LÍ DO CHỌN DỀ TÀI Sau 5 năm trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO,Việt Nam đã nghiêm túc thực hiện các cam kết khi gia nhập, trong đó, một trongnhững cam kết quan trọn
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN DỀ TÀI
Sau 5 năm trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO),Việt Nam đã nghiêm túc thực hiện các cam kết khi gia nhập, trong đó, một trongnhững cam kết quan trọng là việc Việt Nam cần phải thực hiện đầy đủ cam kết vềquyền bảo hộ sở hữu trí tuệ Theo đó, hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệcủa Việt Nam đã được điều chỉnh và hướng đến hoàn thiện các nguyên tắc và quiđịnh của các tổ chức quốc tề mà Việt Nam đã tham gia Xây dựng và vận hànhmột hệ thống sở hữu trí tuệ đầy đủ và có hiệu quả là mục tiêu quan trọng của ViệtNam Thấy được tầm quan trọng của việc đăng kí bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ củacác doanh nghiệp , đặc biệt dưới sự cạnh tranh gay gắt trong kinh doanh quốc tế,hiện tại doanh nghiệp Việt Nam đã có ý thức hơn về quyền được bảo hộ này Sốlượng đơn xin đăng kí bảo hộ ngày càng tăng qua các năm Tính đến năm 2011,Cục SHTT đã tiếp nhận 65.383 đơn các loại, với hơn phân nửa số đơn là đăng kýxác lập quyền sở hữu công nghiệp (38.789 đơn)
Với quyết tâm là vậy, mặc dù trong những năm qua số lượng đơn đăng kíbảo hộ sở hữu trí tuệ ngày càng tăng nhưng chưa nhiều Hiện nay trên thị trườngxuất hiện rất nhiều hàng hóa làm nhái, hàng chất lượng kém như: dược phẩm,thuốc lá, phim ảnh, âm nhạc, Và một thực trạng ở đây là: số đơn đăng kí cótăng qua các năm nhưng số lượng đơn đăng kí của các doanh nghiệp Việt Namchiếm tỉ lệ rất ít, các doanh nghiệp nước ngoài chiếm tỉ trọng cao, đặc biệt là đơnđăng kí quyền sáng chế (chiếm trên 92%) tổng số đơn đăng kí bảo hộ quyền sángchế Hơn nữa, công tác xử lí đơn của các cơ quan chức năng còn chậm chạp,chưa đồng bộ Theo cục SHTT, tính đến 2011 số văn bằng bảo hộ do Cục SHTTcấp chỉ khoảng gần 130.000 trong khi tổng số doanh nghiệp của cả nước khoảng520.000- 530.000 Vậy làm thế nào để giải quyết những vấn đề nói trên? Làm thếnào để quyền sở hữu trí tuệ thực sự phát huy vai trò của nó trong kinh doanh đặcbiệt là trong kinh doanh quốc tế?
Từ thực trạng nêu trên, nhóm em quyết định chọn đề tài : “tìm hiểu về vấn
đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong kinh doanh quốc tê và thực trạng bảo hộ
ở Việt Nam hiện nay” nhằm tìm hiểu thực trạng đăng kí bảo hộ sở hữu trí tuệ ở
Trang 2Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp để nâng cao vai trò của việc đăng
kí sở hữu trí tuệ đối với các doanh nghiệp
2.MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất giải pháp hạn chế vi phạm quyền sởhữu trí tuệ
3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Các số liệu là số liệu thứ cấp, được thu thập từ Internet,các bài báo, tạp chí, sách,…
Số liệu sử dụng được lấy từ năm 2005 đến năm 2011
4.3 Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề về sở hữu trì tuệ và quyền sở hữu trí tuệ
GVHD: Lê Trần Thiên Ý SVTH: Nhóm 72
Trang 3PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ – những kết quả
từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người Đối tượng của loại sở hữu này làcác tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quantrọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệcủa nhân loại Đó là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học
kỹ thuật ứng dụng cũng như các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạtđộng thương mại
1.1.2 Quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của cá nhân, pháp nhân đối với các sảnphẩm trí tuệ do con người sáng tạo Đó là độc quyền được công nhận cho mộtngười, một nhóm người hoặc một tổ chức, cho phép họ được sử dụng hay khaithác các khía cạnh thương mại của một sản phẩm sáng tạo
Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: (i) Quyền tác giả các tácphẩm văn học và nghệ thuật; (ii) Sáng chế, giải pháp hữu ích; (iii) bí mật kinhdoanh; (iv) kiểu dáng công nghiệp; (v) nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ;(vi) chỉ dẫn địa lý, tên gọi xuất xứ hàng hoá; (vii) tên thương mại; (viii) giốngcây trồng mới; (ix) thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn; (x) quyền chống cạnhtranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp
1.2 Vai trò của quyền sở hữu trí tuệ
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một trong ba cột trụ của đàm phán thươngmại quốc tế: Thương mại hàng hoá, Thương mại dich vụ, bảo hộ quyền sở hữu trítuệ Vì vậy, bảo hộ trí tuệ có vai trò rất quan trọng:
- Sở hữu trí tuệ có thể trở thành một tài sản có giá trị của doanhnghiệp, có thể được khai thác để tăng doanh thu và lợi nhuận, tăng khả năng cạnhtranh trên thị trường trong và ngoài nước
Trang 4- Sở hữu trí tuệ có thể nâng cao giá trị của doanh nghiệp trong mắtcủa các nhà đầu tư và các tổ chức tài chính trên toàn thế giới.
