+ Tài liệu của ngành Khảo cổ học là nguồn sử liệu vật chất có ý nghĩa đặc biệt quantrọng, bởi vì thông qua những di tích khảo cổ học, người ta có thể hiểu được trình độ văn hóavật chất c
Trang 1ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
LỊCH SỬ NGUYÊN THỦY, CỔ, TRUNG
ĐẠI THẾ GIỚI
(TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH ĐẠI HỌC SP LỊCH SỬ)
Trang 2Chương 1 Lịch sử xã hội nguyên thuỷ
Số tiết: 8 ( Lý thuyết: 8; Bài tập: 0; Thảo luận: 0)
Mục đích:
Thông qua nội dung chương 1, sinh viên biết và hiểu được nguồn gốc khoa học của con người, đó là: quá trình chuyển hóa từ vượn người thành người hiện đại như ngày nay Quá trình đó diễn ra qua hàng triệu năm với những yếu tố tác động như: quá trình chọn lọc tự nhiên, đột biến gen và đặc biệt là vai trò của lao động.
Sinh viên biết được những đặc điểm về đời sống của con người thời kỳ bầy người nguyên thủy và thời kỳ công xã thị tộc; lý giải được bản chất của nguyên tắc vàng cùng làm, cùng hưởng của con người trong giai đoạn này, yếu tố nào tác động đến điều đó
Sinh viên chỉ ra được điểm giống và khác nhau của hai thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ
và công xã thị tộc phụ hệ thời nguyên thủy; nguyên nhân của việc xã hội con người thời kỳ nguyên thủy chuyển từ công xã thị tộc mẫu hệ sang phụ hệ.
Sinh viên hiểu được: những thay đổi trong lao động, sản xuất của con người và đưa đến
sự tích lũy trong xã hội nguyên thủy, lần đầu tiên tư hữu xuất hiện và nguyên tắc vàng cùng làm, cùng hưởng dần dần mất đi
1.1 Nguồn gốc loài người Vai trò của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người
1.1.1 Khái quát về thời kỳ nguyên thủy
- Là thời kì lịch sử đầu tiên dài nhất trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại Đâycũng là thời kì lịch sử mà bắt buộc mọi dân tộc trên thế giới đều phải trải qua Trước khi conngười xuất hiện, lúc đó mới chỉ có vượn người Vượn ngáười lúc đó mang yếu tố vượn nhiềuhơn, yếu tố người rất ít
- Thời gian: bắt đầu từ khi xuất hiện người thượng cổ (4 triệu năm trước đây) cho đếnkhi nhà nước đầu tiên trên thế giới hình thành Những quốc gia cổ sớm nhất vào khoảng thiênniên kỉ IV TCN như Ai Cập, Lưỡng Hà
Trong suốt gần thời gian này, xã hội loài người tiến một cách chậm chạp, tiến dần từmông muội, dã man tiến dần đến thời đại văn minh và thời gian đi ngày càng tăng Cái đómang tính quy luật mà bất kì dân tộc nào trên thế giới cũng phải trải qua Tuy nhiên, do điềukiện lịch sử xã hội nào đó, có những dân tộc bỏ qua 1 hoặc 2 hình thái kinh tế xã hội để tiếnđến 1 hình thái kinh tế - xã hội cao hơn
- Nguồn tài liệu và lịch sử nghiên cứu về thời kì nguyên thủy
+ Việc nghiên cứu lịch sử chế độ công xã nguyên thủy gặp nhiều khó khăn bởi đó là 1thời kì mà con người chưa có chữ viết, chưa có lịch sử thành văn Đối tượng nghiên cứu “giàcỗi”, xa xôi đối với chúng ta cả về không gian, thời gian trong khi ngành khoa học nghiên cứu
Trang 3+ Tài liệu của ngành Khảo cổ học là nguồn sử liệu vật chất có ý nghĩa đặc biệt quantrọng, bởi vì thông qua những di tích khảo cổ học, người ta có thể hiểu được trình độ văn hóavật chất của người nguyên thủy.
+ Ngành Dân tộc học chuyên nghiên cứu về những đặc điểm văn hóa, phong tục tậpquán của các dân tộc, của các bộ lạc lạc hậu trong thời kỳ cận đại hoặc hiện đại => người tahiểu được khá cặn kẽ về đời sống của các dân tộc thông qua nghi lễ, hội hè, ma chay, kể cảthông qua chuyện cổ tích, chuyên dân gian
+ Ngành sinh vật học nghiên cứu về quá trình phát triển của bào thai, phân tích cơ thểcủa con người
+ Các tài liệu về ngôn ngữ học, ngôn ngữ của mỗi dân tộc hình thành và phát triển cùngvới quá trình phát triển của xã hội Cho nên, khi người ta tìm hiểu về các địa danh, tên các vậtdụng thì phần nào người ta hiểu được về đời sống vật chất của mỗi tộc người
+ Các tài liệu dân gian như: Các câu chuyện truyền thuyết, cổ tích nói về gốc vũ trụ, sựhình thành loài người Đặc biệt, khi xã hội phân chia giai cấp thì xuất hiện những câu chuyệntruyền miệng có tính chất dân gian, người ta nói tới gốc con người
- Phân kì lịch sử xã hội nguyên thủy: Có nhiều cách phân kì khác nhau
+ Phân kì theo các nhà khảo cổ học: Cơ sở để phân kì là căn cứ vào sự phát triển củacông cụ lao động Chia làm 2 thời kì: Thời kì đồ đá (có đá cũ, đá mới); Thời kì đồ kim loại.+ Dựa vào sinh hoạt kinh tế
Tiêu biểu cách phân kì này là phân kì của Moocgan Ông chia 3 thời kì: mông muội, dãman, văn minh: Thời kì mông muội: là thời kì “ăn lông ở lỗ”, chủ yếu là săn bắt, hái lượm; Thời kì dã man: ngoài kinh tế săn bắt, hái lượm, con người bắt đầu có kỹ thuật sản xuất,xuất hiện những ngành kinh tế săn bắn, chăn nuôi và trồng trọt nông nghiệp; Thời đại vănminh: Chăn nuôi gia súc và nông nghiệp dùng cày -> các cuộc phân công lao động xã hội lớn Năng suất lao động tăng lên, xuất hiện chế độ tư hữu và phân hóa giàu nghèo, trên cơ sở
đó nhà nước ra đời
+ Phân kì theo các nhà sử học Macxit
Kết hợp thành tựu khảo cổ học + dân tộc học + xã hội học Lịch sử xã hội nguyên thủychia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn bầy người nguyên thủy và chế độ công xã thị tộc
- Đặc điểm của thời kì nguyên thủy:
+ Trong suốt chiều dài lịch sử của xã hội nguyên thủy, người nguyên thủy chỉ biết dùngmột loại nguyên liệu duy nhất để chế tác ra công cụ sản xuất: đồ đá
+ Toàn bộ nền kinh tế của xã hội nguyên thủy: đó là một nền kinh tế tự nhiên hoàn toànmang tính chất tự cấp, tự túc Nền kinh tế mặc dù nó phát triển một cách chậm chạp, song nóphát triển từng bước một, từ thấp lên cao Nền kinh tế lấy kinh tế nông nghiệp làm chủ đạo,bên cạnh đó có nghề chăn nuôi mang tính chất hỗ trợ
Có mầm mống của nghề thủ công, trao đổi hầu như không có Chỉ đến khi hình thànhnhững quốc gia thì hoạt động thương mại mới bắt đầu có những bước tiến bộ nhất định Conngười sống tập thể, cộng đồng, không hề có cuộc sống đơn lẻ hay những đơn vị gia đình, giađình chỉ xuất hiện vào giai đoạn cuối cùng của chế độ công xã thị tộc, hôn nhân một vợ mộtchồng đã tạo nên những gia đình cá thể, đồng thời cũng là lúc xuất hiện sự phân hóa giàunghèo trong xã hội
Trang 4+ Cuộc sống của người nguyên thủy phát triển từ thấp lên cao Trong cuộc sống tập thểnày, cách ứng xử của con người theo nguyên tắc vàng, sự công bằng, bình đẳng, không hề có
sự áp bức giai cấp, cũng không hề biết đến nhà nước
Hôn nhân trong trong xã hội nguyên thủy phát triển từ thấp lên cao, các hình thức hônnhân ngày càng tiến bộ, thể hiện tính người hơn, từ chỗ con người quan hệ với nhau theo quan
hệ hôn nhân tạp giao, không phân biệt già trẻ, giữa các thế hệ Từ tạp giao đến hôn nhân quầnhôn (chế độ nhiều vợ nhiều chồng), hôn nhân đối ngẫu, hôn nhân một vợ một chồng
+ Trong xã hội nguyên thủy, nghệ thuật và tôn giáo đã xuất hiện và cũng còn xuất hiệnnhiều hình thái ý thức khác Lúc đó con người chưa hề có chữ viết
1.1.2 Nguồn gốc loài người
* Quan điểm duy tâm
Thể hiện qua những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, đặc biệt là tôn giáo
- Từ thời cổ đại, con người đã rất quan tâm đến nguồn gốc của mình Ở khắp các quốcgia, các khu vực, nhiều truyền thuyết về sự xuất hiện tổ tiên loài người đã được lưu truyền
Ví dụ: + Ở Ấn Độ: loài người do thần Manu sáng tạo ra
+ Ở Trung Quốc: có truyền thuyết về ông Bàn Cổ tạo dựng vũ trụ và muônloài
- Sang thời trung đại là thời kì bị quan niệm duy tâm thế giới chi phối, cho nên nhiềudân tộc đều cho rằng con người là do Thượng đế sinh ra
- Đạo Bàlanmôn: con người do thần Brahma (thần sáng tạo) tạo ra Thần lấy nhữngmiếng thịt ở thân thể của mình (miệng, tay, chân và bàn chân) tạo thành tăng lữ, võ sĩ, nhữngngười làm nghề nông, chăn nuôi, buôn bán, thủ công và những người cùng khổ Những ngườinày tạp thành 4 đẳng cấp trong xã hội
Ví dụ: “Do sinh ra từ bộ phận cao quý nhất của thân thể Braman, do sinh ra sớm nhất,
do hiểu biết Vêđa, Bàlamôn có quyền là chúa tể của tất cả các tạo vật ấy ”
Nhận xét: những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết không thể đáp ứng được yêu cầutìm hiểu của con người về nguồn gốc của mình
* Quan điểm duy vật
Quan điểm này mâu thuẫn hoàn toàn với quan điểm của chủ nghĩa duy tâm khi giảithích nguồn gốc con người Quan điểm này nếu khẳng định tổ tiên của loài người được hìnhthành ngay trên trái đất này, cách đây chừng 5, 6 triệu năm
- Nhà thám hiểm, những nhà du lịch, những thương nhân, từ thời cổ đại, đặc biệt từsau những cuộc phát kiến địa lý và nhờ những thành tựu nghiên cứu của các ngành Khảo cổhọc, Dân tộc học, Nhân chủng học, Cổ sinh vật học, Địa chất học, những tài liệu khoa học
về nguồn gốc loài người được công bố
+ Vào giữa thế kỉ XIX, nhà bác học thiên tài người Anh Saclơ Đacuyn đã đề xướng họcthuyết Tiến hóa Căn cứ vào quy luật của sự đào thải tự nhiên và sự chọn giống do ông pháthiện ra, ông đã bác bỏ quan niệm của đạo Kitô cho rằng: Chúa trời sinh ra con người và vạnvật
+ Những phát hiện của các nhà khoa học sau đó về những bộ xương hóa thạch của cácloài vượn cổ (Đriôpitec, Ramapitec, Ôxtralôpitec), các loài người vượn (người vượn ĐôngPhi, Giava, Bắc Kinh, Nêđectan) và các người tinh khôn (Hômô – Sapiens)
Trang 5Cùng nền văn hóa thời đại đồ đá cũ, đồ đá giữa, đồ đá mới và đồ kim khí (đồng, sắt) đãtìm thấy ở khắp các lục địa Âu, Á, Phi đã chứng minh sự đúng đắn của học thuyết tiến hóaĐacuyn: Con người không phải do Thượng đế hay thần thánh nào sinh ra, mà chính là đãchuyển hóa từ loài vượn cổ hóa thạch thành.
1.1.3 Vai trò của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người
Các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi của cải Laođộng đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là cái cung cấp những vật liệu cho lao độngbiến thành của cải Nhưng lao động còn là một cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa
Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đếnmột mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân conngười
Hàng chục vạn năm về trước, ở một thời kỳ mà người ta còn chưa thể xác định đượcmột cách chắc chắn trong kỷ nguyên của lịch sử quả đất, kỷ nguyên mà các nhà địa chất họcgọi là kỷ nguyên thứ ba, có lẽ vào cuối kỷ nguyên ấy cũng nên, có một loài vượn-người đã đạttới một trình độ phát triển đặc biệt cao, sinh sống ở một nơi nào đó trong vùng nhiệt đới, -chắc là trên một vùng lục địa mênh mông, ngày nay đã chìm sâu dưới Ấn Độ Dương Đacuyn
đã miêu tả cho chúng ta thấy đại khái hình dáng gần giống của loài vượn - người tổ tiên củachúng ta ấy Loài vượn đó mình đầy lông, có râu và tai nhọn, sống từng đàn trên cây
Chắc rằng trước hết, do ảnh hưởng của lối sống đòi hỏi trong khi leo trèo, hai tay phảinhận những chức năng khác với chức năng của hai chân, cho nên loài vượn người đó bắt đầu
bỏ mất thói quen dùng hai tay để bò dưới đất, rồi dần dần biết đi thẳng người Như vậy, làbước quyết định trong sự chuyển biến từ vượn thành người đã được thực hiện Điều đó chính
là nhờ vào quá trình lao động
1.2 Đời sống vật chất và tinh thần của con người thời nguyên thủy
1.2.1 Thời kỳ bầy người nguyên thủy
- Bầy người nguyên thủy là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử phát triển của nhân loại Cóthể coi đây là một hình thái tổ chức xã hội sơ khai, trong giai đoạn quá độ từ người vượn(Hômô Habilis) sang người khôn ngoan Hômô – Sapiens (Thời kì này tương đương với thời
sơ và trung kì đá cũ)
- Công cụ lao động:
Công cụ lao động chủ yếu làm bằng nguyên liệu đá, đồ đá cũ sơ kì và trung kì Công cụlao động tiêu biểu là chiếc rìu tay vạn năng Đầu tiên con người dùng cành cây, hòn đá bênđường để làm công cụ, sau đó nhặt viên đá cuội, dùng 2 hòn đá ghè vào nhau để tạo nên 1cạnh sắc, trong công cụ ban đầu đó có tay cầm, dùng rìu đó để chặt cây, đào bới, săn bắt, làm
vũ khí tự vệ Người nguyên thủy biết tách ra từ những tảng đá để tạo ra con dao, cái nạo
- Về hoạt động kinh tế: Con người sống chủ yếu bằng săn bắt, hái lượm Chính vì hoạtđộng kinh tế này mà cuộc sống con người bấp bênh Bởi vì họ bị lệ thuộc chặt chẽ vào tựnhiên, họ không sống cố định được mà phải lang thang
- Về mặt tổ chức xã hội:
+ Sống thành từng bầy, còn tồn tại rất nhiều tàn dư của động vật Bầy người không ổnđịnh về số lượng người và địa điểm cư trú
Trang 6Thông thường từ 30 – 40 người, có lúc lên tới 100 người, khi vượt quá số lượng thôngthường, bầy người này tách ra thành 1 bầy khác, dưới 30 người thì phải thu nạp hoặc sinh sảnthêm.
