1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa lời thoại nhân vật trong truyện ngắn nguyễn dậu

86 1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu
Tác giả Nguyễn Dậu
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1997
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 319 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Mở đầu1.lý do chọn đề tài

1.1 giao tiếp là một nhu cầu tất yếu giúp con ngời có thể tồn tại và pháttriển trong xã hội Con ngời có thể sử dụng nhiều phơng tiện phụ trợ khác đểgiao tiếp song ngôn ngữ vẫn là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất Giao tiếpbằng ngôn ngữ tồn tại dới hai dạng nói và viết Trong tác phẩm văn học, giaotiếp đợc thể hiện qua lời trao - đáp của các nhân vật do nhà văn tái tạo lại Tuytồn tại trên văn bản viết song đó vẫn là những lời đối thoại sinh động, phản

ánh đặc trng cá nhân trong từng lời thoại Chính vì vậy đây cũng là một đối ợng nghiên cứu không thể bỏ qua khi nói đến hội thoại

t-1.2 Bớc vào thời kì đổi mới, cùng với sự thay đổi của đất nớc văn học ViệtNam cũng bớc vào một giai đoạn chuyển mình với nhiều biến đổi mạnh mẽ Thểloại phóng sự đợc khôi phục, sau phóng sự là tiểu thuyết, tiếp đến là truyện ngắn.Nhiều truyện ngắn hay liên tiếp ra đời đem đến cho Văn học Việt Nam hiện đạimột luồng sinh khí mới, gần gũi hơn với cuộc sống đang thay đổi từng ngày Làmột nhà văn nằm trong dòng chảy chung của văn học thời kì này, bằng cách tiếpcận cuộc sống rất riêng, nguyễn dậu đã cho ra đời khá nhiều truyện ngắn, trong

đó không ít truyện gây đợc tiếng vang, tạo đợc sự quan tâm của d luận Trongtruyện ngắn nguyễn dậu, tỉ lệ lời thoại chiếm phần lớn Điều này cho thấy việc sửdụng lời thoại nhân vật là một trong những phơng tiện biểu đạt tính cách, cá tính,tâm hồn của nhân vật mà nhà văn Nguyễn Dậu đã chọn lựa

Xuất phát từ những lí do đó, chúng tôi đi vào tìm hiểu về “ đặc điểm cấutrúc và ngữ nghĩa lời thoại của nhân vật trong truyện ngắn nguyễn dậu

2.đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 đối tợng nghiên cứu

để thực hiện đề tài “ đăc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa lời thoại của nhân vậttrong truyện ngắn nguyễn dậu” chúng tôi đi vào khảo sát 20 truyện ngắn

trong tập truyện “bảng lảng hoàng hôn”, nxb văn học, 1997 Để tiện theo

dõi, chúng tôi tiến hành đánh số La Mã theo thứ tự xuất hiện của từng truyệntrong tập truyện ngắn

I: Bảng lảng hoàng hôn.

II: Phong lan đen.

III: Đại sám hối.

1

Trang 2

XVIII: Con trai t«i XIX:Ngùa phi trong b·o

tuyÕt.

XX: ThÇy thuèc tåi tÖ.

2

Trang 3

2.2 nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Chỉ ra những đặc điểm về mặt sử dụng các lớp từ cùng vai trò ngữnghĩa của nó cũng nh về đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa lời thoại, từ đó

để thấy những nét riêng biệt trong cách thức xây dựng, tổ chúc ngôn ngữnhân vật của tác giả Nguyễn Dậu

- Rút ra những nhận xét bớc đầu về mặt ngôn ngữ hội thoại của nhânvật trong truyện ngắn nguyễn dậu

3 mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa lời thoại nhân vậttrong truyện ngắn Nguyễn Dậu góp phần tìm hiểu:

đã đợc ông tái hiện một cách trung thực, sinh động ở nhiều tác phẩm Ông

gia nhập cuộc sống văn chơng bắt đầu từ tiểu thuyết Nữ du kích Cam Lộ

và đặc biệt đã trở thành một hiện tợng đơng thời làm sửng sốt nhiều ngời

với tiểu thuyết Mở hầm (1961) Nguyễn Dậu là một nhà văn cần cù miệt

mài làm việc với một ý thức đầy tinh thần trách nhiệm về ngời cầm bút

Đánh giá về ông, đã có một số bài viết, những nhận định nh sau:

Theo tác giả Nguyễn Đình Thi: “Nguyễn Dậu là một cây bút sắc sảo

và bạo dạn” [Dẫn theo 16; 157]

Ngô Vĩnh Bình lại có nhận xét so sánh ví von: “Nếu có thể ví văn

đàn với bóng đá thì nhà văn Nguyễn Dậu là cầu thủ hiệp một đá khá xuấtsắc, hiệp hai bị treo giò, vào đá hai hiệp phụ lại ghi đợc những bàn thắng

đẹp mắt làm mọi ngời hân hoan và sửng sốt” [Dẫn theo 16; 157]

Trong bài viết Di chúc của ngời Mở hầm“ ”, tác giả Bảo Vũ với một

sự ái mộ và nể phục ngời đàn anh trong văn chơng này đã nhận định: “Nói

đến sự nể phục đối với một nhà văn là không cần thiết Anh ta đi qua cõi

đời này với sứ mệnh của một nhà truyền giáo Đó là công việc khuyếnthiện và tôn vinh Con Ngời Trong giáo phái có thể anh ta chỉ ở đẳng cấpthấp; nhng những gì ngời thầy tu khổ hạnh ấy để lại cho đời, dù chỉ là mộtdấu vết mờ nhạt thôi, cũng đủ để ngời ta cúi mình trớc nấm mồ của anh”[43; 6]

Tác giả Anh Chi trong bài viết “Nhà văn Nguyễn Dậu”, trình bàymột cách khá toàn diện về cuộc đời cũng nh sự nghiệp văn chơng của NguyễnDậu và đã đa ra đợc một số nhận xét khái quát về từng mảng sáng tác của nhàvăn này: Với mảng tác phẩm thứ nhất: “Nguyễn Dậu lăn xả vào thực tế lao

Trang 4

động ở các nhà máy hầm mỏ; và với sức trẻ, ông viết say mê, gấp gáp Văn ônggiai đoạn đó ngồn ngộn sức sống Sự tơi nguyên, nên có thể bị coi là tự nhiênchủ nghĩa” Với mảng tác phẩm thứ hai: “Văn ông giai đoạn này vững vàng về

bố cục, mạnh bạo trong suy t, sắc sảo trong mô tả, và đặc biệt sâu lắng trongxúc cảm” [7; 19]

Qua việc thu thập và phân tích các bài viết, cũng nh các nhận địnhcủa các tác giả đi trớc về nhà văn Nguyễn Dậu, chúng tôi nhận thấy phầnlớn họ đều chỉ mới tìm hiểu và đa ra một số nhận xét về nhà văn này dớigóc độ của lý luận phê bình văn học, cha có một công trình nào tập trungtìm hiểu về truyện ngắn Nguyễn Dậu trên bình diện ngôn ngữ học

Hơn nữa hớng nghiên cứu về lời thoại nhân vật trong tác phẩm vănhọc lâu nay cũng đã có những thành công nhất định Nhiều luận án tiến sĩ,luận văn thạc sĩ vận dụng lý thuyết ngữ dụng học để nghiên cứu ngôn ngữhội thoại của nhân vật đã rút ra đợc một số kết luận quan trọng về mặtphong cách ngôn ngữ trong truyện ngắn của một tác giả Có thể kể đếnmột số đề tài nghiên cứu sau của các tác giả:

Tác giả Lê Thị Trang với đề tài: “Ngôn ngữ hội thoại của nhân vậttrong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, đã vận dụng lý thuyết ngôn ngữhọc kết hợp với kiến thức lý luận văn học để nghiên cứu và rút ra đợc một

số kết luận quan trọng về ngôn ngữ hội thoại của nhân vật trong truyệnngắn Nguyễn Huy Thiệp, tác giả kết luận: “Lời thoại nhân vật là mộttrong những phơng tiện nghệ thuật hữu hiệu để mở ra thế giới “đầy bí ẩn”trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” [39; 110]