- Luật Sở hữu trí tuệ bảo vệ cho hàng hoá, dịch vụ của doanhnghiệp chống lại nguy cơ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp bị làm nhái
- Quyền Sở hữu trí tuệ có thể được sử dụng nhiều lần, không bịgiảm giá trị (có thể được sử dụng bởi nhiều người ở nhiều nơi khác nhau)
- Quyền Sở hữu trí tuệ giúp doanh nghiệp cải thiện vị thế trên thịtrường trong nước và quốc tế; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Thông tin sáng chế giúp doanh nghiệp nhận biết đối thủ cạnhtranh và phát triển thị trường Mở cửa cho chuyển giao công nghệ và quốc tế hoá
1.3 Quá trình hình thành luật sở hữu trí tuệ trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Quá trình hình thành luật sở hữu trên thế giới
Các quốc gia tiên phong trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mạnh mẽnhất là các quốc gia có nền văn hoá, khoa học, nghệ thuật phát triển nhất (Mỹ,Nhật và Tây Âu)
Khác với các chế định khác trong luật dân sự, được phát triển từ cácnguyên tắc hình thành từ luật La Mã, luật về sở hữu trí tuệ hình thành từ thực tiễnphát triển của công cuộc cách mạnh công nghiệp, mà trước sau gì các nước tiếpcận với khoa học kỹ thuật sẽ phải quy định Các luật này chủ yếu nhằm vào việcbảo hộ việc khai thác các lợi ích kinh tế của thành quả sáng tạo mang lại Sau đó,các nước đã công nghiệp hoá nhận thấy nhu cầu cần phải chuẩn hoá các qui định
về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ hữu hiệu tài sản lao động sáng tạo ởnước mình và thúc đẩy trao đổi thương mại giữa các nước.Hai công ước đầu tiên
về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là Công ước Paris về quyền sở hữu công nghiệpnăm 1883 và Công ước Berne và quyền tác giả năm 1886 Tiếp đó, các công ước
về sở hữu công nghiệp liên tiếp ra đời, cùng với sự phát triển của khoa học kỹthuật, thí dụ Công ước Madrid 1891 và Công ước Washington 1970
Sau đó thỏa ước về các khía cạnh thương mại về Sở hữu Trí tuệ (TRIPS)yêu cầu các nước thành viên tuân thủ các tiêu chuẩn tối thiểu bảo hộ quyền sởhữu trí tuệ Các nước không tuân thủ sẽ được đưa ra hội đồng giải quyết tranhchấp (Dispute Settlement Board, gọi tắt là DSB) và sẽ bị áp dụng các biện pháptrừng phạt Năm 1996, thoả thuận về hợp tác giám sát thực thi quyền sở hữu trí
GVHD: Lê Trần Thiên Ý SVTH: Nhóm 74
Trang 5tuệ giữa WIPO và WTO có hiệu lực, bao gồm việc hợp tác trong việc trợ giúpcác nước thành viên xây dựng luật về sở hữu trí tuệ, đăng ký bảo hộ một số đốitượng sở hữu trí tuệ, sao cho các nước thành viên có thể thoả mãn các yêu cầucủa Thoả ước TRIPS vào ngày 1/1/2000 Các thành viên là các nước đang pháttriển, hay các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ tập trung bao cấp sang kinh tếthị trường có quyền hoãn thực hiện thêm 4 năm đối với TRIPS (năm 2004) Đốivới các nước kém phát triển, thời gian gia hạn sẽ là 10 năm.
