộc các ngành này so với ngành khác để có được cáinhìn toàn diện để nên chú trọng đầu tư cái gì cho hợp lý.CIEM đã thựchiện khảo sát đối với hai nhóm doanh nghiệp may và hóa chất với một sốđánh giá chung như sau:

- Trong lĩnh vực dệt may ,trình độ của doanh nghiệp may trong ngành

đã nâng lên một bước so với những khảo sát trước đây ,trong khi đó trình

độ công nghệ trong doanh nghiệp dệt chưa có sự cải tiến đáng kể Nguyênnhân do ngành may công nghệ không quá phức tạp, vốn đầu tư thấp, sảnphẩm chủ yếu xuất khẩu, nên có tốc độ đổi mới công nghệ nhanh hơn, vìvậy máy móc thiết bị trong các doanh nghiệp may khá tiên tiến,đồng bộ vàhiện đại Trong khi đó máy móc thiết bị trong nhiều doanh nghiệp dệt ítnhiều được cải tiến nhưng vẫn còn ở mức thấp, lạc hậu và chắp vá ,dẫn đếnnăng suất thấp ,do đầu tư vào thiết bị dệt đòi hỏi vốn lớn , thời gian thu hồivốn dài trong khi hiệu quả thấp sự không tương đồng này cần phải tậndụng, khai thác, tránh lảng phí

- Trong lĩnh vực hóa chất ,trình độ công nghệ chưa đồng bộ Doanhnghiệp thuộc các phân ngành như hóa mỹ phẩm ,cao su-săm lốp ; điện hóa(pin, ắc qui);khí công nghiệp có trình độ công nghệ tiên tiến hơn các phânngành khác như phân bón;hóa chất cơ bản - Trong ngành nông nghiệp thìViệt nam có nền nông nghiệp rất phát triển biểu hiện là trong các năm gầnđây xuất khẩu gạo của nước ta đứng vị trí thứ hai thế giới , công nghệgiống cây trồng, kỷ thuật nông nghiệp so với một số nước tương đối hiệnđại Nông nghiệp tiếp tục là hướng ưu tiên hợp tác giữa Việt nam và châu

Trang 19

phi , điều kiện tốt để ngành nông nghiệp được xuất khẩu ra nước ngoài Sựthành công của phương thức hợp tác Nam-Nam này được đánh giá caokhông chỉ bởi nó góp phần thúc đẩy nền nông nghiệp địa phương khi cácchuyên gia Việt Nam còn ở châu Phi mà còn bởi vì những lĩnh vực hợp tácnông nghiệp này vẫn tiếp tục được phát triển sau khi chuyên gia Việt Nam

đã rời đi, vì những bí quyết đó đã được chuyển giao cho người địa phương

để họ có thể tự mình đảm đương công việc Nhận ra hiệu quả của chươngtrình này, FAO đã đề nghị nhân rộng hình thức hợp tác này tới các nướcđang phát triển ở châu Phi và Đông Nam Á Tính đến 5/2000, Việt Nam đã

ký hợp đồng theo hình thức 3 bên với 14 nước và có thể sẽ mở rộng ra 30nước khác trên khắp thế giới Để làm được vịêc này, Việt Nam đã có kếhoạch gửi 14.000-18.000 chuyên gia tới những nước này Thành công trongviêc chuyển giao công nghệ này giúp khai thác tốt hơn năng lực đang còn

dư thừa trong nước, tạo công ăn việc làm

- Không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp mà ngành công nghiệp nhưkhai thác dầu khí, công nghiệp xây dựng cơ bản, điện lực…là những thếmạnh của Việt Nam cần tìm chỗ đứng không chỉ trong nước mà còn ra cảthế giới

Sự “ thừa tương đối về nhu cầu công nghệ ” do sự phát triển khôngđồng đều, nó đòi hỏi tìm một nơi để có thể tận dụng ưu thế, vừa có điềukiện phát triển chính nó _đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một giải pháphợp lý

2.3.2 Mở rộng thị trường _xu hướng chung của các công ty lớn

Các công ty không ngừng thực thi các chiến lược nhằm phát triểnluồng tiền mặt của mình và do đó nâng cao được giá trị cho các cổ đông

Có một số chiến lược nhằm phát triển trong khu vực nội địa Những chiếnlược này thường được thực thi không khó lắm vì thông tin về thị trường đãđược biết và việc kinh doanh không cần thiết phải thay đổi nhiều Một sốchiến lược khác nhằm vào thị trường nước ngoài có thể rất khác so với thị

