Thực trạng và giải pháp về vấn đề lạm phát của Việt Nam trong những năm vừa qua
Trang 1HV: Đậu Quang Sơn
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt những thập kỷ vừa qua, bên cạnh sự gia tăng về sản lượngsản xuất và đời sống của người dân ngày càng được cải thiện là xu hướngtăng lên của giá cả trên phạm vi toàn thế giới
Lạm phát được hiểu là sự gia tăng mức giá chung qua thời gian Bên
cạnh một số ít tác động tích cực thì lạm phát có rất nhiều các ảnh hưởngkhông có lợi cho nền kinh tế, chính vì vậy mà lạm phát luôn là một vấn đềkinh tế vĩ mô được sự quan tâm của tất cả các quốc gia và của nhiều nhà kinh
tế lớn
Khi bàn về lạm phát, mỗi nhà kinh tế đưa ra những quan điểm, nhữngnội dung riêng, và lạm phát ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ khác nhau làkhông giống nhau
Chúng ta có thể khẳng định: ở Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2008
có sự biến động lớn về giá cả (từ thiểu phát vào năm 2000 đến lạm phát 2 con
số vào năm 2008) Việc tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân, giải pháp về lạmphát của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2008 là một vấn đề quan trọng, giúp cácnhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp, cũng như từng người dân hiểu
rõ thực trạng lạm phát ở nước ta trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất racác giải pháp, lựa chọn thực hiện các hành vi kinh tế theo hướng tích cực đểnước ta đạt được mục tiêu đã đề ra theo Nghị quyết 10/2008/NQ-CP ngày17/4/2008 của Chính phủ: "Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảođảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững” trong thời gian tới"
Để trả lời một phần của câu hỏi đó, tác giả nghiên cứu đề tài: "Thực trạng và giải pháp về vấn đề lạm phát của Việt Nam trong những năm vừa qua (2000 - 2008) "
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá và làm rõ những lý luận cơ bản về lạm phát
Trang 2HV: Đậu Quang Sơn
- Đánh giá thực trạng về lạm phát của nước ta trong thời gian vừaqua - Đề xuất hệ thống các giải pháp để khắc phục tình trạng lạm phátcao ở Việt Nam trong thời gian vừa qua (2007 -2008)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Thực trạng về lạm phát của nước ta trong thời gian qua
+ Những phương án để khắc phục tình trạng lạm phát của nước ta
4 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phươngpháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phânloại và hệ thống hoá, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống
kê, phương pháp so sánh…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Cung cấp cho các nhà nghiên cứu hệ thống các lý luận cơ bản về lạmphát, kết quả đánh giá về thực trạng lạm phát của Việt Nam trong các nămgần đây (2000-2008) Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá về thực trạng,đưa ra hệ thống các giải pháp để tác giả tiểu luận và các nhà nghiên cứu quantâm cùng xem xét, lựa chọn và có đề xuất với các cơ quan hữu quan để ápdụng khi thấy giải pháp tác giả là phù hợp nhằm khắc phục tình trạng lạmphát cao ở nước ta trong các năm 2000-2008
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về lạm phát
Chương 2: Tình hình lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2000-2008
Trang 3HV: Đậu Quang Sơn
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
MỤC LỤC 3
CHƯƠNG I 4
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT 4
1.1 Những quan điểm về lạm phát 4
1.2 Đo lường lạm phát 5
1.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): 5
1.2.2 Chỉ số giá điều chỉnh GDP (D GDP ) 6
1.3 Nguyên nhân của lạm phát 6
1.3.1 Theo mô hình tổng cung – tổng cầu 6
1.3.2 Các nguyên nhân của lạm phát từ phía tiền tệ 8
1.4 Tác động của lạm phát tới nền kinh tế 9
1.4.1 Tác động tích cực 9
1.4.2 Các hiệu ứng tiêu cực 10
1.5 Giải pháp kiềm chế lạm phát 12
1.6 Những biện pháp chiến lược 13
CHƯƠNG II 14
TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM 14
GIAI ĐOẠN 2000-2008 14
2.1 Tình hình lạm phát giai đoạn 2000 – 2001 15
2.1.1 Thực trạng 15
