BÀI VĂN THAM KHẢO Khổ thơ đầu : Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi Khổ thơ kết : Câu hát căng
Trang 1Luyện đề theo từng văn bản Ngữ văn 9
ẹoaứn thuyeàn ủaựnh caự
(Huy Caọn) ẹEÀ SOÁ 1
1 Khoõng khớ lao ủoọng khaồn trửụng, khoỷe khoaộn vaứ tửụi vui trong baứi thụ ẹoaứn thuyeàn ủaựnh
caự cuỷa Huy Caọn.
2 Cheựp laùi theo trớ nhụự 4 caõu thụ ủaàu vaứ 4 caõu thụ cuoỏi baứi ẹoaứn thuyeàn ủaựnh caự.
a) Phaõn tớch yự nghúa cuỷa hai hỡnh aỷnh thụ Maởt trụứi xuoỏng bieồn vaứ Maởt trụứi ủoọi bieồn Bỡnh luaọn tớnh chớnh xaực cuỷa hai tửứ xuoỏng vaứ ủoọi.
b) Trong hai ủoaùn thụ naứy, taực giaỷ dieón taỷ taõm traùng cuỷa ai ? ẹoự laứ taõm traùng gỡ ?
1 BAỉI VAấN (THAM KHAÛO)
ẹoaứn thuyeàn ủaựnh caự cuỷa Huy Caọn laứ moọt "baứi thụ cuoọc ủụứi" Baứi thụ ủửụùc saựng taực naờm 1958 nhaõn
moọt chuyeỏn ủi thửùc teỏ ụỷ vuứng moỷ Hoứn Gai, Caồm Phaỷ Thoõng qua moọt ủeõm ủaựnh caự cuỷa ủoaứn thuyeàn lụựntreõn bieồn, taực giaỷ ca ngụùi kieồu lao ủoọng mụựi meỷ cuỷa ngửụứi lao ủoọng traứn ủaày laùc quan tin tửụỷng, laứm chuỷthieõn nhieõn, bieồn caỷ bao la Qua baứi thụ ta caỷm nhaọn ủửụùc khoõng khớ lao ủoọng khaồn trửụng, haờng say,nhoọn nhũp cuỷa mieàn Baộc thụứi kỡ xaõy dửùng CNXH
Baứi thụ mụỷ ủaàu baống khung caỷnh :
Maởt trụứi xuoỏng bieồn nhử hoứn lửỷa
Giụựi thieọu moọt ngaứy saộp keỏt thuực, sửù vaọt baột ủaàu nghổ ngụi sau haứnh trỡnh 12 giụứ meọt moỷi Theỏ nhửng
vụựi con ngửụứi laứm ngheà ủaựnh caự thỡ laùi khaực, daỏu hieọu maởt trụứi xuoỏng bieồn mụỷ ra moọt sửù baột ủaàu vụựi
ẹoaứn thuyeàn ủaựnh caự laùi ra khụi ẹaựnh caự treõn bieồn laứ coõng vieọc naởng nhoùc, ủaày nguy hieồm Vaọy maứ
nhửừng ngửụứi ủaựnh caự "laùi" ra khụi vụựi moọt tinh thaàn saỷng khoaựi, traứn treà nieàm vui, phaỏn chaỏn :
Caõu haựt caờng buoàm cuứng gioự khụi
Tieỏng haựt ủửụùc nhaộc ủi nhaộc laùi nhieàu laàn nhử moọt ủieọp khuực vaứ noự trụỷ thaứnh aõm thanh chuỷ ủaùo trongbaứi thụ:
- Haựt raống : caự baùc bieồn ẹoõng laởng
- Ta haựt baứi ca goùi caự vaứo
Taực giaỷ mieõu taỷ nhửừng con caự, nhửừng ủaứn caự gụùi neõn bửực tranh sinh ủoọng veà bieồn caỷ Hỡnh aỷnh ủaứn caựloựng laựnh maứu saộc nhử moọt bửực tranh sụn maứi
Giửừa khung caỷnh meõnh moõng, roọng lụựn, hỡnh aỷnh ngửụứi lao ủoọng xuaỏt hieọn vụựi tử theỏ laứm chuỷ thieõnnhieõn, bieồn caỷ, laứm chuỷ coõng vieọc cuỷa mỡnh Hỡnh aỷnh thaọt khoỷe khoaộn, raộn chaộc :
Sao mụứ keựo lửụựi kũp trụứi saựng
Ta keựo xoaờn tay chuứm caự naởng
Baống caỷm hửựng laừng maùn, Huy Caọn ủaừ toõ ủaọm leõn hỡnh aỷnh nhửừng ngửụứi lao ủoọng mụựi vụựi taàmvoực ngang taàm vuừ truù vaứ hoứa nhaọp vụựi khung caỷnh trụứi nửụực bao la :
Thuyeàn ta laựi gioự vụựi buoàm traờng Lửụựt giửừa maõy cao vụựi bieồn baống
Ra ủaọu daởm xa doứ buùng bieồn Daứn ủan theỏ traọn lửụựi vaõy giaờng
Treõn caựi khoõng gian baựt ngaựt cuỷa traờng, gioự, trụứi, bieồn aỏy, hỡnh aỷnh con ngửụứi mụựi xuaỏt hieọn vụựi chieàu
kớch cuỷa khoõng gian ẹoự chớnh laứ bụỷi nieàm vui haờng say lao ủoọng, laứm giaứu cho Toồ quoỏc
Coõng vieọc naởng nhoùc cuỷa ngửụứi lao ủoọng ủaựnh caự ủaừ trụỷ thaứnh baứi ca laùc quan, nhũp nhaứng cuứng thieõnnhieõn:
Ta haựt baứi ca goùi caự vaứo
Trang 2Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Tiếng hát bay bổng, chứa chan tình cảm Bóng trăng xô sóng nước như gõ vào mạn thuyền Cái hiện
thực đã được bút pháp lãng mạn chắp cánh làm đẹp thêm công việc đánh cá của người lao động Conngười lao động hoà vào thiên nhiên, cất baìo ca giữa thiên nhiên Bài thơ kết thúc với cảnh rạng đôngkhi đoàn thuyền quay trở về:
Câu hát căng buồm cùng gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
Cuối câu thơ đậm bức tranh sống động, hấp dẫn về thành quả của người lao động Sau một đêm làm
việc vất vả, mệt nhọc, khẩn trương nay họ đã về bến với hình ảnh mắt cá huy hoàng cá phơi dài muôn
dặm.