Tác giả Lê Thị Hồng Vân trong “Đặc điểm lời thoại nhân vật nữtrong văn bản kịch Lu Quang Vũ”, cũng đi theo hớng tìm hiểu về hìnhthức và nội dung lời thoại nhân vật trong các tác phẩm kịch của một tácgiả Hớng nghiên cứu này đã giúp tác giả rút ra đợc một số kết luận quantrọng về đặc điểm lời thoại của nhân vật nữ trong kịch Lu Quang Vũ, thểhiện những đặc trng riêng của giới tính nữ nh: lời thoại phản ánh thiênchức thiêng liêng của ngời phụ nữ, phản ánh mối quan hệ đa chiều của họtrong cuộc sống

Lê Thị Sao Chi với đề tài “Ngôn ngữ độc thoại của nhân vật trongtruyện ngắn Nguyễn Minh Châu”, đã xem xét ở dạng độc thoại và rút ra

đợc những giá trị thẫm mỹ quan trọng trong ngôn ngữ độc thoại của nhânvật cũng nh phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu

Trong xu hớng chung đó, chúng tôi đi sâu tìm hiểu về truyện ngắnNguyễn Dậu trên bình diện cấu trúc và bình diện ngữ nghĩa lời thoại củanhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu, qua đó, góp phần tiếp nối xu h-ớng tìm hiểu đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa chung của các nhà văn ViệtNam hiện đại sau năm 1975

5.phơng pháp nghiên cứu

để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp nghiêncứu sau:

Trang 5

- Phơng pháp thống kê phân loại: Chúng tôi đã tiến hành thống kê hệthống lời thoại của các nhân vật trong tổng số 20 truyện ngắn từ tập

truyện Bảng lảng hoàng hôn của Nguyễn Dậu, trên cơ sở đó thực hiện

việc phân loại các lời thoại về mặt cấu trúc - ngữ nghĩa

Phơng pháp so sánh đối chiếu: Cùng với phơng pháp thống kê phân loại, chúng tôi đã sử dụng phơng pháp so sánh đối chiếu các dạngthoại trong truyện ngắn Nguyễn Dậu, cũng nh so sánh đối chiếu với ngônngữ hội thoại ở một số tác giả khác nh Nam Cao, Vũ Trọng Phụng,Nguyễn Huy Thiệp

Phơng pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở thống kê phân loại và sosánh, chúng tôi đã tiến hành phân tích những đặc điểm về mặt cấu trúc - ngữnghĩa, từ đó tổng hợp khái quát để rút ra những đặc điểm thuộc về phong cáchcủa nhà văn

6.đóng góp của đề tài

Đây là đề tài lần đầu tiên vận dụng lý thuyết ngữ dụng học về lờithoại để tìm hiểu những đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa lời thoại nhân vậttrong truyện ngắn Nguyễn Dậu Trên cơ sở đó góp phần rút ra một sốnhận xét bớc đầu về ngôn ngữ hội thoại cũng nh phong cách truyện ngắncủa nhà văn này

7.cấu trúc của luận văn

ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm có 3 chơng:

Chơng 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Chơng 2: Đặc điểm sử dụng từ ngữ qua lời thoại nhân vật trongtruyện ngắn Nguyễn Dậu

Chơng 3: Đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa lời thoại nhân vật trongtruyện ngắn Nguyễn Dậu

Trang 6

Chơng 1 những giới thuyết liên quan đến đề tài

1.1 xung quanh vấn đề hội thoại

Giao tiếp là một trong những hoạt động xã hội thờng xuyên của conngời, trong đó giao tiếp hội thoại là hoạt động cơ bản nhất, phổ biến nhất.Sau đây là một số định nghĩa về hội thoại:

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ

để nói chuyện với nhau” [44; 461]

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học: “Hội thoại là hoạt

động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao

đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích đợc đặt ra” [45; 122].Rozdextvenxki định nghĩa: “Một ngời có thể nói với một ngời khácmột điều gì đó, ngời nghe có thể hiểu đợc và trả lời bằng từ ngữ, hành

động hay t duy Một quá trình nh thế gọi là hoạt động giao tiếp” [34; 40].Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nóibên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: Bênnghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại”[10; 76]

Từ các định nghĩa về hội thoại trên, chúng tôi chọn quan niệm củatác giả Đỗ Thị Kim Liên: “Hội thoại là một trong những hành động ngônngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnhnhất định mà giữa họ có sự tơng tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành

vi nhận thức nhằm đi đến một nhận định nhất định” [28; 18] làm cơ sởcho mình khi tiếp cận vấn đề hội thoại trong truyện ngắn Nguyễn Dậu

1.2 Vài nét về tác giả nguyễn dậu

Tên khai sinh là Trơng Mẫn Song, sinh ngày 25 - 10 - 1930, tạithành phố Hải Phòng Ông thuộc lớp nhà văn trởng thành trong khángchiến chống Pháp Cuộc đời của ông ít may mắn và đầy phiêu bạt Vừaqua tuổi 15, nguyễn dậu đã thoát ly gia đình tham gia công tác tuyêntruyền ở vùng địch hậu Năm 1946, ông gia nhập bộ đội và bắt đầu nhữngtháng ngày đi qua nhiều mặt trận, làm nhiều việc từ quân y, lính cao xạ,

bộ binh, lính dã pháo 105 ly, phiên dịch

Hoà bình lập lại ông chuyển ngành làm việc ở xởng phim, làm biêntập nhà xuất bản Phổ thông, tòa soạn báo Văn nghệ và công tác tại Sở vănhoá Hà Nội Trong thời gian này với vốn sống phong phú Nguyễn Dậu đã

cho ra mắt nhiều tác phẩm, đặc biệt là tiểu thuyết Mở hầm, tác phẩm đã

trở thành một hiện tợng đơng thời làm sửng sốt nhiều ngời bởi lối viết sắcsảo, bạo dạn

Sau 1975, để sinh nhai, Nguyễn Dậu đi vào miền Nam, sang tới đấtCampuchia, đến đầu những năm 80 mới quay về Hà Nội và trở lại văn đànvới hàng loạt truyện ngắn, trong đó nhiều truyện đã gây đợc tiếng vangkhá lớn, ghi một dấu ấn mới trong lòng bạn đọc

Trang 7

Cuộc đời văn chơng của Nguyễn Dậu nhìn tổng quát có thể thấy rõhai mảng tác phẩm chủ yếu sau:

Mảng tác phẩm thứ nhất gồm những tác phẩm xuất hiện từ năm 1955

– 1962, khép lại với sự kiện Mở hầm Văn ông ở giai đoạn này ngồn

ngộn sức sống của sự tơi nguyên, đó cũng chính là kết quả từ những thángngày lăn lộn với thực tế lao động ở các nhà máy, hầm mỏ để thu nhận tliệu từ cuộc sống của những ngời thợ

Mảng tác phẩm thứ hai là những sáng tác kể từ truyện ngắn Ngựa

phi trong bão tuyết cho đến những tác phẩm làm nên một bộ phận nữa

của Hồ Gơm (Hà Nội) Văn phong giai đoạn này lại giản dị, trầm tĩnh,tìm đến sự sâu lắng trong xúc cảm, không ào ạt, sắc bén nh văn chơngthời kỳ trớc đây

Cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời, ông vẫn không ngừng

cầm bút sáng tác Chấm dứt kiếp hoang chính là truyện ngắn cuối cùng

của ông đợc in trên mặt báo chỉ ít ngày sau khi ông qua đời vào

24-07-2002 tại Hải Phòng

Có thể kể đến những tác phẩm chính mà Nguyễn Dậu đã để lại trongsuốt quãng thời gian cầm bút sáng tác của mình:

Tiểu thuyết: Đôi bờ (Thanh niên 1958), Mở hầm (Thanh niên 1961),

Vòm trời Tĩnh Túc (Lao Động 1963), Nàng Kiều Nh (Lao Động 1993).

