Trong cuốn sách của mình, tác giả Văn Giá cũng sưu tầm, tuyển chọn, và giới thiệu với bạn đọc những bài viết, công trình nghiên cứu của các tác giả khác về Vũ Bằng để giúp người đọc có m
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LỖ THỊ THUẬN
NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VŨ BẰNG
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS HÀ CÔNG TÀI
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu từ phía nhà trường, các thầy cô giáo, gia đình
và bạn bè Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm
ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu; Phòng Sau đại học Trường ĐHSP Hà Nội II đã tổ chức, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành khóa học này
PGS.TS Hà Công Tài người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết tận tình hướng dẫn nghiên cứu và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Các nhà khoa học, các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, truyền thụ tri thức cho chúng tôi suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại lớp Cao học Lí luận văn học K16.2, khóa học 2012 – 2014
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hà Nội, Trường THPT Yên Lãng và tất cả bạn bè cùng những người thân yêu trong gia đình đã động viên giúp đỡ cho tôi hoàn thành tốt khóa học
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Lỗ Thị Thuận
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS TS Hà Công Tài Tôi xin cam đoan rằng:
Luận văn là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tác giả
Những tư liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực
Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất cứ công trình nghiên cứu của tác giả nào đã được công bố trước đó
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Lỗ Thị Thuận
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chương 1 QUAN NIỆM VỀ NHÂN VẬT VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT 11
TRONG SÁNG TÁC CỦA VŨ BẰNG 11
1.1 Quan niệm về nhân vật 11
1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học 11
1.1.2 Các tiêu chí phân loại nhân vật văn học 12
1.1.3 Chức năng của nhân vật văn học 13
1.1.4 Nhân vật truyện ngắn 16
1.1.5 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn của Vũ Bằng 17
1.2 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Vũ Bằng 22
Chương 2 CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VŨ BẰNG 33 2.1 Nhân vật mang vẻ đẹp nhân cách 33
2.1.1 Con người say đắm với vẻ đẹp văn hóa cổ truyền, hoài niệm về cái đẹp đã qua 33
2.1.2 Con người giàu lòng tự trọng và thủy chung 40
2.2 Nhân vật tha hóa 46
Trang 52.2.1 Tha hóa do bản năng và suy thoái đạo đức 47
2.2.2 Tha hóa do sự tác động của môi trường và hoàn cảnh sống 51
2.2.3 Những người đàn bà bạc bẽo 58
2.3 Nhân vật trung gian 63
Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA VŨ BẰNG 68
3.1 Nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật 70
3.2 Nghệ thuật trần thuật 82
3.2.1 Sự thay đổi điểm nhìn trần thuật hay là nghệ thuật trộn giọng trần thuật 82
3.2.2 Giọng điệu trần thuật 88
3.3 Nghệ thuật khắc họa nhân vật thông qua ngôn ngữ nhân vật 105
3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại 106
3.3.2 Ngôn ngữ độc thoại 111
KẾT LUẬN 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Vũ Bằng tên thật là Vũ Đăng Bằng (1913- 1984) Ông xuất thân từ
một dòng họ nổi tiếng về truyền thống khoa bảng ở xã Ngọc Cục, huyện Lương Ngọc, tỉnh Hải Dương, về sau gia đình chuyển lên Hà Nội để sinh sống Cha mẹ làm nghề xuất bản sách và có một nhà sách lớn ở số 115 phố Hàng Gai- Hà Nội, là điều kiện để Vũ Bằng sớm được tiếp xúc với văn học để rồi niềm yêu thích và say mê văn chương cũng bắt đầu từ đó Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội trong một gia đình đông con, nhưng Vũ Bằng luôn được gia đình tạo điều kiện học hành Ông từng theo học trường Lycee Albert Sarraut, song vào những năm cuối trung học, Vũ Bằng đã bỏ học để theo nghề viết báo Năm 16 tuổi ông ra mắt làng văn với những bài báo đầu tiên được đăng
trên tờ An Nam tạp chí của Tản Đà và những truyện ngắn đầu tiên được đăng trên tờ Đông Tây Bắt đầu sự nghiệp văn học của mình từ thập niên ba mươi
của thế kỉ XX, từ đó trở đi ông chính thức gắn mình với làng báo Việt Nam và sống bằng nghề viết văn, làm báo và trở thành một nhà văn, nhà báo nổi tiếng,
có số phận thăng trầm vào bậc nhất trong nền văn học hiện đại Việt Nam
Những năm trước Cách mạng, Vũ Bằng viết văn, viết báo như một cách mưu sinh Sau kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12- 1946), ông cùng gia đình
đi tản cư đến Hà Nam, Hòa Bình thuộc khu Ba, rồi sau đó ông lại bí mật nhận nhiệm vụ lên đường hoạt động Cách mạng Chịu mang tiếng xấu trong con mắt đồng chí đồng bào mình, Vũ Bằng đã âm thầm hoạt động và cống hiến cho sự nghiệp Cách mạng của dân tộc Đây cũng chính là một cách lựa chọn
và nhập cuộc đẹp đẽ của một nhà văn, một trí thức giàu lòng yêu nước Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 Vũ Bằng chủ động và tự giác “ dinh tê” vào Nam Hòa trong dòng người đông đúc kéo vào Nam, mặc cho bạn bè can ngăn, gia đình và người thân lưu luyến, ông vẫn quyết ra đi, hứng
Trang 7chịu nhiều tai tiếng, thậm chí cả những lời quy kết, buộc tội, sự khinh ghét của bạn bè, đồng nghiệp và nhân dân Chấp nhận hi sinh danh dự để tạo vỏ bọc cho hoạt động tình báo của mình Vũ Bằng âm thầm nhận nhiệm vụ mới
do tổ chức Cách mạng phân công Với danh nghĩa là nhà văn, nhà báo tự do, vào Sài Gòn Vũ Bằng công khai cộng tác với đủ loại báo chí, giao du với đủ loại thành phần phía địch nhằm khai thác tin tức phục vụ cho Cách mạng Ở tình thế đặc biệt ấy, tâm lí Vũ Bằng đầy mâu thuẫn và luôn bị giằng xé giữa một bên là sự chấp nhận hi sinh vì nghĩa vụ, một bên lại muốn thanh minh và khẳng định phẩm chất con người của mình Cho nên Vũ Bằng vẫn sống và viết rất bình thản, nhưng thực ra bên trong con người ông luôn phải chịu nỗi day dứt, dằn vặt không nguôi vì những điều không thể nói, không thể thanh minh hay giải trình, và cả nỗi nhớ nhà, nhớ quê da diết Tất cả những tâm tư
đó được ông gửi gắm qua những sáng tác của mình như một sự kí thác Đọc tác phẩm của Vũ Bằng, ta bắt gặp trong đó hình ảnh của con người luôn quằn quại, day dứt, hình ảnh của con người mang nặng nỗi nhớ quê hương da diết Sống trong lòng địch, vừa phải giữ trọn tấm lòng kiên trinh với Cách mạng, vừa phải sống như một người bình thường để che giấu tung tích, Vũ Bằng đã
âm thầm hoạt động, âm thầm hi sinh và dấn thân đầy dũng cảm Thời gian ở sài Gòn, Vũ Bằng sống cuộc sống nghèo khổ trong hoàn cảnh khó khăn chung của đất nước Ông sáng tác như một cách để kiếm sống và cũng là để giãi bày tâm tư, tình cảm của mình Thế nhưng cuộc đời của ông lại đầy éo le, lận đận, danh phận của ông sau kháng chiến chống Mỹ vẫn không được làm rõ Mãi cho đến tháng 3 năm 2000 danh tiết của ông mới được sáng tỏ: Ông là một nhà văn, nhà báo Cách mạng- Một chiến sĩ tình báo Vị trí văn học của ông trong văn học hiện đại Việt Nam ngày càng được khẳng định, thu hút sự quan tâm của độc giả và các nhà nghiên cứu
1.2 Là một nhà văn, nhà báo đặc sắc của Việt Nam, Vũ Bằng viết nhiều
thể loại, phản ánh nhiều vấn đề xã hội, con người trong nhiều bối cảnh khác
Trang 8nhau của cuộc sống với phong cách riêng biệt Ông viết nhiều, viết nhanh và rất cần mẫn Ngòi bút của ông khai thác ở nhiều lĩnh vực: từ báo chí, văn chương, từ điển đến các loại sách truyền bá kiến thức phổ thông trong đời sống con người Riêng trong lĩnh vực văn chương phải kể đến các thể loại như: truyện ngắn, bút ký, ký sự, tùy bút, tiểu thuyết, tạp văn, mà ở thể loại
nào cũng có những trang viết lấp lánh tài hoa và chan chứa lòng nhân ái
Trước năm 1945 Vũ Bằng sáng tác nhiều thể loại như: kí, tiểu thuyết, truyện ngắn Truyện của Vũ Bằng ở giai đoạn này chủ yếu tập trung vào việc xây dựng các chân dung nhân vật thông qua những câu chuyện hết sức giản
dị và rất ít thể hiện ý nghĩa xã hội Câu chuyện của ông thường bắt nguồn từ những vấn đề hàng ngày, thậm chí là những điều rất tầm thường trong cuộc sống con người Bởi thế các nhân vật của ông đều có một đời sống tâm lý phong phú và là những chân dung phức tạp đầy biến động của đời sống