Đoàn thuyền đánh cá là khung cảnh lao động đầy khí thế của những con người mới, của cuộc sống mới
những tháng ngày hăng say xây dựng CNXH Bài thơ là bài ca yêu nghề, yêu đời, yêu cuộc sống, yêusự nghiệp xây dựng đất nước của những người lao động Với bút pháp lãng mạn và cảm hứng không
gian quen thuộc, Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là một bài thơ hay của thơ ca hiện đại sau cách
mạng Tháng Tám
2 BÀI VĂN (THAM KHẢO)
Khổ thơ đầu :
Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Khổ thơ kết :
Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
a) Đoàn thuyền đánh cá là bài thơ nổi tiếng của Huy Cận, lấy cảm hứng từ cuộc sống lao động đánh
cá trên biển Hòn Gai vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX Trong bài thơ này tác giả sử dụng rất
nhiều hình ảnh đẹp, kì vĩ của thiên nhiên, vũ trụ, đặc biệt là hình ảnh "mặt trời xuống biển" và "mặt trời
đội biển" ở khổ thơ đầu và khổ thơ kết Đây là hai hình ảnh nghệ thuật đặc sắc góp phần làm nên thành
công của bài thơ
"Mặt trời xuống biển" và "Mặt trời đội biển" là hai không gian, thời gian gắn liền với hoạt động
của đoàn thuyền đánh cá Đoàn thuyền xuất phát khi biển vào đêm, lúc vũ trụ nghỉ ngơi là lúc conngười hoạt động Đoàn thuyền trở về khi một ngày mới xuất hiện trên biển, con người lao động thậthăng say, nâng lên tầm vóc vũ trụ
Từ "xuống" rất chính xác, diễn tả cảnh mặt trời lặn, nhưng là xuống biển, tức là đoàn thuyền xuất phát từ đảo xa bờ, không có bóng dáng đất liền, chỉ có bốn bề là biển mênh mông Còn từ "đội" ở
phần kết cũng rất chính xác vì diễn tả cảnh bình minh trên biển, mặt trời như được mọc lên từ biển,xuyên qua biển, tạo nên bình minh rực rỡ Hai hình ảnh này có ý nghĩa diễn tả đoàn thuyền lênh đênhtrên biển, như thách thức biển khơi
b) Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là tiếng hát lãng mạn, hăng say lao động trên biển Cái tôi trữ tình
của nhà thơ hòa vào cái ta chung để diễn tả tâm trạng của những con người lao động mới xây dựng miềnBắc XHCN Đó là cái chất hào hùng không còn phải cúi mình trước biển khơi Bài thơ đem đến mộtcảm hứng lạc quan, khắc tạc tư thế chiến thắng của con người Họ lao mình vào biển và đêm trở vềtrong ánh hào quang Họ là những con người làm chủ thiên nhiên, làm nên những kì tích
Trang 3ĐỀ SỐ 2
1 Hãy chọn một số câu thơ có giá trị nghệ thuật độc đáo trong bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận để viết một bài văn có tiêu đề: Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn
2 Viết lời bình cho khổ thơ sau đây :
Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời Mặt trời đội biển nhô màu mới Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
(Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận)
1 BÀI VĂN (THAM KHẢO)
Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là bài ca tuyệt đẹp của con người lao động mới hăng say, khỏe
khoắn giữa thiên nhiên kì ảo Gam màu chủ yếu của bức tranh thơ này là màu sáng lóng lánh Để rồi,
khi đọc thi phẩm ta cảm tưởng lạc vào đêm hoa đăng chiến thắng trên biển - hào hùng, tráng lệ và lãngmạn
Như bao bài thơ khác của Huy Cận, thiên nhiên xuất hiện trong Đoàn thuyền đánh cá thật quen thuộc : mặt trời, trăng, sao, gió, mây Tuy nhiên, bằng cái nhìn của thi sĩ XHCN, đi giữa miền Bắc hòa
bình với ngòi bút miêu tả theo phong cách ấn tượng đầy tài năng ở bài thơ này, thiên nhiên đã trở nênchân thực, sống động mà tráng lệ, rực rỡ kì vĩ, lớn lao mà tinh tế Bên cạnh hình ảnh thiên nhiên ấy, conngười hiện lên khoáng đạt, lãng mạn, tin yêu cuộc sống và tinh thần hăng hái lao động Đặt mình vào tưcách con người lao động trên biển khơi mênh mông, Huy Cận đã lắng nghe được sự hòa hợp tuyệt diệugiữa thiên nhiên và con người
Bài thơ miêu tả hành trình ra khơi và trở về trong thắng lợi của đoàn thuyền đánh cá gắn với
hình ảnh mặt trời tráng lệ : "Mặt trời xuống biển như hòn lửa" - "Mặt trời đội biển nhô màu mới" Trong
câu thơ đầu tác giả sử dụng hình ảnh ví von vô cùng biểu cảm, giàu sức gợi và chuẩn xác Khi mặt trờixuống biển là lúc có hình dáng quả cầu đỏ sẫm Những tia sáng phản chiếu dưới mặt nước, lung linh nhưhoa lửa Vẫn mang nét tráng lệ, nhưng khác với hình ảnh mặt trời hoàng hôn ở phần đầu bài thơ, hìnhảnh mặt trời ở cuối bài thơ lại là linh hồn của bình minh và đồng hiện cùng với sự cập bến đầy tốt lànhcủa đoàn thuyền đánh cá
Hình ảnh bao quát bài thơ cho ta cảm giác về vũ trụ bao la thơ mộng Đó là mối quan hệ tương
hợp giữa con người với thiên nhiên trong lao động, với mặt trời tráng lệ, với đêm trăng huyền ảo, với mây trời, sóng nước và với cá - sinh lực, tinh lực của biển.