Như vậy, Thoả ước TRIPS đã mở ra một chương mới về bảo hộ và thựcthi quyền sở hữu trí tuệ trên bình diện quôc tế, cũng như tăng cường vai trò củaWIPO trong việc giám sát thực thi quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thươngmại Tuy Thoả ước có hiệu lực từ 1/1/2000, song các nước đang phát triển đượcquyền kéo dài thời gian chuyển tiếp để thích ứng với các điều kiện của Thoả ướcTRIPS đặt ra cho đến hết 10 năm kể từ ngày Thoả ước có hiệu lực
1.3.2 Quá trình hình thành luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Xuất phát điểm của Việt Nam là một nước nghèo và chậm phát triển do bịthực dân Pháp đô hộ Vì vậy, luật về sở hữu trí tuệ của chúng ta ra đời muộn hơn
ở những nước khác Mãi đến năm 1957, Miền Nam mới ban hành Luật Thươnghiệu và năm 1958, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ban hành "Thể lệ
về thương phẩm và thương hiệu" Tuy nhiên, giá trị thực tiễn của các văn bản nàychưa cao Năm 1976, Việt Nam đã tham gia vào Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới(WIPO) Ngày 14/12/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 197/HDBTban hành "Điều lệ về Nhãn hiệu hàng hoá." Đây là văn bản đầu tiên
chính thức nhắc đến vấn đề bảo hộ độc quyền trong sở hữu công nghiệp Tuyvậy, luật về sở hữu trí tuệ chỉ thực sự phát huy tác dụng kể từ sau Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ VI
Đến năm 1995 ban hành Bộ Luật Dân Sự và Nghị định 63/CP về sở hữucông nghiệp (ngày 24/10/1996) và Nghị định 12/1999/NĐ-CP ngày 8/3/1999 về
xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp Rất nhiều sáng chế, giảipháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá đã được đăng ký
Cùng với sự phát tiển kinh tế của đất nước cũng như để đáp ứng nhữngyêu cầu của Tổ chức kinh tế thế giới (WTO) khi Việt Nam là thnah viên,ViệtNam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo
Trang 6sự phù hợp với những điều ước quốc tế trong lĩnh vực này Chính vì vậy, hiệnnay, pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã phù hợp với những yêu cầu củaTRIPS, đảm bảo cho việc Việt Nam có thể thực hiện được ngay những cam kếtcủa mình trong WTO về quyền sở hữu trí tuệ Kể từ những giai đoạn đầu của quátrình đàm phán gia nhập WTO các văn bản pháp luật chủ yếu về bảo hộ sở hữutrí tuệ ở Việt Nam là Bộ luật Dân sự năm 1995 (Phần thứ 6) và một loạt các Nghịđịnh hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự năm 1995 về quyền sở hữu trí tuệ như:Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết về sở hữucông nghiệp; Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 Về bảo hộ quyền sởhữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo
hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp;
và hàng loạt các Thông tư do các Bộ, ngành ban hành
Trong năm 2005, Việt Nam đã sửa đổi Bộ luật Dân sự, trong đó tái khẳngđịnh những nguyên tắc dân sự cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ (Phần VI của Bộluật), ban hành Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh tất cả các khía cạnh của quyền sởhữu trí tuệ Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành nhằm pháp điển hóa các quy địnhtrước đây về quyền sở hữu trí tuệ trong hàng loạt các văn bản dưới luật, đảm bảo
sự phù hợp của pháp luật Việt Nam với các quy định của pháp luật quốc tế vềquyền sở hữu trí tuệ Cùng với việc ban hành và triển khai thực hiện Luật Sở hữutrí tuệ, nhiều Quyết định và Nghị định về quyền tác giả, sở hữu công nghiệp,giống cây trồng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ để hướng dẫn thi hành Luật Sởhữu trí tuệ năm 2005 đã được ban hành như: Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày21/9/2006 hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trítuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; Nghị định số 104/2006/NĐ-CP ngày22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữutrí tuệ năm 2005 về quyền đối với giống cây trồng; Nghị định số 105/2006/NĐ-
CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều củaLuật Sở hữu trí tuệ năm 2005 về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước
về sở hữu trí tuệ; Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 về xử phạt viphạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;…
Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật trong nước, cho đến nay, Việt Nam làthành viên của Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp và Thoả ước
GVHD: Lê Trần Thiên Ý SVTH: Nhóm 76
Trang 7Madrid về Đăng ký quốc tế nhãn hiệu từ năm 1949; Công ước thành lập Tổ chức
Sở hữu trí tuệ thế giới từ năm 1976; Hiệp ước Hợp tác bằng sáng chế từ tháng3/1993; thành viên chính thức của Công ước Bern từ ngày 26/10/2004; Công ướcGeneva từ ngày 6/7/2005; Công ước Brussels từ ngày 12/1/2006; và Nghị địnhthư liên quan đến Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu từ ngày11/7/2006 Việt Nam cũng đã ký kết các hiệp định song phương về bảo hộ sởhữu trí tuệ với Hoa Kỳ và Thuỵ Sĩ
Theo Điều 200 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tòa án, cơ quan thanhtra, quản lý thị trường, hải quan, công an và Uỷ ban Nhân dân chịu trách nhiệm
xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong phạm vi quyền hạn củamình và áp dụng các chế tài hành chính, hoặc trong những trường hợp cụ thể, ápdụng các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp bảo đảm việc áp dụng các hìnhphạt hành chính Đây chính là những cơ quan có trách nhiệm trong việc bảo đảmthực thi quyền sở hữu trí tuệ Về nguyên tắc đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trítuệ, Việt Nam đã áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc đốivới công dân nước ngoài Nguyên tắc này đã được khẳng định không chỉ trongpháp luật Việt Nam mà còn được dựa trên các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ
mà Việt Nam là thành viên
Trang 8CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG KINH
DOANH QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
2.1.1 Thực trạng đăng kí quyền sở hưu trí tuệ
Hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta được bắt đầu triển khai từnhững năm 80, nhưng chỉ từ khi Quốc hội ban hành bộ Luật Dân sự (năm 1995)thì hoạt động này mới bắt đầu tiến triển Đặc biệt, từ khi Quốc hội ban hành Luật
Sở hữu trí tuệ (năm 2005) và Việt Nam là thành viên chính thức của WTO thìhoạt động này trở nên sôi động với tất cả các dạng tài sản trí tuệ được bảo hộ,bao gồm: bản quyền tác giả và các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệuhàng hóa, tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng mới
Nắm bắt được tầm quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ, hiện nay, ở ViệtNam, đa số các doanh nghiệp đều tiến hành đăng kí bảo hộ quyền sở hữu trítuệ.Từ năm 2005 đến năm 2011,mặc dù số lượng đơn đăng kí bảo hộ SHTT cógia tăng qua các năm nhưng số lượng tăng không nhiều Đặc biệt, năm 2010 sốđơn nộp vào còn giảm so với năm 2009 Nguyên nhân của sự sụt giảm nhẹ này là
do nền kinh tế Việt Nam và thế giới, sau khi thoát khỏi tình trạng khủng hoảngkinh tế trầm trọng năm 2008 lại tiếp tục rơi vào tình trạng khủng hoảng “kép”trong giai đoạn này, khiến các doanh nghiệp không muốn mở rộng sản xuất kinhdoanh và cũng không mặn mà với việc đăng kí SHTT
GVHD: Lê Trần Thiên Ý SVTH: Nhóm 78
Trang 9Hình 2.1: Số lượng đơn đăng kí bảo hộ SHTT giai đoạn 2005 – 2011
(Nguồn: Cục sở hữu trí tuệ)
Năm 2011, Cục SHTT đã tiếp nhận 65.383 đơn các loại, với hơn phân nửa
số đơn là đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp (38.789 đơn), trong đó đơnđăng kí nhãn hiệu là nhiều nhất với 28.237 đơn và ít nhất là đơn chỉ dẫn đại lí chỉvới 5 đơn
Bảng 2.1: Các đối tượng đăng kí chính chính của quyền sở hữu công nghiệp
6 Đơn đăng ký quốc tế có nguồn gốc Việt Nam 109
7 Đơn đăng ký thiết kế bố trí mạch tích hợp; 15
( Nguồn: Cục sở hữu trí tuệ)
Hiện nay, tại Việt Nam, việc đăng kí nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp vàsáng chế được hầu hết các doanh nghiệp chú ý và luôn chiếm tỉ trọng cao trongcác loại đơn khác
Trang 10Xét trên bình diện cả nước, ta thấy việc đăng kí quyền sở hữu trì tuệ có sựchênh lệch về số đơn đăng kí giữa các tỉnh, thành phố và chỉ tập trung ở cáctỉnh,thành phố lớn Trong đó nhiều nhất là ở Tp Hồ Chí Minh (6613 đơn, năm2011), tiếp đến là Hà Nội ( 4850 đơn, năm 2011), Bình Dương, Đà nẵng, Số đơnđăng kí về nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp chiếm hầu hết số đơn đăng kí,ngược lại đơn đăng kí chỉ dẫn đại lí lại rất thấp hầu chỉ có vài tỉnh, thành trong cảnước có đăng kí.