+ Tuy nhiên, bầy người đã được coi là 1 tổ chức xã hội đầu tiên của loài người Ở trong
đó đã có sự phân công lao động một cách tự nhiên giữa nam và nữ, giữa con người với conngười đã có sự chăm sóc, thương yêu nhau
- Về mặt hôn nhân: Theo quan niệm truyền thống trong tổ chức bầy người là quan hệhôn nhân tạp giao hay còn gọi là tạp hôn (quan hệ tạp giao là giao hợp bừa bãi, không phânbiệt già trẻ, không phân biệt thế hệ cha mẹ, con cái, giữa anh em và chị em, lúc này chưa cóhôn nhân và gia đình)
Theo quan niệm gần đây nhất (1990), các nhà khoa học cho rằng ngay từ thời bầy ngườinguyên thủy đã có quan hệ hôn nhân cặp đôi, người ta sống thành một hợp quần xã hội, cóhôn nhân theo từng cặp Trên cơ sở quan sát những loài động vật cao cấp, cứ vào mùa sinhsản chúng lại về với nhau và sống từng đôi (chim bồ câu, voi), sau đó chúng lại tự giải tán, từ
đó suy luận động vật cao cấp đã sống thành từng đôi => con người cũng sống có đôi Ở mỗigóc lều, hang có những gia đình nhỏ có cha mẹ, con cái sống và chăm sóc nhau
- Thành tựu bầy người nguyên thủy đạt được:
+ Con người biết chế tạo công cụ lao động với các kiểu loại công cụ khác nhau, ngay cảcông cụ rìu tay
+ Thời trung kì đồ đá cũ, người nguyên thủy đã phát hiện ra lửa, biết dùng lửa, giữ lửa,chế tạo ra lửa Việc phát hiện ra lửa có một ý nghĩa rất lớn lao trong đời sống của ngườinguyên thủy, có ý nghĩa nhiều hơn so với việc phát minh ra máy hơi nước ở thời cận đại bởi:Lần đầu tiên, con người biết dùng lửa để nướng chín thức ăn => thoát khỏi thời môngmuội Nhờ có lửa con người đã dự trữ được thức ăn => giúp con người thoát khỏi sự lệ thuộcchặt chẽ vào tự nhiên;
Nhờ có lửa con người có thể xua đuổi thú dữ, tạo ra khả năng tự vệ chống lại sự tấncông của thú dữ; Mở rộng địa bàn cư trú bằng cách đốt phá rừng => lúc đó con người hoàntoàn có khả năng ra những vùng đất trống để sinh sống, phát triển nghề gốm, phát triển nghềluyện kim
“Mặc dù máy hơi nước đã thực hiện trong xã hội có một bước ngoặt giải phóng vĩ đạinhững điều chắc chắn là t/d giải phóng loài người của việc lấy lửa cọ xát đã cho phép conngười lần đầu tiên chi phối được lực lượng thiên nhiên và do đó đã tách con người ra khỏi hẳnthế giới động vật”
- Thời kì bầy người nguyên thủy chưa có tôn giáo và nghệ thuật
Tuy nhiên, theo những quan niệm mới nhất, các nhà khoa học cho rằng: ngay từ thời kìtồn tại của người Nêanđectan đã có những dấu hiệu đầu tiên của tôn giáo Bởi lẽ, người ta căn
cứ vào những mộ táng của người Nêanđectan thì người ta thấy rằng trước thời kì này, người
ta thường vứt người chết vào một góc hang hoặc một mô đất đến thời kì Nêanđectan đã cóviệc chôn người, người thường trải một lớp đá răm hoặc rải cỏ rồi đặt người chết lên, sau đóngười ta phủ 1 lớp đất vàng (thổ hoàng) => từ đó, người ra cho rằng có thể người nguyên thủy
đã bắt đầu có ý niệm nào đó về thế giới bên kia, thế giới của người chết
Trang 71.2.2 Thời kỳ công xã thị tộc
* Định nghĩa: Là một hình thức tổ chức xã hội thứ 2 của loài người sau bầy người
nguyên thủy, là một tổ chức xã hội tiến bộ hơn, phát triển toàn diện hơn so với bầy ngườinguyên thủy
+ Là 1 tập đoàn người khá đông, nó gồm vài gia đình có cùng chung quan hệ huyết tộcvới nhau, với nhiều thế hệ kế tiếp nhau, có tổ chức chặt chẽ và ổn định chứ không dễ dànghợp tan như tổ chức bầy người
+ Họ đã sống định cư và được tổ chức theo nguyên tắc, nhiều thị tộc có quan hệ dòngmáu xa gần hợp lại với nhau thành 1 bộ lạc
+ Trong giai đoạn đầu, trong quá trình phát triển của mình, 1 bộ lạc thường được chia
ra làm 2 nửa, mỗi 1 nửa được gọi là 1 bào tộc, bào tộc có vai trò trong việc tổ chức lễ nghitang, lực lượng vũ trang để bảo vệ bộ lạc, có trách nhiệm trong việc giải quyết xích mích bộlạc, bầu thủ lĩnh bộ lạc
Mỗi thị tộc bộ lạc đều có tên, lấy tên con vật mà họ thờ cúng để đặt tên Mỗi thị tộc bộlạc chiếm cứ 1 vùng lãnh thổ riêng trong đó có đất trồng trọt, rừng núi, ao hồ, bãi chăn nuôi,nghĩa địa riêng Con người sống trong tổ chức này quan hệ với nhau trên cơ sở công bằng,bình đẳng, sống tập thể
Công xã thị tộc chia 2 giai đoạn: Công xã thị tộc mẫu hệ, công xã thị tộc phụ hệ.Trước khi công cụ lao động bằng kim loại ra đời thì Công xã thị tộc mẫu hệ là hình thức tổchức cơ bản của xã hội loài người
* Công xã thị tộc mẫu hệ:
- Vai trò của người phụ nữ trong đời sống kinh tế rất lớn, họ là người đảm bảo đờisống bằng công việc hái lượm Do hình thức hôn nhân quy định, là quan hệ hôn nhân quầnhôn, cho nên người phụ nữ giữ vai trò là người sinh đẻ và nuôi sống con cái Là người lãnhđạo, tổ chức và phân công lao động
- Thời gian: chế độ công xã thị tộc mẫu hệ tồn tại thời kì đồ đá cũ, bắt đầu xuất hiệnngười hiện đại Hômôsapien, tồn tại trong suốt thời kì đồ đá giữa cho đến thời sơ kì và trung kì
đồ đá mới -> thời hậu kì đồ đá mới, chế độ công xã thị tộc phụ hệ thay thế cho chế độ mẫu hệ
- Đời sống của con người thời công xã thị tộc mẫu hệ:
+ Công cụ lao động: Công cụ lao động chủ yếu được chế tác bằng đồ đá cũ sơ kì và
trung kì nữa mà là thời kì đá cũ hậu kì
Đây là thời kì các loại công cụ có hình dáng gọn, đẹp, chính xác, kiểu loại Đặc biệtngười ta đã biết lắp các mảnh đá vào cành cây để tạo nên những mũi nhọn, mũi dáo, mũi lao.Công cụ lao động tiêu biểu là cuốc đá, được dùng trong lĩnh vực trồng trọt
+ Hoạt động kinh tế: Vẫn tồn tại hoạt động săn bắt, hái lượm đóng vai trò quan trọng.
Bên cạnh đó người nguyên thủy biết chăn nuôi những gia súc nhỏ, người ta gọi đó là chănnuôi nguyên thủy Trồng trọt nguyên thủy cũng ra đời
Cả hai ngành kinh tế này đều do phụ nữ đảm nhiệm Việc xuất hiện chăn nuôi nguyênthủy và trồng trọt nguyên thủy đều chứng tỏ con người từ nền kinh tế thu lượm phụ thuộc chặtchẽ vào tự nhiên chuyển sang một nền kinh tế sản xuất
+ Quan hệ xã hội: Thể hiện ở 3 mối quan hệ của con người trên 3 lĩnh vực:
Quan hệ của người nguyên thủy đối với tư liệu sản xuất: Sở hữu tập thể
Trang 8Quan hệ giữa con người với nhau: sống và lao động tập thể, làm chung ăn chung ởchung Vai trò của người phụ nữ chiếm địa vị chủ đạo trong xã hội.
Quan hệ đối với sản phẩm lao động làm ra: Công bằng là nguyên tắc vàng của xã hội
nguyên thủy Do thức ăn kiếm được chưa nhiều, chưa có đều đặn => mọi người còn phải cùng
làm, cùng cố gắng đến mức cao nhất để kiểm sống nên tự nhiên người ta thấy cần phải côngbằng, phải được hưởng thụ bằng nhau Thực ra ở thời đồ đá, con người cũng chưa có gì thừa
mà để dành, chưa có gì riêng mà cất giữ, người ta sống cùng nhau mất gia đình, thâm chí cảthị tộc, trong một ngôi nhà lớn Bữa ăn dọn ra là thức ăn cùng nhau kiếm được, cùng ăn, cùngnhường nhịn, san sẻ đều nhau
Tôn giáo: Tôn giáo không xuất hiện cùng một lúc với sự xuất hiện loài người và cũng
không tồn tại mãi trong xã hội loài người Tôn giáo là một phạm trù lịch sử
Quan niệm đầu tiên của người nguyên thủy là quan niệm “vạn vật hữu hình”, nó chính
là cơ sở cho sự ra đời, tồn tại của các hình thái ý thức tôn giáo nguyên thủy Thuyết này chorằng mọi hiện tượng tự nhiên từ động vật, cây cỏ đến con người đều có linh hồn Nó phản ánh
tư duy lạc hậu, non nớt, sự kém hiểu biết của con người
Hiện tượng thờ cúng tôtem (tín ngưỡng tôtem): Theo quan niệm của người nguyên thủy chorằng 1 động vật, 1 thực vật hay 1 hiện tượng tự nhiên nào đó có quan hệ mật thiết với sự sốngcòn của thị tộc, bộ lạc, có khả năng che chở, phù hộ, giúp đỡ cho các thị tộc và bộ lạc
Mỗi thị tộc thường lấy tên của tôtem đặt tên cho thị tộc mình, mỗi con vật được thờcúng, họ quan niệm tất cả mọi hoạt động của thị tộc đều có liên quan đến vật tổ, vật tổ phù trợcho họ
Thờ cúng tổ tiên: Xuất hiện ở thời kì phát triển cao của chế độ thị tộc, thể hiện lòng kínhtrọng, sự biết ơn của thị tộc đối với những người giả cả, có công đã chết, họ tin rằng linh hồncủa tổ tiên có thể phù hộ cho con cháu trong thị tộc
Chữa bệnh bằng phù phép, ma thuật: Đây là một hình thức tôn giáo lạc hậu, phản ánhtrình độ thấp kém trong sự hiểu biết của việc chữa bệnh bằng phù phép có nguồn gốc từ sự kếthợp giữa y học dân gian cộng với việc dùng phù phép Họ cho rằng nguyên nhân của bệnh tật
là có 1 vật ở ngòai nhập vào thân thể => phù phép ma thuật là cần phải hút hoặc lấy ra =>những lời chú, yểm bùa
Tóm lại: Trong xã hội công xã thị tộc mẫu hệ “quyền” của người đàn bà ở chỗ có quyền
tổ chức và phân công lao động giữa các thành viên trong cộng đồng
Họ có quyền điều hành tất cả những công việc chung của thị tộc hoặc giải quyết nhữngvấn đề có liên quan đến thị tộc khác nhau Người đàn bà lớn tuổi có kinh nghiệm thường đượcbầu làm tộc trưởng, tù trưởng Giữa người đàn bà với người đàn ông không hề có sự áp bứchoặc bất bình đẳng về quyền lợi
1.3 Sự tan rã của xã hội nguyên thủy Sự xuất hiện xã hội có giai cấp và nhà nước
1.3.1 Sự xuất hiện kim loại và sự phát triển của sản xuất
- Cách mạng đá mới: Công cụ đá rất đa dạng, đa năng, dễ đào bới Nhờ vậy, sức laođộng được tiết kiệm hơn, năng suất lao động tăng, diện tích trồng trọt quanh nhà được mởrộng
Kĩ thuật chế tác phát triển cao: Mài, khoan, cưa
Trồng trọt, chăn nuôi phát triển thay thế dần cho săn bắt, hái lượm Con người dần táchkhỏi sự phụ thuộc của thiên nhiên
Trang 9- Sự xuất hiện công cụ lao động bằng kim loại:
+ Trong suốt một thời kì dài con người sử dụng chủ yếu đồ đá làm công cụ lao động.Kim loại đầu tiên mà con người biết đến là vàng, dùng để chế tạo đồ trang sức, kim loại thứhai là bạc, sau đó mới phát hiện ra đồng
+ Việc phát hiện ra đồng lúc đầu là ngẫu nhiên, người ta nhặt được những thỏi đồng bịnóng chảy hoặc bị vón cục lại trong các đám tro tàn sau 1 vụ cháy rừng hoặc trong đống nhamthạch núi lửa
+ Nguyên liệu đầu tiên là đồng đỏ, việc phát hiện ra đồng khỏang đầu thế kỉ IV TCN,người Ai Cập và dân cứ ở vùng Tây Á sử dụng đồng sớm nhất
Sau đó, người ta phát hiện ra chì, kết hợp đồng và chì thành đồng đen chắc hơn Đồngthau ra đời so với đồng đỏ được coi là một bước tiến trong sự phát triển của công cụ sản xuất.Vào khoảng 4000 năm TCN, nhiều dân tộc trên thế giới sử dụng đồng thau Dù vậy, cả đồng
đỏ và đồng thau vẫn không có khả năng loại trừ đồ đá ra khỏi công cụ sản xuất
1.3.2 Sự hình thành công xã thị tộc phụ hệ
- Nguyên nhân: Do công cụ sản xuất tiến bộ và đắc dụng đã đưa đến việc mở rộng diệntích trồng trọt Đặc biệt thời kì này xuất hiện công cụ lao động, tiêu biểu là cái cày (ban đầucày bằng đá từ thân cho đến lưỡi, sau đó thân cày bằng gỗ Khi xuất hiện đồng, người ta dátlên lưỡi cày một lớp đồng mỏng với mục đích làm cho lưỡi cày sắc bén hơn Việc dùng cuốcbằng đá và cày bằng đá, đó là một bước tiến dài trong lịch sử phát triển của công cụ lao động
- Về hoạt động kinh tế: với sự xuất hiện lưỡi cày, nông nghiệp dùng cuốc chuyển sangnông nghiệp dùng cày, sử dụng súc vật để kéo cày đã đưa một cuộc cách mạng lớn trong hoạtđộng kinh tế vì: Nông nghiệp dùng đòi hỏi phải là người có sức khỏe, kinh nghiệm sản xuất
Do đó, người phụ nữ không đủ khả năng để đảm nhiệm công việc này, thay vào đó làvai trò của người đàn ông Khi xuất hiện nông nghiệp dùng cày, hoạt động kinh tế chuyểnsang hoạt động mang tính chất cá thể
+ Bên cạnh đó xuất hiện nghề chăn nuôi đàn súc vật lớn để cung cấp sữa, sức kéo đòihỏi người có sức khỏe buộc người đàn ông đứng ra đảm nhiệm công việc này Tất cả đã dẫnđến một sự đảo lộn vị trí của người đàn bà
+ Dệt, đóng thuyền, xây dựng nhà cửa, làm đồ trang sức, đặc biệt trong việc chế tạo đồtrang sức, con người lấy một số chất liệu trong tự nhiên để bôi vẽ lên mặt trong những ngày lễhội, cho thấy cư dân bước đầu quan tâm đến tinh thần
+ Do kinh tế nông nghiệp phát triển, do hoạt động thủ công phát triển mà trong xã hộixuất hiện nhu cầu trao đổi vật phẩm giữa bộ lạc này với bộ lạc khác, tuy nó chưa được coi làhoạt động buôn bán, chỉ là hình thức trao đổi sơ khai vật đổi vật, chưa định ra hình thức trunggian để đánh giá vật phẩm
- Về tổ chức và quan hệ xã hội
+ Chế độ công xã thị tộc phụ hệ vẫn được tổ chức theo chế độ lưỡng tộc, tức là khi mộtthị tộc nào đó đông lên, quá một lượng nhất định thì ta phải tách ra làm 2 thị tộc nhỏ hơn,người đứng đầu thị tộc, bộ lạc giờ đây phải là đàn ông
+ Nó vẫn phải đảm bảo nguyên tắc vàng, đó chính là nền dân chủ nguyên thủy có nghĩa
là mọi thành viên trong thị tộc, bộ lạc đều có quyền như nhau đối với tư liệu sản xuất, đều cóquyền cùng lao động và chia đều thức ăn, ngay cả người đứng đầu bộ lạc cũng không cóquyền chiếm đoạt tài sản của thị tộc, có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào
Trang 10+ Quan hệ hôn nhân: Hôn nhân thời kì này từ hình thức hôn nhân đối ngẫu -> hôn nhâncặp đôi (hôn nhân 1 vợ 1 chồng), người ta bắt đầu cấm giữa anh, chị, em ruột lấy nhau Đứacon sinh ra biết cả mặt cha lẫn mặt mẹ, lấy theo họ cha.
+ Đời sống tinh thần khá phong phú, tinh tế
1.3.3 Sự tan rã của xã hội nguyên thủy, sự xuất hiện giai cấp và nhà nước
1.3.3.1 Nguyên nhân tan rã của xã hội nguyên thủy
* Công cụ bằng kim loại xuất hiện đưa đến những chuyển biến quan trọng:
- Đồ sắt có ưu thế hơn hẳn đồng thau, cứng hơn, khỏe hơn, sắc bén hơn => với cày,cuốc bằng sắt, người ta có thể cày xới, trồng trọt ở những nơi khô cứng mà trước đây công cụbằng đá không thể làm được Diện tích canh tác mở rộng, khái niệm tích lũy ngày càng nhiều
- Trồng trọt phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm, có thể cung cấp cho những cộng đồngngười ở các khu vực đất đai không thuận lợi trồng trọt mà phù hợp chăn nuôi => xuất hiện sựchuyên môn giữa trồng trọt và chăn nuôi
* Xuất hiện những tiền đề, điều kiện cho sự chuyển biến từ xã hội công xã thị tộc sang
xã hội có giai cấp và nhà nước
- Thứ nhất: Sự xuất hiện 1 hình thái tổ chức xã hội khác với tổ chức công xã thị tộc và
tồn tại bên cạnh công xã thị tộc, đó là sự xuất hiện của tổ chức công xã nguyên thủy hay còngọi là công xã láng giềng
Đặc điểm: là một cộng đồng người không tính theo quan hệ huyết tộc mà tính theo quan
hệ địa vực cư trú, cùng sống trên một địa danh nhất định, cùng sản xuất Đây chính là tiềnthân của làng, xã sau này Có 2 loại công xã nguyên thủy phổ biến: Công xã nguyên thủynông nghiệp; công xã nguyên thủy du mục và chăn nuôi
+ Công xã nguyên thủy nông nghiệp gồm những người sống chủ yếu bằng nghề nông,phổ biến ở các nước phương Đông
+ Công xã nguyên thủy chăn nuôi + du mục có 1 tổ chức khá bền vững, chặt chẽ, chủyếu là ở những vùng thảo nguyên, đồi núi
- Thứ hai: Sự xuất hiện chế độ nô lệ gia trưởng ở cuối thời kì công xã thị tộc, giữa các
thị tộc, bộ lạc thường xuyên xảy ra các cuộc xung đột để giành giật địa bàn cư trú cũng nhưnơi kiếm ăn Do việc xuất hiện nông nghiệp dùng cày, xuất hiện nghề chăn nuôi súc vật chonên lương thực - thực phẩm ngày càng phong phú, dồi dào hơn, nó không chỉ đủ để nuôi sốngcác thành viên trong thị tộc mà còn có khả năng để nuôi sống thêm một số người khác ngoàithị tộc
Trước đây các tù binh bị bắt thường bị giết đi hoặc ăn thịt, giờ đây do nguồn thức ăn dồidào, họ giữ lại nuôi và trở thành tài sản chung của thị tộc, bộ lạc Lúc đầu những người nàyphục vụ chung cho thị tộc, bộ lạc dần dần những người có quyền thế trong thị tộc, bộ lạc như
tù trưởng, tộc trưởng của thị tộc biến họ trở thành những nô lệ phục vụ riêng cho mình Ở thời
kì đầu, công việc chủ yếu của nô lệ là phục vụ, hầu hạ trong gia đình Sự xuất hiện chế độ nô
lệ gia trưởng là sự mở đầu cho sự hình thành xã hội có giai cấp và nhà nước
- Thứ ba: Xuất hiện 3 cuộc phân công lao động xã hội lớn, chính là sự phân công lao
động giữa các ngành nghề
+ Phân công lao động lần thứ nhất: Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt Xuất hiện hiện tượngtrao đổi giữa các bộ lạc chăn nuôi và trồng trọt, họ trao đổi những sản phẩm họ làm ra nhưngũ cốc, thịt, da, lông thú => nền sản xuất tăng lên rất nhiều
Trang 11+ Phân công lao động lần thứ hai: Là việc tách rời thủ công nghiệp ra khỏi nông nghiệplàm cho hoạt động của thủ công nghiệp mang tính chất là một ngành kinh tế độc lập làm tiền
đề cho ngành kinh tế công thương nghiệp say này
Tác dụng của việc tách rời là làm cho các nghề thủ công ngày càng được chuyên mônhóa, sản phẩm làm ra ngày một nhiều, tăng lên nhanh chóng Nếu tính theo công cụ lao độngthì sự phân công lao động lần 2 này ở cuối thời đại đồng, đầu thời đại đồ sắt
+ Phân công lao động lần thứ ba: Là sự ra đời của thương nghiệp Kinh tế nông nghiệp,TCN phát triển dẫn đến nhu cầu trao đổi giữa các thị tộc, bộ lạc với nhau, hoạt động trao đổidần dần mang tính chất hàng hóa
Khi buôn bán xuất hiện sẽ đưa đến sự ra đời tầng lớp trung gian, đó là thương nhân –chuyên làm nhiệm vụ trao đổi sản phẩm nhưng không hề tham gia sản xuất Tầng lớp thươngnhân này trở thành tầng lớp bóc lột với cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng Các thành thị
cổ đại ra đời, đó là trung tâm của các bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc, vừa là trung tâm sản xuấtTTC vừa là trung tâm buôn bán => Sự mâu thuẫn giữa thành thị với nông thôn, đó là một dấuhiệu con người đứng trước ngưỡng cửa của thời đại văn minh
- Thứ tư: Sự xuất hiện chế độ dân chủ quân sự
Bởi vì, cuối thời kì công xã thị tộc, chiến tranh, cướp bóc thường xuyên xảy ra, đặcbiệt những vùng dân cư đông đúc nhưng ít đất đai Mọi thành viên nam giới của thị tộc, bộ lạckhi đến tuổi trưởng thành thì đều trở thành chiến sĩ, những người đứng đầu thị tộc đồng thời
là thủ lĩnh quân sự
Một bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc có 1 thủ lĩnh quân sự, do hội nghị các chiến sĩ bầu ra,
họ cũng có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào Trong mọi sinh hoạt hàng ngày, mọi thành viênnam giới đều luôn luôn được tổ chức theo các đơn vị chiến đấu Một lớp người có quyền lực
ra đời, chuẩn bị cho sự ra đời xã hội có giai cấp và nhà nước
1.3.3.2 Chế độ tư hữu xuất hiện Nhà nước hình thành
- “Nguyên tắc vàng” của xã hội xuất hiện nguyên thủy là cộng đồng, công bằng bìnhđẳng trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm xã hội Xã hội không có của cảithừa vì sản xuất thấp, mọi của cải phải chia đều, không có sự tách biệt về hưởng thụ mọi thứ
là của chung
- Sản xuất phát triển, của cải dư thừa là đầu mối dẫn tới sự phân hóa xã hội thị tộc - một
số người lợi dụng địa vị trong cộng đồng đã chiếm đoạt tài sản chung của cộng đồng biếnthành của cải riêng của cá nhân, làm nảy sinh chế độ tư hữu
Chế độ tư hữu xuất hiện làm cho “nguyên tắc vàng” của xã hội nguyên thủy không còn
lý do tồn tại nữa.