Tập truyện: ánh đèn trong lò (Văn học, 1961), Huệ Ngọc (Văn Học,

1962), Con thú bị ruồng bỏ (Hội nhà văn, 1994), Rùa Hồ Gơm (Hà Nội, 1994), Đôi hoa tai lóng lánh (Văn Học, 1995), Hơng khói lòng ai (Văn

Học, 1995), Phật tại tâm (Văn Học, 1997), Bảng lảng hoàng hôn (VănHọc, 1997)

Ngoài ra ông còn có một số ấn phẩm dịch thuật khác, là một dịch giả

với nhiều tác phẩm khá nổi tiếng nh: Bí th xã, Ngời da đen nớc Mỹ, Ngôi sao đỏ Đổng Tôn Thuỵ

1.3 thế giới nhân vật trong truyện ngắn nguyễn dậu

1.3.1 khái niệm nhân vật và nhân vật trong hội thoại

nhân vật văn học là những “con ngời đợc miêu tả, thể hiện trong tácphẩm, bằng phơng tiện văn học” [29; 61] đó có thể là những nhân vật cótên hoặc không có tên, những nhân vật đợc miêu tả bằng hình thức cụ thểhoặc chỉ vài ba nét phác hoạ Song dù xuất hiện dới hình thức nào thì đóvẫn là một nhân tố không thể thiếu của văn học “bởi vì đó là hình thứccơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tợng” [29; 62].Trong hội thoại, nhân vật văn học đó chính là “những ngời tham giavào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lờinói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau” [6; 15]

mỗi nhân vật gắn với một hoàn cảnh sống riêng sẽ mang một ngônngữ, giọng điệu riêng chính vì vậy khi nói đến một cuộc hội thoại, nhânvật hội thoại là một nhân tố không thể thiếu và đóng một vai trò cốt yếutrong việc “xử lý các tình huống hội thoại, lựa chọn chiến lợc giao tiếp,

Trang 8

đánh giá, tiếp nhận hiệu quả giao tiếp và đồng thời nhân vật hội thoạicũng là chủ thể nhận thức, chủ thể hành động nên có những diễn biến vềtâm lý trong quá trình hội thoại dẫn đến sự thay đổi từ xng hô, thay đổihành vi ngôn ngữ” [28; 261].

1.3.2 thế giới nhân vật trong truyện ngắn nguyễn dậu

thế giới nhân vật trong hơn 20 truyện ngắn đã đợc tiến hành khảosát là một thế giới thật phong phú đa dạng, với đủ loại ngời, hạng ngời Ta

có thể bắt gặp trong tập truyện ngắn này từ bà nội trợ, những đứa trẻ bụi

đời, những kể lừa đảo, cho đến các cục trởng, vụ trởng, thứ trởng điều

đặc biệt có thể nhận thấy đó là các nhân vật nh là những nguyên bản củangời thật, việc thật, đều xuất phát từ không gian sống, sự quan sát thực tếxung quanh không gian trú ngụ hay trên những bớc đờng rong ruổi củanhà văn Theo kết quả thống kê cho thấy có 130 nhân vật xuất hiện trongtổng số 20 truyện ngắn bao gồm những nhân vật đợc tác giả miêu tả, khắchoạ tính cách một cách rõ nét và cả những nhân vật phụ, chỉ xuất hiệnthoáng qua trong một vài tình tiết của truyện song nếu thử làm công việcquy tụ các nhân vật lại có thể thấy đó nh là một xã hội thu nhỏ với biếtbao chuyện đời, chuyện ngời trớc cuộc sống

Trớc hết ta bắt gặp anh chàng bán mật vịt giả mật rắn trong truyện

mật rắn, một kiểu ngời rất đặc trng, sống kiếp sống hoang quanh bờ hồ

gơm họ tìm mọi cách để kiếm tiền, đôi khi phải sống bất chấp tất cả cho

dù việc làm của mình có gây ra tác hại đến ngời khác nh thế nào

Ngoài ra ta còn gặp các nhân vật nh: đoàn kiểm, một thứ trởng đã từchối nhìn nhận ngay cả giọt máu của mình - ngời con trai bây giờ đã trởthành phó tiến sĩ dân tộc học - vì nỗi lo sợ với cấp trên, lo sợ sẽ không đạt

đợc cái ghế thứ trởng mà mình là đối tợng đang chuẩn bị đợc đề bạt, nhânvật noọng ngàn mang trong mình một tình yêu tha thiết, chân thành đếntội nghiệp Vì tình yêu đó mà bà đã băng suối, băng rừng với hy vọng tìmthấy đợc ngời mà mình vẫn hằng đau đáu chờ mong trong suốt hơn ba m-

ơi năm qua Trong dấu chân đẫm ớt: mùa, chiêm cùng cơng thạch,

thiết mộc lại hiện lên trong khung cảnh hoà trộn giữa thực và ảo, mộtminh chứng cho tình anh em ruột thịt thật cao đẹp không gì sánh bằng Bà

Ngọc xuất hiện ở truyện ngựa phi trong bão tuyết, một con ngời đã một

thời luôn tôn thờ và thực hiện đúng theo phơng châm sống “bất độc bấtanh hùng”, hình ảnh của Võ tắc thiên hiện đại

Nhìn chung thế giới nhân vật trong truyện ngắn nguyễn dậu có thểquy về ba dạng biểu hiện chủ yếu sau:

a, Những nhân vật luôn sống với những hồi ức, kỷ niệm nh lý thịlâm “biết thuở nào nguôi”, vẫn không quên tình cảm với ngời yêu ở quêhơng, nh cô gái phan thị tuệ t luôn đau đáu về những tháng năm phảisống giữa những ngời xa lạ ký ức ấy đã hằn in cả trên gơng mặt của cô,một đôi mắt “nhìn gần thì thấy buồn buồn, nhìn xa thì hiện lên vẻ ngạo

Trang 9

mạn, lạnh lẽo, hờn hận, nhng sắc bén, một chút u u ẩn ẩn, xa xăm vàkhinh bạc tất cả”, hoặc là noọng ngàn luôn ôm ấp trong trái tim mìnhhình bóng đoàn kiểm của ba mơi bảy năm về trớc, để rồi ba mơi bảynăm ấy là biết bao lần bà mế này đã khăn gói đi tìm bố cho đứa con traicủa mình.

b, Chiếm phần đa vẫn là những nhân vật của thực tại cuộc sống vớinhững mối quan tâm về tình yêu, thái độ sống có thể thấy nh tình yêucủa thanh tâm đối với nhợc lan là một tình yêu đòi hỏi anh phải đốimặt với thực tế cuộc đời của ngời yêu - một cô gái giang hồ Cô kỹ s thợ

máy trong hồn biển quê hơng phải chọn lựa giữa ra đi, trốn chạy hay là

“ở lại! trụ vững! để chiến đấu với mọi tồi tệ” Ta còn gặp một đặng quânchi trâng tráo sống bằng cách lợi dụng lòng tin của thiên hạ để bán rắnthật, mật giả Cậu bé hùng (s cọ) một hình ảnh điển hình cho bao đứa trẻ

bụi đời lấy hồ gơm làm chốn sinh nhai trong Chấm dứt kiếp hoang Một

Đoàn Kiểm tráo trở, chọn lựa thiệt hơn ngay cả trong tình cảm cha con,

tình huyết thống thiêng liêng (Con trai tôi).

c, Bên cạnh đó còn có những nhân vật mang hơi hớng của truyềnthuyết dân gian nh: ông mùa, bà mùa, chị em mùa chiêm, anh em cơngthạch thiết mộc (dấu chân đẫm ớt); ông thầy tàu (xóm trại đồng

Sự đa dạng về thế giới nhân vật trong truyện ngắn nguyễn dậu với

đủ hạng ngời cùng loại nghề nghiệp cũng góp phần tạo nên sự phong phú

về ngôn ngữ của nhân vật mỗi nhân vật là một phong cách ngôn ngữriêng, không chỉ cho ta thấy thế giới tình cảm với những biến đổi của cảmxúc mà còn phản ánh cả hoàn cảnh sống và địa vị xã hội của bản thân mỗinhân vật

1.4 hoàn cảnh giao tiếp của nhân vật trong truyện ngắn nguyễn dậu

1.4.1 khái niệm hoàn cảnh giao tiếp

nói tới giao tiếp không thể không nhắc tới ngữ cảnh giao tiếp Mộtcuộc thoại dù tồn tại dới hình thức nào thì bao giờ nó cũng phải dợc diễn

ra trong một khoảng không gian, thời gian nhất định Có nhiều cách hiểu

Trang 10

Tác giả đinh trọng lạc quan niệm: “hoàn cảnh giao tiếp bao gồmhoàn cảnh giao tiếp theo nghi thức và không theo nghi thức Hoàn cảnhtheo nghi thức là hoàn cảnh xã hội trong đó diễn ra hành vi giao tiếp bằnglời nói mang tính chất đứng đắn, nghiêm túc, hoàn chỉnh Hoàn cảnhkhông theo nghi thức là hoàn cảnh xã hội trong đó diễn ra hành vi giaotiếp bằng lời mang tính chất tự do, thoải mái, tuỳ tiện” [24; 8].