Những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn trong bài chủ yếu là những hình ảnh miêu tả trực tiếpthiên nhiên nhưng đã gián tiếp làm rõ vẻ đẹp khỏe khoắn, khoáng đạt, tinh thần lao động hăng say,nhiệt tình của con người Chúng ta hãy đọc những vần thơ :
Câu hát căng buồm cung gió khơi Thuyền ta lái gió với buồm trăng Ta hát bài ca gọi cá vào
Đêm thở : sao lùa nước Hạ LongHàng loạt các hình ảnh thiên nhiên hiện ra cùng với hoạt động và tiếng hát của con người cùngđưa con thuyền lao động tiến vào trùng dương Trăng, sao, điểm tô cho bức vẽ con người xông pha vàođại dương bao la thêm phơi phới hơn Nhịp điệu lao động của con người đã mang nhịp thiên nhiên, vũ
trụ một cách nhịp nhàng, hài hòa Trong bài thơ : trời, mây, biển cả được tráng lệ hóa để mang hồn lao
động, con người lao động được cao cả hóa để mang tầm vũ trụ
Gấp trang thơ của Huy Cận lại, những hình ảnh thơ tráng lệ và lãng mạn vẫn còn mãi trong trítưởng tượng của chúng ta Với cách sử dụng màu sắc, với cách vận dụng các thủ pháp ẩn dụ, hoán dụ,
Trang 4tràn ngập niềm vui và câu hát, một rạng đông trên biển và một rạng đông trong lòng người, vì đối với
Huy Cận "Trời mỗi ngày lại sáng" và "biển đang hát"
2 BÀI VĂN (THAM KHẢO)
Đoàn thuyền đánh cá là bài thơ nổi tiếng của Huy Cận sau Cách mạng Tháng Tám, được in trong
tập thơ "Trời mỗi ngày lại sáng" Đây là bài thơ có kết cấu độc đáo : đoàn thuyền đánh cá xuất phát khi
đêm xuống trên biển và trở về khi bình minh đón chào một ngày mới trên biển Cả bài thơ là bức tranhlao động lung linh sáng đẹp trên biển, vừa là tiếng hát lạc quan của những chủ nhân biển khơi
Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng âm hưởng của tiếng hát vui say lao động vẫn ngân nga tronglòng người :
Câu hát căng buồm với gió khơi Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi
Câu đầu tiên của khổ thơ này được lặp lại gần như nguyên vẹn câu thứ tư của khổ thơ đầu bài
thơ, chỉ thay chữ "cùng" bằng chữ "với", nhưng đã tạo ra cảm giác tuần hoàn Câu hát căng buồm đưa thuyền đi thì giờ đây vẫn câu hát căng buồm lại đưa thuyền về Và bây giờ đoàn thuyền đã trở về trong một tư thế mới "chạy đua cùng mặt trời " Màu nắng chan hòa làm thành quả lao động thêm rực rỡ Hình ảnh mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi là sự kết hợp giữa màu sắc của mắt cá sống động, long lanh và ánh sáng chan hòa của mặt trời Câu thơ kết là hay nhất bởi cách dùng chữ thật tài tình : Mặt trời đội
biển nhô màu mới - Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi Huy Cận miêu tả chính xác chuyển động của mặt
trời, chuyển động từ từ, ban đầu là ánh sáng hừng lên, sau đó mặt trời nhô lên kết thúc một đêm Khổthơ này tạo tương xứng với mặt trời xuống biển - đoàn thuyền ra khơi ở đầu bài thơ Và thành quả tốtđẹp (mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi) chính là cao trào của bài ca lao động
Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận là bài ca ngợi ca lao động, ngợi ca biển trời quê hương giàu đẹp
cùng những chủ nhân của đất nước Sự hài hòa giữa con người, thiên nhiên, tấm lòng, tình cảm của nhàthơ trong một trí tưởng tượng phong phú đã giúp thơ gây được sức hấp dẫn, ấn tượng về cuộc sống mớivà con người mới
Bếp lửa của Bằng Việt
ĐỀ SỐ 3
1 Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt
2 Bằng một bài văn ngắn, hãy viết cảm nhận của em về hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa
1 BÀI VĂN THAM KHẢO
Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Đó là tâm trạng của những người xa quê Những cái bình thường quen thuộc hàng ngày tưởngchừng như chẳng có gì đáng nhớ nhưng đến khi xa rồi mới biết chẳng thể nào quên Nhưng nỗi nhớ quê
ấy ở mỗi người có những sắc thái cảm xúc khác nhau Có khi là hình ảnh dung dị một bát canh rau
muống, một chén cà dầm tương, Có khi lại là một ánh trăng quê Còn riêng với Bằng Việt, trong
những năm tháng du học ở Liên xô, nhà thơ nhớ da diết bếp lửa của bà :
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
Cảm xúc về bếp lửa của Bằng Việt bắt đầu từ đây Chúng ta hãy cùng đọc và khẽ ngâm lên từng
lời thơ để hòa nhập hồn mình bâng khuâng theo dòng cảm xúc đang trào dâng của tác giả
Trang 5Thật xúc động biết bao ! Từ một đất nước công nghiệp chỉ toàn bếp điện, bếp hơi, với những ống