SP xã hội dư thừa Lòng tham lam
chiếm đoạt của một số
cá nhân
Chế độ tư hữu xuất hiện
Quan hệ cộng đồng bị phá vỡ
Trang 12- Chế độ tư hữu phát triển, sự phân hóa xã hội sâu sắc hơn dẫn đến xã hội có sự chênhlệch lớn về tài sản và địa vị xã hội Giai cấp ra đời Đa số người nghèo sẽ mất đi điều kiện sảnxuất độc lập, trở thành những kẻ phụ thuộc Mâu thuẫn giàu – nghèo ngày càng sâu sắc.
Để đảm bảo quyền lợi cho thiểu số những người giàu, họ đã tạo ra 2 cơ quan quyền lực,bảo vệ quyền lợi cho giai cấp mình, trấn áp sự phản kháng của đa số những người nghèo dẫnđến sự ra đời của Nhà nước
Nhà nước không phải là một quyền lực từ bên ngoài ấn vào xã hội, nó là sản phẩm củamột xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định, nó là bằng chứng chứng tỏ rằng xã hội đó
bị hãm trong một sự mâu thuẫn với bản thân nó mà không sao giải quyết được, rằng xã hội đó
đã bị chia thành những phe đối lập không thể điều hòa, mà xã hội đó không đủ sức trừ bỏđược Như vậy nhà nước là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và diệtvong
1.3.3.3 Đặc trưng của nhà nước
Xã hội phân hóa thành các giai cấp độc lập nhau về quyền lợi, từ đó phát sinh mâuthuẫn giai cấp, đe dọa tới quyền lợi của giai cấp chủ nô giàu có
Giai cấp chủ nô muốn có một công cụ để giúp giữ vững địa vị thống trị, áp bức bóc lộtcác giai cấp nghèo khổ, sẵn sàng đàn áp nô lệ và dân nghèo khi họ chống lại, công cụ này cóthể giúp chủ nô là thiểu số nhưng thống trị khuất phục được đại đa số nhân dân => Công cụ
đó chính là nhà nước
- Khi xã hội có giai cấp và nhà nước ra đời, nó hoàn toàn mâu thuẫn xã hội nguyên thủy
Nó có những đặc trưng riêng biệt khác hẳn thời kì tồn tại xã hội nguyên thủy
+ Nói tới nhà nước là nói tới một địa phận lãnh thổ với một đường biên giới nhất định.Đường biên giới đó có tồn tại vĩnh hằng hay không còn tùy thuộc vào giai cấp cầm quyềntrong từng thời kì lịch sử nhất định Đặc biệt trong thời cổ đại, đường biên giới của các quốcgia thường không ổn định, nó dễ biểu hiện
+ Việc phân chia cư dân theo địa vực hành chính chứ không căn cứ vào quan hệ huyếttộc như trước đây => yếu tố văn bản phá vỡ chế độ thị tộc Việc bố trí, sắp xếp cư dân như thếnào tùy vào từng quốc gia, càng về sau thì sự phân chia đó ngày càng cụ thể hơn
+ Sự ra đời của nhà nước gắn liền với sự thiết lập một quyền lực công cộng, nó hìnhthành nên các cơ quan của bộ máy nhà nước, đó chính là: Chính quyền nhà nước, cảnh sát,quân đội, nhà tù, luật pháp, tòa án Trong quá trình phát triển của mình, các cơ quan của bộmáy nhà nước ngày càng hoàn thiện, được tổ chức ngày càng quy củ hơn
Nhà nước bao giờ cũng là một giai cấp nhất định, là nhà nước của giai cấp có thế lựcnhất, giai cấp thống trị về mặt kinh tế, yêu cầu này nhờ có nhà nước mà trở thành giai cấpthống trị cả về mặt chính trị => do đó có thêm những thủ đoạn mới để trấn áp, bóc lột giai cấp
bị áp bức
Ví dụ:
Nhà nước cổ đại là nhà nước của giai cấp chủ nô dùng để trấn áp nô lệ
Nhà nước phong kiến là cơ quan quyền lực của quý tộc phong kiến dùng để trấn ápnông dân, nông nô
Nhà nước tư sản là công cụ của tư sản để bóc lột lao động làm thuê
Thông thường một nhà nước thường có 2 chức năng: Đối nội (trấn áp và bóc lột đối vớinhân dân trong nước để duy trì trật tự an ninh xã hội) Đối ngoại (bảo vệ biên cương, tiến
Trang 13hành chiến tranh xâm lược để mở rộng lãnh thổ riêng các quốc gia phương Đông cổ đại cóthêm chức năng xây dựng và bảo vệ các công trình thủy lợi).
- Nhà nước hình thành bao giờ cũng gắn liền với sự hình thành và tồn tại của nhiều tộcngười => Sự hình thành nhà nước chính là quy trình qui hợp, thống nhất của các tộc người dùđịnh cư hay du mục trên một vùng lãnh thổ nhất định, không có quốc gia nào chỉ có một tộcngười
Nhận xét: Như vậy, nhà nước là một hiện tượng lịch sử hoàn toàn xa lạ, mâu thuẫn với
xã hội nguyên thủy
Câu 3: Phân tích đời sống của loài người thời kỳ bầy người nguyên thủy
Câu 4: So sánh đặc điểm xã hội loài người thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ và công xã thịtộc phụ hệ
Câu 5: Quá trình cải tiến của công cụ lao động của con người thời nguyên thủy
Câu 6: Phân tích tiền đề dẫn đến hình thành nhà nước cổ đại phương Đông và phươngTây
Câu 7: Phân tích ý nghĩa phát minh ra lửa của loài người
Câu 8: Thế nào là tín ngưỡng nguyên thủy? Phân tích đặc điểm của tín ngưỡng nguyênthủy
Câu 9: Phân tích về cuộc sống bình đẳng cùng làm, cùng hưởng của con người thời kỳnguyên thủy Thời kỳ cộng sản chủ nghĩa khác cộng sản nguyên thủy như thế nào?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đặng Đức An (2001), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, Nxb Giáo dục Việt Nam, HàNội
2 Phan Ngọc Liên (2000), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, NXb ĐHQG Hà Nội
3 Lương Ninh (Chủ biên – 2000), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
4 Lương Ninh (2006), Nước Phù Nam, Nxb ĐHQG TP Hồ Chí Minh
5 Vũ Dương Ninh (Chủ biên – 1998), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb GD Việt Nam, Hà Nội
6 Chiêm Tế (2000), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội
7 Nghiêm Đình Vỳ (Chủ biên – 2004), Lịch sử thế giới cổ trung đại, Nxb ĐHSP Hà Nội
Trang 14Chương 2: Xã hội cổ đại
Số tiết: 18 (Lý thuyết 15; Bài tập + Thảo luận: 03)
Lý giải được tại sao các quốc gia cổ đại phương Đông là chế độ quân chủ chuyên chế
và phương Tây là chế độ chiếm hữu nô lệ.
Những mâu thuẫn xã hội và các cuộc đấu tranh của giai cấp bị trị chống lại giai cấp thống trị thời cổ đại.
2.1 Lí luận chung về mô hình xã hội cổ đại
Là xã hội có nhiều giai cấp và nhà nước đầu tiên, là thời kì mở đầu cho lịch sử văn minhcủa nhân loại
Xã hội cổ đại chia làm 2 khu vực với 2 khuynh hướng phát triển và những đặc điểmriêng biệt Sự khác biệt đó về không gian, thời gian, về những đặc điểm kinh tế, cơ cấu xã hội,thể chế chính trị, hình thái ý thức tư tưởng
Do những điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, xã hội ở mỗi khu vực khác nhau nên chế
độ chiếm nô phát triển ở những mức độ khác nhau
- Ở phương Đông thì chế độ nô lệ không phát triển đến mức điển hình, chỉ dừng lại ở mức
độ chế độ nô lệ gia trưởng => Do đó, người ta không dùng khái niệm “chiếm nô” cho
xã hội cổ đại phương Đông mà chỉ có thể gọi xã hội cổ đại phương Đông hay xã hội
có giai cấp đầu tiên
- Ở phương Tây, xã hội cổ đại phương Tây phát triển thành xã hội chiếm nô với đầy đủnhững tiêu chí, đặc điểm cơ bản của hình thái kinh tế - xã hội này (xã hội phân hóathành 2 giai cấp cơ bản đối kháng nhau về quyền lợi, chủ nô mâu thuẫn nô lệ)
2.2 Xã hội cổ đại phương Đông: Xã hội có giai cấp, nhà nước đầu tiên trong lịch sử
2.2.1 Khái quát chung
* Thời gian, địa điểm xuất hiện
- Thời gian: Khoảng TNK IV – III trước công nguyên
- Địa điểm: Khu vực châu Á và Đông Bắc châu Phi
Phương Đông chính là nôi của nền văn minh nhân loại Điều đó được chứng minh bằngcác di tích khảo cổ như ở Inđônêxia người ta tìm được di tích người vượn Pitêcantơrốp, ở BắcKinh có người vượn Xinantơrốp
Phương Đông có người nguyên thủy sinh sống từ rất sớm, diễn ra quá trình phân hóagiai cấp sớm nhất trong lịch sử dù trình độ sản xuất còn rất thấp kém
- Một số quốc gia tiêu biểu:
Ở Ai Cập, khi hình thành nhà nước vào khoảng 3200 năm TCN
Lưỡng Hà khi hình thành nhà nước vào khoảng 3500 năm TCN
Lịch sử Ấn Độ (bắt đầu 3000 – 2000 TCN)
Trung Quốc khoảng TNK III trước công nguyên
Trang 15* Cơ sở hình thành: Các quốc gia cổ đại phương Đông đều có những đặc điểm chung là đều
được hình thành trên lưu vực các con sông lớn
Ví dụ: Ai cập → sông Nin
Lưỡng Hà → sông Tigơrơ và Ơphơrat
Ấn Độ → sông Ấn, sông HằngTrung Quốc → sông Hoàng Hà và Trường Giang
- Thuận lợi:
Tại lưu vực các con sông này đất đai màu mỡ, phì nhiêu, đất màu tơi, xốp, phù hợp vớitrình độ sản xuất, kĩ thuật canh tác cũng như công cụ lao động của con người lúc bấy giờ.Cũng tại đây đã hình thành nên những vùng đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu là nơi quần tụđông đúc dân cư sinh sống
Ví dụ: Đồng bằng sông Nin ở Ai Cập, đồng bằng trung và hạ lưu Lưỡng Hà, đồng bằng
ở miền Bắc Ấn Độ, đồng bằng Hoa Bắc, Hoa Trung, Hoa Nam ở Trung Quốc
+ Không chỉ bồi đắp phù sa, các con sông còn cung cấp nước tưới cho đồng ruộng, nướcdùng trong sinh hoạt hàng ngày của con người
+ Công cấp thủy sản, thức ăn hàng ngày
+ Đường giao thông huyết mạch của đất nước
Chính vì vậy, chỉ cần những công cự lao động giản đơn bằng đá hoặc đồng đỏ có thểđưa năng xuất tăng cao, xã hội nhanh chóng phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước
- Khó khăn:
Song song với những thuận lợi là những khó khăn do các dòng sông mang lại đó thườngxuyên gặp lũ lụt và người phương Đông còn thường xuyên bị hạn hán Do vậy, nên công tácthủy lợi trở thành một nhiệm vụ sống còn, một vấn đề không thể thiếu được của cư dân cácnước này
Ngay từ rất sớm, người ta đã biết làm thủy lợi: đắp đê ngăn lũ, đào hồ chứa nước vàkênh, máng dẫn nước vào ruộng,
Vì thế thủy lợi chính là yếu tố gắn kết các công xã nông thôn lại với nhau Là một trongnhững lý do giải thích tại sao ở phương Đông lại hình thành xã hội có giai cấp và nhà nướcđầu tiên Thêm 1 chức năng của nhà nước: xây dựng và bảo vệ các công trình công cộng.Thủy lợi quyết định đến sự thịnh suy của các nhà nước cổ đại phương Đông
- Ví dụ:
+ Sông Nin: “Ai cập là tặng phẩm của sông Nin”
Nếu không có sông Nin thì đất đai xứ Ai Cập cũng sẽ là sa mạc
Sông Nin đã mang phù sa tới bồi đắp nên những đồng bằng màu mỡ: Thượng Ai Cập và
Hạ Ai Cập rồi biến những đồng bằng đó thành những vựa lúa Thế nhưng hàng năm nướcsông Nin lại dâng cao trong vòng 6 tháng, nhấn chìm tất cả
+ Sông Tigơrơ và Ơphơrat: Các nền văn minh tối cổ ở khu vực Tây Á đã được hìnhthành trên lưu vực 2 dòng sông:
Tigơrơ và Ơphơrat mà trong lịch sử người ta thường gọi là văn minh Lưỡng Hà Thời
cổ đại đã nổi tiếng là một vùng đất phì nhiêu, rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nôngnghiệp Nằm giữa vùng sa mạc Xyri nóng bỏng và cao nguyên Iran cằn cỗi nên khí hậuLưỡng Hà rất nóng và khô
Trang 16Nhưng hàng năm, từ tháng 3 tới tháng 9, nhờ có 2 con sông Tigơrơ và Ơphơrat mangnước do tuyết tan cùng với phù sa từ vùng Acmêni cuồn cuộn chảy về phương Nam đã bồiđắp cho vùng đất của 2 triền sông thành 1 vùng châu thổ phì nhiêu.