2.1.2 Nguyên nhân của lạm phát 15
2.1.3 Giải pháp 17
2.2 tình hình lạm phát giai đoạn 2002-2006 18
2.2.1 Nguyên nhân 19
2.2.2 Các giải pháp kiềm chế lạm phát 22
2.3 tình hình lạm phát giai đoạn 2007 – 2008 25
2.3.1 Thực trạng: 25
2.3.2 Nguyên nhân 26
2.3.3 Giải pháp 29
CHƯƠNG III 36
NHỮNG KIẾN NGHỊ VÀ HOÀN THIỆN CÁC GIẢI PHÁP 36
3.1 Diễn biến kinh tế 36
3.2 Giải pháp cho thời gian tiếp theo 37
3.2.1 Các giải pháp trước mắt: 37
3.2.2 Các giải pháp dài hạn: 39
Trang 4HV: Đậu Quang Sơn
KẾT LUẬN 41DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Theo Các Mác trong bộ Tư bản: Lạm phát là việc tràn đầy các kênh,các luồng lưu thông những tờ giấy bạc thừa, dẫn đến giá cả tăng vọt
Nhà kinh tế học Samuelson thì cho rằng: Lạm phát biểu thị một sự tănglên trong mức giá cả chung Theo ông: “Lạm phát xảy ra khi mức chung củagiá cả và chi phí tăng – giá bánh mì, dầu xăng, xe ôtô tăng; tiền lương, giáđất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng”
Còn Milton Friedman thì quan niệm: “Lạm phát là việc giá cả tăngnhanh và kéo dài” Ông cho rằng: “Lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng làmột hiện tượng tiền tệ” Ý kiến đó của ông được đa số các nhà kinh tế thuộcphái tiền tệ và phái Keynes tán thành
Dermot Mcleese cho rằng: Lạm phát là sự gia tăng liên tục trong mứcgiá chung
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua trong
Trang 5HV: Đậu Quang Sơn
khác, khi có lạm phát chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều đồng nội tệ hơn đểmua một giỏ hàng hoá cố định
Như vậy, mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau, nhưng các quan
điểm về lạm phát đều cho rằng lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung.
Mức giá chung được hiểu không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hoá
và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giátrung bình tăng lên Một nền kinh tế có thể trải qua lạm phát khi giá của một
số hàng hoá giảm, nếu như giá cả của các hàng hoá và dịch vụ khác tăng đủmạnh
Lạm phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là
sự gia tăng liên tục trong mức giá Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làmtăng mức giá thì dường như giá cả chỉ đột ngột “bùng” lên rồi lại giảm trở lạimức ban đầu ngay sau đó Hiện tượng tăng giá tạm thời như vậy không đượcgọi là lạm phát Tuy nhiên trong thực tế mỗi cú sốc thường có ảnh hưởng kéodài đối với nền kinh tế và do đó có thể gây ra lạm phát
1.2 Đo lường lạm phát.
Trên thực tế không chỉ tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ sốlạm phát, vì chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hànghoá trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nóđược thực hiện Do đó có nhiều phép đo lường lạm phát phổ biến được sửdụng như sau:
1.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI):
Đây là thước đo lạm phát được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, và ởViệt Nam chúng ta cũng sử dụng chỉ số này Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh sựbiến động giá của một “giỏ” hàng hoá và dịch vụ tiêu biểu cho cơ cấu tiêudùng xã hội “Giỏ” hàng hoá ở đây bao gồm một số hữu hạn các mặt hàng
Trang 6HV: Đậu Quang Sơn
lại, dịch vụ y tế, các dịch vụ khác phục vụ cuộc sống hàng ngày và được tínhtheo công thức:
0 1
0 0 1
k t
i k
i
P Q CPI
Chỉ số giá tiêu dùng là một chỉ tiêu tương đối phản ánh xu thế và mức
độ biến động của giá cả bán lẻ hàng hoá và dịch vụ dùng trong sinh hoạt củadân cư Vì thế, nó được sử dụng để theo dõi sự thay đổi của chi phí sinh hoạttheo thời gian và đo lường lạm phát, khi chỉ số giá tiêu dùng tăng nghĩa làmức giá trung bình tăng Kết quả là người tiêu dùng phải chi nhiều tiền hơn
để có thể mua được một lượng hàng hoá và dịch vụ như cũ nhằm duy trì mứcsống như trước của họ, hoặc với một thu nhập nhất định họ mua được lượnghàng hoá tiêu dùng ít hơn
1.2.2 Chỉ số giá điều chỉnh GDP (D GDP ).
1 0 1
i i i
P Q GDP
Trang 7HV: Đậu Quang Sơn
1.3 Nguyên nhân của lạm phát.
Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung, nên các nguyên nhân gây