Trang 20

trường trong nước, chúng tạo ra cơ hội cho sự phát triển các lưồng tiền mặtcủa công ty Nhiều hàng rào ngăn cản việc thâm nhập thi trường các nướclẫn nhau đã được tháo gỡ hoặc đã được giảm bớt trong những năm gần đây

do đó đã khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư ra nước ngoài(sản xuất và bán hàng ở nước ngoài) Ví dụ một doanh nghiệp của việtnam, là Viettel “Trong chiến lược phát triển lâu dài, Viettel theo hướng đangành, đa nghề, đầu tư tại thị trường trong nước nhưng cũng có đầu tư rathị trường nước ngoài chúng tôi cho rằng khi đầu tư ra nước ngoài sẽ đồngthời khai thác thị trường trong nước tốt hơn Hơn nữa, khi đợi khai thácxong thị trường trong nước mới đầu tư ra nước ngoài, thì Viettel sẽ khôngcòn cơ hội đầu tư Vì vậy, chúng tôi tiến hành đầu tư song song'' Trongkhối doanh nghiệp nhà nước tới nay, có vài tập đoàn mới được hình thành

ở những lĩnh vực quan trọng như Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Điện lực,Tập đoàn công nghiệp Than –

Khoáng sản, Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông, Tập đoàn Dệt may,Tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Vinashin

Chương II :Thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của

Việt Nam

Trang 21

I Khái quát về tình hình đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp việt nam.

1.1 Chính sách khuyến khích đầu tư ra nước ngoài của việt nam

Những năm đầu thập niên 90, lượng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN)vào Việt Nam tăng mỗi năm, số các doanh nghiệp ĐTNN trong sản xuấthàng dệt-may tăng cao nên số lượng quota xuất khẩu hàng năm không đápứng đủ năng lực sản xuất Bên cạnh đó, chính sách “đóng cửa rừng”, cấmkhai thác đánh bắt gần bờ để bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng tác độngđến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp trong côngnghiệp chế biến sản xuất hàng tiêu dùng Vì vậy, nhằm bù đắp các “thiếuhụt trên” đã có một số doanh nghiệp ĐTNN chuyển mục tiêu hoạt độnghoặc tìm kiếm cơ hội đầu tư tại một số nước láng giềng trong khu vực.Trong số các doanh nghiệp đi tiên phong trong ĐTRNN còn phải kể tớimột số doanh nghiệp tư nhân của một số địa phương tại vùng biên giới vớimột số nước bạn (Lào, Campuchia) đã thực hiện dự án đầu tư tại nước bạntheo thỏa thuận hợp tác song phương giữa chính quyền địa phương hainước Có sự phát triển của một lĩnh vực nào đấy thì nhà nước cần điềuchỉnh cho phù hợp với tình hình trong nước và bảo vệ được quyền lợi củangười dân

Sự phát triển này ngày càng mạnh của đầu tư đòi hỏi những qui địnhcủa nhà nước ngày càng hoàn thiện_biểu hiện số lượng và chất lượng củaluật ngày càng đầy đủ và cập nhật

Một số văn bản pháp luật hỗ trợ cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài:

- NĐ 22/1999/NĐ-CP ra ngày 14/4/1999 qui định về đầu tư ra nướcngoài của doanh nghiệp Việt Nam

- Thông tư số 01//2001/ TT-NHNN ngày 19/01/2001 của Ngân hàngnhà nước về hướng dẫn quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp ra nướcngoài của doanh nghiệp Viêt Nam

Trang 22

- Quyết định số 116/2001/QĐ-TTg Ngày 02/08/2001 về một số ưuđãi khuyến khích đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực hoạt động giầu khí -Thông tư số 05 /2001/TT-BKH Ngày 30/8/2001 về hướng dẫn hoạtđộng đầu tư ra nước ngoài.