Sử gia Hêrôđôt khi qua Lưỡng Hà đã hết lời ca ngợi sự giàu có của xứ này “theo chỗ tôibiết, Babilon là một quốc gia có đầy đủ điều kiện tốt nhất đối với nông nghiệp trong tất cả cácquốc gia khác”
Nhưng từ tháng 4, tháng 5 trở đi, băng tuyết trên miền thượng du tan ra, gây nên lũ lụtlớn ở hạ lưu, gây nên một cuộc tàn phá kinh khủng đối với cư dân nông nghiệp Lưỡng Hà, tìmcách chế ngự dòng sông, biến Lưỡng Hà từ một vùng đất hoang, nứt nẻ thành một vùng đồngruộng trù phú và tạo dựng nên một nền văn minh rực rỡ
Ở Trung Quốc: Sống bên dòng sông Hoàng rộng lớn và đôi khi có những hoạt động bấtthường, cư dân Trung Quốc cổ đại là những người có nhiều kinh nghiệm trong việc làm thủylợi Từ xa xưa, tùy theo lượng nước hàng năm, sông Hoàng đôi khi đổi dòng ở vùng hạ lưu,gây thiệt hại lớn cho mùa màng và cuộc sống con người
Do đó, việc đào kênh phân lũ và dẫn nước tưới đồng ruộng là công việc vô cùng quantrọng Các ông vua Nghiêu, Thuấn, Vũ là những người có công lớn trong việc trị thủy, đượcnhắc nhiều trong các truyền thuyết của Trung Quốc và được cư dân ngưỡng mộ
Ấn Độ: sông Ấn và tiếp đó là sông Hằng chính là cơ sở dẫn đến sự hình thành nhữngnhà nước ở Ấn ĐỘ cổ đại Ở hạ lưu sông Ấn đã hình thành nền văn minh cổ đại đầu tiên của
cư dân bản địa nơi đây
So sánh với Việt Nam và các quốc gia cổ ở Đông Nam Á (hình thành ở lưu vực củanhững dòng sông lớn)
2.2.2 Những đặc trưng cơ bản về kinh tế
- Kinh tế chủ đạo ở các nước phương Đông cổ đại là nền kinh tế nông nghiệp (nền
“nông nghiệp thủy nông” hay “nông nghiệp tưới tiêu”) Nền kinh tế gắn chặt với việc làmthủy lợi
+ Ngay từ khi đồ sắt chưa ra đời, nền nông nghiệp đã đạt được năng suất rất cao
Phù sa bù đắp của các dòng sông đã tạo nên cho đồng bằng châu thổ một lớp đất mềm,xốp và vô cùng màu mỡ Với chất đất này chỉ có những công cụ lao động thô sơ chủ yếu bằng
gỗ, đá những vẫn đạt năng suất cao
Do ý thức được những trở ngại của điều kiện tự nhiên đối với nền sản xuất nông nghiệpnên cư dân phương Đông đã sớm biết làm thủy lợi: đào kênh mương, lợi dụng nước sông lêndẫn nước vào ruộng mỗi khi hạn hán và đắp đê, xâm nhập, tháo nước khỏi ruộng mỗi khi lũ
về, nhờ đó năng suất lao động tăng lên
+ Theo Hêrôđôt thì ở Lưỡng Hà cổ đại năng suất lao động đã tăng cao có lúc tới 104,5lần so với số lúa gieo
+ Nông nghiệp trồng lúa nước là ngành kinh tế chủ yếu Lúa ở phương Đông khá tốt,không những đủ cung cấp cho nhu cầu lương thực trong nước mà còn có thừa để xuất khẩu.Lúa trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Ai Cập, Lưỡng Hà cổ đại
- Ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất của xã hội cổ đại phương Đông là: Sởhữu ruộng đất là chung của công xã, được chia ra thành từng khoảnh cho các thành viên công
xã cày cấy, hàng năm hoặc sau một vài năm chia lại một lần
Ví dụ: Ruộng “Nôm” ở Ai Cập, “tỉnh điên” ở Trung Quốc
Trang 17Đặc trưng “sở hữu công về ruộng đất”: không có sở hữu tư về ruộng đất, nếu có thì rấtmuộn Mac coi đây là một đặc trưng rất quan trọng Đây chính là “chiếc chìa khóa để hiểu về
xã hội phương Đông” Angghen cũng đồng ý với quan điểm đó
Quyền sở hữu và chiếm hữu: Mac nói nhà vua là kẻ sở hữu duy nhất về đất đai, conngười, quan niệm rất ngây thơ, tất cả các ông vua đều nói đất đai tất cả do nhà nước quản lý,nhưng quyền chiếm hữu lại là các công xã
Sự phát kiến ruộng đất đều do các công xã thực hiện, vua không có quyền Vì thế vuaphong ruộng đất cho các quan tức là phong quyền hưởng ruộng đất từ hoa lợi thu được, ngườisống trên mảnh đất ấy, hạn chế quyền chỉ thu hoa lợi
Mối quan hệ sở hữu, chiếm hữu chồng chéo lên nhau rất phức tạp Nếu áp dụng kháiniệm quyền sở hữu, chiếm hữu hiện đại thì không thể phân biệt quyền của vua, công xã vànhân dân
- Kinh tế nông nghiệp phát triển làm cho nhu cầu chế tạo, cải tiến các công cụ lao độngtăng cao, nhất là khi đồ kim loại (đồng, sắt) xuất hiện
Đồng thời, cùng với các nghề thủ công khác, “TCN đã trở thành một ngành sản xuất độclập và đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế của người nguyên thủy” Tuynhiên, ở phương Đông cổ đại, kinh tế TCN và chăn nuôi không tách rời khỏi kinh tế nôngnghiệp, ngược lại, luôn gắn bó, bổ sung cho nhau, khép kín lại trong công xã nông thôn Cònthương nghiệp cũng được phát triển nhưng rất yếu ớt Đây cũng là đặc thù của kinh tế phươngĐông cổ đại
Sự đan xen không tách rời TCN với nông nghiệp (chủ yếu) là một trong những nguyênnhân dẫn đến sự trì trệ, đóng kín của kinh tế phương Đông Thương nhân bị coi rẻ không baogiờ được xã hội coi trọng
Tóm lại: Nông nghiệp tưới tiêu, đóng kín trong công xã nông thôn: tự sản tư tiêu.
2.2.3 Đặc trưng về chính trị
Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền
- Giải thích khái niệm: Quân chủ, do vua làm chủ Chuyên chế, nói tính chất chuyên
quyền, độc đoán của nhà vua Tập quyền: Quyền hành tập trung trong tay vua.
- Quyền lực nhà vua thể hiện:
+ Sở hữu tối cao ruộng đất
+ Không chỉ nắm vương quyền mà còn thần quyền: Tăng lữ tối cao: Dajia Vua - thần –Linga (tượng trưng của vua)
Vua là người thay dân giao tiếp với thần linh Vua đồng thời là người đứng đầu hệ thốngtăng lữ Không chỉ nắm vương quyền (người đứng đầu) mà còn nắm cả thần quyền (thay thầntrị dân) Điều này giải thích tại sao những cá nhân này đầy quyền uy, tên rất cách biệt vàkhông được phép đọc tên tục của các vị vua
Quyền lực của vua càng được củng cố cả bằng bạo lực, bằng tôn giáo, bằng mê tín từ đólàm thủ tiêu ý thức chống đối và đức tin tuyệt đối vào vua
+ Đứng đầu tòa án tối cao
+ Tổng chỉ huy quân đội: Vua là người chỉ huy quân đội tối cao:
Vua không ra trận trực tiếp nhưng đánh ở đâu đều do vua quyết định, thắng hay thua là
do vua (khác ở Roma, Hi Lạp ký hiệp ước, tuyên chiến, đều do Nghị Viện)
Trang 18Ví dụ: Cờ người của phương Đông: Vua trong cung cấm, lúc nào cũng có 2 chiến sĩđứng chặn Mất vua là mất nước (chiếu tướng) là kết thúc ván cờ.
Cờ ngựa: Châu Âu vua có quyền đánh Đông, dẹp Bắc, chạy sang tận bên kia Vua cònchạy được thì chưa mất nước (chạy 1 nước)
- Nguyên nhân hình thành thể chế quân chủ thời cổ đại ở các quốc gia phương Đông:
+ Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, năng suất lao động cao, xã hội sớm phâm chia giaicấp Đồng thời do yêu cầu làm thủy lợi và chống ngoại xâm, cần sự hợp tác tập thể, cần mộtngười đứng đầu để điều hành quản lý Nhà nước QCCC trung ương tập quyền
+ Tín ngưỡng: Vua thường gắn với các vị thần
- Bộ máy nhà nước: Khác nhau từng nước nhưng cơ bản đứng đầu là vua, giúp vua là
một ông tể tướng, bên dưới là các quan phụ trách từng lĩnh vực khác nhau; chưa có sự phân công cụ thể Về cơ bản có ba bộ phân: phụ trách tài chính; phụ trách các vấn đề KT – XH; chăm lo quân sự, đàn áp nhân dân và đi xâm lược
- Quân đội: Ban đầu nhà nước mới hình thành thì chưa có quân đội nhưng sau đó nhanh
chóng phát triển để bảo vệ và mở rộng lãnh thổ quốc gia
- Luật pháp: ở mỗi nước đã có những luật lệ riêng.
+ Ở Ấn Độ: có luật Manu
+ Trung Quốc có bộ luật “Hình đỉnh” bộ luật hình sự được ghi trong các đỉnh đồng.Trung Quốc là một trong những nước có trật tự, kỷ cương nhất ở các nước phươngĐông (chủ yếu qua sắc phong, sắc lệnh) qua truyền từ đời này sang đời khác => phong tục,tập quán
+ Ở Ai Cập có viên quan phụ trách luật pháp: Người ta tìm thấy một tờ giấy papyrus củanhà vua cử 1 viên quan xử vụ hoàng hậu thông dâm với người khác Nhưng viên quan phụtrách đó có thường trực không?
+ Ở Trung Quốc có quan tòa riêng, có hệ thống xử phạt từ trung ương đến địa phương
2.2.4 Những đặc trưng cơ bản về xã hội
* Cơ cấu xã hội của xã hội cổ đại phương Đông
Ở các quốc gia cổ đại phương Đông, xã hội được phân chia thành 2 giai cấp đối kháng
rõ rệt: giai cấp thống trị và giai cấp bị trị
Giai cấp thống trị:
Gồm có: Vua
Các quan lại triều đình
Các quý tộc ở các địa phương
Những người chỉ huy quân sự
Giới tăng lữ cao cấp trong các đền miếu
Đặc điểm: Xuất thân: Từ những người đứng đầu thị tộc, bộ lạc
Là những chủ đất lớn, chủ nô => vừa giàu có lại có quyền thế
Họ sống sung sướng trong các dinh thự sang trọng lộng lẫy, mặc quần
áo bằng tơ lụa, đi kiệu, có lính hộ vệ và đầy tớ theo hầu
Cuộc sống đầy đủ dựa trên sự bóc lột nông dân công xã bằng tô, thuế
Giai cấp bị trị:
Bao gồm: Nông dân công xã
Thợ thủ công
Trang 19Nô lệ.
- Nông dân công xã (khác nông dân tá điền, khác nông nô, khác nô lệ)
Nông dân công xã: Là bộ phận đông đảo nhất trong các quốc gia cổ đại phương Đông; làlực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội
Họ sống theo các gia đình phụ hệ Có chút ít tài sản riêng (chủ yếu là nhà cửa, nông cụ,gia súc, ) Tự lao động trên phần ruộng đất xã giao cho vì vậy họ duy trì gắn bó với nhautrong công xã, dựa vào công xã để làm thủy lợi và thu hoạch Họ phải nộp tô, thuế cho nhànước, sưu dịch, nghĩa vụ quân sự
- Thợ thủ công là những người tự do, họ có công cụ và phương tiện cần thiết để sảnxuất thủ công, họ phải nộp thuế sản phẩm cho nhà nước
Một số thợ thủ công lành nghề, có trình độ chuyên môn và kĩ thuật cao, được trưngdụng lao động trong các xưởng thủ công của nhà nước hay xưởng thủ công của công xã
- Nô lệ: Số lượng ít so với nông dân công xã
Nguồn gốc rất đa dạng: VD: trong bộ luật Manu nói có 15 nguồn gốc xuất thân xác định
nó là nô lệ vĩnh cửu hay nô lệ tạm thời: Mắc nợ trở thành Dasa (làm công trả nợ) khi hết nợthì luật cũng quyết định cách để trả hết nợ trở thành Arya; người Suđra thì là nô lệ vĩnh cửu.Vai trò của nô tỳ chủ yếu phục vụ trong gia đình
Thân phận: Những nô lệ ở phương Đông có quyền có gia đình riêng, có tài sản riêng,chứ không phải có toàn quyền đối với nô lệ (ít nhất là không có quyền giết nô lệ) Thậm chítrong số nô tỳ có một số sống vương giả hơn nhiều so với nông dân công xã
Vì vậy, ở các quốc gia phương Đông, việc giải phóng nô lệ cũng tương đối dễ dàng Với
vị trí và thành phần nô lệ ở phương Đông thì các xã hội này không phải là xã hội chiếm hữu
nô lệ điển hình mà chỉ là chế độ nô lệ gia trưởng
Kết luận:
Tổ chức công xã ở phương Đông được bảo lưu rất lâu bền trong suốt thời kì trung đại.Một trong những đặc điểm quan trọng nhất đối với chế độ ruộng đất cũng như sự phát triểnkinh tế phương Đông cổ đại đó là sự không tồn tại chế độ tư hữu ruộng đất
Do tàn dư của công xã thị tộc còn không hề bị phá vỡ, người ta sống với nhau bằng tình
họ hàng, làng xóm, sống không bằng pháp luật (phép vua thua lệ làng) Luật pháp nhà nướckhông thò tay được qua ngưỡng cửa của công xã nguyên thủy
* Mâu thuẫn giai cấp cơ bản và những cuộc đấu tranh của quần chúng lao khổ
- Quan hệ bóc lột chính: Phương Đông, vua – quan phong kiến mâu thuẫn nông dâncông xã
- Lực lượng sản xuất chính: Nông dân công xã “Sự thịnh suy của các quốc gia cổ đạiphương Đông hoàn toàn phụ thuộc vào sự bóc lột tô thuế của nông dân công xã”
* Chế độ đẳng cấp và công xã nông thôn
Đây là đặc trưng điển hình của xã hội Ấn Độ thời cổ đại
(Sinh viên tìm hiểu và thảo luận)
2.3 Xã hội cổ đại phương Tây: xã hội chiếm hữu nô lệ Hi Lạp và Rôma
2.3.1 Khái quát chung
* Địa điểm, thời gian hình thành
- Địa điểm: Các quốc gia cổ đại phương Tây (các quốc gia vùng Địa Trung Hải) là cácquốc gia nằm ở bờ Bắc Địa Trung Hải, thuộc phía Nam châu Âu
Trang 20- Thời gian tồn tại và kết thúc
+ Các quốc gia này xuất hiện muộn hơn nhiều so với các quốc gia cổ đại phương Đông,vào khoảng thiên niên kỷ I TCN (từ thế kỉ VIII – VII TCN)
Hi Lạp: Thế kỉ VIII - thế kỉ VI TCN (sau thời đại Home)
Roma: 753 TCN – 510 TCN (từ năm 510 xuất hiện chế độ Cộng hòa)
+ Thời gian kết thúc là vào khoảng năm 475 sau CN, khi người Giecmanh vào xâmchiếm lãnh thổ Roma, là mốc đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ nô lệ ở hầu hết cácquốc gia
- Đặc điểm: Các quốc gia cổ đại phương Tây thoát thai từ sự tan vỡ của chế độ công xãthị tộc, trong quá trình hình thành và phát triển của nhà nước, nó nhanh chóng thủ tiêu nhữngtàn dư của xã hội nguyên thủy
Cho đến thế kỉ VI TCN, khi các nhà nước phương Tây hình thành, các tàn dư của xã hộinguyên thủy bị tiêu diệt chứ nó không tồn tại lâu dài như các quốc gia cổ đại phương Đông,tuy nhiên nó vẫn phải thông qua một số cải cách chính trị
* Cơ sở hình thành:
- Điều kiện tự nhiên:
+ Miền Nam bán đảo Bancăng (Hi Lạp lục địa) hình dáng của bán đảo Bancăng giốngnhư một bàn tay 4 ngón chia làm 3 miền Bắc, Trung, Nam tách biệt nhau, sự thông thươnggiữa 3 vùng rất khó khăn
Các đảo lớn nhỏ trên biển Êgiê, trong đó có đảo lớn nhất là đảo Crét (đảo như 1 cầu nốigiữa Hi Lạp lục địa với Tiểu Á và Bắc Phi Tại đây xuất hiện nền văn minh cổ xưa nhất là vănminh Crét Mysen
Vùng bờ biển phương Tây Tiểu Á Có những thành phố rất quan trọng như thành phốHalicacnat, Êphidơ Có những công trình kiến trúc tiêu biểu như đền thờ thần Actêmit, lăngHalicacnat
Vì thế Hi Lạp không có nhu cầu, thậm chí không thể thống nhất quốc gia thành một khốiduy nhất Ở Hi Lạp có bao nhiêu hòn đảo, vùng đất, mỏm núi là có bấy nhiêu quốc gia Nhà nước Hi Lạp có thể xuất hiện dưới hình thức quốc gia thành bang (quốc gia thànhthị) Có 2 quốc gia lớn nhất là quốc gia Aten và Xpac Hi Lạp chỉ được thống nhất dưới lưỡigươm của kẻ xâm lược (thời kì Alechxan đại đế)
+ Bán đảo Italia dài và hẹp, lãnh thổ lớn hơn Hi Lạp (rộng gấp 5 lần Hi Lạp), giống hìnhchiếc ủng vươn dài xuống biển Địa Trung Hải
Italia cũng có nhiều đảo lớn nhỏ trong đó lớn nhất là đảo Cooxơ, Xixilia khác hẳn HiLạp, Italia có một số đồng bằng rộng lớn phì nhiêu, tạo ra thế mạnh của sản xuất nông nghiệp
và thế lực của giai cấp chủ nô ruộng đất
- Sự xuất hiện công cụ lao động bằng sắt:
Vì vậy, chỉ đến khi công cụ lao động bằng sắt ra đời mới đưa đến sự phân chia giai cấp
và nhà nước ở Hi Lạp và Rôma Khi công cụ lao động bằng kim loại đặc biệt là sắt được sửdụng khá phổ biến Năng suất tăng cao đã đưa đến sự ra đời của các quốc gia cổ đại phươngTây
Mặc dù ra đời muộn nhưng nó có sự phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất,tăng nhanh chóng đến giai đoạn cao, phát triển chế độ chiếm nô điển hình Sự phát triển củacác quốc gia cổ đại phương Tây phù hợp với tiến trình phát triển chung của lịch sử loài người
Trang 21* Đặc điểm chung về kinh tế
- Do đất đai khô cứng nên điều kiện phát triển nông nghiệp rất khó khăn, nếu có thì chủyếu là trồng cây ăn quả Xuất hiện hình thức Latiphunđia (đại trại, điền trang) Thực chất lànông nghiệp khác nông nghiệp phương Đông Nền kinh tế sản xuất lớn chiếm hữu nô lệ.Sản xuất chuyên canh: chỉ một mặt hàng (VD: Hành tỏi Tây Ban Nha: Rượu nho.Pháp, ); trồng trọt để xuất khẩu, sản xuất ra hàng hóa chứ không để tiêu dùng tại chỗ => nềnkinh tế hàng hóa tiền tệ cổ đại
- Bóc lột sức lao động của tập thể nô lệ Trên cánh đồng hàng trăm hàng nghìn nô lệ dànhàng ngang cuốc ruộng từ sáng đến tối
- Hi Lạp và Roma khác nhau đều có khá nhiều kim loại quý hiếm, có hàng nghìn cây sốđường biển, có nhiều cảng, vịnh thích hợp cho mậu dịch hàng hải
Ngay từ buổi đầu, nền kinh tế công thương nghiệp, mậu dịch hàng hải và kinh tế nôngnghiệp với các đại điền trang đã phát triển đồng đều, mạnh mẽ
2.3.2 Chế độ chiếm hữu nô lệ điển hình
* Cơ cấu xã hội của xã hội cổ đại phương Tây gồm: chủ nô và nô lệ.