ra lạm phát chủ yếu bắt nguồn từ các yếu tố cung – cầu về hàng hoá và tiền tệ
1.3.1 Theo mô hình tổng cung – tổng cầu.
1.3.1.1 Lạm phát do cầu kéo.
Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu AD tăng lên mạnh mẽ Bình
Như vậy khi một trong các yếu tố tác động làm tổng cầu tăng lên thì đường
Theo trường phái trọng tiền thì các yếu tố gây ra lạm phát cầu kéo lànhững yếu tố làm tăng tổng cầu như cung tiền vượt mức kéo dài của NHTW.Nhưng theo quan điểm của phái Keynes thì ngoài yếu tố tăng cung tiền, lạmphát cầu kéo còn do yếu tố chi tiêu của Chính phủ tăng kéo dài
1.3.1.2 Lạm phát do chi phí đẩy.
Do cơn sốc của giá cả thị trường đầu vào, đặc biệt là lương và giá cảcác vật tư cơ bản (dầu, sắt thép…) là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lêncao, đường AS dịch chuyển sang trái và nền kinh tế di chuyển từ điểm A đến
Tiểu luận PPNC khoa học
P
Trang 8HV: Đậu Quang Sơn
điểm B Tuy tổng cầu không thay đổi nhưng sản lượng giảm xuống và giá cả
thì tăng lên, do đó có lạm phát Như vậy nền kinh tế trong tình trạng suy thoái
đi kèm lạm phát.
1.3.2 Các nguyên nhân của lạm phát từ phía tiền tệ.
1.3.2.1 Lạm phát do tăng cung tiền tệ.
Lịch sử lạm phát cũng chỉ ra rằng không có cuộc lạm phát cao nào mà
không có sự tăng trưởng mạnh về tiền tệ Theo nguyên lý thứ 9 về kinh tế,
Mankiw khẳng định: Giá cả tăng khi chính phủ in quá nhiều tiền Lượng tiền
tăng càng nhanh thì lạm phát càng cao và bất kỳ một chính sách vĩ mô nàogiảm được tốc độ tăng tiền thì cũng dẫn đến giảm tỷ lệ lạm phát
Theo nhà kinh tế học Mankiw, trong thực tiễn các nền kinh tế, cóphương trình:
M x V = P x Y
Phương trình này cho thấy lượng tiền (M) nhân với tốc độ lưu thôngtiền tệ (V) bằng giá hàng hoá (P) nhân với sản lượng của nền kinh tế (Y) Nó
được gọi là phương trình số lượng, bởi vì nó phản ánh mối quan hệ giữa số
lượng tiền (M) và giá trị sản lượng danh nghĩa (P x Y) Phương trình số nàycho thấy sự gia tăng lượng tiền trong nền kinh tế phải biểu hiện ở một trong
ba biến số khác: mức giá phải tăng, sản lượng phải tăng, hoặc tốc độ lưu
Trang 9HV: Đậu Quang Sơn
Với giả thiết là tốc độ lưu thông tiền tệ tương đối ổn định theo thờigian Vì tốc độ lưu thông tiền tệ ổn định, nên khi NHTW thay đổi khối lượngtiền tệ (M), nó gây ra sự thay đổi tương ứng trong giá trị sản lượng danhnghĩa
Sản lượng hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế (Y) được xác định bởicác nhân tố sản xuất (lao động, tư bản hiện vật, vốn nhân lực, tài nguyên thiênnhiên) và trình độ công nghệ hiện tại Nhưng vì tiền có tính trung lập, nên nókhông ảnh hưởng đến sản lượng
Với sản lượng phụ thuộc vào các nhân tố sản xuất và công nghệ, thì khiNHTW thay đổi khối lượng tiền tệ và gây ra những thay đổi tương ứng tronggiá trị sản lượng danh nghĩa, thì những thay đổi này được phản ánh trong sựthay đổi của mức giá (P)
Như vậy, khi NHTW tăng cung tiền tệ một cách nhanh chóng thì kếtquả là lạm phát sẽ tăng
1.3.2.2 Lạm phát theo tỷ giá hối đoái.
Việc tăng lên của tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ so với đơn vị tiền tệnước ngoài cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát
Khi tỷ giá tăng, đồng nội tệ mất giá, trước hết nó tác động lên tâm lý củanhững người sản xuất trong nước, muốn kéo giá hàng lên theo mức tăng của
tỷ giá hối đoái
Thứ hai, khi tỷ giá tăng, giá nguyên liệu, hàng hoá nhập khẩu cũng tăngcao, đẩy chi phí nguyên liệu tăng lên, lại quay trở về lạm phát chi phí đẩy như
Trang 10HV: Đậu Quang Sơn
miêu tả tác động tích cực của lạm phát Mức lạm phát vừa phải làm cho chiphí thực tế mà nhà sản xuất phải chịu để mua đầu vào lao động giảm đi (tiềnlương thực tế của người lao động giảm), điều này khuyến khích các nhà sảnxuất đầu tư mở rộng sản xuất Như vậy việc làm được tạo thêm, tỷ lệ thấtnghiệp giảm, sản lượng của nền kinh tế có sự gia tăng
→ Cầu lao động tăng
→ sản lượng tăng, Y tăng.