Bảng2.2: Thống kê bằng sở hữu công nghiệp năm 2010-2011 theo các tỉnh Tỉnh/TP Sáng chế Giải pháp
hữu ích
Kiểu dáng công nghiệp
(Nguồn: Cục sở hữu trí tuệ)
2.1.2 Thực trạng đăng kí nhãn hiệu giai đoạn 2005 – 2011
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, nhãn hiệu được coi là mộttrong những tài sản có giá trị của một doanh nghiệp Hầu hết các doanh nghiệphiện nay luôn coi trọng nhãn hiệu của mình Chính vì vậy, trong tổng số các đơn
GVHD: Lê Trần Thiên Ý SVTH: Nhóm 710
Trang 11được tiếp nhận tại cục SHTT thì đơn xin đăng kí nhãn hiệu chiếm tỉ trọng lớntrong các loại đơn khác (khoảng 43% trong tổng các loại đơn và khoảng 72,8%trong tổng đơn đăng kí xác lập quyền SHCN).
Hình 2.2: Số đơn đăng kí nhãn hiệu tại Việt Nam giai đoạn 2005 – 2011
(Nguồn: Cục SHTT)
Như vậy, bằng một vài số liệu trên chúng ta có thể nhận thấy số lượng đơnđăng kí nhãn hiệu của doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn so với doanh nghiệpnước ngoài (trung bình doanh nghiệp Việt Nam chiếm khoảng 75% trong tổng sốđơn đăng kí) Nhưng nếu xét dưới khía cạnh sử dụng thực tế, phải chăng tất cảcác nhãn hiệu đã đăng ký đều đang sử dụng tại Việt Nam? Có nhiều nguyên nhândẫn đến tình trạng này: có thể nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã sử dụng quyềnnày nhằm mục đích khác như: ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh khác, để giữ chỗcho một dự án đầu tư khác,…
2.1.3 Thực trạng đăng kí kiểu dáng công nghiệp giai đoạn 2005-2011
Kiểu dáng công nghiệp (KDCN) ngày càng trở thành một yếu tố quan trọngtrong cuộc tranh đua giữa các nhà sản xuất để giành giật thị trường Một kiểudáng hấp dẫn thị hiếu người tiêu dùng sẽ làm tăng giá trị thương mại của sảnphẩm và có thể coi là một loại tài sản quan trọng của nhà sản xuất
Do vậy, kiểu dáng đó phải được bảo hộ để chống lại việc các đối thủ cạnhtranh sao chép nó và hưởng lợi bất hợp pháp trên thành quả sáng tạo và đầu tưcủa nhà sản xuất Khi KDCN được bảo hộ thì chủ sở hữu kiểu dáng có độc quyền
Trang 12sử dụng KDCN Mọi hành vi sử dụng KDCN được bảo hộ mà không xin phépchủ sở hữu đều bị coi là xâm phạm quyền đối với KDCN Vì vậy, việc đăng kíKDCN cũng được các doanh nghiệp chú trọng.