- Thông tư số 97/2002/TT-BTC ngày 24 tháng 10 năm 2002 của BộTài chính về Hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp ViệtNam đầu tư ra nước ngoài

- Thông tư sửa đổi bổ sung khoản 6, mục III thông tư số01/2001/TT- NHNN ngày 19 /1/2001

- QĐ số 158 /QĐ-CTN ngày 16/01/1994 phê chuẩn công ước thànhlập tổ chức đảm bảo đầu tư đa biên

- Công ước thành lập tổ chức đảm bỏa đầu tư đa biên ( MIGA)

- NĐ số 63/ 1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của chính phủ về quản lýngoại hối

- Thông tư số 01/1999 TT-NHNN ngày 16/4/1999 hướng dẫn thihành NĐ số 63/1998 NĐ-CP ngày 17/8/1998

- NĐ số 05 /2001 /NĐ-CP ngày 17/01/2001 sửa đổi bổ sung NĐ số63/1998/NĐ-CP

-QĐ số 61 /2001/QĐ-TTg ngày 25/4/2001 về nghĩa vụ bán và quyềnmua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức

- Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 quy định

về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Cùng với việc tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việtnam , xu hướng đầu tư ra nước ngoài của Việt nam đang được khởiđộng.Tuy đây là một hướng đi mới , có không ít rủi ro song Việt nam đãthực sự quan tâm đến việc vươn ra thị trường thị trường quốc tế và không ít

đã gặt hái những thành công ,tạo vị thế của mình tại thị trường nướcngoài Là một nước đang phát triển , bước đầu thực hiện đầu tư ra nướcngoài, song việt nam đã thu được một kết quả ban đầu đáng khích lệ Tính

Trang 23

đến hết năm 2007, qua 16 năm thực hiện ĐTRNN, Việt Nam có 249 dự ánĐTRNN còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 1.39 tỷ USD, vốn thực hiện đạtkhoảng 927 triệu USD, chiếm 66,8% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài Quy

mô vốn đầu tư bình quân đạt 7,5 triệu USD/dự án

Các dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam tập trungchủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp với 100 dự án, tổng vốn đầu tư là 893,6triệu USD, chiếm 40,16% về số dự án và 64,3% tổng vốn đăng ký đầu tư ranước ngoài Riên năm 2007 có 64 dự án do Doanh Nghiệp việt nam đầu tư

ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký đạt 391.2 triệu USD.Ngoài ra còn một

số dự án đầu tư ra nước ngoài đang chờ các nước phê duyệt hoặc đang chờtrong nước thẩm định Mặc dù còn rất khiêm tốn nhưng đặt trong bối cảnhnền kinh tế việt nam hiện nay thì con số trên hàm chứa rất nhiều ýnghĩa Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thực sự tạo ra “chiếc bánh thứ 2” chonền kinh tế Việt Nam Đã thể hiện sự nổ lực của việt nam khi hòa mình vàonền kinh tế thế giới và phần nào khẳng đính sự lớn mạnh của việt nam kể

từ khi mở cửa hội nhập Mặt khác những dự án ban đầu này đã đặt nềnmóng khơi nguồn cho hoạt động đầu tư trược tiếp ra nước ngoài của ViệtNam trong tương lai Đóng vai trò tiên phong trong quá trình đưa vốn,khoa học công nghệ, và lao động của việt nam ra thị trường thế giới Tuymới chỉ chính thức thực hiện được 9 năm và quy mô các dự án chưa phải

là lớn song có nhiều doanh nghiệp việt nam có khả năng tài chính và cóquan tâm mở rộng địa bàn hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mở rộngthị trường tiêu thụ sản phẩm ,tiết kiệm chi phí sản xuất, chi phí vận tải vàkhai thác lợi thế của quá trình hội nhập kinh tế thế giới

Trang 24

1.2 Tình hình cấp giấy phép đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua.

Từ nhu cầu mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả hơn các nguồn lựcsản xuất tranh thủ các ưu đãi ngày càng nhiều từ các nước nhận đầu tư doquá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Cùng với sự khuyến khích

và tạo điều kiện của nhà nước, ngày càng nhiều các doanh nghiệp đầu tưhoặc đang xúc tiến các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Trong giai đoạn 1989-1998, trước khi ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định Đầu tư ra nước ngoài( ĐTRNN) của doanh nghiệp Việt Nam, có 18 dự án ĐTRNN với tổng vốnđăng ký đạt trên 13,6 triệu USD; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 0,76triệu USD/dự án

Trong thời kỳ 1999-2005 sau khi ban hành Nghị định số

22/1999/NĐ-CP, có 131 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt trên 559,89 triệu USD,tăng gấp 7 lần về số dự án và gấp 40 lần về tổng vốn đầu tư đăng ký so vớithời kỳ 1989-1998; quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 4,27 triệu USD/dự án,cao hơn giai đoạn 1989-1998