Từ 1945 đến 1954 ngòi bút Vũ Bằng hướng vào hiện thực xã hội với các đề tài chính là: Cuộc sống nhân dân vùng tạm chiếm, vấn đề hồi cư và con người hồi cư Đây là những vấn đề được ông quan tâm nhiều nhất Những mảng đề tài ấy đã góp phần hoàn thiện hơn bức tranh hiện thực xã hội Việt Nam thời kỳ chiến tranh Ở đó nhà văn đặc biệt chú ý đến số phận của con người trong xã hội thời chiến và nhân cách con người trong hoàn cảnh đầy đau khổ của cuộc sống hồi cư Thông qua tác phẩm của mình Vũ Bằng cũng lên tiếng phản đối chiến tranh xâm lược, thể hiện lòng yêu chuộng hòa bình của mình Đây là những tiến bộ vượt bậc của nhà văn góp phần hoàn chỉnh hơn nền văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1945- 1954
Sau 1954, tiếp tục và mở rộng các đề tài sáng tác ở giai đoạn trước, ngòi bút Vũ Bằng thực sự thăng hoa và đạt được nhiều thành tựu lớn ở thể loại truyện vừa, truyện ngắn Cũng trong thời kỳ này, tài năng của Vũ Bằng thực sự tỏa sáng ở thể loại ký
Trang 9Sáng tác của Vũ Bằng đã phản ánh một cách độc đáo các giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc và những chuyển động xã hội đầy phức tạp trong hoàn cảnh lịch sử dữ dội của đất nước Song danh phận và sự nghiệp văn học của nhà văn lại chịu sự chi phối và ảnh hưởng sâu sắc bởi chính cuộc đời chính trị của ông Một thời gian dài trong lịch sử văn học các sáng tác của Vũ Bằng không được chú ý đến hoặc thiếu sự đánh giá thỏa đáng Ngày nay, trong xu thế chung của văn học thời kì đổi mới chúng ta cần có một cách nhìn khách quan hơn về Vũ Bằng và sự nghiệp của ông Đặc biệt là khi danh phận nhà văn đã được làm sáng tỏ thì việc mở rộng, nghiên cứu tỉ mỉ, toàn diện về các sáng tác của ông là điều hết sức cần thiết Vì những lí do trên, chúng tôi
chọn đề tài Nhân vật trong truyện ngắn Vũ Bằng làm đối tượng nghiên cứu
cho luận văn của mình nhằm làm sáng tỏ hơn về nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn
2 Lịch sử vấn đề
Mở đầu bằng truyện ngắn Con ngựa già đăng trên mục Bút mới của
báo Đông tây năm 1930, có thể khẳng định Vũ Bằng bước vào nghề khá sớm
Từ đó trở đi, Vũ Bằng viết đều đặn và liên tục cho ra đời nhiều tác phẩm thuộc các lĩnh vực khác nhau Nhưng do cuộc đời và danh tiết của Vũ Bằng khá phức tạp, cho nên suốt một thời gian dài, văn chương của ông phải chịu những định kiến và đánh giá thiếu sự thỏa đáng, khách quan Vì vậy việc tiếp nhận và nghiên cứu văn chương của ông chưa được quan tâm nhiều, việc nghiên cứu các tác phẩm của Vũ Bằng chưa tương xứng với sự nghiệp sáng tác mà ông để lại Phải đến gần đây, cùng với việc được minh oan và trả lại danh tiết cho ông, văn chương của ông mới nhận được sự chú ý nhiều hơn của độc giả và người nghiên cứu
Qua bài viết về Vũ Bằng trong công trình nghiên cứu Nhà văn hiện
đại, Vũ Ngọc Phan đề cập đến Vũ Bằng như một nhà tiểu thuyết Việt Nam
Trang 10hiện đại Ông cho rằng tiểu thuyết của Vũ Bằng rất gần với Nguyễn Công
Hoan về lối tả cảnh và nhân vật Vũ Bằng thường “tả bằng ngọn bút dí dỏm,
nhạo đời hơi đá hoạt kê một chút” [52, tr.492] Sau khi khảo sát hai tiểu
thuyết của Vũ Bằng là Một mình trong đêm tối (1937), Truyện hai người (1940), và một tập truyện ngắn Để cho chàng khỏi khổ (1941), Vũ Ngọc
Phan cho rằng Vũ Bằng có một lối văn rất ngộ, “mạnh bạo và ráo riết”, “làm
cho người ta thích đọc” [52, tr.502] Ngòi bút của Vũ Bằng vừa hơi giống lối
văn cộc của Hoàng Tích Chu, lại vừa có những giọng điệu dí dỏm, ngộ nghĩnh, linh động giống Nguyễn Công Hoan, nhưng Vũ Bằng lạ ở cách xây
dựng nhân vật Nhân vật của ông “có những cử chỉ và ngôn ngữ hơi lai một
chút” [52, tr.506] vì Vũ Bằng chịu ảnh hưởng quá nhiều của tiểu thuyết
phương Tây, nhất là Dostoievsky Theo Vũ Ngọc Phan đó cũng là những mặt hạn chế của nhà văn Tuy nhiên cách đánh giá của Vũ Ngọc Phan cũng còn khá dè dặt
Trong bài viết Vũ Bằng- Thương nhớ mười hai đăng trên tạp chí Văn
học số 1 năm 1991, Tô Hoài lại đánh giá cao về những đóng góp của Vũ Bằng Người viết hồi tưởng về Vũ Bằng như một nhà văn đàn anh đầy tôn kính mà chính Tô Hoài và Nam Cao đã học tập được rất nhiều ở ông Tác giả bài viết cho rằng dù là ký hay truyện thì tác phẩm của Vũ Bằng cũng đều mang hơi hướng của tự truyện, mỗi trang viết của ông là một u ẩn, một mong ước tức tưởi không tới được Tô Hoài cũng cho rằng ngòi bút của Vũ
Bằng vừa giống Nguyễn Công Hoan lại vừa giống Nam Cao “Nhưng ở Vũ
Bằng cái ngẩn ngơ trở lại ngẩn ngơ bằng những nhát bút khinh bạc” [31,
tr.113] Bên cạnh những cây bút chủ lực của nhóm Tự lực văn đoàn như Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, giữa những nhà văn lớn như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân…Vũ Bằng có một lối đi riêng,
khẳng định được phong cách lạ và độc đáo của mình, “Vũ Bằng miêu tả
Trang 11nhân vật hoạt động và nội tâm khăng khít với quang cảnh…đẩy gần hơn nữa nhân vật với sự thật và cuộc sống…” [31, tr.110] cho dù nhân vật của ông
“không hẳn cốt cách Việt Nam nhưng cũng không Tây” [31; tr.112] Từ đó
Tô Hoài khẳng định Vũ Bằng đã góp vào sự phát triển của văn xuôi Việt Nam một sức nặng quan trọng
Nguyễn Vỹ trong Văn thi sĩ tiền chiến (1994) đánh giá: Vũ Bằng là
nhà văn độc đáo, một nhà văn trào phúng có biệt tài với “lối văn tả chân đặc
biệt và trào phúng chuyên môn” [73, tr.121] vừa nhẹ nhàng khả ái, vừa cầu kì
lí thú Từ những cảm nhận của mình Nguyễn Vỹ lên tiếng: Vũ Bằng phải có
một địa vị xứng đáng trong văn học Việt Nam thế kỉ XX
Vương Trí Nhàn với Buồn vui đời viết, cho rằng Vũ Bằng là người mở
đầu cho lối viết bám sát đời sống nội tâm, để cho ý nghĩ và hành động nhân
vật quyện chặt lấy nhau [47, tr.162] Khẳng định Vũ Bằng là ngòi bút khai lối
mở đường cho nền văn xuôi tiền chiến Việt Nam, từ những đóng góp quan trọng của Vũ Bằng tác giả bài viết yêu cầu một sự quan tâm thỏa đáng với các tác phẩm của Vũ Bằng và vai trò của ông trong nền văn học nước nhà
Ngoài ra, chúng ta có thể kể đến các tác giả khác với các bài viết như:
Thượng Sỹ với Lời giới thiệu cho cuốn Bốn mươi năm nói láo; Vương Trí Nhàn với Thương nhớ mười hai và một cảnh quan văn hóa độc đáo; Đặng Anh Đào với Tháng ba, đi tìm thời gian đã mất; Bài viết của Huy Hoàng về
Miếng ngon Hà Nội; Bài giới thiệu về Món lạ miền Nam của Vũ Châu; Bài
viết của các tác giả Vũ Quần Phương, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Thị Thanh Xuân, Lưu Khánh Thơ, Nguyễn Thị Minh Thái, Phạm Ngọc Luật… Song phần lớn các bài viết đều thể hiện việc cảm nhận sự tinh tế các tác phẩm
ký của Vũ Bằng, hoặc thể hiện sự đồng cảm với nỗi lòng khó nói cùng thân phận oan khổ, lận đận của ông
Nghiên cứu đầy đủ về Vũ Bằng với nhiều công sức và tâm huyết có lẽ
Trang 12phải kể đến tác giả Văn Giá Năm 2000 với công trình: Vũ Bằng- Bên trời
thương nhớ, Văn Giá đã làm sáng tỏ những điều uẩn khúc về thân phận và
danh tiết của Vũ Bằng, đánh giá cao những quan niệm về nghệ thuật của ông, thống kê khá đầy đủ một cách có hệ thống các sáng tác của nhà văn theo từng giai đoạn và phân tích một cách sắc sảo những đặc điểm nghệ thuật văn chương của Vũ Bằng Cuốn sách của Văn Giá đã đem đến cho người đọc một cái nhìn khá toàn diện về những sáng tạo mới mẻ và những đóng góp to lớn của Vũ Bằng đối với nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, đặc biệt là về lĩnh vực tiểu thuyết và truyện ngắn Trong cuốn sách của mình, tác giả Văn Giá cũng sưu tầm, tuyển chọn, và giới thiệu với bạn đọc những bài viết, công trình nghiên cứu của các tác giả khác về Vũ Bằng để giúp người đọc có một cái nhìn khái quát, đầy đủ và sâu sắc hơn về cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Việc làm này của Văn Giá đã cung cấp cho độc giả những tư liệu hết sức quý báu, góp phần đưa Vũ Bằng cũng như tác phẩm của nhà văn đến gần bạn đọc hơn
Từ sau công trình nghiên cứu năm 2000 của Văn Giá cho đến nay người đọc càng ngày càng có sự quan tâm sâu sắc hơn với các tác phẩm của
Vũ Bằng Năm 2001, trong cuốn Chân dung văn học, tác giả Hoài Anh đánh
giá cao những tiếp thu và sáng tạo của Vũ Bằng trong việc học tập cách viết
của các tác giả phương Tây Năm 2005 trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 9, mục Chân dung văn hóa, tác giả Hà Minh Châu cũng có bài viết đầy tâm huyết với nhan đề Vũ Bằng với nỗi ám ảnh về nhân cách con người Bài
viết cho thấy nỗi băn khoăn, day dứt của Vũ Bằng trước sự thay đổi và tha hóa nhân cách con người thể hiện qua các truyện ngắn của ông ngay từ khi
mới bước vào nghề Gần đây trong luận án tiến sĩ ngữ văn Văn chương Vũ
