MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU .............................................................................................................................7Chương 1: NƯỚC VIỆT NAM XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ CỘNGHÒA (19451946)........................................................................................................................81.1. Tình hình Việt Nam sau khi chế độ dân chủ cộng hòa được thành lập .............................81.2. Xây dựng nền dân chủ cộng hòa .....................................................................................111.3. Hoạt động ngoại giao.......................................................................................................181.4. Kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và thực hiện “hòa để tiến”................................................................................................................................................21CÂU HỎI ÔN TẬP ................................................................................................................27Chương 2: SỰ BÙNG NỔ VÀ TIẾN TRIỂN CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀNQUỐC (19461950) ...................................................................................................................292.1. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ ......................................................................................292.2. Xây dựng nền dân chủ cộng hòa .....................................................................................332.3. Đấu tranh trên mặt trận quân sự ......................................................................................45CÂU HỎI ÔN TẬP ................................................................................................................55Chương 3: CUỘC KHÁNG CHIẾN PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ VÀ KẾT THÚC THẮNGLỢI (19511954)........................................................................................................................573.1. Đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương ..573.2. Sự lớn mạnh của nền dân chủ cộng hòa ..........................................................................613.3. Đấu tranh quân sự và ngoại giao (1951 1954) ..............................................................703.4. Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp .83CÂU HỎI ÔN TẬP ................................................................................................................85Chương 4: XÂY DỰNG MIỀN BẮC VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊACỦA MỸ Ở MIỀN NAM (19541960) ....................................................................................864.1. Tình hình Việt Nam sau hiệp định Giơnevơ và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới................................................................................................................................................864.2. Xây dựng Miền Bắc.........................................................................................................894.3. Mỹ áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới và cuộc đấu tranh của nhân dân miền Namchống Mỹ Diệm (1954 1960)...........................................................................................101CÂU HỎI ÔN TẬP ..............................................................................................................117Chương 5: XÂY DỰNG MIỀN BẮC VÀ CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN LƯỢC CHIẾNTRANH ĐẶC BIỆT CỦA MỸ Ở MIỀN NAM (1961 1965).............................................1185.1. Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao Động Việt Nam (91960) ........................1185.2. Thực hiện kế hoạch 5 năm xây dựng miền Bắc (19611965)........................................11945.3. Miền Nam đấu tranh chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ (1961 1965) 123CÂU HỎI ÔN TẬP ..............................................................................................................132Chương 6: CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH CỤC BỘ Ở MIỀNNAM VÀ CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI MIỀN BẮC LẦN THỨ NHẤT CỦA ĐẾ QUỐCMỸ (1965 1968) ....................................................................................................................1336.1. Chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ (19651968)........1336.2. Miền bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, vừasản xuất và thực hiện nghĩa vụ hậu phương kháng chiến (1965 – 1968) .............................143CÂU HỎI ÔN TẬP ..............................................................................................................147Chương 7: CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH ỞMIỀN NAM VÀ CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI MIỀN BẮC LẦN THỨ HAI CỦA ĐẾQUỐC MỸ (1969 1973)........................................................................................................1487.1. Chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiếntranh” của đế quốc Mỹ (19691973).....................................................................................1487.2. Miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế văn hóa, thực hiện nghĩa vụ hậu phươngkháng chiến, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (19691973)..............................................................................................................................................1587.3. Đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòabình ở Việt Nam ...................................................................................................................165CÂU HỎI ÔN TẬP ..............................................................................................................167Chương 8: XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ MIỀN BẮC, HOÀN THÀNH SỰ NGHIỆP GIẢIPHÓNG MIỀN NAM (1973 1975)......................................................................................1688.1. Miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố quốc phòng, chi viện chotiền tuyến miền Nam.............................................................................................................1688.2. Tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam......................................................................1728.3. Ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước(19541975) ..........................................................................................................................178CÂU HỎI ÔN TẬP ..............................................................................................................179Chương 9: VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN ĐẦU ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT (1975 –1985).........................................................................................................................................1819.1. Khắc phục hậu quả chiến tranh, hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước (1975 1976)...................................................................................................................................1819.2. Xây dựng và bảo vệ đất nước trong những năm 1976 1985 .......................................184CÂU HỎI ÔN TẬP ..............................................................................................................191Chương 10: BƯỚC ĐẦU THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC THOÁTKHỎI KHỦNG HOẢNG KINH TẾ XÃ HỘI (1986 – 1995) ...........................................19210.1. Đổi mới kinh tế, nội dung trọng tâm của 2 kế hoạch 5 năm: 1986 – 1990, 1991 1995..............................................................................................................................................192510.2. Kiên quyết giữ vững ổn định chính trị, xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại................19610.3. Tình hình văn hóa, giáo dục, y tế trong 10 năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới.....198CÂU HỎI ÔN TẬP ..............................................................................................................200Chương 11: ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA PHÁT TRIỂN KINHTẾ XÃ HỘI (1996 – 2005) ...................................................................................................20111.1. Xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ....................20111.2. Đổi mới hệ thống chính trị, củng cố quốc phòng an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại..............................................................................................................................................20411.3. Phát triển giáo dục, văn hóa, y tế.................................................................................20711.4. Về đời sống xã hội.......................................................................................................211CÂU HỎI ÔN TẬP ..............................................................................................................213TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................................................214
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN VĂN DŨNG (Chủ biên), PHAN THỊ THÚY TRÂM
BÀI GIẢNG
LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Hà Nội - 2013
Trang 22
Trang 33
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 7
Chương 1: NƯỚC VIỆT NAM XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ CỘNG HÒA (1945-1946) 8
1.1 Tình hình Việt Nam sau khi chế độ dân chủ cộng hòa được thành lập 8
1.2 Xây dựng nền dân chủ cộng hòa 11
1.3 Hoạt động ngoại giao 18
1.4 Kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và thực hiện “hòa để tiến” 21
CÂU HỎI ÔN TẬP 27
Chương 2: SỰ BÙNG NỔ VÀ TIẾN TRIỂN CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC (1946-1950) 29
2.1 Kháng chiến toàn quốc bùng nổ 29
2.2 Xây dựng nền dân chủ cộng hòa 33
2.3 Đấu tranh trên mặt trận quân sự 45
CÂU HỎI ÔN TẬP 55
Chương 3: CUỘC KHÁNG CHIẾN PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ VÀ KẾT THÚC THẮNG LỢI (1951-1954) 57
3.1 Đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương 57
3.2 Sự lớn mạnh của nền dân chủ cộng hòa 61
3.3 Đấu tranh quân sự và ngoại giao (1951 - 1954) 70
3.4 Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 83 CÂU HỎI ÔN TẬP 85
Chương 4: XÂY DỰNG MIỀN BẮC VÀ ĐẤU TRANH CHỐNG CHẾ ĐỘ THUỘC ĐỊA CỦA MỸ Ở MIỀN NAM (1954-1960) 86
4.1 Tình hình Việt Nam sau hiệp định Giơnevơ và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới 86
4.2 Xây dựng Miền Bắc 89
4.3 Mỹ áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới và cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam chống Mỹ - Diệm (1954 - 1960) 101
CÂU HỎI ÔN TẬP 117
Chương 5: XÂY DỰNG MIỀN BẮC VÀ CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT CỦA MỸ Ở MIỀN NAM (1961 - 1965) 118
5.1 Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao Động Việt Nam (9-1960) 118
5.2 Thực hiện kế hoạch 5 năm xây dựng miền Bắc (1961-1965) 119
Trang 4Chương 7: CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH Ở MIỀN NAM VÀ CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI MIỀN BẮC LẦN THỨ HAI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1969 - 1973) 148
7.1 Chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ (1969-1973) 1487.2 Miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế - văn hóa, thực hiện nghĩa vụ hậu phương kháng chiến, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (1969-1973) 1587.3 Đấu tranh trên mặt trận ngoại giao, hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam 165CÂU HỎI ÔN TẬP 167
Chương 8: XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ MIỀN BẮC, HOÀN THÀNH SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (1973 - 1975) 168
8.1 Miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố quốc phòng, chi viện cho tiền tuyến miền Nam 1688.2 Tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam 1728.3 Ý nghĩa lịch sử và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) 178CÂU HỎI ÔN TẬP 179
Chương 9: VIỆT NAM TRONG THẬP NIÊN ĐẦU ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT (1975 – 1985) 181
9.1 Khắc phục hậu quả chiến tranh, hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước (1975
- 1976) 1819.2 Xây dựng và bảo vệ đất nước trong những năm 1976 - 1985 184CÂU HỎI ÔN TẬP 191
Chương 10: BƯỚC ĐẦU THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC THOÁT KHỎI KHỦNG HOẢNG KINH TẾ - XÃ HỘI (1986 – 1995) 192
10.1 Đổi mới kinh tế, nội dung trọng tâm của 2 kế hoạch 5 năm: 1986 – 1990, 1991 - 1995 192
Trang 55
10.2 Kiên quyết giữ vững ổn định chính trị, xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại 196
10.3 Tình hình văn hóa, giáo dục, y tế trong 10 năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới 198
CÂU HỎI ÔN TẬP 200
Chương 11: ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI (1996 – 2005) 201
11.1 Xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 201
11.2 Đổi mới hệ thống chính trị, củng cố quốc phòng an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại 204
11.3 Phát triển giáo dục, văn hóa, y tế 207
11.4 Về đời sống xã hội 211
CÂU HỎI ÔN TẬP 213
TÀI LIỆU THAM KHẢO 214
Trang 66
Trang 77
LỜI MỞ ĐẦU
Nội dung lịch sử Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 cho đến nay có nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc Đó là sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng chế độ mới – chế độ Dân chủ Cộng hòa, tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Sau khi đất nước được hòa bình, thống nhất cả nước đã đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện công cuộc đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, bên cạnh đó, đất nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, yếu kém do những nguyên nhân khách quan và chủ quan
Lịch sử Việt Nam hiện đại đã được nhiều học giả nghiên cứu và công bố nhiều công trình, cả ở góc độ thông sử cũng như chuyên khảo Tuy vậy, để đáp ứng việc giảng dạy và học tập cho cán bộ và sinh viên chuyên ngành Lịch sử, thì rất cần phải có Tập bài giảng với những nội dung cô đọng, khái quát được nội dung cơ bản của lịch sử giai đoạn này Xuất phát từ mục đích, yêu cầu như vậy, tập thể tác giả chúng tôi đã cố gắng biên soạn Tập bài giảng mà nội dung dựa chủ yếu vào các cuốn sách thông sử Lịch sử Việt Nam hiện đại mới nhất, đặc biệt là
cuốn Lịch sử Việt Nam, Tập IV (Lê Mậu Hãn, chủ biên, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội,
2013)
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng Tập bài giảng Lịch sử Việt Nam hiện đại mà chúng
tôi biên soạn cũng không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì lẽ đó, chúng tôi rất mong nhận được những góp ý của quý độc giả để Tập bài giảng ngày một hoàn thiện hơn cho lần tái bản sau
Trân trọng cảm ơn!
