1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Đặc điểm tên nhân vật trọng truyện ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

84 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phải đợi đến năm 1954, ngành nhân danh học ở nước ta mới thực sự hình thành qua bài viết Tên người Việt Nam của Nguyễn Bạt Tụy, trong đó tác giả liệt kê 308 họ và khảo cứu về cách đặt t

Trang 1

- -

ĐẶC ĐIỂM TÊN NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN

NAM CAO VÀ TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Nguyễn Văn Khang

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

HẢI PHÒNG, NĂM 2017

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự

hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Khang Các nội dung

nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình

thức nào trước đây Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét,

đánh giá của các tác giả khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách

Hải Phòng, ngày 08 tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn “Đặc điểm tên nhân vật trong truyện ngắn Nam

Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng ” tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Quản

lý Sau Đại học, Khoa Ngữ văn - Địa lý, giảng viên, cán bộ các phòng, ban

chức năng Trường Đại học Hải Phòng Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành

về sự giúp đỡ đó Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn

Khang – thầy giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho em hoàn thành luận

văn này Em xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động

viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và

hoàn thành luận văn

Hải Phòng, ngày 08 tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG v

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 9

1.1 Khái quát một số vấn đề lý thuyết về tên người 9

1.1.1 Khái quát về tên riêng nhân vật là một vấn đề độc đáo, đem lại sức hấp dẫn cho tác phẩm 9

1.1.2 Một số vấn đề về tên riêng người Việt 11

1.2 Nhân vật và tên nhân vật trong tác phẩm văn học 17

1.2.1 Khái quát về tên nhân vật trong tác phẩm văn học 17

1.2.2 Khái quát đặc điểm tên nhân vật trong tác phẩm văn học 19

1.3 Khái quát về tác giả - tác phẩm của nhà văn Nam Cao và nhà văn Vũ Trọng Phụng 20

1.3.1 Đôi nét về văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 20

1.3.2 Nhà văn Nam Cao và các tác phẩm của ông 24

1.3.3 Nhà văn Vũ Trọng Phụng và các tác phẩm của ông 28

1.4 Tiểu kết Chương 1 31

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CÁCH ĐẶT TÊN RIÊNG CÁC NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG 33

2.1 Danh sách tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng 33

2.1.1 Cách thức tiến hành 33

2.1.2 Thống kê cụ thể 34

2.1.2.1 Tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao 34

2.2 Đặc điểm về cấu tạo tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng 37

2.2.1 Các mô hình cấu tạo tên nhân vật 37

Trang 5

2.2.2 Các thành tố cấu tạo tên riêng 41

2.3 Đặc điểm về ý nghĩa của tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng 42

2.3.1 Phân loại tên nhân vật theo bản chất, tính cách, số phận của nhân vật 42 2.3.2 Phân loại tên nhân vật theo biệt hiệu, biệt danh 45

2.3.3 Phân loại tên riêng nhân vật theo đặc điểm nghề nghiệp, chức vụ 48

CHƯƠNG 3 CÁCH SỬ DỤNG TÊN NHÂN VẬT VÀ VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA TÊN NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO VÀ TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG 51

3.1 Việc sử dụng tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng 51

3.1.1 Việc sử dụng tên nhân vật để miêu tả nhân vật 51

3.1.2 Việc sử dụng tên nhân vật để gọi tên nhân vật 57

3.1.3 Việc sử dụng tên nhân vật để giao tiếp 59

3.2.Vai trò, ý nghĩa của tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng 62

3.2.1 Vai trò của tên nhân vật 62

3.2.2 Ý nghĩa của tên nhân vật 63

3.3 So sánh tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng 65

3.3.1 Những điểm giống nhau 65

3.3.2 Những điểm khác nhau 65

3.3.3 Hoàn cảnh sống riêng của Nam Cao và Vũ Trọng Phụng chi phối việc đặt tên nhân vật trong tác phẩm văn học 68

3.4 Tiểu kết Chương 3 70

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Cùng với địa danh, nhân danh (tên riêng) là một nội dung quan trọng của danh xưng học Tên riêng có rất nhiều loại, trong đó, tên người được xem là hệ thống tên gọi quan trọng nhất Bởi mỗi cá nhân tồn tại phải có một cái tên để phân biệt với các cá nhân khác trong xã hội Ngoài chức năng phân biệt cá nhân với cá nhân, nhiều cái tên khi nghe đến, chúng ta có thể phân biệt được nam hay nữ, điều đó cần thiết, quan trọng trong hành chính và giao tiếp Tuy nhiên con người là một thực thể gắn với xã hội, tên riêng của mỗi người không do chính cá nhân người đó lựa chọn mà bị chi phối lệ thuộc bởi rất nhiều yếu tố, trong đó chi phối lớn nhất là nhân tố ngôn ngữ - xã hội

1.2 Trong tác phẩm văn học nói chung, văn học tự sự nói riêng, nhân vật giữ vai trò then chốt, trung tâm Tác giả sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, một loại người nào đó, một vấn

đề nào đó của hiện thực cuộc sống Vì thế, một nhân vật văn học bao giờ cũng phải được tác giả gắn cho ít nhất một cái tên Tên nhân vật góp phần quan trọng vào việc thể hiện hình tượng nhân vật Tên riêng của nhân vật trong văn học không chỉ mang trong nó vai trò định danh, để gọi, xưng hô mà

ở đây, nhà văn sử dụng tên riêng cho nhân vật nhằm tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách, số phận của nhân vật Nghĩ ra một cái tên cho nhân vật là một công việc vừa vất vả, vừa thú vị của nghề văn Chẳng thế mà có những nhân vật cùng với tên gọi của họ

đã trở thành những hình tượng bất hủ trong văn học Nhà văn thường sử dụng tên nhân vật với mục đích nêu lên những vấn đề và những mâu thuẫn cơ bản trong tác phẩm và từ đó giải quyết vấn đề, bộc lộ tư tưởng và quan niệm thẩm

mĩ cũng như tài năng của nhà văn trong quá trình sáng tạo nghệ thuật Chính

vì thế, việc tìm hiểu bản chất ngôn ngữ học của lớp kí hiệu đặc biệt này trong tác phẩm tự sự không chỉ góp phần khẳng định vai trò vị trí quan trọng của ngôn ngữ trong quá trình hình thành tác phẩm mà còn giúp cho người đọc

Trang 8

thấy được tài năng phong cách của nhà văn thông qua việc đặt tên cho nhân vật trong tác phẩm

1.3 Nam Cao (1917 - 1951) là một trong những đại biểu xuất sắc của

trào lưu văn học hiện thực phê phán ở nước ta từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 đồng thời cũng là một trong số những cây bút văn xuôi lớn nhất của Việt Nam thế kỉ XX Sáng tác của ông thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa Ngữ Văn, bao gồm cả lịch sử văn học, lí luận văn học, ngôn ngữ học,

Vũ Trọng Phụng cũng là cây bút nổi bật hàng đầu trong nền văn xuôi trước Cách mạng, một hiện tượng phức tạp nhất trong lịch sử văn học Việt Nam từ trước đến nay Người ta bảo rằng Vũ Trọng Phụng như một trong những ánh sao băng trên bầu trời văn học, vụt đến rồi vụt đi

Hiện nay đã có nhiều luận văn, luận án, nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về tác phẩm của hai nhà văn Nam Cao và Vũ Trọng Phụng trên nhiều bình diện khác nhau Tiếp nối thành công của những người đi trước, chúng tôi xin đi sâu nghiên cứu về truyện ngắn và tiểu thuyết Vũ Trọng

Phụng ở một khía cạnh mới với đề tài: Đặc điểm tên nhân vật trong truyện

ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

2 Lịch sử vấn đề

Khi mà lịch sử khoa học xã hội chưa có sự phân biệt giữa cái chung và cái riêng thì bản chất của tên riêng trong sự phân biệt với tên chung chưa được giải quyết một cách thấu đáo trên cơ sở nghiên cứu khoa học Phải chờ đến khi một ngành khoa học chuyên nghiên cứu tên riêng ra đời thì khi đó nhiều vấn đề liên quan đến tên riêng được làm sáng tỏ

1) Vấn đề nghiên cứu tên riêng chỉ người trên thế giới đã có lịch sử từ thế kỷ XVII qua những bộ sưu tập tên người của Mabillon (1651) và những người kế tục có thể kể đến là E Salverte (1824), P Chapuy (1934) Cuốn từ điển tên người đầu tiên trên thế giới cũng thuộc về giới ngôn ngữ học Pháp,

chính là cuốn Dictionnaire des noms, surnoms et pseudonymes latins du moyen

Trang 9

âge của A Franklin (1875) Tiếp sau đó là 3 công trình của Albert Dauzat

mang tên Les noms de personnes, origine et évolution, Les noms de famille de

France và Dictionnaire estimologique des noms de famille et prénoms de France, ghi những dấu mốc quan trọng cho ngành nhân danh học ở Pháp Ở

Anh, Đức, Bỉ cũng có những công trình nhân danh học xuất hiện từ trước thế

kỷ XX gắn với tên tuổi các học giả như Lower (1875, Anh), Guppy (1890, Anh), Angermann (1868, Đức), Bechtel (1898), Van Hoorebeke (Bỉ, 1876) Năm 1949, Trung Quốc xuất bản cuốn Trung Quốc nhân danh đại từ điển