Từ năm 2006 khi ban hành Nghị định 78/2006/NĐ-CP ngày09/9/2006 của Chính phủ quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Namtới hết năm 2007 có 100 dự án ĐTRNN với tổng vốn đăng ký đạt trên816,49 triệu USD; tuy chỉ bằng 76% về số dự án, nhưng tăng 45% về vàgấp 40 lần tổng vốn đầu tư đăng ký so với giai đoạn 1999-2005; quy môvốn đầu tư bình quân đạt 8,16 triệu USD/dự án, cao hơn thời kỳ 1999-2005

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tăng dần theo các năm, trong nhữngnăm gần đây đầu tư nước ngoài không những tăng về số dự án mà còn tănglên cả vốn đầu tư Điều này được biểu hiện trong bảng dưới đây

Trang 25

Đầu tư ra nước ngoài tính theo năm 1989-2007 STT Năm Số dự án Tổng vốn đầu tư Đầu tư đã thực hiện

1.3 Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phân theo nước nhận đầu tư

Các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư sang 35 quốc gia và vùng lãnhthổ, nhưng chủ yếu tại: Châu Á có 167 dự án, tổng vốn đầu tư là 751,03triệu USD, chiếm 67% về số dự án và 54% tổng vốn đầu tư đăng ký.Trong đó tập trung nhiều nhất tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào với 86

dự án, tổng vốn đầu tư là 583,8 triệu USD, đã thực hiện 328 triệu USD,chiếm 35% về số dự án và 42% tổng vốn đầu tư đăng ký Phần lớn các dự

án đầu tư sang Lào trong lĩnh vực công nghiệp nhiệt điện, trồng cao su,khai thác khoáng sản Cũng tại I Rắc, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam cũng

ký kết đầu tư vào 1 dự án thăm dò, khai thác dầu khí có vốn đầu tư cam kết

là 100 triệu USD hiện chưa triển khai được do tình hình an ninh bất ổn tạikhu vực này

Trang 26

Châu Phi có 2 dự án thăm dò, khai thác dầu khí của Tập đoàn Dầu khíViệt Nam với tổng vốn đầu tư 360,36 triệu USD, chiếm 23,5% tổng vốnđầu tư đăng ký gồm (i) có 1 dự án tại địa bàn Angiêri vốn đầu tư là 243triệu USD, sau giai đoạn thăm dò, thẩm lượng dự án đã phát hiện có dầu vàkhí ga ; (ii) 1 dự án tại Madagasca vốn đầu tư là 117,36 triệu USD hiện cókết quả khả quan

Châu Âu có 37 dự án, tổng vốn đầu tư là 463,84 triệu USD, chiếm14,6% về số dự án và khoảng 10% tổng vốn đầu tư đăng ký, trong đó, Liênbang Nga có 12 dự án, tổng vốn đầu tư là 78 triệu USD

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài phân theo đối tác nhận vốn đầu tư1989-2006

Trang 28

Nguồn :tổng cục thống kê

Trang 29

Nhìn lại quá trình đầu tư ra nước ngoài của các DN Việt Nam nhậnthấy các DN chủ yếu đầu tư vào thị trường truyền thống bởi đây là nhữngthị trường doanh nghiệp Việt Nam am hiểu luật pháp và cách thức hợp tácnên rủi ro ít Tuy nhiên, năm 2008 các DN Việt Nam sẽ mở rộng thị trườngđầu tư hơn trước, đã tìm đến những thị trường khó tính như Trung Đông.Trong năm 2008, thị trường ở khu vực Đông Âu, Bắc Phi, châu Mỹ Latinh, Trung Đông, cũng đang là điểm đầu tư hấp dẫn của nhiều DN ViệtNam Tại mỗi khu vực trên các DN Việt Nam sẽ đầu tư vào một số lĩnh vựctrọng tâm bao gồm dầu khí (Đông Nam Á, châu Phi), điện lực (Lào, TrungQuốc), khai thác khoáng sản (Lào), viễn thông (Lào, Campuchia, HồngKông, Singapore, Hoa Kỳ), giao thông vận tải (Singapore, Hồng Kông,Nga), kinh doanh xuất nhập khẩu, thương mại bán lẻ (Hoa Kỳ, EU, NhậtBản, Singapore, Trung Quốc)

Ngày đăng: 06/08/2013, 10:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mô hình được xây dựng dựa trên giả định sau: - “ Thực trạng và giải pháp về  vấn đề lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn năm 2007 – 2008” .
h ình được xây dựng dựa trên giả định sau: (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w