TẬP THỂ TÁC GIẢ
Trang 8Cách mạng giải phóng dân tộc phát triển rộng rãi, làm lay chuyển mạnh mẽ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản đòi
tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống đã diễn ra sôi nổi và rộng lớn Tại một số nước như Italia, Pháp, Đảng Cộng sản có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước
Hệ thống các nước đế quốc chủ nghĩa đang bị chấn động, các đế quốc Đức, Italia, Nhật Bản đã bị lực lượng Đồng minh đánh bại; Anh, Pháp thì suy yếu rất nhiều Riêng đế quốc Mỹ thì vươn lên thành nước tư bản giàu mạnh nhất sau chiến tranh, ra sức lôi kéo, tập hợp lực lượng để chống lại phong trào cách mạng thế giới
Các lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ trên thế giới đang trên đà tiến công vào chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản cách mạng dưới nhiều hình thức và tính chất khác nhau Song các lực lượng đế quốc thực dân, các thế lực phản cách mạng cũng đang tìm mọi cách để phục hồi và phát triển vai trò của mình, phản kích mạnh mẽ vào các lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
Tình hình thế giới diễn biến rất phức tạp, hình thành mâu thuẫn giữa các lực lượng hòa bình, dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội do Liên Xô làm trụ cột với các nước đế quốc và lực lượng phản động do Mỹ cầm đầu Cuộc đối đầu giữa “hai cực” Xô – Mỹ diễn ra rất căng thẳng
và gay gắt, dẫn đến cuộc Chiến tranh lạnh, cuốn hút từng quốc gia, từng khu vực vào ảnh hưởng của cuộc chiến tranh này
1.1.2 Tình hình trong nước
1.1.2.1 Thuận lợi
Sau thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945, dân tộc Việt Nam bước vào kỉ nguyên mới –
kỉ nguyên độc lập tự do Nhân dân Việt Nam trở thành người làm chr đất nước, làm chủ xã hội
và bước đầu được hưởng những quyền lợi do cách mạng đem lại Họ hiểu rõ giá trị thiêng liêng của những quyền lợi ấy, một lòng gắn bó và quyết tâm bảo vệ chính quyền cách mạng Đây chính là nguồn sức mạnh vô tận giúp cho Nhà nước cách mạng còn đang trong thời kì trứng nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách
Khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố và mở rộng: mặt trận Việt Minh phát triển rất nhanh chóng Các Hội cứu quốc trong công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ được thống nhất trong cả nước Nhiều Hội cứu quốc mới ra đời như Công thương Cứu quốc, Phật giáo Cứu
Trang 99
quốc, Đoàn Sinh viên Cứu quốc… Mặt trận Việt minh thực sự trở thành ngọn cờ đoàn kết toàn dân rộng rãi, giữ vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân Lực lượng vũ trang: thực hiện chủ trương vũ trang toàn dân, nhân dân ta tích cực xây dựng lực lượng và chỉ trong một thời gian ngắn lực lượng vũ trang bao gồm các đơn vị Giải phóng quân và các đội tự vệ chiến đấu phát triển nhanh chóng
Trải qua 15 năm đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh đạo (1930 - 1945), truyền thống đoàn kết, bất khuất của dân tộc ta càng được phát huy cao độ; Đảng ta ngày càng trưởng thành, bắt rễ sâu vào quần chúng và dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo Sau khi đất nước được độc lập, Đảng kịp thời mở rộng đội ngũ, đào tạo cán bộ, tăng cường lãnh đạo mọi mặt hoạt động, chuẩn
bị tổ chức cho toàn dân bước vào cuộc đấu tranh mới
Đứng đầu Đảng và Nhà nước là Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ thiên tài, có uy tín tuyệt đối trong nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam
1.1.2.2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản nêu trên, Nhà nước cách mạng Việt Nam, ngay sau khi
ra đời đã phải đứng trước một tình thế hết sức hiểm nghèo
Về chính quyền: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa được một nước nào
trên thế giới công nhận; khối đại đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc thống nhất và cơ cấu
tổ chức bộ máy chính quyền cách mạng còn đang phải tiếp tục củng cố và mở rộng; lực lượng
vũ trang cách mạng còn non trẻ, trang bị kém, thiếu thốn đủ mọi bề, kinh nghiệm chiến đấu còn quá ít
Nhà nước chưa nắm được ngân hàng Đông Dương
Quân Tưởng tung ra trên thị trường giấy bạc “Quan kim” và “Quốc tệ” đã mất giá trị, càng làm cho tình hình tài chính và thương mại thêm phức tạp
Về văn hóa – giáo dục:
Sau Cách mạng tháng Tám hơn 90% dân số nước ta bị mù chữ do chính sách ngu dân của thực dân và phong kiến
Trang 10Ở phía Nam vĩ tuyến 16, thực dân Anh dưới danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp quân đội Nhật đã giúp Pháp quay trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai Ngay từ ngày 2-9-1945, giữa lúc nhân dân Sài Gòn mít tinh mừng ngày tuyên bố độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một số tên thực dân phản động Pháp đã nấp trong các khu nhà, xả súng bắn ra làm 47 người chết và nhiều người bị thương Ngày 23-9-1945, quân đội Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai
Lúc này, ở nước ta còn khoảng 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp, trong đó có một bộ phận theo lệnh của đế quốc Anh đánh lại lực lượng vũ trang của ta, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng
Một số phần tử trong các đạo Thiên chúa, Hòa hảo, Cao đài… vẫn lợi dụng thần quyền
và lòng sùng đạo của tín đồ để hoạt động chia rẽ, chống phá cách mạng
Bọn Tơrốtxkít dưới chiêu bài cách mạng triệt để - tung ra những khẩu hiệu quá khích: đòi tăng lương ngay cho công nhân; đòi tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân; đòi đánh
đổ tất cả các đế quốc cùng một lúc… Chúng hô hào liên kết thợ thuyền và dân cày, đấu tranh chống tư sản và địa chủ, nhằm phá hoại mặt trận đoàn kết dân tộc…
Như vậy, sau cách mạng tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối mặt với những khó khăn hết sức to lớn: nạn đói, nạn dốt, thù trong, giặc ngoài… Những khó khăn ấy đang đe dọa sự tồn vong của chính quyền cách mạng Chính quyền cách mạng đang đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”
Trọng trách nặng nề đối với dân tộc đã giao phó cho Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, với tư cách là người lãnh đạo và quản
lý điều hành cao nhất của đất nước
Căn cứ vào phương hướng và nhiệm vụ, chiến lược và sách lược do Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội họp tháng 8-1945 đã thông qua, ngày 3-9-1945 trong phiên họp
Trang 115 Xóa bỏ các thứ thuế bóc lột vô nhân đạo của thực dân để lại và tuyệt đối cấm hút thuốc phiện
6 Thực hiện tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết
Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra chỉ thị quan trọng về “kháng
chiến, kiến quốc”, xác định nhiệm vụ chiến lược, những nhiệm vụ cấp bách và những chính
sách lớn để chỉ đạo hoạt động của Đảng và toàn dân trong cuộc đấu tranh nhằm giữ vững quyền độc lập tự do, bảo vệ chế độ dân chủ cộng hòa
Chỉ thị đề ra những nhiệm vụ cấp bách của nhân dân Việt Nam lúc này là:
1 Củng cố chính quyền cách mạng
2 Chống thực dân Pháp xâm lược
3 Bài trừ nội phản
4 Cải thiện đời sống nhân dân
Bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng là nhiệm vụ bao trùm, khó khăn và nặng nề nhất vì trong điều kiện nước ta lúc bấy giờ việc giành chính quyền đã khó, việc giữ chính quyền càng khó hơn
Muốn hoàn thành các nhiệm vụ đó, Đảng ta phải tăng cường và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, chống chia rẽ, xây dựng đất nước về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa
và ngoại giao; kiên quyết chống giặc ngoại xâm, giữ vững lời thề độc lập
Các nhiệm vụ của nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ được khái quát thành khẩu hiệu chiến
lược: “Kháng chiến và kiến quốc!”
1.2 Xây dựng nền dân chủ cộng hòa
1.2.1 Xây dựng hệ thống chính quyền nhân dân và pháp luật
1.2.1.1 Chính quyền Nhà nước ở Trung ương
Ngày 8-9-1945, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kí Sắc lệnh số 14-SL về cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, quy định trong thời hạn hai tháng kể từ ngày kí sắc lệnh này
sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một hiến pháp dân chủ cộng hòa
Trang 1212
Ngày 1-1-1946, Chính phủ lâm thời cải tổ thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, trong đó
có thêm một số thành viên của Việt Quốc, Việt Cách Chính phủ liên hiệp lâm thời và Việt minh tiếp tục triển khai công việc chuẩn bị Tổng tuyển cử với phương châm thực hiện đại đoàn kết thống nhất dân tộc
Ngày 5-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu để phát huy quyền làm chủ của mình, tự do lựa chọn và bầu ra những đại biểu xứng đáng thay mặt cho mình ra gánh vác việc nước
Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành trong cả nước, gần 90% cử tri đi bỏ phiếu, bầu được 333 đại biểu đại diện cho tầng lớp nhân dân khắp ba miền Bắc - Trung - Nam tham gia vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội là một đòn giáng mạnh vào âm mưu chia rẽ, lật đổ và xâm lược của bọn đế quốc cùng tay sai Thắng lợi này góp phần nâng cao uy tín và địa vị của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên trường quốc tế, khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước, ý thức làm chủ trong mỗi người dân đối với Nhà nước cách mạng Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử còn tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Sau thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử, tình hình chính trị ở nước ta lại có những diễn biến phức tạp mới Cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở miền Nam đang lan rộng Cuộc kháng chiến của quân và dân ta đang gặp nhiều khó khăn Ở miền Bắc, quân Pháp từ Vân Nam kéo vào Lai Châu, Tuần Giáo, Điện Biên Lợi dụng tình hình đó, các lực lượng Việt Quốc, Việt Cách đã gây sức ép với chính quyền cách mạng Chính phủ Pháp và Chính phủ Trung Hoa Dân quốc cũng đã ngấm ngầm thương lượng dàn xếp để quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân Trung Hoa Dân quốc
Trong bối cảnh đó, ngày 2-3-1946, Quốc hội khóa I đã họp kì họp thứ nhất tại Nhà hát lớn Hà Nội, kì họp đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng:
- Nhượng cho Việt Quốc, Việt Cách 70 ghế trong Quốc hội không qua bầu cử
- Thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến gồm 10 bộ, do Hồ Chí Minh là Chủ tịch và Nguyền Hải Thần làm Phó Chủ tịch
- Bầu Ban Thường trực Quốc hội gồm 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết, Trưởng ban là Nguyễn Văn Tố, Phó ban là Phạm Văn Đồng và Cung Đình Quỳ (Việt Quốc) Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử và kì họp thứ nhất của Quốc hội lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân, của quá trình đấu tranh nhân nhượng, hòa giải của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Tổng bộ Việt Minh
Sau 8 tháng hoạt động của Quốc hội và Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, kể từ kỳ họp thứ nhất (3-1946), dưới sự chỉ đạo sáng suốt và khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nước nhà
đã vượt qua nhiều khó khăn Quốc hội và Chính phủ đã nỗ lực xây dựng được khối đại đoàn kết thống nhất và giữ vững được chính quyền Cách mạng Việt Nam đang tiến bước vững chắc Trong bối cảnh đó, từ ngày 28-10 đến ngày 9-11-1946, Quốc hội đã họp kì thứ hai ở Hà Nội Tham dự có 290 đại biểu
Trang 1313
Quốc hội đã thảo luận các báo cáo của Chính phủ, thông qua các nghị quyết về nội trị, ngoại giao, thông qua Dự án Luật Lao Động, Hiến pháp, lập Chính phủ mới và bầu Ban Thường trực Quốc hội
Ngày 3-11-1946, Quốc hội biểu quyết tán thành Chính phủ mới do Hồ Chí Minh thành lập, gồm 14 thành viên Hồ Chí Minh là Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao
Ngày 9-11-1946, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
1.2.1.2 Chính quyền nhân dân các cấp ở địa phương
Sau Cách mạng tháng Tám, về mặt hành chính, chính quyền các cấp ở địa phương gồm các kì (sau đổi là bộ), tỉnh, thành phố, huyện và thị xã Ngày 22-11-1945, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 63/SL quy định về tổ chức, quyền hạn và cách làm việc của Ủy ban Hành chính các cấp Đây là sắc lệnh cơ bản nhất quy định chế độ chính quyền nhân dân các cấp ở địa phương
Căn cứ vào sắc lệnh Chính phủ đã ban hành, việc tổ chức chính quyền ở các địa phương được triển khai khẩn trương Đến tháng 11-1946, trong số 227 huyện, thị xã ở Bắc Bộ thì có 128 huyện, thị xã đã có Ủy ban Hành chính chính thức Ở Trung Bộ trừ các tỉnh trực tiếp có chiến sự, tất cả các tỉnh còn lại bầu Ủy ban Hành chính chính thức và trong số 118 huyện thì có 73 huyện
có Ủy ban Hành chính chính thức Ở Nam Bộ vì có chiến sự ác liệt nên chưa thể thực hiện được Sắc lệnh số 63, do đó chỉ có thể đổi Ủy ban Nhân dân sang Ủy ban Hành chính lâm thời
Chính quyền nhân dân các cấp từ Trung ương đến địa phương được tổ chức và làm việc theo một tinh thần mới, một chế độ dân chủ mới của dân, do dân, vì dân
1.2.1.3.Về luật pháp
Chính phủ đã ban hành nhiều sắc lệnh quan trọng để bảo vệ quyền dân chủ của mọi công dân Việt Nam: Sắc lệnh số 40/SL ngày 29-3-1946 về việc bảo vệ quyền tự do cá nhân; Sắc lệnh 41/SL ngày 29-3-1946, quy định chế độ tự do báo chí và xuất bản; Sắc lệnh 52/SL ngày 22-4-1946, quy định chế độ tự do lập hội; Sắc lệnh 35/SL ngày 20-9-1945 quy định về việc bảo
