MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 5Chương 1. VIỆT NAM THỜI TIỀN SỬ ................................................................................. 71.1. Thời đại đồ đá cũ, sự phát triển từ người vượn đến người hiện đại.................................. 71.2. Thời đại Đá mới và các bộ lạc trồng lúa........................................................................... 91.3. Thời đại kim khí và quá trình tan rã của xã hội nguyên thuỷ ......................................... 171.4. Các cư dân thời đại kim khí Nam Bộ.............................................................................. 22Câu hỏi ôn tập ........................................................................................................................ 23Chương 2. THỜI KỲ HÌNH THÀNH CÁC NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN TRÊN LÃNH THỔVIỆT NAM................................................................................................................................ 242.1. Văn hoá Đông Sơn; sự ra đời của nhà nước Văn Lang .................................................. 242.2. Nước Âu Lạc thời An Dương Vương ............................................................................. 412.3. Văn hoá Sa Huỳnh và Vương quốc cổ Chămpa ............................................................. 472.4. Văn hoá Óc Eo và Vương quốc Phù Nam ...................................................................... 51Câu hỏi ôn tập ........................................................................................................................ 55Chương 3. THỜI KỲ BẮC THUỘC VÀ CHỐNG BẮC THUỘC....................................... 563.1. Từ thất bại của An Dương Vương đến khởi nghĩa Hai Bà Trưng .................................. 563.2. Từ sau Trưng Vương đến Lý Nam Đế............................................................................ 633.3. Từ sau nhà nước Vạn Xuân đến chiến thắng Bạch Đằng ............................................... 733.4. Thắng lợi trọn vẹn của hơn nghìn năm đấu tranh chống Bắc thuộc ............................... 83Câu hỏi ôn tập ........................................................................................................................ 83Chương 4. CÁC VƯƠNG TRIỀU NGÔ – ĐINH – TIỀN LÊ (9381009).......................... 844.1. Triều Ngô với kinh đô Cổ Loa........................................................................................ 844.2. Triều Đinh....................................................................................................................... 854.3. Triều Tiền Lê .................................................................................................................. 86Câu hỏi ôn tập ........................................................................................................................ 93Chương 5. ĐẠI VIỆT THỜI LÝ (1009 – 1225) ..................................................................... 945.1. Vương triều Lý và định đô Thăng Long......................................................................... 945.2. Tổ chức triều đình và bộ máy chính quyền..................................................................... 955.3. Tình hình phát triển kinh tế............................................................................................. 985.4. Kháng chiến chống Tống.............................................................................................. 100Câu hỏi ôn tập ...................................................................................................................... 103Chương 6. ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN (12261400) ............................................................... 1046.1. Triều Lý suy vong, triều Trần thành lập ....................................................................... 1046.2. Triều Trần xây dựng và củng cố chính quyền .............................................................. 1056.3. Tình hình kinh tế........................................................................................................... 1106.4. Kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp................................................................... 1136.5. Kháng chiến chống Mông Nguyên ............................................................................... 114Câu hỏi ôn tập ...................................................................................................................... 121
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRẦN THỊ THU HÀ
BÀI GIẢNG LỊCH SỬ VIỆT NAM CỔ TRUNG ĐẠI
Hà Nội - 2013
Trang 22
Trang 33
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
Chương 1 VIỆT NAM THỜI TIỀN SỬ 7
1.1 Thời đại đồ đá cũ, sự phát triển từ người vượn đến người hiện đại 7
1.2 Thời đại Đá mới và các bộ lạc trồng lúa 9
1.3 Thời đại kim khí và quá trình tan rã của xã hội nguyên thuỷ 17
1.4 Các cư dân thời đại kim khí Nam Bộ 22
Câu hỏi ôn tập 23
Chương 2 THỜI KỲ HÌNH THÀNH CÁC NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM 24
2.1 Văn hoá Đông Sơn; sự ra đời của nhà nước Văn Lang 24
2.2 Nước Âu Lạc thời An Dương Vương 41
2.3 Văn hoá Sa Huỳnh và Vương quốc cổ Chămpa 47
2.4 Văn hoá Óc Eo và Vương quốc Phù Nam 51
Câu hỏi ôn tập 55
Chương 3 THỜI KỲ BẮC THUỘC VÀ CHỐNG BẮC THUỘC 56
3.1 Từ thất bại của An Dương Vương đến khởi nghĩa Hai Bà Trưng 56
3.2 Từ sau Trưng Vương đến Lý Nam Đế 63
3.3 Từ sau nhà nước Vạn Xuân đến chiến thắng Bạch Đằng 73
3.4 Thắng lợi trọn vẹn của hơn nghìn năm đấu tranh chống Bắc thuộc 83
Câu hỏi ôn tập 83
Chương 4 CÁC VƯƠNG TRIỀU NGÔ – ĐINH – TIỀN LÊ (938-1009) 84
4.1 Triều Ngô với kinh đô Cổ Loa 84
4.2 Triều Đinh 85
4.3 Triều Tiền Lê 86
Câu hỏi ôn tập 93
Chương 5 ĐẠI VIỆT THỜI LÝ (1009 – 1225) 94
5.1 Vương triều Lý và định đô Thăng Long 94
5.2 Tổ chức triều đình và bộ máy chính quyền 95
5.3 Tình hình phát triển kinh tế 98
5.4 Kháng chiến chống Tống 100
Câu hỏi ôn tập 103
Chương 6 ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN (1226-1400) 104
6.1 Triều Lý suy vong, triều Trần thành lập 104
6.2 Triều Trần xây dựng và củng cố chính quyền 105
6.3 Tình hình kinh tế 110
6.4 Kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp 113
6.5 Kháng chiến chống Mông Nguyên 114
Câu hỏi ôn tập 121
Trang 44
Chương 7 VƯƠNG TRIỀU HỒ VÀ CẢI CÁCH CỦA HỒ QUÝ LY KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MINH VÀ KHỞI NGHĨA LAM SƠN 122
7.1 Vương triều Hồ và cải cách của Hồ Quý Ly 122
7.2 Kháng chiến chống Minh và khởi nghĩa Lam Sơn 125
7.3 Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) 128
Câu hỏi ôn tập 134
Chương 8 VƯƠNG QUỐC CHAMPA THẾ KỶ X ĐẾN XV 135
8.1 Vương triều Vijaya (Thế kỷ X-XV) 135
8.2 Sự phát triển kinh tế-xã hội 139
8.3 Triều đình và bộ máy quản lý nhà nước 142
8.4 Sự phát triển văn hoá 142
Câu hỏi ôn tập 144
Chương 9 ĐẠI VIỆT THỜI LÊ SƠ (1428-1527) 145
9.1 Vương triều Lê sơ (1428-1527) 145
9.2 Phục hồi và phát triển kinh tế 154
9.3 Quan hệ đối ngoại 159
9.4 Phục hưng văn hoá 159
Câu hỏi ôn tập 160
Chương 10 ĐẠI VIỆT THỜI MẠC (1527-1592) 161
10.1 Triều Lê suy vong và sự thành lập triều Mạc 161
10.2 Nước Đại Việt dưới vương triều Mạc 164
10.3 Nội chiến Lê-Mạc (1533-1592) và sự trung hưng của triều Lê 168
10.4 Văn hóa dưới triều Mạc 169
Câu hỏi ôn tập 170
Chương 11 ĐẠI VIỆT THỜI TRỊNH NGUYỄN 171
11.1 Mâu thuẫn và nội chiến Trịnh-Nguyễn 171
11.2 Đàng Trong thời các chúa Nguyễn 173
11.3 Đàng Ngoài thời Lê-Trịnh 178
11.4 Sự phát triển của thủ công thương nghiệp dân gian và quan hệ hàng hoá tiền tệ 182
11.5 Mậu dịch đối ngoại và sự phát triển của đô thị, thương cảng 184
11.6 Đời sống văn hoá 187
11.7 Phong trào nông dân Đàng Ngoài và khởi nghĩa Tây Sơn 193
Câu hỏi ôn tập 202
Chương 12 VIỆT NAM – ĐẠI NAM THỜI NGUYỄN 203
12.1 Vương triều Nguyễn 203
12.2 Chế độ sở hữu ruộng đất và tình hình nông nghiệp 205
12.3 Tình hình kinh tế hàng hoá và chính sách ngoại thương 206
12.4 Sự bùng nổ của các mâu thuẫn xã hội và sự lan rộng của khởi nghĩa nông dân 208
12.5 Văn hoá nửa đầu thế kỷ XIX 209
Câu hỏi ôn tập 211
TÀI LIỆU THAM KHẢO 212
Trang 55
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa, nằm trải dài trên bờ biển Thái Bình Dương, thuộc khu vực Đông Nam của lục địa châu Á, vừa nhìn ra đại dương với bờ biển dài 3260km, vừa nối liền với đại lục trong thế núi liền núi, song liền song Đây là một vị trí mang tính chất tiếp xúc giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đải, là nơi gặp gỡ của nhiều hướng thiên di cư dân trong lịch sử, là vùng giao thoa của nhiều nền văn hoá trong khu vực
Sau một thời kỳ phát triển lâu dài của các nền văn hoá tiền sử, vào sơ kỳ thời đại đồ sắt, trên lãnh thổ Việt Nam hình thành 3 trung tâm văn hoá lớn dẫn đến sự ra đời của những nhà nước cổ đại đầu tiên Đó là văn hoá Đông Sơn ở miền Bắc gắn liền với sự ra đời của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc; văn hoá Sa Huỳnh ở miền Trung và Nam Trung Bộ gắn liền với sự ra đời của nhà nước Chămpa, và văn hoá Óc Eo ở Nam Bộ gắn liền với sự ra đời của vương quốc Phù Nam Trong quá trình lịch sử, mối quan hệ giữa các quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam không chỉ
có giao lưu kinh tế, văn hoá với những ảnh hưởng tác động qua lại, mà còn có cả mâu thuẫn, xung đột, thôn tính lẫn nhau…
Trong toàn bộ lịch sử lâu dài và oanh liệt của dân tộc Việt Nam, từ khi bị chính quyền phong kiến phương Bắc đô hộ đến khi bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị, lịch sử chống ngoại xâm và xây dựng đất nước bảo vệ tổ quốc là nội dung xuyên suốt Vì vậy, nghiên cứu và giảng dạy về phần này là nội dung quan trọng trong lịch sử Việt Nam ở bất kỳ cấp học nào Nội dung của học phần Lịch sử Việt Nam cổ trung (4 tín chỉ) được trình bày qua 12 chương, với việc phân chia cụ thể thành các giai đoạn sau:
Chương 1: Việt Nam thời tiền sử
Chương 2: Thời kỳ hình thành các nhà nước đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam
Chương 3: Thời kỳ Bắc thuộc và chống thuộc
Chương 4: Các vương triều Ngô – Đinh – Tiền Lê (938 - 1009)
Chương 5: Đại Việt thời Lý (1009 - 1225)
Chương 6: Đại Việt thời Trần (1226 - 1400)
Chương 7: Vương triều Hồ và cải cách của Hồ Quý Ly Kháng chiến chống Minh và khởi nghĩa Lam Sơn
Chương 8: Vương quốc Chămpa thế kỷ X đến thế kỷ XV
Chương 9: Đại Việt thời Lê Sơ (1428 - 1527)
Chương 10: Đại Việt thời Mạc (1527 - 1592)
Chương 11: Đại Việt thời Trịnh Nguyễn
Chương 12: Việt Nam – Đại Nam thời Nguyễn
Kết cấu trong mỗi chương được trình bày theo một trình tự thống nhất Đó là những kiến thức cơ bản, toàn diện, hệ thống về lịch sử Việt Nam thời kỳ cổ trung đại Bao trùm toàn bộ là các nội dung lớn như: sự thay thế, phát triển kế tiếp giữa các triều đại, các thời đại lịch sử; quá trình ra đời và hoàn thiện của hệ thống nhà nước và pháp luật; những thành tựu phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội; lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc và những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ… Các vấn đề trên sẽ được trình theo lịch đại (trình tự thời gian), đồng thời, ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử, các vấn đề sẽ được phân tích, đánh giá một cách khách quan và khoa học
Trang 66
Trang 77
Chương 1 VIỆT NAM THỜI TIỀN SỬ 1.1 Thời đại đồ đá cũ, sự phát triển từ người vượn đến người hiện đại
1.1.1 Di tích hóa thạch của người vượn ở Việt Nam
* Các phát hiện người vượn trên thế giới
Vấn đề tiến hóa các loài bao gồm loài người được nói đến trong cuốn “Nguồn gốc các loài” của Đác Uyn, xuất bản năm 1859 Loài nào các cá thể cũng có nhiều cách biến đổi, nhiều
cá thể sinh ra nhưng chỉ ít cá thể tồn tại được là nhờ những đặc trưng riêng qua quá trình thích nghi
Nghiên cứu quá trình tiến hóa loài người khu vực Đông Nam Á do Đu Boi nhà khảo cổ học Hà Lan tiến hành ở Sumatra (Inđônêsia) 1887 đã phát hiện một khúc xương đùi, chỏm sọ, những chiếc răng hàm Đu Boy đã kết luận sinh vật này đã biết đứng thẳng như một con người Năm 1924, Ray-mon Đa đã phát hiện một cốt sọ trẻ em tại Ta Uông (Nam Phi) và đặt tên
là Người vượn phương Nam thuộc châu Phi
Năm 1927, tại Chu Khẩu Điếm (Trung Quốc) các nhà khoa học nhiều nước đã phát hiện một chiếc răng hàm Hominid (họ người) Năm 1930 tại hang này phát hiện thêm 5 sọ người và nhiều mảnh xương khác đặt tên là người vượn Bắc Kinh Trong thập niên trên, người vượn Gia-va cũng được phát hiện
Một phát hiện hết sức quan trọng là của gia đình tiến sĩ Lea key tại Kê-ni-a và Tazannia, trong đó có hóa thạch người vượn tại Ôn-đu-wai đặt tên là Hô-mô-ha-bi-lis (người khéo léo) Khi nghiên cứu di tích Chu Khẩu Điếm nhà giải phẫu học người Đức là Wei-den-rich đã xây dựng mô hình phát tán người vượn từ châu Phi ra khắp cựu thế giới gồm châu Phi, Á, Âu Đối với Châu Á người vượn Chu Khẩu Điếm được coi là cội nguồn đại chủng Môn gô lô it, còn
ở châu Âu thì người vượn tiến hóa qua người Nê-an-dec-tan trở thành người châu Âu hiện đại Gần đây các nhà sinh học phân tử qua nghiên cứu DNA đã kết luận con người hiện đại sinh ra từ một tổ tiên chung ở châu Phi trong khoảng 200.000 năm trước Tuy nhiên tư liệu hóa thạch lại không ủng hộ thuyết một trung tâm phát sinh người
* Di tích hóa thạch người ở Việt Nam
Tại hang Thẩm Khuyên và Thẩm Hai lạng Sơn đã phát hiện 10 răng hóa thạch của người vượn Hô mô E rec tus
Cùng với đó là các hóa thạch động vật như vượn khổng lồ, đười ươi lùn, voi răng kiếm, lợn vòi, tê giác, gấu tre lớn…
Niên đại người vượn 250.000 năm Mới đây hóa thạch người vượn hang Thẩm Khuyên được xác định bằng phương pháp cộng hưởng diện tử Spin cho tuổi 401.000 – 534.000 năm, tương đương người vượn Bắc Kinh
Người vượn xuất hiện ở Việt Nam đẩu tiên nửa triệu năm, mốc mở đầu cho Lịch sử Việt Nam “Thời nguyên thủy loài người bước ra khỏi loài động vật như thế nào – nói theo nghĩa hẹp – thì họ cũng bước vào lịch sử như thế ấy” (Chống Đuy Rinh – Ăng ghen)
Qua các di tích có thể thấy: Số lượng người còn ít ỏi, những động vật có thể là con mồi
mà họ săn được, chưa thấy công cụ lao động của người vượn
Trang 88
1.1.2 Sơ kỳ thời đại đồ đá cũ
Các di chỉ: Núi Đọ (Thanh Hóa), Xuân Lộc (Đồng Nai), Núi Uông (Thanh Hóa), Gia Tân (Đồng Nai) và An Lộc (Bình Phước), núi Đầu Voi (Lâm Đồng)
Công cụ lao động: Có các loại hình công cụ như: mảnh tước, hạch đá, rìu tay kỹ thuật chế tạo còn thô sơ, chủ yếu là ghè đẽo
Nhà nghiên cứu người Canada Mêlin- Đô-nal đã chia quá trình tiến hóa loài người thành