+ Chủ nô: Chủ xưởng thủ công, thuyền buôn lớn, chủ các trang trại lớn Chủ nô củaRoma không bao giờ lao động chân tay chỉ có lao động làm văn hóa, chỉ huy sản xuất, + Nô lệ: Số lượng nhiều hơn nông dân tự do Bình quân 1 nông dân tự do có 4 nô lệ Nguồn gốc xuất thân của nô lệ: 5 nguồn gốc nhưng nguồn gốc chủ yếu là do nguồn gốc
từ bên ngoài, nguồn gốc ngoại tộc
+ Thân phận của nô lệ ở Hi Lạp và Roma không được coi là người mà được coi là tàisản riêng của chủ nô; không có quyền có tài sản riêng, gia đình riêng Mọi của cải tiền nong
do nô lệ làm ra đều là của chủ Chủ bảo vệ nô lệ như bảo vệ tài sản riêng của mình Vì thế, dichúc của chủ nô bao giờ cũng ghi nô lệ cho bao nhiêu
* Chế độ chiếm hữu nô lệ
- Nhà nước là một bộ máy chuyên chính của một giai cấp để đàn áp bóc lột giai cấpkhác Chế độ nô lệ là hình thức đầu tiên của chế độ người bóc lột người, nói như Lê-nin, chủ
nô và nô lệ là vết rạch lớn đầu tiên chia xã hội thành 2 giai tầng
- Hình thức xưa nhất của chế độ nô lệ là nô lệ gia trưởng, nó xuất hiện ở giai đoạn quá
độ từ chế độ công xã nguyên thủy sang chế độ chiếm hữu nô lệ Ở thời kì này, nô lệ giatrưởng thì chế độ chiếm nô chưa giữ địa vị thống trị trong sản xuất, giai cấp chủ nô và giaicấp nô lệ chưa hình thành
- Lịch sử đã chứng minh rằng hình thức đầu tiên của xã hội có giai cấp là chế độ nô lệ.Nhưng chế độ nô lệ chỉ phát triển thành hình thức thống trị ở các quốc gia cổ đại phương Tây.Còn ở phương Đông, chế độ đó chỉ ảnh hưởng đáng kể đến đời sống xã hội, nhưng không trởthành một phong trào sản xuất thống trị
- Các quốc gia cổ đại phương Tây ra đời khi sức sản xuất đã phát triển mạnh, công cụlao động bằng sắt được sử dụng rộng rãi, sự phân hóa giai cấp rõ rệt, mâu thuẫn giai cấp vàđấu tranh giai cấp quyết liệt Nền kinh tế Hi Lạp, La Mã, TCN và thương nghiệp phát triển rấtmạnh
Quyền sở hữu ruộng đất thuộc về tư nhân, nhà nước thực chất cũng là một tên chủ nôlớn Trong xã hội, số lượng nô lệ hết sức đông đảo và giữ vai trò quan trọng trong tất cả cácngành sản xuất Nô lệ là đối tượng bóc lột chủ yếu của chủ nô
Trang 22- Số lượng nô lệ ở xã hội phương Tây cổ đại rất lớn Số lượng nô lệ là tiêu chí đánh giáchủ nô đó giàu hay nghèo
- Nguồn gốc nô lệ rất đa dạng: thời kì đầu nguồn gốc chủ yếu là vì nợ (La Mã chế độ nô
lệ vì nợ tăng lên nhưng đến năm 320 TCN, nhà nước chủ nô phải ra sắc lệnh cấm biến người
La Mã thành nô lệ vì nếu biến thành nô lệ thì lực lượng quân đội sẽ suy yếu, không thể tiếnhành chiến tranh xâm lược mở rộng lãnh thổ, cướp tù binh, thu chiến lợi phẩm
+ Nô lệ tăng lên không ngừng cùng với các cuộc chiến tranh
Ví dụ: Chiến tranh La Mã – Cactagia (lịch sử thường gọi là chiến tranh Punit) kéo dài
120 năm đã cung cấp cho La Mã rất nhiều nô lệ
Chiến thắng Punít lần 1 đã cung cấp cho Roma 25.000 nô lệ
Chiến thắng Punít lần 2 đã cung cấp cho Roma 20.000 nô lệ
Chiến thắng Punít lần 3 đã tiêu diệt gần hết 60 vạn dân trưởng thành Cactagiơ Chỉ còn 5vạn ông già, phụ nữ, trẻ em => bị bán làm nô lệ
+ Số lượng đông lên làm cho các chợ buôn bán nô lệ ở các thành phố trở nên sầm uất Ở
đó người ta có thể bán và mua nô lệ như những đồ dùng thông thường Chợ nô lệ nổi tiếngnhất ở La Mã là chợ ở Đêlốt, ở Anvile Có lần 1 ngày bán tới 10.000 nô lệ
Để bán được giá cao, chủ nô cho nô lệ mặc quần áo mới, sửa sang đầu tóc Người bángiới thiệu tỉ mỉ cho người mua những điểm tốt và xấu của nô lệ Nô lệ được tập trung ở chợnhư một đàn súc vật, trước ngực mỗi nô lệ có đeo 1 cái thẻ ghi rõ tên tuổi, quê và nghề nghiệp
để tiện cho khách lựa chọn, mặc cả
Sau này La Mã suy yếu xuống nguồn nô lệ chiến tù cạn kiệt, chế độ nô lệ càng khủnghoảng giảm nhanh chóng đi đến chỗ suy yếu
+ Nguồn gốc thứ 3 là do buôn bán trên biển
+ Nguồn gốc: Có thể do nữ nô lệ sinh ra hoặc trẻ mồ côi bị biến thành nô lệ => khuyếnkhích nữ nô lệ sinh con để bù đắp Nhiều chủ nô đã dựng trại để chuyên môi giới nữ nô lệ đẻ
Do đó, có chuyện thật mà như đùa rằng “dựng tượng 1 nữ nô lệ đẻ một lúc 5 con”
- Nguồn gốc tuy khác nhau nhưng thân phận thì hoàn toàn giống nhau
+ Họ là tài sản của chủ nô Chỉ cần đếm số nô lệ là biết chủ nô đó giàu có đến mức nào.Những người chủ nô lớn thường có đến 2 vạn nô lệ
+ Nô lệ là một thứ hàng hóa có thể bán, mua, chuyển nhượng, thừa kế
- Sang thời đế chế, số lượng nô lệ bắt đầu giảm sút nghiêm trọng
Nguyên nhân:
Thứ nhất, do các cuộc chiến tranh quy mô lớn không còn nữa Sự giảm sút của tỷ lệ
thuận với nguồn nô lệ chiến tù
Nguyên nhân thứ 2, là do sự bóc lột quá nặng nề của chủ nô với nô lệ => bị lao động
kiệt sức, hoặc trốn, hoặc khởi nghĩa Các cuộc khởi nghĩa đều bị đàn áp đẫm máu
Ví dụ: Khởi nghĩa Xpâctcuxơ, lúc đông nhất lên tới 15 vạn nô lệ tham gia, cuối cùng bịchủ nô đàn áp, chỉ còn một số nhỏ là chạy trốn được, còn lại hầu hết bị chết trong chiến đấuhoặc bị bắt và bị đóng đinh chết trên cây thánh giá
Nguyên nhân thứ 3, là do chủ nô thay đổi phương thức bóc lột Chủ nô chia ruộng đất
cho nô lệ cày cấy đã biến nô lệ thành lệ nông Số lượng nô lệ giảm xuống làm cho xã hội chủ
nô La Mã thêm khủng hoảng Chế độ nô lệ đưa La Mã đến phồn vinh và cũng chính chế độ nô
lệ đưa La Mã đến sự diệt vong
Trang 23* Vai trò và thân phận của nô lệ
- Nô lệ là lực lượng lao động chính trong các Latiphundia Nô lệ làm việc dưới sự giámsát chặt chẽ và tàn bạo của những tên quản lý - hắn cũng xuất thân từ nô lệ nhưng được chủtin dùng, hắn giữ việc thu chi, buôn bán, nhận mệnh lệnh của chủ trong các đại điền trang, sốlao động tập thể lên tới 1000 người
+ Trong các điền trang không mấy chú trọng trồng cây lương thực và họ có thể nhậpkhẩu lương thực từ Ai Cập, Bắc Phi với giá rẻ (theo tính toán của các nhà kinh tế Roma thời
kì đó, 1kg lương thực nhập từ nước ngoài chỉ bằng 1/2 giá 1kg lương thực sản xuất trongnước => vì thế sản phẩm nông nghiệp chủ yếu phục vụ nền kinh tế công thương nghiệp.+ Những người nô lệ phải lao động cực khổ trên các cánh đồng trồng nho và ô liu Họphải làm việc từ sáng sớm đến tối mịt dưới làn roi của tên quản lý
Nô lệ phải đảm nhiệm mọi công việc từ làm đất, gieo hạt, chăm sóc đến thu hoạch mùamàng Bọn chủ nô bóc lột sức lao động nô lệ ở mức tối đa và chi phí cho nô lệ ở mức tốithiểu
- Cùng với kinh tế nông nghiệp, kinh tế công thương nghiệp phát triển Trong sản xuấtthủ công nghiệp, nô lệ luôn giữ vai trò là lực lượng sản xuất chính Nô lệ được sử dụng với sốlượng lớn trong các mỏ vàng, mỏ kim loại, các xưởng đóng tàu, chế biến rượu nho,
Một nhà văn La Mã đã thuật lại cuộc sống thê thảm của người nô lệ trong các xưởng thủcông như sau: Ở đây, người ta đối với những người ốm, những người già yếu và đàn bà khôngmột chút tình thương Ai cũng phải làm, hơi trái lệnh một chút là bị đánh đập, chỉ có chết mớihết đau khổ và nghèo khó Thân phận của họ giống nộ lệ ở châu Mĩ và công nhân ở thời kì
tư sản Nhưng sản phẩm họ làm ra đều thấm đẫm mồ hôi và xương máu của người nô lệ cònchủ nô thì thu được những món khổng lồ
+ Trong thương nghiệp, nô lệ cũng được sử dụng rộng rãi, đó là thứ hàng hóa để traođổi, buôn bán Đồng thời nô lệ còn dùng để chèo thuyền, khuôn vác, bốc dỡ hàng hóa, phục
vụ trong các hội buôn
+ Ngoài ra, nô lệ còn làm việc nấu ăn, giặt giũ, gác cổng, (ít vất vả hơn) Khi có chiếntranh nô lệ còn bị bắt làm trò tiêu khiển trong đánh giáp lá cà Ở Roma, nô lệ còn bị biếnthành “lá chắn” cho chủ nô Nô lệ khỏe mạnh bị huấn luyện thành đấu sĩ đưa ra đấu trường đểđấu kiếm hoặc với thú dữ => kết thúc cuộc chơi phải 1 kẻ bị gục ngã trên sàn đấu => bọn chủ
nô muốn hưởng cảm giác rùng rợn
Tóm lại: Nô lệ làm ra mọi của cải cho xã hội từ lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng,
xuất khẩu, đến các công trình thủy lợi, công trình văn hóa
Bọn chủ nô lệ được rảnh tay để hoạt động văn hóa, nghệ thuật và khoa học Nô lệ laođộng chân tay mâu thuẫn chủ nô chuyên làm lao động trí óc, khoa học, nghệ thuật dẫn đến xãhội có sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc
Không có nô lệ không có quốc gia Hi Lạp, La Mã không có văn hóa, nghệ thuật và khoahọc Hi Lạp, La Mã
Thân phận:
+ Mặc dù có vai trò to lớn trong mọi mặt của đời sống xã hội, nhưng thân phận củangười nô lệ vô cùng thấp kém Nô lệ bị gọi bằng những từ khinh miệt như “kẻ bị chết sốnglại”, “súc nô”, “công cụ biết nói”, “vật 2 chân”,
Trang 24Varôn chia công cụ lao động làm 3 loại: Công cụ biết nói là nô lệ; Công cụ biết kêu làsúc vật; Công cụ câm là những công cụ do người sáng tạo ra như cái cày, cuốc, kiềm,
Số nô lệ càng đông thì giá càng rẻ, không bằng súc vật
+ Luật La Mã không đảm bảo cho nô lệ một chút quyền lợi bào Không có quyền lập giađình, không có của cải riêng, không có quyền làm chứng trước tòa
Giai cấp chủ nô cho rằng sự tồn tại của nô lệ là điều tự nhiên Luật La Mã cho phép chủ
nô sử dụng đến mức tối đa sức lao động của nô lệ, việc giết nô lệ xảy ra thường xuyên vàkhông bị pháp luật trừng trị
Quan điểm của chủ nô là: Nếu nô lệ nào cứng cổ thì giết đi để làm gương; một nô lệ giàyếu không còn khả năng lao động để chết đói Nếu nô lệ bỏ trốn, tìm cách bắt về, khắc chữlên mặt, cùm chân lại cho một trận đòn nhừ tử
Nô lệ ở phương Đông, điều kiện trả tự do tương đối dễ: nữ nô lệ lấy người tự do mà cócon thì cả mẹ và con đều được giải phóng, nếu nô lệ chăm chỉ, biết nghe lời, được chủ tin cậy,quý mến thì sẽ trả tự do cho họ
Còn nô lệ La Mã thì bị vá chặt vào chủ nô Chủ nô chỉ giải phóng cho nô lệ khi nào việc
đó đem lại lợi ích cho chủ nô – đó là khi lao động tập thể của nô lệ không còn thích hợp nữa,năng suất lao động ở các Latiphunđia suy giảm
Đấu tranh giai cấp:
- Ở phương Tây, do cấu trúc như vậy cho nên mâu thuẫn cơ bản của xã hội là chủ nô và
nô lệ Nô lệ làm việc trong tất cả mọi nơi, mọi ngành nghề; thể hiện ra bằng những cuộc khởinghĩa của nô lệ kể cả khởi nghĩa vũ trang
- Phương Tây có chuyện là nô lệ phá công cụ sản xuất (phương Đông công cụ sản xuấtthuộc sở hữu của người trực tiếp) Lý do giải thích tại sao trong suốt thời kì cổ đại phươngTây không hề có chuyện cải tiến công cụ sản xuất rất nặng nề, thô sơ
- Những cuộc đấu tranh bỏ trốn: Ở phương Tây, bỏ trốn khó khăn hơn rất nhiều Nếu aibắt được, giữ được nô lệ của người khác thì phải có trách nhiệm bắt giữ trao trả lại cho chủ nôcủa nó Điều này đã trở thành luật định, cấu kết giữa các chủ nô để bảo vệ cho nhau (thườngchạy trốn lên núi) Khởi nghĩa nô lệ lớn nhất là khởi nghĩa Xpacatuxơ nhưng cũng bị đàn ápđẫm máu
2.3.3 Thành bang Aten và nền dân chủ chủ nô
* Sơ lược tiến trình lịch sử Hi Lạp
Dân Hy Lạp cổ đại gồm nhiều tộc người như người Êôliêng (Eolien), Akêăng (Acheen),Đôriêng (Dorien) Lúc đầu các tộc người này đều gọi theo tên riêng từ thời bộ lạc của mình,tới thế kỉ VIII-VII TCN các tộc người đó đều tự gọi một tên chung là Helen (Hellenes) và gọiđất nước mình là Hella (Hella) tức Hy Lạp
Lịch sử Hy Lạp cổ đại có thể chia làm các thời kì chính sau đây:
Thời kì văn hoá Cret-Myxen (Crete-Mycenae): Tại đảo Cret và Myxen, phía Nam bán
đảo Bancăng người ta đã tìm thấy dấu tích của một nền văn minh tồn tại từ khoảng thiên niên
kỉ III TCN tới thế kỉ XII TCN Chủ nhân của nền văn hoá này là người Akêang
Nền văn hoá Cret-Myxen còn để lại dấu tích các thành cổ, cung điện và một số hiệnvật bằng đồng thau Cuối thế kỉ XII TCN, người Đôriêng với vũ khí bằng sẳt từ phương Bắctràn xuống tấn công, người Akêang chống đỡ không được và các quốc gia của người Akêang
đã bị tiêu diệt Thời kì Cret-Myxen kết thúc
Trang 25Thời kì Homer (thế kỉ XI-IX TCN): Đời sau biết về giai đoạn này chủ yếu qua hai tập
sử thi của ông già mù Homer nên người ta lấy tên ông để đặt cho thời kì này
Qua hai tập Iliát và Ôđixê, người ta nhận thấy xã hội Hy Lạp được mô tả trong giaiđoạn này là một xã hội nguyên thuỷ đang trên đường tan rã, xã hội có nhà nước đang hìnhthành
Thời kì thành bang (thế kỉ VIII-IV TCN): Đây là thời kì hình thành ở Hy Lạp hàng
trăm nhà nước nhỏ mà người ta gọi là các thành bang Trong hàng trăm thành bang thời đó thìquan trọng nhất là Aten và Xpác Rất nhiều thành bang ở Hy Lạp thời đó sồng bằng nghềcông thương nghiệp Điều này ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của văn minh Hy Lạp
Thế kỉ V TCN, các thành bang của Hy Lạp cũng đã phải chống lại sự xâm lượccủa đếquốc Ba Tư và họ đã chiến thắng Nhưng cuối thế kỉ V TCN thế giới Hy Lạp đã nổ ra mộtcuộc nội chiến Cuộc nội chiến này đã làm tất cả các thành bang suy yếu Nhân cơ hội đó, mộtthành bang ở phía bắc bán đảo Bancăng là Makêđônia (Macedonia) đã bắt tất cả các thànhbang khác phải thuần phục mình và Makêđônia cầm đầu thế giới Hy Lạp tấn công Ba Tư
Thời kì Hy Lạp hoá (từ năm 337 đến 30 TCN): Sau khi đánh bại đế quốc Ba Tư, các
đội quân của Hy Lạp đã mang văn hoá Hy Lạp truyền bá khắp vùng tây Á và Bắc Phi
Vì vậy người ta gọi thời kì này là thời kì Hy Lạp hoá Đến thế kỉ I TCN, đế quốc La
Mã đang phát triển hùng mạnh đã thôn tính các vùng đất quanh Địa Trung Hải, Hy Lạp trởthành một phần của đế quốc La Mã
* Sự phát sinh, phát triển của nhà nước Aten
Aten là một đô thị nằm ở trên vùng Attich Đây là một vùng có nhiều đồi núi, đồngbằng hẹp và ít, đất rất xấu, thiếu nước, không thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp
Tại vùng Đông Bắc Attich có 4 bộ lạc sinh sống, trên những khu vực đất đai khác nhau,mỗi một bộ lạc có một hội nghị quý tộc bao gồm có tộc trưởng của các thị tộc và một tùtrưởng của bộ lạc do Đại hội nông dân bầu ra Hội nghị quý tộc này làm nhiệm vụ quản lýcông việc chung của thị tộc, bộ lạc Đại hội công dân là cơ quan quyền lực tối cao của bộ lạc,
ý chí của quần chúng vẫn được tôn trọng một cách song song
Từ thế kỉ VIII TCN trở đi, ở vùng Đông Bắc Attich đã xuất hiện một số yếu tố làm tiền
đề cho sự ra đời của nhà nước: sự phát triển của sức sản xuất, xuất hiện hiện tượng mua bánruộng đất, xuất hiện cuộc phân công lao động xã hội, tách TCN ra khỏi nông nghiệp vàthương nghiệp cũng xuất hiện làm cho thị tộc Aten không còn như trước đây nữa, cư dân của
4 bộ lạc sống lẫn lộn, trà trộn với nhau, bộ lạc đã bắt đầu thu nhận những người không cùngdòng máu, huyết tộc Nhà nước Aten ra đời phù hợp với qui luật phát triển của lịch sử, bởi vì
nó ra đời từ sự tan rã của chế độ thị tộc bộ lạc, không có sự can thiệp của thế lực từ bên ngoài,quá trình hình thành nhà nước diễn ra trong khung cảnh hòa bình, không có đổ máu, chiếntranh xung đột, xã hội thị tộc chuyển dần từng bước sang xã hội có giai cấp và nhà nước Nhà nước Aten ra đời và hoàn thiện dần dần thông qua hàng loạt cuộc cải cách xã hội từcải cách Tê Đê -> Xôlông -> Cơlixten -> Pêricơlet Thông qua những cuộc cải cách này, bộmáy nhà nước ngày càng được củng cố, hoàn thiện, những tàn tích của xã hội thị tộc dần dần
bị thủ tiêu, nhà nước đó ngày càng có xu hướng dân chủ hóa, mở rộng quyền dân chủ về kinh
tế, chính trị cho người công dân Aten
* Các cuộc cải cách xã hội và sự hoàn thiện nền dân chủ chủ nô
- Cải cách Tê dê
Trang 26Thống nhất 4 bộ lạc vùng Attich thành một liên minh bộ lạc trên nguyên tắc bình đẳng,
tự nguyện, không gây xung đột
Thiết lập ban quản trị chung cho 4 bộ lạc cũ, xóa bỏ hội đồng quý tộc của từng bộ lạctrước đây Chia toàn bộ cư dân Aten, không phân biệt thị tộc, bào tộc thành 3 hạng người căn
cứ bào nghề nghiệp của họ: quý tộc độc quyền đảm nhận những chức vụ quan trọng của nhànước, nông dân gồm những người làm ruộng, những người thợ thủ công