khói con tàu, tác giả nhớ về một bếp lửa đang chờn vờn trong sương sớm Và từ bếp lửa, nhớ đến kỉ niệm ấu thơ : Cháu thương bà biết mấy nắng mưa Cả một thiên hồi ức hiện về trong tâm trí nhà thơ, suốt một quãng đời vất vả bà cháu bên nhau : Mới lên bốn tuổi đã quen mùi khói Làng đói kém, bố đi đánh
xe thật vất vả - Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay Hồi tưởng những năm tháng bà cháu cùng sớm hôm
có nhau Bà kể chuyện những ngày ở Huế, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học, bà dặn cháu viết thư
cho bố ở chiến khu, bà sớm chiều nhen bếp lửa Lời kể sao mà tha thiết thế ! Nó gợi trong lòng người
bao niềm xúc động sâu xa Làm sao quên được : Những năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Bà đã dặn
cháu :
Bố ở chiến khu, bố còn việc bố Mày có viết thư chớ kẻ này kể nọ Cứ bảo nhà vẫn được bình yên
Hình ảnh người bà hiện lên trong lời thơ ấy đẹp làm sao ! Bà lúc nào cũng sẵn sàng chịu đựng.Bà là thế đấy! Suốt một đời tận tụy vì con, vì cháu Nhưng không chỉ có thế Vượt lên trên tình thươngấy, bà còn là người làm việc âm thầm, lặng lẽ, biểu lộ ý thức trách nhiệm của mình với Tổ quốc Bà đãcùng chịu đựng gian khổ, cùng chia sẻ hi sinh cho cuộc kháng chiến này Càng lớn khôn, tác giả càng
nhận thức rõ tấm lòng cao quí của bà Người đã lận đận biết mấy nắng mưa để nhen nhóm trong lòng
đứa cháu yêu quí của mình ngay từ tuổi thơ một tình cảm rộng lớn hơn tình bà cháu thông thường, đó là
một ngọn lửa chứa chan niềm tin dai dẳng đối với đất nước, con người :
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm thương yêu khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ Ôi kì lạ và thiêng bếp lửa
Hình ảnh bếp lửa được lặp lại nhiều trong bài thơ có giá trị tu từ độc đáo Đây là hình ảnh tả thực
trong cuộc sống đời thường Song, đối với người đi xa quê hương lại là một dấu ấn khó phai mờ - Bởi vì
chính bên cạnh bếp lửa hồng ấy, hình ảnh người bà, "chập chờn trong sương sớm" in đậm tâm trí tác giả
từ tuổi nhỏ Nhờ bếp lửa mà thời ấu thơ của tác giả êm đềm, ấm áp như những câu chuyện cổ tích màbà thường hay kể Bếp lửa và người bà chính là nguồn sáng tâm hồn, nuôi dưỡng tình cảm thương yêucho người cháu
Điều đáng nói nhất về bài thơ chính là ý nghĩa tượng trưng của hình tượng bếp lửa Đó là ngọnlửa niềm tin, ngọn lửa tình yêu, ngọn lửa của tâm hồn dân tộc đã nhóm lên trong tâm hồn trẻ thơ nhữngcảm xúc và suy nghĩ chân tình, đẹp đẽ Hình ảnh bếp lửa trong quá khứ, trong hiện tại đan cài vào nhau,nâng cảm xúc và tư duy nhà thơ bay bổng dạt dào, hướng về gia đình, về nguồn cội, về quê hương đấtnước Sức hấp dẫn của bài thơ chính là ở đó Với giọng thơ ân tình tha thiết, nhà thơ hồi tưởng những
năm tháng cùng bà "nhóm lửa" Hình ảnh chim tu hú kêu trên những cánh đồng xa gợi lên không khí của một buổi sớm tinh mơ, vắng vẻ, quạnh hiu Cùng với hình ảnh chim tu hú, hình ảnh bà cũng hiện lên lụi cụi, vất vả Các vần nối tiếp nhau để diễn tả cảm xúc ấy : Xa, nhà, Huế, thế, về tạo âm hưởng kéo
dài liên tục không dứt Nhạc điệu buồn, tha thiết, trầm lặng thể hiện nỗi nhớ nhung bà :
Giờ cháu đi xa có ngọn khói trăm tàu Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?
Chính tình bà cháu cao đẹp và thiêng liêng kì diệu đã nhen nhóm trong lòng nhà thơ niềm tinyêu cuộc sống, con người, tình yêu quê hương đất nước Đây là một bài thơ dạt dào cảm xúc Tác giả đãkhéo léo sử dụng cách gieo vần, láy điệp từ và những hình ảnh có sức liên tưởng độc đáo tạo nên giá trịcho bài thơ Ta cảm nhận được tấm lòng biết ơn, nỗi nhớ nhung của nhà thơ giành cho bà yêu dấu của
Trang 6mình Bếp lửa đã khơi dậy trong ta một tình cảm cao đẹp đối với gia đình, quê hương, đất nước Đặc biệt
là lòng biết ơn sâu nặng đối với bà
2 BÀI VĂN THAM KHẢO
Bếp lửa tái hiện hình ảnh người bà quen thuộc, yêu thương mà trong thơ hiện đại không phải dễ
gặp
Bẳng Việt đã đem đến một biểu tượng tình bà yêu cháu vô cùng sâu nặng Đó là những thángnăm xa chỉ còn trong kí ức, mẹ cha bận công tác, giữa thời bom đạn, bà chăm chút, yêu thương dạy bảocháu nên người Bà là nguồn sống gia đình, là những gì tảo tần, nhẫn nại, giàu niềm tin, hết lòng yêuthương, chăm lo, chi chút cho cháu và gia đình Bà là ngọn lửa của tình thương hạnh phúc con cháu Bàkhơi dậy và làm bùng lên khát vọng Hành động nhóm bếp không chỉ là hình ảnh đời thường ấm áp mà
chính là ngọn lửa của sự sống Khi viết những dòng thơ Bếp lửa, tác giả đang ở xa Tổ quốc và đã trưởng