vệ quyền tự do tín ngưỡng, coi đó là một nguyên tắc của chính thể dân chủ cộng hòa nên nhân dân phải tôn trọng, không được xâm phạm đền chùa, lăng tẩm, nhà thờ, tất cả các nơi có tính cách tôn giáo, bất kể tôn giáo nào
Đặc biệt tại kì họp thứ hai, Quốc hội đã thông qua Dự án Luật Lao động và Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Dự án Luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 8-11-1946 nhằm đặt nền móng cho
Bộ Luật Lao động của Chính phủ đang soạn thỏa lúc bấy giờ Nội dung Dự án Luật Lao động gồm 25 điều, trong đó đề cập đến những vấn đề có tính nguyên tắc là:
- Nhìn nhận lao động, không ai được bó buộc, lao động phải được tôn trọng, giá trị phải được đáp ứng xứng đáng
- Định rõ chế độ học nghề
- Định rõ thể lệ trong việc lập và thi hành khế ước
- Định rõ phụ cấp cùng việc chia lãi
Trang 1414
- Thời gian làm việc, thời gian nghỉ
- Bảo vệ công dân nữ và trẻ em
- Bảo vệ sức khỏe công nhân
- Quyền tập hợp và đình công của công nhân
Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được Quốc hội biểu quyết thông qua ngày 9-11-1946 với 240 phiếu tán thành (trong tổng số 242 phiếu) Bản Hiến pháp gồm có Lời nói đầu, 7 chương, 70 điều
Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa được xây dựng dựa trên những nguyên tắc:
- Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo
- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân
Hiến pháp đã quy định thể chế, nghĩa vụ và quyền lợi công dân, nghị viện nhân dân, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính, Cơ quan tư pháp và Sửa đổi Hiến pháp Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một hiến pháp dân tộc dân chủ, khẳng định nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và quyết tâm bảo vệ
Tổ quốc của toàn dân, xây dựng thể chế dân chủ cộng hòa, một chế độ đảm bảo quyền tự do dân chủ của mọi công dân Việt Nam
1.2.2 Đại đoàn kết dân tộc, liên hiệp quốc dân Việt Nam
Mặt trận Việt Minh được củng cố và mở rộng Một số đoàn thể quần chúng lần lượt ra đời như các hội công thương Cứu quốc, Sinh viên Cứu quốc, Công giáo Cứu quốc… Các hội Công nhân Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Bộ lần lượt mở hội nghị để thống nhất hệ thống tổ chức
Số lượng hội viên của các đoàn thể cứu quốc trong Việt minh tăng lên nhanh chóng Công tác vận động, tổ chức, đoàn kết các dân tộc ít người được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm Nha Dân tộc thiểu số được thành lập để giúp Chính phủ giải quyết mọi vấn
đề liên quan đến các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Ngày 29-5-1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam được thành lập Hội chủ trương đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước, đồng bào yêu nước, không phân biệt giai cấp, tôn giáo,
xu hướng chính trị… để làm cho nước Việt Nam độc lập – thống nhất – phú cường
Một số tổ chức lần lượt ra đời: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (20-7-1946), Đảng
Xã hội Việt Nam (22-7-1946), Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20-10-1946)
1.2.3 Xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân và an ninh quốc gia
Xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân và an ninh quốc gia là một nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp bảo vệ chế độ dân chủ cộng hòa, bảo vệ Tổ quốc
Sau Cách mạng tháng Tám thắng lợi, Giải phóng quân Việt Nam được chấn chỉnh, mở rộng và đổi thành Vệ quốc quân
Trang 1515
Ngày 22-5-1946, Chính phủ ra Sắc lệnh 71/SL về việc đổi Vệ quốc quân thành Quân đội quốc gia Việt Nam Quân đội quốc gia Việt Nam do Bộ Tổng tham mưu quân sự cơ mật, đầu não của quân đội chỉ huy thống nhất Quân đội được tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội… Đông đảo thanh niên ra nhập quân đội Đến cuối năm 1946, tổng số quân đội lên đến 80.000 người
Bộ Quốc phòng được kiện toàn, các Cục Quân nhu, Chế tạo, các xưởng quân giới, ngành quân y, các trường đào tạo cán bộ chính trị, quân sự của quân đội được thành lập
Để phát huy mạnh mẽ tinh thần tích cực, chủ động của các địa phương về hành chính và quân sự trong điều kiện đất nước dài và hẹp, chiến trường dễ bị chia cắt trong chiến tranh, Chính phủ đã quyết định thành lập các khu quân sự (chiến khu) Cuối năm 1945, cả nước được chia thành 9 chiến khu và Hà Nội là khu đặc biệt Đến cuối tháng 11-1946, khi thực dân Pháp đẩy mạnh khiêu khích và đánh chiếm Hải Phòng, Chính phủ đã chia cả nước thành 12 chiến khu Mỗi khu có Khu ủy, Ủy ban kháng chiến và Bộ chỉ huy khu
Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, Chính phủ đặc biệt coi trọng việc “quân sự
hóa” toàn dân, vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng lực lượng nửa vũ trang (bao gồm
dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị) Đến cuối năm 1946, có khoảng một triệu dân quân, tự
vệ đã được tổ chức và huấn luyện quân sự
Ngày 30-11-1946, Chính phủ đã cử Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm chỉ huy quân đội toàn quốc
Lực lượng an ninh quốc gia được chấn chỉnh và phát triển có hệ thống từ Trung ương đến địa phương
Ngày 21-2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 23/SL thành lập Việt Nam Công
an vụ Công an có nhiệm vụ tìm hiểu, thu thập những tin tức liên quan đến sự an toàn quốc gia;
đề nghị và thực thi những biện pháp đề phòng những hành động làm rối loạn trật tự trị an trong nước, truy tìm các can phạm để đưa ra tòa án trừng trị
Ngày 18-4-1946, Bộ Nội vụ đã ban hành Nghị định số 131/BNV quy định cơ cấu tổ chức, quyền hạn, nhiệm vụ của tổ chức Việt Nam Công an vụ, gồm 3 cấp: cấp Trung ương gọi
là Nha Công an Việt Nam; ở các miền Bắc, Trung, Nam thì gọi là Sở Công an; ở tỉnh – thành phố gọi là Ty Công an Nghị định cũng quy định mối quan hệ giữa công an với các cơ quan hành chính, tư pháp
Hệ thống tổ chức tòa án đã lần lượt được xây dựng Ngay từ ngày 13-9-1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã kí Sắc lệnh số 33C/SL thành lập Tòa án Quân sự ở một số tỉnh Bắc Bộ, Trung
Bộ và Nam Bộ, để xét xử những người phạm vào những việc có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Còn những người phạm pháp là binh sĩ thì thuộc về nhà binh tự xử theo quân luật
1.2.4 Khắc phục nạn đói, khôi phục và bước đầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ
1.2.4.1 Chống giặc đói
Một trong những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền cách mạng sau khi thành lập là phải nhanh chóng đẩy lùi nạn đói, từng bước ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Giải quyết nạn đói không chỉ có ý nghĩa về kinh tế, mà còn bao hàm ý nghĩa chính trị sâu sắc
Trang 1616
Trong phiên họp đầu tiên ngày 3-9-1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ đã quyết định phải chống “giặc đói”, phát động ngay một phong trào tăng gia sản xuất Việt minh và các đoàn thể cứu quốc đã vận động nhân dân cứu trợ đồng bào những nơi đang bị đói
Biện pháp trước mắt: kêu gọi thực hành tiết kiệm, tổ chức quyên góp cứu đói theo lời kêu
gọi “Nhường cơm xẻ áo” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện “Hũ gạo tiết kiệm”, “Ngày
đồng tâm”
Để dồn lương thực cho việc cứu đói, Chính phủ ban hành các biện pháp hành chính, như cấm dùng lương thực vào việc nấu rượu, xóa bỏ mọi cản trở trong lưu thông gạo giữa các vùng trong nước, cấm đầu cơ tích trữ thóc gạo, thành lập Ủy ban Tối cao Tiếp tế và Cứu tế của Chính phủ Việc chuyên chở gạo từ các tỉnh ở Nam Bộ và Trung Bộ ra Bắc Bộ được thực hiện khẩn trương Chỉ tính trong 3 tháng cuối năm 1945, đã có khoảng 700 tấn gạo được chuyển ra Bắc Bộ, kịp đem đến các địa phương để cứu đói
Biện pháp lâu dài: Đẩy mạnh tăng gia sản xuất với khẩu hiệu: Tăng gia sản xuất! Tăng
gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa; Không để một tấc đất bỏ hoang! Tấc đất tấc vàng! Giai cấp công nhân, các đơn vị bộ đội, cán bộ, viên chức Nhà nước… tự nguyện tổ
chức thành từng đoàn, từng đội đi về nông thôn đắp đê phòng lụt, khai hoang, phục hóa
Về nông nghiệp: Để tạo điều kiện cho nông dân đẩy mạnh sản xuất, chính quyền cách mạng đã thực hiện giảm tô 25%, giảm thuế ruộng đất 20%, bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô
lí khác Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công theo nguyên tắc công bằng và dân chủ Ban Khuyến nông cũng được thành lập ở Trung ương và địa phương để tổ chức giúp đỡ nông dân khắc phục khó khăn về giống, vốn, nông cụ, sức kéo, hướng dẫn nông dân về kĩ thuật canh tác
Kết quả: Nhờ những biện pháp trên, sản xuất nông nghiệp nhanh chóng được phục hồi Năm
1945, diện tích lúa mùa ở Bắc Bộ đạt được 890.000 ha, sản lượng đạt 1.115.000 tấn (năm 1943 là 952.000 tấn và năm 1944 là 832.000 tấn) Diện tích trồng ngô năm 1946 đạt 212.850 ha, sản lượng đạt 217.020 tấn (năm 1939 là 119.000 ha và đạt sản lượng 140.000 tấn); diện tích trồng khoai lang đạt 90.000 ha, sản lượng đạt 330.000 tấn (năm 1939 mới có 68.000 ha và sản lượng là 156.000 tấn) Với số lượng lương thực và hoa màu đó, nhân dân ta không những vượt qua được nạn đói mà còn duy trì được sức lao động để đảm bảo sản xuất vụ chiêm năm 1946 Đây là một thắng lợi của chính quyền dân chủ nhân dân
Về các lĩnh vực kinh tế khác:
Trong các ngành công thương nghiệp và giao thông vận tải, một mặt nhà nước tạo điều kiện thuận lợi nhất để cho các thương gia yêu nước người Việt phát triển sản xuất kinh doanh Mặt khác cho tư bản nước ngoài, trước hết là tư bản Pháp được tiếp tục hoạt động kinh doanh tránh gây cho họ những xáo trộn lớn trong công việc làm ăn
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng bắt tay vào xây dựng khu vực kinh tế quốc doanh, trước hết
là trong lĩnh vực khai mỏ Chính phủ cho khôi phục các mỏ than ở Tuyên Quang, Thái Nguyên, Ninh Bình, mỏ thiếc ở Tĩnh Túc (Cao Bằng)…
Trang 1717
Trong lĩnh vực thương nghiệp, Chính phủ Việt Nam hết sức quan tâm, nghiêm cấm các hoạt động đầu cơ tích trữ, chợ đen, mở đường cho lưu thông hàng hóa, kêu gọi các nhà buôn đứng ra kinh doanh, thành lập Phòng Thương mại và Nha Thương vụ Việt Nam để giúp Chính phủ bước đầu nắm các hoạt động thương nghiệp trên thị trường nội địa
Về giao thông vận tải, Chính phủ từng bước quản lý và khai thác kinh doanh hệ thống đường bộ, đường thủy, đường hàng không, thông tin liên lạc
1.2.4.2 Tài chính
Ngày 4-9-1945, Chính phủ ra sắc lệnh số 4/SL về xây dựng Quỹ độc lập và phát động
Tuần lễ vàng, kêu gọi toàn dân tự nguyện đóng góp ủng hộ nền độc lập của Tổ quốc
Kết quả: Nhân dân ta đã ủng hộ cho Nhà nước 370 kg vàng, 20 triệu đồng vào Quỹ độc lập và 40 triệu đồng vào Quỹ Đảm phụ quốc phòng
Để xây dựng nền tài chính độc lập, ngày 31-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh số 18B/SL, phát hành giấy bạc Việt Nam từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam Ngày 23-11-1946, Quốc hội quyết định cho lưu hành tiền Việt Nam trong cả nước
1.2.5 Giáo dục và văn hóa
Tháng 9-1945, các trường từ tiểu học đến trung học đều được nhanh chóng khai giảng Năm học 1945 -1946, ở Bắc Bộ và Trung Bộ đã mở được 5.654 trường tiểu học với 206.784 học sinh, 25 trường trung học với 7.514 học sinh
Ở bậc đại học và cao đẳng, cùng với các trường Đại học Y khoa, Dược khoa, Cao đẳng
Kĩ thuật, Cao đẳng Công chính, Cao đẳng Canh nông – Thú y, Bộ Giáo dục cho mở thêm Trường Đại học Văn khoa và Lớp Chính trị xã hội thay cho Trường Luật của chế độ cũ
Năm học 1945 - 1946, tất cả các trường đại học có 1.149 sinh viên chính thức và 270 sinh viên dự thính, riêng Đại học Văn khoa có 253 sinh viên và lớp Cao đẳng Chính trị và Xã hội có 52 sinh viên
Nền giáo dục mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay từ khi mới ra đời đã được gây dựng phát triển, đặt trên ba nguyên tắc cơ bản: đại chúng, dân tộc hóa, khoa học hóa và theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ Về tổ chức, các bậc học được dạy và học bằng tiếng Việt Đó là một biến đổi cách mạng sâu sắc
Trang 18đảo quần chúng nhân dân Một số tờ báo tiêu biểu như: Cờ giải phóng, Sự thật, Cứu
quốc…được quần chúng tín nhiệm và có tác động lớn trong việc tuyên truyền, phổ biến chủ
trương, đường lối của Đảng và Mặt trận Việt minh
Văn học, nghệ thuật cũng có những bước chuyển biến mạnh mẽ Các văn nghệ sĩ đã hướng hoạt động của mình vào thực tế cuộc sống xây dựng và chiến đấu của dân tộc
Tháng 11-1946, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội Hội nghị đã vạch rõ nền văn hóa mới của Việt Nam là phải lấy hạnh phúc của nhân dân, của văn hóa nước ngoài, tạo ra nền văn hóa Việt Nam, sao cho văn hóa mới sửa được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ; phải làm cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập
Phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ và rộng lớn Cuộc vận động Đời sống mới do Chủ tich Hồ Chí Minh đề xướng được đông đảo nhân dân cả nước hưởng ứng, nhằm xây dựng đạo đức mới Cần – Kiệm – Liêm – Chính; bài trừ các
tệ nạn xã hội cũ, những hủ tục cúng lễ ra khỏi đời sống xã hội
Những thành quả bước đầu trong một năm kiến quốc, xây dựng chế độ mới đã đặt nền móng vững chắc cho Nhà nước cách mạng vượt qua tình thế hiểm nghèo Cuộc sống mới đang được hình thành và từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội ra khỏi đời sống xã hội