Giai đoạn 3: con người hiện đại xuất hiện, họ sáng tạo ra kí hiệu và biểu tượng lưu giữ kí
ức và phát triển văn hóa phức tạp (nghệ thuật, khoa học…)
Các di chỉ từ Thẩm Khuyên, Thẩm Hai cho đến Núi Đọ, Xuân Lộc…thuộc trung ký giai đoạn 2 Họ không còn là các bầy người nữa mà là những cộng đồng người có tổ chức, phân chia địa vực, di chỉ xưởng Núi Đọ là một bằng chứng
Về phương diện cấu trúc xã hội: giai đoạn này không có cấu trúc gia định hạt nhân, mà
đã manh nha hình thành một hình thức thị tộc nào đó, nhưng không chắc chắn chỉ có mẫu quyền Ngay khái niệm chế độ mẫu hệ hay mẫu quyền cũng là một nội hàm đa tạp Hiện nay các nhà nghiên cứu có khuynh hướng nhìn nhận cấu trúc xã hội theo quan điểm đa mô hình tùy thộc vào hoàn cảnh lịch sử, môi trường sống và truyền thống cộng đồng
Người Thẩm Khuyên, Thẩm Hai sống trong các hang động và mái đá chỉ gồm những nhóm nhỏ 15-20 người, trong điều kiện núi rừng chia cắt khó khăn cho hoạt động kinh tế như vậy, người ta sống chủ yếu bằng săn bắt thú rừng lớn thì quyền điều hành xã hội có thể thuộc
về người đàn ông
Trong khi đó Núi Đọ là một di chỉ xưởng, việc khai thác và chế tác đá tạo ra cuộc sống
ổn định hơn thông qua trao đổi giao lưu thì vai trò người phụ nữ rất lớn Cộng đồng ở đây có thể là những nhóm lên tới 30-35 người đang trong giai đoạn hình thành thị tộc nguyên khởi Còn cộng đồng người Xuân Phú thì có thể di động kiếm sống theo mùa, trên khắp vùng Tây Nguyên rộng lớn, với loại hình mẫu quyền sơ khai 40-45 người, nhằm duy trì cố kết cộng đồng
1.1.3 Hậu kỳ thời đại đá cũ (tương ứng với Văn hóa Ngườm – Sơn Vi)
Lịch sử tiến hóa liên tục từ Người vượn đến người khôn ngoan giai đoạn sớm, và sau đó
là người khôn ngoan giai đoạn muộn tại Việt Namđã được phát hiện tại hang Thẩm Ồm (Nghệ An), Hang Hùm (Yên Bái)
Niên đại 70.000-60.000 cách ngày nay
Các hóa thạch người khôn ngoan giai đoạn muộn phát hiện ở hang Thung Lang (Ninh Bình), Hang Kéo Lèng (Lạng Sơn) cách ngày nay 30.000 năm
* Hệ thống văn hóa Ngườm
Di chỉ: hệ thống hang động ở Thái Nguyên (Miệng Hổ, Nà Khù, Mái đá Ngườm) ở Lạng Sơn (Lạng Nắc, Hang Dơi) và Cao Bằng (Nà Cooc, Nà Nông)
Trang 99
Công cụ lao động: có tiến bộ hơn so với cư dân núi Đọ, có nhiều mảnh tước, phiến tước, hình dáng nhỏ hơn Ngoài công cụ bằng đá còn có công cụ bằng xương động vật Di chỉ Ngườm có 3 mức văn hóa phát triển liên tục từ sớm đến muộn Tại đây phát hiện 618 công cụ hạch cuội, 10.146 công cụ mảnh tước, 13.494 mảnh tước và 75 hạch đá Có ý kiến đề xuất gọi
là kỹ nghệ Ngườm, nhưng hợp lý hơn là hệ thống văn hóa Ngườm Cư dân Ngườm chưa biết đến kỹ thuật mài
Hoạt động kinh tế: Hái lượm và săn bắt để sinh sống (Giai đoạn này, các nhà khảo cổ học tìm thấy nhiều xương lợn và khỉ) Di tích thức ăn chứng tỏ người tiền sử nơi đây đã có sự phân công lao động theo giới tính và theo lứa tuổi Dàn ông khỏe mạnh thì chế tác công cụ và săn bắt, phụ nữ thu lượm các loại ốc núi, suối, rau củ quả
* Hệ thống văn hóa Sơn Vi
Di chỉ: khắp Bắc trung bộ và Bắc bộ, với hơn 200 địa điểm dọc theo các con sông lớn, thậm chí tìm thấy cả ở Sa Thầy (Kon Tum) Tên gọi Sơn Vi: đây là một địa danh ở Lâm Thao – Phú Thọ, được lấy tên để đăt cho một tập hợp những thành tựu nghiên cứu về cuộc sống cư dân Việt Nam thời hậu kỳ đá cũ sau văn hóa Ngườm
Công cụ lao động: chủ yếu nguyên liệu làm từ hòn cuội quartz và quartzit, ghè đẽo một mặt là chính, vết ghè trên một rìa cạnh tạo ra công cụ mũi nhọn, rìa lưỡi dọc, rìa lưỡi ngang, phần tư viên cuội, hai hoặc ba rìa; cùng với một số công cụ mảnh tước kém định hình Ngoài ra còn có gỗ, tre, nứa làm công cụ vũ khí cung tên bẫy thú…Kỹ thuật chế tác: đã biết lấy xương động vật làm công cụ chế tác Bộ công cụ mũi nhọn; để chặt cây, đào bới đất, xẻ thịt thú; công
cụ rìa cạnh: để cắt thái; các mảnh tước dùng như dao
Niên đại C14: gần 2 vạn năm đến hơn 1 vạn năm cách ngày nay
Nơi cư trú: bậc thềm các dòng sông, một ít trong các hang động
Tổ chức xã hội: cơ cấu tổ chức bộ lạc Bằng chứng là tại hang Con Muông đã tìm thấy dấu vết bếp lửa so với văn hóa Hòa bình giai đoạn sau thì ít hơn về số lượng nhưng nhưng kích thước lớn hơn và nằm ở trung tâm hang hơn Tuy nhiên các hang động không lớn cho nên chúng ta có thể hình dung một cơ cấu nhỏ hơn bộ lạc đó là các nhóm
1.2 Thời đại Đá mới và các bộ lạc trồng lúa
1.2.1 Các nền văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn, Soi Nhụ và nền nông nghiệp sơ khai trên đất Việt Nam
Khái niệm thời đại đá mới dùng để chỉ giai đoạn tiền sử liên quan đến sự thay đổi to lớn – sự rút lui của băng hà trên phạm vi toàn cầu Đó là giai đoạn kết thúc thời kì Cánh Tân thế giới bước vào thời kỳ Toàn Tân và ranh giới là mốc 10.000 năm trước đây Nước ta thuộc khu vực nhiệt đới nên ảnh hưởng băng hà ít hơn, nên mốc khởi đầu văn hóa Hòa Bình lùi xa 12.000 năm cách ngày nay (17000 – 7500 năm) và thời đá mới kết thúc khoảng 4000 năm trước
* Văn hoá Hoà Bình
Tên gọi: Thuật ngữ Văn hóa Hòa Bình là địa điểm đầu tiên phát hiện di tích khảo cổ học, thực tế còn phát hiện được nhiều hiên vật ở các di chỉ Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình đến Thanh hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị Di tích tập trung nhất là ở Hòa Bình (72 địa điểm), Thanh Hóa (32 địa điểm)…có khoảng 160 di tích phát hiện ở Việt Nam Ngoài ra còn nhiều địa điểm khác ở Đông Nam Á
Trang 1010
Nơi cư trú: chủ yếu trong các hang động đá vôi và một ít các di chỉ ngoài trời Các hoạt động sống thường diễn ra ở cửa hang Bằng chứng là tầng văn hóa và các di vật ở cửa hang bao giờ cũng dày đặc hơn
Công cụ lao động: Công cụ rìu ngắn, nạo hình đĩa, rìu hạnh nhân, rìu bầu dục, chày, hòn nghiền hạt, bàn nghiền, ít mảnh gốm thô
Kỹ thuật chế tác: ghè đẽo một mặt, hai mặt ngày càng nhiều ngày càng tinh xảo, xuất hiện công cụ mài lưỡi; nguyên liệu chế tác phong phú: đá cuội nguyên thủy, xương,vỏ trai, gỗ, tre Hoạt động kinh tế: Săn bắt – hái lượm là hoạt động kinh tế chủ yếu, theo các nhà khảo cổ học thì cũng có khả năng cư dân Hòa Bình đã biết nông nghiệp sơ khai, nông nghiệp trồng rau quả và cây cho củ
Công việc săn bắn đòi hỏi có sự phân công công việc, có tổ chức, am hiểu tập tính thói quen của thú rừng theo loài, theo mùa, theo môi trường
Ý kiến cho rằng hái lượm đơn giản thụ động hơn săn bắt là nhầm lẫn Hái lượm lương thực và thuốc thảo dược đòi hỏi cần có tri thức về môi trường nhiều không kém, thậm chí nhiều hơn sâu sắc hơn Đòi hỏi phải biết quan sát, phân loại môi trường sinh thái, phân loại mùa, đối tượng hái lượm tạo tiền đề điều kiện tiến đần đến nền nông nghiệp sơ khai
Ngày nay mối quan tâm của các nhà sử học không còn bó hẹo trong nông nghiệp mà vấn
đề quan tâm lớn hơn là tri thức bản địa về hệ thống sinh thái Phán đoán lịch sử nông nghiệp Đông Nam Á chia làm hai giai đoạn: giai đọan trồng rau củ và giai đoạn trồng lúa đã không còn thuyết phục Khả năng người tiền sử biết chăm sóc lúa hoang chịu hạn không hề muộn hơn việc họ biết gieo trồng rau củ Bằng quan sát họ đã biết kết hợp khai thác và chăm sóc để thu hái vào mùa sau Một quan điểm sai lầm khác là nông nghiệp luôn gắn liền với định cư Thực
tế là có những mô hình nông nghiệp du canh du cư với mục đích vừa khai thác vừa nuôi dưỡng đất đai và môi trường
Chủ nhân văn hóa Hòa Bình: cư dân bản địa có sự hòa huyết với các tộc người ở khu vực xung quanh (Astralo – Môn-gô-lô-it, giống loại hình Anh-đô-nê-diêng phát hiện ở Nam Trung Hoa)
Đời sống tinh thần: Cư dân Hòa Bình có tập tục chôn người chết ở nơi cư trú, trong các hang động đá vôi ở tư thế nằm co như đang ngủ, kèm theo rất nhiều hiện vật thân thiết; Điều này chứng tỏ họ đã có một tư duy khá phát triển, có quan niệm rõ rang về hai thế giới Hai thế giới gần gũi, không cách biệt giống như thế giới người đang thức và bên kia là của người đang ngủ Tình cảm này bác bỏ quan điểm cho rằng cư dân Hòa Bình trói người chết khi chôn vì sợ
họ quay về làm hại Tư thế bó gối là tư thế ngủ của người tiền sử và nằm co là để tránh lạnh
Họ đã biết làm đẹp (Họ biết đồ trang sức bằng vỏ ốc biển mài, đục lỗ xâu vào để đeo,
bôi thổ hoàng lên xác người chết), đã nảy sinh ý tưởng tín ngưỡng vật tổ sơ khai Cư dân Hòa
bình đã có một vốn tri thức biểu tượng Trên vách hang Đồng Nội (Hòa Bình) có khắc hình một con thú ăn cỏ và ba mặt người có sừng, vậy thì đó là hình khắc nghệ thuật hay biểu tượng vật tổ, hay một loại chữ Mỗi người có một câu trả lời riêng nhưng thực sự đó là một cuộc cách mạng biểu tượng
* Văn hóa Bắc Sơn
Niên đại: Cách ngày nay khoảng 11.000 + 200 đến 7.875 +100 năm
Trang 1111
Tên gọi: Thuật ngữ Văn hóa Bắc Sơn Trước đây đa số các nhà khảo cổ học cho rằng Văn hóa Bắc Sơn thuộc thời đại đá mới có niên đại sau Văn hóa Hòa Bình, nảy sinh từ văn hóa Hòa Bình Với 51 địa điểm khai quật, trong các hang đá vôi thuộc sơn khối đá vôi Bắc Sơn đã chứng tỏ đây là một nền văn hóa độc lập, tồn tại đồng thời và có quan hệ gần gũi với văn hóa Hòa Bình Thực tế còn phát hiện được nhiều hiên vật ở các di chỉ ở Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An
Nơi cư trú: trong các hang động đá vôi và môi trường kiếm sống là chân các dãy núi đó Công cụ lao động: đặc trưng là rìu mài lưỡi, công cụ ghè đẽo không định hình, công cụ mảnh tước có tu chỉnh và làm gốm (Họ biết lấy đất sét, nhào với cát để nung Gốm Bắc Sơn có miệng loe, đáy tròn Tuy nhiên, Gốm thời kỳ này hình dáng còn thô và độ nung chưa cao)
Kỹ thuật: thành tựu lớn nhất là phát minh ra kỹ thuật mài; công cụ chủ yếu ghè 2 mặt, tỉ
lệ rìu mài lưỡi lớn hơn Văn hóa Hòa Bình, kích thước nhỏ hơn Đặc trưng văn hóa Bắc Sơn là
bộ sưu tập bàn mài Bắc Sơn (giống Hòa Bình chứng tỏ sự giao lưu trao đổi ảnh hưởng văn hóa) Bàn mài dùng mài mũi tên, cũng có ý kiến cho đó là một loại bùa Dù thế nào nó cũng chứng tỏ thuyết đa trung tâm kỹ thuật mài
Hoạt động kinh tế: chủ yếu vẫn là hái lượm(thu lượm nhuyễn thể) và săn bắt (đa tạp) Ngoài ra họ còn biết đánh cá, chăn nuôi và làm nông nghiệp sơ khai (Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những đống vỏ ốc và xương thú chất thành một lớp dày đến 3m Điều đó đã chứng minh việc đánh bắt cá thường xuyên và sự định cư lâu dài của cư dân Bắc Sơn)
Chủ nhân văn hóa Bắc Sơn: người bản địa có sự hòa huyết nhiều cư dân khác nhau, yếu
tố đen đậm hơn vàng (trung gian Môn-gô-lô-it - Ốt-tra-lô-it và Nê-grô-ít)
Đời sống tinh thần: Đồ trang sức của họ có nhiều loại: vòng đeo bằng vỏ ốc biển, bằng
đá, bằng đất nung và ý niệm chôn người chết cùng công cụlao động
Tổ chức xã hội: Cư dân Bắc Sơn sống trong các cồng xã thị tộc mẫu hệ Ở giai đoạn đầu tiên (công xã nguyên thủy), thị tộc tuân theo chế độ mẫu hệ, tập hợp liên kết những người cùng huyết thống tính theo dòng mẹ Ở chế độ này, người phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong sản xuất, trong đời sống gia đình và ngoài xã hội Ở giai đoạn sau, chế độ công xã thị tộc chuyển dần sang giai đoạn phụ hệ, gắn liền với quá trình xuất hiện của công cụ bằng kim loại Giai đoạn này đánh dấu sự chuyển giao vai trò từ người phụ nữ sang người đàn ông, đó là kiểu gia đình hiện đại một vợ một chồng như hiện nay Công xã thị tộc là giai đoạn quá độ từ Bầy người Nguyên thủy sang xã hội có giai cấp
* Văn hóa Soi Nhụ
Địa bàn phân bố: Bờ biển Quảng Ninh, Hải Phòng, đảo vịnh Hạ Long, một vùng rộng lớn vài nghìn km thuộc Vịnh Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh là đồng bằng cổ thời kỳ tan băng, tồn tại song song văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn Nhà khảo cổ học Thụy Điển đến nghiên cứu năm
1938 đã không giải thích được vì sao lại có đống vỏ ốc nước ngọt trong các hang động giữa biển khơi mênh mông đó, ông cho rằng người tiền sử vượt biển vào đất liền bắt về ăn
Niên đại: Nằm trong khung niên đại văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn Có những di chỉ còn sớm hơn (C14 ở hang Áng Mả (Cát Bà) 25.510 + 220 năm) Điều đó chứng tỏ họ là những cư dân sống tại chỗ, không phải là hậu duệ của cư dân Hòa Bình – Bắc Sơn
Cư trú: gần biển, là cư dân tiếp xúc với biển đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam
Trang 12Hoạt động kinh tế: săn bắt – hái lượm, thiên về đánh bắt thủy sản ven bờ
Bước vào sơ kỳ đồ đá mới, các cư dân văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn và Soi Nhụ đã cư trú
ổn định, hình thành công xã thị tộc mẫu hệ, bước đầu biết làm gốm, đánh cá và nông nghiệp sơ khai, là một trong những nền nông nghiệp xuất hiện sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á Tất cả những sự điều đó đã báo hiệu về sự phát triển của công cụ lao động và xã hội mới sắp được hình thành, đó là cội nguồn của cuộc cách mạng đá mới, cuộc cách mạng nông nghiệp diễn ra trên đất nước ta
1.2.2 Các con đường phát triển của thời đại Đá mới sau các văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn và Soi Nhụ
Tiếp sau các văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn và Soi Nhụ là sự phát triển các nền văn hóa ở Trung và Nam Trung bộ:
* Văn hóa Đa Bút - Quỳnh Văn – Bàu Tró
Giai đoạn cuối văn hóa Hòa Bình (6000-5000 năm cách nay) nước biển dâng cao tạo ra dải đồng bằng nhiều đầm lầy vũng vinh với sản vật phong phú, các cư dân Hòa Bình tiến theo các sông lớn về khai thác vùng ven biển, trở thành chủ nhân đầu tiên của các đồng bằng ven biển đang hình thành
Loại hình Đa Bút (Thanh Hóa)
Khai quật năm 1926 -1927
Công cụ lao động: cuội ghè đẽo và mài lưỡi, làm gốm
Nơi cư trú: không còn là các hang động nữa
Hoạt động kinh tế: kết hợp săn bắt hái lượm làm nông chăn nuôi và nghề thủ công chế tác đá truyền thống và làm gốm
Săn bắt giảm đáng kể, vì biển tiến thiếu rừng và ngập mặn
Việc phát hiện rất nhiều xương răng của các loài thú, nhất là việc tìm thấy xương trâu bò nhà và xương lợn sữa chứng tỏ họ đã biết đến chăn nuôi
Cư dân Đa Bút đã xây dựng một mô hình phát triển: kết hợp làm nông trồng lúa nước – chăn nuôi, thủ công làm gốm, chế tác đá, đánh bắt thủy hải sản, săn bắt hái lượm bổ sung
Loại hình Quỳnh Văn (Nghệ An)
Cư dân Quỳnh Văn:có thể là hậu duệ của cư dân Hòa Bình, cũng có thể là một nhóm tách
ra từ Đa Bút Về tộc thuộc: nghiên cứu 30 mộ ở các cồn sò điệp Quỳnh Văn cho thấy những nét hỗn chủng Ôt tra lô – Môn gô lô it
So với các cư dân thời tiền sử, cư dân Quỳnh Văn là người có óc thực tế nhất
Công cụ lao động: sử dụng các nguồn đá cuội lớn tại chỗ, thành hình công cụ đơn giản đập vỏ sò, vỏ ốc
Bên cạnh chế tác đá người Quỳnh Văn còn có nghề làm thủ công gốm rất phát triển mà đặc trưng là gốm đáy nhọn, rất thực tế với môi trường nhiều cát
Trang 1313
Có 100 mộ táng Cồn Cổ Ngựa gần như không có có sự phân biệt về thân phận, chứng tỏ cuộc sống của họ còn đơn giản, chỉ là những nhóm người theo chế độ bình quân