Ở Việt Nam từ cuối thế kỷ XVIII đã có các loại sách ghi tên những bề

tôi nổi tiếng, gọi là Danh thần lục, sách ghi những người đỗ tiến sĩ, gọi là Đăng

khoa lục, trong đó tiêu biểu là các cuốn Đại Việt lịch triều đăng khoa lục

(1779) của Nguyễn Hoản, Quốc triều đăng khoa lục (1894) của Cao Xuân Dục

Từ năm 1945 có thêm hàng chục cuốn từ điển danh nhân Việt Nam

được xuất bản trong đó nổi bật nhất có thể kể đến các cuốn Việt Nam danh

nhân tự điển (1967) của Nguyễn Huyền Anh, Lược truyện các tác giả ViệtNam (1971 - 1972) do Trần Văn Giáp chủ biên, Sơ thảo tự điển biệt hiệu Việt Nam (1975) của Nhật Thịnh, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (1992)

của Nguyễn Q Thắng và Nguyễn Bá Thế

Tuy nhiên, tất cả những tác phẩm kể trên chỉ là công trình sưu tập, chưa phải công trình nghiên cứu Phải đợi đến năm 1954, ngành nhân danh học ở

nước ta mới thực sự hình thành qua bài viết Tên người Việt Nam của Nguyễn

Bạt Tụy, trong đó tác giả liệt kê 308 họ và khảo cứu về cách đặt tên đệm, tên

chính Năm 1961, Trịnh Huy Tiến công bố bài Các loại nhân danh Việt Nam,

miêu tả 15 loại danh hiệu và tên chính, không bàn tới họ và tên đệm

Tên riêng của người Việt là vấn đề được một số nhà khoa học nghiên cứu ngay từ năm 1967 đã có ý kiến đề xuất về “Sự cần thiết của khoa nhân danh học ở Việt Nam của ( Hồ Hữu Tường- 1967) song cũng từ đó đến nay vấn đề nghiên cứu nhân danh vẫn chưa thực sự khởi sắc để tạo tiền đề cho sự

ra đời của môn khoa học này

Trang 10

2) Theo thống kê từ năm 1975 đến nay tiếp tục có các bài viết đáng chú ý sau:

- Vài nét về tên riêng người Việt – Nguyễn Kim Thản, Tạp chí Dân tộc

học, số 4/1975

- Về lịch sử, hiện tại và tương lai của tên riêng trong người Việt – Trần

Ngọc Thêm, Tạp chí Dân tộc học, năm 1976

- Về tên riêng – Hoàng Tuệ, báo Nhân Dân, 1983

- Cách đặt tên chính của người Việt – Lê Trung Hoa, trong Tiếng Việt

và các ngôn ngữ dân tộc phía Nam, 1992

- Về ý nghĩa của tên riêng – Phạm Tất Thắng , Kỉ yếu Hội nghị KH

“Tiếng Việt và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, Hà Nội, 1998

- Về số phận của các họ ghép và họ kép của người Việt – Phạm Hoàng

Gia, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, 1999

- Việc chọn chữ lót cố định cho dòng họ có từ bao giờ - Phạm Thuận

- Về vị trí tên riêng trong hệ thống từ loại tiếng Việt – Phạm Tất Thắng,

Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 6/2011

Về công trình và các luận án, luận văn, tác phẩm có tính hệ thống đầu

tiên được xuất bản phải kể đến là cuốn Họ và tên người Việt Nam của Lê

Trung Hoa [17] Tác giả đã đưa cái nhìn toàn diện về lịch sử, chức năng, về nguyên tắc đặt tên và quy tắc viết hoa tên người Quan trọng hơn, tác giả đã

đề cập đến yếu tố trong tên gọi người Việt như: tên họ, tên đệm, tên chính và các nhóm danh hiệu

Trang 11

Tiếp đến là luận án phó tiến sĩ Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người

(chính danh) trong tiếng Việt [29]của Phạm Tất Thắng Luận án được xem là

công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về tên người trên quan điểm ngôn ngữ học Trong luận án, tác giả khẳng định tên người là một tổ hợp định danh có cấu tạo, có chức năng và có ý nghĩa riêng Đặc biệt, Phạm Tất Thắng

đã mở ra một hướng nghiên cứu mới về tên người Việt là hướng nghiên cứu dựa trên quan điểm của ngôn ngữ học xã hội Theo hướng nghiên cứu này, đến nay đã có thêm một số luận văn thạc sĩ lấy tên người làm đối tượng nghiên cứu trong đó đáng chú ý là luận văn của Vũ Thị Kim Hoa với đề tài

Những đặc trưng xã hội - ngôn ngữ học của tên riêng chỉ người trong tiếng Việt [19] Luận văn đã bước đầu miêu tả được một số đặc trưng về mặt xã hội

học của tên người Việt Nam thông qua sự phân tầng xã hội về mặt giới tính

và thành phần giai cấp trong xã hội Trong phần kết luận tác giả có viết:

“Thậm chí ngay trên bình diện xã hội của đối tượng nghiên cứu vẫn còn những lĩnh vực khác vẫn chưa được khảo sát chẳng hạn như vấn đề về tên gọi

và tôn giáo, tên gọi và lứa tuổi, tên gọi và truyền thống, tên gọi và văn hoá…” [19; tr.99]

3) Một số luận văn về tên riêng khác nữa có thể kể đến: Đặc điểm cấu

trúc ngữ nghĩa của tên (chính danh) người Nhật (có đối chiếu với tên người Việt) của Vương Đình Hòa (2005), Đặc điểm cấu tạo của tên gọi thần linh đất Việt của Nguyễn Phượng Anh (2007), Khảo sát tên chính danh người Việt xuất hiện từ năm 2000 đến nay tại Thanh Hóa của Lê Thị Bích Phượng (2008), v.v

Tính đến thời điểm hiện nay số lượng các công trình nghiên cứu về tên riêng khá phong phú Tuy nhiên đại đa số các công trình chỉ tập trung vào mảng khảo sát, miêu tả đặc trưng ngoài ngôn ngữ học của lớp ký hiệu tên riêng nhìn từ bình diện lịch sử học, dân tộc học Đánh giá một cách khách quan, công bằng thì lĩnh vực này chưa được quan tâm, chưa được nghiên cứu xứng tầm so với vai trò quan trọng của nó trong hệ thống ngôn ngữ Việt cũng như trong đời sống xã hội của người Việt

Trang 12

Chính vì việc nghiên cứu tên riêng chưa được các nhà ngôn ngữ và những người quan tâm chú ý cho nên việc tìm hiểu đặc điểm tên nhân vật trong văn học là một vấn đề mới, một đề tài bỏ ngỏ, có thể thấy đây là công việc rất khó khăn đòi hỏi người nghiên cứu phải rất tâm huyết đầu tư thời gian, công sức, trí tuệ, mặc dù đây là đề tài hay, thú vị, góp phần không nhỏ vào việc tìm hiểu tác phẩm văn học Nhưng cho đến nay việc nghiên cứu tên

văn học 1930 – 1945 Đến thời điểm hiện nay, đã có không ít bài báo, công trình khoa học nghiên cứu về cuộc đời, con người và sáng tác của hai nhà văn Tuy nhiên phần lớn các công trình này tìm hiểu đề tài, chủ đề, cách xây dựng nhân vật hoặc ngôn từ trong sáng tác của hai nhà văn chứ chưa thực sự quan tâm, chú ý đến hình thức xây dựng tên nhân vật (tên nhân vật) của họ

Cho nên, tác giả luận văn lựa chọn nghiên cứu đặc điểm tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng Kết quả nghiên cứu thiết nghĩ không chỉ góp phần làm sâu sắc hơn mối quan hệ máu thịt giữa ngôn ngữ với văn học, mà còn làm sáng tỏ hơn nữa sự kì diệu của ngôn ngữ

và văn học Bắt đầu từ việc đặt tên khai sinh cho những đứa con tinh thần của nhà văn trong mỗi tác phẩm Thông qua việc đặt tên cho nhân vật mà người đọc phần nào hình dung được thế giới nhân vật của tác phẩm, nắm bắt được bút pháp và phong cách của nhà văn, góp phần thiết thực hơn nữa vào việc giảng dạy ngôn ngữ qua tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài: Đặc điểm tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao

và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng chúng tôi muốn hướng đến:

+ Khẳng định nhân vật có vai trò đặc biệt quan trọng trong tác phẩm văn học Tên gọi của nhân vật cũng là một khía cạnh nghệ thuật cần được quan tâm, nghiên cứu

Trang 13

+ Đánh giá khách quan về những đóng góp của Nam Cao và Vũ Trọng Phụng, trước hết là về thế giới nhân vật, cách đặt tên nhân vật - nơi thể hiện cái nhìn của tác giả về con người cũng như cuộc đời Từ đó chúng tôi góp tiếng nói khẳng định tài năng và vị trí của hai tác giả trong nền văn học Việt Nam hiện đại nói riêng, văn học dân tộc nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện nhiệm vụ như sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu tên riêng nói chung và tên nhân vật trong tác phẩm văn học nói riêng

- Xây dựng cơ sở lí luận liên quan đến đề tài luận văn

- Khảo sát cách đặt tên cho các nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao và tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng

- Khảo sát cách sử dụng tên nhân vật và vai trò của tên nhân vật truyện ngắn của Nam Cao và tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiếp cận đối tượng nghiên cứu, luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu sau đây:

1) Phương pháp phân tích: để diễn giải các vấn đề thuộc phạm vi lý

thuyết về định danh, lí thuyết đặc điểm của tên riêng

2) Phương pháp miêu tả: nhằm cụ thể hóa nội dung, ý nghĩa, khái quát

giá trị biểu trưng của đặc điểm ngôn ngữ tên nhân vật trong văn học

3) Các thủ pháp khảo sát, thống kê, phân loại: áp dụng cho việc khảo

sát tên nhân vật trong các tác phẩm truyện ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng Tiếp đến là thống kê phân loại tên nhân vật theo các đặc tính đã qui định

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ

Trọng Phụng

Trang 14

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi tập trung tìm hiểu đặc

điểm tên nhân vật trong 11 truyện ngắn: Nghèo, Chí Phèo, Dì Hảo, Ở hiền,

Tư cách mõ, Đời thừa, Quên điều độ, Lão Hạc, Lang Rận, Điếu Văn, Mò Sâm panh của nhà văn Nam Cao và tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê của

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận liên quan đến luận văn

Chương 2 Đặc điểm cách đặt tên cho các nhân vật trong truyện ngắn

Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

Chương 3 Cách sử dụng tên nhân vật và vai trò, ý nghĩa của tên nhân

vật trong truyện ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

1.1 Khái quát một số vấn đề lí thuyết về tên người

1.1.1 Khái quát về tên riêng

Trong các loại tên riêng, tên riêng chỉ người là đối tượng quan trọng nhất Vì nó có chức năng gọi tên riêng biệt của con người cụ thể trong hoạt động giao tiếp Đồng thời nó là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, như: ngôn ngữ học, dân tộc học, văn hóa học, lịch sử học và xã hội học Mỗi cộng đồng dân tộc trong một quốc gia, hay các quốc gia trên thế giới đều

có hệ thống ngôn ngữ riêng và có những đặc điểm văn hóa độc đáo khi đặt tên cho con người Nghiên cứu về tên riêng nhân vật là một vấn đề độc đáo, đem lại sức hấp dẫn cho tác phẩm