Bằng dưới góc nhìn văn hóa tác giả Đỗ Thị Ngọc Chi lại mang đến cho
người đọc một cách nhìn, đánh giá về những nét độc đáo của văn chương Vũ
Trang 13Bằng Những công trình nghiên cứu và bài viết về Vũ Bằng của các tác giả đi trước chính là những đóng góp có giá trị và là những gợi ý quan trọng để chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn về sự nghiệp văn chương của ông Từ thực tế này ta nhận thấy thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Vũ Bằng vô cùng phong phú và đa dạng nó vẫn còn để những lối mở cho ai yêu thích và muốn khám phá truyện ngắn của ông
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Với việc chọn đề tài Nhân vật trong truyện ngắn Vũ Bằng chúng tôi
muốn đi sâu vào tìm hiểu về nhân vật trong truyện ngắn Vũ Bằng và nghệ thuật xây dựng nhân vật của ông nhằm xác định nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn Qua đó góp phần khẳng định vị trí, vai trò của Vũ Bằng trong diện mạo văn học dân tộc
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài hướng tới nhiệm vụ:
Trình bày những vấn đề lí thuyết về nhân vật
Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người của Vũ Bằng trong tác phẩm, bởi điều này chi phối việc lựa chọn nhân vật và cách thể hiện nhân vật của tác giả
Phân tích nhân vật, đặc biệt làm rõ các kiểu nhân vật trong truyện ngắn của Vũ Bằng Trên cơ sở đó chỉ ra những đặc điểm nổi bật về thế giới nhân vật đa dạng, phong phú và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của ông cũng như những đóng góp đáng ghi nhận của nhà văn đối với nền văn học hiện đại Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu nhân vật trong những truyện ngắn của Vũ
Trang 14Bằng, các kiểu nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, luận văn tập trung khảo sát, thống kê, phân tích các truyện ngắn của Vũ Bằng được in trong tuyển tập Vũ Bằng đặc biệt sẽ đi
sâu vào một số tác phẩm tiêu biểu
Khai thác, vận dụng những tài liệu lý luận về thể loại truyện ngắn liên
quan đến đề tài
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi sẽ chú ý mở rộng thêm một số tác phẩm của các nhà văn cùng thời để làm nổi bật những nét đặc sắc về nhân vật trong truyện ngắn của Vũ Bằng
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, chúng tôi sử dụng đồng thời các phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học: Phân tích các kiểu nhân vật khác nhau trong sáng tác của Vũ Bằng, để từ đó khái quát được đặc điểm của kiểu nhân vật này Phương pháp này giúp chúng tôi cắt nghĩa, phát hiện quan niệm, sự độc đáo trong đặc điểm và nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn
Phương pháp so sánh: Kết hợp sử dụng phương pháp so sánh các loại nhân vật của một số nhà văn khác để thấy nét riêng biệt và độc đáo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của Vũ Bằng
Phương pháp loại hình: Phương pháp này giúp chúng tôi chỉ ra được những kiểu loại nhân vật khác nhau trong sáng tác của Vũ Bằng, để từ đó khai thác sâu hơn về từng loại nhân vật trong sáng tác của nhà văn
6 Đóng góp của luận văn
Tìm hiểu nhân vật trong truyện ngắn Vũ Bằng, chúng tôi mong muốn làm rõ những đặc sắc về nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong
Trang 15truyện ngắn của ông Từ đó góp phần khẳng định tài năng, đóng góp quan trọng của nhà văn trong nền văn học dân tộc
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của luận văn được triển khai thành ba chương:
Chương 1: Quan niệm về nhân vật và Thế giới nhân vật trong sáng tác
của Vũ Bằng
Chương 2: Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn của Vũ Bằng
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Vũ Bằng
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM VỀ NHÂN VẬT VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG SÁNG TÁC CỦA VŨ BẰNG 1.1 Quan niệm về nhân vật
1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học
Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ rất sớm Trong tiếng Hy Lạp cổ
“nhân vật” (persona) vốn mang ý nghĩa là “cái mặt nạ” một dụng cụ biểu diễn của diễn viên trên sân khấu Nhưng sau đó nó được đưa vào văn học trở thành thuật ngữ để chỉ nhân vật văn học
Ngày nay, vấn đề nhân vật trong tác phẩm văn học đã được giới nghiên cứu, phê bình đưa ra nhiều quan niệm khác nhau
Từ điển văn học ( NXB Khoa học- 1984) định nghĩa: “Nhân vật là yếu
tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, là tiêu điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tạp trung khắc họa Nhân vật do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm văn học” [48, tr.86]
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân định nghĩa: “Nhân
vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu
về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” [3, tr.241]
Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn
Từ điển thuật ngữ văn học lại đưa ra định nghĩa: Nhân vật văn học là “Con
người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể
Trang 17có tên riêng, cũng có thể không có tên riêng… là một đơn vị đầy tính ước lệ”
[27; tr.235], có chức năng cơ bản là khái quát tính cách con người “Nhân vật
văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn
về con người…Nhân vật văn học được miêu tả qua nhiều biến cố, xung đột,
mâu thuẫn và mọi chi tiết các loại.” [27, tr.236]
Dù có thể được hiểu theo cách này hoặc cách khác, nhưng tựu chung lại, các ý kiến vẫn cơ bản gặp nhau trong sự khẳng định: Nhân vật văn học là thành tố quan trọng không thể thiếu trong sáng tác văn chương, là đối tượng
mà văn học miêu tả, là phương tiện quan trọng để nhà văn khái quát hiện thực, phản ánh đời sống, là nơi tập trung giá trị tư tưởng của tác phẩm văn học và được nhà văn xây dựng bằng yếu tố nghệ thuật độc đáo Qua đó nhà văn thể hiện toàn bộ cuộc sống, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm Nhân vật có thể là những con người hoặc những con vật, sự vật, đồ vật, hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh gần gũi của con người Đó là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn Trong tác phẩm văn học, nhân vật luôn
là đề tài quan tâm hàng đầu của các nhà văn, Vì vậy nhân vật văn học chính là máu thịt, là đứa con tinh thần của nhà văn để qua đó nhà văn thể hiện quan niệm thẩm mĩ và lí tưởng thẩm mĩ của mình về cuộc đời và con người Sức
ám ảnh của nhân vật đánh dấu sự thành công của người sáng tạo nên nó,
“Những nhân vật thành công thường là kết quả một sự hiểu biết sâu sắc về
con người, một sự phát hiện độc đáo những vấn đề quan trọng, mới mẻ của cuộc sống, của thời đại” [28, tr.122]
1.1.2 Các tiêu chí phân loại nhân vật văn học
Các loại hình nhân vật rất đa dạng, lí luận văn học căn cứ vào một số tiêu chí nhất định để phân loại các kiểu loại nhân vật văn học như sau:
1.1.2.1 Căn cứ vào vị trí và vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học có
thể chia thành: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm
Trang 181.1.2.2 Căn cứ vào đặc điểm tính cách, chức năng nghệ thuật của nhân vật
có thể chia thành nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực )
1.1.2.3 Căn cứ vào thể loại văn học có thể phân chia thành: nhân vật tự sự,
nhân vật kịch, nhân vật trữ tình
1.1.2.4 Căn cứ vàocấu trúc hình tượng có thể phân chia thành: nhân vật
chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng
Trên đây là các loại nhân vật thường gặp Trong văn học còn có thể gặp một số loại nhân vật khác nữa Sự phân loại trên đây chỉ có tính chất tương đối vì trong loại này còn có thể bao hàm một số yếu tố của loại kia và ngược lại Không có gì khó hiểu khi ta thấy một nhân vật cụ thể nào đó có mặt trong nhiều “danh sách” khác nhau Thực tế ấy đòi hỏi việc nghiên cứu nhân vật phải tránh sự cứng nhắc, tuyệt đối hóa
1.1.3 Chức năng của nhân vật văn học
Văn học phản ánh hiện thực đời sống thông qua các hình tượng, nhân vật văn học Nhân vật là điều kiện giúp nhà văn thể hiện ý đồ nghệ thuật của mình, thông qua đó người đọc hiểu và hình dung được bộ mặt đa dạng, nhiều chiều của hiện thực đời sống Vì vậy một tác phẩm văn học không thể thiếu vắng nhân vật Sức sống của nhà văn chính là thể hiện ở việc xây dựng những nhân vật đặc sắc Các tác giả lí luận văn học chỉ ra các chức năng của nhân vật văn học như sau:
Thứ nhất, nhân vật là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực, là người dẫn dắt độc giả vào thế giới riêng của đời sống con người trong một thời kì lịch sử nhất định Do đó nhân vật có chức năng khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao, kỳ vọng về con người
Thứ hai, nhân vật có chức năng miêu tả và khái quát các loại tính cách
xã hội Với chức năng này, nhân vật chứng tỏ được ưu thế của tác phẩm văn
Trang 19học trong việc phản ánh bản chất của đời sống xã hội qua một hiện tượng mang tính chất kết tinh là tính cách Vì tính cách là một hiện tượng xã hội, lịch sử và là kết tinh của môi trường, nênchức năng khái quát tính cách của nhân vật văn học cũng mang tính lịch sử, nhân vật văn học là người dẫn dắt độc giả vào các môi trường khác nhau của đời sống Tìm hiểu các nhân vật được xây dựng thành công trong văn học ở các thời kì lịch sử khác nhau ta có thể nhận thấy ở họ mang đặc điểm riêng của mỗi thời đại riêng Trong thời cổ đại, nhân vật văn học của thần thoại, truyền thuyết thường khái quát năng lực
và sức mạnh của con người: Nữ Oa đội đá vá trời, Sơn Tinh dời núi ngăn nước chống thủy Tinh, Thánh Gióng từ một cậu bé ba tuổi bỗng chốc vươn vai lớn dậy đánh đuổi giặc Ân Trong xã hội có phân chia giai cấp, truyện cổ tích có những nhân vật khái quát các chuẩn mực giá trị đối kháng trong quan
hệ giữa người với người như thiện- ác, trung thực- giả dối, thông minh – ngốc
nghếch…Trong truyện cổ tích Thạch Sanh mẹ con Lí Thông là nhân vật
phản diện đại diện cho cái ác, cái xấu Thạch Sanh là nhân vật chính diện tiêu
biểu cho cái thiện, cái tốt Hay ở nhân vật Nghị Quế trong tác phẩm Tắt đèn
của Ngô Tất Tố người đọc có thể nhận thấy một tính cách keo kiệt bủn xỉn của một tên nghị lại trong xã hội phong kiến Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám
Thứ ba, nhân vật văn học còn có chức năng tương tự “chức năng của
một chiếc chìa khoá” giúp nhà văn mở cánh cửa bước vào hiện thực rộng lớn,
tiếp cận những đề tài, chủ đề mới mẻ Đọc truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, thông qua nhân vật Tnú người đọc hiểu được hiện thực cuộc sống và kháng chiến của đồng bào Xô Man, nhân dân Tây Nguyên trong cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ và giác ngộ được chân lí của thời đại
“Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo” [38, tr.46]
Thứ tư, nhân vật văn học có chức năng biểu hiện quan niệm nghệ thuật
về thế giới, con người Thông qua những nhân vật cụ thể, thái độ đánh giá về
Trang 20các tính cách, về các vấn đề xã hội của nhà văn có được điều kiện bộc lộ tốt
hơn, tập trung hơn Nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc
thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu tuy không có một cái tên cụ thể, một
người vô danh như bao người đàn bà vùng biển khác, nhưng số phận của con người ấy trong tác phẩm lại được tác giả tập trung thể hiện và người đọc hết sức quan tâm Chị phải sống trong cảnh đông con, thất học, lam lũ, nhọc nhằn, phải chịu nạn bạo hành từ người chồng thiếu hiểu biết, vũ phu, độc ác, nhưng người đàn bà ấy vẫn giàu lòng thương con, đức hi sinh, lòng vị tha, bao dung cao cả Qua nhân vật nhà văn thể hiện cách nhìn đa diện, nhiều chiều, vào bản chất bên trong con người Đồng thời còn thể hiện nỗi lo âu trĩu nặng, tình thương yêu da diết với hiện thực cuộc sống, với số phận con người sau chiến tranh
Sau cùng ta có thể nói tới chức năng của nhân vật trong việc tạo nên mối liên kết giữa các sự kiện trong tác phẩm và cốt truyện Một phần lớn nhờ
nhân vật mà “kết cấu nhiều tác phẩm đạt được sự thống nhất, hoàn chỉnh,
chặt chẽ và nhiều tiềm năng biểu đạt của các phương tiện ngôn từ được phát lộ” [61, tr.79] Đọc Chí Phèo của Nam Cao ta thấy toàn bộ các sự kiện trong
tác phẩm đều có liên quan đến những bước ngoặt trong con đường đời của nhân vật Chí Phèo Đó chính là một cái khung tạo nên kiến trúc của truyện ngắn này Từ tiếng chửi mở đầu thiên truyện của Chí Phèo nhà văn đã dần dần hé lộ và phác họa đầy đủ chân dung, tính cách con người Chí: một người lao động lương thiện bị xã hội dồn đuổi vào bước đường cùng để rồi tha hóa biến chất thành kẻ lưu manh côn đồ Nhưng ẩn sâu trong đáy tâm hồn Chí,
phần nhân tính vẫn chưa hoàn toàn mất hết Câu hỏi bỏ ngỏ “Ai cho tao lương
thiện” và cái chết tức tưởi của Chí giúp người đọc nhận ra cái khát khao
lương thiện mãi còn khắc khoải trong anh
Như vậy nhân vật văn học có nhiều chức năng tương ứng với nhiều vai trò khác nhau trong tác phẩm, là hình thức để nhà văn khái quát đời sống Đọc
Trang 21tác phẩm văn học, người đọc cần chú ý tìm hiểu nội dung phản ánh đời sống
xã hội và nội dung tư tưởng mà tác giả thể hiện qua nhân vật Trong thực tiễn sáng tác những nhân vật thành công thường là kết quả của sự hiểu biết sâu sắc của nhà văn về cuộc sống và con người Hiểu được đúng đắn chức năng của nhân vật văn học, người viết có thêm cơ sở lí luận để nghiên cứu đề tài này
1.1.4 Nhân vật truyện ngắn
Theo các nhà nghiên cứu phương Tây thì truyện ngắn ra đời vào khoảng thế kỉ XIX Nhưng ở Việt Nam thì phải đến thế kỉ XX truyện ngắn mới thực sự hình thành và phát triển mạnh mẽ đạt đỉnh cao vào những năm 30 của thế kỉ này Truyện ngắn là một thể loại thuộc phương thức tự sự, nó bao chứa hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của truyện ngắn là ngắn gọn Nếu tiểu thuyết chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó thì truyện ngắn thường chỉ hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống con người
Nhân vật trong truyện ngắn có một vị trí, vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đó là hạt nhân của sự sáng tạo, là trọng điểm để nhà văn lí giải tất
cả các vấn đề xã hội Nhân vật truyện ngắn được xây dựng theo những cách riêng nhằm đáp ứng đến mức cao nhất yêu cầu nhận thức hiện thực theo cả chiều rộng và chiều sâu của thể loại này
Theo các nhà nghiên cứu, nhân vật truyện ngắn cần phải được phân biệt với nhân vật sử thi, nhân vật kịch ở những đặc trưng cơ bản sau:
Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan
hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người
Nhân vật truyện ngắn bao giờ cũng được đặt vào những tình huống nào đấy Từ tình huống ấy bật lên nét bản chất trong tính cách nhân vật hoặc bộc lộ một tâm trạng
Trang 22Nhân vật truyện ngắn thể hiện những thăng trầm đổi thay của thời đại, được khám phá từ chiều sâu tâm lý Qua nhân vật ta thấy được một cách tương đối đầy đủ sự đa dạng và phức tạp của cuộc sống cũng như tâm tư tình cảm của con người
Như vậy, với những đặc trưng thể loại riêng truyện ngắn là một phương thức tự sự khá nhạy cảm, linh hoạt và năng động trong việc nắm bắt
và thể hiện vấn đề của con người trong cuộc sống Thông qua các nhân vật trong truyện ngắn, người đọc không chỉ hiểu rõ bộ mặt của xã hội đương thời, những chuyển biến của thời đại mà còn thấy được những vấn đề về thân phận con người
1.1.5 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn của Vũ Bằng
Theo M.Gorki “Văn học là nhân học” Văn học lấy con người làm đối
tượng phản ánh, nghiên cứu chủ yếu Với mục tiêu là khám phá và thể hiện con người, lịch sử văn học đã khám phá tất cả thế giới bên trong tâm hồn của con người và sự khám phá ấy là không có giới hạn Nhóm tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi…trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học
cho rằng: Để tái hiện cuộc sống con người, nhà văn phải hiểu cách họ giao tiếp với nhau, với thế giới và bản thân, phải hiểu cách họ sống, hành động,suy nghĩ, phải hiểu điều họ quan tâm và không quan tâm trong cuộc đời Tổng hợp những điều đó tạo thành cái mô hình nghệ thuật về thế giới và con người bao quát mà tác giả xuất phát để khắc họa hình tượng của những con người và
số phận cụ thể, tổ chức quan hệ của các nhân vật, giải quyết xung đột, xây
dựng kết cấu tác phẩm “Quan niệm nghệ thuật thể hiện cái giới hạn tối đa
trong cách hiểu thế giới và con người của một hệ thống nghệ thuật, thể hiện khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó”[27, tr.274]
Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩm văn học, nhưng biểu hiện tập trung trước hết ở nhân vật Nhân
Trang 23vật biểu hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định và các đặc điểm mà người đó lựa chọn Nhân vật văn học chính là mô hình về con người của tác giả Muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người phải xuất phát từ các biểu hiện của nhân vật, thông qua các yếu tố tạo nên nó