Loại hình Bàu Dũ (Tam Kỳ - Quảng Nam)
Niên đại: cách nay 5030 + 60 năm
Công cụ: nguyên liệu cuội, đá gốc (vì ở ven biển thiếu cuội) Các công cụ: nạo hình đĩa, rìu hạnh nhân, rìu ngắn…
Phương thức kiếm sống: khai thác biển kết hợp săn bắt với hái lượm Đối tượng săn bắt: các loài động vật trên cạn, các loài thủy sinh Cư dân Cái Bèo săn bắt cá lớn ngoài biển khơi,
cư dân Quỳnh Văn chủ yếu khai thác sò điệp ven bờ, cư dân Đa Bút thì kết hợp khai thác ốc nước ngọt, hến sông lẫn đánh bắt hải sản, thì người Bàu Dũ theo “phổ tạp”
Loại hình Bàu Tró (Quảng Bình)
Di chỉ: Bàu Tró (Quảng Bình) khai quật năm 1923 Di vật của văn háo Bàu Tró còn tìm thấy dọc nhiều tỉnh miền Trung.Nhiều hiện vật gần gũi với các loại hình trước như các “đống rác bếp” cồn sò điệp
Niên đại: 3590 + 80 năm cách nay tại Cồn Nền
Công cụ lao động: nhiều loại hình công cụ đá ghè đẽo, công cụ đá mài Ngoài kỹ thuật chế tác đá cư dân Bàu Tró cũng là những người thợ tài hoa chế tác gốm Đó cũng là những cư dân đầu tiên làm ra gốm tô màu trên nước ta
Người Bàu Tró đã phát triển thành hai nhóm khác nhau: loại hình Thạch Lạc ở Nghệ - Tĩnh, loại hình Bàu Tró ở Quảng Bình Cư dân Bàu Tró có nguồn gốc từ Quỳnh Văn được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ Họ có quan hệ rộng rãi với cư dân các vùng xung quanh
Ở đây, người Bàu Tró đã phân chia thành các bộ lạc (Thạch Hà, Bàu Tró, Minh Cầm)Phương thức kiếm sống: làm nông chăn nuôi làm thủ công chế tác đá và gốm
Văn hóa Bàu Tró là một thành tố quan trọng đóng góp vào sự ra đời của văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam
* Văn hóa Cái Bèo – Hạ Long
Văn hóa Cái Bèo
Di chỉ Cái Bèo (Cát Bà - Hải Phòng) vào trung kỳ đá mới, giai đoạn cuối văn hóa Soi Nhụ, cách nay 7000 – 6000 năm, giai đoan biển Đông nhiểu biến đổi và dâng cao
Niên đại: 5645 + 115 năm cách nay
Hoạt động kiếm sống: họ là các cư dân hoạt động khai thác biển thực thụ và sớm nhất thời tiền sử ở Việt Nam
Công cụ: cuội ghè đẽo thô sơ, chúng được sử dụng vào một loại hình lao động đơn giản đập hà ra khỏi vách đá vôi, hay ghè đập các loài nhuyễn thể
Cư dân Cái Bèo tỏa ra khắp vùng Vịnh Hạ Long, nhưng sau do biển tiến họ lui dần lên cao như đảo Cát Bà, núi đá vôi, các chân núi dọc quốc lộ 18B
Văn hóa Hạ Long
Sau đợt biển tiến kéo dài vài trăm năm, cấu trúc kinh tế xã hội văn hóa của cư dân Cái Bèo giải thể Các nhóm cư dân cũ thích ứng vói môi trường sống mới đã trở thành những nhóm người Hạ Long phân bố trên địa bàn rộng gấp hai lần trước đó của cư dân Cái Bèo
Trang 14Đời sống: nghề thủ công làm đá, độc đáo nhất có những chiếc rìu bôn có vai có nấc Nghề thủ công làm gốm có những biến đổi lớn với các sản phẩm gốm xốp đặc trưng Nghề khai thác biển có dấu hiệu sử dụng thuyền mà bằng chứng là đã phát hiện ra nhiều chiếc đục lớn và dài để đục đẽo các thuyền độc mộc lớn Ngoài ra có lẽ thời kì này cư dân ở đây cũng biết trao đổi lương thực, sản phẩm mang tính hàng hóa, làm hiện vật trao đổi có vai trò tiền tệ
là các con ốc xà cừ
Cư dân Hạ Long đã có những đóng góp to lớn về tri thức đi biển, quan sát trăng sao con nước lên xuống thủy triều Nhò có những kiến thức này hệ thống lịch pháp cổ mới có thể hoàn chỉnh
Về cấu trúc xã hội: ngay từ cư dân Hạ Long giai đoạn sớm họ đã cư trú tập trung thành các ngôi làng sơ khai ở khu vực xã Vạn Ninh (Móng Cái) Các ngôi làng này đã đóng vai trò là những trạm trung chuyển văn hóa từ Đông Á và Đông Nam Á vào khu vực Đồng bằng sông Hồng
Về cấu trúc gia đình: hình thức thị tộc đã bước đầu phân hóa cho một loại gia đình sơ khai mới – dấn đến sự tồn tại cấu trúc kép bao gồm cả gia đình hạt nhân và gia đình thị tộc
1.2.3 Các con đường phát triển Hậu kỳ đá mới miền núi
Không giống vùng đồng bằng, các con đường ở miền núi khó định hình hơn vài các di tích và di vật thường lẫn với cả trước và sau thời đại đó, nhưng sự tồn tại các bộ lạc thời kì đá mới là một sự thật khách quan, trong đó có những nền văn hóa khu vực phát triển rực rỡ và đóng góp to lớn vào lịch sử dân tọc Việt Nam
* Văn hóa Mai Pha
Tên gọi: theo tên di chỉ Mai Pha của xã Mai Pha thành phố Lạng Sơn
Di chỉ: phát hiện 12 di chỉ như Mai Pha, Ba Xã I, II, Phia Điểm, Mè Bạc…
Địa bàn phân bố: khu đông và đông nam khối đá vôi Bắc Sơn, phần nào trùng với địa bàn người Bắc Sơn trước đó Nhưng địa bàn phát nhất của Mai Pha là các thung lũng nơi có thể làm nông, chăn nuôi và phòng vệ
Hiện vật: các công cụ ghè đẽo kiểu Bắc Sơn, dấu Bắc Sơn, rìu bôn tứ giác, làm gốm màu, gốm trang trí có dục lỗ
Đời sống kinh tế: làm nông chăn nuôi quy mô nhỏ làm thủ công trao đổi đường dài
Các động vật nuôi có trâu lợn chó
Các hoạt động săn bắt hái lượm vẫn giữu vị trí quan trọng (phát hiện nhiều vỏ nhuyễn thể) Dấu tích trao đổi với Hạ Long thấy rõ qua bộ sưu tập tiền cổ làm bằng vỏ ốc biển
Chủ nhân: con cháu của những người Bắc Sơn giai đoạn muộn
Xã hội: phức hợp làm nông, khai thác thu lượm, chế tác gốm và là một trung tâm trao đổi núi – biển, núi – đồng bằng, núi – núi Nhiều khả năng xã hội ở đây tổ chức theo mô hình dân chủ quân sự Các yếu tố tạo nên xã hội này có thủ lĩnh quân sự, hội đồng những người già hay
Trang 15* Văn hóa Hà Giang
Là kết quả của sự kết hợp của cư dân ven biển Hạ Long với cư dân địa phương trụ lại từ văn hóa Hòa Binh
Di tích phân bố ở Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng
Văn hóa ngoài các yếu tố văn hóa Hòa Bình của địa phương Hà Giang còn lưu giữ, còn thấy nổi bật những nét văn hóa của người Hạ Long
Công cụ lao động điển hình: rìu, bôn, cuốc chiếm tới 95,4 % các loại hình công cụ lao động
Cư dân hậu kỳ đá mới ở đây có lẽ là một trong những cư dân giỏi chế tác vải vỏ cây nhất trên đát Việt Nam Một nghề khác cũng rất phát triển là chế tác gốm Đó là loại gốm pha cát hạt thô vụn thạch anh vẫn còn cạnh sắc với các vảy mica óng ánh trên gốm Như vậy cả về công cụ lao động và đồ gốm của cư dân Hà Giang đều có những nét rất gần gũi với văn hóa Hạ Long, điều đó chứng tỏ mối quan hệ gần gũi của văn hóa Hạ Long với nó
Như vậy chủ nhân văn hóa Hà Giang có thể là những người Hạ Long theo đường sông tiến lên sinh cơ lập nghiệp tại vùng Việt Bắc của văn hóa Hà Giang, họ đã gặp gỡ kết hợp với nhóm cư dân địa phương còn trụ lại từ văn hóa Hòa Bình, tạo thành bộ lạc Hà Giang độc đáo vừa mang bản sắc biển vừa mang bản sắc núi
Cư dân Hà Giang có mối quan hệ với các vùng xung quanh như Phùng Nguyên
Cấu trúc xã hội: họ là những thương nhân kết nối 2 chiều núi - biển theo các tuyến sông, với các bộ lạc ở Vân Nam Trung Quốc
Vai trò: Khi Nhà Nước Văn Lang trở thành trung tâm thu hút các nền văn hóa ven biển cũng như miền núi, người Hà Giang đã đóng góp kinh nghiệm buôn bán đường dài mà không phải bộ lạc nào cũng có thể so sánh được
* Các cư dân hậu kỳ đá mới ở Tây Bắc
Di tích: chủ yếu ở Sơn La
Năm 1927 Colani phát hiện di chỉ Thôn Mòn hay Bản Mòn, thị trấn Thuận Châu, Sơn
La Người Bản Mòn đã để lại những dấu tích truyền thống của văn hóa Hòa Bình khá rõ ràng lên các di chỉ của mình: tầng văn hóa được cấu tạo bằng các đống vỏ ốc suối, chày đá đục đá bàn nghè Đa số các công cụ là rìu bôn tứ giác, những chiếc rìu bôn có vai, hầu hết là vai vuông Colani đã coi đây là một công xưởng chế tác rìu bôn
Ngoài nghề thủ công chế tác đá, người tiền sử Tây Bắc còn là những thợ gốm giỏi Tại đây đã phát hiện hai hệ thống gốm: một loại gốm văn chấp dải phần nào giống với cách trang trí hoa văn trên gốm Phùng Nguyên, một số mô típ hoa văn hình sóng nước làm người ta liên tưởng đến văn hóa Đồng Đậu Thứ hai là gốm văn in vỏ sò bản Gièm thì tương tự gốm Hoa Lộc Trong các mô tip còn có hoa văn đắp nổi mà các nhà khảo cổ gọi là hoa văn nụ đinh Kỹ thuật đắp nổi hoa văn chính là phát Minh của thợ gốm Hạ Long
Trang 1616
Chủ nhân của văn hóa Tây Bắc là những nhóm hậu Hòa Bình và chắc chắn có sự di dân
từ vùng đồng bằng ngược lên miền núi Ngoài ra có thể còn có cả những thương nhân đường dài kết hợp Chính vì vậy chúng ta có thể thấy dấu ấn văn hóa của nhiều miền khác nhau trong các di tích hậu kỳ đá mới ở Tây bắc
Việc phát hiện ra hai công cụ chuyên chế tác đồ đá và đồ trang sức đá, trong mức đọ nào
đó đã có sự chuyên môn hóa sản phẩm, sản phẩm đó lại được trao đổi, đó chính là nhân tố kích thích sự phát triển không biệt lập của Tây Bắc hậu kỳ đá mới
* Các cư dân hậu ký đá mới ở Tây Nguyên
Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông và Lâm Đồng Diện tích: 56.119 km2
Văn hóa Biển Hồ
Văn hóa này mang tên di chỉ Biển Hồ, ở hồ Biển Hồ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, di chỉ đầu tiên được khai quật Đến nay đã phát hiện trên 30 di tích thuộc văn hóa Biển Hồ, trong
đó có 6 di chỉ được khai quật
Cư dân Biển Hồ là những người định cư, làm nông nghiệp cạnh các hồ nước lớn hoặc các sông suối chính của cao nguyen
Hoạt động nông nghiệp dùng cuốc của người Biển Hồ rất phát triển Nông cụ tiêu biểu của cư dân Biển Hồ là cuốc đá và bôn đá hình răng trâu, rìu và bôn có vai nhiều hơn rìu và bôn hình tứ giác Bên cạnh có những công cụ có lỗ để tra cán
Đồ gốm được chế tạo tại chỗ, khá tinh xảo Đó là gốm pha sét pha cát và được nung ngoài trời với nhiệt độ thấp Gốm dược nặn tay với các loại hình như nồi, bát bồng, vò, âu, ấm
có vòi được trang trí hoa văn thừng, chải khắc vạch hình tam giác, một số tô thổ hoàng hoặc đen ánh chì Cư dân Biển Hồ có sử dụng mộ đất và mộ quan tài gốm Trong mộ quan tài gốm chuer yếu là nồi vò úp miệng váo nhau, ít thấy mộ chum
Niên đại: 4.000 – 3000 năm cách nay, là văn hóa tiền sử duy nhất trên cao nguyên Pleiku
có quan hệ mật thiết với cư dân văn hóa Lung Leng (ở Kon Tum), văn hóa Bàu Tró, Xóm Cồn
Văn hóa Lung Leng
Tên gọi: Văn hóa Lung Leng là một văn hóa khảo cổ mang tên di chỉ Lung Leng được khai quật đầu tiên ở xã Sa Bình, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum Đến nay đã có 70 di chỉ thuộc văn hóa này được phát hiện, trong đó có 10 di chỉ được khai quật
Cư dân Lung Leng phân bố dọc đôi bờ sông Krong Pô ko và sông Đắcbla (Kon Tum) Dưới góc độ lịch sử văn hóa mỗi di chỉ là một đơn vị cư trú kiểu “làng”, mỗi cụm di chỉ
là liên làng, các cụm là siêu làng Siêu làng có một số đặc điểm chung về di tích và di vật Văn hóa cư dân ven sông sử dụng cuốc có vai rìu có vai, bôn hình răng trâu, bàn mài, hòn nghiền, đồ gốm gia dụng kích thước nhỏ
Mộ táng chưa tách khỏi nơi cư trú với nhiều hình thức song song tồn tại: mộ quan tài gốm (mộ chum, mộ nồi vò úp nhau) Đồ tùy táng có công cụ đá đồng sắt, đồ gốm, đồ trang sức…
Cư dân văn hóa Lung Leng trồng trọt ven sông, tiến hành luyện sắt đúc đồng làm gốm và giao lưu rộng rãi với cư dân tiền sử ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, và cả ở Lào
Niên đại: 4.500 – 1.500 năm cách nay
Trang 1717
Văn hóa Buôn Triết
Tên gọi: Văn hóa Buôn Triết mang tên di chỉ Buôn Triết, thôn Đoàn Kết, xã Buôn Triế,t huyện Lak, tỉnh Đắc Lắc cho đến nay đã phát hiện trên 20 di chỉ có cùng tính chất đặc điểm niên đại với Buôn Triết
Các di chỉ này phân bố cạnh các hồ hoặc các con sông lớn thuộc vùng trũng Krong Pác – Lắc và cao nguyên Đắc Nông
Cư dân văn hóa Buôn Triết là những người định cư làm nông nghiệp, sử dụng cuốc đá, cuốc vai nhọn, rìu và bôn đá hình thang Những công cụ này làm từ đá ba gian, có kích thước lớn, tu chỉnh cẩn thận, được mài toàn thân
Đồ gốm văn hóa Buôn Triết tìm thấy không nhiều mật độ thưa thớt Đó là gốm đất sét pha cát, nặn tay và cả bàn xoay, nung nhiệt độ cao chủ yếu là bát nồi vò; một số trang trí văn thừng văn khắc vạch văn chải kết hợp văn in ấn, một số tô thổ hoàng
Cư dân văn hóa Buôn Triết có thức táng mộ đất và mộ nồi vò úp nhau, chôn tại nơi cư trú Trong mộ chôn theo công cụ lao động
Niên đại: 3.500 – 2.000 năm cách nay Cư dân văn hóa Buôn Triết có quan hệ với cư dân tiền sử Đông Nam Bộ và Đông Campuchia
Ngoài ba nền văn hóa khảo cổ nói trên, ở Tây Nguyên còn nhiều di tích khảo cổ khác có khả năng xác lập các nền văn hóa khảo cổ hậu kỳ đá mới Đặc điểm chung nổi bật nhất ở đây là nông nghiệp dùng cuốc, trong đó sản phẩm nông nghiệp dùng cuốc ở Lung Leng là lúa gạo Các hoạt động thủ công luyện kim đúc đồng chế tạo đồ gốm gia dụng và gốm quan tài mộ đạt đến đỉnh cao
1.3 Thời đại kim khí và quá trình tan rã của xã hội nguyên thuỷ
Thời đại kim khí: Thuật ngữ khảo cổ học chỉ khái quát giai đoạn phát triển lịch sử sau thời đại đá khi chưa cần xác định rõ ràng thuộc về thời đại đồ đồng hay thời đại sắt sớm Trong thời đại này, các công cụ kim loại đã xuất hiện
1.3.1 Các cư dân thời đại kim khí vùng Bắc Bộ
* Cư dân văn hóa Phùng Nguyên
Tên gọi chỉ một cộng đồng người sơ kỳ thời đại kim khí phân bố trên khắp địa bàn đồng bằng và trung du Bắc Bộ ngày nay, và họ chính là tổ tiên trực tiếp của những người tạo dựng nền văn Minh Đông Sơn rực rỡ
Di chỉ: phát hiện hơn 50 di chỉ, mật độ tập trung đậm đặc nhất của các di chỉ Phùng Nguyên là ở Phú Thọ và Vĩnh Phúc (34 địa điểm), Hà Nội (14), Bắc Ninh (6)
Địa bàn hầu hết các con sông lớn ở Bắc Bộ đó là sông Đà, sông Lô, sông Thao, sông Đáy
Niên đại: C14 Gò Mả Đống 4.145 + 60 năm cách nay, Đồng Chỗ 3800 + 60
Hoạt động kinh tế chủ đạo: nông nghiệp trồng lúa nước Song song với các hoạt động nông nghiệp, thủ công nghiệp trao đổi buôn bán cũng phát triển mạnh mẽ
Về công cụ sản xuất: vẫn duy trì thủ công nghiệp chế tác đá với kỹ nghệ tinh xáo và điêu luyện Bộ sưu tập lớn nhất là các bôn đá hình tứ giác, tiếp đó là rìu tứ giác Cả bôn và rìu đều
có dáng chuẩn xác và được mài nhẵn
Trang 18Nghề gốm: cực kỳ đa dạng gồm đồ đựng, đồ đun nấu, đồ dùng trong ăn uống, sinh hoạt,
đồ dùng trong lễ nghi Nhiều sản phẩm trang trí hoa văn rất đẹp, nhưng không có dấu hiệu đun nấu, có lẽ chức năng là hàng hóa uy tín, dấu hiệu của quyền lực
Nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên: có nghiên cứu cho rằng bộ lạc phái tây Nghệ - Tĩnh
di chuyển lên qua vùng Hòa Bình – Hà Tây cũ, hoặc vòng qua vùng Tây Bắc xuống đồng bằng sông Hồng Đa số cho rằng khi đồng bằng Bắc bộ hình thành đã có nhiều nhóm người từ mọi hướng tập trung về khu vực này Đó có thể là các nhóm từ biển vào (nguyên liệu cuội văn hóa
Hạ Long, bàn mài, gốm xốp Hạ Long), từ đồng bằng Thanh – Nghệ ra (đá mới Gò Trũng), từ
Hà Giang xuống (văn hóa Hà Giang), Từ Lạng Sơn về (văn hóa Mai Pha), các nhóm hậu kỳ đá mới Tây Bắc, Hòa Bình, Hà Tây; dấu của văn hóa Bắc Sơn
Sở dĩ coi cư dân Phùng Nguyên bước vào thời đại kim khí vì trong một số di chỉ đã tìm thấy gỉ đồng và những mẩu đồng thau nhỏ, là hợp kim của đồng và thiếc, ở Bãi Tự tìm thấy một mảnh vòng hoặc một đoạn dây kim loại bằng chì