- Tên người thông thường (bao gồm cả họ, tên đệm và tên cá nhân hoặc

có các thành tố khác, như : tên hiệu, tên tự, bút danh…) Ví dụ : tên người

Việt: Trần Phú, Nguyễn Đình Chiểu, Hữu Thỉnh, Tố Như, … tên nước ngoài phiên âm qua tiếng Việt: Đỗ Phủ, Lỗ Tấn, Valađimia I Lích Lê Nin, …

- Tên gọi vua chúa, quan lại, trí thức phong kiến được cấu tạo theo kiểu

danh từ chung (đế, vương, tông, tổ, hầu, tử, phu tử…) kết hợp với các danh từ

riêng Ví dụ : Hưng Đạo Vương, Mai Hắc Đế, La Sơn Phu Tử, …

- Tên người cấu tạo bằng cách kết hợp các bộ phận vốn là danh từ

chung (ông, bà, thánh, nghè, cử, tú, đồ, đề, đội…) với bộ phận tên gọi cụ thể

Ví dụ : Ông Gióng, Tú Xương, Đồ Chiểu, …

- Tên các nhân vật trong các tác phẩm văn học Ví dụ : Chí Phèo, Lang Rận, Xuân Tóc Đỏ, Tràng, Mị, A Phủ …

- Tên dân gian thường gọi hoặc suy tôn đối với một nhân vật nổi tiếng

Ví dụ : Bà Huyện Thanh Quan, Bà Chúa Thơ Nôm,

tên có thể mang một ý nghĩa riêng của nó Cho nên, việc đặt tên cho con rất quan trọng, trở thành một nét văn hóa của người Việt Xã hội ngày càng phát

Trang 16

triển việc đặt tên cho con càng được người Việt quan tâm chú trọng Tên gọi không chỉ để xưng danh mà tên gọi là một trong những yếu tố phản ánh rõ nét dấu hiệu của văn hóa gia đình Nó liên quan đến truyền thống gia đình, nếp sống gia đình, tín ngưỡng, ước mơ, quan niệm giáo dục và học vấn của cha mẹ

Một người có thể có nhiều tên Việt Nam thời Trung đại, ngoài tên tục hay húy do cha mẹ đặt tên bộ (tên ghi vào sổ bộ đinh hàng giáp) [46; tr.227], tên tự, tên hiệu, tên thụy… Ngày nay thì có tên chính trong giấy khai sinh, ngoài ra còn có tên thường gọi, biệt danh, bút danh… Chẳng hạn : Nhà thơ

Tản Đà – tên khai sinh Nguyễn Khắc Hiếu, bút danh Tản Đà gắn liền với núi

Tản, sông Đà, hai địa danh của quê hương nhà thơ Nhà văn Tô Hoài – tên khai sinh là Nguyễn Sen, bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô

Lịch và phủ Hoài Đức

Tên Tự là tên đặt cho người con trai, khi người đó đã đủ mười năm tuổi,

có thể do cha mẹ đặt hay bản thân đương sự đặt ra bằng cách chiết tự từ tên

chính (tên Húy) Tên Tự bao giờ cũng có hai chữ bằng chữ Hán Ý nghĩa của

tên tự do ý nghĩa của tên chính mà có Và tên này thường chỉ có những người

có học hoặc gia đình khá giả đặt Ví dụ: Nguyễn Thanh Minh, tự Thanh Quang Quang là ánh sáng, Thanh Quang là ánh sáng trong lành được đặt làm tên tự, do tên Minh theo Hán ngữ có nghĩa là sáng sủa do chữ nhật (mặt trời)

và chữ nguyệt (mặt trăng) hợp thành

Tên Hiệu: là tên vốn để gọi chỗ ở, nhà ở, nơi đọc sách, viết văn và đôi

khi là để thể hiện tâm chí của cá nhân Ví dụ: Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai Nguyễn Du hiệu là Thanh Hiên, Cao bá Quát, hiệu Cúc Đường Lê Quý Đôn hiệu Quế Đường, …

Tên Thụy: Là tên dùng sau khi qua đời (ngày nay không còn dùng loại

tên này) Tên hèm thường là do dân đặt, được tự chọn khi tuổi về già và để khi qua đời dùng để cúng giỗ và thờ phụng

Tên thường gọi: có thể là tên chính, cũng có thể là một tên khác mà

người trong gia đình và xã hội gọi hàng ngày

Trang 17

Ngoài ra, ngày nay chúng ta còn có thêm nhiều loại tên khác như: biệt danh, bí danh, bút danh, bút hiệu (danh hiệu của nghững người cầm bút: nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu… Ví dụ Vũ Trọng Phụng có bút danh Thiên Hư, Nguyễn Kim Thành bút danh là Tố Hữu), nghệ danh (danh hiệu của các diễn viên sân khấu, điện ảnh, ca sĩ, nhạc công…), pháp danh (tên đạo…)

1.1.2 Một số vấn đề về tên riêng người Việt

1.1.2.1 Cấu tạo của tên riêng người Việt

Trong hệ thống từ vựng của tiếng Việt cũng như từ và các đơn vị tương đương với từ, tên người Việt cũng được xem là một đơn vị định danh Chức năng của chúng dùng để gọi tên người Trong số các kiểu tên gọi người, tên chính danh của người Việt là một loại tên gọi có cấu trúc phức hợp dưới hình thức một nhóm hay một tổ hợp các yếu tố có cấu trúc và chức năng khác nhau

Theo Phạm Tất Thắng [45; tr.80], Tên riêng (tên chính danh) người Việt được tạo thành từ ba yếu tố có cấu trúc và chức năng riêng Đó là yếu tố

Họ, yếu tố Đệm và yếu tố Tên cá nhân Đây là những đơn vị định danh biệt lập hoặc có giá trị biệt lập Trong bài nghiên cứu này, Phạm Tất Thắng đã đưa

ra mô hình cấu trúc tổng quát của tất cả các trường hợp định danh người Việt:

Họ - Đệm - Tên cá nhân

- Danh tố Họ: Danh tố Họ (còn gọi là tên Họ) luôn đứng ở vị trí đầu

tiên trong cấu trúc của tổ hợp Như vậy nếu so sánh vị trí của tên họ người Việt với vị trí của tên họ trong tên gọi của các dân tộc khác trên thế giới, thì tên họ của người Việt đứng ở vịt trí thứ nhất Trong khi đó vị trí của tên họ trong tên gọi của một vài dân tộc ở châu Âu lại đứng ở vị trí cuối cùng trong cấu trúc tên Chẳng hạn như trong tên gọi của một người Anh là John E

Smith thì Smith là tên họ, …

Chức năng cơ bản của danh tố họ là dùng để gọi tên họ (hay dòng họ)

của đối tượng được mang tên

Trang 18

Họ là một tập hợp người có mối quan hệ với nhau về huyết thống Họ

còn là một tập hợp những người có quan hệ với nhau theo trật tự, tôn ti Do vậy, nói đến họ là nói đến tên riêng của cả một nhóm người

Tên họ của người Việt có cả cấu trúc đơn và kép Cụ thể như sau:

+ Tên họ đơn: là các tên họ chỉ tồn tại dưới hình thức đơn âm tiết

(tiếng, chữ), tức họ đơn chỉ gồm một thành tố Trước đây và hiện nay, tên họ đơn thường được xem là hình thức tên gọi cơ bản và chủ yếu đối với tên họ của người Việt Tuy nhiên, cho đến nay người ta vẫn chưa xác định được một cách chính xác số lượng các tên họ đơn của người Việt là bao nhiêu Các số liệu mà chúng ta biết đến chỉ là con số phỏng đoán

+ Tên họ kép: là một tổ hợp đa âm tiết (thường là hai) dùng để gọi tên một dòng họ duy nhất và xác định Ví dụ: Tôn Thất, Tôn Nữ, Nguyễn Hữu,

Hoàng Phủ, … Nếu xét về mặt nguồn gốc, theo Nguyễn Kim Thản, người

Kinh không có tên họ kép kiểu Âu Dương, Gia Cát, Tư Mã, … như tên họ kép

của người Trung Quốc Có thể các tên họ kép của người Kinh được hình thành sau những tên họ đơn có sẵn

- Danh tố Đệm: Trong hệ thống tên riêng chỉ người, tên đệm cũng

được xem là một đơn vị định danh dùng để gọi tên đệm của một người Khi tham gia vào việc hình thành tên chính danh, tên đệm luôn đứng sau tên họ và trước tên cá nhân Chức năng chủ yếu của chúng là dùng để phân biệt giới tính Ngoài ra tên đệm còn tham gia vào việc thể hiện chức năng xã hội và chức năng thẩm mĩ

Tên đệm thường xuất hiện dưới những hình thức sau:

+ Tên đệm Zero là hình thức tên đệm không hiện diện trong tên gọi (còn gọi là trường hợp không có tên đệm) Chức năng chủ yếu của tên đệm

Zero là dùng để gọi tên đệm của nam Ví dụ: Phạm Hổ, Nguyễn Lân,

Nguyễn Khải…

trong các tên gọi của người Việt Chức năng chủ yếu của hai tên đệm này là

Trang 19

dùng để phân biệt giới tính: Văn dùng trong tên của Nam và Thị dùng trong

tên của nữ

+ Các hình thức tên đệm khác Văn và Thị thường được biểu hiện dưới

nhiều hình thức phong phú, đa dạng và với số lượng không xác định Tuy nhiên để phân biệt giới tính các hình thức tên đệm này thường được tập hợp thành từng nhóm Chẳng hạn, để gọi tên đối tượng nam, bên cạnh tên đệm