Quan niệm nghệ thuật về con người luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn của văn học Một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời cùng với quan niệm về con người mới Sự vận động của thực tế làm nảy sinh những con người mới và miêu tả những con người ấy sẽ làm cho văn học đổi mới Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người không chỉ là cơ sở để tìm hiểu nội dung tác phẩm hay bản chất của một kiểu nhân vật mà còn là căn cứ
để nghiên cứu sự phát triển, tiến hóa của văn học Đối với mỗi nhà văn, quan niệm nghệ thuật về con người sẽ ảnh hưởng tới tư tưởng sáng tác và phong cách nghệ thuật của họ, đặc biệt nó được thể hiện rất rõ trong các kiểu nhân vật mà họ miêu tả
Tìm hiểu truyện ngắn Vũ Bằng, ta nhận thấy một yếu tố quan trọng làm nên nét đặc sắc, diện mạo riêng của truyện ngắn Vũ Bằng đó chính là quan niệm nghệ thuật của ông về con người Có thể nói đây là yếu tố cốt lõi tạo cho truyện ngắn của Vũ Bằng có những điểm riêng biệt
Trong cuốn “Khảo về tiểu thuyết” Vũ Bằng không phân biệt giữa
tiểu thuyết với truyện vừa và truyện ngắn như quan niệm của chúng ta ngày nay Ông cho rằng: Một cuốn truyện muốn quyến rũ độc giả, muốn làm cho
họ chú ý vào nó thì không cần phải cho thần tiên, ma quỷ hay phù thủy vào trong đó, chỉ vẽ lại cái thực không nên quá độ thành ra không thực nữa, mà bây giờ việc cốt yếu của người viết là phải là làm thế nào bày tỏ cho độc giả thấy những cái mắt thấy hàng ngày và đem thêm một ít cho cái quan niệm về
Trang 24kiến văn, về “người” của họ Theo ông, những tác phẩm văn xuôi tự sự theo cách hư cấu nghệ thuật đều được gọi là tiểu thuyết, nên gọi những truyện gắn với chủ đề định trước là “truyện” chứ không là tiểu thuyết Tiểu thuyết chính là cái hàng ngày hiện lên trên trang giấy Đây chính là quan điểm thể loại về tiểu thuyết hiện đại đã có được vào những năm 1930- 1945, là một quan niệm mới mẻ và phù hợp với sự cách tân của tiểu thuyết đương thời ở nước ta cũng như thế giới Theo dõi sự vận động của tiểu thuyết (gồm cả truyện ngắn và truyện vừa) của Việt Nam từ những năm 1900 đến 1945 ta thấy có sự biến đổi rõ rệt Các nhà văn đã dần dần thể hiện được một thế giới nhân vật đa diện, phức tạp và sâu sắc hơn Các nhân vật hội tụ cả mặt tốt lẫn mặt xấu, có sự đan xen phức tạp giữa cử chỉ, hoạt động, ngôn ngữ với tâm lí, cảm giác, ám ảnh, vô thức
Xuất phát từ quan điểm thể loại của tiểu thuyết như đã nói trên, cho nên
Vũ Bằng cho rằng: Tiểu thuyết hiện đại luôn hướng tới những nhân vật của đời sống thường ngày một cách gần gũi, thân mật, thể hiện chúng một cách thân tình với một tâm thế thoải mái, bình đẳng, chân thực Ông rất coi trọng việc xây dựng nhân vật, ông đòi hỏi mỗi nhân vật phải là một biểu hiện nhất quán nội tại, chứ không thể biến nhân vật thành cái loa phát ngôn cho tư tưởng trực tiếp của tác giả hoặc gán cho nhân vật những biểu hiện trật khớp
Ông nói: “Không phải là tôi không tìm cách phô bày ý nghĩ của tôi qua những
nhân vật trong tiểu thuyết của tôi đâu, nhưng điều tôi muốn là những ý kiến
đó đều diễn đạt ra bởi những nhân vật phụ thuộc với đời của họ, mà những nhân vật chính sở dĩ nói điều này điều nọ là vì họ cần phải nói, bởi vì những điều đó hợp với tâm tình của họ, thành kiến của họ.” [4, tr.54]
Tìm hiểu các sáng tác của Vũ Bằng ta nhận thấy mỗi nhân vật là một chân dung của cuộc sống đời thường Thông qua những câu chuyện hàng ngày, rất tầm thường của đời sống con người nhà văn xây dựng chân dung
Trang 25những con người đơn giản, gần gũi, thân thiết, bình thường như cuộc sống
hàng ngày vậy Trong truyện Chàng Kim người Bắc, cô Kiều người Kinh ta
thấy nhân vật Hải và Trâm yêu nhau, mối tình của họ được hai bên gia đình ủng hộ Nhưng rồi một mâu thuẫn nhỏ giữa hai gia đình đã xảy ra, thế là đôi trẻ bị cấm đoán và họ phải chia tay nhau Họ dắt nhau ra bờ sông tâm sự, than khóc một hồi, rồi dắt tay nhau bước lên cầu, nhìn xuống dòng sông và…quay
lại, trở về nhà Truyện AT cũng có một cốt truyện hết sức đơn giản Một đôi
trai gái hẹn hò nhau, họ đứng trú mưa và tâm sự với nhau trong một con hẻm vắng Khi họ quyết định chuẩn bị ra về thì phát hiện một ngườiđàn ông lạ mặt
có vẻ bí ẩn cứ đi đi laị lại, quanh quẩn bên mình Họ hồi hộp, họ lo âu, họ phỏng đoán, họ run sợ Nhưng kì thực người đàn ông kia chẳng phải như tưởng tượng của họ, đơn giản chỉ là anh ta muốn… về nhà, mà đôi trai gái kia
lại đang đứng trước của nhà anh ta Truyện Một người rơi xuống hố kể về
một anh chàng say rượu, đi đêm về nhà và rơi xuống một cái hố Anh ta la lối
om sòm, kêu mọi người đến cứu Một ông thầy tu, một nhà chính khách, một nhà bác học … lần lượt đi qua và hứa sẽ tìm cách giúp anh Nhưng cuối cùng
ai cũng đi mất tăm, mất tích Anh say rượu còn lại một mình trong đêm tối với cái hố Anh suy nghĩ và cuối cùng quyết định leo lên mặt đất rồi đi thẳng
về nhà, vì cái hố không lấy gì làm sâu lắm
Mỗi nhân vật trong sáng tác của Vũ Bằng đều có một quá trình tâm lí phong phú, phức tạp: có hồi nhớ, có liên tưởng, có tự phân tích, có đấu tranh nội tâm, có đối thoại ngầm với độc giả vô hình Do đó mỗi nhân vật là một chân dung không bao giờ là dễ hiểu, dễ nắm bắt Nhà văn đã tránh được cái nhìn đơn giản về con người theo kiểu quy về các điểm mục rành mạch Đây chính là một sự nỗ lực đáng kính trọng của Vũ Bằng trong việc nhận thức và
mô tả về con người lúc bấy giờ Nhân vật Phú (Người chứng) chấp nhân lựa
chọn theo cái bản năng cầu an mà đã phản bội lại người bạn thân thiết
Trang 26Nhưng Phú cũng đã phải trải qua sự vật lộn trong cuộc đấu tranh tâm hồn và
sống trong sự day dứt, nhục nhã, ê chề vì quyết định ấy Nhân vật Tôi (Có
một người cũng biết cười) đã phải trải qua một quá trình đấu tranh tâm lý đầy
phức tạp khi quyết định hồi cư về thành mà trong lòng vẫn đau đáu nỗi nhớ
làng quê Nhân vật người cha (Một chục bạc, một trận đòn, một kiếp người)
sau khi đánh con đã hả được cơn giận, nhưng cái chết của đứa trẻ tội nghiệp mãi mãi trở thành nỗi ám ảnh đau đớn trong suốt cuộc đời còn lại của anh ta
Vũ Bằng nhìn con người với đầy đủ cái mạnh, cái yếu, cái bình thường
và cả các thói tật Với ông con người không phải là thánh nhân, không phải là siêu phàm dù người đó là bất cứ ai Hiểu điều đó, chúng ta hãy nhìn nhận thế giới nhân vật của ông một cách bình dị như con người ở ngoài cuộc sống Qua các truyện ngắn của Vũ Bằng, ta cảm nhận được con người bên cạnh những điểm tốt còn có điểm xấu, Ông suy nghĩ về con người, khám phá về “cái thiện, cái ác, cái cao thượng, cái nhục nhã, cái nhát hèn”, trong con người thông qua sự cảm nhận và từng trải trong cuộc đời của mình Với cách quan niệm về con người đời thường, Vũ Bằng đã tạo nên những bức tranh giản dị
về con người giữa cuộc sống đời thường Dưới ngòi bút của ông, con người hiện lên với đầy đủ cái tốt và xấu, thiện và ác…đan xen phức tạp Vợ chồng
con cái nhà ông Phán (Giai đoạn mới) là những người sống có trước có sau
nhưng cũng là những người dễ thay lòng đổi dạ trước hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống Khi tản cư về quê gia đình họ đã nhận được sự giúp đỡ vô tư đầy ân tình của bà Nhiêu Lương- một người đàn bà quê mùa, chân thật, tốt bụng Vì thế, lúc hồi cư về thành họ đã mời bà cùng đi như một cách để trả ơn
bà Họ vẫn bảo nhau và nhắc nhở con cái nhớ đến những ngày gian khó được
bà Nhiêu giúp đỡ để mà kính trọng và đối đãi tử tế với ân nhân Nhưng rồi họ lại mau chóng quên đi tình xưa, đối xử bạc bẽo với ân nhân, thậm chí còn tỏ
ra khinh người như cỏ rác Nhân vật Trần Văn Vũ (Đoàn kết và thân ái) là
Trang 27một chính khách, một chính trị gia có đầu óc và tư tưởng tiến bộ, cao siêu,
luôn tâm niệm đoàn kết và thân ái, nhưng đồng thời cũng là kẻ thủ đoạn và
hèn hạ Cách hành xử của anh ta hoàn toàn trái ngược với suy nghĩ và khẩu
hiệu mà anh ta vẫn hô hào Nhân vật ông Tý (Người làm mả vợ) vừa là con
người chung tình, ân nghĩa, rộng lượng, lại vừa là con người chứa đầy thù hận
trong lòng, để rồi phạm vào tội ác giết người Nhân vật Trưởng Kính (Mê
chữ) là người có một thú chơi thanh tao, đáng trân trọng nhưng cũng là người
đầy thủ đoạn Vì quá say mê bức chữ của Ba Vu mà Trưởng Kính đã không từ
thủ đoạn nào để đoạt bằng được bức chữ về cho mình
Tóm lại, với quan niệm nghệ thuật về con người Vũ Bằng đã tự tạo cho mình được một thế giới nhân vật riêng độc đáo Cái nhìn hiện thực của tác giả