thành Đây là một bài thơ thật sự sâu sắc về tình yêu đất nước, quê hương trong hình ảnh dung dị của bà.Bà ta cũng như mẹ ta không ra chiến trường, lập nên chiến công lừng lẫy nhưng là nơi giữ gìn cội nguồnbền chắc cho mỗi chúng ta khi bay cao, bay xa
Hồi ức về những người thân yêu bao giờ cũng sinh động, ta càng rời xa tuổi thơ thì kỉ niệm càng
thân thiết, gần gũi, cảm động Bếp lửa là một hồi ức tuyệt đẹp về bà, nhắc nhở mỗi người về một tình
yêu thân thiết trong tâm hồn và trái tim những người Việt Nam yêu nước
Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ
của Nguyễn Khoa Điềm
ĐỀ SỐ 4
1 Phân tích hình ảnh người mẹ trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn
Khoa Điềm
2 Phân tích đoạn thơ :
Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời
(Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ)
1 BÀI VĂN THAM KHẢO
“Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” được Nguyễn Khoa Điềm sáng tác vào ngày 25 tháng
3 năm 1971, là một trong số những bài thơ hay của ông Nổi bật trong bài là hình ảnh người mẹ Tà Ôinhư là biểu tượng về người mẹ Việt Nam anh hùng Đó là một con người rất mực thương con nhưngcũng vô cùng yêu nước Dường như đứa con yêu quí và đất nước thân thương nuôi con nên người vàđánh giặc giải phóng quê hương là những gì trọng đại nhất cao quí nhất của người mẹ này trong nhữngnăm đất nước phải gồng mình chống đế quốc Mĩ xâm lược
Bài thơ đồng thời là lời hát ru Tác giả ru em Cu Tai ngủ ngoan (đồng thời miêu tả hình ảnh người
mẹ) Người mẹ trong bài ru em ngủ ngoan nhưng đó là lời ru thầm, lời ru trong tim (Lưng đưa nôi và tim
hát thành lời) Lời ru của tác giả và lời ru của người mẹ nối tiếp nhau, đan cài, hoà quyện vào nhau làm
nên những khúc hát ru vừa đằm thắm, dịu dàng, vừa trầm tư, sâu lắng Vì kết cấu bài thơ như nhữngkhúc hát ru nên bài thơ cứ trở đi trở lại một số khúc giống nhau như những nét nhạc chủ đạo trong mộtbài hát Bài thơ có ba khúc ru Mỗi khúc hát ru là một đoạn thơ Ở đoạn thơ thứ nhất, người mẹ ru con
khi địu con trên lưng và giã gạo nuôi bộ đội Giấc ngủ của em nghiêng nghiêng theo nhịp chày, thấm mồ
hôi lao động vất cả của mẹ Người mẹ Tà Ôi thương con nhất mực không lúc nào chịu rời con đã lấy
Trang 7lưng làm nôi và đôi vai gầy làm gối cho con Và lời ru con của mẹ cất lên bên cối gạo giữa sàn nhà cũng
chính là lời tâm sự, lời tự nhủ, lời mẹ thầm nói với chính mình Lòng yêu con của mẹ gắn liền với tìnhthương yêu bộ đội :
“Mẹ thương A Kay, mẹ thương bộ đội Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần Mai sau con lớn vung chày lún sân ”
Ước mơ của người mẹ nối liền với giấc mơ của con và cùng hội tụ lại trong tình thương yêu sâu sắcnhững anh bộ đội Trong đoạn thơ thứ hai, bà mẹ Tà Ôi địu con đi tỉa bắp trên núi Ka Lưi Tình thươngyêu và niềm hi vọng vô bờ của người mẹ đối với đứa con được thể hiện bằng lời và những hình ảnh độcđáo :
“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ con nằm trên lưng.”
Trong câu thơ trên hình ảnh mặt trời là một hình ảnh thực Mặt trời đem lại ánh sáng, sự sống chocây cỏ, làm cho cây cỏ thêm tươi tốt, như cây ngô bắp to, hạt mẩy Hình ảnh mặt trời ở câu thơ sau là ẩn
dụ Tác giả so sánh ngầm Cu Tai là mặt trời của mẹ Coi con như mặt trời thì quả là lòng mẹ yêu quí con
vô hạn, mong đợi ở con rất nhiều Đó là ánh sáng, là nguồn sống, là niềm vui, là niềm hạnh phúc, là tấtcả tương lai của mẹ Hai câu thơ, hai hình ảnh tôn nhau lên, đối ý với nhau, đã làm nổi bật tình thươngyêu sâu sắc và niềm hi vọng lớn lao của người mẹ đối với đứa con Lời ru của người mẹ Tà Ôi ngân ngatrong trái tim mẹ khi mẹ địu con đi tỉa bắp vẫn hướng về đứa con thơ yêu quí của mình Lòng thươngyêu con của mẹ trong hoàn cảnh này gắn liền với tình thương yêu dân làng - những người dân lao độngnghèo đói :
“Mẹ thương A Kay, Mẹ thương làng đói Con mơ cho mẹ hạy bắp lên đều Mai sau con lớn phát mười Ka Lưi”.
Trong đoạn thơ thứ ba, người mẹ địu con trong tư thế đang “chuyển lán”, “đạp rừng” Bà mẹ băng rừng, địu con trên lưng đưa con đi “để giành trận cuối” Lòng yêu con của mẹ đến đây gắn liền với lòng yêu nước : “Mẹ thương A Kay mẹ thương đất nước” Người mẹ gửi gắm vào giấc mơ của con niềm khao
khát được gặp Bác Hồ và mong đất nước được độc lập tự do :
“Con mơ cho mẹ được gặp Bác Hồ Mai sau con lớn thành người tự do”.