Theo tác giả đỗ thị kim liên, ngữ cảnh gồm hai phần:

- ngữ cảnh chính là thời gian, không gian, cảnh huống bên ngoàicho phép một câu nói trở thành hiện thực, nói đợc hay không nói đợc

đồng thời giúp ta xác định tính đơn nghĩa của phát ngôn

- ngữ cảnh gắn chặt với quá trình hội thoại Đây là ngữ cảnh hiểu theonghĩa hẹp, còn đợc gọi là ngôn cảnh Ngôn cảnh chính là điều kiện trớc vàsau phát ngôn để cho phép hiểu đúng nghĩa của từ hay phát ngôn cụ thể [28;27]

Tuy mỗi tác giả có những cách hiểu khác nhau về ngữ cảnh, songkhông ai có thể phủ nhận tác động của ngữ cảnh lên lời thoại của nhânvật, chi phối nhân vật sử dụng vốn từ ngữ, cách vào đề, cách nói chuyện,nội dung hội thoại

1.4.2 không gian, thời gian để lời thoại nhân vật xuất hiện

1.4.2.1 hoàn cảnh không gian

“ sự tồn tại của một vật thể là tồn tại trong không gian mà chính vậtthể ấy cũng là một phần tử” [20; 87] Chính vì thế không gian của hộithoại chính là không gian sinh sống, tồn tại của cá nhân, chi phối nộidung và vốn từ ngữ đợc sử dụng trong lời thoại của nhân vật

ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến lời thoại của các nhân vật đợc chủthể nhà văn tái tạo lại trong tác phẩm văn học

(1) Trong một phút bồng bột hồn nhiên, cháu nũng nịu vòi vĩnh ông ngoại:

- Ông ơi, ông cho cháu đón con Múc về nhé?

- ừ, ông đồng ý, nếu cháu tìm thấy nó?

- Cháu tìm đợc thì sao nào?

Trang 11

chật hẹp này ẩn chứa bao cảnh đời, cảnh ngời, bao chuyện buồn vui lẫntrớ trêu mà cuộc sống luôn luôn luân chuyển đem đến cho họ.

Trong không gian sống đó, lần đầu tiên Kim ánh tìm đến với sự thật

về ngời cha ruột thịt của mình qua cuộc nói chuyện với bác Tờng trong

ánh mắt xa xăm, nơi gặp gỡ và diễn ra cuộc trò chuyện tâm tình giữa bà Lam cùng cô con gái Kim Loan trong Hồi nào đó ta cùng về chuyện tình

tay ba đầy ngang trái mà rốt cuộc cả ba đều phải gánh chịu những đau

đớn, khổ sở trong suốt phần đời còn lại:

(2) - Mẹ con không chấp nhận tình bạn ấy.

- Có, mẹ con rất thành thực vui vẻ Có điều, cha con lại không thể nào quên đợc mẹ Biết đợc rõ rệt lòng chồng, mẹ con đã đau đớn đem con đi nơi khác Còn mẹ, từ đó chính mẹ, cũng chẳng bao giờ còn lai vãng thăm hỏi cha con cho đến khi ông ấy qua đời vì vết thơng cũ tái phát (X, tr 194).

Cũng vậy, trong Con trai tôi không gian thành thị là nơi diễn ra cuộc

thoại đầy cảm động của noọng Ngàn khi tìm lại đợc ngời chồng, ngời cha,ngời ông cho con cháu, là cuộc hội thoại đầy xúc động với những lời nóichân thành xuất phát từ đáy lòng của chàng thanh niên ngời dân tộc khiquyết định nhận ngời cha hờ làm ngời cha đích thực của mình

(3) - Giá trị của một ngời cha hờ và một ngời cha đích thực không quan trọng ở huyết thống, mà là ở tâm địa Con nhìn nhận và đòn rớc một kẻ bội bạc và nhẫn tâm làm gì, tha cha ? (XVIII, tr 401)

Đặc biệt có một không gian cụ thể, nhỏ hẹp xuất hiện khá nhiều lần

ở một số truyện đó là không gian xung quanh khu vực đền Ngọc Sơn,

nằm giữa phố phờng Hà Nội (Bảng lảng hoàng hôn, Phong lan đen, Mật rắn) có thể nói dờng nh mời bảy năm c ngụ và làm ăn sinh sống ở khu

Đền Ngọc Sơn là một quãng thời gian đầy quý giá đối với sự nghiệp vănchơng của Nguyễn Dậu Tại đó ông đã chứng kiến bao nhiêu số phận,những cảnh đời ngang trái, những cuộc sống lăn lóc khổ đau, để từ đótrong các sáng tác của mình nhiều hình tợng nghệ thuật đã đợc tác giảxây dựng đầy chân thực và sống động ra đời

Mật rắn là một cuộc hội thoại dài diễn ra trên nền cảnh không gian

ấy, và cứ thế qua mỗi lần trò chuyện số phận tính cách, bản chất của nhânvật Đặng Quân Chi lại càng hiện lên rõ nét, là nơi Đặng Quân Chi thựchiện tài ba hoa, trâng tráo lừa lọc bán rắn thật mật giả

Trong không gian Đền Ngọc Sơn, Thanh Tâm tìm thấy tình yêu củamình và cũng chính nơi đây trong căn buồng chật hẹp anh đã giải bày tâm

sự những băn khoăn, trăn trở cùng với bác phó cạo về tình yêu

Bảng lảng hoàng hôn là một câu chuyện cảm động về tình yêu,

những hồi ức, những kỷ niệm lần lợt trở về trong dòng hoài niệm của ni sThu Viên từ cuộc tái ngộ đầy bất ngờ với Nguyễn Tầm T ở Đền NgọcSơn, để rồi ngời ni s lại ra đi chỉ với một ớc nguyện đợc mang trong mình

Trang 12

bức ảnh của ngời yêu mà bao lâu nay nàng vẫn giữ bên mình nh một kỷvật không lúc nào rời xa.