P tăng
→ W/P giảm
→ Cầu lao động tăng
→ sản lượng tăng, Y tăng.
Trang 11HV: Đậu Quang Sơn
Theo Mankiw, khi chính phủ tăng nguồn thu bằng cách in thêm tiền,
người ta nói chính phủ đánh thuế lạm phát Song thuế lạm phát không hoàn
toàn giống các loại thuế khác, vì không ai trong nền kinh tế nhận được hoáđơn thuế của chính phủ cả Khi chính phủ in tiền, giá cả sẽ tăng và tiền người
dân nắm giữ sẽ giảm giá trị Do vậy, thuế lạm phát là loại thuế đánh vào
những người giữ tiền.
Thứ hai, lạm phát gây ra chi phí thực đơn Lạm phát thường sẽ dẫn đến
giá cả tăng lên, các doanh nghiệp sẽ mất thêm chi phí cho sự tăng giá, được
gọi là chi phí thực đơn Chi phí này bao gồm chi phí quyết định giá mới, chi
phí in bảng giá và catalô mới cho đối tác và khách hàng, chi phí quảng cáo giámới và thậm chí cả chi phí giải thích cho khách hàng tại sao có sự thay đổigiá
Thứ ba, lạm phát làm thay đổi giá tương đối một cách không mong
muốn Trong trường hợp lạm phát doanh nghiệp này tăng giá (và đương nhiênphát sinh chi phí thực đơn), còn doanh nghiệp khác lại không tăng giá dokhông muốn phát sinh chi phí thực đơn thì giá cả của doanh nghiệp giữnguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so với doanh nghiệp tăng giá Do nền kinh
tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tương đối nên lạm phát đã dẫnđến tình trạng kém hiệu quả xét trên góc độ vi mô
Thứ tư, sự biến dạng của thuế do lạm phát gây ra Lạm phát có thể làm
thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ý muốn của người làmluật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạm phát Ví dụ: trongtrường hợp thu nhập thực tế của các cá nhân không thay đổi nhưng thu nhậpdanh nghĩa tăng do lạm phát thì cá nhân phải nộp thuế thu nhập trên cả phầnchênh lệch giữa thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực tế
Trang 12HV: Đậu Quang Sơn
Thứ năm, lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện Tiền được sử dụng để
đo lường và tính toán trong các giao dịch kinh tế Khi có lạm phát cái thướcnày co lại Điều này làm cho việc hạch toán lợi nhuận của các doanh nghiệptrở nên khó khăn hơn và việc lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp trở nênphức tạp hơn Nó cũng làm cho các giao dịch hàng ngày trở nên dễ nhầm lẫnhơn
Thứ sáu, chí phí mòn giày Lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào
người giữ tiền và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạmphát nên lạm phát làm cho người ta giữ ít tiền hơn hay làm giảm cầu về tiền.Khi đó họ cần phải thường xuyên đến ngân hàng để rút tiền nhiều hơn Cácnhà kinh tế đã dùng thuật ngữ “chi phí mòn giày” để chỉ những tổn thất phátsinh do sự bất tiện cũng như thời gian tiêu tốn mà người ta phải hứng chịunhiều hơn không có lạm phát
Đặc biệt đối với lạm phát không dự kiến được.
Đây là lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cảitrong xã hội một cách tuỳ tiện Ví dụ, các điều kiện cho vay nói chung đượctính theo các giá trị danh nghĩa dựa trên một tỷ lệ lạm phát dự kiến nhất định.Song nếu lạm phát cao hơn so với dự kiến, người đi vay hoàn trả tiền vaybằng những đồng tiền có sức mua thấp hơn dự kiến Người đi vay được lợi,còn người cho vay bị thiệt Ngược lại nếu lạm phát thấp hơn dự kiến, ngườicho vay được lợi, còn người đi vay phải trả tiền vay bằng những đồng tiền cósức mua cao hơn dự kiến Nếu lạm phát được dự kiến một cách chính xác, thìhiện tượng tái phân phối thu nhập như vậy không xảy ra, cho dù quy mô lạmphát là bao nhiêu