Sự phân công giữa những người ruộng và làm nghề thủ công khá vững chắc Chia quốcgia thành bang Aten thành 48 địa khu căn cứ vào 4 bộ lạc cũ, mỗi bộ lạc được chia thành 12địa khu Thiết lập một cơ quan quản lý của bộ máy nhà nước, trong đó quyền lực tối cao làHội đồng trưởng lão bao gồm những người giàu có, những người già cả, nắm trong tay quyềnlập pháp, hành pháp và tư pháp Bộ máy nhà nước sau cải cách Tê Dê bao gồm có Đại hộicông dân chính quan chấp chính và Đội đồng trưởng lão Nhà nước Aten vẫn là nhà nướccộng hòa quý tộc, Đại hội công dân như một cơ quan tư vấn cho Hội đồng trưởng lão, vai tròcủa nó khá lu mờ Sau cải cách Tê Dê, xã hội vẫn tiếp tục phân hóa, một số thành viên của thịtộc biến thành nô lệ, số còn lại tiếp tục phân hóa thành 2 bộ phận: quý tộc và bình dân Năm
621 TCN, nhà nước Aten ra đạo luật Đơracôn để tránh cuộc đấu tranh giữa bình dân và quýtộc, nhằm bảo vệ chế độ tư hữu TS, trong đó có những điều khoản hết sức khắt khe, hạn chế
sự xét xử độc đoán của quý tộc
- Cải cách Xôlông: (594 TCN)
Diễn ra phản ánh sự liên minh giữa tầng lớp quý tộc công thương với người nông dân bịphá sản, chính cuộc cải cách này làm cho quý tộc công thương được tham gia nắm chínhquyền
Nội dung cải cách: Xôlông tuyên bố xóa hết nợ nần, nhổ hết thẻ cầm cố ruộng đất cắm:vùng Đông Bắc Attich và lấy ruộng đất của bọn quý tộc đang cầm cố trả lại cho nông dân.Theo En “ trong cuộc cách mạng của Xôlông thì chính chế độ sở hữu của những chủ nợ phảithiệt hại để làm lợi chế độ sở hữu của những con nợ, các món nợ bọ người ta tuyên bố xóa bỏmột cách đơn giản”
Xôlông cấm chỉ mọi người không được bán thân mình làm nô lấy để chuộc nợ, cũngnhư không được bán con cái mình làm nô lệ để chuộc nợ, biện pháp đưa ra là cấm không cho
kí kết văn tự nợ, lấy bản thân con nợ ra làm bảo đảm Những biện pháp đó là nhằm xóa bỏ chế
độ nô lệ vì nợ Ông ban hành nhiều chính sách để khuyến khích sản xuất: khuyến khích khaihoang, mở rộng đất đai, thuê những thợ thủ công giỏi từ nước ngoài về Aten sản xuất, quyđịnh số ruộng đất ở mức tối đa mà mỗi cá nhân có thể sở hữu được để nhằm hạn chế sự thamlam của bọn qúy tộc Xôlông căn cứ vào số ruộng đất và hoa lợi thu hoạch được, chia côngdân Aten thành 4 đẳng cấp những người thu hoạch từ 500 mêđin thóc trở lên thuộc đẳng cấp1; những người có từ 300 mêđin thóc trở lên; những người có từ 200 mêđin thóc trở lên;những người không có hoặc có ít ruộng đất, thu hoạch thấp Tất cả mọi chức vụ của nhà nước
do thành viên của 3 đẳng cấp trên đảm nhiệm, những chức vụ cao nhất do đẳng cấp 1 nắmgiữ Đẳng cấp 4 có quyền phát biểu, bầu cử trong Đại hội công dân Một yếu tố mới xuất hiện,
đó là yếu tố tư hữu TS, quyền lợi, nghĩa vụ của công dân nhiều hay ít là tùy thuộc vào tài sảnruộng đất của họ nhiều hay ít, những người giàu có càng thêm thế lực thì những tập đoàn cùnghuyết tộc cũ lại càng bị gạt bỏ đi => Tổ chức thị tộc lại bị thất bại một lần nữa trên cơ sở của
4 bộ lạc cũ; Xôlông thiết lập ra những cơ quan quyền lực mới, đó là Hội đồng 400 người, mỗi
Trang 27bộ lạc cử ra 100 đại biểu gồm có 3 đẳng cấp đầu Ông khôi phục lại quyền lực của Đại hộicông dân, trở thành cơ quan lập pháp, hành pháp Thiết lập ra tòa án nhân dân (Hêliê) làmnhiệm vụ xét xử, giải quyết những vụ kiện tụng, tranh chấp ở Aten => bắt đầu có sự phânđịnh rõ quyền lực của các cơ quan chức năng.
Cải cách Xôlông: cơ cấu bộ máy nhà nước có rất nhiều thay đổi Nó là một đòn giángxuống nặng nề vào những tàn tích của chế độ thị tộc Nó thể hiện ở những cải cách đầu Cảicách này cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của chế độ tư hữu, đặt cơ sở cho nền dân chủchủ nô Aten, thể hiện rõ nét nhất ở việc phân chia cư dân theo tài sản mà họ có Một trongnhững điểm tích cực này: chế độ nô lệ vì nợ hoàn toàn chấm dứt Hạn chế: nó không triệt để,không thủ tiêu hoàn toàn những tàn tích của chế độ thị tộc (Xôlông đã lập ra Hội đồng 400người, lấy ra từ 4 bộ lạc cũ) Gắn liền với việc không thủ tiêu tàn tích của chế độ thị tộc, việctrả lại ruộng đất cho nông dân không được thực hiện một cách đầy đủ Số lượng nô lệ ngoạitộc lại tăng lên nhanh chóng
- Cải cách Cơlixten: (508 TCN -> 506 TCN)
Do cải cách Xôlông tiến hành không triệt để, Xôlông không đoạn tiệt hẳn với tầng lớpquý tộc thị tộc, những mặt khác ông cũng không thỏa mãn được những quyền lợi, yêu sáchcủa quần chúng bình dân Sau khi cải cách được tiến hành, các phe phái trong giai cấp quý tộcchủ nô nó tiếp tục đấu tranh với nhau Trong cuộc đấu tranh này, quý tộc công thương nhờvào sự ủng hộ của thủ công + thương nhân đã thắng thế, đưa Clixten lên làm quan chấpchính, tiến hành một loạt cải cách mới
Ông phân chia công dân Aten theo những khu vực hành chính căn cứ vào địa vực cư trúcủa họ chứ không đếm xỉa đến việc phân biệt giữa 4 bộ lạc cũ dựa trên quan hệ huyết tộc nhưtrước đây Ông chia đất nước thành 10 liên khu, mỗi một liên khu gọi là philai, mỗi một liên
có 10 tiểu khu (đemơ) Đây được coi là một đòn giáng cuối cùng vào tàn tích của chế độ thịtộc Ông xóa bỏ Hội đồng 400 người, thay vào đó là Hội đồng 500 người, thành phần của 4đẳng cấp đều được tham gia Ông thiết lập tòa án nhân dân Hêliê có 6000 thẩm phán trong đóchia làm 10 phiên xét xử, 1 phiên có 500 thẩm phán, có 1000 thẩm phán dự bị Việc xét xửđược bốc thăm, mang tính chất dân chủ Thành lập hội đồng 10 tư lệnh để phụ trách về vấn đềquân sự Đại hội công dân là cơ quan quyền lực tối cao có nhiệm vụ kiểm tra, chỉ đạo công táccủa Hội đồng 500 đại biểu
Về mặt thực chất, chỉ đạo công tác của Hội đồng 500 đại biểu Về mặt thực chất, Hộiđồng công dân là một cơ quan có thực quyền, tiêu biểu cho nền dân chủ Aten Quyền lực củaHội đồng trưởng lão đã bị hạn chế nhiều Ông thực hiện chế độ bỏ phiếu bằng vỏ sò Côngdân Aten phải có 3 tiêu chuẩn: 18 tuổi trở lên, là nam giới, có bố mẹ là người Aten Nhà nước
có hiến pháp, nó được hình thành nhằm bảo vệ chế độ dân chủ, mỗi một công dân được giữchức vụ không quá 2 nhiệm kỳ, tạo điều kiện cho nhiều công dân được tham gia vào việcquản lý nhà nước Sau cải cách Clixten, là cải cách Pêricơlet
- Cải cách Pêricơlet: (461 -> 429 TCN)
Cải cách này đã đưa nền dân chủ Aten lên một bước hoàn hảo Pêricơlet là người điềuchỉnh, bổ sung, hoàn thiện bộ máy nhà nước, quy định rõ chức năng của từng cơ quan hànhchính, đặc biệt là tất cả mọi hoạt động của xã hội đều thực hiện do Hiến pháp của nhà nước đề
ra Trong đó có một số nội dung của cải cách:
Trang 28Lần đầu tiên Pêricơlet thực hiện chế độ trả lương cho các công chức phục vụ trong bộmáy nhà nước với mục đích tạo điều kiện cho công dân của Aten, nhất là đối với bình dân cóthể thoát ly được sản xuất tham gia vào công việc quản lý nhà nước, tiếp tục thực hiện chế độ
bổ nhiệm bằng phương pháp bốc thăm trừ một vài chức vụ yêu cầu về kinh nghiệm và chuyênmôn (giáo dục, ngân hàng, 10 tư lệnh) Thực hiện chế độ trợ cấp cho công dân Aten, đối vớinhững công dân có khó khăn thì nhà nước thực hiện cấp phát thóc lúa hoặc tiền cho công dân,cấp tiền cho công dân mua vé xem hát, nhà nước thực hiện rộng rãi các chế độ phúc lợi (mởcác công trình quốc phòng, kiến thiết quy mô như công viên, cung điện, quân cảng, thành trì
để tạo công ăn việc làm cho những người thất nghiệp
Đây là một bộ máy nhà nước mà cơ cấu hoàn thiện gọi là nhà nước dân chủ chủ nô (nhànước này do giai cấp dân tự do chủ nô lập ra, phục vụ lợi ích của giai cấp này, nền dân chủnày nó không chỉ thực hiện nền dân chủ đối với người công dân
Đây là một nền dân chủ trong nội bộ thiểu số dân tự do Theo thống kê của Ăngghen,trong thời kì phát triển thế kỉ V, dân tự do có 90.000 người, nô lệ là 365.000, ngoại kiều có45.000) Có thể nói rằng nền dân chủ này được mở rộng bao nhiêu đối với dân tự do thì cũng
là CC chuyên chính tàn bạo đối với giai cấp nô lệ Nô lệ là người tạo ra mọi của cải cho xãhội, nuôi sống xã hội, họ không được quyền lợi gì, kể cả quyền làm người, ngay cả trongnhững biện pháp thực hiện cho quyền dân chủ đó không phải tạo ra điều kiện dân chủ cho tất
cả mọi người
- Thời kì phát triển cực thịnh của nhà nước Aten
+ Chiến tranh Hi Lạp – Ba Tư
+ Chiến tranh Pêlôpônedơ: (431 -> 404 TCN)
Giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh này đã đưa nhà nước Aten phát triển giaiđoạn cực thịnh
2.3.4 Đế quốc Rôma: Sự hình thành, phát triển và vai trò của nó trong lịch sử
* Sơ lược lịch sử La Mã cổ đại
Người dân có mặt sớm nhất ở trên bán đảo Italia được gọi là Italiot, trong đó bộ phậnsống trên đồng bằng Latium được gọi là người Latinh (Latin), ngoài ra còn có một số nhỏngười gốc Gôloa, gốc Hy Lạp
Theo truyền thuyết, năm 753 TCN người dân ở đồng bằng Latium đã dựng nên mộttoà thành bên bờ sông Tibơrơ (Tiber), họ đã lấy tên người cầm đầu là Romulus để đặt cho toàthành đó, vì vậy có tên là Roma
Giai đoạn 753 - 510 TCN, đứng đầu nhà nước là vua, dưới vua có Viện nguyên lão và
Đại hội nhân dân Vì vậy thời kì này còn được gọi là thời kì Vương chính
+ Đại hội công dân: được gọi là Đại hội Cusi là đại hội của các bộ tộc bao gồm đàn ôngcủa tất cả các bộ tộc
+ Viện Nguyên lão (Xênát): bao gồm thủ lĩnh của 300 thị tộc, họ xuất thân từ những giađình có thế lực và những gia đình này đã tập hợp thành tầng lớp quý tộc ở La Mã, ở Roma,quyền lực của Viện Nguyên lão trong thời kì đầu chưa lớn lắm, nhưng dần dần ngày càng lớn,trở thành cơ quan quyền lực chính của nhà nước, đặc biệt trong thời Cộng hòa Hầu hết cácquan chức của nhà nước đều được cử chọn từ trong các nghị viên của Viện Nguyên lão Trong hàng Vương chính, đây là thời kì hình thành phôi thai của nhà nước sơ khai kếtthúc thời đại Vương chính, Tuliut tiến hành cải cách xã hội phỏng theo cải cách Xôlông (Hi
Trang 29Lạp), ông phân chia tất cả những công dân Roma, không kể bình dân hay quý tộc thành 6đẳng cấp khác nhau tùy theo mức tài sản tư hữu mà họ có, trên cơ sở phân chia đó họ tổ chức
ra những đội Xenturi bao gồm 100 binh sĩ, mỗi 1 Xenturi có quyền biểu quyết ở Đại hội nôngdân bằng 1 lá phiếu => Quyền hạn của người công dân căn cứ vào mức tài sản mà họ có Vềmặt hành chính, Tuliut xóa bỏ 3 bộ lạc cũ và thiết lập nên 4 đơn vị hành chính theo khu vực
cư trú của họ Cải cách này làm cho mối quan hệ cộng đồng có tính chất huyết thống thay đổi.Thủ tiêu chế độ thị tộc Thiết lập một nhà nước mới dựa trên cơ sở phân chia địa vực và sựchênh lệch về tài sản Cải cách này bước đầu xóa bỏ được sự ngăn cách về nguồn gốc giữaquý tộc và bình dân
Thời đại Cộng hòa (thế kỉ VI TCN đến thế kỉ I TCN)
Bắt đầu bằng cuộc khởi nghĩa của người Italiôt chống lại sự thống trị của vua ngườiÊturuxcơ, đó là chế độ Cộng hòa quý tộc Trong thời kì này quyền lực của nhà nước tập trungvào trong một bộ phận của quý tộc, vai trò của Đại hội nông dân càng ngày càng lu mờ đi.Chuyển sang thời kì xác lập và hoàn thiện bộ máy nhà nước Trong thời kì này có 2 sự kiệnnổi bật: quá trình hình thành nhà nước gắn liền với cuộc đấu tranh của người bình dân (Pơlep)chống lại tầng lớp quý tộc (Patơrixi), đây cũng là thời kì Roma tiến hành các cuộc chiến tranhxâm lược để mở rộng lãnh thổ
Thời đại Đế chế (Thế kỉ I TCN đến thế kỉ V sau CN)
Bắt đầu bằng việc có một bước chuyển từ nền Cộng hòa sang đế chế Chuyển từ nềnchuyên chính của một nhóm quý tộc sang chế độ đế chế, quyền lực tập trung vào trong taymột người Trong thời kì này có nhiều hình thức khác nhau:
- Sơ kì đế chế (thế kỉ I, II) Hình thức nhà nước là hình thức nhà nước đế chế khoác áoCộng hòa, nó gắn liền với tên tuổi của một số nhà văn như Ôctanvinxơ, Tiberinxơ
- Hậu kì đế chế (thế kỉ III - thế kỉ V): hình thức nhà nước vương chủ, một đế chế thật sựkhông cần phải “khoác áo” Cộng hòa, nó gắn liền với những tên tuổi: Nêrôn, Têôđo,Côngxtantin
* Đặc điểm sự hình thành nhà nước Roma
- Nhà nước thành bang ở Roma chỉ tồn tại trong giai đoạn đầu của lịch sử Roma, sau đógiai cấp thống trị chủ nô đã mở rộng lãnh thổ bằng các cuộc chiến tranh xâm lược => biếnthành một đế quốc rộng lớn bao gồm toàn bộ bán đảo Ý, Nam Pháp, Tây Ban Nha,Makêđônia, Hi Lạp, Bắc Phi, Tiểu Á, Lưỡng Hà
- Quá trình hình thành nhà nước Roma gắn liền với việc tiến hành những cuộc cải cách
xã hội để thủ tiêu dần những tàn tích của chế độ thị tộc, tạo điều kiện cho sự phát triển vàthắng thế của tư hữu tài sản cải cách Tuliut) Nhà nước Roma còn hình thành chủ yếu bằngbạo lực bằng cách gây chiến tranh xâm lược, điển hình là 3 cuộc chiến tranh: Roma –Cactagiơ; Roma – Makêđônia; Roma – Xini
- Trong toàn bộ lịch sử Roma cổ đại tồn tại nhiều hình thức nhà nước khác nhau nhưnhà nước Cộng hòa quý tộc, nhà nước quân chủ khoác áo Cộng hòa, nhà nước vương chủ.Nhưng về bản chất giai cấp vẫn là một, là nền chuyên chính tàn bạo của giai cấp thống trị chủ
nô đối với nô lệ
* Vai trò nhà nước Rô ma thời cổ đại
- Xây dựng nên một nền dân chủ điển hình
- Chế độ chiếm nô điển hình
Trang 30- Xây dựng một trong những nền văn minh rực rỡ, sáng lạn nhất thời cổ đại
2.4 Những thành tựu văn hoá cổ đại
2.4.1 Văn hóa cổ đại phương Đông
* Văn tự
- Do nhu cầu ghi chép và lưu giữ => chữ viết ra đời
- Ban đầu, người phương Đông cổ đại đều dùng chữ tượng hình mô phỏng vật thật đểnói lên ý nghĩa của mình
Hạn chế của chữ tượng hình: Xã hội phát triển, ngôn ngữ phát triển, nhu cầu ghi càngnhiều, vẽ chữ không kịp Vẽ hình mỗi người hiểu một kiểu
- Về sau, để diễn tả linh hoạt hơn -> người ta đã dùng những nét vẽ tượng trưng thaycho hình vẽ và ghép các nét theo quy ước để thành chữ gọi là chữ tượng ý (không hiểu theohình dạng bề ngoài của sự vật mà hiểu ý nghĩa bên trong của nó)
Ví dụ: Chữ “công bằng” người ta vẽ những chiếc lông của cánh chim đà điểu vì nhữnglông cánh chim đà điểu đều bằng nhau
Cụ thể: chữ Ai Cập, chữ Lưỡng Hà, chữ Ấn Độ và chữ Trung Quốc cổ đại
Ý nghĩa:
- Chữ viết có khả năng làm cho lời nói có khả năng lưu trữ và vận chuyển được khônggian và thời gian
- Là tư liệu để chúng ta có cơ sở nghiên cứu về xã hội cổ đại
- Là một phát minh vĩ đại của con người
Phương Đông: Xuất hiện sớm nhất nên chữ viết không được thừa hưởng chữ viết củathời kì trước Vì vậy, phương Đông là nơi sáng tạo ra chữ viết theo đúng nghĩa của nó.Phương Tây ra đời muộn nên có kế thừa (chữ Hi Lạp cải biên chữ viết của Phêrixi)
- Vì phương Đông là chữ tượng hình Nên sau này chữ viết người phương Đông tuyệtđại đa số đã bị xếp vào bảo tàng cùng với xa quay sợi và rìu đá
* Văn học:
- Người cổ đại phương Đông đã để lại những tác phẩm văn hóa hết sức vô giá
Do học chữ tượng hình rất khó nên rất ít người có khả năng viết cho nên nó không mangtính phổ quát
- Xuất hiện 2 dòng văn học ngay từ đầu
+ Bộ phận nông dân công xã chiếm tỷ lệ đông, việc học hành không phổ biến nhưng dođời sống cộng đồng, do cần giao tiếp để sản xuất, bị bóc lột nhưng lại là lực lượng sản xuấttương đối biệt lập => ngay từ đầu xuất hiện dùng văn hóa dân gian chủ yếu bằng truyềnmiệng (khác phương Tây: người nô lệ đóng vai trò chủ yếu, là lực lượng sản xuất chủ yếu).Trung Quốc:
+ Kinh thi: Tác phẩm thơ lớn nhất của Trung Quốc Gồm có 305 bài gồm những bàithơ, bài ca dao, tục ngữ hay nhất của tất cả các nước tồn tại trong thời kì cổ đại Trung Hoa
305 bài thơ được chọn lọc trong tổng trên 3.000 bài thơ Đây là một trong những tác phẩm bất
hủ có giá trị lớn Trong một thời gian dài trước đây Kinh thi được coi là các nguồn đề tài chocác tác phẩm văn học khác Được coi là nguồn để ra các đề thi tuyển chọn Sách “gối đầugiường của các nho sĩ”
Ấn Độ:
Trang 31+ Kinh Vêđa: Bộ kinh thánh của tôn giáo Bàlamôn Nó gồm 4 quyển nhưng quan trọngnhất là bộ Rig Vêđa Nó không thuần túy là bộ kinh thánh Nó ghi lại rất nhiều những tập tục,đời sống cả đời sống kinh tế lẫn đời sống văn hóa tinh thần Đó là chưa kể đến những truyềnthuyết huyền thoại mang tính chất anh hùng ca.