Trong Chấm dứt kiếp hoang cuộc gặp gỡ, trò chuyện giữa Hùng s cọ

và bác phó cạo cũng đều đợc thực hiện trong không gian Đền Ngọc Sơn.Không gian Đền Ngọc Sơn tuy là một không gian sống cụ thể, khánhỏ hẹp song từ chính không gian sống này biết bao câu chuyện xảy racũng phức tạp nh chính thế giới của những kiếp sống hoang quanh khuvực Đền này

b) Không gian nông thôn

Không gian nông thôn trong Nguyễn Dậu trên bề mặt tởng nh êm

đềm, bình lặng cố hữu của những vùng quê nhng ẩn sâu trong đó biết baonhiều câu chuyện về quan hệ láng giềng, chòm xóm, quan hệ anh em ruộtthịt, tình yêu nam nữ luyến ái đầy xót xa và cả những giây phút hạnhphúc

Đại sám hối là một cuộc trở về quê hơng sau mời năm lẫn trốn của

nhân vật Phạm Phớc bởi chỉ vì những hành động dại dột và nghĩ mình đãgiết chết ông chủ nhiệm hợp tác xã Tại đây đã diễn ra cuộc trao đổi thậtthẳng thắn nhng chân tình giữa anh và bà chủ tịch viện kiểm sát, cũng tạinơi đây nếu mời năm trớc anh đã ra đi vì lòng thù hận thì nay ngày trở vềchỉ còn mang trong lòng mình sự sám hối, tha thứ cho tất cả những u mê,lầm lạc của một thời

Chân trời góc bể lại đem chúng ta trở về với không gian một vùng

thôn quê với những u mê, hủ tục của thời phong kiến, trong khung cảnh

đó đã diễn ra cuộc thoại đánh dấu sự gặp gỡ kết nối hai mảnh đời bấthạnh giữa anh Nẫn và cô gái chân chì Song cũng chính nơi đây đã buộc

họ phải ra đi tìm vùng đất sống khác để rồi ngày hôm nay qua câu chuyện

kể của ông Nẫn, ngời vợ khi trở lại nơi xa kia đã từng đem bà thả bè trôisông thì những dòng nớc mắt tấm tởi cứ tuôn trào không thể nào dừng đ-ợc

Trong Thầy thuốc tồi tệ cuộc thoại của các nhân vật phần lớn đều

diễn ra ở gia đình của Sính đó là những lần đối thoại giữa Nguyễn Tầm Tvới Sính và giữa Nguyễn Tầm T với nhân vật Súng ngời anh của Sính, mộtngời anh mà những câu nói nếu đợc thoát ra từ cửa miệng của anh ta cũngchỉ là những thứ ngôn từ cáu bẳn, gắt gỏng nh muốn tống khứ ngay ngời

em gái của mình ra khỏi nhà để độc chiếm toàn bộ đất đai

Dấu chân đẫm ớt là một câu chuyện mang đậm chất nhân bản về

tình vợ chồng, tình anh em ruột thịt, đợc viết theo lối huyền ảo, h thựcmang hơi hớng của truyền thuyết dân gian dựa trên nền không gian củamột vùng quê Việt Nam thời trớc Trên bến Hoắm lần đầu tiên 2 anh emCơng Thạch, Thiết Mộc đã gặp hai chị em Mùa, Chiêm Để rồi trong ngôinhà đơn sơ của chị em Mùa, Chiêm, hai chàng trai đợc nghe câu chuyện

về cái chết lỳ lạ của ông bà Mùa:

Trang 13

(4) - Thật là thiên cổ kỳ sự chẳng rõ ở gầm trời này còn có nơi nào xảy ra chuyện tơng tự không, chứ quả là hiếm quá, hiếm quá; vợ tình nguyện chết theo chồng để đa đỡ thi thể chồng lên bờ (XIV, tr 309).

Có thể nói không gian nông thôn xuất hiện trong Nguyễn Dậu là mộtkhông gian sống không hề bình lặng chút nào, ở đó con ngời cũng bonchen, vị kỷ, thậm chí chà đạp lên cả tình huyết thống, một không gian bêncạnh cái khí chất bình lặng của nó đã xuất hiện những bất ổn trong quan

hệ giữa ngời với ngời

c) Không gian vận động

Đây là loại không gian luôn vận động, biến đổi, nó luôn đợc đặttrong một chuyến đi, một hành trình để rồi trên không gian chuyển động

đó những câu chuyện bất ngờ lý thú đã diễn ra

Hồn biển quê hơng xuyên suốt truyện là chuyến đi của những hành

khách trên một chiếc tàu ở đó đã diễn ra cuộc đối thoại giữa anh đại uý

và cô kỹ s cơ khí về sự lựa chọn thái độ sống:

(5) - Lý em, nghe anh nói đây Anh đã đổ máu để bảo vệ hải đảo Mai kia có thể sẽ còn đổ máu, thậm chí hy sinh Anh đủ t cách để nói với

em rằng quê hơng là rất thân yêu.Nhng ở quê hơng còn nhiều sự việc tồi

tệ, còn nhiều kẻ gây ra sự tồi tệ ở lại ! trụ vững ! Để chiến đấu với mọi tồi

tệ mới là điều khó Còn nếu bỏ mặc mà đi, thì chúng ta chỉ là những kẻ chiến bại, những vong quốc nô Trên đời không có gì tự hào dành cho kẻ trốn chạy cả Thế gian đã nảy sinh lũ đểu cáng, thế gian cũng nảy sinh ngời cao thợng Đó là luật bù trừ của đời.

- Không Mọi lỗi lầm là ở em Lý nghẹn ngào.

- Thì em hãy đứng cao hơn mọi lỗi lầm của chính mình Em hãy tha thứ cho em, tha thứ cho kẻ gây ra sự tồi tệ, tha thứ tất cả Nghĩa là em hãy quên đi mọi sự phiền lòng Em chỉ cần nhớ đến đất nớc và nhân dân còn nhiều đau khổ, gian truân, rồi làm việc, là đủ (V, tr 95).

Đó là không gian chuyển động trên một chuyến tàu ra Bắc trong Gió núi mây ngàn nơi Nguyễn Tầm T đã gặp gỡ và diễn một câu chuyện đầy

bất ngờ với cô gái Phan Thị Tuệ T, một cuộc đối thoại giữa hai "cha con"sau hai mơi sáu năm không hề tin tức

Chuyến xe đêm trên cao nguyên giá lạnh đã làm nền cho cuộc thoại

đầy xúc động giữa Trơng Mẫn và Nhã Châu sau bốn mơi mốt năm xacách tởng chừng nh sẽ không bao giờ gặp lại:

Trang 14

- Điệu Lơ bô xi en Pê-canh (Bầu trời Bắc Kinh đẹp)“ ” (XVII, tr.362).

Trong Thung lũng mù sơng trên không gian chuyển động của đoàn

tàu khi đi qua vùng đất đặc biệt ấy, Lu Thanh Sơn đã dốc bầu tâm tình tròchuyện cùng nhân vật tôi không gian chuyển động đó nh càng cho anhthêm cơ hội để xích lại gần hơn, để đợc trải lòng mình và tìm thấy một sự

đồng điệu về tâm hồn ở ngời khách già kì lạ kia

1.4.2.2 Thời gian

Cùng với nhân tố không gian, thời gian cũng là một trong nhữngnhân tố nền cảnh, tại thời điểm đó cuộc thoại của nhân vật xuất hiện

a, Trong truyện ngắn Nguyễn Dậu lời thoại các nhân vật xuất hiện

đều gắn với thời gian của cảnh sống sinh hoạt đời thờng

Đó có thể là thời gian bắt đầu một ngày mới, hay trong một buổi tra,một buổi chiều, buổi tối trong đó thời gian buổi chiều vẫn là khoảngthời gian để các cuộc hội thoại xuất hiện nhiều nhất trong truyện ngắnNguyễn Dậu Các nhân vật thờng gặp gỡ và đối thoại vào khoảng thờigian buổi chiều nhằm giải bày tâm sự, hẹn hò, tranh luận, kể lễ sự tình,thuyết phục, trách cứ Có thể nói dờng nh buổi chiều là khoảng thời giantốt nhất, tâm hồn con ngời cũng trở nên bình lặng nhất dễ dàng để bắt đầucho những câu chuyện dài về những cảnh đời, cảnh ngời xung quanhmình

Trong Bảng lảng hoàng hôn, một chiều sau cơn ma ngâu sùi sụt là

quảng thời gian Nguyễn Tầm T gặp lại ni s Thu Viên và nghe nàng giảibày nỗi niềm về một tình yêu đơn phơng trong suốt ba mơi năm qua với

ông

(7) - Đã hai nơi nhăm năm anh quên em rồi

tôi thực sự thơng cảm, nói nhỏ:

- Cụ từ cũng đã nói rằng Nhng ni s lầm chăng? Tôi cha hề

đóng quân ở Tuyên Quang lấy một ngày (I, tr 16).