Văn còn có nhiều hình thức tên đệm khác như: Công, Duy, Đức, …

- Danh tố Tên cá nhân: danh tố tên cá nhân thường được gọi là Tên,

Tên riêng, Tên chính Trong toàn bộ cấu trúc của tên chính danh người Việt,

gánh nặng khu biệt cho tính cá thể đơn nhất của đối tượng chủ yếu rơi vào danh tố Tên cá nhân Do đó, so với các danh tố tên họ và tên đệm, tên cá nhân giữ vị trí chủ đạo và quan trọng nhất Chính vì thế, trong các hoạt động giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp hội thoại, Tên cá nhân thường được tách ra và sử dụng một cách độc lập và có thể thay thế cho toàn bộ cấu trúc của tên gọi

Về cấu tạo, tên cá nhân có hình thức đơn âm tiết là chủ yếu (còn gọi là tên đơn) Cấu trúc này phù hợp với đặc điểm tiếng Việt và thói quen truyền thống trong cách đặt tên và gọi tên một âm tiết (tiếng, chữ) của người Việt Hiện nay, với thị hiếu thẩm mĩ người Việt đang ưu chuộng cách đặt tên cá nhân có cấu trúc phức hợp hơn (gọi là tên kép)

+ Tên đơn: là tên gọi chỉ có cấu tạo đơn âm tiết (tiếng, chữ), chỉ gồm một thành tố Ví dụ: Dũng trong Phạm Văn Dũng, Hùng trong Phạm Hùng,

… So với tên kép thì hình thức tên đơn chiếm ưu thế hơn hẳn, là hình thức đặt tên truyền thống của người Việt Đồng thời ngoài chức năng phân biệt tính cá thể, đơn nhất của đối tượng được gọi tên, các hình thức tên đơn còn có khả năng khu biệt giới tính, mặc dù đó không phải là chức năng chủ yếu của tên

cá nhân

+ Tên kép: là tên cá nhân có cấu tạo phức hợp gồm hai đến hơn hai

thành tố kết hợp chặt chẽ với nhau tạo thành một kết cấu vững chắc để chỉ

một ý nghĩa nhất định Ví dụ: Hòa Bình trong Trần Hòa Bình, … Sự xuất hiện

Trang 20

của tên kép trong tên gọi người Việt có thể khắc phục được hiện tượng đồng

âm trong các tên đơn và chủ yếu là đáp ứng được nhu cầu thẩm mĩ trong cách đặt tên của người Việt

Tóm lại, trong cấu trúc tên chính danh của người Việt, tên cá nhân luôn đứng ở vị trí cuối cùng sau vị trí của tên đệm

1.1.2.2 Ý nghĩa của tên riêng người Việt

Tên cá nhân hay tên riêng được xem là yếu tố quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định đến sự khu biệt tính cá thể đơn nhất và có ý nghĩa quyết định đến sự khu biệt về mặt hình thức, tính cá thể đơn nhất của đối tượng được gọi tên chủ yếu được biểu hiện thông qua nội dung (ý nghĩa) của tên gọi Có thể nói, mỗi hình thức tên gọi đều chứa đựng một nội dung mang ý nghĩa hàm chỉ

khác nhau Ví dụ, cùng một kí hiệu gọi là Hồng, ở người này có ý nghĩa hàm

chỉ về Phẩm chất, đạo đức, ở người khác lại chỉ màu sắc, … Cho nên, việc tìm hiểu các phạm vi ý nghĩa tên người của một cộng đồng dân tộc nhất định

sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ các giá trị truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc đó thông qua hình thức đặt tên và gọi tên người

Chính vì vậy, cơ sở phân loại của các kiểu ý nghĩa trong tên người chủ yếu phải dựa vào phạm vi của các sự vật, hiện tượng hay quá trình, … được phản ánh vào trong từ

Phạm Tất Thắng[45 ;tr.85] đã phân loại các kiểu ý nghĩa của tên riêng như sau:

* Phân loại các kiểu ý nghĩa của tên người theo đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa: Theo cách phân loại này, ý nghĩa hàm chỉ của tên cá nhân biểu hiện trong các nhóm ý nghĩa hàm chỉ sau:

- Nhóm ý nghĩa hàm chỉ sự vật: bao gồm các loại tên gọi động vật,

thực vật và các vật thể tồn tại trong thực tế khách quan

+ Nhóm ý nghĩa hàm chỉ tên gọi động vật bao gồm các tên gọi chỉ động vật hoang dã, tên gọi các loài chim, tên gọi các loài cá, … cụ thể:

Trang 21

Tên gọi của các loại động vật hoang dã (hổ, báo, trăn, …): ví dụ; Phạm

Đình Hổ, Lê Văn Báo, … Trong nhóm tên gọi các động vật hoang dã này có thể kể đến các tên gọi Hán – Việt cũng có ý nghĩa chỉ động vật theo cách tính năm âm lịch như: tí, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, … Ví dụ; Trần Mão, Nguyễn Văn Tí, Trần Thìn, …

Tên gọi của các loài chim (loan, phượng, oanh, yến, …): Ví dụ;

Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Hoàng Yến, …

Tên gọi các loài cá (rô, mè, chạch, chép, …) : Ví dụ; Vũ Văn Chạch,

Phạm Văn Rô, … Nhóm ý nghĩa tên gọi này thường chỉ thấy trong tên gọi của những người sống trong các vùng của nông thôn, chủ yếu trong thời kì phong kiến Hiện nay ít được sử dụng

+ Nhóm ý nghĩa hàm chỉ tên gọi thực vật bao gồm tên gọi các loại hoa quả, tên gọi các loại thảo mộc, …

Tên gọi các loài quả (Bưởi, bòng, chanh, mận, cam, chanh, na, đào, …)

Tên gọi các kim loại (đồng, chì, thép, vàng, bạc, thiếc …) : Ví dụ;

Phạm Văn Đồng, Nguyễn Thị Vàng, Hà Thị Thiếc…

Tên gọi các chất liệu khác (gạch, đá, cát, sỏi, …) : Ví dụ; Nguyễn Thị

Sỏi, Phạm Xuân Cát,…

- Nhóm chỉ các hiện tượng của tự nhiên và xã hội :

+ Nhóm tên gọi các hiện tượng của thế giới tự nhiên như : mây, mưa,

vũ, phong, tuyết, nguyệt, … Ví dụ: Đàm Văn Phong, Nguyễn Thị Tuyết,

Trang 22

Nguyễn Thị Mây, Lưu Minh Vũ… Nhóm này có phạm vi sử dụng rộng rãi

trong mọi tần lớp, giai cấp, địa bàn cư trú

+ Nhóm tên gọi của các mùa trong năm như: xuân, hạ, thu, đông Ví

dụ: Trần Văn Đông, Đàm Thị Hạ, Nguyễn Thị Thu, Trần Hương Xuân…

+ Nhóm tên gọi chỉ phương hướng: đông, tây, nam, bắc Ví dụ: Vũ Thị

Bắc, Đỗ Hoài Nam, …

+ Nhóm tên gọi các nhân danh và địa danh bao gồm: tên gọi các nhân vật lịch sử, tên gọi các văn nghệ sĩ nổi tiếng, tên các nhân vật trong tác phẩm văn học, tên quê hương, tên danh lam thắng cảnh, …

+ Nhóm tên gọi các khái niệm trừu tượng bao gồm tên gọi các khái niệm về lịch sử, chính trị, tên gọi chỉ màu sắc, tên gọi chỉ số từ và số thứ tự, tên gọi các thuật ngữ chuyên môn, …

- Nhóm nghĩa hàm chỉ con người và sinh hoạt của con người Nhóm

này được chia thành hai nhóm nhỏ:

Nhóm thứ nhất ý nghĩa chỉ về các đặc điểm tâm sinh lý của con người như:

Các từ chỉ về giới tính: nam, nữ, gái, trai, … Ví dụ: Đặng Văn Nam, Nguyễn Văn Trai, Phạm Thị Gái, …

Các từ chỉ về đặc điểm tâm sinh lý của con người: cao, gầy, béo, lùn, … Các từ chỉ đặc điểm khi sinh nở như: rơi, rụng, thêm, bớt, …

Các từ chỉ sự khỏe mạnh về thể chất: khỏe, mạnh, cường, …

Các từ chỉ về sự phát triển của trí tuệ con người: giỏi, minh, sáng, tài, … Các từ chỉ về phẩm chất đạo đức: hiếu, hiền, ngoan, lành, chung,

Trang 23

Tên gọi chỉ các công cụ học tập: Sách, vở, bút, mực, …

Tên gọi chỉ tiền tệ: ngân, hào, xu, trinh, tiền, …

Tên gọi chỉ nghề nghiệp: Sĩ, nông, công, thương, …

* Phân loại các kiểu ý nghĩa hàm chỉ dựa vào đặc điểm từ vựng - ngữ pháp

Theo cách phân loại này, ý nghĩa hàm chỉ trong tên người được quy về các nhóm từ loại sau:

- Từ loại danh từ: Danh từ là những từ dùng để gọi tên người, sự vật, hiện tượng hay quá trình trong hiện thực khách quan

- Tên gọi là các tình từ: tính từ là những tên gọi chỉ phẩm chất của sự

vật Tính chất của sự vật có thể được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các đặc điểm về hình khối, màu sắc, phẩm chất, dung lượng, …

- Tên gọi là số từ: số từ là các tên gọi chỉ số lượng hoặc theo thứ tứ của

các sự vật Trong số từ, có hai loại: loại chính xác như: một, hai, ba, bốn, …

và số thứ tựu như thứ nhất, thừ nhì, thứ ba, …

- Tên gọi là động từ: động từ là lớp từ chỉ về hoạt động của sự vật Tên

người thường ít sử dụng đến động từ làm ký hiệu cho tên gọi

Tóm lại, các phạm vi ý nghĩa hàm chỉ trong tên gọi cá nhân của người Việt thường được biểu hiện qua hai đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa và từ vựng