Tiếng hát ru con của người mẹ Tà Ôi không phải được cất lên bên cánh võng hay trên giường ấmnệm êm trong phòng ngủ Tiếng hát ru ấy ngân lên trong trái tim của mẹ khi mẹ địu con giã gạo, tỉa bắp
trên núi, khi mẹ “chuyển lán”, “đạp rừng” hoặc trên đường ra chiến trường để giành trận cuối Như vậy,
bà mẹ Tà Ôi là một người mẹ lao động, trực tiếp sản xuất, phục vụ cho chiến đấu của toàn dân tộc Tìnhthương con, thương bộ đội, thương dân làng, thương đất nước hoà quyện vào nhau trong tấm lòng củamột người mẹ miền núi yêu nước trong những năm tháng chống Mĩ khó khăn, gian khổ
Theo lời ru (và cũng là tình yêu thương của mẹ), theo bước chân của người mẹ Tà Ôi, không giancũng được mở rộng dần: từ sân (khi mẹ giã gạo) đến ngọn núi Ka Lưi (khi mẹ đi tỉa bắp) rồi đến nhữngrừng những suối khi mẹ chuyển lán đạp rừng Và ước mơ, khát vọng của người mẹ gửi gắm qua lời hát
ru tha thiết, nặng tình nặng nghĩa ấy cũng mỗi lúc một lớn dần : “Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần” đến “Con mơ cho mẹ hạt bắp lên đều” Từ mong muốn “Mai sau con lớn vung chày lún sân” đến “Mai
sau con lớn phát mười Ka Lưi” cuối cùng cũng bùng lên thành một khát vọng cháy bỏng “Mai sau con lớn làm người tự do” Tinh thần, không khí sục sôi của đất nước trong những năm tháng đánh Mĩ đã đi
vào lời hát ru của những bà mẹ Cuộc chiến tranh nhân dân khiến cả đến những bà mẹ miền núi có con
nhỏ vào cuộc chiến đấu hi sinh, gian khổ Biết bao em bé đã “lớn trên lưng mẹ” đi “đến chiến trường”
và trong số họ không ít những người đã thành những anh hùng dũng sĩ Qua những khúc hát ru với nhữngđiệp khúc đã trở đi trở lại nhưng vẫn có sự biến hoá phát triển, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện thật sinh
Trang 8động, ám ảnh đầy sức mạnh nghệ thuật về tình mẹ con và khát vọng mãnh liệt độc lập tự do của toàndân tộc
2 BÀI VĂN THAM KHẢO
Nhà thơ Nguyễn Duy đã viết :
Ta đi trọn kiếp con người Vẫn chưa đi hết những lời mẹ ru
Lời ru của mẹ chính là nguồn năng lượng tinh thần để giúp mỗi chúng ta trưởng thành nên người.Bởi thế cảm xúc về lời ru của mẹ đã đi vào nghệ thuật và thơ ca Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng
xuất phát từ truyền thống này nhưng có sự sáng tạo rất mới với Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng
mẹ.
Bài thơ được viết năm 1971 in trong tập "Đất và khát vọng" Cảm xúc bao trùm bài thơ là tình
cảm chân thành của tác giả về hình ảnh người mẹ dân tộc Tà Ôi với tình thương con, thương bộ đội, yêuđất nước
Đoạn thơ mở đầu chính là lời hát ru của tác giả nói về hình ảnh mẹ giã gạo nuôi bộ đội và rất yêu
thương con :
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Lưng đưa nôi và tim hát thành lời
Mở đầu là điệp khúc ngọt ngào tha thiết: Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi/ Em ngủ cho ngoan đừng
rời lưng mẹ.Tác giả vỗ về em Cu Tai ngủ bởi vì : mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội, nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng Tiếng ru con ngủ "nghiêng" theo nhịp chày làm cho giấc ngủ của em cũng "nghiêng"
theo Con cũng đang chia sẻ theo công việc của người mẹ Vì sự nghiệp chung của toàn dân tộc khángchiến chống Mĩ
Đặc biệt hình ảnh mẹ được diễn tả chân thật và xúc động
Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối Lưng đưa nôi và tim hát thành lời
Hàng loạt các hoán dụ : mồ hôi, vai, lưng, má, tim, được sử dụng rất đắt thể hiện trái tim yêu
thương mênh mông của người mẹ nghèo Đặc biệt là các hình ảnh "mẹ nôi đưa” Vai mẹ là gối, lưng mẹlà nôi để con lớn lên, tim mẹ dạt dào tình mẫu tử hát thành lời Đó là tiếng hát từ trái tim, từ cảm xúcyêu thương con và tình yêu đất nước của người mẹ
Qua đoạn thơ thứ nhất, khúc hát ru của tác giả, ta thấy được tình cảm chân thành của người mẹ nghèovất vả, lam lũ nhưng thương con, yêu nước Người mẹ Tà Ôi đã trở thành biểu tượng của đất nước