Hoặc đó là buổi chiều khi bác phó cạo lại thu dọn đồ nghề và trở về

Đền cũng là lúc Thanh Tâm đang đợi sẵn ở cửa để tìm đến ngời bạn giàmột lời khuyên cho những trăn trở của mình về tình yêu với cô gái NhợcLan có cuộc đời kỳ bí:

(8) - Anh lớn tuổi hơn, từng trải hơn, anh hãy cho em một lời khuyên (II, tr.

133)

Đó là một cuộc gặp gỡ nh đợc số phận sắp đặt giữa anh đại uý và Lý,cô kỹ s thợ may trên một chuyến tàu trong một buổi chiều đầy nắng Đểrồi qua cuộc chuyện trò, Lý đã đợc nghe những lời khuyên chân thành từanh:

(9) - Thì em hãy đứng cao hơn mọi lỗi lầm của chính mình Em hãy tha thứ cho em, tha thứ cho kẻ gây ra sự tồi tệ, tha thứ tất cả Nghĩa là em

Trang 15

hãy quên đi mọi sự phiền lòng Em chỉ cần nhớ đến đất nớc và nhân dân còn nhiều đau khổ gian truân, rồi làm việc, là đủ (V, tr 96).

Chiều xuống trên cánh đồng chiêm là lúc mở đầu cho cuộc hẹn hò

đầy thú vị giữa anh Kỳ và cô Hến chị:

(10) - Thế lúc nào?

- Tối nay

- ở đâu?

- ở gò mối xông Đằng ấy ngồi đò, tớ bơi (XIII, tr 279).

Đây cũng chính là thời gian mở màn cho cuộc đối thoại gay gắt giữa

2 ngời đồng đội cũ về Noọng Ngàn, là lúc Đoàn Cơng bộc lộ tất cả bảnchất bội bạc của mình và Nguyễn Tầm T chỉ còn biết tỏ rõ sự thất vọng vềngời bạn đã từng thân thiết một thời:

(11) Bạn Kiểm, bạn thay đổi quá nhiều ở bạn, tôi không còn tìm thấy chút gì là thằng bạn đồng ngũ của tôi năm xa cả Ngày xa chúng ta trong sáng biết bao (XVIII, tr 394).

b) Thời gian hồi tởng

Thời gian hồi tởng chính là khoảng thời gian đợc nhân vật tái hiệnqua hồi ức hay nhớ lại những kỷ niệm, những sự việc đã qua Trongtruyện ngắn Nguyễn Dậu loại thời gian này xuất hiện khá nhiều góp phầnkhắc hoạ rõ nét đời sống tâm hồn của nhân vật

Nh hồi ức về lần đầu gặp gỡ giữa ni s Thu Viên với Nguyễn Tầm T

trong Bảng lảng hoàng hôn:

(12) - Hôm ấy, đơn vị anh diễn một vở gì có cảnh thằng Tây vào chùa đốt phá, hiếp dâm s nữ Anh đã mợn quần áo của một chú tiểu gái“ ”(I, tr 18)

Ký ức đau buồn về cái chết của mẹ từ lời kể của ngời em:

(13) Nó biết ngày mai mẹ sẽ đi cấy ở cánh đồng Gối, đêm hôm đó

nó đập vỡ mấy cái chai rồi rắc mảnh chai xuống ruộng đã bừa ngấu Mẹ

bị một mảnh chai đâm xuyên từ gan lồi qua mu bàn chân nó còn xách súng

đi chửi đổng khắp làng rằng: Mày làm vỡ đầu bố ông thì ông xẻ toác chân

mẹ mày ra! ông tha bắn vỡ sọ cả nhà mày là ông còn rộng lợng đấy! Sau đó

ít ngày, mẹ bị nhiễm trùng uốn ván Anh ơi mẹ chết khổ chết sở lắm”(III, tr 53)

Câu chuyện tình tay ba éo le, phức tạp giữa Huyền Ngọc, Nhật và

T-ờng qua lời kể của ông TT-ờng cục trởng trong ánh mắt xa xăm, hay hồi

t-ởng của anh đại uý về thủa bé ở quê hơng, trong vòng tay bao bọc của mẹvới hình ảnh của những chiếc bánh bèo, bánh đa kê, chiếc lợc gảy răng

của chị, sợi sà - tích của mẹ ở Hồn biển quê hơng, những hồi tởng của bà

Lam về những ngày tháng làm dâu và phải chịu sự ghẻ lạnh của dòng họ

nhà chồng vì đã không sinh đợc con ở Hồi nào đó ta cùng, hay ký ức khổ

cực của một thời thơ ấu của cô gái Phan Thị Tuệ T qua cuộc đối thoại

cùng Nguyễn Tầm T trong Gió núi mây ngàn.

Trang 16

Có thể nói thời gian hồi tởng xuất hiện khá nhiều trong lời thoạinhân vật truyện ngắn Nguyễn Dậu Xuất hiện nhiều song nó không phải

là khoảng thời gian để nhân vật sống và chìm đắm trong quá khứ Nhữnghồi ức, kỷ niệm chỉ nh những chất xúc tác, chất khơi gợi để nhân vật trở

về với thực tại cuộc sống đang diễn ra

Tóm lại sự tồn tại của lời thoại nhân vật là tồn tại trong không gian

và thời gian xác định Trong truyện ngắn Nguyễn Dậu, lời thoại nhân vậtxuất hiện trong nhiều không gian, thời gian khác nhau có không gian củavùng thôn quê, phố phờng thành thị, không gian chuyển động vật lý, thờigian của sự hồi tởng, song nhìn toàn cục, không gian của cuộc sống hiệntại và thời gian gắn với sinh hoạt đời thờng vẫn là nền cảnh để lời thoạinhân vật xuất hiện nhiều nhất Đây là thời gian chủ yếu để nhân vật hành

động, giao lu, trao đổi t tởng tình cảm cũng nh từ đó mở đầu cho nhữngsuy t, hồi tởng lại quá khứ Không gian này vì thế đã góp phần làm chongôn ngữ đối thoại của nhân vật thêm sống động, gần gũi, từ đó mà hình

ảnh các nhân vật cũng đợc khắc hoạ rõ nét hơn

1.5 các dạng thoại trong truyện ngắn nguyễn dậu

qua tìm hiểu các dạng thoại trong truyện ngắn Nguyễn Dậu, chúngtôi bắt gặp các dạng hội thoại sau: độc thoại, đơn thoại, song thoại, đathoại Tuy nhiên, do giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đi vào dạng songthoại (hay còn gọi là hội thoại)

1.5.1 độc thoại

khái niệm độc thoại: “ độc thoại nội tâm cũng là hình thức đối thoạicủa nhân vật, trong đó ngời đối thoại cũng chính là mình, nói cách khác

đó là sự phân thân: mình nói chuyện với mình, một mình đóng cả hai vai

ng-ời nói và ngng-ời nghe và nói lại bằng một giọng khác, một cách suy nghĩ khác”[20, 77]

Chẳng hạn nh đoạn độc thoại của Kim ánh trong ánh mắt xa xăm,

tác giả đã để cho nhân vật trăn trở băn khoăn với bao nhiêu câu hỏi trong

đầu nhng vẫn không tìm ra đợc một lời giải đáp:

(14) - chà! Khi bố đã giận dữ đốt cháy bức th, có nghĩa là bức th này đã đợc trao cho mẹ th “ ơng yêu mẹ con em có nghĩa là giữa hai chị

em mình phải có một đứa không phải là con ruột của bố Mình hay em gái mình? Có lẽ dù là đứa nào trong hai chị em, điều đó không quan trọng Quan trọng ở chỗ một ngời mẹ hiền hậu, nết na nh mẹ mà cũng có chuyện ngoại tình sao? Trời đất ơi! Khủng khiếp quá! Không thể tởng t- ợng đợc là mẹ có ngoại tình ?