1.3 Hoạt động ngoại giao
1.3.1 Phát huy địa vị hợp pháp của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Cục diện thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã tác động ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ quốc tế Sự phân hóa sau chiến tranh và quan hệ mới của các lực lượng trên thế giới và Viễn Đông tác động phức tạp đến Việt Nam, nơi có nhiều nước lớn can thiệp Đây là một thách thức lớn đối với chính quyền cách mạng Chủ trương, chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa phải giữ vững nguyên tắc, vừa phải linh hoạt
về sách lược trước mọi tình thế mới thực hiện được mục tiêu giữ vững quyền độc lập tự do Ngay từ giữa tháng 8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội Tân Trào
đã nắm vững thời cơ, quyết định khởi nghĩa giành chính quyền để đứng ở địa vị cầm quyền trước khi quân Đồng Minh kéo vào Việt Nam giải giáp quân đội Nhật và đã đề ra chủ trương, chính sách ngoại giao để thực hiện sau khi thành lập Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hội nghị chủ trương tránh trường hợp cùng một lúc phải đương đầu với nhiều kẻ thù
Tuyên ngôn độc lập của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố quyền dân tộc cơ bản của nước Việt Nam, xóa bỏ mọi quan hệ thực dân với Pháp và nêu cao ý chí bảo
vệ độc lập của toàn thể dân tộc Việt Nam Đó là cơ sở pháp lý đầu tiên về đối nội và đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trang 1919
Ngày 5-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân, nêu rõ lập trường Việt
Nam đối với quân Đồng Minh và quân Pháp: “Nhân dân Việt Nam hoan nghênh quân Đồng minh kéo vào Việt Nam để tước khí giới quân Nhật, nhưng cương quyết phản đối quân Pháp kéo vào Việt Nam, vì mục đích của họ chỉ hãm hại dân tộc Việt Nam vào vòng nô lệ một lần nữa”1
Ngày 3-10-1945, Bộ Ngoại giao ra thông cáo về “Chính sách ngoại giao của Chính phủ lâm thời Dân chủ Cộng hòa Việt Nam”, nêu rõ: Nước Việt Nam còn đang trong giai đoạn tranh đấu kịch liệt nên “ chính sách ngoại giao phải có mục đích cốt yếu là giúp cho sự tranh đấu ấy được thắng lợi bằng mọi phương pháp êm dịu hay cương quyết tùy theo thái độ của các liệt quốc, nhưng bao giờ cũng lấy nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương làm nền tảng Chính sách ngoại giao đối với các đối tượng cụ thể:
a “Đối với các nước Đồng minh, Việt Nam hết sức thân thiện và thành thực cộng tác trên lập trường bình đẳng tương ái để xây đắp lại nền hòa bình thế giới Riêng đối với Trung Hoa,
là một nước có nhiều mối quan hệ về mọi phương diện địa dư, lịch sử, văn hóa, kinh tế, thì Việt Nam lại càng muốn thắt chặt tình thân ái khiến hai dân tộc Việt – Hoa tương trợ mà cùng tiến lên”
b “Đối với Pháp, hiện nay Việt Nam bắt buộc phải theo chính sách khác mà đối phó Trước hết đối với những kiều dân Pháp, nếu họ yên tĩnh làm ăn trong vòng trật tự và tôn trọng
sự độc lập của Việt Nam thì sinh mạng và tài sản của họ vẫn được bảo vệ theo luật quốc tế Nhưng đối với Chính phủ Pháp De Gaulle, chủ trương thống trị Việt Nam, thì quyết chống lại, nếu chính phủ ấy không chịu thừa nhận sự độc lập hoàn toàn của Việt Nam”
c “Đối với các nhược tiểu dân tộc, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng thân thiện, hợp tác chặt chẽ trên nguyên tắc bình đẳng, để ủng hộ lẫn nhau trong sự xây đắp và giữ vững nền độc lập”
d “Riêng về các nước bạn Cao Miên và Ai Lao, thì dây liên lạc lấy dân tộc tự quyết làm nền tảng, lại càng phải chặt chẽ hơn nữa vì hai nước ấy trước kia, hiện nay và ngày sau cùng chung một số phận với Việt Nam; đã cùng bị Pháp đô hộ, thì cùng phải chống lại sự xâm lăng của Pháp, tương trợ mà thực hiện và củng cố độc lập Và ba nước Miên, Lào và Việt còn có nhiều mối liên hệ về kinh tế, nên sẽ giúp đỡ nhau để kiến thiết và sánh vai ngang hàng mà tiến hóa2
Chính sách ngoại giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được công bố thể hiện một cách nhìn rộng mở trong quan hệ quốc tế kiểu mới, mang tầm nhìn chiến lược, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và sự thay đổi cơ bản có tính toàn cầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai cũng như quan hệ với các nước trong khu vực và các nước láng giềng đang phấn đấu vì độc lập tự do
Trên cơ sở xác định chính sách ngoại giao, Chính phủ lâm thời đã tiến hành các hoạt động nhằm thiết lập mối quan hệ với đại diện các nước ở Việt Nam, các nước và các tổ chức quốc tế nhằm xác lập vị thế và chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về ngoại giao
Trang 2020
Đối với Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có chủ trương thiết lập mối quan hệ với Mỹ
trước khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Từ 9-1945 đến 2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 8 lần gửi điện, thư cho Tổng thống và Ngoại trưởng Mỹ, tố cáo hành động xâm lược của Pháp và đề nghị Mỹ công nhận nền độc lập của Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã sớm đưa ra sang kiến về ngoại giao nhân dân với Mỹ bằng cách thiết lập những quan hệ văn hóa với Mỹ Trong thư gửi Ngoại trưởng Mỹ ngày 1-11-
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân danh Hội Văn hóa Việt Nam bày tỏ ý muốn của Hội được gửi một phái đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định thiết lập những mối quan hệ văn hóa thân thiết với thanh niên Mỹ và để xúc tiến nghiên cứu về kỹ thuật nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác
Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời rất chủ động đưa ra nhiều sáng kiến trong việc xây dựng mối quan hệ với Mỹ, mong Chính phủ Mỹ ủng hộ nền độc lập tự do của Việt Nam, song Mỹ đã không đáp ứng Chính phủ Mỹ ủng hộ Pháp quay trở lại Đông Dương Thái độ của Mỹ nhằm tranh thủ nước Pháp trước yêu cầu tập hợp lực lượng mới của
Mỹ ở Châu Âu thành một khối để chống lại ảnh hưởng của Liên Xô sau chiến tranh
Đối với Liên Xô, là một Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chính phủ Việt Nam cũng đã tranh thủ bẳng cách thông qua các điện, thư, công hàm, đề nghị đưa vấn
đề Việt Nam ra thảo luận tại Liên hợp quốc
Liên Xô là một cường quốc có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai Sau chiến tranh, trật tự thế giới chuyển dần sang thế
“hai cực”, thực chất là sự đối đầu tranh giành phạm vi ảnh hưởng của hai siêu cường là Mỹ và Liên Xô
Căn cứ vào các văn kiện của các Hội nghị Ianta và Potsdam, lập trường của Liên Xô là thừa nhận quyền độc lập của các nước thuộc địa Song, Chính phủ Liên Xô, tính toán sau chiến thắng phát xít cần tập trung khôi phục đất nước, bảo đảm an toàn cho biên giới quốc gia của Liên Xô, giúp đỡ cách mạng các nước Đông Âu và tranh thủ Chính phủ Pháp (đứng đầu làm
De Gaulle), giữ mối quan hệ chặt chẽ với Đảng Cộng sản Pháp Chính vì thế, những yêu cầu của Chính phủ Việt Nam không được Liên Xô đáp ứng
1.3.2 Hòa hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc
Chủ trương của ta là hòa hoãn với Tưởng ở miền Bắc để tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù
Kẻ thù chính của cách mạng lúc này là thực dân Pháp, do đó chúng ta phải tạm hòa hoãn, tránh xung đột với quân Tưởng, nhằm tập trung lực lượng đánh Pháp ở miền Nam nhưng trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền của dân tộc
Chúng ta tiến hành đấu tranh chính trị với quân Tưởng một cách khôn khéo, nhưng kiên quyết nhằm hạn chế sự phá hoại của chúng
Tháng 10-1945, khi Hà Ứng Khâm – Tổng tư lệnh Lục quân quân đội Tưởng Giới Thạch đến Hà Nội, Chính phủ cách mạng đã tổ chức một cuộc biểu tình có 300.000 người tham gia, hình thức là để đón tiếp nhưng thực chất là nhằm biểu dương lực lượng của Việt Nam Dân chủ
Trang 21Tuy nhiên, mọi sự nhân nhượng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Chính quyền được giữ vững
- Đảng phải lãnh đạo chính quyền
- Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đứng đầu Chính phủ
- Độc lập chủ quyền của đất nước phải được tôn trọng
Đối với bọn tay sai của Tưởng ra mặt phản cách mạng thì kiên quyết vạch trần bộ mặt bán nước, hại dân của chúng Bọn phản động gây tội ác đều bị trừng trị theo pháp luật
Trong khi thực hiện hòa giải, nhân nhượng, chúng ta cũng đã thông qua công cụ báo chí, thông tin tuyên truyền, dựa vào sức mạnh của quần chúng để vạch trần những hoạt động chia
rẽ, phá hoại, phản dân hại nước của các lực lượng tay sai của Tưởng Giới Thạch, kiên quyết trừng trị những tên phản động làm tổn hại đến an ninh quốc gia trên cơ sở đã đủ bằng chứng Thực hiện những biện pháp, sách lược nhân nhượng với Tưởng, chúng ta đã hạn chế và
vô hiệu hóa đến mức thấp nhất các hoạt động chống phá của quân Tưởng và tay sai, làm thất bại mưu đồ lật đổ chính quyền cách mạng chúng Nhờ đó, chúng ta mới có điều kiện tập trung lực lượng chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam
1.4 Kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và thực hiện “hòa
để tiến”
1.4.1 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ
Ngày 2-9-1945, khi nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn tổ chức mít tinh chào mừng ngày độc lập, thực dân Pháp đã xả súng bắn làm 47 người bị chết, nhiều người bị thương
Đêm 22 rạng sáng ngày 23-9-1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực dân Pháp cho quân đánh úp trự sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ Thành phố Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai
Trang 2222
1.4.1.1 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ
Ngày 23-9-1945, Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ họp tại đường Cây Mai – Chợ Lớn quyết định phát động nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ được thành lập do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch, Ủy ban Kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn do Nguyễn Văn Tư làm Chủ tịch
Quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn cùng với quân và dân Nam Bộ nhất tề đứng lên chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đột nhập sân bay Tân Sơn Nhất, đốt cháy tàu Pháp vừa cập bến Sài Gòn, đánh phá kho tàng, phá nhà giam
Phối hợp với các lực lượng vũ trang, nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn triệt phá nguồn tiếp
tế, dựng chướng ngại vật và chiến lũy trên đường phố Quân Pháp trong thành phố bị bao vây
và luôn bị tấn công
Ngày 5-10-1945, tướng Lơcơléc đến Sài Gòn cùng với đơn vị bộ binh và xe bọc thép mới
từ Pháp đưa sang Có sự hỗ trợ của quân Anh, Nhật, quân Pháp phá vòng vây Sài Gòn, đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ
Ngày 25-10-1945, Hội nghị xứ ủy mở rộng Nam Bộ được triệu tập tại Thiên Hộ (Mỹ Tho) Sau khi rút kinh nghiệm chỉ đạo kháng chiến, Hội nghị đã kiểm điểm tình hình và rút kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh, đề ra các biện pháp nhằm củng cố và phát triển lực lượng chính trị và vũ trang, phát triển chiến tranh du kích, tăng cường công tác chính trị, khôi phục chính quyền ở những nơi bị vỡ, xây dựng cơ sở bí mật…Hội nghị cử Lê Duẩn làm Bí thư Xứ
ủy Nam Bộ lâm thời, Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ
Ngày 20-11-1945, Hội nghị Quân sự được triệu tập ở An Phú (Gia Định) để bàn công tác chỉ đạo kháng chiến Hội nghị quyết định chia Nam Bộ thành các chiến khu 7, 8, 9 và bàn biện pháp củng cố lực lượng vũ trang tỉnh, thành phố, các chi đội Vệ quốc đoàn
Từ sau Hội nghị Thiên Hộ và An Phú, những thiếu sót về lãnh đạo và chỉ huy từng bước được khắc phục Cùng thời gian đó, quân Pháp được quân Anh lần lượt bàn giao những vùng chúng kiểm soát ở Nam Bộ
Trung ương Đảng,Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến Hưởng ửng lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào cả nước đã ủng hộ và chi viện mọi mặt cho cuộc kháng chiến ở Nam Bộ
Về phía thực dân Pháp sau khi nhận thêm quân tiếp viện, đồng thời tiếp tục dựa vào quân Anh và Nhật, chúng vừa mở rộng phạm vi chiếm đóng ở Nam Bộ, vừa thực hiện từng bước đánh ra Nam Trung Bộ
Đầu tháng 2-1946, sau khi tăng viện binh, thực dân Pháp gấp rút chiếm đóng vùng nông thôn Nam Bộ Chúng mở hàng loạt cuộc hành quân “bình định” trên khắp các tỉnh Nam Bộ Lực lượng của ta bị tổn thất nhiều, chính quyền và đoàn thể cứu quốc ở nhiều nơi bị tan vỡ Tháng 2-1946, Xêđi lập được Hội đồng Tư vấn gồm 12 thành viên là người Pháp và người Việt mang quốc tịch Pháp Ngoài ra, thực dân Pháp còn tiến hành tuyển quân, tập hợp bọn tay sai để thành lập chính quyền bù nhìn ở các thị trấn, thị xã Chúng tìm cách một số người trong các đạo Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên Chúa… để chống lại lực lượng kháng chiến
Trang 2323
Ngày 5-3-1946, quân Anh bàn giao lại toàn bộ địa bàn và vũ khí, trang bị cho quân Pháp, rút khỏi miền Nam
1.4.1.2 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Trung Bộ
Trong lúc nhân dân Nam Bộ kháng chiến thì tại Nam Trung Bộ, mọi công việc chuẩn bị
để kháng chiến cũng được xúc tiến rất khẩn trương
Cuối tháng 9-1945, Ủy ban Quân chính Nam Trung Bộ được thành lập để chỉ huy 7 tỉnh
ở mặt trận phía Nam
Các cơ sở kinh tế, quốc phòng quan trọng ở các tỉnh cực Nam Trung Bộ được di chuyển đến những nơi an toàn Các xưởng sửa chữa và sản xuất vũ khí từng bước được xây dựng