ĐỀ SỐ 5
1 Viết về những kỉ niệm sâu sắc với bà kính yêu trong đó có sử dụng yếu tố nghị luận.
2 Từ hai câu thơ :
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng
Hãy viết một bài văn với nhan đề : Mặt trời của mẹ
1 BÀI VĂN THAM KHẢO
Bố mẹ tôi đều làm ruộng nên ngày ấy nhà tôi nghèo lắm Bấy giờ, bà nội tôi tuy tuổi đã cao,
những vẫn còn khoẻ mạnh nên bà thường đỡ đần bố mẹ tôi công việc nội trợ, bếp núc Bà tôi bảo : “Đối
với con người, hạt gạo là quí giá nhất !” Mỗi lần đong gạo từ thùng ra cái rá, bà tôi thường làm rất
thong thả, cẩn thận : không bao giờ để vương vãi hạt nào ra ngoài Một lần bà tôi bị mệt nên tôi phải lochuyện cơm nước Khi tôi bê cái rá gạo ra cửa, chẳng may trượt chân, nhưng vẫn gượng gạo đi, chỉ có
Trang 9vài ba hạt gạo văng ra ngoài Tôi thản nhiên đi xuống bếp nấu cơm Xong việc, tôi định bụng khoe vớibà về cái sự giỏi giang của mình thì Tôi bỗng đứng sững Bà tôi đang chống gậy dò đi từng bước để
nhặt các hạt gạo vương vãi trên nền nhà Tôi vội chạy lại đỡ bà, nói : “Bà ơi có mấy hạt gạo bõ bèn gì
mà bà phải khổ sở thế ?” Bà tôi thều thào : “Cháu ơi thóc gạo là Đức Phật đấy Không có nó thì cũng chẳng có ai hương khói nơi cửa Phật đâu ” Lúc ấy, tôi chưa hiểu câu nói của bà lắm, nhưng bây giờ tôi
đã hiểu Suốt một đời tần tảo lam lũ, bà tôi không có gì cả đâu, ngoài những hạt thóc do chính bà làm
ra bằng một nắng hai sương và cũng chính do bà xay, giã, giần, sàng
2 BÀI VĂN THAM KHẢO
Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ được Nguyễn Khoa Điềm sáng tác năm 1971, là một
tượng đài bằng thơ khắc hoạ hình ảnh người mẹ Việt Nam anh hùng trong chống Mĩ cứu nước Tình yêunước thiết tha, tình mẹ con ruột thịt sâu nặng tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ và một trong những câuthơ trong đó đã làm rung động hàng triệu trái tim bạn đọc :
“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng”.
Điều lí thú ở đây là cách tư duy rất cụ thể của bà mẹ Tà Ôi Trong suy nghĩ của mẹ, mặt trời làcủa bắp và con là mặt trời của mẹ Những cây bắp đang lớn lên từng ngày trên nương rộng lớn kia lànhờ công sức của mẹ, nhờ có nguồn sáng, hơi ấm vô tận nhận được hàng ngày từ mặt trời tự nhiên Còn
em Cu Tai, đứa con bé bỏng, nhưng lại là nguồn sáng, nguồn năng lượng to lớn không thể thiếu đượccủa đời mẹ Nhờ có đứa con ngủ yên trên lưng này, mà với sức vóc dù nhỏ yếu, mẹ vẫn lao động hăngsay, vẫn giã gạo, để nuôi bộ đội Ta hiểu những hạt gạo nuôi quân trắng trong nhờ nhịp chày của mẹ đãgóp phần không nhỏ vào chiến công của các chiến sĩ ngoài mặt trận Rồi cũng nhờ có em Cu Tai ngủ
ngoan không rời lưng mẹ, mà dù lưng núi thì to, lưng mẹ thì nhỏ, mẹ vẫn kiên trì gieo tỉa để những hạt
bắp mọc xanh núi Ka Lưi
Phép tu từ so sánh và tu từ ẩn dụ khiến cho hình ảnh thơ hiện lên thật giản dị mà cũng thật giàu ýnghĩa Trên cái nền xanh của cây bắp mênh mông lưng núi ngút ngàn, lồng lộng một người mẹ lưng địucon đang lao động say sưa Trên cao là mặt trời toả sáng, trên lưng mẹ là gương mặt đứa con cũng đangngời sáng trong giấc ngủ say sưa
Hình ảnh mặt trời của mẹ sẽ mãi đi vào thơ ca như biểu tượng nghệ thuật về tình mẫu tử, về người
mẹ - chiến sĩ trong những tháng năm chống Mĩ cứu nước
BÀI VĂN THAM KHẢO
Cuộc kháng chiến đã qua đi, người lính trong chiến tranh giờ đây đã về với cuộc sống hàng ngày.Sự bận rộn hôm nay khiến người ta quên lãng quá khứ Nhưng có một lúc nào đó trong đời thườngnhững kỉ niệm chiến tranh lại như những thước phim quay chậm hiện về Nguyễn Duy gửi tới bạn đọc
thi phẩm “Ánh trăng” cũng chính là gửi tới bạn đọc thông điệp : Không nên sống vô tình, phải biết thủy
chung nghĩa tình cùng quá khứ
“Hồi nhỏ sống với đồng Với sông rồi với bể Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ”.
Trang 10Hình ảnh những đồng, sông, bể, rừng nguyên sơ, thuần hậu trong khổ thơ đầu này là nơi đã nuôi
dưỡng, che chở cho tuổi thơ và năm tháng chiến tranh, cả một quãng đường dài sống trong tình thương
yêu, gắn bó với thiên nhiên, với những miền quê ấy, vầng trăng thành tri kỉ Trăng như mái nhà, như
người bạn thân thiết của tâm hồn Ở đó tâm hồn tình cảm con người cũng đơn sơ thuần phác như chínhthiên nhiên Trăng và người đã tạo nên mối giao tiếp, giao hoà thủy chung tưởng như không bao giờ cóthể quên được
“Từ hồi về thành phố Quen ánh điện cửa gương Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường”.
Khi chiến tranh kết thúc Người lính trở về bị hấp dẫn bởi đô thị, với ánh điện, cửa gương, những
ánh sáng nhân tạo đã làm họ quên đi ánh sáng tự nhiên hiền dịu của trăng Cuộc sống hiện đại vớinhiều tiện nghi đã làm cho con người thờ ơ, vô tình với những ngày gian khổ, cùng đồng đội, đồng chí
chung một chiến hào mà trăng là biểu tượng.
“Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường”.
Từ hình ảnh vầng trăng “tri kỉ”, vầng trăng tình nghĩa trở thành người dưng qua đường, Nguyễn
Duy đã diễn tả được cái đổi thay của lòng người, cái lãng quên, dửng dưng cùng thời gian “xa mặt cách
lòng” đến phũ phàng So sánh thật thấm thía: “như người dưng qua đường”.
Cũng như dòng sông có khúc phẳng lặng êm đềm, cũng có khúc ghềnh thác dữ dội Cuộc đời vốncũng nhiều biến động Ghi lại một tình huống, cuộc sống nơi thị thành của những con người từ rừng vềthành phố, Nguyễn Duy đặt con người vào bối cảnh
“Thình lình đèn điện tắt Phòng buynh đinh tối om Vội bật tung cửa sổ Đột ngột vầng trăng tròn”.