- nhng ai là tình nhân của mẹ? Tờng nào? Có thể loại bỏ ngay bác tờng bán xe rau đợc Một ngời tàn phế hom hem, nghèo rớt mồng tơi,

lẽ nào lại chinh phục đợc một bà vụ trởng tràn trề cả sức sống lẫn đức hạnh? Còn ông tờng cục trởng kia rất vui tính, hào hoa, phong nhã, hầu

nh không tuần lễ nào không đến thăm viện và ở lại dùng cơm, uống cà fê

Trang 17

cho đến khuya mới về ông ấy lại hay gọi mình bằng con gái tôi nữa “ ”(IV, tr 71).

qua độc thoại, nhân vật muốn tìm cho mình một lời giải đáp, một sựthật độc thoại nhng giọng điệu không thuần nhất một lời tự thuật nhữngsuy nghĩ mà còn sử dụng nhiều câu hỏi, câu cảm thán, các tình thái từmang tính biểu cảm sinh động thể hiện những dằn vặt, suy t cao độ củanhân vật

1.5.2 đơn thoại

Đơn thoại là dạng thoại mà nhân vật giao tiếp phát ra lời trao hớngtới ngời nghe song không có lời đáp đáp lại, mà có thể ngời nghe chỉ đáplại bằng hành động hoặc thái độ trớc lời trao đó

Có thể bắt gặp các dạng thoại này trong các lời thoại mang nội dungmệnh lệnh, cầu khiến nh:

(15) - vào uống nớc bác t ơi Tôi có chuyện muốn nói với bác đấy Ngời ta vừa lễ thánh một lạng chè thái ngon đáo để Chúng ta cùng h- ởng lộc thánh đi!

Thế là tôi bật dậy đi theo cụ từ vào gian nhà khách ở mé sau đền (I, tr.

- con trai anh đấy - Bà ngàn chỉ vào ngời thanh niên khôi ngô cao lớn hiền từ song rất đĩnh đạc mà nói tiếp - em không nhớ anh họ gì, chỉ biết ngời kinh phần nhiều là họ nguyễn, thì em đặt tên cho con là nguyễn việt - bà mẹ cời tơi dần, nét mặt rạng rỡ không giấu nỗi niềm tự hào, nói tiếp - con trai anh bây giờ đã có bằng phó tiến sĩ dân tộc học.

Nó cũng đã có vợ con rồi Ôi tốn nhiều nớc mắt mồ hôi của mẹ nó lắm, anh kiểm à! Anh có lỗi với con nhiều lắm lố! (XVIII, tr 371).

Những lời nói chân thật mộc mạc rất đặc trng của những ngời miềnnúi đã làm cho nhân vật tôi (ngời bị hiểu lầm là ông kiểm) tuy không đáplại bằng một lời nói cảm thông, nhng thay vào đó là sự thổn thức đau xótcủa một con tim thơng cảm, một đôi mắt nhoà lệ, tôn trọng trớc hình ảnhmột ngời phụ nữ chung tình, nhân hậu

Trong quá trình hội thoại, nhân vật tham gia hội thoại đa ra lời traohớng đến ngời nhận nhằm mục đích hỏi hoặc xác nhận một thông tin nào

đó từ ngời nghe nhng không có lời đáp hoặc ngời nghe lảng tránh sang

Trang 18

vấn đề khác chúng tôi cũng xếp đó vào loại một biểu hiện của dạng đơnthoại Chẳng hạn nh:

(17) - vậy tên ông là gì? Là tôi hỏi tên cũ của ông kia?

Thầy thuốc lảng sang chuyện khác:

- ta bắt đầu vào việc khám chữa bệnh thôi Tôi ít thời gian lắm, tha bà (XIX, tr 405).

1.5.3 song thoại

đây là dạng hội thoại quan trọng nhất trong các loại hội thoại, đợc

đặc biệt quan tâm trong ngữ dụng học Song thoại là dạng giao tiếp haichiều, ngời trao đa ra lợt lời hớng đến ngời nghe và đến lợt ngời nghe có

sự phản hồi trở lại bằng hành vi ngôn ngữ tơng ứng Cứ nh vậy hai nhânvật giao tiếp thay đổi vai trò thực hiện việc trao lời và đáp lời đảm bảonguyên tắc luân phiên lợt lời trong qúa trình hội thoại

(18) thiếu tớng tiến lại, kéo vai áo tôi:

- về thôi, anh, cháu quỳnh làm sao thế?

- Tôi nói nh ngời trong mộng:

- anh bắn giỏi thật đấy Một cú đúp tuyệt vời! Anh hạ sát cả“ ”

con múc lẫn cháu quỳnh.

ông chòm trại bàng hoàng, kêu lên:

- bậy nào! Không thể thế đợc Cháu quỳnh có làm sao không?

- tôi nâng cháu quỳnh lên, đi về phía con ngựa, đoạn nhảy lên yên:

- tôi đa cháu Quỳnh về trớc đây Ông cứ yên tâm Thân thể cháu quỳnh vẫn nguyên vẹn Nhng băng đạn mà ông bắn vào lòng nhân ái, vào tình yêu thiên nhiên của cháu quỳnh thì không thể nào cứu chữa nổi (XI,

(19) - này anh nhộng! - hến lớn to tiếng.

- gì thế cô hến chị?

- Quay mặt vào trong cho tôi đi qua một tí!

- Thì cứ đi Có mù mắt đâu mà sợ?

- Không! quay mặt vào trong đi!

- Thì quay Này con ngơi nổ cái đốp! (XIII, tr 278).

1.5.4 Đa thoại

Đa thoại là dạng thức hội thoại mà trong một cuộc thoại xuất hiện lờicủa nhiều nhân vật đa xen vào nhau Cấu trúc hội thoại khá phức tạp, các

Trang 19

lợt lời xuất hiện không theo một trình tự xác định nh ở dạng hội thoạisong thoại đối tợng tiếp nhận cũng chuyển đổi khác nhau.

Trong truyện ngắn Nguyễn Dậu, dạng thoại này xuất hiẹn khôngnhiều Ta có thể bắt gặp dạng thức hội thoại này nh trong cuộc thoại sau:

(20) - Nghe nói cháu bị con Múc làm cho sợ hãi, phải không?

Cháu Quỳnh cời nh nắc nẻ:

- Cháu chả việc gì phải sợ hãi con Múc cả - Cháu ghé sát tai tôi thì thào - Rồi cháu sẽ kể mọi điều về con Múc cho ông trẻ nghe Chứ mỗi lần nhắc đến con Múc, ông ngoại cháu ghét lắm!

Thiếu tớng Quyền quát to:

- Quỳnh, mày nói gì ông phỏng?

Cháu Quỳnh vội vàng không ạ rồi lẻn ra nấp sau l“ ” ng bà Bà Quyền xót cháu, cằn nhằn chồng:

- Khiếp cho ông! Làm cháu mật xanh mật vàng chạy cả lên mắt thế này này - Bà quay sang phía tôi, cời - Lên đây, ông giúp tôi một tay, cạo cho ông ấy bớt cái nóng nảy đi (XI, tr 225).

Tóm lại, với 20 truyện ngắn trong tập truyện Bảng lảng hoàng hôn đã

đợc chúng tôi tiến hành khảo sát, dạng hội thoại song thoại có tần số xuấthiện cao nhất với 153 lần chiếm 65 %; đơn thoại với 56 lần xuất hiện,chiếm 24 %; tiếp đó là dạng đa thoại với 7 %; cuối cùng là dạng độc thoạichiếm 4 % Nh vậy song thoại là dạng thức chủ yếu trong văn bản truyệnngắn nguyễn dậu, chính vì vậy đây là dạng thoại sẽ đợc chúng tôi đi sâunghiên cứu trong luận văn này

Bảng số liệu và tỷ lệ phần trăm của các dạng thức hội thoại trong truyện ngắn Nguyễn Dậu:

Dạng thức hội thoại Số lần xuất hiện Tỷ lệ %

1.6 sự tơng tác hội thoại trong truyện ngắn Nguyễn Dậu

để hình thành và duy trì một cuộc thoại đòi hỏi phải có ba nhân tố:

sự trao lời, sự trao đáp và sự tơng tác

Sự trao lời là vận động của ngời nói a hớng lời nói của mình về phíangời nghe b Khi trao lời tất nhiên ngời trao đã thực hiện sự quy chiếutiềm ẩn hớng tới ngời nhận

(21) thấy lăn khóc thổn thức, tôi vội gắt:

- này thôi đi không phải lúc con khóc đâu lăn ạ Hãy cho chú biết mấy tháng nay kiếm ăn nh“ ” vậy, số tiền năm triệu đã đủ cha? (IX, tr 168).