+ 2 trường ca: Ramayana, Mahabharata
Hai tác phẩm này còn là nguồn đề tài vô tận cho những sáng tác văn học sau này của Ấn
Độ cũng như các quốc gia Ấn Độ Nó ảnh hưởng tới tâm sinh lý của các cư dân: kiến trúc,hội họa, những bức phù điêu, điêu khắc, )
Văn xuôi: Có đặc điểm giống thơ, tập trung phản ánh ca ngợi những anh hùng dân tộc,
anh hùng dũng sĩ có công với đất nước Tác phẩm anh hùng ca Zimgamết của Lưỡng Hà =>niềm tự hào của người Lưỡng Hà
* Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc
- Có bao nhiêu tác giả có bấy nhiêu nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc
- Phần ngoại khóa (làm cụ thể hơn)
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, các công trình kiến trúc cổ xưa không còn là củathần thánh, không còn tượng trưng cho vua chúa, mà là hiện thân của sức lao động và trí sángtạo vĩ đại của con người
* Khoa học tự nhiên
Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, cư dân phương Đông cổ đại đã tích lũy được nhiều trithức rất có giá trị trên các lĩnh vực, thiên văn toán học, y học, hóa học, vật lý
- Thiên văn học và lịch pháp
Qua nhiều năm cày cấy, nhân dân hiểu được tính chất sinh trưởng và thời vụ của cây lúa
có liên quan đến quá trình “mọc” và “lặn” của Mặt trời và Mặt trăng Qua quan sát, người tathấy cứ khoảng 30 ngày đêm là một lần trăng tròn Đó là cơ sở để người ta tính chu kỳ thờigian và mùa Từ đó, người phương Đông đã biết làm ra lịch, mỗi năm có 365 ngày, chia thành
12 tháng Họ còn đo thời gian bằng bóng nắng Mặt trời, mỗi ngày có 24 giờ
Người Ai Cập đã phát hiện ra các chòm sao và soạn ra bản đồ các thiên thể
- Toán học: Cư dân phương Đông cũng là những người đầu tiên sáng tạo ra các chữ số.
Ban đầu người Ai Cập mới chỉ biết dùng những vạch đơn giản và những kí hiệu tượng trưngcho các con số 10, 100, 1000,
* Tín ngưỡng, tôn giáo và tư tưởng
- Người phương Đông theo một tôn giáo là tôn giáo đa thần Bởi vì các quốc gia cổ đạiphương Đông ra đời từ sự tan vỡ của chế độ nguyên thủy
Xuất hiện ý thức tôn giáo Việc thờ cúng tổ tiên trong xã hội nguyên thủy Đặc biệt làhọc thuyết “vạn vật có linh hồn” Khi chuyển vào tôn giáo người phương Đông đã đi vàovòng quay của đa thần tôn giáo
- Lễ hội, phong tục tập quán của cư dân P.Đông gắn rất chặt với tôn giáo
- Có rất nhiều tôn giáo mà trong buổi đầu xuất hiện nó chỉ là một tư tưởng học nhưngtrong quá trình phát triển dần dần nó được bổ sung và hoàn thiện hơn
2.4.2 Văn hóa Hi Lạp - Rôma
Văn hóa Hi Lạp – Roma phát triển hết sức rực rỡ, đa dạng, toàn diện và phong phú
* Văn học
Trang 32Hiếm có thần thoại của dân tộc nào trên thế giới lại luôn luôn được tái sinh như thầnthoại Hi Lạp, lại luôn luôn có mặt, hiện diện trong đời sống hàng ngày như thần thoại Hi Lạp.
- Ngay trong thời cổ đại thần thoại Hi Lạp đã hóa thân thành thần thoại La Mã
Duypiter (La Mã) để chi Dớt (Hi Lạp)
Venuyx (La Mã) để chi Aphrôđitô
Minervơ (La Mã) để chi Atêna
Marx (La Mã) để chi Arex
- Trong nền văn hóa nhân loại, từ những bức vẽ, bức tượng của các nghệ sĩ thời cổ đại,thời Phục Hưng, thế kỉ XVII, XVIII, XIX và cả thế kỉ XX của chúng ta nữa cho đến 1 vởkịch, 1 cuốn truyện, đều khai thác đề tài, cốt truyện nhân vật, sự việc trong thần thoại HiLạp Trong văn chương, trên báo chí những thành ngữ, điển tích từ thần thoại Hi Lạp được sửdụng phổ biến như một thứ tín hiệu quen thuộc Nào “con ngựa thành Troa”, “quả táo bấthòa”, “thói Nurxix”
Trước người Hi Lạp cổ đại, ở Ai Cập và Lưỡng Hà mới chỉ có văn hóa dân gian Đó lànhững bài thơ, truyện huyền thoại được truyền miệng từ người này qua người khác rồi saumới ghi lại
- Ở Hi Lạp, sau các anh hùng ca nổi tiếng của Hôme là Iliat và Ôđixê, đã xuất hiệnnhững nhà văn hóa có tên tuổi mà tác phẩm của họ để lại vẫn còn nguyên giá trị độc đáo Cácnhà văn đó chủ yếu là những nhà biên kịch và các tác phẩm của họ là những kịch bản, bởi vìthời ấy kịch (có kèm theo hát) là hình thức nghệ thuật dễ phổ biến nhất và được ưa chuộngnhất
Người Roma tự nhận là học trò và người thừa kế của văn học - nghệ thuật Hi Lạp Tuynhiên, dựa trên một nền kinh tế phát triển cao, ở thời hưng thịnh của Roma cũng đã xuất hiệnnhững nhà văn hóa, nhà thơ nổi tiếng như Lucrexơ, Vuôghin,
* Lịch và chữ viết
- Người Hi Lạp đã có hiểu biết chính xác hơn về Trái đất và hệ Mặt trời Nhờ đi biển, họ
đã thấy Trái đất không phải như cái đĩa mà như hình quả cầu tròn, nhưng họ vẫn tưởng Mặttrời chuyển động quanh Trái đất Tuy nhiên, họ đã biết nếu tính mỗi vòng như thế là 360 ngàythì không chính xác Về sau, người Roma đã tính được 1 năm có 365 ngày và 1/4 ngày, nên
họ định 1 tháng lần lượt có 30 và 31 ngày, riêng tháng 2 có 28 ngày Song, như thế so vớithực tế vẫn bị chậm 1 ít Dù sao phép tính lịch của người Roma cổ đại đã rất gần với nhữnghiểu biết ngày nay
- Người Ai Cập, Lưỡng Hà và một số cư dân khác đã có chữ viết cổ Nhưng chữ của họ
có quá nhiều hình, nét, quá nhiều ký hiệu Khả năng phổ biến rất bị hạn chế Cuộc sống “bônba” trên biển, trình độ phát triển của nền kinh tế đã đặt ra cho cư dân Địa Trung Hải nhu cầusáng tạo một thứ chữ viết gồm các ký hiệu đơn giản nhưng phải có khả năng ghép chữ rất linhhoạt thành từ để thể hiện ý nghĩa của con người
Hệ thống chữ cái của người Hi Lạp và người Roma đã ra đời từ đó Hệ chữ cái Roma,tức là hệ A, B, C ban đầu gồm 20 chữ, sau thêm 6, làm thành hệ thống chữ cái hoàn chỉnh
- Họ cũng có hệ chữ số mà ngày nay ta thường dùng để đánh số các đề mục lớn, gọi là
“số La Mã”
Sự ra đời của hệ thống chữ cái là một phát minh và cống hiến lớn lao của cư dân ĐịaTrung Hải cho loài người
Trang 33* Sự ra đời của khoa học
- Những hiểu biết về khoa học thực ra đã có từ hàng nghìn năm trước, từ thời cổ đạiphương Đông Nhưng phải đến thời cổ đại Hi Lạp và Roma, những hiểu biết đó mới thực sựtrở thành khoa học
- Với người Hi Lạp, toán học đã vượt lên trên việc ghi chép và giải các bài toán riêngbiệt Những nhà toán học mà tên tuổi vẫn còn lại với đời từ thời ấy đến nay, đã để lại nhữngđịnh lý, định đề có giá trị khái quát hóa cao
+ Định lý nổi tiếng về hình học của Talet, những cống hiến của trường phái Pitago vàtính chất của các con số nguyên và định lý về các cạnh của hình tam giác vuông cuùg với tiền
đề về đường thẳng song song của Ơcơlit, nhiều thế kỉ về sau vẫn là những thành phần cănbản của toán học
+ Đến cuối thời Hi Lạp, xuất hiện nhà toán học và vật lý học cổ đại nổi tiếng là met, với công thức tính diện tích và thể tích của hình trụ và hình cầu, nguyên lý về vật nổi vàhàng loạt phát minh cơ học của ông (đòn bẩy, ròng rọc, guồng nước, bánh xe có răng, ).+ Sử học cũng vượt qua giới hạn của sự ghi chép tản mạn, thuần túy biên niên của thờitrước Các sử gia cổ đại Hi Lạp và Roma đã biết tập hợp tài liệu, phân tích và trình bày có hệthống lịch sử 1 nước hay 1 cuộc chiến tranh Chẳng hạn, Hêrôđôt viết lịch sử cuộc chiến tranh
Ac-si-Hi Lạp – Ba Tư, Tu-xi-đit viết Lịch sử Roma, Phong tục người Giecmanh,
+ Nhà Địa lý học Xtra-bôn của Hi Lạp cổ đại đã đi và khảo sát rất nhiều vùng quanhĐịa Trung Hải Ông đã để lại nhiều tài liệu ghi chép và khảo cứu về địa lý rất có giá trị
* Nghệ thuật
Người Hi Lạp cổ đại đã để lại rất nhiều tượng và đền đài Tuy nhiên, ngày nay người tavẫn chưa biết hết các công trình này vì một số tượng bị thất lạc, bị chìm xuống biển bởinhững lý do nào đó Nhưng những gì còn lại cũng đã đủ làm cho người đời sau ngỡ ngàng vàkhâm phục
+ Đó là những tượng nhỏ, tượng bán thân vốn được dựng ở các quảng trường Lại cónhững tượng thần lớn dựng ở đền, nhưng tượng nữ thần Atêna đội mũ chiến binh, hoặc nhữngtượng nhiều người biết đến qua phiên bản như Lực sĩ ném đá, Thần vệ nữ Milô,
+ Các công trình kiến trúc cũng đạt tới trình độ tuyệt mĩ Hầu hết các công trình nàyđều là đền thờ Đền là một nền nhà rộng để làm lễ, phía trong là bệ thờ, xung quanh có tường
và có cửa vào
Trang 34Bài tập thảo luận - Xêmina
1 So sánh sự giống và khác nhau giữa các quốc gia cổ đại phương Đông và các quốc gia
cổ đại phương Tây
2 Trình bày những thành tựu văn hóa, văn minh các quốc gia phương Đông cổ đại
3 Trình bày những thành tựu văn học Hy Lạp, Rôma cổ đại
4 Phân tích sự tác động của điều kiện tự nhiên đến sự hình thành và phát triển của cácquốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây
Câu 3: Phân tích đặc điểm của xã hội “chuyên chế cổ đại phương Đông” Vì sao chế độ
nô lệ ở các quốc gia cổ đại phương Đông không thành thục, điển hình như phương Tây.Câu 4: Vì sao các quốc gia cổ đại phương Tây ra đời muộn hơn so với các quốc gia cổđại phương Đông
Câu 5: Phân tích đặc điểm “chiếm hữu nô lệ” thành thục, điển hình ở các quốc gia cổ đạiphương Tây
Câu 6: Phân tích các cuộc cải cách của: Têdê, Sôlông, Pêriclet, Clitten ở Hy Lạp
Câu 7: Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng như thế nào đến sự hình thành và phát triển củacác quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây
Câu 8: Đặc điểm văn hóa, văn minh phương Đông và phương Tây cổ đại
Câu 9: Vai trò của chế độ đại điền trang “Latiphuđia” đối với xã hội cổ đại phương Tây
cổ đại
Câu 10: Phân tích nguyên nhân tan rã của các nhà nước cổ đại phương Tây
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 2
1 Đặng Đức An (2001), Những mẩu chuyện lịch sử thế giới, Nxb Giáo dục Việt Nam, HàNội
2 Phan Ngọc Liên (2000), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, NXb ĐHQG Hà Nội
3 Lương Ninh (Chủ biên – 2000), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
4 Lương Ninh (2006), Nước Phù Nam, Nxb ĐHQG TP Hồ Chí Minh
5 Vũ Dương Ninh (Chủ biên – 1998), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb GD Việt Nam, Hà Nội.6.Chiêm Tế (2000), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội
7 Nghiêm Đình Vỳ (Chủ biên – 2004), Lịch sử thế giới cổ trung đại, Nxb ĐHSP Hà Nội
Trang 35Chương 3 Lịch sử trung đại Tây Âu
Số tiết 20 (Lý thuyết: 15; Bài tập + Thảo luận : 5)
Mục đích:
Sinh viên biết và hiểu được nguyên nhân dẫn đến hình thành chế độ phong kiến Tây Âu
từ giữa thế kỷ V trên nền tảng của đế quốc Rôma trước đây
Xã hội châu Âu trong thời kỳ “Đêm trường trung cổ” với những biểu hiện và nguyên nhân của nó.