Từ hạ tuần tháng 10-1945, chiến sự bắt đầu lan tới các tỉnh Nam Trung Bộ Quân Pháp
đã vấp phải tinh thần chiến đấu của quân ta, quân Pháp bị chặn đứng ở nhiều nơi như Nha Trang, Tuy Hòa, Buôn Ma Thuột…
Sau 4 tháng chiến đấu anh dũng, với sự chi viện của nhiều đơn vị Nam tiến, bộ đội Nam Trung Bộ đã hoàn thành nhiệm vụ trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến, tiêu diệt được hàng ngàn tên địch, thu nhiều vũ khí
Cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống thực dân Pháp ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã ngăn chặn từng bước tiến công của địch, hạn chế âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng Góp phần bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng, tạo điều kiện cho cả nước có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng về mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc về sau
1.4.2 Thực hiện “Hòa để tiến”
1.4.2.1 Pháp và Tưởng câu kết với nhau chống lại cách mạng Việt Nam
Đầu năm 1946, về cơ bản thực dân Pháp đã làm chủ được Nam Bộ và Nam Trung Bộ, khống chế vùng nông thôn ở Lào, chiếm hầu hết Campuchia
Ngày 29-1-1946, quân Anh rút khỏi Sài Gòn và đến ngày 5-3-1946, quân Anh rút khỏi Nam Đông Dương, nhường cho Pháp quyền chiếm đóng từ vĩ tuyến 16 trở vào
Âm mưu của Pháp là chuẩn bị lực lượng tiến quân ra miền Bắc, thôn tính cả nước ta nhưng chúng gặp nhiều khó khăn: quân số ít lại chưa bình định xong miền Nam Hơn nữa, đưa quân ra miền Bắc lúc này, chúng sẽ gặp phải hai trở lực lớn: một là, lực lượng kháng chiến của nhân dân ta, hai là, sự có mặt của quân Tưởng và tay sai ở miền Bắc
Tình hình đó buộc thực dân Pháp phải dùng đến thủ đoạn chính trị: một mặt, điều đình với Chính phủ Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh, mặt khác điều đình với Chính phủ Chủ tịch
Hồ Chí Minh để đưa quân đội ra miền Bắc Việt Nam một cách hợp pháp
Lúc này, Chính phủ Tưởng Giới Thạch đang gặp nhiều khó khăn: Hồng quân Trung Quốc đang phản công quyết liệt trên khắp các mặt trận ở lục địa Quân Trung Hoa dân quốc buộc phải rút khỏi miền Bắc Đông Dương về nước để củng cố lực lượng Các cuộc tiếp xúc giữa Pháp và Tưởng đã được diễn ra
Đến ngày 28-2-1946, hiệp ước Hoa – Pháp được kí kết ở Trùng Khánh với những nội dung sau:
Trang 24Hiệp ước Hoa – Pháp là sự chà đạp thô bạo đối với chủ quyền và nền độc lập tự do của
dân tộc Việt Nam
1.4.2.2 Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946)
Hiệp ước Hoa – Pháp đã đặt nhân dân ta trước lựa chọn một trong hai con đường:
- Một là, cầm vũ khí chiến đấu chống thực dân Pháp, không cho chúng đổ bộ lên miền Bắc
- Hai là, hòa hoãn, nhân nhượng Pháp để nhanh chóng đuổi quân Tưởng ra khỏi miền Bắc nước ta
Ngày 3-3-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp do Hồ Chí Minh chủ trì, đã chọn
giải pháp “hòa để tiến”, nhằm mục đích sau:
- Quân Tưởng rút về nước ngay, tránh được tình thế một lúc phải chống với nhiều kẻ thù
- Bảo toàn thực lực, tranh thủ thời gian hòa hoãn để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn
Lập trường đàm phán của ta là: độc lập nhưng liên minh với Pháp để Pháp phải thừa nhận quyền dân tộc tự quyết của dân ta: chính phủ, quân đội, nghị viện, tài chính, ngoại giao…
và sự thống nhất quốc gia của ta Còn về phía ta, có thể công nhận cho Pháp được đóng quân tạm thời và có hạn trên đất nước ta
Ngày 5-3-1946, Hội nghị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tại làng Canh,
Hà Đông) nhất trì tán thành chủ trương “hòa để tiến” của Ban Thường vụ Trung ương Đảng
Chiều ngày 6-3-1946, tại ngôi nhà 38 Lý Thái Tổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kí với G Xanhtơni – đai diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ
bộ, đặt cơ sở cho cuộc đàm phán giữa hai bên để đi đến một hiệp định chính thức
Nội dung cơ bản của hiệp định Sơ bộ
- Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do ở trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội
và tài chính riêng Sự thống nhất đất nước do trưng cầu dân ý quyết định
- Vấn đề thống nhất ba kì được Chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận
- Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào thay thế quân Tưởng Số quân này phải đóng ở những nơi do hai bên thống nhất quy định và sẽ rút khỏi Việt Nam trong 5 năm, mỗi năm rút 1-5 số quân
- Quân đội hai bên ngừng bắn và ở nguyên vị trí Các cuộc đàm phán tiếp theo sẽ được tiến hành tại một trong ba nơi: Hà Nội, Sài Gòn hoặc Pari
Trang 2525
Kí hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 là một bước “hòa để tiến” của Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đây là một chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng và Chính phủ ta và nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách mạng nước ta lúc bấy giờ, đó là:
- Ta đã nhanh chóng đẩy được quân Tưởng về nước, tránh được một kẻ thù nguy hiểm, quét được bọn tay sai phản động, tránh được cuộc chiến đấu bất lợi cho ta
- Tranh thủ thời gian hòa hoãn để củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp
- Tạm thời ngăn chặn được âm mưu mở rộng chiến tranh xâm lược ra toàn quốc của thực dân Pháp, buộc Pháp phải công nhận Chính phủ của ta
- Về mặt pháp lí, Chính phủ Pháp đã phải thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, không còn là thuộc địa của Pháp nữa
1.4.2.3.Tạm ước 14-9-1946
Sau khi kí Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, Chính phủ và nhân dân Việt Nam thi hành nghiêm chỉnh mọi điều khoản đã kí kết Ngày 9-3-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị “hòa để tiến”, vạch rõ lí do vì sao ta kí với Pháp Hiệp ước Sơ bộ và đề ra những việc cần làm sau khi hiệp định được kí kết:
- Giải thích ý nghĩa hiệp định, chống mọi nhận thức và tư tưởng sai lệch đối với việc kí kết
- Chuẩn bị kháng chiến lâu dài, đề phòng Pháp bội ước
- Đấu tranh với Tưởng đề phòng chúng cố tình kéo dài thời hạn đóng quân trên miền Bắc
- Đề phòng các đảng phái phản động xuyên tạc, phá hoại
- Chỉ đạo miền Nam gây dựng lại cơ sở đã mất và cổ động phong trào đòi thống nhất Bắc
- Trung - Nam
Trong khi đó, thực dân Pháp sớm lộ rõ dã tâm phá hoại Hiệp định Ngày 9-3-1946, quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng và đóng trái phép ở Bến Bính Ở miền Nam, thực dân Pháp không những không ngừng bắn mà còn tiếp tục cho quân càn quét, đánh úp nhiều vị trí của bộ đội ta ở Đồng Tháp Mười, Bình Thuận, Phan Rang… Với ý đồ tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, thực dân Pháp thành lập Chính phủ Nam Kì tự trị (1-6-1946) do Nguyễn Văn Thinh cầm đầu
Ngày 24-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp Cao ủy Pháp Đácgiăngliơ trên chiến hạm Pháp tại vịnh Hạ Long Tại cuộc gặp gỡ này và các lần trao đổi tiếp theo, phía Pháp đồng ý để một phái đoàn Quốc hội Việt Nam sang thăm Pháp Việt Nam đồng ý họp Hội nghị trù bị tại
Đà Lạt và sau hội nghị trù bị, một phái đoàn Chính phủ Việt Nam sẽ sang thăm Pháp đàm phán
và kí một hiệp định chính thức Chính phủ Pháp cũng mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm chính thức nước Pháp trong dịp đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam sang thăm Pháp đàm phán
Từ ngày 9-4 đến ngày 11-5-1946, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do Nguyễn Tường Tam – Bộ trưởng Bộ Ngoại giao làm trưởng đoàn và đoàn đại biểu Pháp do Max André làm trưởng đoàn đã họp Hội nghị trù bị tại Đà Lạt để trao đổi các vấn đề phải giải quyết trong cuộc đàm phán chính thức
Trang 26Hội nghị đàm phán họp tại Phôngtennơblô từ ngày 6-7 đến ngày 10-9-1946 Hội nghị đã bàn các vấn đề: địa vị của Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp và những mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước, tổ chức Liên bang Đông Dương, vấn đề thống nhất ba kì và việc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ, những vấn đề kinh tế, văn hóa và soạn thảo dự án Hiệp ước Cuộc đàm phán kéo dài hơn 2 tháng, cuối cùng đã không đi đến thỏa thuận nào do lập trường hai bên khác xa nhau
Trong khi đó, tại Việt Nam, thực dân Pháp tăng cường khiêu khích Quan hệ Việt – Pháp căng thẳng Nguy cơ một cuộc chiến tranh đang đến gần Cần có một quyết định nhanh chóng nhằm kéo dài thêm thời gian hòa hoãn để xây dựng, củng cố lực lượng cách mạng; đồng thời làm cho nhân dân Pháp, nhân dân thế giới thấy rõ thiện chí hòa bình của Việt Nam và dã tâm xâm lược của thực dân Pháp Chính vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí với đại diện Chính
phủ Pháp là Mutê bản Tạm ước ngày 14-9-1946
Nội dung cơ bản của bản Tạm ước gồm những điểm chủ yếu sau:
- Chính phủ Việt Nam và chính phủ Pháp cam kết tiếp tục chính sách hợp tác như Hiệp định Sơ bộ đã nêu, tiếp tục cuộc đàm phán sẽ được triển khai chậm nhất vào tháng Giêng 1947
- Chính phủ Việt Nam đảm bảo các quyền tự do dân chủ, quyền lợi kinh tế - văn hóa của người Pháp ở Việt Nam
- Chính phủ Pháp sẽ đình chỉ xung đột ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, bảo đảm các quyền tự
do dân chủ cho nhân dân
- Việt Nam và Pháp thả hết tù chính trị, chấm dứt tuyên truyền không thân thiện
- Việc trưng cầu dân ý do hai bên quy định thời gian và cách thức
Tạm ước 14-9-1946 là sự nhân nhượng cuối cùng của ta nhằm cứu vãn tình thế khó khăn của đất nước lúc bấy giờ Việc kí Tạm ước đã tạo điều kiện cho ta kéo dài thời gian hòa hoãn
để xây dựng, củng cố lực lượng, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Pháp
1.4.2.4 Tận dụng khả năng hòa hoãn chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Sau ngày kí kết Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước, tranh thủ thời gian hòa hoãn, Chính phủ và nhân dân ta ra sức củng cố, xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến sắp tới
Ở miền Nam, cán bộ, bộ đội tiến mạnh vào các vùng tạm bị địch chiếm, tổ chức phát triển lực lượng vũ trang địa phương và chiến tranh du kích Phong trào đấu tranh nhằm khôi phục chính quyền nhân dân và các đoàn thể quần chúng cũng diễn ra mạnh mẽ Phong trào đấu tranh của nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ từ sau ngày 6-3-1946 đến cuối năm phát triển mạnh mẽ, liên tục, toàn diện và giành được nhiều thắng lợi to lớn
Trang 2727
Tại Nam Bộ, chính quyền cách mạng được xây dựng và củng cố trên 1.000 xã trong tổng
số 1.234 xã Vùng giải phóng ở nông thôn được mở rộng gấp nhiều lần so với trước ngày
6-3-1946 Hệ thống căn cứ địa kháng chiến hình thành, nối liền từ xứ xuống khu, tỉnh, huyện nhất
là ở Đông Nam Bộ Lực lượng vũ trang ba thứ quân cũng phát triển…
Ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, nhiều căn cứ du kích hình thành Ngoài các đơn vị bộ đội tập trung ở vùng tự do Khu V, đến tháng 7-1946, ở cực Nam Trung Bộ đã hình thành được
4 trung đoàn chủ lực và 1 tiểu đoàn ở Tây Nguyên, gồm hầu hết các chiến sĩ là người dân tộc thiểu số
Ở miền Bắc, quân và dân ta ra sức xây dựng và phát triển lực lượng mọi mặt Khối đoàn kết toàn dân không ngừng được mở rộng, nhất là sau khi thành lập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam Vệ quốc đoàn chính thức trở thành Quân đội quốc gia của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (22-5-1946) Bên cạnh lực lượng vũ trang thường trực, Chính phủ còn quan tâm xây dựng lực lượng bán vũ trang Đến cuối năm 1946, Việt Nam có trên 8 vạn bộ đội thường trực và gần
1 triệu dân quân, tự vệ ở hầu khắp các địa phương, từ thành thị đến nông thôn… Các trường đào tạo cán bộ chính trị, quân sự được thành lập: Tháng 3-1946, mở trường Quân chính Bắc Sơn, tháng 5-1946, mở Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, tháng 6-1946, mở trường Lục quân Quảng Ngãi
Trải qua hơn một năm đấu tranh bảo vệ và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, những khó khăn ban đầu đã được đẩy lùi Tiềm lực của Nhà nước cách mạng được tăng cường một bước, tạo nên thế và lực mới cho toàn dân ta bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong cả nước Có được những thắng lợi đó là do toàn dân ta đoàn kết chặt chẽ thực hiện sự nghiệp “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc” dưới sự lãnh đạo của Đảng
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Sau Cách mạng Tháng 8-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước những thuận lợi và khó khăn gì?
2 Tại sao Pháp và Tưởng ký Hiệp ước Hoa – Pháp? Đảng và Chính phủ ta đã thực hiện sách lược gì trước tình thế do Hiệp ước đó đặt ra?
3 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết mối quan hệ Việt – Pháp bằng con đường hòa bình như thế nào từ ngày 6-3-1946 đến trước ngày 19-12-1946?
4 Đảng ta đề ra chủ trương gì để giải quyết khó khăn sau Cách mạng tháng Tám 1945?
5 Những thành tựu cơ bản trong việc xây dựng hệ thống chính quyền nhân dân và pháp
luật sau Cách mạng tháng Tám 1945 như thế nào? Ý nghĩa của những thành tựu đó?
6 Những thành tựu cơ bản trong việc khắc phục nạn đói, khôi phục và bước đầu xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ sau Cách mạng tháng Tám 1945 như thế nào? Ý nghĩa của
những thành tựu đó?
7 Những thành tựu cơ bản về giáo dục và văn hóa sau Cách mạng tháng Tám 1945 như
thế nào? Ý nghĩa của những thành tựu đó?