Trang 13HV: Đậu Quang Sơn
1.5 Giải pháp kiềm chế lạm phát.
Kiềm chế hay ổn định lạm phát là hành động của chính phủ và ngân hàngtrung ương các quốc gia khi nền kinh tế có lạm phát để hạn chế thấp nhất cáctác động tiêu cực của nó tới nền kinh tế Ngân hàng trung ương có thể tácđộng đến lạm phát ở một mức độ đáng kể thông qua việc thiết lập hệ thống lãisuất và thông qua các hoạt động khác (sử dụng các chính sách tiền tệ) Lãisuất cao và sự tăng chậm của cung ứng tiền tệ là cách thức truyền thống đểcác ngân hàng trung ương kiềm chế lạm phát, nhưng lại gây ra thất nghiệp vàsuy giảm sản xuất Muốn kiềm chế lạm phát hiệu quả thì phải tìm ra nguyênnhân chính xác của lạm phát và từ đó có những chính sách phù hợp
Nhìn chung theo các nhà kinh tế học thì có các giải pháp kiềm chế lạmphát sau:
- Thứ nhất, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm lượng tiền
trong nền kinh tế, hạn chế phát hành tiền vào lưu thông Biện pháp này còngọi là chính sách đóng băng tiền tệ, nhằm giảm tổng cầu của nền kinh tế, làmđường AD dịch chuyển sang trái dẫn đến giá cả chung giảm
- Thứ hai, thực hiện chính sách tài khoá thắt chặt, như tạm hoãn những
khoản chi chưa thực sự cần thiết trong nền kinh tế, cân đối lại ngân sách vàcắt giảm chi tiêu đến mức có thể được Biện pháp này có tác động làm giảmtổng cầu của nền kinh tế, đường AD dịch chuyển sang trái dẫn đến giảm lạmphát
- Thứ ba, tăng quỹ hàng hoá tiêu dùng để cân đối với số lượng tiền có
trong lưu thông bằng cách khuyến khích tự do mậu dịch, giảm thuế quan vàcác biện pháp cần thiết khác để thu hút hàng hoá từ ngoài vào Biện pháp này
Trang 14HV: Đậu Quang Sơn
có tác động làm tăng tổng cung trong nền kinh tế, làm đường AS dịch chuyểnsang phải, qua đó làm giảm mức giá chung
1.6 Những biện pháp chiến lược.
- Thúc đẩy sản xuất và mở rộng lưu thông hàng hoá làm tăng cung hànghoá, đảm bảo cân đối tiền – hàng
- Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, hiệu quả đầu tư đối vớinền kinh tế để tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế
- Tăng cường công tác dự báo, quản lý và điều hành vĩ mô nhằm ổn địnhtâm lý dân cư, hạn chế tình trạng lạm phát do tâm lý, kỳ vọng
CHƯƠNG II TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2000-2008
Diễn biến lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000-2008diễn ra khá phức tạp Đây là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam bắt đầu hội nhậpsâu rộng với nền kinh tế quốc tế, nên lạm phát của Việt Nam không chỉ bị tácđộng bởi các nhân tố trong nước mà còn bị ảnh hưởng bởi các nhân tố từngoài nước, và có diễn biến phức tạp, các yếu tố tác động đan xen nhau, nênviệc phân tích, đánh giá và tìm ra nguyên nhân để có giải pháp phù hợp là rấtcần thiết
Trang 15HV: Đậu Quang Sơn
Diễn biến CPI từ năm 2000 đến nay
CPI chung Chỉ số giá l ơng thực thực phẩm
Qua dóy số liệu về chỉ số giỏ CPI tại biểu đồ trờn, nhúm nghiờn cứunhận thấy trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay cú thể được chia làm 3giai đoạn: Giai đoạn 2000-2001 là giai đoạn thiểu phỏt; Giai đoạn 2002-2006
là giai đoạn lạm phỏt vừa phải; và giai đoạn 2000-2008 là giai đoạn lạm phỏttăng cao Việc chia ra làm 3 giai đoạn để phõn tớch xỏc định những nguyờnnhõn chủ yếu và giải phỏp đối với lạm phỏt của mỗi giai đoạn
Mặc dự cú nhiều phương phỏp phõn tớch nguyờn nhõn của lạm phỏt như
đó nờu ở Phần I, nhưng nhúm phõn tớch lựa chọn cỏch tiếp cận dựa trờn mụhỡnh tổng cung - tổng cầu là phương phỏp cơ bản để phõn tớch và đỏnh giỏ.Đồng thời, do hệ thống thống kờ số liệu của Việt Nam cũn nhiều hạn chế, nờnnhúm phõn tớch coi CPI là chỉ tiờu lạm phỏt và coi dóy số liệu CPI là thuầnnhất, mặc dự trờn thực tế, rổ hàng hoỏ và tỷ trọng của từng nhúm hàng trongCPI cú nhiều thay đổi qua cỏc thời kỳ