về con người được mở ra nhiều chiều, toàn diện hơn Là nhà văn của đời thường cũng là một chiến sĩ tình báo đang sống giữa lòng địch ông hiểu rất rõ những mặt trái của xã hội trong thời kỳ loạn lạc, khó khăn, gian khổ và đầy phức tạp Bởi thế ông luôn quan tâm, băn khoăn, lo lắng và cảm thấy ám ảnh trước vấn đề nhân cách của con người Qua các nhân vật trong truyện ngắn
Vũ Bằng ta hiểu được con người hay nhân vật cũng là người như chúng ta, có một tấm lòng cao cả, nhưng lại có thể có những điều hèn kém, có một khối óc quang minh nhưng cũng có thể sa vào tội lỗi
1.2 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Vũ Bằng
Thế giới nhân vật là một tổng thể những hệ thống nhân vật được xây dựng theo quan niệm của nhà văn và chịu sự chi phối của tư tưởng tác giả Nó
có thể tồn tại trong một tác phẩm văn học, trong một sáng tác của nhà văn, trong một trào lưu hay một thời đại văn học Thế giới ấy có tổ chức riêng, sự sống riêng, phụ thuộc vào ý thức sáng tạo của người nghệ sĩ Có thể nói, trong lịch sử văn học, mỗi tác phẩm lớn và mỗi tác giả lớn đều có thế giới nhân vật riêng Do sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau, cho nên thế giới nhân vật
Trang 28trong sáng tác của mỗi nhà văn lại mang tính đặc thù riêng, thể hiện những quan niệm khác nhau của nhà văn về con người và cuộc đời Vũ Bằng là nhà văn rất chú trọng đến việc xây dựng nhân vật Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Vũ Bằng rất đa dạng, đông đảo, mỗi nhân vật là thể hiện sự suy ngẫm nào đó của Vũ Bằng về cuộc sống, con người trong đời thường
Khi nghiên cứu về thế giới nhân vật trong sáng tác của Vũ Bằng, căn
cứ vào cấu trúc hình tượng và thành phần xuất thân của nhân vật, căn cứ vào quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn, căn cứ vào vị trí xã hội của nhân vật, kế thừa tinh hoa của người đi trước, và thực tế khảo sát truyện ngắn của Vũ Bằng, chúng tôi nhận thấy trong thế giới nhân vật của Vũ Bằng có nhiều loại hình cơ bản như: Nhân vật người công chức và trí thức nghèo thành thị, nhân vật người nông dân và người lao động nghèo khổ, nhân vật quan chức và bọn tay sai…
Cũng giống như Nam Cao, Thạch Lam, Nguyên Hồng…nhân vật người trí thức nghèo xuất hiện nhiều trong sáng tác của Vũ Bằng từ những năm trước và sau Cách mạng Viết về họ, nhà văn thường theo lối tự truyện, theo sát diễn biến trong cuộc đời và xoáy sâu vào đời sống nội tâm nhân vật Tiêu
biểu cho lớp nhân vật này là những truyện ngắn như: Một người bưng mặt
khóc, Gặp nhau lại xa nhau, Ngày mai tôi sẽ chết, Giặt áo tết cho con, Đợi con, Người chứng, Truyện của một người cũng biết cười…
Kiểu nhân vật này trong sáng tác của Vũ Bằng xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau Có người xuất thân từ nông thôn, có người lớn lên ở thành thị, có người vốn là người công chức nghèo, hoặc là nhà văn, nhà báo, chính khách…Nhưng họ đều giống nhau ở một điểm là: Cuộc sống nhàm chán, nghèo khổ, tù túng, quẫn bách và tâm lí nhút nhát, hay dằn vặt, tự vấn Đó là
anh chàng thiếu niên Hải (Chàng Kim người Bắc, cô Kiều người Kinh), là anh chàng Hải (Gặp nhau lại xa nhau), chỉ vì hai bên gia đình có một mâu
Trang 29thuẫn rất nhỏ, hay vì một lí do không đâu mà anh chàng mang tên Hải chấp
nhận chia tay với người yêu trong khi mối tình giữa họ đang vô cùng đẹp đẽ Tâm lí nhút nhát, ngại va chạm, ngại đấu tranh đã khiến cho tình yêu của họ
tan vỡ Đó là nhà báo Trần Văn Hải (Một người bưng mặt khóc)… chỉ vì
một chuyện đùa ác của bạn bè mà cảm thấy bứt dứt không yên, thậm chí đau khổ muốn chết Dù đang ở độ tuổi trẻ trai, hay đã trải qua nhiều sóng gió của cuộc đời thì họ đều là những con người có ước mơ, có niềm tin, nhưng lại bị giam hãm trong vòng đời tù túng quanh quẩn, nhàm chán và đơn điệu Đó là những người mang trong mình một tâm hồn trong sáng, có những ước mơ cao đẹp, hoài bão lớn lao, và luôn mong muốn được thoát ra khỏi cuộc sống đói nghèo, lam lũ, tù túng, khao khát được phát triển nhân cách, đóng góp cho xã hội, được khẳng định cái tôi của mình trước cuộc đời, nhưng rồi cuộc sống nhiều nhiều gian khó và cái nghèo vây hãm cứ làm cho họ mất dần nhiệt tình,
mất dần đam mê và mất dần sức sống Nhân vật Tôi (Ngày mai tôi sẽ chết)…
đã từng mơ ước “Viết được một cuốn sách có thể gọi là một tác phẩm đánh
dấu đời tôi lại” [12, tr.46], viết được tác phẩm “hơn hêt cả một trăm cuốn sách tôi đã viết, có lẽ hơn cả những tác phẩm được hoan nghênh nhất bây giờ” [12, tr.52] Để thực hiện giấc mộng của mình, nhân vật Tôi đã cố gắng
không ngừng, cố gắng không biết mệt mỏi Nhưng rồi ốm đau, bệnh tật đã bóp nghẹt ước mơ ấy khiến nó chỉ còn là huyễn mộng mà thôi Chính vì thế con người ấy đã rơi vào bi kịch, đành phải kéo lê cuộc đời trong sự bất lực và buông xuôi Thậm chí không ít người còn bị tha hóa, biến chất, trở thành kẻ
ích kỉ, thô lỗ, phũ phàng chỉ vì cái nghèo của cuộc sống Nhân vật Việt (Giặt
áo Tết cho con) là người cha rất yêu thương con Nghĩ đến cảnh bảy đứa con
phải chịu khổ cực mà “Lòng Việt se lại như có một bàn tay nhỏ bé bóp chặt
lấy tim” [11, tr.494] Nhưng cuộc sống nghèo khó cứ vây bám lấy gia đình anh
khiến anh trở thành kẻ thô lỗ từ lúc nào không biết nữa Cũng có người vì hèn
Trang 30nhát mà trở thành kẻ bội bạc, xấu xa Nhân vật Trần Minh Phú (Người
chứng) nhân viên thư khí hạng nhì sở Khoáng Chất của chính phủ Việt Nam,
chỉ vì hèn nhát mà làm ngơ trước sự nguy hiểm của người bạn thân, để rồi
phải “âm thầm nhai cái sỉ nhục một mình như nhai kẹo cao su” [22, tr.285]
Viết về người trí thức, Vũ Bằng tỏ ra thấu hiểu hết những băn khoăn, day dứt và cảm thông với nỗi đau đớn đang dằn vặt tâm hồn họ Ông nhận ra rằng chính việc chăm lo đến miếng cơm, manh áo trong cuộc sống thường nhật tưởng như tủn mủn mà lại trở thành một gánh nặng đè lên tâm hồn những con người đáng thương ấy khiến họ không thể nghĩ được nhiều, không thể nghĩ được xa, cũng không thể thực hiện được những dự định tốt đẹp của mình Bởi thế họ sống thu mình lại, quẩn quanh trong cái ao đời tù túng, buồn
tẻ đang trôi chậm chạp kia Chính tâm lý buông xuôi, đôi khi là hèn nhát đã đẩy người trí thức trong sáng tác của Vũ Bằng nhiều khi mắc sai lầm, rơi vào
bi kịch đau đớn,hối hận, tự dằn vặt Vì sợ mất việc, sợ ngồi tù, sợ cuộc sống
bình yên của gia đình bị xáo trộn mà Trần Minh Phú (Người chứng) đã từ
chối người bạn thân thiết và đẩy bạn vào chỗ chết Từ đó trở đi, Phú sống
trong sự đau khổ, vật vã, bị dằn vặt trong tâm hồn Phú tự chửi mình là đồ
khốn nạn, thằng hèn Người đàn ông trong Truyện của một người cũng biết
cười luôn bị dằn vặt, ám ảnh bởi sự hèn nhát của mình khi “bỏ lại đằng sau
cái sống nguy hiểm và bất trắc” [22, tr.311] của thôn quê để về đô thành Nỗi
day dứt khi “rinh” đã khiến ông sống trong sự hối hận không nguôi và những áng văn ông viết ra lúc nào cũng thấm đẫm nỗi sầu khổ
Người trí thức trong truyện ngắn của Vũ Bằng thường có xu hướng e ngại, thu mình trước cuộc sống, vì thế họ chưa đủ dũng cảm để vượt qua hoặc thay đổi hoàn cảnh Đó cũng chính là những con người bị cuộc sống cơm áo và cái nghèo đeo bám, hành hạ, khiến họ không được sống như những gì vẫn nghĩ, vẫn mong muốn Cũng giống như những nhân vật trí
Trang 31thức trong sáng tác của Nam Cao, họ luôn phải vật lộn với cuộc sống nghèo khó Dù chưa phải sống tằn tiện, tính toán từng đồng xu nhỏ như Hộ (Đời thừa), San, Thứ (Sống mòn), Điền (Trăng sáng)…trong các sáng tác của Nam Cao, nhưng cái nghèo vẫn kìm chân họ trong vòng đời quẩn quanh, chật hẹp, không cho họ cơ hội thực hiện được những dự định lớn lao, tốt đẹp của cuộc đời Bởi thế, họ luôn tỏ ra đau đớn, day dứt, hay tự dằn vặt mình, đôi khi cảm thấy thất vọng về cuộc đời, thất vọng về bản thân và sụp đổ niềm tin trước cuộc sống Nhân vật trí thức trong truyện ngắn của Vũ Bằng cũng là những con người có đời sống nội tâm phong phú Họ là những con người vừa lạc quan, yêu đời, lại vừa bi quan, chán nản trước cuộc sống; vừa tin tưởng vào cuộc đời tươi đẹp lại vừa tiêu cực về thực tại mù xám tối tăm; vừa kiêu hãnh lại vừa tự ti trước cuộc đời Chính vì thế họ hay rơi vào trạng thái dằn vặt, tự vấn, giằng xé, day dứt trong tâm hồn Tâm lí ấy cũng khiến cho họ có cơ hội nhìn lại bản thân, nhận ra cái phần xấu xa, khiếm khuyết, chưa hoàn thiện của chính mình để sống tốt hơn Sự thể hiện ấy của Vũ Bằng giống như một cánh tay chắc khỏe để nhà văn giữ cho nhân vật người trí thức trong các truyện ngắn của ông đứng lại trên bờ vực của sự sa ngã Cho nên đọc truyện ngắn của Vũ Bằng chúng tôi nhận thấy người trí thức trong đó dù chưa hẳn minh mẫn nhưng cũng không phải là ngẩn ngơ, chưa hoàn toàn tốt đẹp nhưng cũng không phải quá xấu xa, sai lầm của họ dù đáng trách nhưng cũng đáng cảm thông Dù chưa thể hiện một thái độ phê phán gay gắt như Nam Cao khi kết tội xã hội và chưa có được cách khẳng định dứt khoát như Nam Cao trước cuộc đấu tranh âm thầm mà dai dẳng của người trí thức trước những cám dỗ của lối sống ích kỉ, vươn lên lẽ sống nhân đạo, nhưng Vũ Bằng đã cho người đọc thấy được thái độ phê phán xã hội khi đẩy con người đến chỗ đau khổ và sự đồng cảm, chân thành của mình tới cuộc sống đầy nhọc nhằn của người trí thức Viết về người trí thức và bi