* Các cư dân văn hóa Đồng Đậu
Tên gọi bắt nguồn từ di chỉ Đồng Đậu, thuộc xã Minh Tân huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc
Địa bàn phân bố các di tích Đồng đậu cơ bản trùng với Phùng Nguyên Nếu ở Phùng Nguyên mật độ tập trung lớn hơn ở Phú Thọ thì đến Đồng Đậu, người tiền sử có xu hướng tiến
xa hơn về phía đồng bằng ven biển
Nơi cư trú: chọn các gò đấtt bằng phẳng để ở
Niên đại C14: 3.390 + 70 – 2.650 + 130 năm cách nay thuộc trung kỳ đồng thau
Hoạt động sản xuất: cư dân Đồng Đậu là những thợ luyện kim thành thạo giai đoạn Phùng Nguyên chưa phát hiện thấy các sản phẩm đồng thau hoàn chỉnh thì giai đoạn này đã phát hiện những mũi tên, mũi nhọn bằng đồng
Tại di chỉ Tiên Hội đã tìm thấy khuôn đúc hai mang Tại các di chỉ khác giai đoạn này cũng đã tìm thấy khuôn đúc và nồi rót đồng Đồ đồng gồm nhiều loại như rìu, giáo, lao, mũi tên, lưỡi câu, mũi nhọn…có 3 loại rìu đặc trưng là rìu hình chữ nhật, rìu xòe cân và rìu lưỡi lệch
Đồ đá vẫn được sử dụng nhưng ngoại trừ đồ trang sức đá thì các loại công cụ đã giảm đáng kể do sự xuất hiện đồ đồng
Nghề thủ công làm gốm tiếp tục phát triển với nhiều loại hình như bát, chậu, vò bình, các loại nồi đáy tròn hay đáy bằng Xuất hiện một số mô típ hoa văn mới như khuông nhạc hay đường tròn đồng tâm Riêng hoa văn loại hình đồng tâm có thể là một trong những nguồn gốc của hoa văn trống đồng Đông Sơn
Nghề thủ công điêu luyện khác là đan lát, trên nhiều mảnh gốm còn để lại những dấu đan
Cư dân Đồng Đậu là những cư dân làm nông, hậu duệ trực tiếp của người Phùng Nguyên Hình thức canh tác có thể là ruộng nước có thể là ruộng khô
Trang 1919
Chăn nuôi đã rất phát triển trong các cộng đồng làm nông Đồng Đậu (phát hiện nhiều xương răng trâu bò, lợn, gà đã thuần dưỡng)
Săn bắt hái lượm vẫn đóng vai trò quan trọng
Bộ công cụ vũ khí săn bắt cũng rất phát triển Họ cũng biết làm tượng dựa vào các con vật nuôi gần gũi
* Cư dân giai đoạn Gò Mun
Gò Mun là một địa điểm khảo cổ ở Lâm Thao – Phú Thọ, tiêu biểu cho một giai đoạn tiến tới văn minh Đông Sơn Gò Mun là sự tiếp nối của cư dân Đồng Đậu
Địa bàn cư trú trùng với cư dân Phùng Nguyên và Đồng Đậu trước đó, nhưng chắc chắn
là mật độ cư trú đậm đặc hơn
Niên đại: C14 của di chỉ Vườn Chuối (Hà Nội) là 3045 + 120 năm cách ngày nay, di chỉ
Gò Chùa Thông là 2655 + 90 năm cách ngày nay
Nghề đúc đồng đã có những bước tiến lớn Giai đoạn Đồng Đậu chỉ có khoảng 10 loại hình hiện vật thì đến giai đoạn này có trên 20 loại hình hiện vật gồm công cụ, vũ khí, vật dụng khác nhau trong đó phát hiện cả liềm đồng Các hiện vật có rìu, giáo, lao, mũi tên, mũi nhọn, lưỡi câu, búa, liềm, lục lạc, vòng tay, trâm cài, nhẫn…Người Gò Mun vẫn sử dụng công cụ đá
Đồ trang sức cũng phong phú Một thay đổi trong bộ công cụ đá là không thấy lao giáo đá, có
Cư dân Gò Mun là những người có kinh nghiệm làm nông nghiệp Các nhà khảo cổ học
đã phát hiện ra những hầm chứa lương thực hoặc hạt giống ở di chỉ Gò Mun Cư dân ở đây không những có đủ mà còn dư thừa lương thực để sử dụng và dự trữ Phương thức canh tác là quảng canh trên một vùng rộng lớn Cư dân ở đây đã biết trồng cả lúa tẻ và lúa nếp, lúa ruộng
và lúa nương Người Gò Mun cũng đẩy mạnh chăn nuôi gia súc Cách thức canh tác có lẽ vẫn
là lùa các đàn gia súc xuống ruộng dẫm cho thuần thục đất để gieo cấy
1.3.2 Các cư dân thời đại kim khí vùng Bắc Trung Bộ
* Khu vực Thanh Hóa
Con đường phát triển của các cư dân thời đại kim khí tại vùng đồng bằng sông Mã có nguồn gốc từ hậu kỳ văn hóa đá mới ở đây, thuộc giai đoạn Gò trũng của văn hóa Đa Bút Trong
số các cư dân hậu duệ của người đá mới khu vực này, trước tiên phải kể đến người Hoa Lộc
Họ để lại di tích ở khu vực bắc Thanh Hóa gồm Hoa Lộc Liên Lộc… vào đến ngã ba khu vực sông Mã sông Chu có nhóm di tích Cồn Chân Tiên – Đông Khối
Cư trú trên các dải cồn cát ven sông, biển thuộc huyện Hậu Lộc Họ sử dụng những chiếc rìu và cuốc đá có vai
Trong các di chỉ thuộc văn hóa Hoa Lộc còn tìm thấy cả dấu Bắc Sơn, bàn mài kiểu Hạ Long, hoa văn gốm gần gũi với Mả Đống
Niên đại: 4.145 + 60 năm cách nay
Trang 20Tổ tiên trực tiếp của các cư dân thời đại kim khi Nghệ Tĩnh chí ít ít bao gồm hai nguồn:
đó là các cư dân Thạch Lạc và các nhóm cư dân Quỳnh Văn muộn Trong thời đại kim khí, các nhà nghiên cứu phát hiện được ba nhóm: nhóm đền đồi, nhóm Rú Trăn, nhóm cư dân vùng núi Nhóm đền đồi phân bố chủ yếu tại khu vực Quỳnh Hậu, Quỳnh Lưu (Nghệ An) Nhóm cư dân này sử dụng các công cụ đá mài là những chiếc rìu và bôn hình thang có kích thước nhỏ Người Đền Đồi chế tạo gốm bằng bàn xoay với các loại hình nồi vò bát bình mâm bồng
và các đồ dùng đun nấu, tô màu đỏ, tô ánh chì
Điều đó cho thấy mối liên hệ nguồn gốc với cư dân Thạch Lạc giai đoạn sớm
Nhóm cư dân Đền Đồi được các nhà nghiên cứu cho là cùng thời với cư dân Phùng Nguyên, Cồn Chân Tiên
Nhóm cư dân Rú Trăn gồm có người Rú Trăn và người Rú Cật Không giống Đền Đồi,
bộ sưu tập Rú Trăn rất phong phú: đồ đá, đồ đồng, và gốm Cư dân ở đây đã biết nấu đồng Cư dân Rú Trăn sống cùng thời với cư dân Gò Mun và sau đó phát triển trực tiếp thành giai đoạn văn hóa Đông Sơn trong cùng giai đoạn Nhóm cư dân Nghệ An – Hà Tĩnh còn để lại nhiều di tích khác
1.3.3 Các cư dân thời đại kim khí Nam Trung Bộ
* Cư dân Xóm Cồn
Các nhóm cư dân tiền Sa Huỳnh thuộc văn hóa Xóm Cồn phân bố chủ yếu tại khu vực Phú Yên và Khánh Hòa Cho đến nay đã phát hiện được 8 di chỉ của cư dân này, các nhà nghiên cứu chia làm hai loại hình cư trú: đó là các khu định cư trong đất liền, các khu ngoài đảo Dù cư trú theo nhóm nào thì đều có điểm chung là môi trường sống cồn cát và biển khơi Niên đại: có 2 niên đại C14 của di tích Xóm Cồn, tuổi 4.140 + 80 – 2.935 + 65 năm cách nay
Người Xóm Cồn sống trong thời đại kim khí cách ngày nay 3.500 – 3.000 năm, họ dùng công cụ đá trong đó có cả công cụ ghè đẽo và công cụ mài Đặc biệt ốc tai tượng được dùng để chế tác đồ trang sức
Người Xóm Cồn chế tạo gốm bằng kĩ thuật dải hòn kê Kỹ thuật bàn xoay thường được
sử dụng ở công đoạn cuối, biết trang trí hoa văn bằng kỹ thuật tô màu
Nhân chủng: Autralo – Mongoloit, trong đó yếu tố Mongoloit đậm hơn
Cư dân Xóm Cồn đã tạo nên chiếc cầu nối văn hóa giữa miền trung Tây Nguyên và khu vực sông Đồng Nai và Xóm Cồn là một trong những tiền nhân trực tiếp của người Sa Huỳnh
* Cư dân Long Thạnh
Nhóm cư dân tiền Sa Huỳnh tạo nên giai đoạn Long Thạnh trong tiền sử khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, cư trú dọc các dải đồng bằng ven các dòng sông và bờ biển
Trang 2121
Cư dân Long Thạnh cũng đã nhanh chóng phát triển các di chỉ cư trú của mình suốt dọc dải đồng bằng ven biển
Niên đại: 1420 + 40 và 925 + 60 năm TCN
Người Long Thạnh chế tác công cụ sản xuất bằng đá rất độc đáo Đó là những chiếc cuốc
to bản, lưỡi hình vòng cung, rất tiện lợi cho việc canh tác đất cát Bên cạnh đó bộ công cụ của
họ còn bao gồm những chiếc rìu tứ giác, những chiếc bôn răng trâu quen thuộc đối với khu vực miền Trung – Tây Nguyên Họ cũng sử dụng loại rìu mài đốc hẹp, không vai lưỡi xòe, có dáng hình tam giác Người Long Thạnh dùng đá ngọc, vỏ sò làm đồ trang sức
Đồ gốm của cư dân Long Thạnh được đánh giá là độc đáo và đẹp nhất trong số các sưu tập gốm cùng thời Trong đó nổi bật là loại hoa văn gốm tô ánh chì láng bóng
Nét văn hóa đặc trưng khác của người Long Thạnh là chôn người chết bằng mộ chum ngay tại nơi cư trú với các đồ tùy táng được xếp đặt có chủ ý Sự phân biệt về thân phận người chết đã biểu hiện qua sự chênh lệch về số lượng và chất lượng của đồ tùy táng
Nguồn gốc cư dân sơ kỳ kim khí thuộc giai đoạn tiền Sa Huỳnh miền Trung được các nhà nghiên cứu lần tìm từ văn hóa Bàu Tró, dựa trên sự tương đồng của bôn răng trâu, gốm tô ánh chì
* Cư dân Bình Châu
Các di tích: Nhóm cư dân này thuộc vào giai đoạn phát triển hậu kỳ đồng thau Nam Trung bộ, đã để lại các di tích của họ dọc ven biển các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và thành phố Đà Nẵng Đó là các di tích Bình Châu, Bàu Trám, Bàu Hòe, Xóm Ốc (đảo Lý Sơn), Gò Miếu Giai đoạn Bình Châu còn được phát hiện rải rác tại Ninh Thuận, Bình Thuận (Phú Trường)
Nơi cư trú: Người Bình Châu chủ yếu sống ở các đồi cát ven các cửa sông sát biển Tuy nhiên một số nhóm Bình Châu cũng đã vượt biển định cư tại các hòn đảo ngoài khơi, trong đó
có đảo Lý Sơn
Công cụ lao động: Người Bình Châu vẫn sử dụng phổ biến công cụ đá, trong đó có chiếc cuốc đá là công cụ canh tác hữu hiệu trên đất cát Các nhà khảo cổ học coi chiếc cuốc này là tiêu chí xác định đặc trưng tiền Sa Huỳnh cho các di tích ven biển Nam Trung Bộ Ngoài ra, tuy đã xuất hiện công cụ đồng, nhưng những chiếc rìu bôn đá vẫn còn đóng một vai trò đáng kể trong đời sống của cư dân Bình Châu Trong giai đoạn này, đồ trang sức bằng đá ngọc có phần giảm đi, nhưng lại xuất hiện đồ trang sức bằng gốm, đó là loại khuyên tai gốm hình con đỉa tìm thấy ở Bình Châu và Bàu Trám Trung tâm điểm của hiện vật gốm Bình Châu vẫn là những mộ bằng gốm, trong đó thường có đồ tùy tang gốm, đó là 3 – 5 chiếc nồi, vò hoặc bát đồng Người Bình Châu cũng chôn theo người chết các món đồ trang sức như khuyên tai, quả cân gốm Loại
đồ tùy tang không thể thiếu của giai đoạn này là những hiện vật bằng đồng như đục, lao, lưỡi câu, mũi tên…
Giống như loại người Long Thạnh, cư dân Bình Châu cũng có mối quan hệ nguồn gốc văn hóa rất gần gũi với các nhóm cư dân phía Bắc như Hoa Lộc và Bàu Tró Loại khuyên tai gốm hình con đỉa, hiện vật gốm hình quả cân và gốm tô ánh chì và màu đỏ… Có thể phong cách trang trí này của Bình Châu, Phôi Phối đã tham gia vào quá trình thành tạo văn hóa của cư dân vùng hải đảo khu vực Đông Nam Á
Trang 2222
1.4 Các cư dân thời đại kim khí Nam Bộ
Bước vào thời đại đồng thau trên đất Nam Bộ xuất hiện một loạt di tích khảo cổ, song tính thống nhất hội tụ văn hóa chưa rõ ràng và cũng chưa đầy đủ cơ sở để xác lập các văn hóa khảo cổ Trước đây, cũng đã có một số ý kiến thử đề xuất tên gọi văn hóa cho khu vực này như: văn hóa Phước Tân, văn hóa Bến Đỏ, văn hóa Cù Lao Rùa Cũng như vậy, việc xác định phả hệ cho các di tích thời đại đồng thau ở đây vẫn chưa có tiếng nói chung
Trong tình hình tư liệu hiện nay, có một cách tiếp cận khác là lấy địa hình và hệ thống các dòng sông làm chuẩn (hay theo phức hợp địa văn hóa), từ đó phân lập các nhóm di tích, đối sánh và tìm ra các bình tuyến tương ứng Bằng cách tiếp cận này, văn hóa thời đại đồng thau miền Nam Bộ có bốn nhóm cư đân theo trật tự địa hình như sau:
Nhóm cư dân ở vùng núi thấp và bình sơn nguyên đất đỏ ba dan, độ cao trung bình 200m, tập trung ở vùng Xuân Lộc, Đồi Mít, Đồi Xoài, Đồi Phòng Không, Suối Chồn, Dầu Giây, Phú Hòa, Hàng Gòn và Long Giao
Nhóm cư dân ở vùng phù xa cổ, đất xám tập trung ở lưu vực sông Đồng Nai, cao dưới 200m đến vài chục mét
Nhóm cư dân ở đồng bằng châu thổ bán ngập mặn, cao vài chục mét đến vài mét ở phía đông sông Đồng Nai
Nhóm cư dân ở đồng bằng châu thổ Cần Giờ thường xuyên ngập mặn, cao vài mét đến dưới mặt nước biển
Mỗi nhóm cư dân đặc trưng tổ hợp di tích và di vật riêng, niên đại và mối liên hệ phát triển văn hóa
Từ việc phân loại trên đây có thể nhận ra con đường và khuynh hướng phát triển tiền sử Nam Bộ không chỉ khác với Tây Nguyên mà còn khác với cả Trung Bộ và Bắc Bộ Việt Nam Đối với Tây Nguyên, ngay từ giai đoạn hậu kỳ đá mới - sơ kỳ đồng thau đã hình thành văn hóa khảo cổ, các nhóm văn hóa với đặc trưng riêng
Như vậy khuynh hướng và con đường phát triển văn hóa tiền sử ở mỗi khu vực là không giống nhau Song trên con đường ấy, chúng ta cũng có thể chỉ ra những yếu tố văn hóa xuyên qua các địa hình, như những nhịp cầu văn hóa nối Tây Nguyên với Nam Bộ trong quá khứ
Cư dân thời đại đồng thau ở Đông Nam Bộ vẫn sử dụng khá phổ biến công cụ bằng đá
Cư dân thời đại kim khí sông Đồng Nai chế tạo và sử dụng nhiều loại gốm: gốm xốp, gốm màu
Loại hình đồ gốm ở Nam Bộ phong phú và đặc sắc với bếp cà rang, gốm hình trụ dài đầu nhọn có nhiều tầng khúc, các loại khuyên tai, tượng động vật bằng đất nung Có nhiều loại văn
in và văn khắc vạch
Như vậy, cư dân thời đại đồng thau và sắt sớm Nam Bộ có giao lưu rộng mở với cư dân tiền sử Tây Nguyên, Trung Bộ và cả Bắc Bộ và cả các cư dân trên biển
Quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ
* Sự xuất hiện đồ kim loại
Trong suốt một thời gian rất dài, công cụ lao động của loài người chủ yếu là đồ đá Công
cụ đồ đá dù mỗi ngày một cải tiến, song cũng không đem lại năng suất lao động cao được Về
Trang 2323
sau người ta phát hiện ra được kim loại Công cụ làm bằng kim loại, lúc đầu là đồng nguyên chất, về sau là đồng thau, đem lại một năng suất không cao hơn hẳn so với công cụ đồ đá
* Sự chuyển biến sang chế độ công xã thi tộc phụ hệ
Sự phát triển cao hơn của nền sản xuất xã hội ở thời đại đồ kim loại đã đem lại những biến đổi mới trong xã hội và thay đổi địa vị của đàn ông
Chế độ hôn nhân tiến bộ dần thay thế, đó là chế độ gia đình một vợ một chồng Quá trình hình thành gia đình một vợ một chồng lại gắn liền với quá trình phát sinh chế độ tư hữu, với quá trình phân hoá xã hội thành giai cấp
* Sự xuất hiện chế độ tư hữu:
Bước sang thời kỳ xuất hiện đồ kim loại, do điều kiện sản xuất đã tiến bộ hơn, năng suất lao động trong các ngành cao hơn, lao động của mỗi người không những có thể đảm bảo được những nhu cầu tối thiểu cho đời sống của bản thân và con cái, mà còn có thể sản xuất dôi hơn một ít nữa, có thể làm ra được một số sản phẩm thặng dư Do đó mà có thể nảy sinh hiện tượng người bóc lột người tức là sự chiếm đoạt sản phẩm thặng dư do người khác làm ra
* Sự hình thành xã hội có giai cấp
Sự tích lũy của cải tư hữu ngày càng nhiều dưới hình thức ruộng tư, súc vật, hàng hóa hay tiền tệ làm cho sự chênh lệch về tài sản và về địa vị xã hội giữa các gia đình phụ hệ trong cùng một thị tộc hay giữa các thị tộc trong cùng một bộ lạc ngày càng rõ rệt Dần dần xã hội thị tộc phân hóa thành lớp những người giàu và lớp những kẻ nghèo
Giai cấp xuất hiện thì mâu thuẫn giai cấp phát sinh và không ngừng phát triển ngày càng sâu sắc Ðến một lúc nào đó, mâu thuận giai cấp không thể diều hòa được nữa thì giai cấp quý tộc giàu có đặt ra bộ máy nhà nước pháp làm công cụ thống trị để đàn áp sự phản kháng của nô
lệ và dân nghèo
Trên nền tảng phân hóa xã nội kết hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, trị thủy chống thiên tai và yêu cầu tự vệ, trên lãnh thổ Việt Nam đã hình thành 3 trung tâm văn minh và những nhà nước sơ khai phát triể thành các vương quốc cổ đại đầu tiên
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu1: Người vượn đã được coi là người chưa? Tại sao?