Trang 16HV: Đậu Quang Sơn
2.1 Tình hình lạm phát giai đoạn 2000 – 2001.
2.1.1 Thực trạng.
Trong khi tốc độ tăng GDP đã được cải thiện, tốc độ tăng bình quânhàng năm là 6,77%, cao hơn so với mức 5,3% của bình quân 2 năm trước đó,nhưng nền kinh tế trong thời gian này lại rơi vào trạng thái thiểu phát Trongnhiều tháng của 2 năm này chỉ số giá tiêu dùng CPI giảm so với tháng trước.Đây là hiện tượng chưa từng xảy ra đối với nền kinh tế Việt Nam
Bảng 1: Chỉ số giá tiêu dùng năm 2000, 2001 Tháng
Năm
2.1.2 Nguyên nhân của lạm phát.
2.1.2.1 Các nguyên nhân tác động đến tổng cầu:
- Nền kinh tế thế giới ở thời kỳ suy thoái do chịu ảnh hưởng của khủnghoảng tài chính tiền tệ liên tiếp xảy ra ở các khu
vực Châu Á (1997-1998), một số nước Châu Âu
(1998) và Châu Mỹ La tinh (1999), đặc biệt sau sự
kiện ngày 11/9/2001 ở Mỹ, làm thị trường hàng
hoá xuất khẩu của Việt Nam bị thu hẹp Việc xuất
khẩu một số mặt hàng chủ lực tuy tăng lượng
nhưng giá thế giới lại giảm làm giảm giá trị xuất khẩu, như cà phê tăng 24%
về lượng nhưng giảm 23% về giá trị, gạo tăng 2,1% về lượng nhưng giảm11,8% về giá trị Việc giảm giá trị xuất khẩu tác động đến xuất khẩu ròng,đường tổng cầu dịch trái và giá cả giảm
Trang 17Y2 Yo Y1 Y
HV: Đậu Quang Sơn
- Đồng thời, trong giai đoạn này,
lói suất trờn thế giới tăng, nhiều khi cao
hơn lói suất trong nước, làm giảm đầu
tư (năm 2000 thõm hụt 754 triệu USD),
đường IS* dịch chuyển sang trỏi, r*
tăng làm giảm cầu tiền, đường LM*
dịch phải Tỷ giỏ giảm xuống Tuy
nhiờn, để khuyến khớch xuất khẩu, NHNN
vẫn cần thực hiện duy trỡ tỷ giỏ ổn định
nờn phải can thiệp thị trường làm LM*
dịch trỏi Thu nhập giảm và tỷ giỏ khụng
đổi Điều này tỏc động làm giảm tổng cầu,
giỏ cả giảm
- Chi tiờu của Chớnh phủ chậm do nhiều dự ỏn chậm được giải ngõn,trong khi đú chi ngõn sỏch của Chớnh phủ vượt dự toỏn trong 4 năm liờn tiếp(1998-2001) cũng là những nhõn tố làm đường tổng cầu dịch trỏi và giỏ cảgiảm
2.1.2.2 Cỏc nguyờn nhõn tỏc động đến tổng cung:
- Giỏ cả cỏc nguyờn liệu đầu vào trờn thế giới như giỏ dầu mỏ, giỏlương thực thực phẩm giảm mạnh do ảnh
hưởng của suy thoỏi kinh tế Đặc biệt là
chỉ số giỏ lương thực thực phẩm trong 2
năm này liờn tục õm như Biểu đồ CPI ở
trờn, trong khi tỷ trọng của nhúm hàng này
chiếm đến 47,9% trong “giỏ” hàng hoỏ tiờu dựng của Việt Nam Giỏ dầu cũngliờn tục giảm, từ mức khoảng 30 USD/thựng đầu năm 2000 xuống cũn 19,5USD/thựng vào cuối năm 2001 Giỏ cả chi phớ đầu vào giảm là nhõn tố tỏc
Diễn biến tỷ giá và lãi suất 2000-2001
Tốc độ tăng tỷ giá so cùng kỳ năm tr ớc Fed fund rate VNIBOR
Trang 18HV: Đậu Quang Sơn
động làm tăng tổng cung, đường AS dịch phải, nền kinh tế di chuyển từ điểm
A tới điểm B, kết quả là giá cả giảm
- Việc áp dụng các chính sách thuế mới như VAT, thuế thu nhập doanhnghiệp đã loại trừ được chồng chéo trong tính toán, điều tiết thu nhập khoahọc, từng bước khuyến khích các thành phần kinh tế điều tiết sản xuất kinhdoanh, làm tăng cung, đường AS dịch chuyển phải và giá cả giảm nhưng nềnkinh tế đạt mức tăng trưởng (đồ thị trên)