- ngữ pháp của các từ

1.2 Nhân vật và tên nhân vật trong tác phẩm văn học

1.2.1 Khái quát về tên nhân vật trong tác phẩm văn học

Trong những sáng tác hiện thực chủ nghĩa, nhất là trong truyện ngắn, tiểu thuyết, nhân vật có một vị trí vô cùng quan trọng Đối với truyện ngắn và tiểu thuyết, việc sáng tạo thế giới nhân vật được xem là yếu tố quan trọng

hàng đầu Theo V.E Khalizev, nhân vật “là phương diện tất yếu quan trọng

nhất để thể hiện tư tưởng trong tác phẩm tự sự và kịch – nó là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức của tác phẩm ấy, quyết định phần lớn vừa cốt truyện vừa lựa chọn chi tiết vừa phương tiện ngôn ngữ và thậm chí cả kết cấu

Trang 24

nữa” [44; tr.189] Thông thường, đối tượng trung tâm của văn học là con

người Nhưng nhân vật, theo quan niệm của B Brecht “không phải đơn giản

là những bản dập của những con người sống, mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả” [44;tr.189] Hay theo nhà

văn Tô Hoài « Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết

thảy trong một sáng tác »

Vì thế nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể đồng nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm của nhà văn về con người, nó có thể được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy Ý nghĩa của nhân vật văn học chỉ có được trong hệ thống một tác phẩm cụ thể Vai trò và đặc trưng của nhân vật văn học bộc lộ

rõ nhất trong phạm vi vấn đề “nhân vật và tác giả” Theo B Bakhtin, tương quan “nhân vật – tác giả” phụ thuộc vào hai nhân tố

Một là lập trường (công nhiên hoặc che dấu) của tác giả trong quan hệ với nhân vật (lập trường đó có thể anh hùng hóa, mỉa mai, chế nhạo, đồng cảm…)

Hai là bản chất thể loại của tác phẩm (ví dụ trong văn trào phúng sẽ có kiểu quan hệ của tác giả với nhân vật khác với trong văn xuôi tâm lí) Tùy thuộc vào hệ thống nghệ thuật của nhà văn, có những mức độ tự do khác nhau của nhân vật đối với tác giả

Thực tiễn sáng tác phê bình nghiên cứu đã nêu lên nhiều kiểu và loại nhân vật văn học, tương ứng với những dấu hiệu phân loại khác nhau Do vị trí, vai trò khác nhau trong tác phẩm, người ta nêu ra “nhân vật chính” và

“nhân vật phụ” Do phục vụ cho việc truyền đạt và đánh giá và thể hiện lý tưởng xã hội của nhà văn, người ta nêu ra “nhân vật phản diện” “nhân vật chính diện”- cách phân biệt này tuy ước lệ, nhưng lại tiêu biểu cho sáng tác của khá nhiều xu hướng văn học Do gắn với nhiều thể loại văn học khác nhau, người ta phân biệt “nhân vật tự sự”, “nhân vật trữ tình”, “nhân vật

Trang 25

kịch” Ngoài ra các kết quả nghiên cứu sâu vào từng xu hướng và thời đại văn học còn cho phép nói tới các kiểu “nhân vật loại hình” như: nhân vật chức năng, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng…

Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, một trường phái hoặc dòng phong cách Có thể nói, nhân vật là nơi kết tinh tư tưởng và tài năng của các nhà văn Việt Nam nói chung và các nhà văn hiện thực Việt Nam nói riêng Vì vậy, nói tới chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, không thể không nghiên cứu nhân vật, một trong những thành tựu nổi bật của trào lưu văn học này

Trong tác phẩm của mình, những nhà văn hiện thực đã sáng tạo nên một thế giới nhân vật đông đảo, đa dạng, phong phú, sống động và độc đáo Hầu như có bao nhiêu loại người trong xã hội Việt Nam đương thời thì cũng

có bấy nhiêu loại nhân vật văn học hiện thực Có thể nói, đó là cả một viện bảo tàng nghệ thuật trưng bày con người Việt Nam trước cách mạng Mỗi nhà văn hiện thực, bằng tài năng của mình, đã tạo nên một thế giới nhân vật riêng, với những nét riêng trong nghệ thuật điển hình hóa, không ai giống ai

1.2.2 Khái quát đặc điểm tên nhân vật trong tác phẩm văn học

Như chúng ta đã nói ở trên, trong cuộc đời, sinh ra ai cũng có một cái tên Với tác phẩm văn học, nhà văn đặt tên hay không đặt tên cho nhân vật đều mang dụng ý của nhà văn ở trong đó

Tên nhân vật là một trong những yếu tố làm nên nhân vật Tên nhân vật trước hết dùng để gọi tên, phân biệt nhân vật này với nhân vật khác nhưng đôi khi tên nhân vật không phải như vậy Tên nhân vật cùng với nghề nghiệp, diện mạo, ngôn ngữ ít nhiều thể hiện đặc điểm, tính cách của nhân vật Khi nhà văn lựa chọn, đặt tên cho nhân vật tức là đã có ý thức, quan niệm về con người, nhất là đối với nhân vật trung tâm, nhân vật có “vấn đề” Do vậy tên nhân vật có thể được xem là những biểu tượng của phương tiện ngôn ngữ về chính nhân vật ấy

Trang 26

Đỗ Đức Hiểu trong cuốn Thi pháp hiện đại cũng nói tên nhân vật như sau: “Cái tên riêng trong tác phẩm văn học, đặc biệt tên nhân vật, nhiều khi

chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa của tác giả gửi vào đó Nó là cái biểu đạt rực

rỡ nhất trong các cái biểu đạt (Victo Huygô để biết bao nhiêu công phu và thay đổi nhiều tên của Giăng Vangiăng, Gavrôsơ Êmin Dôla, suy nghĩ bao nhiêu năm về tên dòng họ Rugông và Macca ; mỗi cái tên Grangđê và Gôbxê của Bandăc, Morixô và Xôvagiơ cảu Môpaxăng v.v đều mang ý nghĩa)”

[22; tr.97] Và vì thế “tên nhân vật của mỗi tác giả là một hệ thống ký hiệu

mang ý nghĩa và có thể là đối tượng khai thác của người phê bình, nghiên cứu văn học” [22; tr 189]

Theo khảo sát, tìm hiểu của chúng tôi về một số tác phẩm của một số nhà văn Việt Nam tính từ giai đoạn văn học hiện đại (1900) đến nay, có rất nhiều nhà văn rất quan tâm đến việc chọn lựa, đặt tên cho nhân vật mình Một vài tác giả tiêu biểu có thể kể là Hồ Biểu Chánh, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Minh Châu, Hồ Anh Thái Nhìn chung việc đặt tên cho nhân vật đã phần nào thể hiện được quan niệm về con người cũng như tư tưởng của các nhà văn

1.3 Khái quát về tác giả - tác phẩm của nhà văn Nam Cao và nhà văn Vũ Trọng Phụng

1.3.1 Đôi nét về văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945

Từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám 1945, văn học Việt Nam từng bước phát triển theo hướng hiện đại hóa, với tốc độ càng ngày càng lớn Cũng từ đó, nền văn học nước ta đã hình thành nhiều khuynh hướng văn học, và từ khoảng 1930 đến 1945, người ta thấy thực sự xuất hiện nhiều trao lưu, trong đó có trào lưu văn học hiện thực – một trào lưu đạt được thành tựu

to lớn về tư tưởng và nghệ thuật Trong nền văn xuôi quốc ngữ, văn học hiện thực có vị trí đặc biệt quan trọng và đóng góp to lớn vào quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc Trào lưu văn học này đã tập hợp được nhiều cây

Trang 27

bút tài năng và đã đóng góp cho lịch sử văn học nước nhà nhiều tác phẩm xuất sắc

Trào lưu văn học hiện thực 1930 – 1945 vận động và phát triển qua

ba chặng đường rõ rệt: từ 1930 đến 1935, từ 1936 đến 1939, và từ 1940 đến 1945

Chặng đường 1930 đến 1935: Trong bộ phận văn học công khai,

khoảng thời gian từ 1930 đến 1935 là những năm mà trào lưu văn học lãng mạn (Thơ mới và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn) chiếm ưu thế Tuy nhiên, đã xuất hiện một số cây bút hiện thực tài năng, bước đầu thu hút và chiếm được cảm tình của độc giả Những tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang và Tú Mỡ lần lượt ra đời, từng bước khẳng định vị trí của văn học hiện thực phê phán Tuy nhiên, phạm vi phản ánh, tầm bao quát và khám phá hiện thực của văn học hiện thực còn hạn hẹp và chưa thật sâu sắc

Chặng đường 1935 – 1940: Tình hình chính trị xã hội từ năm 1936 đến

1939 rất thuận lợi cho sự phát triển của trào lưu văn học hiện thực Văn học hiện thực đến chặng đường này đã vượt lên, phát triển mạnh mẽ và có phần lấn át văn học lãng mạn Tinh thần phê phán thấm nhuần trong sự phân tích, lí giải các quan hệ xã hội được bộc lộ rất rõ trong tiểu thuyết, phóng sự và truyện ngắn của các cây bút hiện thực Không khí, những sự kiện chính trị,

văn hóa xã hội có tính thời sự nóng hổi dường như ùa vào các tác phẩm Giông

tố, Vỡ đê, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Lầm Than của Lan Khai, … Các nhà văn hiện

thực phê phán đều tập trung hướng ngòi bút của mình vào việc phê phán, tố cáo mãnh liệt những thủ đoạn áp bức, bóc lột những chính sách mị dân, bịp bợm, giả dối của giai cấp thống trị, đồng thời phơi bày nỗi thống khổ của nhân dân với một thái độ cảm thông sâu sắc Tầm bao quát và mức độ phản ánh hiện thực của văn học hiện thực phê phán vừa rộng lớn vừa sâu sắc, có khả năng khái quát những bức tranh xã hội rộng lớn, phong phú, phức tạp

Trang 28

Thành tựu của văn học hiện thực chặng đường 1936 đến 1945 phát triển mạnh mẽ, phong phú trên nhiều thể loại Tiểu thuyết, truyện ngắn và phóng sự đều đạt được những thành tựu đáng ghi nhận mà nổi trội hơn cả là tiểu thuyết Tư duy tiểu thuyết hiện thực đã có những bước tiến đáng kể, đạt tới một tầm cao mới, có khả năng bao quát những bức tranh xã hội rộng lớn Nhiều nhà văn đã xây dựng thành công những tính cách điển hình trong hoàn

cảnh điển hình: Nghị Hách trong Giông tố, Xuân Tóc Đỏ, bà Phó Đoan, Cố Hồng trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng; Chị Dậu, Nghị Quế trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố; Anh Pha, Nghị Lại trong Bước đường cùng của Nguyễn