8 Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc sau Cách mạng tháng Tám 1945, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chủ trương và hành động cụ thể như thế nào?
Trang 2811 Vì sao Đảng và Chính phủ ta lại có chủ trương hòa hoãn, nhân nhượng với quân Tưởng? để thực hiện chủ trương này, Đảng và Chính phủ ta đã có những biện pháp cụ thể như thế nào? Ý nghĩa của nó?
12 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ diễn ra như thế nào?
13 Chủ trương của Đảng và Chính phủ trong việc đối phó với giặc ngoại xâm và phản động từ ngày 2-9-1945 đến 19-12-1946 như thế nào?
14 Vì sao Chính phủ ta phải thực hiện sách lược hòa hoãn với Pháp bằng việc ký Hiện định Sơ bộ 6-3-1946 và bản Tạm ước 14-9-1946 ? Nội dung của Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước như thế nào? Nó có ý nghĩa gì?
Trang 2929
Chương 2: SỰ BÙNG NỔ VÀ TIẾN TRIỂN CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN
QUỐC (1946-1950)
2.1 Kháng chiến toàn quốc bùng nổ
2.1.1 Thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị thực hiện “cái kịch bản” đảo chính ở Hà Nội
Sau khi kí Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-9-1946), ta đã nghiêm chỉnh thực hiện đúng những nội dung đã kí kết trong Hiệp định và Tạm ước, còn thực dân Pháp đã bội ước Chúng tìm mọi cách phá hoại, đẩy mạnh việc chuẩn bị xâm lược nước ta một lần nữa Thực dân Pháp đã trắng trợn phá họa làm cho cuộc dàm phán ngoại giao giữa Việt Nam
và Pháp không đạt được kết quả Chúng lập ra cái gọi là “Chính phủ Nam Kì tự trị” (1-6-1946)
do Nguyễn Văn Thinh cầm đầu, nhằm tách Nam Kì ra khỏi Việt Nam thống nhất
Các cuộc hành binh lấn chiếm của Pháp diễn ra liên tục ở Nam Bộ và Bắc Trung Bộ Ngày 20- 11-1946, thực dân Pháp đánh chiếm Hải Phòng và Lạng Sơn, hai cửa ngõ đường bộ quan trọng và đường thủy ở Bắc Việt Nam Quân đội Pháp đánh chiếm Hải Phòng và Lạng Sơn là màn diễn đầu tiên của một “kịch bản của cuộc đảo chính” mà Vally là tác giả Đầu tháng 12-1946, tình hình nghiệm trọng hơn Thực dân Pháp đã tăng thêm quân, chiếm đóng trái phép ở Đà Nẵng và Hải Dương, đưa thêm viện binh đến Hải Phòng, mở rộng đánh chiếm Đồ Sơn (Hải Phòng), Đình Lập (Lạng Sơn)
Sau nhiều lần tăng viện, đến cuối năm 1946, đội quân viễn chinh Pháp trên chiến trường Đông Dương lên tới hơn 90.000 tên, gồm 36 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn pháo binh, 3 trung đoàn thiết giáp và cơ giới, hơn 100 máy bay và nhiều tàu chiến Chúng đóng quân tại một số vị trí chiến lược trọng yếu trên đất nước ta
Dựa vào sự giúp đỡ của Anh và Mỹ, từ khi đưa quân ra miền Bắc theo quy định của hiệp định Sơ bộ, thực dân Pháp nuốt lời hứa, ráo riết thực hiện âm mưu mở rộng chiến tranh Sau khi chiếm được Tây Nguyên, một phần vùng Đông Bắc, Tây Bắc và tiến công Hải Phòng, Lạng Sơn, chúng chuẩn bị gây hấn ở Hà Nội với mục đích nắm lấy quyền quản lí thủ đô nước
ta, hòng “vô hiệu hóa tức thì Chính phủ Hồ Chí Minh” Với mưu đồ ấy, 6.500 linh viễn chinh được bố trí thành những cũm quân cơ động, chiếm giữ những vị trí bịt cửa ngõ thành phố, sẵn sàng đánh úp chiếm gọn các cơ quan đầu não của ta tại Thủ đô Hà Nội
Song song với những hành động quân sự, thực dân Pháp còn thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc về chính trị Ở Tây Bắc, chúng tổ chức bọn tay sai phản động chống lại cách mạng Tại một số địa phương chúng tìm cách liên lạc, móc nối những tên tay sai trong bộ máy cai trị cũ, tập hợp những phần tử phản động cầm đầu trong các tôn giáo chống lại chính quyền dân chủ nhân dân Để chuẩn bị cho việc thực hiện âm mưu xâm lược toàn diện theo chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, thực dân Pháp ráo riết tìm mọi cách nắm tình hình mọi mặt ở miền Bắc, nhất là lực lượng quân sự và khả năng phòng thủ của ta
Đầu tháng 12-1946, quân Pháp tiếp tục khiêu khích ở nhiều nơi, nhất là ở Hà Nội
Trong khi khẩn trương chuẩn bị kháng chiến, Chính phủ ta vẫn kiên trì đấu trang ngoại giao với Chính phủ Pháp, cố gắng đẩy lùi chiến tranh Ngày 6-12, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu
Trang 3030
gọi Quốc hội và Chính phủ Pháp ra lệnh cho quân viễn chinh rút về các vị trí trước ngày
20-11-1946 Giới cầm quyền Pháp không trả lời Ngày 15-12, sau khi Lêông Bơlum lên làm Thủ tướng Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại gửi thông điệp yêu cầu giải quyết các bế tắc trong mối quan hệ Việt – Pháp Chính phủ Pháp vẫn làm ngơ, tỏ rõ thái độ tán thành chính sách duy trì sự có mặt của nước Pháp ở Đông Dương
Ngày 16-12, Đácgiăngliơ đòi khôi phục lại các hiệp ước 1883 và 1884 mà triều đình nhà Nguyễn đã kí với Pháp Y trắng trợn tuyên bố: “Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng là lãnh thổ của nước Pháp”
Tại Hà Nội, trưa ngày 17-12, thực dân Pháp cho xe phá các công sự của ta tại Lò Đúc, đồng thời gây ra vụ thảm sát đẫm máu ở phố Hàng Bún và Yên Ninh Trưa ngày 18-12, Pháp gứi tối hậu thư đòi chiếm Sở tài chính và nhà viên Giám đốc Sở giao thông; đòi ta phá bỏ công
sự và vật chướng ngại trên đường phố Chiều ngày 18-12, chúng lại gửi tối hậu thư đòi được quyền kiểm soát Thủ đô và đe dọa : đến sáng 20-12, những điều đó không được chấp nhận thì
quân Pháp sẽ chuyển sang hành động
Ngọn lửa chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp bùng cháy trên toàn quốc là điều không thể tránh khỏi nữa vì Pháp quyết châm ngòi lửa chiến tranh vào ngày 20-12-1946 trong bất cứ giờ phút nào
2.1.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động toàn quốc kháng chiến và đường lối kháng chiến của Đảng
2.1.2.1 Hồ Chí Minh phát động toàn quốc kháng chiến
Những hành động khiêu khích, xâm lược của thực dân Pháp xâm phạm nghiêm trọng đến độc lập, chủ quyền nước ta, gây sự căm phẫn tột độ trong nhân dân ta Tình thế cấp bách đòi hỏi Đảng, Nhà nước – đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh phải có một sự lựa chọn lịch sử, phải kịp thời có một quyết định chiến lược để xoay chuyển vận nước đang lâm nguy
Ngày 17-12-1946, Hội đồng Chính phủ đã họp với sự có mặt của Trưởng ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp đã báo cáo tình hình quân sự diễn ra ở Hải Phòng, Lạng Sơn, Đà Nẵng cùng âm mưu mở rộng chiến tranh ở Hà Nội và các nơi khác của thực dân Pháp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo cáo với Hội đồng Chính phủ và Thường trực Quốc hội để thống nhất quyết định phát động cuộc kháng chiến trong toàn quốc
Ngày 18 và 19-12-1946, tại làng Vạn Phúc – Hà Đông, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Hội nghị nhận định: Âm mưu của Pháp mở rộng chiến tranh xâm lược chuyển sang một bước mới, thời kì hòa hoãn đã qua, khả năng hòa bình không còn nữa Trên cơ sở đó hội nghị quyết định phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trong cả nước và vạch ra những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến
Sáng ngày 19-12-1946, thực dân Pháp gửi tiếp cho Chính phủ ta một tối hậu thư đòi tước
vũ khí của tự vệ, đòi đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị kháng chiến và để cho quân Pháp làm nhiệm vụ giữ trật tự trong Thủ đô Hà Nội
Trang 31Tiếng súng kháng chiến ở thủ đô Hà Nội nhanh chóng lan rộng ra cả nước
Đêm ngày 19-12-1946, giữa lúc kháng chiến toàn quốc đang rền vang ở Hà Nội và toàn
quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” chống thực dân Pháp và được truyền đi cả nước Người kêu gọi: “Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hòa bình,
chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa…”
Tiếp đến ngày 21-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và nhân dân các nước Đồng minh để cho thế giới biết rõ mục đích và quyết tâm đấu tranh vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi của non sông đất nước, động thấu trái tim và khối óc của mọi người Việt Nam yêu nước, khơi dậy mạnh mẽ chủ nghĩa dân tộc, truyền thống anh hùng bất khuất, làm cho cả nước đứng lên chiến đấu bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí
có sẵn, với một ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định:
“Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến có giá trị như một bản cương lĩnh kháng chiến mang tính khái quát cao, chứa đựng tư tưởng, tình cảm, quan điểm, đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, lâu dài, tự lực cánh sinh và nhất định thắng lợi
2.1.2.2 Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng
Những vấn đề được nêu trong bản Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” (25-11-1945), “Nghị
quyết Quân sự toàn quốc của Đảng” (19-10-1946) và văn kiện “Những việc khẩn cấp bây giờ” đã đặt cơ sở cho sự hình thành đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng ta
Bản chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Ban thường vụ Trung ương Đảng (12-12-1946)
Chỉ thị nêu rõ mục đích, tính chất, chương trình của cuộc kháng chiến Tuy chưa hoàn chỉnh nhưng những nội dung đó là những vấn đề thiết yếu cơ bản nhất để lãnh đạo, dẫn dắt toàn dân, toàn quân ta trong quá trình kháng chiến
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-12-1946), khẳng định
thiện chí, nguyện vọng hòa bình, quyết tâm kháng chiến và niềm tin tất thắng của nhân dân ta; đồng thời nêu lên tư tưởng cơ bản của đường lối chiến tranh nhân dân
Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi ” của Tổng bí thư Trường Chinh, xuất bản
tháng 9-1947 Đây là một văn kiện quan trọng của Đảng ta, góp phần tổ chức, giáo dục động viên quân và dân ta bước vào cuộc kháng chiến thắng lợi; đồng thời phân tích một cách khoa
Trang 32“Toàn dân kháng chiến” và tác phẩm “kháng chiến nhất định thắng lợi” Tất cả những văn kiện
đó đã thể hiện đường lối kháng chiến của Đảng là “toàn dân, toàn diện, trường kì và tự lực
cánh sinh”
Đường lối này thể hiện tính chất của cuộc kháng chiến của nhân dân ta:
- Cuộc kháng chiến của ta là một cuộc chiến tranh cách mạng chính nghĩa chống lại một cuộc chiến tranh phi nghĩa của thực dân Pháp
- Cuộc kháng chiến của ta nhằm mục đích: giành độc lập và thống nhất Tổ quốc, bảo vệ chính quyền nhân dân
- Trong cuộc kháng chiến này, dân tộc Việt Nam vừa đấu tranh để tự cứu mình, vừa đấu tranh cho hòa bình thế giới Cuộc kháng chiến của Việt Nam do đó còn là một cuộc đấu tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, vì dân chủ và hòa bình
Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến
+ Kháng chiến toàn dân:
Đây là nội dung cơ bản của chiến tranh nhân dân chống thực dân Pháp xâm lược, là tư tưởng xuyên suốt, chỉ đạo mọi kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng Cách mạng, kháng chiến là sự nghiệp của toàn dân Phải động viên giáo dục và tổ chức toàn dân tham gia kháng chiến, kháng chiến khắp nơi, thực hiện khẩu hiệu “Mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã
là một pháo đài” Với đường lối kháng chiến toàn dân, chúng ta sẽ tạo được thế trận cả nước cùng đánh giặc
+ Kháng chiến toàn diện:
Chiến tranh là cuộc đọ sức toàn diện giữa hai bên tham chiến Đảng chủ trương tiến hành kháng chiến toàn diện, nghĩa là tiến hành đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội… nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn để đánh thắng cuộc chiến tranh tổng lực của thực dân Pháp
Để thực hiện mục đích chính trị của cuộc kháng chiến, phải đẩy mạnh mặt trận quân sự nhằm: tiêu diệt lực lượng của địch trên đất nước ta, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng, giành lại toàn bộ đất nước
+ Kháng chiến lâu dài:
Đây là một chủ trương vô cùng sáng suốt của Đảng ta, dựa trên sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta; đồng thời cũng kế thừa và phát huy truyền thống “lấy yếu đánh mạnh, lấy ít địch nhiều” của dân tộc ta Do tương quan lực lượng giữa ta
và địch còn chênh lệch nên phương châm chiến lược của toàn bộ cuộc kháng chiến là đánh lâu dài, không phải đánh mau, giải quyết chóng
Kháng chiến lâu dài với tư tưởng chiến lược nhất quán – tư tưởng tiến công, là chiến lược của chiến tranh nhân dân Việt Nam nhằm đánh thắng kẻ thù có ưu thế về kinh tế và quân
Trang 3333
sự Trong quá trình kháng chiến, Đảng ta chủ trương vừa đánh vừa bồi dưỡng sức dân, vừa đánh vừa chuyển hóa so sánh lực lượng giữa ta và địch; đồng thời tận dụng những chuyển biến của tình hình quốc tế có lợi cho cuộc kháng chiến, giành thắng lợi từng bước, đánh bại từng kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn
Đảng dự đoán cuộc kháng chiến lâu dài của nhân dân ta sẽ trải qua ba giai đoạn: phòng ngự, cầm cự, tổng phản công Phương châm tác chiến là tích cực tiến công, giải quyết mau từng trận địa, dùng cách đánh du kích, đánh vận động và có thể đánh trận địa…
Về chính trị, phải đoàn kết toàn dân, thực hiện quân dân nhất trí, làm cho Mặt trận dân tộc thống nhất ngày càng rộng rãi và vững mạnh Phải củng cố chế độ dân chủ cộng hòa, xây dựng bộ máy kháng chiến vững mạnh, thống nhất quân, chính, dân trong toàn quốc, phát triển các đoàn thể cứu quốc, củng cố bộ máy lãnh đạo kháng chiến toàn dân
Về kinh tế, là xây dựng nền kinh tế kháng chiến theo nguyên tắc vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tự cung tự cấp về mọi mặt, phá hoại kinh tế của địch, xây dựng kinh tế của ta Kinh
tế kháng chiến về hình thức là kinh tế chiến tranh, về nội dung là dân chủ mới, chú trọng phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp
Về văn hóa, có hai nhiệm vụ: xóa bỏ nền văn hóa ngu dân nô dịch của thực dân và xây dựng nền văn hóa dân chủ mới cho nước nhà, dựa trên ba nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa Tất cả mọi hoạt động văn hóa lúc này phải nhằm vào khẩu hiệu “Yêu nước
và căm thù!”