Câu 2: Lập bảng thống kê về quá trình phát triển của các giai đoạn thời nguyên thuỷ? Câu 3: Mối liên hệ giữa các con đường phát triển của thời đại Đá mới sau các văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn và Soi Nhụ?
Câu 4: Quá trình phát triển liên tục của cư dân thời đại kim khí từ Phùng Nguyên đến Đồng Đậu rồi Gò Mun?
Câu 5: Nguyên nhân tan rã của chế độ công xã nguyên thủy?
Trang 2424
Chương 2 THỜI KỲ HÌNH THÀNH CÁC NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN TRÊN LÃNH THỔ
VIỆT NAM
2.1 Văn hoá Đông Sơn; sự ra đời của nhà nước Văn Lang
2.1.1 Từ huyền thoại đến nhận thức khoa học
Trong lịch sử văn hóa truyền khẩu của nhân dân ta, từ rất lâu, trước khi những bộ lịch sử đầu tiên được biên soạn, đã lưu truyền rộng rãi những huyền thoại, những truyền thuyết về thủa khai thiên lập địa và buổi đầu dựng nước thời Hùng Vương
Vào thời Trần (1226-1400), Lê Sơ (1428-1527), những truyền thuyết kịch sử đó bước đầu được thu tập và biên soạn theo quan điểm của các tác giả đương thời
Vào cuối thời Trần và thời Lê sơ, một số nhà sử học dã dựa vào truyền thuyết dân gian, đưa thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang vào những bộ lịch sử dân tộc đầu tiên
Đại Việt lược sử là tác phẩm đời Trần, lần đầu tiên ghi chép về sự ra đời của nước Văn
Lang thời Hùng Vương trong chương mở “Những thay đổi trong buổi đầu của đất nước” (quốc
sơ diên cách)
Sang thế kỷ XV, Nguyễn Trãi khẳng định vị trí của nước Văn Lang thời Hùng Vương
trong cuốn Dư địa chí, tác phẩm địa lý học lịch sử đầu tiên của nước ta, và đặc biệt, Ngô Sĩ
Liên, mạnh dạn đưa thời Hùng Vương vào chính sử, đặt trong “Kỷ họ Hồng Bàng” thuộc phần
Ngoại kỷ của bộ Đại Việt sử ký toàn thư
Từ sau Đại Việt sử ký toàn thư thời dựng nước thời Hùng Vương đã xác định được vị trí
của nó trong lịch sử dân tộc, nhưng vẫn luôn luôn ở trong trạng thái nửa tin nửa ngờ, vừa khẳng định vừa băn khoăn
Dưới thời Pháp thuộc, quan điểm truyền thống về thời Hùng vương vẫn tiếp tục tồn tại
Trong cuốn Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim đã dành một chương cho “Họ Hồng Bàng”,
nhưng rồi lại nhận xét: “Chẳng qua nhà làm sử cũng nhặt nhạnh những chuyện hoang đường tục truyền lại, cho nên những chuyện ấy toàn là chuyện có thần tiên quỷ quái, trái với lẽ tự nhiên cả” và “chuyện Hồng Bàng không chắc là chuyện xác thực”
Bên cạnh những cuốn sử viết theo quan điểm truyền thống như vậy, trong thời kỳ này xuất hiện một số công trình nghiên cứu của các học giả phương Tây, chủ yếu là người Pháp Một số nhà Trung Quốc học phương Tây như H.Maspéro, L.Aurousseau đi sâu vào các nguồn tư liệu thư tịch cổ Việt Nam và Trung Quốc
H.Maspéro thừa nhận có một vương quốc cổ đại ở miền Bắc Việt Nam trước khi người Bắc tràn xuống, nhưng dựa vào thư tịch cổ của Trung Quốc để chứng minh rằng sử sách của người Việt đã chép nhầm tên nước là Dạ Lang thành ra Văn Lang, hiệu vua là Lạc Vương thành ra là Hùng Vương
L.Aurousseau cũng ghi nhận sự tồn tại của một vương quốc cổ của người Việt ở vùng Bắc Bộ, bắc Trung Bộ và nam Quảng Tây, Tây Nam Quảng Đông vào thời gian trước cuộc xâm lược của quân Tần, nhưng chỉ nói đến nước Tây Âu mà khong công nhận nước Văn Lang
và giải thích nguồn gốc của người Việt là từ lưu vực sông Dương Tử di cư xuống vào khoảng thế kỷ IV TCN
Trang 2525
Trong lúc đó, từ năm 1924 các nhà khảo cổ học phương Tây đã phát hiện được ở nước ta
di tích của một nền văn hóa đồng thau rực rỡ và sau đó được đặt tên là văn hóa Đông Sơn
Nhưng họ giải thích nguồn gốc của nền văn hóa đó theo quan điểm du nhập từ bên ngoài vào Sau Cách mạng tháng Tám 1945, cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền sử học hiện đại, lịch sử Việt Nam dần dần được nghiên cứu và viết lại, trong đó thời kỳ dựng nước đời Hùng Vương chiếm một vị trí quan trọng
Từ cuối những năm 60, thời đại Hùng Vương trở thành đề tài nghiên cứu và thảo luận càng ngày càng thu hút sự quan tâm và hứng thú của giới sử học và nhiều ngành khoa học có liên quan Những kết quả nghiên cứu được báo cáo và thảo luận trong 4 hội nghị khoa học,
được công bố trên 4 tập kỷ yếu của hội nghị mang đầu đề chung là Hùng Vương dựng nước
Bằng sự hợp tác khoa học và bằng phương pháp nghiên cứu liên ngành, kế hoạch ba năm nghiên cứu về thời đại Hùng Vương đã đạt được một số thành tựu cho phép bước đầu xác nhận:
Đó là một thời kỳ có thật trong lịch sử dân tộc vì không những nó được phản ánh trong truyền thuyết, trong thư tịch cổ, mà còn được chứng thực qua hàng loạt di tích khảo cổ học tạo thành một diễn biến văn hóa vật chất liên tục của thời kỳ ấy
Đó là thời kỳ ra đời và phát triển của một nền văn minh cổ đại của người Việt cổ
Địa bàn của nước Văn Lang: tương ứng với vùng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ nước ta ngày nay và một phần phía nam Quảng Đông, Quảng Tây thuộc Trung Quốc
Về thời gian tồn tại của thước Văn Lang: thì giới hạn sau có thể xác định vào khoảng thế
kỷ III TCN khi nước Âu Lạc thành lập thay thế cho nước Văn Lang, nhưng giới hạn mở đầu thì
rất mơ hồ
Trên phạm vi không gian và thời gian được truyền thuyết và thư tịch cổ gọi là "nước Văn Lang đời Hùng Vương" đó, trong thời gian qua, các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật hàng trăm di tích khảo cổ học thuộc thời đại kim khí phân bố trên địa bàn rộng lớn của các tỉnh miền bắc Việt Nam
Trên vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ thuộc lưu vực sông Hồng, khu vực được coi như địa bàn trung tâm của nước Văn Lang, các di tích phát hiện được theo kết quả nghiên cứu
và thảo luận được đa số các nhà khảo cổ học thừa nhận: có thể phân chia làm bốn giai đoạn
phát triển kế tiếp nhau:
1 Giai đoạn Phùng Nguyên (Phong Châu, Phú Thọ) thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng, tồn tại trong khoảng nửa đầu thiên niên kỷ thứ II TCN
2.Giai đoạn Đồng Đậu (Yên Lạc, Vĩnh Phúc) thuộc trung kỳ thời đại đồ đồng, tồn tại vào khoảng nửa sau thiên niên kỷ thứ II TCN
3 Giai đoạn Gò Mun (Phong Châu, Phú Thọ) thuộc vào hậu kỳ thời đại đồ đồng, tồn tại khoảng cuối thiên niên kỷ thứ II TCN đến đầu thiên niên kỷ I TCN
4.Giai đoạn Đông Sơn thuộc giai đoạn đỉnh cao của thời đại đồ đồng và đã chuyển sang
sơ kỳ thời đại đồ sắt tồn tại từ đầu thiên niên kỷ I TCN đến vài thế kỷ sau CN
Ba giai đoạn đầu được coi là các giai đoạn phát triển của văn hoá tiền Đồng Sơn ởlưu vực sông Hồng
Văn hoá Đông Sơn đã được giới khảo cổ học thế giới biết đến rất sớm, bắt đầu từ những
năm 20, 30 của thế kỷ XX Nó mang tên địa điểm khảo cổ học Đông Sơn bên bờ phải sông Mã, phía trên cầu Hàm Rồng khoảng 1km thuộc thành phố Thanh Hoá ngày nay
Trang 2626
Địa điểm khảo cổ học Đông Sơn được khai quật nhiều lần trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945.Không kể những hiện vật thu lượm một cách ngẫu nhiên, cho đến năm 1999 đã phát hiện được 275 địa điểm văn hoá Đông Sơn và hằng năm lại bổ sung thêm những địa điểm mới Thanh Hoá là nơi phát hiện di tích đầu tiên và phân bố dày đặc nhất, cho đến cuối năm 2004 số
di tích đã lên đến 80, và nếu kể cả những địa điểm phát hiện ngẫu nhiên thì lên đến 124 Các loại hình di tích văn hoá Đông Sơn rất phong phú, đa dạng, bao gồm di chỉ cư trú, di chị cư trú - mộ táng, mộ táng, di chỉ - xưởng
Đến giai đoạn Đông Sơn, đồ đá không còn bao nhiêu, ít ỏi về số lượng nghèo nàn về loại hình và phần lớn là đồ trang sức như vòng tay, vòng tai, một ít công cụ như rùi, bôn, chày, bàn mài, khuôn đúc rìu, dao găm Đồ gốm mang nặng ý nghĩa thực dụng, chế tạo đơn sơ và thường là gốm trơn không trang trí hoặc trang trí bằng những hoa văn đơn điệu như vặn thừng, văn chải ở thân Đã tìm thấy các loại đồ gốm như nồi, chõ, bình, chậu, bát, khuôn đúc, nồi nấu
Vũ khí xưa nhiều về số lượng, vừa đa dạng và độc đáo về loại hình mà sự phân biệt rạch ròi về chức năng sử dụng cưa một số không phải dễ dàng Vũ khí chiến đấu có các loại rìu chiến, búa chiến, dao găm, giáo, mũi lao, qua, mũi tên Phương tiện phòng vệ có những tấm che ngực hình vuông hay hình chữ nhật mà công dụng thực sự còn có sự phân vân trong giới khảo cổ học
Đồ dùng trong sinh hoạt có đủ loại từ những tháp, thố, bình, chậu, âu, đĩa, lọ, ấm, khay, muôi, thìa… Những di vật này kích thước khác nhau, trang trí đẹp, trong đó có những vật dụng nhỏ nhắn, thông thường nhưng tinh tế
Nhạc khí có hai loại chính là trống đồng, chuông đồng gồm nhiều kích cỡ và kiểu dáng khác nhau Trên một số di vật còn thấy hình ảnh của khèn
Đồ trang sức gồm các loại vòng tay khoá thắt lưng và một số hiện vật trang sức chưa xác định được công dụng Tượng đồng ngoài một ít tượng người đúc rời như tượng hai người cõng nhai (Đông Sơn), tượng người đàn ông tai đeo vòng (Phú Lương), phần lớn là tượng người và động vật gắn liền với hiện vật khác như vũ khí, đồ dùng Tượng động vật là những con vật quen thuộc của vùng nhiệt đới như cóc, chó, rùa, gà, rắn, chim
Đặc biệt, đến giai đoạn Đông Sơn, bên cạnh đồ đồng đạt đến đỉnh cao về chế tác và trang trí đã xuất hiện đồ sắt Đồ sắt gồm hai nhóm chính là công cụ như lưỡi cuốc, lưỡi mai, lưỡi liềm, rìu và vũ khí như kiếm, giáo
Ngoài ra còn có đồ thuỷ tinh như hạt chuỗi, vòng tai, vòng tay, một ít đồ xương, đồ tre
Trang 27Như vậy là từ giới hạn không gian và thời gian của "nước Văn Lang" trong thư tịch cổ và truyền thuyết, chúng ta xác định và đưa vào sử dụng một khối lượng tư liệu khảo cổ học có giá
từ bậc nhất trong việc nghiên cứu thời đại Hùng Vương
2.1.2 Cơ sở kinh tế và sự phát triển của sức sản xuất
Thời Hùng Vương trong quan niệm truyền thuyết với thời gian tồn tại khoảng 2000 năm TCN, bao quát các giai đoạn phát triển từ sơ kỳ thời đại đồ đồng đến sơ kỳ thời đại đồ sắt, phải được quan niệm và nghiên cứu như một quá trình vận động nói chung là từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp từng bộ phận, từng hình thái cũng có bước tiến triển của nó
Vào thời đại đồ đồng, tương ứng với giai đoạn Phùng Nguyên, Đồng Đậu ở lưu vực sông Hồng và các giai đoạn văn hoá tiền Đông Sơn nói chung, một số chuyển biến quan trọng đã được ghi nhận Cơ sở kinh tế xã hội như vậy chỉ có thể nằm trong quá trình suy yếu và tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, chưa hội đủ những điều kiện cho sự ra đời của nhà nước Trong giai đoạn Đông Sơn, nền kinh tế càng ngày càng phát triển mạnh mẽ và đạt đến một trình độ khá cao Công cụ sản xuất chuyển hẳn sang những công cụ đồng và công cụ sắt Nền kinh tế bao gồm nhiều ngành nghề, trong đó nông nghiệp trồng lúa nước trở thành ngành chủ đạo
- Về nông nghiệp: giai đoạn Đông Sơn đánh dấu một bước tiến lớn lao Ngoài rìu đồng
được sử dụng để khai phá đất đai, lưỡi dao gặt (nhíp) đồng dùng để thu hoạch, đã tìm thấy hàng loạt công cụ làm đất như lưỡi cày, cuốc, xẻng, thuổng (mai) bằng đồng và một số lưỡi cuốc, thuổng (mai), rìu, liềm bằng sắt Ngoài ra, hẳn còn nhiều loại công cụ bằng tre, gỗ không được bảo tồn đến nay
Cho đến nay, đã tìm thấy khoảng 200 lưỡi cày đồng Như vậy là một nền nông nghiệp dùng cày với những lưỡi cày bằng kim loại đã ra đời và phát triển, thay thế dần cho nền nông nghiệp dùng cuốc trước đó
Cày có thể kéo bằng sức người hay sức vật Với những lưỡi cày cỡ lớn và với việc nuôi trâu bò đã phát triển thời bấy giờ, có nhiều khả năng con người đã biết sử dụng trâu bò để kéo cày
Bằng những công cụ kim khí cư dân Đông Sơn đã mở rộng địa bàn cư trú, đẩy mạnh công cuộc chinh phục vùng đồng bằng Bắc Bộ và bắc Trung Bộ
Từ những điểm tụ cư trên các gò đồi, chân núi, trên các đồi đất cao ven sông, con người khai phá đất đai, mở rộng diện tích trồng lúa nước bằng nhiều hình thức canh tác phù hợp với địa hình và thổ nhưỡng từng vùng Tựu trung có hai hình thức canh tác chính là làm rẫy và làm ruộng
Rẫy hay nương rẫy là một hình thức trồng trọt sơ khai, áp dụng ở miền đồi núi, mặt đất thường dốc: không có điều kiện thâm canh, làm thuỷ lợi Người ta phát cây cối, dùng lửa đốt cháy thành tro than, rồi chọc lỗ, tra hạt Đó là lối "đao canh hoả chủng"
Trang 2828
Ruộng có nhiều loại, nhưng chủ yếu và phổ biến là loại ruộng nước, gồm những chân ruộng phù sa ven sông, chân ruộng trồng ở vùng thấp trũng và quanh các ao đầm Đối với loại ruộng này, có thể áp dụng rộng rãi kỹ thuật cày bằng những lưỡi cày đồng và sức kéo của trâu
bò hay cũng có thể áp dụng kỹ thuật "đao canh thủy nậu" (cày bằng đao, làm nát bằng nước),
"hoả canh, thuỷ nậu" (cày hằng lửa, làm nát bằng nước) tức phát cây, đốt cỏ rồi chờ nước hay tháo nước vào ruộng, giẫm cho sục bùn để gieo trồng Ruộng nước nói chung là loại ruộng cố định, được trồng trọt thường xuyên, mặt ruộng được cải tạo, có bờ giữ nước, nghĩa là có điều kiện thâm canh tăng vụ