Sự xuất hiện của thành thị và vai trò của thành thị trung đại Tây Âu
Những chuyển biến của xã hội Tây Âu và những tiền đề cho sự xuất hiện của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Phát kiến địa lý và ý nghĩa của nó đối với châu Âu, thế giới
Những cuộc cách mạng đầu tiên của giai cấp tư sản đối với chế độ phong kiến: Văn hóa Phục Hưng và cải cách tôn giáo
3.1 Sự hình thành và củng cố của chế độ phong kiến Tây Âu
3.1.1 Sự hình thành của chế độ phong kiến Tây Âu
3.1.1.1 Sự hình thành các vương quốc của người Giecman
Các bộ lạc người Giecman, người Xlavơ, là những bộ lạc du mục, sinh sống ở vùngbiên giới phía Bắc và phía Đông của đế quốc Rôma
Đến thế kỉ III, khi người Rôma đã bước vào giai đoạn xã hội có giai cấp và nhà nướckhoảng 10 thế kỉ, sáng tạo nên một nền văn minh rực rỡ, đạt đến đỉnh cao của văn hoá cổ đại,thì các tộc người Giecman vẫn sống trong giai đoạn xã hội nguyên thuỷ, các cộng đồng dân
cư người Giecman vẫn được tổ chức theo chế độ thị tộc, bộ lạc, nguồn sống chủ yếu dựa vàoviệc chăn nuôi du mục, lang thang trên các đồng cỏ Người Rôma gọi họ là những tộc người
- Sự ra đời của nhà nước Phơ- răng
- Vương triều Mêrôvanhgiêng : 481 – 751
- Vương triều Cáclôvanhgiêng : 751 – 843
* Sự hình thành chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến
Trước khi các vương quốc của người Giecman được thiết lập, nô lệ, lệ nông và nôngdân tự do cùng chung sống với nhau trong các công xã nông thôn Mark Công xã chia ruộngđất cho từng gia đình để cày cấy, cứ vài năm lại phân chia lại một lần Nhưng về sau, nhữngngười nông dân công xã không trả lại ruộng đất được chia cho công xã nữa mà biến ruộng đất
đó thành sở hữu riêng, có thể thừa kế, mua bán, Hình thức sở hữu ruộng đất này được gọi
là Anler - nghĩa là "đất tự do"
Đến thế kỉ V, vương quốc Frank được thành lập, Clôvit được bầu làm vua Vương triều
mà Clôvit và con cháu của ông nắm quyền là vương triều Mêrôvanhgiêng Lên làm vua, Côvit
Trang 36đã đem toàn bộ số đất đai chiếm được ban tặng cho các thủ lĩnh quân sự, đám tuỳ tùng, quýtộc Rôma thần phục, giáo hội nhà thờ, Chế độ ban cấp ruộng đất của Clôvit gọi là chế độ Ân
tứ Chế độ ban cấp ruộng đất này không kèm theo bất cứ điều kiện nào, nhưng đổi lại nhữngngười nhận ruộng đất lại là chỗ dựa để Clôvit củng cố vương quyền, củng cố quyền lực tốicao để trở thành ông vua duy nhất của người Frank
Đến thế kỉ VIII, quá trình tập trung ruộng đất vào tay giai cấp quý tộc lại được củng cốthêm với cải cách Bênêfice của thừa tướng Saclơ Macten, để phục vụ cho quá trình phongkiến hoá về chính trị và quân sự
Tước công lại chia phần đất được nhận thành nhiều phần nhỏ hơn, chia cho quý tộcdưới mình và cũng ban cho họ một tước là tước hầu với những điều kiện y như công tước đãnhận từ nhà vua,
Sau cải cách Bênêfice, ở vương quốc Frank đã hình thành đẳng cấp quý tộc vũ sĩ và bậcthang đẳng cấp phong kiến Bậc thang phong kiến đã tạo nên một mối quan hệ chặt chẽ:người phong tước và ban ruộng đất gọi là phong quân, còn người nhận tước và nhận ruộng đấtgọi là bồi thần Họ quan hệ với nhau theo một nguyên tắc bất di bất dịch, không thay đổi: bồithần nào chỉ phục vụ phong quân ấy,
Bên cạnh đẳng cấp quý tộc vũ sĩ, đẳng cấp quý tộc tăng lữ cũng hình thành, đứng đầu làGiáo hoàng Rôma → giáo chủ → giám mục → cha xứ
Sang đến thế kỉ IX, chế độ sở hữu ruộng đất một lần nữa thay đổi, chế độ Bênêfice dầnmất đi tính chất ban đầu của nó và thay vào đó là chế độ Phêôđum - được hình thành vào đầuvương triều Cáclôvanhgiêng
* Quá trình nông nô hóa những người nô lệ, lệ nông và người nông dân tự do Giéc-man
Nô lệ, lệ nông là người Rôma và nông dân tự do là người Giécman, họ sống chungtrong các công xã nông thôn Mark và Anler Sau đó, do quá trình đế quốc Frăng dưới thời con
và cháu của Clôvít đã bành trướng ra 4 phía, mở rộng biên giới của đế quốc Trong quá trìnhchiến tranh, nông dân nhận ruộng phải đi lính
Không đủ sức để tự bảo vệ mình, họ phải tìm đến những nhà giàu có, có thế lực để vay
nợ, nhờ che trở, bảo hộ hoặc bán ruộng đất của mình đi Ruộng đất là tư liệu sản xuất cuốicùng của người nông dân cũng bị tước mất, đồng nghĩa với việc họ không còn khả năng tựcanh tác độc lập Do vậy, để duy trì cuộc sống, tiếp tục sản xuất họ phải đến những gia đình
có thế lực, hỏi mua lại những ruộng đã bán để cày cấy và chịu nộp tô dưới nhiều hình thức,chịu sự bảo hộ Lúc này người nông dân đã mất quyền tự do về kinh tế và chịu sự phụ thuộc
về thân phận Những người như thế gọi là nông nô
Như vậy, hai nội dung của quá trình phong kiến hoá dưới thời Saclơmane đã được hoànthành Chế độ phong kiến Tây Âu, có hai bộ phận quý tộc là tăng lữ và vũ sĩ, có hai bộ phậnlãnh địa phong kiến là lãnh địa của lãnh chúa và lãnh địa của giáo hội Quý tộc vũ sĩ thì dùngthanh kiếm của mình để đem lại quyền lợi cho Giáo hội
3.1.2 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
3.1.2.1 Tình hình kinh tế
Kinh tế lãnh địa là nền kinh tế tự cấp tự túc - kinh tế tự nhiên Đó là một nền kinh tếtrong đó sản xuất thủ công gắn chặt với sản xuất nông nghiệp, người nông nô vừa là mộtngười thợ thủ công vừa là một nông dân Họ vừa phải cấy trồng để lấy lương thực cho mình
và nộp cho lãnh chúa, vừa phải tự dệt vải để mặc, tự rèn lấy công cụ lao động, tự xây nhà để
Trang 37ở, Tất cả mọi sản phẩm đều do nông nô sản xuất ở trong lãnh địa và cung cấp cho chínhlãnh địa ấy Giữa các lãnh địa không có sự trao đổi mua bán, trừ một số thứ như muối haythuốc nhuộm
Mỗi một lãnh địa bao gồm một phần lãnh thổ nhất định, lớn nhỏ khác nhau, tuỳ theotước mà quý tộc đó được nhận Trong lãnh địa, khu đẹp nhất, thường là khu cao là khu ở củalãnh chúa, gồm có lâu đài là nơi ở của lãnh chúa, có nhà thờ, các kho tàng, cối xay,
Ngoài việc cày cấy trên lãnh địa, nông nô còn phải đắp đường, đào cống, xây thành luỹlâu đài, nộp vải cho lãnh chúa Hình thức bóc lột này được gọi là hình thức bóc lột siêu kinh
tế đối với nông nô
3.1.2.3 Tình hình chính trị, xã hội
* Chính trị : Chế độ phong kiến phân quyền
Bồi thần của bồi thần của ta không phải là bồi thần của ta
* Xã hội: Hai giai cấp chủ yếu là lãnh chúa và nông nô
- Đời sống nông nô
Đến giữa thế kỉ IX, quá trình phong kiến hoá đã hoàn thành: ruộng đất đã tập trungtrong tay các quý tộc lớn bé theo hệ thống đẳng cấp Những người nông nô hoàn toàn mất tự
do về thân phận, kinh tế, sống nhờ vào sự lao động cực nhọc của bản thân và gia đình trênphần đất của lãnh chúa
Nông nô ngoài nộp tô còn phải làm rất nhiều công việc phục vụ lãnh chúa: dệt vải, đắpđường, xây dựng, ngày lễ tết phải phục dịch cho lãnh chúa, mùa đông phải vào rừng đào băngrồi ủ lại cho lãnh chúa, gia đình nào có con gái lớn đi lấy chồng, đêm đầu tiên phải đến ở vớilãnh chúa,
Họ là những người dốt nát, ngu muội, tăm tối và vô học bởi cuộc sống cơ cực, lầm than,tối tăm, bệnh tật, đói rét và 100% mù chữ Vì thế, sau này khi giai cấp tư sản ra đời đã coi giaiđoạn đầu của chế độ phong kiến là "đêm trường trung cổ"
Như vậy, trong thời kì sơ kì Tây Âu trung đại, chỉ có sự thay đổi về quan hệ sản xuất vàlực lượng sản xuất, chủ yếu là dựa vào sự thay đổi của lệ nông thành nông nô Kinh tế tựnhiên tự cung tự cấp chiếm địa vị thống trị, không có buôn bán, không có giáo dục, Vì thế,nhiều học giả tư sản cho đây là một bước lùi của nhân loại
- Đời sống các lãnh chúa
Các lãnh chúa chủ lãnh địa là một đẳng cấp ăn bám, ngu dốt, mù chữ, không có giáodục, không có văn hoá, vì thế chúng không nghĩ đến việc cải tiến công cụ lao động, chăm losản xuất, mà công việc hàng ngày của các lãnh chúa là đánh nhau
Ngoài việc đánh nhau, các lãnh chúa phong kiến còn tiêu khiển bằng những trò như sănbắn, đấu kiếm,
Như vậy, lãnh chúa phong kiến là một đẳng cấp vô công rồi nghề, ít học, ít chữ và lườisuy nghĩ, chỉ ham đánh nhau và ăn chơi
3.2 Sự xuất hiện của thành thị trung đại Tây Âu
3.2.1 Sự ra đời, phát triển của thành thị trung đại Tây Âu
* Nguyên nhân ra đời
Bắt đầu từ cuối thế kỉ X đến cuối thế kỉ XI, châu Âu có hiện tượng thủ công tách dầnkhỏi nông nghiệp Những người trước đây vừa làm nông nghiệp vừa làm thủ công thì giờ đâychỉ làm một công việc: hoặc nông nghiệp, hoặc thủ công nghiệp Vì thế, năng xuất tăng lên
Trang 38nhiều lần Diện tích canh tác vì thế cũng tăng theo bằng cách lấp các đầm lầy và vùng venbiển Năng suất mùa màng tăng, lương thực dồi dào hơn cho nên một số nông nô khéo taytrong sản xuất thủ công thôi không sản xuất cấy trồng nữa mà chuyển sang chỉ làm các sảnphẩm thủ công
Lúc đầu người ta đổi sản phẩm lấy lương thực để ăn Về sau, số thợ thủ công tăng lên,nhu cầu trao đổi giữa lương thực và các sản phẩm thủ công cũng tăng lên, hình thức trao đổicũng biến đổi, không phải vật đổi vật nữa mà xuất hiện vật chung gian thứ ba để nối giữacung và cầu, giữa thủ công và nông nghiệp Như vậy, kinh tế lãnh địa tự nhiên đã bắt đầu bịchọc thủng bởi sự xuất hiện của trao đổi và buôn bán
Lúc đầu, những người thợ thủ công chỉ sống ở nhà mình trong các lãnh địa, vừa sảnxuất vừa trao đổi sản phẩm Về sau người ta tìm đến những nơi thuận tiện cho việc mua bánnguyên vật liệu, sản xuất và bán hàng Đó là những nơi ngã ba ngã tư đường, nơi đông ngườiqua lại như bến đò, chân các nhà thờ, chân các lâu đài Nhưng ở thời kì này, việc sản xuất vàbán hàng luôn bị cướp bóc, quấy phá, cho nên những người thợ thủ công đầu tiên này đã phảixây thành quách xung quanh để bảo vệ Và do vậy, các thành thị trung đại đầu tiên ra đời
* Nguồn gốc thành thị trung đại
Có ba loại thành thị trung đại: thành thị do chính các thợ thủ công xây dựng nên, cácthành thị thời Hi Lạp - La Mã cổ đại được khôi phục lại và thành thị do các lãnh chúa xâydựng nên cho thợ thủ công thuê
* Sự phát triển của thành thị trung đại
- Ban đầu quy mô còn rất nhỏ, mất vệ sinh và thường xuyên xảy ra bệnh dịch
- Thành thị đầu tiên ở Italia
- Quy mô ngày càng lớn nhưng cũng chỉ 10 vạn dân (Pari) là lớn nhất
3.2.2 Hoạt động thủ công nghiệp và buôn bán
* Hoạt động thủ công nghiệp
* Phường hội: Là một hình thức tổ chức sản xuất của thợ thủ công trong các thành thịtrung đại, bao gồm tất cả các xưởng thủ công cùng sản xuất một loại hàng nhất định, ở cùngmột khu phố nhất định
- Cấu trúc: Mỗi một phường hội gồm khoảng 5, 6 chục xưởng thợ, cùng cư trú trên mộthoặc nhiều dãy phố nhất định, cùng sản xuất một loại hàng hoá với kích cỡ, mẫu mã, chấtlượng, hình thức giống nhau
Trong mỗi xưởng gồm một chủ xưởng, là thợ cả và là thầy dạy nghề Thợ bạn có dămngười và những người học việc nhưng chưa thạo nghề Thợ học việc là những người mới vàoxưởng, đang làm quen với công việc
Mỗi phường hội có nội quy riêng, gọi là phường quy Trong đó, quy định các xưởngphải sản xuất cùng một loại hàng hóa, màu sắc, kích cỡ, chất lượng, Nội quy bảo vệ quyềnlợi cho các thợ thủ công có chân trong phường, ngăn cản những người thợ thủ công mới tronglãnh địa
Mỗi phường thường có chung một ông tổ làng nghề Giữa các thợ thủ công trongphường hội có quan hệ đoàn kết, bảo vệ, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau
- Trình độ kĩ thuật: Các xưởng của phường hội hoàn toàn sản xuất thủ công bằng tay(chưa có sự tham gia của máy móc cơ giới), sản xuất đều phụ thuộc vào kinh nghiệm, sự khéoléo, lành nghề của thợ thủ công Do đó, năng xuất không cao, thậm chí là thấp kém Cộng
Trang 39thêm vào đó là sự ràng buộc bởi những quy chế của phường hội về số lượng, mẫu mã, giá cả,chất lượng sản phẩm, phường hội nào cũng sản xuất như nhau Điều đó cũng phần nào hạnchế năng xuất lao động của phường hội
Trong sản xuất chưa có sự phân công tỉ mỉ từng công đoạn Mỗi thợ thủ công sản xuấttrọn vẹn một sản phẩm nhất định Vì thế rất mất thời gian để đổi công cụ
Mặt khác, thợ thủ công vừa sản xuất, vừa bán hàng, nên thời gian dành cho sản xuấtcũng bị hạn chế
- Quan hệ sản xuất là quan hệ thầy trò, quan hệ giữa thầy dạy nghề và thợ học nghề, chứchưa có quan hệ bóc lột Thầy sống nhờ việc bán những sản phẩm do chính thầy làm ra vàmột phần sản phẩm do thợ bạn và thợ học việc làm mang tính chất trả ơn công thầy dạy
* Thương nghiệp:
Ở thời kì này, các phường hội xuất hiện rất nhiều ở các thành thị Lúc đầu họ tự sản xuất
và tự bán hàng Về sau xuất hiện một tầng lớp trung gian bao mua sản phẩm và bán lại các sảnphẩm đó Các trung gian bao mua đến tận nơi sản xuất thu mua sản phẩm và đến tận nơi tiêuthụ để bán cho người tiêu dùng
Các thương nhân bao mua thường lấy hàng hoá ở nơi này, đem bán ở nơi khác nênthường xuyên phải đi qua các lãnh địa phong kiến
3.2.3.Vai trò và hệ quả của sự ra đời thành thị trung đại
* Vai trò
- Về kinh tế: Khi thành thị và thị dân ra đời đã có một vai trò rất lớn, nó đại diện chomột phương thức sản xuất mới tiến bộ đó là nền sản xuất hàng hoá tiền tệ - nền kinh tế đối lậphoàn toàn với nền kinh tế tự nhiên trong lãnh địa phong kiến Vì sản phẩm ở đây sản xuất ravới mục đích trao đổi chứ không phải tiêu dùng
Làm thay đổi hình thức địa tô phong kiến
Thành thị xuất hiện đã thu hút một lượng lớn thợ thủ công, trở thành nơi chuyên sảnxuất các loại hàng hoá như vải vóc, nông cụ, công cụ, Nền kinh tế hàng hoá tiền tệ củathành thị đã bào mòn dần nền kinh tế tự nhiên và trở thành nền kinh tế có vị trí quan trọngnhất
- Về xã hội: Sự xuất hiện của thành thị đã tạo ra một tầng lớp xã hội mới - thị dân,không có trong đẳng cấp phong kiến Đây là một lực lượng có tiền của, có sự tiến bộ Thị dân
là lực lượng xã hội quan trọng, ủng hộ vương quyền chống lại các lãnh chúa phong kiến lớnnhỏ để xây dựng chế độ phong kiến tập quyền
- Về chính trị, văn hoá: Thị dân là một lực lượng vô cùng quan trọng, trước hết họ làchỗ dựa mới cho vương quyền Sau nữa họ là một lực lượng mới, tiến bộ, có những nhu cầumới về mặt văn hóa tinh thần
Thị dân là tầng lớp có hiểu biết, cho nên họ có nhu cầu đời sống tinh thần cao hơn rấtnhiều so với người nông dân sống trong lãnh địa Mảng tăm tối, ngu dốt bắt đầu bị chọc thủng
và ánh sáng của văn minh đã bắt đầu chiếu rọi trở lại trong xã hội Tây Âu Thị dân ra đờicũng làm cho các cuộc đấu tranh trong xã hội thay đổi, phong phú hơn, quyết liệt hơn và cókết quả cao hơn Từ đó đưa đến những biến đổi quan trọng trong xã hội Tây Âu
* Hệ quả
Sự ra đời thành thị là một biểu hiện của sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa trong
thời kì phong kiến ở châu Âu nhưng chính nó cũng phá hoại ngầm chế độ phong kiến.