2.1.3 Giải pháp.
Nền kinh tế thiểu phát sẽ kéo theo sản suất đình trệ và ảnh hưởng tiêucực đến nền kinh tế Vì vậy, trong giai đoạn này, Chính phủ đã thực hiện cácgiải pháp để khắc phục tình trạng thiểu phát, cụ thể:
2.1.3.1 Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng thông qua một loạt các biện pháp:
- Giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND từ 5% xuốngcòn 3% vào tháng 5/2001 để khuyến khích tăng lãi suất huy động VND Đồngthời, trong khoảng thời gian từ tháng 11/2000 đến tháng 5/2001, để hạn chếtác động của lãi suất quốc tế đối với thị trường Việt Nam, Ngân hàng Nhànước (sau đây viết tắt là NHNN) đã tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửibằng USD 3 lần từ 5% lên 15% Đến tháng 12/2001, do tình trạng lãi suấtVND thấp hơn lãi suất ngoại tệ, NHNN đã điều
chỉnh giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ xuống
10%
- Liên tục điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn
của NHNN đối với các tổ chức tín dụng (sau đây
viết tắt là TCTD) xuống còn 0,4%/tháng Thực hiện
4 lần điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản từ mức
Tác động của tăng cung tiền
r LM0 LM1 r
0 A
r1 B
IS
Yo Y1 Y
P AS
Trang 19HV: Đậu Quang Sơn
giảm mạnh 2 lần đối với trần lãi suất huy động ngoại tệ của pháp nhân tại cácTCTD từ mức 3,5%/năm loại trên 6 tháng xuống mức 1%/năm
2.1.3.2 Thực hiện các biện pháp kích cầu của Chính phủ:
- Điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu, qua đó làm tăng thu nhập khảdụng của dân cư, tăng tổng cầu làm đường AD dịch phải, làm tăng thu nhập
và tăng mức giá cả chung Đồng thời, việc điều chỉnh tăng mức lương tốithiểu cũng làm tăng chi phí sản xuất, tác động làm đường AS dịch trái làmtăng giá
- Bên cạnh việc điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu, Chính phủ thựchiện biện pháp giảm giờ làm từ 48 tiếng/tuần xuống còn 40 tiếng/tuần Nhưvậy, chi phí thực tế trả lương cho người lao động tăng lên, làm tăng chi phísản xuất chung, đường IS dịch trái làm tăng giá
2.2 Tình hình lạm phát giai đoạn 2002-2006.
Trong giai đoạn 2002-2006, lạm phát Việt Nam duy trì mức tăng 1 con
số Đây là mức tăng trưởng có thể nói là phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam, nhờ vậy đã góp phần tích cực làm kinh tế Việt Nam giaiđoạn này duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2002-2006 là 7,7%, caohơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 6,45% của 5 năm trước1997-2001
Trang 20HV: Đậu Quang Sơn
tư tư nhân trong giai
đoạn này chủ yếu dựa vào nguồn vốn ngân hàng thì tốc độ tăng trưởng tíndụng của hệ thống ngân hàng đã đóng góp đáng kể để tăng đầu tư, góp phầnlàm tăng cầu của nền kinh tế, ảnh hưởng nhất định đến lạm phát Mức tăngtổng phương tiện thanh toán (M2) bình quân đạt 27,25% và tín dụng tăng ởmức bình quân 26% mỗi năm được coi là tương đối phù hợp để thúc đẩy tăngtrưởng, nhưng cũng có tác động nhất định đến mức lạm phát vừa phải tronggiai đoạn này Qua biểu đồ trên cho thấy mặc dù trong giai đoạn 2000-2003,CPI và các chỉ tiêu tiền tệ hầu như không có mối quan hệ, nhưng trong giaiđoạn 2004-2006, CPI và các chỉ tiêu tiền tệ có quan hệ khá chặt chẽ Và tốc
độ tăng trưởng cao của M2 và tín dụng trong giai đoạn 2004-2006 đã có tácđộng nhất định đến tăng tổng cầu và tăng chỉ số giá tiêu dùng