Công cuộc chinh phục vùng đồng bằng, phát triển ngư nghiệp trồng lúa nước đặt ra yêu cầu càng ngày càng bức thiết về công tác trị thuỷ và thuỷ lợi Thiên nhiên nhiệt đới gió mùa với lượng nước, nhiệt độ, độ ẩm cao, cùng với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng vùng đồng bằng
có mặt rất thuận lợi cho nghề trồng lúa nước, nhưng cũng có mặt khắc nghiệt của nó, trước hết
là mối đe doạ của nạn lũ lụt, hạn hán, úng ngập
Vào cuối thời Hùng Vương, cư dân vùng đồng bằng có thể đã biết đắp đê, nhưng chắc chắn đã biết đắp những đoạn đê quai để khai phá đất đai và chống ngập lụt cho từng vùng
Cây trồng chủ yếu là lúa nước, bao gồm cả lúa tẻ, lúa nếp và có thể lúc bấy giờ, lúa nếp
còn được trồng phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong đời sống, chiếm tỷ lệ cao trong thành phần lương thực của con người
Cùng với nghề trồng lúa nước, nghề trồng rau củ và cây căn quả vẫn tiếp tục phát triển Hạt na, hạt trám đã tìm thấy ở di chỉ Đồng Đậu, hạt đậu đã tìm thấy ở di chỉ Hoàng Ngô Kết quả phân tích bào tử phấn hoa ở di chỉ Tràng Kênh cho thấy có những cây thuộc họ hòa thảo,
họ đậu, họ bầu bí, họ dâu tằm Trong truyền thuyết dân gian nói đến việc trồng dưa hấu trong truyện Mai An Tiêm, trồng cau, trầu trong chuyện Trầu Cau
Cùng kết hợp với nông nghiệp còn có nghề hái lượm, săn bắn, chăn nuôi, đánh cá Hái lượm và săn bắn là những ngành kinh tế khai thác, vẫn tồn tại và có mặt phát triển, nhưng bị đẩy xuống hàng thứ yếu
Chăn nuôi phát triển theo hướng gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp không tách ra thành
một ngành kinh tế độc lập Chó, lợn, trâu, bò là những gia súc quen thuộc của cư dân thời Hùng Vương mà xương, răng của chúng đã tìm thấy trong nhiều di tích khảo cổ học Sự phát triển mạnh của nghề nuôi trâu bò vào cuối thời Hùng Vương có lẽ không phải chỉ để cung cấp thịt, mà còn đáp ứng yêu cầu sức kéo trong nông nghiệp
Cư dân thời Hùng Vương hẳn đã biết nuôi gà và con gà đã trở thành con vật quen thuộc trong cuộc sống, được phản ánh trong nghệ thuật tạo hình
Việc nuôi ngựa chưa tìm thấy chứng tích trong khảo cổ học, dù truyền thuyết Thánh Gióng có nêu lên hình tượng ngựa sắt Nhưng việc thuần dưỡng voi thì đã được xác nhận, không phải chỉ vì tìm thấy răng voi trong một số di chỉ mà trước hết là vì đã tìm thấy tượng voi bằng đồng có bành ở Làng Vạc
Nghề đánh cá, nếu dấu vết có mờ nhạt ở giai đoạn Phùng Nguyên thì lại tỏ ra có những
bước phát triển đáng kể ở những giai đoạn sau Xương răng cá các loại cùng với những chì lưới bằng đất nung, lưỡi câu bằng đồng thau, mũi lao đâm cá có ngạch bằng xương…tìm thấy trong
nhiều di chỉ chứng minh điều đó
Trang 2929
- Về thủ công nghiệp cũng phát triển mạnh mẽ, có nghề phát triển vượt bậc và có tác
động qua lại chặt chẽ với nông nghiệp
Nghề làm đá vẫn được bảo tồn và chuyển sang chức năng làm đồ trang sức bằng đá quý
là chủ yếu Người thợ làm đá trên thực tế đã trở thành người thợ làm đồ mỹ nghệ
Nghề làm gốm thời Hùng Vương nói chung chưa vượt quá giới hạn của gốm thô, nhưng
có nhiều tiến bộ đáng kể
Từ giai đoạn Phùng Nguyên, kỹ thuật 1àm gốm bằng bàn xoay đã phát triển Xương gốm làm bằng đất sét pha với cát và một ít vụn bã động vật, thực vật, để vừa dễ tạo hình, vừa chịu đượt độ lửa cao, ít bị biến dạng và rạn nứt khi nung Xuơng gốm được tráng một lớp nước đất sét để sau khi nung, tạo thành một lớp áo mịn và nhẵn
Đồ gốm Đông Sơn, loại hình đơn điệu và ít được trang trí Điều đó không chứng tỏ sự suy thoái của kỹ thuật gốm, mà phản ánh xu hướng thực dụng của nghề làm gốm, khi những đồ đựng có giá trị được chế tạo bảng đồng thau và đồ gốm thô trở thành đồ dùng bình thường, thông dụng
Nghề mộc và nghề đan nát được trang bị thêm những công cụ bằng kim khí và có những bước phát triển mới
Nghề mộc và nghề đan lát được trang bị thêm những công cụ bằng kim khí và có những
bước phát triển mới
Nghề dệt cũng để lại nhiều chứng tích về sự tồn tại và phát triển trong suốt thời đại kim
khí Dấu thừng trên đồ gốm và dọi xe chỉ bằng đất nung cho thấy nghề xe sợi đã có từ giai đoạn Phùng Nguyên Từ sợi, người ta dệt lưới cung cấp cho nghề đánh cá và dệt vải đáp ứng nhu cầu may mặt của con người Chì lưới đã tìm thấy khá nhiều Hình người trên đồ dùng Đông Sơn, nhất là trên trống và thạp đồng đều mặc áo, mặc váy, đóng khố
Nghề sơn đã xuất hiện và đến giai đoạn Đông Sơn đã đạt đến trình độ kỹ thuật cao Trong
mộ Việt Khê, một số đồ gỗ được sơn nhiều màu như đen, nâu nhạt, vàng, đỏ nhạt và trang trí đẹp
Trong các nghề thủ công thời Đông Sơn, sự ra đời và phát triển của nghề luyện kim, bao
gồm nghề đúc đồng và nghề luyện sắt, có ý nghĩa như một cuộc cách mạng vì nó tác động sâu sắc đến toàn bộ nền kinh tế và từ đó gây nên những chuyển biến lớn trong cơ cấu xã hội
Nghề đúc đồng xuất hiện từ giai đoạn Phùng Nguyên, phát triển liên tục qua các giai
đoạn Đồng Đậu, Gò Mun và đạt đến đỉnh cao rực rỡ vào giai đoạn Đông Sơn Tiến trình lịch sử
đó cùng với việc phát hiện ra những cục xỉ đồng và khuôn đúc đồng, cho thấy quá trình phát triển lâu dài, tại chỗ và tính chất bản địa của nghề luyện kim đồng ở nước ta
Luyện kim đồng là một quá trình sản xuất phức tạp, nặng nhọc, bao gồm nhiều khâu lao động từ chỗ tìm quặng, khai mỏ, đến việc xây lò, nấu quặng, pha chế hợp kim, làm khuôn, đổ đồng Đồng thau là một hợp kim đầu tiên do con người sáng chế
Theo các tài liệu địa lý học lịch sử thì miền Bắc nước ta có khá nhiều mỏ đồng và cả mỏ thiếc, mỏ chì Lịch sử khai khoáng cũng cho biết, trong thời trung đại, hàng chục mỏ đồng và một số mỏ thiếc, mỏ chì đã được khai thác
Trừ một vài công cụ nhỏ như lưỡi câu, mũi nhọn được chế tạo bằng phương pháp rèn, hầu hết hiện vật đồng Đông Sơn đều là sản phẩm của nghề đúc
Hiện vật tiêu biểu cho tài năng và kỹ thuật tuyệt vời của nghề đúc đồng thời Hùng Vương
là trống đồng và thạp đồng
Trang 3030
Trong giai đoạn Đông Sơn, trên cơ sở phát triển cao của nghề đúc đồng, nghề luyện sắt
đã xuất hiện, và ngược lại, sự phát triển của kỹ thuật luyện sắt lại có tác dụng thúc đẩy sự hoàn thiện của kỹ thuật đúc đồng
Những hiện vật sắt tìm thấy có hàm lượng sắt rất cao và trên nhiều hiện vật còn cỏ dấu vết rèn Những hiện vật ấy được chế tạo bằng sắt từ quặng và bằng phương pháp rèn Nước ta
có nhiều quặng, phân bố rộng rãi ở nhiều nơi Cư dân cuối thời Hùng Vương hẳn đã biết khai thác một số mỏ sắt đó
Một phương pháp luyện sắt cổ xưa là phương pháp hoàn nguyên
Một chiếc rìu sắt tìm đươc trong một ngôi mộ ở Đông Sơn, còn mang rõ dường chỉ đúc, chứng tỏ hiện vật được đúc bằng khuôn hai mang Như vậy, bên cạnh phương pháp rèn, vào cuối thời Hùng Vương có thể đã xuất hiện phương pháp đúc gang
Nhìn lại một cách tổng quát, trong khoảng 2000 năm trước Công nguyên, nền kinh tế thời đại kim khí đã trải qua những bước phát triển lớn lao Từ nền kinh tế mang dáng dấp nguyên thủy với công cụ bằng đá còn phổ biến của giai đoạn đầu đã phát triển thành một nền kinh tế đa dạng, phong phú với những công cụ bằng đồng thau, bằng sắt, lấy nông nghiệp trồng lúa nước làm cơ sở, vào giai đoạn Đông Sơn Bản thân nền nông nghiệp trông lúa nước cũng chuyển biến mạnh mẽ từ nông nghiệp dùng cuốc lên nông nghiệp dùng cày với lưỡi cày bằng kim loại và sức kéo của gia súc Cùng với quá trình phát triển kinh tế đó là quá trình con người
mở rộng địa bàn cư trú bao gồm cả vùng đồi núi, trung du và vùng đồng bằng
2.1.3 Những chuyển biến về xã hội
Hôn nhân và gia đình
Sự phát triển mạnh mẽ của sức sản xuất đã dẫn đến những hệ quả về mặt xã hội, gây nên những chuyển biến sâu sắc trong thể chế hôn nhân và gia đình cũng như trong toàn bộ kết cấu
Sự phát triển của sức sản xuất, trước hết là việc sử dụng như là công cụ lao động bằng kim loại với hiệu suất lao động cao hơn, đã cho phép những gia đình nhỏ như vậy trở thành đơn vị kinh tế
Sự tồn tại phổ biến của công xã nông thôn
Cùng với quá trình ra đời và phát triển của gia đình nhỏ, công xã thị tộc dần dần tan rã và nhường chỗ cho công xã nông thôn
Công xã nông thôn là một hình thái xã hội xuất hiện phổ biến vào giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ và quá độ sang xã hội có giai cấp Nói chung, công xã nông thôn
Trang 31Công xã thị tộc là một đơn vị cư trú và sản xuất, ngôi nhà cộng đồng và nơi ở tập thể là
cơ sở kinh tế của công xã Trong công xã nông thôn, có thể bảo tồn hình thức lao động hiệp tác cộng đồng trong một số hoạt động kinh tế nào đó như khai hoang, sản xuất vì lợi ích chung của cộng đồng, nhưng đơn vị sản xuất chủ yếu và thường xuyên là gia đình Tế bào xã hội là gia đình, có thể là gia đình nhỏ (thường là hai thế hệ hay có thể mở rộng ít nhiều) haygia đình lớn (ba, bốn thế hệ)
Trong công xã thị tộc, chưa có tư hữu tài sản, chưa có phân hoá xã hội, phân công theo lứa tuổi, theo giới tính và khả năng từng thành viên, cùng làm chung, ăn ở chung và phân phối bình quân Trong công xã nông thôn, chế độ tư hữu tài sản đã ra đời, nhà ở và công cụ sản xuất, sản phẩm lao động thuộc quyền sở hữu của người lao động
Như vậy, trong công xã nông thôn đã chứa đựng "tính nhị nguyên cố hữu" và "tính nhị nguyên bẩm sinh" của nó chấp nhận một trong hai con đường: yếu tố tư hữu thắng yếu tố tập thể, hoặc yếu tố sau thắng yếu tố trước
Những di tích kháo cổ học thời Hùng Vương thường rộng hàng nghìn mét vuông cho đến một vài vạn mét vuông và tầng văn hoá khá dày Đó là những xóm làng định cư: ít ra vào giai đoạn cuối thời Hùng Vương Dựa trên cơ sở công xã nông thôn Trong tiếng Việt, những công
xã nông thôn đó sau này được gọi là làng, thôn, ấp, nhưng trước đấy còn có những tên gọi cổ
hơn như kẻ, chạ, chiềng
Mỗi công xã nông thôn gồm một số gia đình sống quây quần trong một khu vực địa lý nhất định Một đặc điểm quan trọng của công xã nông thôn nước ta là bên cạnh quan hệ láng giềng, địa lý, quan hệ huyết thống vẫn được bào tồn bền vững bên trong công xã
Những từ "ruộng lạc"(lạc dân), chép trong thư tịch cổ cho thấy, thời bấy giờ ruộng đất tư hữu chưa xuất hiện Toàn bộ ruộng đất cày cấy cùng với rừng núi, sông ngòi, ao dầm trong phạm vi công xã đều thuộc quyền sở hữu của công xã
Ruộng đất cày cấy của công xã được phân chia cho các gia đình thành viên sử dụng Đơn
vị sản xuất chủ yếu là gia đình nhỏ Công việc khai hoang, làm thuỷ lợi và những lao động công ích khác đều được tiến hành bằng lao động hiệp tác của toàn thể công xã Rừng núi, sông ngòi, ao đầm của công xã thuộc quyền sử dụng chung của các thành viên công xã
Cách phân chia ruộng đất lúc bấy giờ có lẽ được thực hiện bằng những tục lệ còn mang tính chất bình đẳng, dân chủ của cộng đồng công xã Trong lịch sử, tựu trung có hai cách phân chia ruộng đất công của làng xã Thời Hùng Vương, chưa có ruộng đất tư hữu, nên cách phân chia ruộng đất phổ biến của các công xã lúc đó có thể là cách chia một lần, chứ chưa phải là
cách chia định kỳ
Tóm lại công xã nông thôn ra đời và tồn tại phổ biến trong thời Hùng Vương thuộc loại hình công xã Á châu với đặc trưng cơ bản là ruộng đất thuộc quyền sở hữu công xã, nhưng cũng có những đặc điểm, sắc thái riêng mà nét nổi bật là sự liên kết và bảo tồn lâu dài quan hệ láng giềng với quan hệ huyết thống
Trang 3232
Một bước phát triển của phân hoá xã hội
Một chuyến biến xã hội quan trọng của thời Hùng Vương là sự tan rã của quan hệ cộng đồng nguyên thuỷ và sự phân hoá xã hội
Tiền đề vật chất có ý nghĩa quyết định của sự phân hoá xã hội là sự phát triển của sức sản xuất đến mức độ tạo ra sản phẩm thặng dư của xã hội Vào giai đoạn phát triển của kỹ thuật đồng
và sơ kỳ đồ sắt, năng suất lao động càng được nâng cao và sản phẩm thặng dư càng tăng lên
Sự phát triển của sức sản xuất cùng với sự phân công lao động xã hội dẫn đến sự trao đổi
sản phẩm giữa các địa phương và các tập đoàn người trong xã hội
Nói chung, sự phân công lao động xã hội lần thứ nhất là sự hình thành những bộ lạc chăn nuôi tách ra khỏi những bộ lạc trồng trọt
Sự phân công lao động xã hội lần thứ hai là thủ công nghiệp tách rời khỏi nông nghiệp Trên cơ sở phân công lao động xã hội, sự trao đổi sản phẩm và nguyên liệu giữa các địa phương càng ngày càng mở rộng và có thể nói, vào cuối giai đoạn văn hoá Đông Sơn đã manh
nha sản xuất và trao đổi hàng hóa Hình thức trao đổi chủ yếu lúc bấy giờ là vật đổi vật, hoặc
thông qua một vật ngang giá chung nào đó
Tất cả sự phát triển kinh tế trên đây đã tạo nên tiền đề và cơ sở cho sự phân hóa xã hội Tài liệu mộ táng do khảo cổ học cung cấp là những cứ liệu đáng tin cậy phán ánh quá trình phân hóa xã hội thời Hùng Vương Cách thức mai táng cùng với số lượng và giá trị đồ tuỳ táng cho thấy sự cách biệt giữa các chủ nhân ngôi mộ trong thế giới người chết và đó chính là hình ảnh về sự phân hoá xã hội của thế giới người sống