Trang 32kịch trong cuộc đời của họ, Vũ Bằng cũng đề cập đến một vấn đề hết sức sâu sắc, đó là sự yếu mềm trong tâm hồn, tâm lí ngại thay đổi, mất niềm tin, buông xuôi trước cuộc đời và sự lựa chọn đường đi chưa phù hợp chính là nguyên nhân đẩy người trí thức vào tình thế khó khăn và những bi kịch
Nông thôn và hình ảnh người nông dân luôn là đề tài hấp dẫn trong văn học Việt Nam hiện đại Cày xới trên mảnh đất đầy tối tăm, ngột ngạt của xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam đầu thế kỉ XX nhiều nhà văn hiện thực xuất sắc đã gặt hái được những thành công lớn khi viết về người nông dân như: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Kim Lân… Trên trang viết của các nhà văn hình ảnh người nông dân hiện lên vô cùng sinh động, hấp dẫn Đó là những con người đói khổ, vì miếng ăn, vì sự sống mà họ đã phải chịu nhiều thiệt thòi, cay đắng Dù vậy họ vẫn cố gắng vươn lên giữ gìn những phẩm chất tốt đẹp vốn có của mình Chung một tấm lòng với các nhà văn kể trên, khi viết về người nông dân, Vũ Bằng cũng thể hiện một tấm lòng cảm thông sâu sắc với số phận đầy đau khổ của người nông dân qua truyện
ngắn của mình như: Giai đoạn mới, Bữa cỗ, Một tát ba răng, Mơ về một
cuộc chọi trâu, Ở đây bán sách cũ, Bát cơm…
Người nông dân trong truyện ngắn của Vũ Bằng không chỉ gắn chặt
với ruộng đồng thôn quê, mà họ còn là những người lao động nghèo có mặt ở khắp mọi nơi: vùng tản cư, vùng tạm chiếm, trôi dạt về thành thị, sống vô gia
cư… Dù cho cái nghèo, cái đói không đến nỗi ghê gớm như trong Vợ nhặt
của Kim Lân, không bám riết lấy họ như trong các truyện ngắn của Nam Cao, nhưng qua những chân dung rất thật và hết sức sinh động, Vũ Bằng đã cho người đọc nhận ra hình ảnh người nông dân trong xã hội hiện tại: đói nghèo
và rất đáng thương Chính cái đói đã đẩy người nông dân lâm vào cảnh cùng quẫn, khiến họ trở nên tiêu cực, mất lí trí, vũ phu Sống trong cảnh nghèo, mà
“…nhà ấy chỉ là một gian bếp nát, vôi lở tứ tung…” [22, tr.322], gia đình
Trang 33người nông dân trong Bữa cỗ quả là đã rơi vào thảm cảnh Không phải là
những người nông dân chân lấm tay bùn, họ là những người lao động nghèo
sống giữa thủ đô những năm sau Cách mạng Bên cạnh những bữa cỗ huy
hoàng sang trọng, là một bữa cỗ trung thu khá đặc biệt ở Thủ đô 1949– một
cảnh tượng đau lòng trong gia đình kẻ nghèo Vì nghèo đói mà người vợ ốm đau không thể tiếp tục vật lộn với cuộc sống đã chết trong cô đơn lạnh lẽo
Anh chồng trở thành kẻ vũ phu, ích kỉ, mất lí trí Trong truyện Giai đoạn mới
thì Vũ Bằng lại cho thấy người nông dân đã bị cái nghèo làm cho thay đổi, trở nên hèn nhát, đôi khi danh dự và nhân phẩm còn bị dày xéo lên một cách phũ phàng Bà Nhiêu Lương vốn là một người nhà quê nhân đức, hiền lành, tốt bụng, đáng được kính trọng Để có được một nơi yên thân, có được bát cơm trong lúc đói, bà dã theo ân nhân của mình là ông bà Phán về thành thị Từ đó
bà đã dần dần thay đổi Bà trở thành con ở không cho gia đình ông Phán Bà cúi đầu chấp nhận sự ban ơn, bố thí thậm chí cả sự nhục mạ của người đã từng được bà giúp đỡ, cưu mang Đọc một số truyện ngắn của Vũ Bằng ta cũng bắt gặp những thân phận thật tội nghiệp đáng thương Sau khi làng đã
“tề”, gia sản bị tàn phá nhẵn như chùi, đôi vợ chồng già trong truyện Một tát
ba răng vốn đã khổ lắm rồi Ấy vậy mà họ lại còn ủng oẳng quanh năm Cự
nự nhau từng đồng xu nhỏ, rồi họ đâm ra ghét nhau, vì ai cũng thấy người kia tằn tiện, bủn xỉn và ích kỉ quá Họ đâm thù vặt nhau Họ cũng vô cùng sợ hãi bọn tuần phiên khi chúng đến khám nhà Cuối cùng họ chẳng những không còn lại đồng xu dính túi mà còn bị bọn vô lại đánh cho một trận Viết về những con người như thế Vũ Bằng đã chỉ ra thói hư tật xấu của người nông dân, một phần do môi trường và hoàn cảnh sống, nhưng phần khác là do chính họ gây nên Đó cũng chính là nguyên nhân đẩy họ vào bi kịch
Trước Cách mạng, chị Dậu (Tắt đèn- Ngô Tất Tố) từng khổ vì sưu cao thuế nặng, anh Pha (Bước đường cùng- Nguyễn Công Hoan) khổ vì bị cướp
Trang 34đoạt ruông đất, Chí Phèo (Chí Phèo- Nam Cao) khổ vì bị đẩy vào con đường bần cùng hóa rồi bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính Trong Vợ nhặt của
Kim Lân ta bắt gặp từng đoàn người phải rời bỏ quê hương bản làng bồng bế, dắt díu nhau đi tránh đói, trở thành những kẻ lưu lạc, lang thang, vô gia cư, vất vưởng nơi đầu đường xó chợ Sau Cách mạng người nông dân trong sáng tác của Vũ Bằng không chỉ khổ sở vì nghèo đói, mà họ còn khổ vì chiến tranh Chiến tranh đã đẩy bao con người đáng thương trong đó có người nông dân rơi vào thảm cảnh Có gia đình phải li tán, mỗi người một nơi, mà tài sản
cứ càng ngày càng hao mòn khiến họ phải nghĩ đến việc bán đi những thứ vốn
được coi là kỉ vật (Ở đây bán sách cũ) Có người phải tằn tiện cả đời, cố cất
giấu chút ít của cải mong có chút vốn dưỡng già mà cuối cùng vẫn bị cướp
mất (Một tát ba răng) Lại có gia đình phải bỏ Thủ đô, sống ở nơi rừng thiêng nước độc mà cuối cùng vẫn phải xẻ đàn tan nghé (Bát cơm) Người sống thì
lay lắt, khổ sở như vậy Người chết cũng vô cùng đau đớn: “Có người chết mở
mắt, có người chết nghiến răng lại, có người chết mất cả chân tay và đầu”
[22, tr.300] Tất cả được vùi chung một nấm Nhưng cho dù phải chịu đựng bao nhiêu là đau đớn và bất hạnh nhưng những người nông dân ấy vẫn thể hiện những phẩm chất đáng quý của mình: Sống có tình nghĩa, giàu lòng tự
trọng (Người ông- Ở đây bán sách cũ), thủy chung, giàu lòng yêu thương con người (người phụ nữ- Bát cơm), mơ về một cuộc sống đầm ấm, yên vui (Khoát- Mơ về một cuộc chọi trâu)
Dù viết về người trí thức hay nông dân nghèo thì ngòi bút Vũ Bằng vẫn cho ta nhận thấy đó là những con người vừa đáng giận, vừa đáng thương nhưng cũng rất đáng cảm thông Cho dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào thì họ cũng vẫn cố vươn lên giữ lấy phẩm giá tốt đẹp của con người Đó cũng là chỗ đáng trân trọng ở họ Bên cạnh đó nhà văn cũng ngầm ý tố cáo xã hội, tố cáo chiến tranh đã đẩy con người vào con đường đau khổ
Trang 35Trong thế giới nhân vật của Vũ Bằng, bên cạnh những con người đau khổ, đầy bất hạnh và đáng thương, đáng cảm thông còn có một loại người khác đáng ghét, đáng lên án, đó là: bọn quan chức và tay sai Chúng là những
lí trưởng, quan lại, nha dịch, tuần phiên… trước và sau Cách mạng Bản chất của chúng là tham lam, độc ác, hám lợi, tham tiền, sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để thực hiện tham vọng của mình Đại diện cho tầng lớp tai to mặt lớn
trong xã hội phải kể đến ông lớn- nguyên giám đốc sở Bách phân (Một
chuyện tết bố nuôi), sẵn sàng hi sinh người đầy tớ thân cận, vượt qua nguy
hiểm của đạn bom để kiếm bằng được cây đào đẹp đi Tết bố nuôi mong được
bố nuôi nâng đỡ “Thế là- Mặc xác chiến tranh- Mặc xác hòa bình- Mặc xác
cách mệnh- Mặc xácđiều đình- Mặc xác hết- Mặc xác hết- Ông lớn- Nguyên giám đốc sở bách phân- Ông lớn- Nguyên quan to Hội đồng An dân- Ông lớn- Suýt làm bộ trưởng mấy lần- Ba mươi tết năm đó- Vẫn có- Một cây đào cụ- Để đem tết bố nuôi- Một cây đào to sù sụ- Hoa nở tung ra thế này này- Lá xanh rờn như thế này này- Và có cả rễ cái- Và có cả rễ con- Với bao nhiêu là
nụ – Để đem tết bố nuôi
Được một cây đào- Chết mất hơn năm mươi người- Thêm một người xe- Tù tội- Và Ba Thạn bị a-tê- (Chả biết Đầm Đùn, Mả Hùm hay Hồ Sói) - Với hai cán bộ sừng bị bắt đi- (Không chết thì cũng đến mọt gông vì tì) [8,
tr.260] Cũng giống như bọn buôn chánh khách, “Chả biết họ làm thế nào mà
bất cứ cái gì trong nhà ông Trệ, họ cũng biết rành rọt cứ y như là ma xó Anh thì đem kẹo đến cho con ông Trệ, có bà biếu bà Trệ một cái áo nhung xịn.”