Công Hoan Văn học hiện thực phê phán chặng đường này vẫn không tránh khỏi một số hạn chế Tuy nhiên đây vẫn là chặng đường thành công, thắng thế, đạt tới đỉnh cao của chủ nghĩa hiện thực

Chặng đường 1940 – 1945: Đại biểu ưu tú nhất cho trào lưu văn học

hiện thực ở chặng đường cuối cùng này là Nam Cao - nhà văn trí tuệ và nhân

ái Qua những sáng tác về đề tài người nông dân, Nam Cao đã dựng lên bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam trên con đường phá sản, bần cũng, không lối thoát, hết sức thê thảm vào những năm 1940 – 1945 Nam Cao viết rất sâu sắc, đầy ám ảnh về hiện tượng những người nông dân bị đẩy vào tình trạng tha hóa, lưu manh hóa, bị hủy hoại từ nhân hình đến nhân tính Những sáng tác viết về đề tài người tri thức của Nam Cao tập trung thể hiện những tấn bi kịch tinh thần của người tiểu tư sản nghèo đầy hoài bão và khát vọng, giàu tài năng nhưng lại bị những chuyện cơm áo ghì sát đất Trong sáng tác

của ông, các truyện Chí phèo, Lão Hạc, Dì Hảo, Một đám cưới, Lang Rận,

Trẻ con không được ăn thịt chó, … Và tiểu thuyết Sống mòn là những tác

phẩm xuất sắc, trong đó, truyện ngắn Chí phèo xứng đáng là một kiệt tác đem

lại vinh quang cho nền truyện ngắn Việt Nam

Đôi nét về giai đoạn văn học 1930 – 1945 trên, chúng ta thấy trong giai đoạn này có hai dòng văn học luôn đối lập nhau về quan niệm sáng tác cũng như phương thức thể hiện đó là dòng văn học hiện thực phê phán và dòng văn

Trang 29

học lãng mạn Và theo sự khảo sát của chúng tôi, việc đặt tên cho nhân vật của các nhà văn ở hai lưu phái này cũng có những điểm đối lập nhau khá thú

vị Tên nhân vật của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng nghe có

vẽ thô mộc, đôi khi trúc trắc, có những cái tên có khi chẳng ra tên như Lang

tỳ, Lang Phế, Chí Phèo, Thị Nở, cô Kếu… Trong khi đó tên nhân vật của Tự

Lực văn đoàn thường là những cái tên đẹp, thanh thoát, nhẹ nhàng, êm ái như

Mai, Loan, Tuyết, Lộc, Ái Đối với Nam Cao, người ta nhận xét ông là một

người “sâu sắc nước đời” trong việc lựa chọn tên cho nhân vật mình Những cái tên hoặc là phản ánh số phận, tính cách, hoặc là thể hiện ý nghĩa về mặt văn hóa dân tộc… Đỗ Ngọc Thống đã có một bài viết khá sâu sắc mà cũng

không kém hài hước về những nhân vật của Nam Cao với tựa đề Nam Cao và

những cái mặt chơi không được Và thường “những cái mặt chơi không

được ấy” cũng có những cái tên “nghe không được”, nghĩa là hơi chói tai, hơi

khác thường, đôi khi còn hơi khó nghĩ như Chí Phèo, Thị Nở, Lang Rận,

Trạch Văn Đoành, Đĩ Chuột… Trong Chí Phèo, nhiều người đã phân tích quá

trình lưu manh hóa của nhân vật Quá trình lưu manh hóa đó không chỉ thể hiện qua tính cách, con người của nhân vật mà nó còn thể hiện qua cái tên Lúc đầu anh ta là một người khỏe mạnh, hiền lành, cũng có ước mơ và có một cái tên “rất người”, rất lương thiện, sau khi đi tù về con người ấy như một con thú hung dữ, suốt ngày chìm đắm trong cơn say, rồi chửi trời, chửi đất, chửi

đời, rồi rạch mặt ăn vạ, rồi đòi nợ thuê Cái tên “Chí” tốt đẹp, hiền lành xưa kia giờ người ta thêm vào cái chữ “phèo”, rất hợp khi nói về con người hiện tại của Chí Cũng khó có cái tên nào đắc địa hơn hơn là “Thị Nở” dành cho nhân vật xấu “ma chê quỷ hờn” và lại dở hơi Cái tên Bá Kiến phải chăng là thể hiện cái “cao kiến” thâm độc của một tên thống trị nhà nghề, còn Lí

Cường ngầm chỉ tính chất “hữu dũng vô mưu” của hắn (Cường nghĩa là sức

mạnh) Còn về nhân vật Trạch Văn Đoành trong truyện ngắn Đôi móng giò

thì nhà văn Nam Cao đã “cảm thán”: “Ngay cái tên cũng khó nghe rồi Thà là Kèo, là Cột, hay là Hạ, là Đông Là gì cũng còn dễ nghe Nhưng hắn ta lại là

Trang 30

Trạch Văn Đoành Nghe như súng thần công Nó chọc vào lỗ tai Đã thế cái mặt hắn còn vuông vuông, ngậu xị thế nào…” Ngoài ra ở một số tác phẩm

khác, những cái tên như Bịch, Hài, Lộ, Lão Hạc, mụ Lợi, Lý Nhưng, Lê Văn

Rự… cũng phần nào gợi lên bản chất, số phận nhân vật hay một dụng ý sâu

xa nào đó của tác giả đã gửi gắm

Nguyễn Công Hoan cũng “thổi” chất trào phúng của mình vào những

cái tên nhân vật Độc đáo nhất là tên “Kếu” trong truyện ngắn Cô Kếu, gái tân

thời Chữ “kếu” không có trong từ điển, nhưng nó mang cái âm hơi chói tai, biểu thị một cái gì đó lai căng, kệch cỡm, lố bịch và thiếu thiện cảm Nếu ai

đó chưa đọc tác phẩm nhưng nghe cái tên gọi thôi cũng phần nào cảm nhận được tính cách cũng như sự tân thời của cô gái này Tên nhân vật có thể phản ánh phong cách nhà văn và không khí của tác phẩm Tác phẩm của Thạch Lam thường nhẹ nhàng, sâu lắng và tên nhân vật trong các sáng tác của Thạch Lam cũng thường mang vẻ hiền lành, nhẹ nhàng, trong sáng, thường là những

tên mang thanh bằng như: Lan, Sơn, mẹ Lê, cụ Thi, An, Liên

Nhìn chung, nhân vật trong những tác phẩm văn học thuộc trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945 phong phú, đa dạng và đủ mọi hạng người, đủ mọi tầng lớp khác nhau từ nông thôn đến thành thị, Trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngoài việc xây dựng tiểu sử, ngoại hình, hành động, tính cách, tâm lý… các nhà văn hiện thực còn chú ý đến việc đặt tên cho nhân vật Đặt tên hay không đặt tên cho nhân vật đều có dụng ý nghệ thuật của tác giả Mỗi hạng người, mỗi tầng lớp, nhà văn sẽ có cách đặt tên riêng, và vì thế

nó góp phần không nhỏ trong việc thể hiện nhân vật Cái tên nhân vật có thể đại diện cho một gia cấp, một tần lớp cụ thể, cái tên cũng có thể gợi cho ta suy nghĩ về ý nghĩa của chính bản thân nó và cái tên có tính biểu tượng khái quát, đem đến cho tác phẩm một chất lượng phản ánh mới

1.3.2 Nhà văn Nam Cao và các tác phẩm của ông

Trào lưu văn học hiện thực Việt Nam, khởi phát từ đầu thế kỉ XX, phát triển đến độ chín muồi trong giai đoạn 1930 - 1945 với những tác gia tiêu

Trang 31

biểu mà tên tuổi sẽ còn sống mãi với lịch sử văn học dân tộc Và một trong những tiêu chí đánh giá và khẳng định vị trí của một nhà văn trong tiến trình văn học, đó chính là chất lượng của tư duy nghệ thuật, là ý thức tự giác sâu sắc về những nguyên tắc có tính định hướng cho sáng tạo nghệ thuật của mình Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi nghiên cứu hai nhà văn tiêu biểu cho nền văn học hiện thực đó là nhà văn Nam Cao và nhà văn Vũ Trọng Phụng Những sáng tác của hai nhà văn vừa mang dấu ấn của truyền thống vừa là sự cách tân để có những đóng góp thật xứng đáng vào nền văn học nước nhà

Nam Cao (1915 – 1951) tên thật là Trần Hữu Chi, quê ở làng Đại Hoàng, nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Nam Cao xuất hiện trên văn đàn từ năm 1936, thử sức với nhiều thể loại Ông đã thể hiện rõ tài năng độc đáo và xác định chắc chắn vị trí của mình trong nền văn học dân tộc với nhiều tác phẩm mang màu sắc riêng Đưa ông trở thành một trong những nhà văn hiện thực lớn nhất của nền văn học Việt Nam

Những tác phẩm của Nam Cao ở thời kì đầu tiên (truyện ngắn, thơ) chịu nhiều ảnh hưởng của văn học lãng mạn đương thời Quá trình sáng tác của Nam Cao cũng chính là quá trình giác ngộ, từ bỏ những ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn, thoát li để đến với chủ nghĩa hiện thực Ông là nhà văn hiện thực ý thức rất rõ và hoàn toàn tự giác về khuynh hướng nghệ thuật của mình Những quan điểm đó ít khi được phát biểu trực tiếp dưới dạng lí luận

mà thường được bộ lộ qua những sáng tác và hình tượng nghệ thuật của ông

Năm 1941, với truyện ngắn Cái lò gạch cũ (tức Chí Phèo), Nam Cao

đã thực sự cắm một cột mốc vinh quang trên con đường sáng tác theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa, đồng thời đã dứt bỏ hoàn toàn những ảnh hưởng của thứ văn chương lãng mạn thoát li