+ Kháng chiến tự lực cánh sinh:
Tự lực cánh sinh là một trong những nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến, xuất phát từ quan điểm quần chúng, tin vào khả năng cách mạng và sức mạnh to lớn của quần chúng Đường lối đó cũng bắt nguồn từ thực tế lịch sử của đất nước trong những năm đầu kháng chiến Chỉ có tự lực cánh sinh mới phát huy được mọi khả năng tiềm tang trong quần chúng; đồng thời mới tranh thủ có hiệu quả sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới Đường lối kháng chiến do Đảng và Chính phủ vạch ra là sự vận dụng tài tình và sáng tạo những nguyên lí của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam Đó cũng là sự
kế thừa và phát huy ở trình độ cao những kinh nghiệm đấu tranh giữ nước của dân tộc ta Đường lối kháng chiến đó là nguồn gốc dẫn đến mọi thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Đường lối kháng chiến của Đảng được hoàn chỉnh hơn trong quá trình kháng chiến, đặc biệt là tại Đại hội lần thứ II (1951)
2.2 Xây dựng nền dân chủ cộng hòa
2.2.1 Tổ chức tản cư, tổng di chuyển cơ quan, máy móc, kho tàng
Ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân công phạm
Văn Đồng cùng một số cán bộ ở lại Việt Bắc một thời gian để củng cố căn cứ địa
Cuối tháng 10-1946, sau khi từ Pháp trở về nước biết chiến tranh không thể tránh khỏi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ cho Nguyễn Lương Bằng trở lại Việt Bắc chuẩn bị xây dựng căn cứ địa kháng chiến
Trang 3434
Tháng 11-1946, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đội công tác đặc biệt do Trần Đăng Ninh phụ trách Từ giữa tháng 12-1946, một số cán bộ của Đội công tác đặc biệt lần lượt lên Việt Bắc làm nhiệm vụ
Trong công tác bảo vệ căn cứ địa ta đặc biệt chú ý đảm bảo an toàn tuyệt đối cho bộ máy đầu não lãnh đạo kháng chiến Sau đó, ta bắt tay vào việc xây dựng căn cứ địa về mọi mặt như xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang, sản xuất lương thực, thực hiện công tác văn hóa – giáo dục…
Sau vụ thực dân Pháp gây xung đột ở Hải Phòng và Lạng Sơn, công việc chuẩn bị cho các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận rời khỏi thủ đô Hà Nội được đẩy mạnh, đợt tổng di chuyển được bắt đầu
Một trong những nhiệm vụ cấp bách trước mắt là phải tổ chức đồng bào tản cư khỏi đô thị, các vùng đang xảy ra chiến sự, tranh để dân tổn thất về sinh mạng khi chiến sự xảy ra, thực hiện khẩu hiệu “vườn không nhà trống”
Ngày 31-12-1946, Ủy ban tản cư, di cư Trung ương đã được thành lập Các kì, tỉnh , huyện, làng đều lần lượt tổ chức Ủy ban tản cư Ở Bắc Bộ, Ủy ban tản cư đã được thành lập với ngân quỹ 30 triệu đồng Ở Trung Bộ trong năm 1947, hơn 8 vạn đồng bào tản cư đã có chỗ
ở và việc làm Nhiều nơi đã lập lại trại sản xuất cho đồng bào tản cư Tản cư cũng là kháng chiến
Cùng với việc tản cư, công tác phá bỏ các đô thị, thành phố, các công trình kiên cố địch
có thể lợi dụng để trú quân, chiếm đóng; việc đào phá giao thông lớn, cầu cống… để ngăn cản quân địch di chuyển trong các cuộc tấn công đã được toàn dân tích cực thực hiện Công tác phá hoại nhằm mục đích:
- Ngăn chặn đường tiếp tế, thông tin liên lạc của địch
- Khiến cho địch không tận dụng được vật lực của ta phục vụ kháng chiến
Nhân dân ta tự tay mình phá sập xí nghiệp, nhà cửa, hầm mỏ; đào hào, đắp ụ; dựng vật cản trên các đường giao thông thủy, bộ Nhiều thành phố, thị xã biến thành bình địa, biểu thị sức mạnh phi thường của ý chí quyết tâm kháng chiến và niềm tin tất thắng của nhân dân ta
Tư tưởng chỉ đạo là phá cho rộng, phá cho sâu, phá cho bọn Pháp không lợi dụng được
Kể từ tháng 12-1946 đến ngày 31-8-1947, chúng ta đã phá dỡ được 1.536 km đường sắt, 7.455 m cầu, 59.100 ngôi nhà kiên cố, 84 đầu máy và 868 toa tàu hỏa Đây là một sự hy sinh lớn của nhân dân ta, thể hiện quyết tâm kháng chiến
Việc phá hoại đường sá, cầu cống, nhà cửa kiên cố có tác dụng hạn chế rất nhiều đối với những hoạt động của các loại xe cơ giới, thiết giáp của đối phương, làm cho chúng gặp nhiều khó khăn trở ngại trong việc chuyển quân, càn quét, tấn công ra vùng tự do, vào hậu phương kháng chiến Đây là một chủ trương đúng, song trong việc thực thi, có nơi phá hoại một cách tràn lan làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước và nhân dân Ngược lại, có nơi chưa tích cực thực hiện, Ban phá hoại tuy được thành lập nhưng chưa hoạt động
Cuộc tổng di chuyển cơ quan, đặc biệt là các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội…, máy móc, kho tang… được tiến hành khẩn trương để bảo toàn lực lượng kháng chiến lâu dài
Trang 3535
Nhiệm vụ kế hoạch bảo toàn cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước đã sớm được chuẩn
bị Cuối tháng 12-1946, các cơ quan Trung ương lần lượt rời khỏi Hà Nội về phía tây nam, chuyển đến địa phận các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, trong đó làng Vạn Phúc là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cơ quan làm việc Đến đầu năm 1947, sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng
nổ, cơ quan làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Trung ương đã di chuyển dần lên Việt Bắc Từ đó, Việt Bắc trở thành “thủ đô” của cuộc kháng chiến Việc di chuyển kịp thời và an toàn các cơ quan lãnh đạo kháng chiến, trước hết là các cơ quan Trung ương là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược
Các nhà máy, xí nghiệp khẩn trương chuyển máy móc, dụng cụ sản xuất, nguyên vật liệu
về hậu phương trong điều kiện cực kì khó khăn vì thiếu phương tiện cơ giới vận chuyển Không có cơ giới, công nhân phải sử dụng các phương tiện thô sơ như xe thồ, xe trâu, thuyền mảng, song chủ yếu phải dùng đôi vai để mang vác Theo thống kê của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, chỉ trong thời gian rất ngắn đầu cuộc kháng chiến, công nhân ở các ngành, các địa phương đã tham gia vận chuyển 733 chiếc máy với trọng lượng lên đến 6.714 tấn, vượt qua quãng đường dài 7.768km, đã có 37 công nhân hi sinh vì nhiệm vụ Số máy móc, nguyên vật liệu chuyển về hậu phương không lớn về số lượng song đó là vốn rất quý để chúng ta xây dựng một số xí nghiệp phục vụ chiến đấu và dân sinh
Trong các nhu cầu vật chất phục vụ kháng chiến, vấn đề tích trữ muối và gạo được đặc biệt chú ý Ngay từ mùa hè năm 1946, các cơ quan chức năng đã chỉ thị thu mua muối từ đồng bằng ven biển lên căn cứ Nhờ có hàng vạn tấn muối được chuyển kịp thời lên Việt Bắc, Tây Bắc nên khi miền duyên hải bị chiếm đóng, hậu phương kháng chiến vẫn có một lượng muối
dự trữ cần thiết cho đời sống của cán bộ, bộ đội và nhân dân
Cũng ngay từ đầu cuộc kháng chiến, Chính phủ đã có nhiều biện pháp thu mua, bảo vệ, bảo quản thóc, gạo chu đáo Bộ Tài chính đặt kho trữ thoc, gạo phân tán ở nhiều nơi
2.2.2 Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, củng cố bộ máy nhà nước
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tăng cường đoàn kết toàn dân, thực hiện quân dân nhất trí, chống mọi âm mưu chia rẽ của thực dân Pháp, phá tan chính quyền bù nhìn tay sai, củng cố bộ máy nhà nước theo hướng tập trung thống nhất để điều hành chiến tranh
Các đoàn thể quần chúng như Tổng Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân Cứu quốc, Đoàn Thanh niên Cứu quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ… được củng cố chặt chẽ hơn về mặt tổ chức Thực hiện chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ương Đảng ngày 18-3-1948, tổ chức Công đoàn và phong trào công nhân được củng cố và phát triển Cán bộ hoạt động Công đoàn ở các cấp được bổ sung và tăng cường Ở vùng tự do, đến năm 1948, Công đoàn đã kết nạp được 168.142 đoàn viên, chiếm tỉ lệ 49% trong tổng số công nhân Ở các vùng bị địch chiếm đóng, các tổ chức cơ sở Công đoàn đã được đã được bí mật xây dựng, số đoàn viên được tổ chức chiếm tỉ lệ 20,5% số công nhân Đến đầu năm 1950, Tổng Liên đoàn Lao động có 241.720 đoàn viên Tổ chức công đoàn có vai trò quyết định trong việc động viên và tổ chức công nhân thi đua sản xuất, phát huy sáng kiến, cải tạo kĩ thuật
Ngày 1-1-1950, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã họp Đại hội tại Việt Bắc đã kiểm điểm tình hình tham gia kháng chiến đã qua và thảo luận nhiệm vụ trong giai đoạn mới Đại
Trang 36Để đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động và tổ chức nông dân phục vụ kháng chiến Hội nghị Cán bộ Nông dân Cứu quốc toàn quốc đã họp tại Việt Bắc từ ngày 28-11 đến ngày 7-12-1949
để kiểm điểm tình hình vận động nông dân đã qua và đề ra nhiệm vụ, phương hướng hoạt động nông dân, trước mắt là mở cuộc vận động lớn trong năm 1950: tăng gia sản xuất tự túc, nuôi dưỡng cán bộ, xây dựng hợp tác xã, hoàn thành giảm tô, giảm tức, đào tạo cán bộ, thanh toán nạn mù chữ
Hội nghị Cán bộ Nông dân Cứu quốc toàn quốc đánh dấu một bước tiến lớn trong lịch sử vận động nông dân ở nước ta
Công tác vận động và tổ chức phụ nữ được thực hiện theo hướng đơn giản về mặt tổ chức và thống nhất lực lượng phụ nữ Đoàn Phụ nữ Cứu quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phải được thống nhất lại làm một Hội Liên hiệp Phụ nữ vừa là một hội, vừa là một mặt trận Nhiệm vụ của hội là giáo dục, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng
và giải phóng phụ nữ
Công tác vận động thanh niên tiến triển mạnh mẽ Từ năm 1947 trở đi, các tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc, Liên đoàn Thanh niên Việt Nam, Tổng hội Sinh viên Việt Nam được củng cố và lần lượt mở đại hội Liên đoàn Thanh niên Nam Bộ được thành lập ngày 7-1-1947, Chi hội Sinh viên Nam Bộ được thành lập ngày 25-5-1947 Hệ thống tổ chức của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Nam Bộ thống nhất trong toàn xứ và Đại hội của xứ đoàn vào tháng 12-1947
Tổ chức Đoàn Nam Bộ lúc này đã có 237.789 đoàn viên Đây là một bước trưởng thành lớn của Đoàn Thanh niên Nam Bộ
Công tác vận động đoàn đoàn kết với giới trí thức, đoàn kết giữa các dân tộc và tôn giáo cũng được đẩy mạnh Tháng 10-1949, giặc Pháp mở rộng đánh chiếm vùng đồng bằng Bắc Bộ, cho quân nhảy dù xuống Phát Diệm (Ninh Bình), xâm phạm đến đất thánh của đồng bào công giáo ở Bắc Bộ Việt Nam, ráo riết gây chia rẽ tôn giáo Trong tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận đã không ngừng vạch trần âm mưu chia rẽ của kẻ thù, vận động giáo dục đồng bào theo đạo đoàn kết, ủng hộ và tham gia kháng chiến cứu nước, cứu mình và cứu đạo
Tổ chức Việt Minh và Liên Việt cũng được củng cố và tiến dần đến thống nhất Ngày 11-1948, Tổng bộ Việt Minh đề nghị hợp nhất hai mặt trận thành một tổ chức thống nhất gọi là Hội Liên Việt Biện pháp thống nhất được thực hiện từ cơ sở đến Trung ương Việt Minh và Liên Việt đã nhất trí với chủ trương trên
7-Các tổ chức của Mặt trận dân tộc thống nhất đã đi sâu vận động quần chúng ở vùng tự do cũng như vùng bị địch tạm chiếm, đấu tranh chống lại âm mưu chia rẽ của giặc Pháp trong việc tạo ra những cái gọi là “Xứ Nùng tự trị”, “Xứ Thái tự trị”, “Xứ Mường tự trị”; chống lại âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt”, đẩy mạnh phong trào thi đua trên tất cả các mặt trận kháng chiến
Trang 3737