Đối với doanh nghiệp Việt Nam việc đăng kí kiểu dáng công nghiệp cũngrất được chú trọng, vì đa số người tiêu dùng Việt Nam coi trọng kiểu dáng hơnchất lượng Thấy được điều đó, các doanh nghiệp đã tận dụng quyền lợi của mình
để đăng kí bảo hộ kiểu dáng Số đơn đăng kí cũng tăng qua các năm nhưng vẫnbất ổn có năm tăng năm lại giảm,chẳng hạn như từ năm 2008 đến năm 2009 sốđơn đăng kí kiểu dáng công nghiệp tăg từ 1736 đơn lên 1899 đơn, nhưng đếnnăm 2010 lại giảm 169 đơn xuống còn 1730 đơn đăng kí, và kh bước sang năm
2011 số đơn đăng kí lại tăng trở lại lên 1861 đơn
Hình 2.3: Số lượng đơn đăng kí bảo hộ kiểu dáng công nghiệp
(Nguồn: Cục SHTT)
2.1.4 Thực trạng đăng kí bảo hộ quyền sáng chế
Việc đăng kí bảo hộ quyền sáng chế chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng số đơnxin bảo hộ SHCN (khoảng 10%) Tuy nhiên, có một thực trạng đáng chú ý hiệnnay là có sự chênh lệch rất lớn giữa doanh nghiệp Việt Nam đăng kí và doanhnghiệp nước ngoài, số lượng đơn đăng kí bảo hộ quyền sáng chế của người nướcngoài chiếm tỉ lệ rất cao (khoảng 92% trên tổng số đơn được nộp)
GVHD: Lê Trần Thiên Ý SVTH: Nhóm 712
889
1105
1338 1088
Trang 13Hình 2.4: Số lượng đơn đăng kí bảo hộ quyền sáng chế giai đoạn 2005 – 2011
(Nguồn: Cục sở hữu trí tuệ)
Đây là một thực trạng đáng báo động đối với lĩnh vực SHTT ở Việt Nam hiện nay Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến việc chênh lệch quá cao giữa đơn đăng kí của người nước ngoài và người Việt Nam là:
- Ở Việt Nam, các doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư nghiên cứu tạo rasáng chế để tạo ra chất lượng sản phẩm và tăng năng lực cạnh tranh trên thịtrường Việc phụ thuộc vào công nghệ nước ngoài hoặc chủ yếu sử dụng côngnghệ nhập khẩu, công nghệ cũ đã làm cho các doanh nghiệp nước ta thiếu chủđộng, hoạt động chưa hiệu quả và thậm chí bị phá sản
- Kinh phí đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp, ởcác trường đại học, các viện nghiên cứu còn thấp, thậm chí gây lãng phí cho côngviệc này
- Thiếu nguồn nhân lực để nghiên cứu: đội ngũ nghiên cứu của ViệtNam tuy không thiếu nhưng chưa cao, đây là một trong những nguyên nhân chủyếu dẫn đến việc đơn đăng kí bảo hộ sáng chế của doanh nghiệp Việt Nam thấp.Mặc dù đa số các doanh nghiệp đã quan tâm tới quyền SHTT nhưng với con
số thống kê trên vẫn còn khá ít Đến nay, vẫn còn khá nhiều doanh nghiệp chưaquan tâm đến vấn đề này, nhất là những doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo cục SHTT, tính đến 2011 số văn bằng bảo hộ do Cục SHTT cấp chỉkhoảng gần 130.000 trong khi tổng số doanh nghiệp của cả nước khoảng520.000- 530.000, chưa kể hộ kinh doanh cá thể Chưa tính đến việc cấp 130.000văn bằng đó, doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm khoảng 10% trong số đó, còn lại
là các doanh nghiệp nước ngoài
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc SHTT ở Việt Nam chưa được áp dụngrộng rãi Ngoài nguyên nhân do doanh nghiệp chưa quan tâm nhiều đến quyềnSHTT, còn có những tồn tại mà Cục SHTT mắc phải là công tác triển khai chậmchạp, chưa có đột biến trong xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp v.v dẫn đếntình trạng số đơn tiếp nhận thì nhiều mà công tác xử lí để cấp bằng thì lại chậm
Trang 14trễ như đơn đăng kí sáng chế, giải pháp hữu ích có 3.995 đơn tiệp nhận, nhưngchỉ có 1.760 đơn được xử lí chưa tới 50% số đơn
Bảng2.3 :So sánh số lượng đơn đăng kí SHTT được tiếp nhận và xử lí
(Nguồn: Cục sở hữu trí tuệ)
Mọi doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều liên quan đến những sở hữu trên.Nếu quan tâm đúng mức, quyền sở hữu trí tuệ có thể trở thành một tài sản có giátrị của một doanh nghiệp, có thể được khai thác để tăng thu lợi nhuận
GVHD: Lê Trần Thiên Ý SVTH: Nhóm 714