Đầu thời Hùng Vương, trong giai đoạn Phùng Nguyên khu mộ táng Lũng Hoà (Vĩnh Phúc) cho thấy sự phân hoá xã hội hầu như chưa đáng kể
Nhưng trải qua các giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, đến giai đoạn Đông Sơn, mức độ phân hoá xã hội càng ngày càng tăng tiến
Loại hình mộ táng đã trở nên phức tạp và đa dạng với nhiều cách mai táng khác nhau Khảo cổ học đã phát hiện mộ huyệt đất ở Đông Sơn, mộ huyệt đất có rải gốm vụn ở đầy mộ hoặc ghép gốm làm thành huyệt, mộ lợp đá ở Làng Vạc, mộ quan tài thân cây khoét rỗng như thuyền độc mộc ở Việt Khê, Châu Can, mộ vò úp nhau ở Làng Vạc, Quỳ Chữ, mộ có quách gỗ
ở La Đôi, mộ quan tài ghép tấm có đinh đồng ở Làng Cả
Hiện vật chôn trong mộ lại càng cách biệt về số lượng và giá trị
Ở Làng Cả (Phú Thọ) trong số 320 mộ, nghiên cứu kỹ 307 mộ có niên đại trước Bắc thuộc, tìm thấy 217 hiện vật phân bố như sau:
đồ đá (5%) Khu mộ táng Làng Cả phản ánh một tình trạng phân hóa xã hội rõ nét: 84,1% số
mộ không chôn theo đồ tùy táng, 2% số mộ có trên 11 đồ tùy táng
Trang 3333
Như vậy, tài liệu mộ táng xác nhận một quá trình phân hoá xã hội diễn biến theo hướng càng ngày càng sâu sắc, dẫn đến tình trạng phân biệt về của cải và thân phận con người trong xã hội Tuy nhiên, sự phân hoá theo hai cực chưa thật gay gắt và mức độ phân hoá chưa cao lắm
Xã hội thời Hùng Vương, ít ra vào giai đoạn cuối, tồn tại ba tầng lớp xã hội:
- Tầng lớp quý tộc
- Tầng lớp nô tỳ
- Tầng lớp dân tự do của công xã nông thôn
Tầng lớp quý tộc gồm những người trong bộ máy thống trị họp lại Họ vốn là những quý
tộc bộ lạc gồm các tộc trương, tù trưởng bộ lạc, thủ lĩnh liên minh bộ lạc Họ bóc lột nô tỳ và được quyền "ăn ruộng" của lạc dân, nghĩa là thu một phần sản phẩm thặng dư của công xã dưới hình thức cống nạp hay lao dịch
Tầng lớp quý tộc thời Hùng Vương có những đặc điểm sau:
Gồm những "cá nhân thống trị" họp lại, đứng đầu là Hùng Vương, rồi đến Lạc hầu, Lạc tướng, cho đến Bồ chính cùng với con cái và gia đình Họ được quyền thế tập và về mặt nào
đó, tồn tại như một đẳng cấp huyết thống
Ngoài một số nô tỳ phục dịch trong nhà, cơ sở bóc lột chủ yếu của họ là công xã nông thôn Họ vừa có mặt đại diện cho công xã trên một số lợi ích chung, vừa "ăn ruộng" của công
xã như những đơn vị bóc lột
Với một số tài sản và quyền lực tập trung trong tay, họ có phần tách ra khỏi cộng đồng, nhưng mức độ phân hóa chưa cao và chưa mang tính chất đối kháng gay gắt
Tầng lớp nô tỳ ở vào địa vị thấp nhất trong xã hội thời Hùng Vương Nguồn gốc của họ
có thể là những thành viên công xã nghèo khổ hay vi phạm tục lệ công xã bị bắt làm nô tỳ, hoặc có thể là người ngoại tộc bị bán làm nô tỳ (như được phản ánh trong chuyện An Tiêm) Tầng lớp nô tỳ có thể tham gia sản xuất ít nhiều, nhưng chủ yếu là phục dịch trong các gia đình quý tộc Số lượng nô tỳ trong xã hội không nhiều và vai trò trong sản xuất không đáng
kể Thực chất, đó là chế độ nô lệ gia đình phổ biến ở phương Đông mà nó không thể tạo thành
cơ sở của sản xuất, chỉ gián tiếp hay trực tiếp bổ sung cho kinh tế gia đình
Tầng lớp dân tự do của công xã nông thôn là tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội và giữ
vai trò lực lượng sản xuất chủ yếu
Họ được công xã chia ruộng đất cho cày cấy, "khẩn ruộng đó mà ăn", nhưng lại bị Lạc hầu "ăn ruộng" Một hình thức bóc lột nào đó đã trùm lên công xã và trên thực tế, đã biến công
xã thành cơ sở và đơn vị bóc lột
Thời Hùng Vương, nếu hiểu theo quan niệm truyền thống kéo dài khoảng 2000 năm trước Công nguyên, bao gồm từ giai đoạn Phùng Nguyên đến giai đoạn Đông Sơn, thì đó là một quá trình biến động xã hội phức tạp từ chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã chuyển dần sang
một xã hội phân hoá giai cấp sơ kỳ mang những đặc trưng của hình thái Á châu
2.1.4 Quá trình hình thành nhà nước đầu tiên
Cơ sở ra đời Nhà nước Văn Lang
Nói chung, Nhà nước là một phạm trù lịch sử của xã hội có giai cấp Nhà nước ra đời như là sản phẩm tất yếu của một xã hội mâu thuẫn giai cấp phát triển đến mức độ không thể điều hoà được
Trang 3434
Nhưng trên cơ sở phân hoá xã hội, trong quá trình hình thành Nhà nước, Ph.Ăngghen còn
đề cập đến những nhân tố khác Đó là con đường hình thành nhà nước của nhiều nước phương Đông Đối với con đường hình thành nhà nước này, ngoài sự phân hoá xã hội, cần thấy rõ vai trò và tác động của nhân tố thuỷ lợi và tự vệ
Nước ta thời Hùng Vương, sự phát triển của sức sản xuất đã gây ra nhiều biến động xã
hội và đưa đến một tình trạng phân hoá xã hội rõ nét vào giai đoạn Đông Sơn Giàu nghèo,
sang hèn, bất bình đẳng xã hội đã in đậm dấu ấn trong các khu mộ táng, phản ánh qua một số truyền thuyết dân gian và tư liệu thư tịch Mức độ phân hoá chưa cao, nhưng cũng đã tạo ra một cơ sở xã hội cần thiết cho quá trình hình thành Nhà nước đầu tiên Thêm vào đó, nhân tố thuỷ lợi và tự vệ đã đóng vai trò quan trọng
Thiên nhiên với địa hình, đất đai, khí hậu…của nước ta, nhất là miền Bắc, đã chứa đựng sẵn trong đó hai mặt đối lập với cuộc sống của con người: thuận lợi - khắc nghiệt, ưu đãi - thử thách Yêu cầu thuỷ lợi là một đặc điểm kinh tế quan trọng của các nền văn minh nông nghiệp phương Đông không những ảnh hưởng đến đời sống xã hội mà còn tác động đến quá trình hình thành nhà nước
Sức mạnh của con người vươn lên chinh phục và cải tạo thiên nhiên đã được huyền thoại hóa bằng những kỳ tích diệt trừ Mộc tinh (miền đồi núi), Ngư tỉnh (miền biển), Hồ tinh (miền châu thổ), chống Thủy tinh (ngập lụt) Lúc ban đầu nó là chức năng xã hội xuất phát từ lợi ích chung, nhưng rồi trong tay người giao phó, dần dần trở thành chức năng của nhà nước đối với
xã hội
Nước ta ở vào một vị trí địa lý mang tính chất tiếp xúc của bán đảo Đông Dương và Đông Nam Á Nó nằm trên đầu mối của những luồng giao thông tự nhiên, vừa nối liền với đại lục trong thế núi liền núi, sông liền sông, vừa có bờ biển dài nhìn ra Thái Bình Dương Đó là một vị trí giao lưu kinh tế, văn hoá thuận lợi, nhưng cũng lắm đụng độ và dễ bị tiến công từ nhiều phía Yêu cầu tự vệ chống các mối đe doạ từ ngoài đến vì thế, cũng sớm được đặt ra và càng ngày càng trở nên bức thiết
Về phương diện này, khảo cổ học cho thấy một hiện tượng đáng lưu ý Trong giai đoạn Phùng Nguyên, số lượng vũ khí chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với toàn bộ hiện vật, như ở Văn Điển là 0,28%, Phùng Nguyên là 0,84%, Lũng Hoà là 2,91% Tỷ lệ thấp, kiểu loại ít và nhiều
vũ khí chưa phân hoá với công cụ sản xuất
Nhưng đến giai đoạn Đông Sơn, tỷ lệ vũ khí tàng vọt lên trên 50% Kết quả thống kê cho biết số lượng và tỷ lệ đó ở một số di tích quan trọng như sau
Địa điểm Tổng số hiện vật đồng Số lượng vũ khí Tỷ lệ (%)
Trang 3535
mộ táng Làng Cả, tỷ lệ đó là 56,9%, trong đó có 2 mộ có nhiều đồ tuỳ táng nhất thì cũng là 2
mộ có nhiều vũ khí nhất: một mộ có 18 vũ khí trong tổng số 22 hiện vật và mật mộ có 12 vũ khí trong tổng số 18 hiện vật
Không những tỷ lệ vũ khí tăng tiến rõ rệt, mà kiểu loại vũ khí cũng trở nên phong phú, đa dạng, gồm vũ khí đánh gần như rìu, giáo, dao găm, kiếm ngắn, qua, vũ khí đánh xa như cung,
nỏ, lao, và phương tiện phòng hộ như tấm che ngực, khiên mộc,
Hiện tượng khảo cổ học trên chứng tỏ vào cuối thời Hùng Vương, con người sống trong một xã hội đầy biến động xung đột nên phải ra sức sản xuất và hoàn thiện các loại vũ khí Chiến tranh đã trở thành hiện tượng kịch liệt và phổ biến trong xã hội Chiến tranh thời
đó bao gồm cả những cuộc xung đột bên trong và những cuộc xung đột với bên ngoài
Vào cuối thời Hùng Vương, nạn ngoại xâm càng ngày càng trở thành mối đe doạ nghiêm trọng Đó là lúc ở Trung Quốc, các thế lực bành trướng đã ra đời và bắt đầu dòm ngó, mở rộng xâm lược xuống phương Nam
Vào thế kỷ III TCN, cục diện chính trị ở Trung Quốc chuyển biến mạnh mẽ, từ cát cứ sang tập quyền và thiết lập đế chế Kể từ khi đế chế Tấn thành lập, nguy cơ xâm lược lại càng
đè nặng lên vận mệnh của các nhóm Bách Việt, trong đó có cư dân Văn Lang thời Hùng Vương
Yêu cầu tự vệ chống ngoại xâm cùng với yêu cầu thuỷ lợi của nền kinh tế nông nghiệp,
đã tác động rất mạnh vào quá trình hình thành nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Nhà nước đó ra đời có phần sớm hơn điều kiện chín muồi của sự phân hoá xã hội và bên cạnh chức năng thống trị, bóc lột, cỏn phải đảm đương hai chức năng công cộng quan trọng là xây dựng các công trình thủy lợi và tổ chức cuộc chiến đấu chống ngoại xâm
Sự thành lập nước Văn Lang
Đại Việt sử lược, bộ sử xưa nhất của nước ta còn lại đến nay, chép rằng "Đến đời Trang
Vương nhà Chu (696 - 681 TCN), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các
bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu chất phác, chính sự dùng lối kết nút Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương"
Không rõ tác giả Đại Việl sử lược căn cứ vào tư liệu nào, nhưng đặt sự ra đời của nước
Văn Lang với tư cách là một nhà nước phôi thai, vào khoảng thế kỷ VII TCN, tức là vào giai đoạn phát triển của văn hóa Đông Sơn là phù hợp với những kết quả nghiên cứu hiện nay và được nhiều người chấp nhận Trước đó, dĩ nhiên là một quá trình chuẩn bị các điều kiện cho sự hình thành nhà nước, quá trình tập hợp các bộ lạc thành liên minh bộ lạc rồi chuyển hoá dần thành Nhà nước
Tổ chức nhà nước còn hết sức đơn sơ Đứng đầu nước Văn Lang là Hùng Vương Trong danh hiệu Hùng Vương, yếu tố Vương (chữ Hán, có nghĩa là vua) rõ ràng do những nhà chép
sử về sau này thêm vào với quan niệm người đứng đầu một nước phải là Vương (không Vương
thì Đế) còn yếu tố Hùng là từ Hán dùng phiên âm một từ Việt cổ Trong tiếng Mường có từ
kun, trong lang kum (hay cun) Danh hiệu đó càng cho thấy Hùng Vương vốn là tù trưởng của
bộ lạc Văn Lang - bộ lạc mạnh nhất, đã đóng vai trò trung tâm tập hợp các bộ lạc khác và trở thành thủ lĩnh liên minh bộ lạc, rồi chuyển hoá thành người đứng đầu một tổ chức nhà nước
Giúp việc Hùng Vương có Lạc hầu
Trang 3636
Trong truyền thuyết nhiều con số thường mang tính chất biểu trưng hơn là ý nghĩa toán học, phải chăng, 18 đời Hùng Vương cũng có nghĩa là nhiều đời, truyền nối lâu dài Hùng Vương là người đứng đầu nước Văn Lang, đồng thời là người chỉ huy quân sự và chủ trì các nghi lễ tôn giáo
Nước Văn Lang chia làm 15 bộ mà danh mục cụ thể còn có sự khác biệt giữa các thư tịch
cổ và việc phục hồi tên Việt cổ, xác minh không gian cụ thể của mỗi đơn vị còn phải nghiên
cứu lâu dài Đại Việt sử lượccho biết 15 bộ đó vốn là 15 bộ lạc Đứng đầu mỗi bộ là tù trưởng
hay theo một số truyền thuyết thần tích còn gọi là bộ chúa, bộ tướng, phụ đạo Đó cũng là những chức thế tập "đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo"
Dưới bộ lạc các công xã nông thôn (kẻ, chạ, chiềng), kết hợp quan hệ xóm làng với quan
hệ họ hàng, quan hệ láng giềng với quan hệ huyết thống Đứng đầu công xã là Bồ chính Đây cũng là từ Hán phiên từ Việt cổ mà âm và nghĩa còn tìm thấy trong từ Pó Chiêng của dân tộc Tày - Thái ở phía bắc (hay từ Pôtarinh của các dân tộc Tây Nguyên) có nghĩa là người Già
làng
Mỗi công xã có một ngôi nhà công cộng làm nơi hội họp và trung tâm sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của công xã, mà hình ảnh còn được chạm khắc trên trống đồng Đông Sơn và bóng dáng có thể tìm thấy qua ngôi nhà làng (người Bana gọi là nhà rông) của các dân tộc Tây
Nguyên hay ngôi đình làng có vùng đồng bằng miền Bắc
Quan hệ giữa nhà nước và công xã là một thứ quan hệ mang tính chất lưỡng hợp, nhà nước vừa đại diện cho các công xã như là "cái nguyên lý thống nhất có tác dụng kết hợp và đứng trên tất cả những công xã nhỏ bé một phần lao động thặng dư của công xã thuộc về cộng đồng cao hơn, cộng đồng này rốt cuộc tồn tại dưới dạng một con người, và lao động thặng dư ấy thể hiện ra dưới dạng cống vật cũng như dưới dạng những công việc làm chung
để ca ngợi nguyên lý thống nhất đó"
Vấn đề chữ viết thời Hùng Vương từ lâu đã là điều băn khoăn, suy nghĩ của nhiều người
và gần đây đã trở thành đề tài nghiên cứu đầy hứng thú của một số nhà khoa học
Nhìn một cách tổng quát, nhà nước hình thành vào giai đoạn văn hóa Đông Sơn tức nước
Văn Lang thời Hùng Vương là một hình thái nhà nước phôi thai còn in đậm dấu ấn của chế độ
bộ lạc - công xã, trên đường chuyển hoá từ xã hội nguyên thuỷ tan rã sang xã hội phân hoá giai cấp sơ kỳ với những đặc trưng chung của nước phương Đông cổ đại mà C.Mác đã từng gọi là
"phương thức sản xuất châu Á"
Nhưng "phương thức sản xuất châu Á" là gì thì các học giả thế giới đã trải qua hai cuộc tranh luận lớn mà chưa thể đi đến kết luận khoa học được chấp nhận