Yêu cầu chỉ đạo và quản lí trong kháng chiến phải có bộ máy chính quyền tập trung, thống nhất chặt chẽ mới giải quyết mọi công tác kháng chiến được nhanh chóng, kịp thời Quốc hội đã giao quyền hành tập trung vào Chính phủ Trung ương Năm 1947, Chính phủ Trung ương được cải tổ để mời thêm một số tri thức, nhân trí tham gia nhằm thực hiện tính liên hiệp quốc dân rộng rãi hơn Tháng 7-1947, Chính phủ lập thêm Bộ Thương binh cựu binh doVũ Đình Tùng giữ chức Bộ trưởng
Chính phủ rất coi trọng việc quản lí và chỉ huy các lực lượng vũ trang Ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh 110/SL phong cấp Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp Đến tháng 7-1948, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp lại được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam Ngày 19-8-1948, Chủ tịch
Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh 206/SL thành lập Hội đồng Quốc phòng tối cao Ngày 25-7-1949, Phạm Văn Đồng được cử giữ chức Phó Thủ tướng và bổ sung giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao
Bộ máy chính quyền các cấp dần dần được kiện toàn Hội đồng nhân dân cấp xã và cấp tỉnh cũng được bầu lại Theo báo cáo của Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, năm 1949
ở Khu IX, trong tổng số 373 làng đã có 200 làng bầu Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Kháng chiến Như vậy, từ đầu năm 1947, từ cấp khu xuống đến xã, bên cạnh Ủy ban Hành chính còn
có Ủy ban Kháng chiến Sự tồn tại cơ chế hai chính quyền ở địa phương không tránh khỏi tình trạng cồng kềnh, chồng chéo, dẫm đạp lên nhau
Liên khu III gồm các tỉnh của khu II, III và khu XI hợp lại là Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình
Liên khu IV gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, được tổ chức thành phân khu Bình Trị Thiên
Liên khu V gồm các tỉnh của khu V, khu VI và khu XV là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng
Trang 3838
Ở Nam Bộ vẫn giữ ba khu cũ là các khu VII, VIII, và IX Đến tháng 5-1951, các khi đều giải thể, lấy sông Tiền làm ranh giới chia thành phân liên khu miền Đông, phân liên khu miền Tây và đặc khu Sài Gòn – Chợ Lớn Các tỉnh cạnh nhau có chung tính chất chiến trường được sáp nhập lại thành một tỉnh mới
Chính quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính quyền của dân, do dân và vì dân Vì vậy, trong quá trình kiện toàn bộ máy kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng rèn luyện đội ngũ cán bộ nhân viên Nhà nước Cán bộ nhân viên Nhà nước phải đem toàn bộ tinh thần cách mạng mà khắc phục các khuyết điểm như: địa phương chủ nghĩa, óc bè phái, óc quan liêu, vô kỉ luật, ích kỉ… và nêu cao ưu điểm, đồng tâm hiệp lực đoàn kết nội bộ, chấn chỉnh công tác
Để chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy, tháng 2-1950, Hội nghị Kháng chiến hành chính được
tổ chức, có đủ đại biểu Bắc, Trung, Nam về họp Bản quy chế công chức nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được áp dụng theo Sắc lệnh số 76-SL do chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 20-5-
1950 Đây là một bước tiến khá lớn về hành chính
Đảng – hạt nhân lãnh đạo kháng chiến đã được phát triển mạnh mẽ và trở thành một đảng có tính quần chúng Công tác phát triển Đảng được đẩy mạnh trong bộ đội, quân dân, trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước và cả trong các vùng sau lưng địch Đến cuối 1947, tổng số đảng viên
đã có trên 76.000 người Các cơ sở Đảng đã ăn sâu bám rễ trong nhân dân, Đảng đã được nhân dân thừa nhận là đội tiên phong có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam
2.2.3 Xây dựng, tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân
Khi cả nước bước vào kháng chiến, vấn đề xây dựng và phát triển lục lượng vũ trang trở thành một nhiệm vụ cấp bách, không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn đảm bảo cho kháng chiến lâu dài
Ngày 12-2-1947, Chính phủ ra sắc lệnh 16/SL thành lập Phòng Dân quân trực thuộc Cục chính trị
Ngày 19-2-1947 Bộ Quốc phòng ra thông tư quy định mọi công dân từ 18 đến 25 tuổi vào dân quân, tự vệ, du kích Từ mùa hè năm 1947 trở đi, hàng chục vạn người đã hăng hái gia nhập các đơn vị dân quân, du kích và tự vệ chiến đấu, hình thành một lực lượng to lớn “có tiến không thoái” Đến cuối năm 1949, trong cả nước số dân quân du kích đã có khoảng 1 triệu người, trong đó có hàng ngàn lão du kích được gọi là “bạch đầu quân” Đến cuối năm 1947, tại nhiều đại phương, ở các xã đã có từ 1 đến 2 trung đội dân quân tự vệ; ở huyện có từ 1 đến 2 trung đội du kích thoát li; ở tỉnh có từ 1 đến 2 đại đội du kích thoát li
Tháng 3-1947, Chính phủ quyết định đổi tên Bộ Tổng chỉ huy quân đội Quốc gia thành
Bộ Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ Việt Nam; đồng thời quyết định thành lập ban chỉ huy các Tỉnh đội, Huyện đội, Xã đội thuộc ủy ban kháng chiến các cấp
Cùng với phong trào gia nhập lực lượng dân quân du kích, phong trào xung phong tòng quân cũng diễn ra sôi nổi Chỉ trong mùa hè năm 1947, đã có 35.000 người tình nguyện nhập ngũ Từ 58.000 chiến sĩ trước ngày toàn quốc kháng chiến, đến mùa hè năm 1947, tổng số bộ
Trang 3939
đội chủ lực đã lên đến 125.000 quân, trong ddos có 57 trung đoàn và 19 tiểu đoàn độc lập Đây
là một bước tiến lớn của lực lượng vũ trang nhân dân của ta
Từ đầu năm 1948, với chủ trương phát triển mạnh mẽ chiến tranh du kích, chúng ta đã phát triển mạnh hơn nữa lực lượng dân quân du kích, đồng thời phân tán một bộ phận bộ đội chủ lực thành các đại đội, trung đội độc lập đi sâu vào các vùng bị địch chiếm đóng để phát triển phong trào chiến tranh du kích địa phương, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ nhân dân
Trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương xây dựng lực lượng bộ đội địa phương và phát triển dân quân Ngày 7-4-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh thành lập lực lượng bộ đội địa phương Bộ đội địa phương và bộ đội chính quy là hai bộ phận của Quân độ quốc gia Việt Nam Bộ đội địa phương là lực lượng có tính cách địa phương, có nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ địa phương, có trang bị và tự túc về cấp dưỡng
Đến cuối năm 1949, từ Liên khu IV trở ra, bộ đội địa phương đã có hơn 20.000 người Đến năm 1950, lực lượng bộ đội địa phương lên đêm 45.000 người Ở Nam Bộ và Nam Trung
Bộ đến đầu năm 1950, mỗi huyện có từ 1 đến 2 trung đội, mỗi tỉnh có từ 1 đến 2 đại đội
Ngày 28-8-1949, đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội Việt Nam – Đại đoàn 308 được thành lập Tiếp đến, Đại đoàn 304 được thành lập ngày 10-3-1950, Đại đoàn 312 được thành lập ngày 27-12-1950 và Đại đoàn 320 thành lập ngày 16-1-1951
Bộ Tổng tư lệnh cũng đã quyết định thành lập Cục Pháo binh (5-1949) và Cục Thông tin liên lạc (31-7-1949)
Thực hiện đường lối xây dựng lực lượng vũ trang đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trải qua một quá trình chiến đấu và xây dựng, lực lượng vũ trang của chúng ta đã hình thành ba thứ quân rõ rệt: dân quân du kích, bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực Lực lượng vũ trang ngày một trưởng thành từ phân tán đến tập trung, với các đại đoàn và trung đoàn chủ lực đảm nhận sứ mệnh đi tiên phong trên con đường vận động chiến
2.2.4 Kinh tế
Nền kinh tế nước ta vốn nghèo nàn lạc hậu do hậu quả của chế độ cũ, lại bị địch tăng cường phá hoại bằng mọi thủ đoạn tàn bạo, song nhu cầu của cuộc kháng chiến ngày càng lớn cho nên mặt trận kinh tế cũng không kém phần gay gắt Nhiệm vụ của nhân dân ta là phải xây dựng nền kinh tế kháng chiến có tính chất dân tộc, dân chủ, có khả năng tự cấp, tự túc, phục vụ những nhu cầu thiết yếu của nhân dân vùng tự do, đồng thời đáp ứng những nhu cầu ngày càng
lớn của chiến trường
Từ ngày 3 đến ngày 6-4-1947, Hội nghị Cán bộ Trung ương họp đề ra một chương trình kinh tế kháng chiến gồm hai mặt:
- Mặt tiêu cực: phá hoại kinh tế địch bằng cách tẩy chay và quân sự phá hoại; làm cho địch không kinh doanh, bóc lột được gì, không thực hiện được chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”
- Mặt tích cực: Xây dựng kinh tế của ta, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, lập nền kinh tế
tự túc
Trang 4040
Hội nghị còn đề ra phương châm xây dựng nền kinh tế phù hợp với điều kiện chiến tranh: chỉ sản xuất những thứ cần dùng cho mặt trận và đời sống nhân dân… Về các ngành kinh tế, chú trọng nhất là nông nghiệp, thương mai rồi mới đến kĩ nghệ…
Quán triệt phương châm trên, Chính phủ đề ra nhiều chính sách quan trọng: chính sách tăng gia sản xuất, thực hiện khẩu hiệu “Thực túc binh cường”, “Ăn no đánh thắng”; chính sách tiết kiệm và đồng cam cộng khổ, chính sách tôn trọng quyền tư hữu tài sản hợp pháp của mọi công dân, mọi thành phần kinh tế…
Phương hướng xây dựng kinh tế, phát triển sản xuất trong kháng chiến là chú trọng nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng; khuyến khích hình thức kinh tế cá nhân, kinh tế hợp tác xã và kinh tế Nhà nước
Ngày 14-5-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 68/SL thành lập Ban Kinh tế Chính phủ Ban có nhiệm vụ nghiên cứu, khởi thảo, đệ trình Chính phủ những chính sách, kế hoạch quan trọng về kinh tế Ban Kinh tế Chính phủ đóng vai trò tham mưu cho Chính phủ trong công cuộc xây dựng kinh tế kháng chiến và kiến quốc
* Nông nghiệp giữ vị trí hàng đầu trong nền kinh tế kháng chiến
Đảng và Chính phủ đã vận động nông dân, cán bộ, bộ đội đẩy mạnh thi đua canh tác, đắp
đê, chống hạn hán, lũ lụt, cải tiến kĩ thuật, khai hoang, phục hóa, chống sâu bệnh, phân phối giống, hợp tác trong sản xuất Nhờ vậy, sản xuất nông nghiệp đã thu được những kết quả quan trọng
Theo thống kê của Bộ Canh nông, tại Bắc Bộ và Liên khu IV, năm 1948, diện tích lúa mùa là 1.030.611 ha, thu hoạch được 1.346.596 tấn, diện tích vụ chiêm là 63.511 ha, thu hoạch được 78.971 tấn Ngô trồng được 71.639 ha, thu được 85.048 tấn Ở Nam Bộ đã cày cấy được 2.000.000 ha, trên tổng số 2.300.000 ha diện tích Năm 1950, từ Liên khu IV trở ra, tổng sản lượng thu hoạch được ở các vùng tự do và căn cứ du kích là 2.414.830 tấn
Để tạo điều kiện phát triển nông nghiệp, nông dân có ruộng đất cày cấy và thu hẹp dần chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, Đảng và Chính phủ đã thực hiện phương pháp cải cách dần dần để sửa đổi chế độ ruộng đất ở nông thôn như tịch thu ruộng đất bị thực dân, đế quốc và việt gian chiếm hữu đem chia cho nông dân không có hoặc thiếu ruộng; tạm cấp ruộng đất vắng chủ; giảm tô, giảm tức và chia lại ruộng công cho hợp lí
Ngày 14-7-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí Sắc lệnh số 78/SL, quy định mức giảm địa
tô là 25% so với mức tô trước Cách mạng tháng Tám, lập Hội đồng giảm tô cấp tỉnh; Sắc lệnh
số 25/SL ngày 13-2-1950 về việc sử dụng ruộng đất vắng chủ trong thời kì kháng chiến; Sắc lệnh số 26/SL ngày 15-2-1950 về việc lập Ban giảm tô xã; Sắc lệnh số 88/SL ngày 22-5-1950, quy định những điểm chính về lĩnh canh ruộng đất; Sắc lệnh số 89/SL về việc giảm lãi, xóa nợ, hoãn nợ đối với những việc vay mượn trước đây…
Tính từ năm 1945 đến năm 1949, nông dân đã được chia 177.000 ha ruộng đất các loại, trong đó ruộng đất của thực dân Pháp là 18.400 ha, ruộng đất của địa chủ là 39.600 ha, ruộng đất công và bán công là 119.00 ha Từ năm 1949 trở đi, số ruộng đất được chia cho nông dân càng nhiều hơn, nhất là sau khi sắc lệnh về ruộng đất do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí được ban