- Một trong những nhân tố quan trọng góp phần làm tăng tổng cầu gópphần làm tăng GDP và đưa Việt Nam từ giai đoạn thiểu phát 2000-2001 sanglạm phát thấp vào giai đoạn này là do diễn biến kinh tế quốc tế diễn ra kháthuận lợi Kinh tế thế giới trong giai đoạn phục hồi mạnh sau cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997, tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu
4000 4000
5000
Mèi quan hÖ gi÷a CPI vµ cung tiÒn
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45
Trang 21HV: Đậu Quang Sơn
mức 1,2% của năm 2001 lên mức 1,9% năm 2002; 2,5% năm 2003; 5,1%năm 2004; 4,3% năm 2005; 5,1% năm 2006 Kinh tế thế giới tăng trưởng tạođiều kiện cho thúc đẩy xuất khẩu, cũng như việc đầu tư nước ngoài vào ViệtNam, cải thiện cán cân thanh toán, nhất là trong năm 2006 Luồng vốn nướcngoài vào nhiều, nhưng các biện pháp trung hoà của Ngân hàng Nhà nướcchưa được thực hiện kịp thời đã góp phần làm tăng M2 gây ra lạm phát
- Cùng với diễn biến kinh tế thế giới khá thuận lợi, việc thực hiện cáchiệp định thương mại Việt-Mỹ và lộ trình cắt giảm thuế để gia nhập AFTA,cùng với việc ký kết hiệp định EU trong năm 2003 và các Hiệp định songphương khác đã tác động tích cực làm tăng tổng cầu nền kinh tế
- Thu nhập của dân cư đã tăng lên đáng kể, tác động không nhỏ đếntăng tiêu dùng và tăng tổng cầu của nền kinh tế Theo số liệu của Tổng cụcThống kê, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng mạnh, từ mức
440 USD/người năm 2002 lên mức 725 USD/người năm 2006 Thêm vào đó,việc cải cách chế độ tiền lương của Chính phủ đã được thực hiện cùng với cácbiện pháp kích cầu khác của Chính phủ, như giảm giờ làm từ 48 tiếng/tuầnxuống còn 40 tiếng/tuần, một mặt làm tăng tiêu dùng của nền kinh tế, nhưngmặt khác cũng làm gia tăng chi phí sản xuất, đã có tác động làm gia tăng giácả
- Chi tiêu của Chính phủ là một nhân tố quan trọng góp phần làm tănggiá cả Chi ngân sách thường xuyên tăng vượt dự toán trên 6%, riêng năm
2004 lên tới trên 20% Nguồn chi của Chính phủ, đặc biệt là chi vào các côngtrình dự án lớn như Thuỷ điện Yaly, đường Hồ Chí Minh đã góp phần tíchcực trong việc kích cầu và tăng trưởng kinh tế, đồng thời khắc phục tình trạngthiểu phát của Việt Nam
- Tuy nhiên, trong các nhân tố
tác động đến tổng cầu, trong giai
DiÔn biÕn c¸n c©n th ¬ng m¹i cña ViÖt Nam
376 481 0
1000
Trang 22HV: Đậu Quang Sơn
đoạn này cũng có nhân tố làm giảm tổng cung Đó là cán cân thương mại củaViệt Nam bắt đầu chuyển từ trạng thái thặng dư sang thâm hụt lớn, tức là xuấtkhẩu ròng của Việt Nam bị giảm sút
Như vậy, xét về các yếu tố bên cầu trong giai đoạn 2002-2006, nềnkinh tế xuất hiện cả những yếu tố làm tăng cầu và những yếu tố làm giảm cầu,nhưng nhìn chung những yếu tố tăng cầu là chủ yếu, làm cho đường AD dịchchuyển phải, dẫn đến lạm phát tăng
Qua biểu Tốc độ tăng GDP 2000-2006 nêu trên, có thể nhận thấy tốc độtăng CPI năm 2004 có mức gia tăng đột biến và tiếp tục duy trì trong nhữngnăm tiếp theo Bên cạnh những nhân tố tác động đến bên cầu làm tăng lạmphát như đã nêu trên, việc tăng CPI năm 2004 còn có những tác động từ phíacung Đó là:
- Giá nguyên liệu đầu vào như dầu thô, thép, nhựa, phân bón trên thịtrường thế giới tăng cao, làm chi phí sản xuất tăng, ảnh hưởng đến tổng cungcủa nền kinh tế và làm tăng giá Giá dầu thế giới tăng từ mức 32 USD/thùngvào đầu năm 2004 lên đến mức kỷ lục 56 USD/thùng vào tháng 10/2004 vàtăng dần trong những năm tiếp theo Trong nước, Bộ Tài chính đã 2 lần điềuchỉnh tăng giá xăng dầu vào tháng 2 và tháng 6/2004