Năm 1942 với Giăng sáng, Nam cao đã phê phán thứ nghệ thuật chỉ

chạy theo cáo đẹp bề ngoài Ông đã vạch trần sự “lừa dối” của thứ nghệ thuật thi vị hóa cuộc sống, giống như “cái ánh trăng huyền ảo nó làm đẹp đến cả

Trang 32

những cảnh thật ra chỉ tầm thường xấu xa”, … Nam Cao đã tuyên bố từ bó thứ nghệ thuật đó: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối”

Phê phán thứ văn chương lãng mạn, thoát lí, Nam Cao đòi hỏi nghệ thuật phải trờ về với đời sống hiện thực, phản ánh chân thật hiện thực to lớn lúc bấy giờ: “Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những

kiếp lầm than” [Giăng Sáng] Vì thế Nam Cao sẵn sàng dấn thân vào con

đường thử thách đầy chông gai nhằm “khơi những nguồn chưa ai khơi, sáng tạo những gì chưa có” Với Nam Cao đã có sự thay đổi, chuyển hướng về phạm vi phản ánh hiện thực, không quá thiên về việc miêu tả những bức tranh hiện thực rộng lớn với những mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn xã hội mà tiếp cận hiện thực ở những khía cạnh tinh vi của đời sống cá nhân và những quan

hệ thế sự đan xen nhau, dệt nên những bức tranh cuộc sống đầy phức tạp, tinh

tế, đa dạng Đặc biệt, ông đã đi sâu khám phá chiều sâu tâm hồn con người,

kể cả phần bản năng của nó

Cùng với những thay đổi về quan niệm hiện thực, Nam Cao cũng có những chuyển biến sâu sắc trong quan niệm nghệ thuật về con người Con người của đời thường đã bổ sung phong phú thêm cho con người của giai cấp, của một tầng lớp trong xã hội trong văn học giai đoạn trước Nhân vật được phân tích và “giải phẫu” với hai mặt tốt – xấu đan xen, tuy nhiên trong đó luôn ẩn dấu một cái nhìn nhân đạo của tác giả Và chủ nghĩa nhân đạo này được thể hiện trong sự cảm thông không che đậy đối với những con người

đáng thương, cùng khổ (Dì Hảo, Lão Hạc, Một đám cưới…), trong sự bênh

vực, minh oan, chiêu thuyết cho những con người khốn khổ, tủi nhục bị cuộc

đời xua đuổi, hắt hủi, khinh miệt một cách bất công (Chí Phèo, Lang Rận, Tư

cách mõ…) cũng nhưng việc vạch trần những hành vi nham hiểm, tàn bạo của

bọn cường hào, ác bá gieo rắc biết bao tội ác lên đầu những người dân hiền lành, lương thiện Trong quan niệm của ông, “một cô gái giang hồ với một người đàn bà lương thiện không khác nhau là mấy Chỉ có những hoàn cảnh

Trang 33

khác Hoàn cảnh đổi, rất có thể là người đổi tâm tính đổi” Sau này, trong tiểu

thuyết Sống mòn, Nam Cao tiếp tục khẳng định: “Thời thế đổi, lòng người

đổi” Ông xem đó chính là “một quan niệm mới về con người, về cuộc sống” Tính cách của con người là do hoàn cảnh xã hội, môi trường quyết định Đây

là một đóng góp cơ bản của sáng tác Nam Cao nói riêng và của chủ nghĩa hiện thực nói chung Và chính nhờ sự ý thức sâu sắc về vấn đề này nên Nam Cao đã miêu tả sự hình thành tính cách của nhiều nhân vật dưới sự tác động của hoàn cảnh rất chân thực, giàu sức thuyết phục

Sự thay đổi, chuyển hướng trong quan niệm về hiện thực và về con người tất yếu dẫn đến những đổi mới trong nội dung hệ thống thi pháp của Nam Cao Về phương diện sáng tạo nghệ thuật, Nam Cao đã có những đóng góp quan trọng, làm nên vị trí nổi bật của ông trên tiến trình hiện đại hóa các thể loại văn xuôi từ đầu thế kỉ XX đến 1945 Chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao không đi ra ngoài những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực nói chung

mà cũng không thuần túy theo lối “tả chân” mà khai thác hiện thực ở chiều sâu số phận nhân vật, tìm kiếm những sự thật tiềm ẩn đằng sau những mâu thuẫn hiện diện trong xã hội, khám phá hiện thực tâm hồn con người Khả năng phân tích sâu sắc hiện thực đã thay cho lối kể tả làm cho tác phẩm Nam Cao mang kết cấu nhiều tầng nội dung, nhiều tầng ý nghĩa Sự cách tân của Nam Cao còn thể hiện ở kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu Đến Nam Cao, văn xuôi đã có thêm giọng văn mang tính phức điệu, phù hợp với lối phân tích tâm lí nhiều chiều, nhiều tầng bậc, gần với xu thế văn xuôi hiện đại

Nam Cao là nhà văn đã đem đến những cách tân lớn lao đối với nền văn xuôi nghệ thuật Việt Nam trước Cách mạng Nhà văn đã đánh dấu ý thức nghệ thuật của trào lưu văn học hiện thực phê phán (1930 – 1945) đi từ tự phát đến hoàn toàn tự giác Qua những ý kiến Nam Cao đã gửi gắm rải rác trong các sáng tác của ông, chúng ta thấy quan điểm nghệ thuật hiện thực chủ

nghĩa của nhà văn đã đạt đến trình độ tự giác, hoàn chỉnh, nhất quán và tiến

bộ Có thể nhận định chắc chắn một điều: “Ông là người phát ngôn đầy đủ và

Trang 34

sâu sắc nhất về đặc trưng và nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực” [41; tr.30] Và Nam Cao thực sự có vị trí tiêu biểu xuất sắc nhất trong giai đoạn mà ông đã sống và sáng tác, nhờ thế mà ông đã khẳng định được vị trí của mình trong dòng văn học hiện thực 1930 – 1945 nói riêng và nền văn học nước nhà nói chung

Nghiên cứu tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945, trong phạm vi cho phép của luận văn chúng tôi lựa chọn nghiên cứu tên

nhân vật trong những 11 truyện ngắn sau đây: Nghèo, Chí Phèo, Dì Hảo, Ở

hiền, Tư cách mõ, Đời thừa, Quên điều độ, Lão Hạc, Lang Rận, Điếu Văn,

Mò Sâm panh

1.3.3 Nhà văn Vũ Trọng Phụng và các tác phẩm của ông

Vũ Trọng Phụng (bút danh Thiên Hư, Phụng Hoàng) sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912 Nguyên quán ở làng Hảo, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên nhưng ông sinh ra, lớn lên và mất tại Hà Nội Gia đình ông rất nghèo Thân sinh là ông Vũ Văn Lân, người Hưng Yên, làm nghề thợ điện ở xưởng sửa chữa ô tô Ch.Boillot, mất vì bệnh lao khi Vũ Trọng Phụng mới 7 tháng Thân mẫu là bà Phạm Thị Khách, người Hà Đông, sống bằng nghề khâu vá thuê Chồng mất, bà ở vậy nuôi mẹ chồng và con thơ Năm 1921, Vũ Trọng Phụng bắt đầu học Pháp văn ở trường Hàng Vôi, sau học ở trường Hàng Kèn, sau đó

là trường Sinh Từ Từ nhỏ, Vũ Trọng Phụng đã tỏ ra là người có năng khiếu nghệ thuật như: đánh đàn nguyệt hay, vẽ giỏi, thích làm thơ, hay tìm hiểu Năm 1926, Vũ Trọng Phụng đỗ tiểu học Vì hoàn cảnh gia đình rất bần cùng,

Vũ Trọng Phụng thi vào trường Sư phạm, hi vọng có học bổng để giúp đỡ gia đình nhưng ông thi trượt Vũ Trọng Phụng đành nghỉ học, đi làm ở các sở tư

để kiếm sống Khoảng tháng 10 năm 1926, Vũ Trọng Phụng xin vào làm thư

ký đánh máy cho hãng buôn Goddard Được hai tháng, vì mê văn chương mà không chuyên tâm vào công việc, ông bị đuổi việc và thất nghiệp Ít lâu sau, ông đánh máy chữ cho Nhà in Viễn Đông (I D E O) nhưng hai năm sau lại bị đuổi việc vì đánh bản thảo văn chương trong giờ làm việc Năm 1930, lúc

Trang 35

còn làm ở nhà in Viễn Đông, Vũ Trọng Phụng đã có bài báo đầu tay in trên tờ Ngọ báo - những bài viết mà theo ông chủ bút Tam Lang Vũ Đình Chí là “có một lối văn đặc biệt, một lối văn quá bạo” Sau hai lần bị sa thải, ông chuyển hẳn qua làm báo và viết văn chuyên nghiệp Chính trong khoảng thời gian đi làm thư ký và qua cuộc sống diễn ra ở phố Hàng Bạc - nơi nhà văn ở gần hết cuộc đời, đã giúp cho Vũ Trọng Phụng có nhiều vốn sống và ngày càng hiểu sâu sắc hơn về xã hội đương thời Đầu năm 1938, Vũ Trọng Phụng lập gia đình với Vũ Mỹ Nương, con một gia đình buôn bán nghèo, người xã Nhân Mục, thôn Giáp Nhất nay thuộc xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, Hà Nội Tuy viết về tệ nạn xã hội, thói ăn chơi trụy lạc nhưng Vũ Trọng Phụng là một người đạo đức, bình dị, giàu lòng tự trọng, nề nếp, khuôn phép và sống rất kham khổ Trong cuộc sống riêng, ông chỉ mong có đủ tiền lo cho gia đình

Dù ông viết rất nhiều - trong khoảng thời gian chưa đầy mười năm, gần 20 tác phẩm và nhiều bài báo nhưng cái nghèo vẫn bám riết ông cho đến lúc mất Do làm việc quá sức, đời sống lại nghèo khổ, ông mắc bệnh lao và mất ngày 13/10/1939 trong một căn nhà chật hẹp ở Ngã Tư Sở, Hà Nội khi mới 27 tuổi Ông để lại bà nội 80 tuổi, mẹ đẻ, vợ và người con gái tên Vũ Mỵ Hằng vừa tròn 1 tuổi