Khi ánh trăng nhân tạo vụt tắt, bóng tối bao trùm khắp không gian thì vầng trăng xuất hiện khiếncon người ngỡ ngàng trước ánh trăng thân thương của tuổi thơ trên những nẻo đường ta sống và trongcuộc chiến gian khổ, ác liệt Cuộc sống hiện đại làm cho lòng người thay đổi Trước người bạn vô tình
ấy, trăng chẳng nói, chẳng trách khiến người lính cảm thấy có cái gì rưng rưng Ánh trăng soi chiếu
khiến người ta nhận ra độ lệch của nhân cách mình
“Trăng cứ tròn vành vạnh Kể chi người vô tình Ánh trăng im phăng phắc Đủ cho ta giật mình”.
Ánh trăng trước sau vẫn vậy mộc mạc, giản dị và thủy chung Trăng lặng lẽ tròn đầy một cáchtrong sáng, vô tư, mặc cho thời gian trôi, mặc cho bạn bầu xưa ai đó quay lưng dù trong quá khứ vốn làtri kỉ Nhưng trăng cũng khơi gợi niềm xúc động, đánh thức lương tâm ở con người Cái giật mình được
diễn tả trong khổ thơ “vô ngôn” thể hiện sự thức tỉnh đáng quí này Qua bài thơ, Nguyễn Duy đã khám
phá ra vẻ đẹp không bao giờ kết thúc của lương tri Dường như cuộc sống mới đầy đủ hơn khiến cho conngười lãng quên ánh trăng Hành trình đi tìm những hạt ngọc ẩn dấu trong tâm hồn con người không baogiờ ngơi nghỉ và việc hoàn thiện mình của chính mỗi con người cũng không phải một sớm một chiều.Cuộc đấu tranh hướng thiện âm thầm mà khốc liệt, nó đòi hỏi lòng dũng cảm của con người.Người lính năm xưa đã dành trọn quá khứ soi mình trong hiện tại để đấu tranh loại bỏ sự vô tình vônghĩa của bản thân, hướng tới sự cao cả, tốt đẹp
“Ánh trăng” là bài thơ không quên về quá trình hướng thiện, quá trình hoàn thiện mình của mỗi
con người trong cuộc sống hôm nay
Trang 11ĐỀ SỐ 7
1 Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy để cảm nhận được bài học sâu sắc mà tác giả muốn
gửi gắm.
2 Viết lời bình cho đoạn thơ sau :
Ngửa mặt lên nhìn mặt
Đủ cho ta giật mình
(Ánh trăng, Nguyễn Duy)
1 BÀI VĂN THAM KHẢO
Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
Nguyễn Duy nổi tiếng với các bài thơ như : “Tre Việt Nam”, “Hơi ấm ổ rơm”, Hiện nay, Nguyễn Duy
vẫn tiếp tục sáng tác, ông viết đều những bài thơ tài hoa, đậm chất suy tư
“Ánh trăng” (1978) là một trong những bài thơ của Nguyễn Duy được nhiều người ưa thích bởi tình
cảm chân thành, sâu sắc, tứ thơ bất ngờ, mới lạ
Hai khổ thơ đầu, tác giả nhắc đến những kỉ niệm đẹp :
“Hồi nhỏ sống với đồng.
Với sông rồi với bể Hồi chiến tranh ở rừng Vầng trăng thành tri kỉ”.
Trăng gắn bó với tác giả ngay từ thời thơ ấu Trăng gắn với đồng ruộng, dòng sông, biển cả Dù ởđâu, đi đâu trăng cũng gắn bó với người Nhưng phải đến khi ở rừng, nghĩa là lúc tác giả sống trên tuyến
đường Trường Sơn xa gia đình, quê hương vầng trăng mới trở thành “tri kỉ” Trăng với tác giả là đôi bạn
không thể thiếu nhau Trăng chia ngọt, sẻ bùi, trăng đồng cam cộng khổ
Tác giả khái quát vẻ đẹp của trăng, khẳng định tình yêu thương quí trọng của mình với trăng :
“Trần trụi với thiên nhiên Hồn nhiên như cây cỏ Ngỡ không bao giờ quên Cái vầng trăng tình nghĩa”.
Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ đẹp không cần trang sức, đẹp một cách vô tư, hồn nhiênnên trăng hoà vào thiên nhiên, hoà vào cây cỏ “Vầng trăng tình nghĩa”, bởi trăng từng chia ngọt, sẻbùi, đồng cam cộng khổ, bởi trăng là người bạn, tri âm, tri kỉ
Ấy mà có những lúc tác giả tự thú nhận là mình đã lãng quên cái “vầng trăng tình nghĩa” ấy :
“Từ hồi về thành phố Quen ánh điện, cửa gương Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường”.
Trước đây, tác giả sống với sông, với bể, với rừng bây giờ môi trường đã thay đổi Từ hồi về thành
phố đời sống cũng thay đổi theo :“quen ánh điện, cửa gương” “Ánh điện”, “cửa gương” tượng trưng cho
cuộc sống sung túc, tiện nghi, sang trọng dần dần “cái vầng trăng tình nghĩa” ngày nào bị lãng quên.
“Vầng trăng” ở đây tượng trưng cho những tháng năm gian khổ, cho tình bạn, tình đồng chí hình thành từ những tháng năm ấy Trăng bây giờ thành “người dưng” Con người ta thường hay đổi thay như vậy Bởi thế đời vẫn thường nhắc nhau : “ngọt bùi nhớ lúc đắng cay” Ở thành phố vì quen với “ánh điện,
cửa gương” quen với cuộc sống đầy đủ tiện nghi nên người đã không thèm để ý đến “Vầng trăng” - con
người, mảnh đất từng là tri kỉ một thời
Phải đến lúc toàn thành phố mất điện :
“Phòng buyn đinh tối om