Qua kết quả nghiên cứu xã hội và Nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương có thể ghi nhận đây là một hình thái xã hội đã có sự phân hoá sâu sắc nhưng chưa thành hình giai cấp đối kháng gay gắt, mà là những giai tầng xã hội với sự cách biệt đáng kể về của cải và xã hội Đó
là tầng lớp quý tộc, tầng lớp nô tỳ tức nô lệ gia trưởng và tầng lớp dân tự do các thành viên công xã nông thôn kiểu Á châu Sự tồn tại phổ biến và bảo tồn lâu dài của công xã nông thôn này giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và đời sống xã hội Trên cơ sở phân hoá xã hội đó kết hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp lúa nước gắn liền với yêu cầu thuỷ lợi và cả yêu cầu tự vệ, một nhà nước sơ khai đã ra đời Đó là một hình thái nhà nước cổ đại ra đời đầu
tiên trong lịch sử Việt Nam và cũng vào loại sớm nhất ở vùng Đông Nam Á
Trang 3737
Sự xuất hiện một hình thái nhà nước như thế, dù còn sơ khai, vào thời Hùng Vương, đánh dấu một bước tiến quan trọng của lịch sử Nó xác nhận quá trình dựng nước thời Hùng Vương và đặt cơ sở cho sự ra đời của một loại hình cộng đồng người mới: cộng đồng quốc gia
- dân tộc
2.1.5 Nền văn minh của người Việt cổ - văn minh sông Hồng
Một thành quả to lớn của thời đại Hùng Vương là sự ra đời nền văn minh cổ xưa nhất của
người Việt: nền văn minh của người Việt cổ (có người còn gọi là văn minh Văn Lang hay văn
minh Đông Sơn hay văn minh sông Hồng)
một quá trình hình thành tại chỗ nền văn minh của người Việt cổ mà đỉnh cao là văn hoá Đông
Sơn
Dưới ánh sáng của những kết quả nghiên cứu mới, quá trình hình thành nền văn minh
Đông Sơn là một quá trình phát triển liên tục, từ sơ kỳ đến hậu kỳ thời đại đồng thau và sơ kỳ
thời đại sắt
Quá trình hình thành và phát triển của nền văn minh của người Việt cổ cho thấy rõ những bước chuẩn bị và nguồn gốc bản địa của văn hóa Đông Sơn
Khi nhấn mạnh quá trình hình thành tại chỗ của nền văn minh của người Việt cổ, nguồn
gốc bản địa của văn hoá Đông Sơn, hoàn toàn không có nghĩa là phủ nhận hoặc coi nhẹ mối
giao lưu kinh tế - văn hoá và những ảnh hưởng qua lại với bên ngoài
Quá trình hình thành và phát triển của nền văn minh sông Hồng gắn liền với quá trình liên kết các địa phương lại thành lãnh thổ Văn Lang, quá trình đấu tranh và dung hợp các bộ
lạc, các nhóm dân cư lại thành cộng đồng cư dân Văn Lang, chủ nhân của nền văn minh ấy
Cư dân thời bấy giờ là những nhóm người Indonesia và Nam Á thuộc tiểu chủng Mongoloid phương Nam, hình thành trong một quá trình hỗn chúng lâu dài giữa hai đại chủng Australoid và Mongoloid, trong đó xu hướng Mongoloid hoá ngày càng chiếm ưu thế
Như vậy về phương diện nhân học, từ sơ kỳ thời đại kim khí trên lãnh thổ Bắc Việt Nam
đã tồn lại đan xen các nhóm tộc người da vàng và da đen, càng về sau yếu tố da vàng càng phát triển và chiếm ưu thế Đó là quá trình hỗn chúng theo xu hướng vàng hóa để tạo nên người Việt cổ thời Đông Sơn thuộc tiểu chủng Nam Mongoloid
Theo thư tịch cổ của Trung Quốc thì vào khoảng thế kỷ III, IV TCN tức vào cuối thời Hùng Vương, cư dân miền Bắc Việt Nam gồm nhóm Lạc Việt và Tây Âu nằm trong khối Việt
Trang 38Số dân đông đúc là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài, trong đó hình như có một
sự tăng vọt dân số vào giai đoạn Đông Sơn, khi người Việt tràn xuống chinh phục vùng đồng bằng châu thổ, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước Số dân và mật độ dân số cũng là một chỉ tiêu quan trọng phản ảnh sự phát triển về mọi mặt của nước Văn Lang, nhất là sự phát triển kinh tế
Một đặc điểm đáng lưu ý là trong quá trình hình thành và phát triển của nền văn hoá Đông Sơn là những giai đoạn tiền Đông Sơn còn mang nặng dấu ấn địa phương gắn liền với từng nhóm cư dân trong từng khu vực Đến văn hoá Đông Sơn, tính địa phương vẫn còn mà trên cơ sở những đặc trưng văn hoá, có thể phân biệt ba loại hình địa phương chính: loại hình sông Hồng, loại hình sông Mã và loại hình Làng Vạc Nhưng bào trùm lên các loại hình địa
phương đó, vào giai đoạn phát triển cao của văn hoá Đông Sơn đã định hình những đặt trưng
chung của một nền văn hoá thống nhất, thống nhất trong tính đa dạng Đó là nền văn hoá thống nhất của một cộng đồng quốc gia - dân tộc đã có sự liên kết, gắn bó với nhau trên một lãnh thổ chung, một nền tảng kinh tế - xã hội chung, một lối sống chung
Về phương diện kinh tế - xã hội, như những phần trên đã phân tích, mẫu số chung của
nền văn minh sông Hồng là nền tảng nông nghiệp trồng lúa nước và kết cấu xóm làng kiểu
công xã nông thôn phương Đông của một xã hội chưa phân hoá gay gắt Chính cơ sở kinh tế -
xã hội này cùng với cuộc đấu tranh khai hoang, làm thuỷ lợi chống giặc ngoài đã quy định lối sống, cách ứng xử, tâm lý, tư duy, tín ngưỡng, nghệ thuật những đặc điểm văn hoá vật chất
và tinh thần của cư dân Văn Lang
Thành tựu
- Về đời sống vật chất, cách ăn, mặc, ở, đi lại của người Việt cổ thể hiện lối sống của một
cư dân nông nghiệp trồng lúa nước trên một địa hình sông nước của vùng nhiệt đới gió mùa
Nguồn lương thực chính là thóc gạo, chủ yếu là gạo nếp Hình ảnh cối giã bằng chày tay
trên trống đồng cho phép hình dung cách xay xát thóc gạo thời bấy giờ Cơm gạo có thể nấu trong nồi, đồ trong chõ, lam trong ống bương hay chế biến thành bánh như bánh chưng, bánh giầy Khảo cổ học đã phát hiện được nhiều cỡ nồi khác nhau và hàng chục chõ gốm thời Hùng Vương
Thức ăn gồm có các loại rau củ, bầu bí, cà, đậu và các sản phẩm của nghề đánh cá, chăn
nuôi, săn bắn Thành phần chính của bữa ăn hàng ngày là cơm, rau, cá, thỉnh thoảng nhất trong các dịp lễ hội có thêm thịt, chế biến nhiều cách: ăn tươi, ăn sống (ăn gỏi), nướng, đun nấu (luộc: hấp, nấu) Gia vị và hương liệu có muối, mắm, gừng, rượu, trầu cau, đất hun"
Cách mặc được thể hiện qua những tượng người và hình người chạm khắc trên trống
đồng và đồ đồng Trong lao động và sinh hoạt thường ngày, nam đóng khố (khố dây và khố quấn), nữ mặc váy (váy kín và váy quấn hay váy hở kiểu xa rông), cởi trần, đi đất
Vào dịp hội lễ, có thêm những chiếc váy xoà kết bằng lông vũ hoặc lá cây những chiếc
mũ bằng lông vũ cắm bông lau Nam cũng như nữ đều ưa dùng đồ trang sức gồm các loại
Trang 3939
vòng, khuyên tai, hạt chuỗi, nhẫn, vòng tay, vòng ống tay, vòng ống chân Đồ trang sức hầu hết làm bằng đá, đồng thau, thuỷ tinh
Mái tóc cũng có nhiều kiểu khác nhau, hoặc cắt tóc ngăn bỏ xõa ngang vai, hoặc búi tó
trên đỉnh đầu hay sau gáy, hoặc vấn tròn quanh đầu như vấn khăn Riêng nữ còn có lối tết tóc thả dài sau lưng Có một kiểu để tóc đặc trưng biểu thị trên dao găm cán tượng người là buộc khăn ngang trán vòng ra sau gáy, tóc hất lên phía trên tết thành một hoặc hai bím bỏ ra sau lưng có trang trí ở cuối bím hay đuôi tóc Nhiều người, nam cũng như nữ, còn thấy chít một dải khăn nhỏ giữa trán và chân tóc, hoặc có đuôi khăn thả dài phía sau, hoặc không có đuôi khăn
Xăm mình và nhuộm răng đen gắn liền với ăn trầu, cũng là tục phổ biến thời bấy giờ Nhà ở phổ biến là những kiểu nhà sàn làm bằng gỗ, tre, nứa, lá Trên trống đồng Đông
Sơn có chạm khắc hai kiểu nhà sàn: nhà sàn mái cong hình thuyền Sàn thấp, mái nhà rủ xuống như mái tranh đến tận sàn Cầu thang lên xuống đặt ở giữa, phía trước, theo chiều dọc ngôi nhà
Trong sinh hoạt gia đình, đồ dùng hàng ngày gồm các loại đồ đựng như vò bình, âu, thố,
thạp đồ đun nấu như nồi, chõ , đồ ăn uống như bát, chậu, mâm bồng, muôi, gáo bằng gốm và đồng thau Ngoài ra còn nhiều đồ dùng làm bằng tre, gỗ, nứa, cói, mây, lá
Đi lại, chủ yếu tận dụng đường thuỷ trên sông, biển, bằng các phương tiện như thuyền,
bè, mảng Thuyền có thuyền độc mộc và thuyền ván Hình thuyền trêntrống đồng Đông Sơn
có thể phân biệt làm hai loại: thuyền chiến hay thuyền tải và thuyền bơi trải Trên bộ, người ta
đã biết dùng voi để cưỡi và tải đồ, trong đời sống và có thể cả trong chiến đấu
- Về đời sông tinh thần, cư dân thời Hùng Vương đã đạt đến một trình độ thẩm mỹ, tư
duy khá cao, kết hợp những hình thái tín ngưỡng phức tạp, đan xen giữa tàn dư tín ngưỡng nguyên thuỷ với tín ngưỡng của thời đại kim khí và nông nghiệp lúa nước
Trong thời đại kim khí gắn liền với yêu cầu phát triển nông nghiệp lúa nước, tín ngưỡng
chủ yếu và phổ biến lúc bấy giờ là sùng bái tự nhiên như thờ thần mặt trời, thần sông, thán núi, và phồn thực với những nghi lễ cầu mong được mùa, các giống loài sinh sôi nẩy nở, con
lũ cháu đàn
Thời Hùng Vương cũng là thời kỳ đấu tranh hình thành bộ tộc, hình thành Nhà nước đầu
tiên Từ ý thức cộng đồng sản sinh ra tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng bái anh hùng, thủ
lĩnh nhằm khẳng định nguồn gốc chung, tổ tiên chung của cộng đồng và nêu cao kỳtích của
những người có công dựng nước và giữ nước
Trong đời sống hàng ngày, người Việt cổ tỏ ra rất ưa cái đẹp và luôn luôn muốn làm tăng thêm vẻ đẹp của con người và cuộc sống Đồ trang sức phong phú Công cụ lao động, vũ khí chiến đấu cho đến đồ dùng trong sinh hoạt, có nhiều kiểu dáng khác nhau và trang trí đẹp Đó
là nghệ thuật thực dụng mà người thợ thủ công cũng là nghệ nhân dân gian
Nghệ thuật Đông Sơn là đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình thời Hùng Vương Nghệ
thuật đó phản ánh cuộc sống hiện thực của con người và mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh, bằng một phong cách diễn tả sinh động, không chú ý chi tiết bề ngoài mà tập trung làm nổi bật những đặc điểm cơ bản của đối tượng, với những đường nét mang tính chất cách điệu, ước lệ và với một bố cục cân xứng, hài hoà
Nghệ thuật âm nhạc, múa nhảy cũng khá phát triển và giữ một vị trí quan trọng trong
sinh hoạt văn hoá của người Việt cổ Những nhạc khí chính có: trống đồng, trống da, chiêng,
Trang 4040
cồng, chuông, nhạc, sênh, phách, khèn Bộ gõ phát triển và là thành phần chủ yếu, là nền táng của âm nhạc
Trên trống đồng cũng có hình ảnh múa hoá trang và múa vũ trang
Sinh hoạt văn hoá tinh thần của thời Hùng Vương được biểu hiện tập trung trong các dịp
hội lễ, nhất là trong dịp hội mùa của cư dân nông nghiệp lấy công xã làm đơn vị và cơ sở Đó
là những ngày hội làng náo nức, tấp nập, thường tổ chức vào mùa thu Qua nghệ thuật tạo hình
Đông Sơn kết hợp với tư liệu lịch sử và dân tộc học, có thể hình dung, vào những ngày hội lễ, trong âm thanh hoà tấu rộn ràng của nhưng dàn trống đồng, dàn chiêng cồng, của tiếng khèn,
tiếng nhạc, tiếng sênh phách, dân làng ca hát, nhảy múa, vui chơi và tiến hành các lễ nghi nông
nghiệp cầu mong mưa thuận gió hoà, mùa màng phong đăng, sinh sản thịnh vượng Lại có
cảnh đua thuyền trên sông nước, cảnh từng đôi nam nữ cầm chày dài đứng giã cối tròn
Di vật tiêu biểu nhất, có thể coi là biểu tượng của nền văn minh của người Việt cổ là
trống đồng loại I theo hệ thông phân loại F.Heger mà nhiều học giả Việt Nam gọi là trống đồng Đông Sơn Loại trống đồng này được coi là loại trống đồng sớm nhất, đẹp nhất và là
nguồn gốc cửa những loại trống đồng khác
Số lượng trống đồng Đông Sơn phát hiện được ở miền Bắc Việt Nam tăng lên không ngừng trong mấy chục năm qua
Rõ ràng trống đồng Đông Sơn không chỉ giới hạn trong lãnh thổ Việt Nam mà tìm thấy khá nhiều ngoài lãnh thổ Việt Nam, phân bố trên một địa bàn rộng lớn của vùng Đông Nam Á
và Nam Trung Quốc, trong đó có hai khu vực tìm thấy nhiều nhất là Bắc Việt Nam và Tây
Nam Trung Quốc (trung tâm là Vân Nam, thường gọi là Điền) Có thể coi đó là hai trung tâm
quan trọng nhất của trống đồng với những nét tương đồng và dị biệt do đặc điểm tộc người và điều kiện tự nhiên tạo nên Căn cứ vào mật độ phân bố tập trung, căn cứ vào sự thống nhất về
kỹ thuật và nghệ thuật giữa trống đồng Đông Sơn với toàn bộ sưu tập hiện vật Đông Sơn hết sức phong phú và căn cứ vào quá trình phát triển liên tục từ giai đoạn Phùng Nguyên đến giai
đoạn Đông Sơn chứng tỏ sự hình thành tại chỗ của nền văn hoá Đông Sơn, miền Bắc Việt Nam
- địa bàn của nước Văn Lang thời Hùng Vương - là một trung tâm xuất hiện và truyền bá sớm
của trống đồng Đông Sơn
Trống đồng là một nhạc khí được sử dụng tế lễ như lễ cầu đảo, lễ đưa ma , trong hội hè, vui chơi, múa hát, trống đồng còn là vật tượng trưng cho quyền uy của tù trưởng, thủ lĩnh, dùng để tập hợp quần chúng, chỉ huy chiến đấu Trống đồng còn được dùng để chôn theo người chết (như ở Đông Sơn, Làng Vạc) hay có thể dùng để đổi chác
Trống đồng Đông Sơn là một sản phẩm lao động, một tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu cho tài năng sáng tao tuyệt vời của người Việt cổ Trống đồng với những hoạ tiết trang trí phong phú, sinh động, phủ đấy mặt trống và tang trống, còn có giá trị như một bộ sử bằng hình ảnh phản ánh cuộc sống lao động, chiến đấu và những hình thức tín ngưỡng, vui chơi của cư dân thời Hùng Vương