Nghiệp văn của Vũ Trọng Phụng thật ngắn ngủi Ông chỉ có thời gian chưa đầy mười năm eo hẹp để cầm bút làm báo và viết văn Nhưng chính bằng tài năng và sức lao động nghệ thuật phi thường của mình, Vũ Trọng Phụng đã vươn tới những đỉnh cao rực rỡ cả trong sự nghiệp văn chương và báo chí Trong khoảng 1930 – 1939, Vũ Trọng Phụng đã cộng tác với rất nhiều tờ báo như: Hà thành Ngọ báo, Tân thiếu niên, Nhật Tân, Hà Nội báo, Hải Phòng thời báo, Công dân, Nông công thương, Phụ nữ thời đàm, Đông Dương tạp chí, Tao đàn tạp chí, Thời vụ, Tiểu thuyết thứ năm, Tiểu thuyết thứ bảy… Ông sáng tác nhiều thể loại khác nhau như: truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, kịch, chính luận, phê bình… Ngoài ra ông còn dịch tác phẩm của văn hào Victo Huygo Song, hai thể loại đưa Vũ Trọng Phụng trở thành nhà

Trang 36

văn hiện thực xuất sắc là phóng sự và tiểu thuyết Ở lĩnh vực phóng sự, báo giới thời bấy giờ gọi ông là “ông vua phóng sự đất Bắc” còn bên lĩnh vực tiểu thuyết, người ta gọi ông là “nhà tiểu thuyết trác tuyệt”

Quá trình sáng tác của Vũ Trọng Phụng có thể chia làm ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất từ năm 1930 - 1935, giai đoạn thứ hai từ 1935 - 1936, giai đoạn thứ ba: từ 1937 đến lúc Vũ Trọng Phụng mất (1939) Trong đó giai đoạn thứ hai có thời gian ngắn nhất nhưng lại là giai đoạn cao trào nhất đánh dấu

sự thăng hoa và thành công rực rỡ của ngòi bút Vũ Trọng Phụng Bên cạnh

phóng sự Cơm thầy cơm cô (1936) thì hàng loạt tiểu thuyết “để đời” như

Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, Làm đĩ (1936) đã khẳng định tài năng của ông ở lĩnh

vực tiểu thuyết, đồng thời tạo tiếng vang và tiếng vọng cho tên tuổi ông còn

mãi đến ngày nay Trong đó Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ đã trở thành tác phẩm

hiện thực phê phán xuất sắc nhất trong lịch sử văn học Việt Nam

Giông tố tái hiện một bức tranh toàn cảnh xã hội Việt Nam thực dân

phong kiến đương thời Trong đó nổi bật lên bộ mặt tàn ác, đểu cáng của bọn

tư sản hãnh tiến cỡ lớn Qua Giông tố, nhà văn nghiêm khắc lên án bọn người

không chỉ bì ổi, xấu xa về mặt xã hội mà còn ghê tởm, khinh bỉ chúng về mặt đạo đức trong quan hệ gia đình, trong tình nghĩa vợ chồng, cha con, anh em…

Cả một xã hội đang trong cơn “giông tố”, mọi thứ đảo lộn để rồi sụp đổ hoàn toàn, hủy hoại tất cả

Số đỏ được mệnh danh là “tiểu thuyết hoạt kê”, miêu tả một bình diện

xã hội hẹp hơn (xã hội thượng lưu tư sản thành thị) nhưng để cập vấn đề cụ

thể và sâu hơn Cảm hứng toát ra từ Số đỏ là sự bất bình, căm phẫn, ghê tởm

trước sự giả dối, bịp bợm của xã hội tư sản, của phong trào Âu hóa mà Pháp bày ra để mị dân, từ đó nhà văn có nhu cầu phủ nhận, phê phán mạnh mẽ và triệt để

Vỡ đê phản ánh một phạm vi hiện thực rộng hơn: từ thành thị đến nông

thôn, đề tài, chủ đề cũng có độ sâu hơn: nên lên được mâu thuẫn cơ bản của giai cấp, lên án những chính sách, thủ đoạn thống trị và bóc lột của bọn thực

Trang 37

dân, quan lại đã đẩy người nông dân vào cảnh “màn trời chiếu đất”, lầm than, khốn cùng

Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc Ông không hướng người đọc đến những chuyện xa rời thực tế, thoát ly bên ngoài xã hội mà chính là từ cuộc sống đang diễn ra từng ngày, từng giờ trong xã hội mà ông đang sống Ông đã tiểu thuyết hóa cái hiện thực đời thường thành những điển hình không chỉ có ở thời đại ông mà là điển hình bất

hủ Ông đã làm được cái nhiệm vụ của văn học: văn học bắt nguồn từ cuộc sống, phản ánh cuộc sống và phục vụ cho cuộc sống

2) Văn học phản ánh đời sống qua lăng kính chủ quan của nhà văn Tác phẩm nào cũng gồm một hệ thống các nhân vật chính và nhân vật phụ Để nhân biết các nhân vật trong tác phẩm, nhà văn đặt cho mỗi nhân vật một cái tên Và tên nhân vật là một trong những yếu tố làm nên nhân vật Tên nhân vật trước hết dùng để gọi tên, phân biệt nhân vật này với nhân vật khác, bên cạnh đó tên nhân vật còn thể hiện đặc điểm tính cách, bản chất, số phận và đặc điểm nghề nghiệp của nhân vật Vì thế lựa chọn vấn đề nghiên tên nhân vật là rất cần thiết, góp phần phát hiện giá trị đặc sắc của tác phẩm văn học Đặc biệt nhân vật trong những tác phẩm văn học thuộc trào lưu văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945

3) Giai đoạn văn học 1930 – 1945 đã tạo nên những tác gia mà tên tuổi của họ sẽ còn sống mãi với lịch sử văn học dân tộc nước nhà Tiêu biểu là Nam Cao và Vũ Trọng Phụng Những sáng tác của hai nhà văn vừa mang dấu

ấn truyền thống vừa là sự cách tân để có những đóng góp xứng đáng vào nền

Trang 38

văn học nước nhà Nam Cao đã không đi ra ngoài những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực, mà cũng không đơn thuần theo lối « tả chân » mà khai thác hiện thực ở chiều sâu số phận nhân vật, tìm kiếm những tiềm ẩn đằng sau những mâu thuẫn hiện diện trong xã hội Nếu Nam Cao để lại dấu ấn ở lĩnh vực truyện ngắn thì Vũ Trọng Phụng đã khẳng định tài năng của mình ở lĩnh

thực phê phán xuất sắc nhất của lịch sử văn học Việt Nam

4) Hệ thống nhân vật trong tác phẩm thời kì này nói chung và tác phẩm của hai tác giả Nam Cao, Vũ Trọng Phụng nói riêng rất phong phú, đa dạng

và đủ mọi hạng người, đủ mọi tầng lớp khác nhau từ nông thôn đến thành thị Trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngoài việc xây dựng tiểu sử, ngoại hình, hành động, tính cách, tâm lý… các nhà văn hiện thực còn đặc biệt chú ý đến việc đặt tên cho nhân vật trong tác phẩm của mình

Trang 39

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CÁCH ĐẶT TÊN RIÊNG CÁC NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO

VÀ TIỂU THUYẾT VŨ TRỌNG PHỤNG 2.1 Danh sách tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

2.1.1 Cách thức tiến hành

Ở đây, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp như : khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích, chứng minh, nhận xét và lập bảng đánh giá kết quả, và tính toán % theo xác xuất Tuy nhiên theo như thực tế, do tính chất, đặc trưng riêng biệt nên văn học là một phạm trù khá trừu tượng để chúng ta có thể tiến hành tính toán một cách tuyệt đối chính xác, cho nên con số tính toán có khả năng chênh lệch nhỏ.)

Chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê các tác phẩm đáng chú ý, chia luồng chủ đề, và theo các cách đặt tên nhân vật Bởi theo kiến giải cá nhân chúng tôi Ở mỗi đề tài, hướng về hình mẫu riêng như nông dân, trí thức, tư sản thì cách đặt tên có thể có khả năng bị ảnh hưởng bởi thiên hướng cảm xúc cuả tác giả Với mỗi hình mẫu nhân vật theo giai cấp xã hội, và ở mỗi giai đoạn sáng tác (trước hay sau cách mạng) tên nhân vật có thể bộc lộ được quan điểm nghệ thuật riêng của tác giả, và điều này có ảnh hưởng qua cách đặt tên nhân vật Vì thế chúng tôi sử dụng các cách thức đã được các nhà nghệ thuật các thời đại sử dụng Ngoài ra, theo nhận định cá nhân, chúng tôi có đưa ra một số cách đặt tên khác để tiến hành đánh giá với những nhân vật có tên cụ thể và nhân vật có tên đặc biệt

Phân loại tên nhân vật theo bản chất, tính cách, số phận của nhân vật Phân loại tên nhân vật theo biệt hiệu, biệt danh

Phân loại tên nhân vật theo đặc điểm nghề nghiệp, chức vụ

Trong truyện ngắn Nam Cao trước 1945, trong phạm vi cho phép của luận văn chúng tôi lựa chọn thống kê, khảo sát tên nhân vật trong những

Trang 40

truyện ngắn sau đây trong cuốn Nam Cao truyện ngắn tuyển chọn, Nxb Văn

học, Hà Nội: Nghèo, Chí Phèo, Dì Hảo, Ở hiền, Tư cách mõ, Đời thừa,

Quên điều độ, Lão Hạc, Lang Rận, Điếu Văn, Mò Sâm panh

Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, Làm đĩ (1936) đã khẳng định tài năng của Vũ

Trọng Phụng ở lĩnh vực tiểu thuyết, đồng thời tạo tiếng vang và tiếng vọng cho tên tuổi ông còn mãi đến ngày nay

2.1.2 Thống kê cụ thể

2.1.2.1 Tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao

Bảng 2.1 Bảng khảo sát tên nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao

Nam

Cao

Cường, đội Tảo, Năm Thọ

Ngày đăng: 04/01/2020, 13:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w