(Truyện một lịch trình tranh đấu), Ông Hủ sẵn sàng bỏ cả một số tiền lớn
mà ông tiết kiệm cả đời để mong bạn quý mua danh, chạy chức giúp: “Nói
cho thực, ông Trần văn Hủ không biết rõ công việc xảy ra như thế nào À, kinh tế là tiền Được lắm, được lắm, ông còn một vạn ở trong nhà, ông cũng
về nhà bàn với vợ đem năm nghìn bạc đến quẳng vào trong lòng ông Trệ
Trang 36Ông tự thấy ông không phải là ông nữa Ông tưởng tượng mình là một tiểu Mác San, cầm chắc vận mệnh thế giới bằng năm mươi con bò đỏ.” [8, tr.249-
250] Huấn Tộ (Một cuộc đấu kiệu giết người), chỉ vì thua kiệu mà bán rẻ
linh hồn cho tội ác, vu oan các bạn văn nhân nho sĩ mong rửa nỗi cay cú vì thua kiệu Không chỉ tham tiền bạc, địa vị và độc ác, bọn quan chức ấy còn là những kẻ chỉ thích ăn không ngồi rồi, an nhàn hưởng lạc Ông bí thư Vũ Liên
Thanh (Con dấu hóa) là người thực sự “sáng suốt” khi nghĩ ra việc sử dụng
con dấu cao su để thực hiện công việc hàng ngày, công việc quan trọng của mình Sử dụng con dấu, ông nào phải nhọc công viết lách, thảo luận làm gì Chỉ cần ra chỉ thị và đóng dấu, thế là xong Con dấu sẽ thay ông đảm đương mọi việc và thực hiện cán cân công lý Ông chỉ việc ngồi trong phòng nghỉ ngơi và …ngủ, con dấu cao su và cấp dưới của ông sẽ hoàn thành nốt mọi thứ
Tầng lớp dưới có thể kể đến những tên lính tuần phiên phi nhân tính (Một tát ba răng) sau khi đánh ông già, bóp cổ bà già cướp lấy ba cái răng
vàng trong miệng bà, chúng cất cao giọng: “sống vào cái thời buổi này, không
gian ác không thể được….cần ác nữa Nhân đức thì rã họng”[11, tr.242]
Có một thế giới nội tâm sâu kín, luôn trăn trở, suy nghĩ, nhưng không giống với nhân vật trí thức và nông dân, nhân vật quan chức và tay sai trong truyện ngắn của Vũ Bằng luôn chất chứa trong đầu những tâm tư, toan tính về quyền lực và địa vị xã hội, làm sao để vơ vét tiền của cho đầy túi tham mà thôi Viết về loại người này nhà văn không dùng lối nói cay độc như Ngô Tất
Tố, cũng không quất thẳng vào mặt chúng như Vũ Trọng Phụng, ông chỉ nhẹ nhàng, dí dỏm mà vẫn lột tả được bản chất thật của kẻ ăn trên ngồi chốc, vô
trách nhiệm này: “Thì ở đây ta cũng hóa còn gì! Cao su thay thế hẳn người
một cách linh diệu vô cùng Thế là cao su hóa Cao su hóa thành ra con dấu
để giản tiện công việc, giúp cho người ta đỡ phải suy nghĩ, e có hại cho trí óc Thế là “con dấu hóa” Người ta hóa ra con dấu Tài nhất là ông “Vũ Liên
Trang 37Thanh bằng con dấu cao su” cũng chả kém gì “ông Vũ Liên Thanh thật, bằng xương bằng thịt” [11, tr.172]
Trong thế giới nhân vật của Vũ Bằng, nhân vật thường là những con người có thế giới nội tâm đa dạng, khó nắm bắt, rất gần với cuộc sống đời thường Nhờ thế, truyện của ông có khả năng bao quát hiện thực rộng lớn, gần với đời sống xã hội hơn Bởi thế nhân vật của Vũ Bằng luôn hiện lên vô cùng sống động trên các trang viết Dù viết về hạng người nào trong xã hội thì nhà văn cũng tìm thấy những biểu hiện hai mặt của một con người trong mỗi nhân vật Trong thế giới nhân vật vô cùng phong phú và đa dạng của Vũ Bằng, người đọc có thể nhận thấy những diễn biến tâm lí của con người trong cuộc sống thường nhật rất gần với đời thường, nhận ra cái ranh giới mong manh giữa thiện và ác, tốt và xấu, tích cực và tiêu cực trong mỗi con người Nỗi ám ảnh lớn nhất của nhà văn khi xây dựng nhân vật vẫn là nỗi ám ảnh về nhân
cách con người, nói như tác giả Hà Minh Châu là “Vấn đề nhân cách con
người được đặt ra xuất phát từ cảm xúc, từ tình cảm chân thực đối với con người của Vũ Bằng”.[14, tr.104] Với tài năng của mình, Vũ Bằng đã xây
dựng được một thế giới nhân vật vô cùng phong phú và đa dạng, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc Khắc họa thành công thế giới nhân vật
chính là một thành công lớn trong truyện ngắn của Vũ Bằng
Trang 38CHƯƠNG 2 CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VŨ BẰNG 2.1 Nhân vật mang vẻ đẹp nhân cách
Nhân vật mang vẻ đẹp nhân cách cũng là những nhân vật tích cực, là nhân vật mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp, có thể đại diện cho những giá trị tư tưởng, đạo đức thẩm mĩ mà nhà văn cùng thời đại nhân vật
đó hướng tới Các nhân vật này xuất hiện trong sáng tác của Vũ Bằng ngay
từ trước Cách mạng và xuyên suốt trong quá trình sáng tác của ông Trong sáng tác của Vũ Bằng, nếu như đời tư và vẻ đẹp của văn hóa dân tộc được thổ lộ, tái hiện trên thể loại ký, thì hiện thực đời sống hầu như lại được thể hiện ở thể loại truyện Vào đời, vào nghề với tất cả đam mê đến sục sôi, Vũ Bằng luôn tỏ ra day dứt trước thời cuộc và “nghiệp chướng” của mình, đó chính là sự biểu hiện của một nhà văn, nhà báo chân chính Một đời gắn bó với nghề, Vũ Bằng đã trải qua biết bao vinh- nhục, được- mất ở đời Tìm hiểu hành trình sáng tạo nghệ thuật của Vũ Bằng tác giả Hà Minh Châu nhận
ra nỗi ám ảnh lớn nhất của Vũ Bằng chính là “nỗi ám ảnh về nhân cách con
người” [14, tr.96] Trong mạch nguồn cảm xúc của nhà văn có lòng trân
trọng, thương quý con người, có sự khinh rẻ, trách móc đối với họ, và có cả nỗi buồn đau, bất lực của nhà văn Viết về phẩm giá con người, Vũ Bằng chú ý cả mặt tốt và mặt xấu Nhất là trong hoàn cảnh xã hội đầy biến động, lòng người rất dễ bị đổi thay theo thời cuộc, ngòi bút của nhà văn lại càng nhiều day dứt Bởi thế ông không ngừng tìm tòi và phát hiện những điều tốt đẹp ẩn giấu trong mỗi con người Những trăn trở đó ông gửi vào trong sáng tác của mình, thông qua các nhân vật
2.1.1 Con người say đắm với vẻ đẹp văn hóa cổ truyền, hoài niệm về cái đẹp
đã qua
Từ đầu thế kỉ XX, kể từ khi có cuộc tiếp xúc với nền văn hóa văn minh phương Tây, xã hội Việt Nam đã bị xáo trộn, thay đổi rất nhiều Trong quá
Trang 39trình tiếp xúc và biến đổi ấy một thứ văn minh xa lạ đang dần xâm lấn những nét đẹp của nền văn hóa dân tộc, khiến nó dần vắng bóng và ngày càng có nguy cơ bị mai một Vũ Bằng đã sớm nhận ra điều đó, ông đã lên tiếng phê phán thứ văn hóa phi truyền thống, phản nhân đạo đang ngày càng du nhập vào Việt Nam Yêu đất nước, có sự quan tâm đặc biệt đến nền văn hóa dân tộc, nhưng vì nhiệm vụ chính trị phải sống xa quê nhà, giữa không gian văn hóa Sài Gòn, hằng ngày phải tiếp xúc với những cái khác lạ, thậm chí ngược đời nơi đây, Vũ Bằng lại không thể nhập thân, cho nên ngòi bút của ông luôn
có xu hướng tìm về với cội nguồn như là tìm kiếm một nơi nương tựa cho tâm hồn Thế giới hoài niệm đã trở thành nguồn sống trong ông Và ông đã viết về
nó với tất cả tình yêu, nỗi nhớ không vơi cạn Trong nhiều trang viết người đọc bắt gặp Vũ Bằng thường tìm lại những vẻ đẹp văn hóa cổ truyền của dân
tộc với lòng yêu mến đắm đuối và thờ phụng [22, tr.57] Ngòi bút của ông
luôn đau đáu đi tìm những cái đẹp bị đánh mất, vời vợi tiếc nuối một nền văn
hóa cổ truyền đang có nguy cơ bị mai một “Do dị ứng với thứ văn minh xa lạ,
như một động hướng tự nhiên, nhà văn Vũ Bằng lại càng nỗ lực, càng say đắm tìm về với những vẻ dẹp văn hóa cổ truyền” [22, tr.57] Dường như ở đó
ông đã có sự gặp gỡ với Nguyễn Tuân trong đề tài Vang bóng một thời, để
cùng Nguyễn Tuân tôn vinh cái đẹp, tôn vinh nghệ thuật, tôn vinh văn hóa cổ
truyền của người Việt Trong Vang bóng một thời Nguyễn Tuân từng viết về
thú chơi tao nhã của lớp nhà nho cuối mùa, thất thế muốn lấy cái tài hoa hơn đời của mình để tách ra khỏi xã hội Tây Tàu nhố nhăng phàm tục, say sưa với những thú chơi tao nhã như: uống trà, chơi chữ, thả thơ, uống rượu Thạch lan hương…bằng cái nhìn thi vị hóa và tôn thờ nghệ thuật Còn Vũ Bằng lại đi sâu vào vẻ đẹp văn hóa dân tộc, chú trọng đến những biểu hiện mang giá trị tinh thần Ông viết về cái thú riêng của nhiều lớp người có sở thích cao quý
về tâm hồn, muốn lưu giữ lai niềm vui thanh cao, hồi tưởng về nét đẹp văn hóa truyền thống với thái độ trân trọng và ý thức vun đắp dựng xây.… Những
Trang 40truyện như: Mơ về một cuộc chọi trâu, Một cuộc đấu kiệu… giết người, Ăn
tết thủy tiên, Mê chữ … là những câu chuyện như vậy Thông qua tác phẩm
của mình, nhà văn đã ca ngợi vẻ đẹp của những con người say đắm với vẻ đẹp
văn hóa cổ truyền, mang niềm hoài niệm về cái đẹp của một thời đã qua
Ham mê Chọi trâu vốn là một thú vui truyền thống của người Việt
không chỉ ở thời xưa mà nó còn là một sinh hoạt văn hóa dân gian, phong tục làng quê cổ truyền ở nhiều vùng miền của nước ta Nó thể hiện sức sống và bản sắc dân tộc của làng xã Đó là những giá trị văn hóa nghìn đời do ông cha
ta giữ gìn qua bao biến cố lịch sử chống lại sự đồng hóa, hòa tan vào văn hóa
nước ngoài Truyện ngắn Mơ về một cuộc chọi trâu vừa viết về tục lệ chọi
trâu của xã Sơn Dương vừa nhằm khuyến khích dân làng chú trọng việc nuôi dưỡng, săn sóc giống trâu, vừa là một nét đẹp văn hóa của một vùng quê, thể hiện tâm lí hướng về cội nguồn, tự hào về dòng giống của mình Để có được con trâu chọi như ý đâu phải là chuyện dễ Cuộc chọi trâu vừa thể hiện danh
dự, vừa thể hiện tương lai và may rủi của mỗi gia đình, nên phải chọn trâu hết
sức cẩn thận “Trâu chọi cần ở cặp mắt, yếm cổ và bốn vế Mắt đỏ, cổ lùn,
yếm nạc, vó nai: đó là những đặc điểm của trâu hùng Loại trâu đó vừa khỏe, vừa dai sức, lại hiếu chiến.” [12, tr.25] Sau bao ngày lùng sục, lặn lội, cuối
cùng lái Quẫy cũng tìm được cho cha con Khóa Mạc một con trâu chọi ưng ý Nhưng để điều khiển trâu cho thuần thục mới là vấn đề khó khăn nhất Thế là người chủ đầu tiên của con trâu tham dự giải- anh Khoát, được mời đến giúp cho công việc huấn luyện Viết về phong tục chọi trâu Trâu, bên cạnh hình ảnh dân làng Sơn Dương, Vũ Bằng dựng lên hình ảnh của Khoát, một chàng
trai “lanh lẹn, khỏe mạnh và dễ thương” Là người “giỏi võ, giỏi vật và còn ăn
nhiều vụ đấu võ, đánh vật tại suốt vùng phủ Thiệu”, [12, tr.31], có nhiều mánh
lới trong việc huấn luyện trâu, Khoát lại “rất thạo nghề làm ruộng, cày khỏe
gấp hai những lực điền khác, tính nết khảng khái và “hùng” vào bậc nhất