Qua lời trao này ta thấy đối tợng tiếp nhận lời trao đợc thể hiện rõ rệtqua các từ: con, lăn; các từ thể hiện thức cầu khiến, đề nghị mang tínhtác động trực tiếp lên ngời nhận: này, thôi đi, hãy

Trang 20

Chính vì vậy sau khi lời trao đợc phát đi tất yếu hình thành nên lợtlời thứ hai của ngời nhận đó chính là sự đáp lời tức là lời của ngời nghe

đáp lại lợt lời thứ nhất của ngời trao

Tiếp tục ví dụ trên: sau lời trao mang tính chất đề nghị và yêu cầu trảlời câu hỏi của mình, nhân vật lăn đã có hành động đáp lời sau:

(22) Lăn gạt lệ, đáp:

- tha chú, theo con nhẩm tính thì đã thừa (IX, tr 168).

Lời đáp của nhân vật lăn có sự kế thừa nội dung và sự phối hợp tơngứng về từ xng hô mà ngời trao đã đa ra: hỏi - đề nghị / trả lời, chú – con

Cứ nh vậy, xét trong phạm vi của một cuộc thoại hài hoà, cứ một lờitrao đa ra sẽ có một lời đáp đáp lại Tuy nhiên trong quá trình hội thoạikhông phải lúc nào ngời trao cũng giữ nguyên vị thế trao lời mà có sựluân chuyển vị thế trao - đáp tuỳ thuộc vào nội dung, tính chất của cuộcthoại

Và khi một cuộc thoại diễn ra thì giữa các nhân vật giao tiếp đã bắt

đầu có sự tơng tác Sự tơng tác theo nguyễn thiện giáp: “là tác động qualại đối với hành động của nhau giữa những ngời tham gia hội thoại Có t-

ơng tác bằng lời mà cũng có tơng tác không bằng lời” [16; 69] Nh vậy sựtơng tác trong qúa trình hội thoại tức là các hành vi ngôn ngữ của nhữngngời tham gia hội thoại có sự vận động, biến đổi, tác động lẫn nhau tạonên một cuộc hội thoại theo hớng hài hoà tích cực hay bất hoà, tiêu cực

Ví dụ nh sự thay đổi thái độ của “bố dậu” sau cuộc đối thoại với

“hùng s cọ”:

(23) Tắm rửa xong, tôi sửa soạn đi ăn cơm tối Nó bảo tôi:

- cháu xin bác cái bánh mì.

- đói à?

- Vâng, hôm nay cháu đói, vì vì xui xẻo quá.

- Cháu có đói luôn không?

- Nhiều ạ Có khi đói liền hai ba ngày.

Tôi ôm ghì thằng bé bụi đời vào lòng, áp má vào đầu trọc của

nó rồi nói nhỏ:

- hai bố con mình cùng đi ăn cơm bình dân, nhé! (VIII, tr 144)

đây là một cuộc thoại có sự tơng tác tích cực ở cả hai phía ngời trao

và ngời đáp, chính vì vậy qua lời trò chuyện rất chân thật của cậu bé đãlàm cho nhân vật tôi cảm động coi nh con của mình

(24) - đợc! Muốn xảy ra điều gì thì xảy Nhng ngay bây giờ anh phải cởi trói cho cô sính Cởi ngay! Nhanh lên.

Thằng côn đồ trợn mắt, rồi khinh bỉ nhìn nguyễn tầm t mà cời ha hả:

- sao? Cởi à? Mày hạ lệnh cho tao đấy à? Này thầy thuốc này! Này, hạ lệnh này! (XX, tr 442)

Trang 21

Lời thoại thể hiện sự thay đổi thái độ và hành động của Súng sau lờiyêu cầu của bác sĩ Nguyễn Tầm T Rõ ràng đây cũng là một cuộc thoại có

sự tơng tác với nhau nhng lại chuyển dịch theo chiều hớng bất hoà, tiêucực, nhân vật súng không những không đáp ứng yêu cầu của nguyễntầm t mà còn thực hiện hành động đánh lại ngời vừa đa ra yêu cầu đó

Nh vậy trong một cuộc hội thoại, sự trao lời, sự trao đáp và sự tơngtác gắn bó chặt chẽ với nhau Sự tơng tác chính là kết quả đợc tạo ra nhờ

sự luân chuyển phối hợp giữa lời trao và lời đáp, bởi một phát ngôn đợcphát ra sẽ kéo theo sự xuất hiện một phát ngôn đáp lại, khi một hành vingôn ngữ xuất hiện thì nó sẽ chờ đợi một hành vi ngôn ngữ đáp trả cứ

nh vậy cuộc thoại có thể sẽ kéo dài hoặc rút ngắn tuỳ thuộc vào thái độhợp tác của các nhân vật tham gia hội thoại

- Thế giới nhân vật xuất hiện trong truyện ngắn Nguyễn Dậu kháphong phú với nhiều hạng ngời, nhiều loại nghề nghiệp Trong đó nềncảnh để lời thoại nhân vật xuất hiện phần lớn đó là không gian của cuộcsống hiện tại và thời gian sinh hoạt đời thờng mà cụ thể ở đây đó chính

là buổi chiều tối Điều đặc biệt, các nhân vật trong truyện ngắn của ôngluôn thông qua đối thoại để giải bày tâm t tình cảm, thể hiện những cáchsuy nghĩ, nhìn nhận giải quyết vấn đề riêng biệt Chính vì vậy qua hệthống ngôn ngữ hội thoại của thế giới nhân vật này, chúng ta có thể nhậnthấy đủ mọi mối quan hệ phức tạp, với đủ mọi sự việc nh chính thế giớithực đang hiện hữu này

Trang 22

Tuy nhiên, từ tồn tại ở trạng thái tĩnh trong hệ thống ngôn ngữ cónhững đặc điểm khác với từ tồn tại trong trạng thái động, ở khả năng hànhchức của nó, chính “trong hoạt động ngôn ngữ, các từ mới thực sự bộc lộnhững thuộc tính và đặc điểm vốn có của chúng trong hệ thống ngôn ngữ,mới hiện thực hóa cụ thể các bình diện của nó, hơn nữa trong hoạt độnggiao tiếp, từ còn có thể biến đổi và chuyển hóa những thuộc tính vốn có

để cho phù hợp với các nhân tố cụ thể của từng hoạt động giao tiếp, đểnhằm đạt đợc hiệu quả giao tiếp tốt nhất” [40; 4] Vì vậy, ở chơng này,chủ yếu chúng tôi đi vào tìm hiểu đặc điểm của các lớp từ trong truyệnngắn Nguyễn Dậu thông qua sự hành chức của chúng trong hoạt độnggiao tiếp

2.1 đặc điểm sử dụng từ xng hô

2.1.1 Đặc điểm về số lợng các nhóm từ xng hô cụ thể

Một yếu tố không thể thiếu trong bất kỳ cuộc giao tiếp nào đó chính

là sự xuất hiện của từ xng hô Xng hô đó chính là thuật ngữ dùng để chỉ

“tự gọi tên mình” (xng) và “gọi tên ngời khác” (hô) Hệ thống từ xng hôtrong tiếng Việt rất đa dạng về kiểu nhóm và phong phú về số lợng Cóthể phân chia hệ thống từ xng hô trong tiếng Việt thành hai nhóm lớn:

- Các từ xng hô chuyên dụng (Đại từ nhân xng)

- Các từ xng hô không chuyên dụng (Từ xng hô lâm thời)

Tiến hành khảo sát từ xng hô qua lời thoại nhân vật trong truyệnngắn Nguyễn Dậu, chúng tôi thu đợc kết quả thống kê sau:

Từ xng hô

Đại từ nhân xng Danh từ thân tộc Lâm thời khác

Số từ Lợt dùng Số từ Lợt dùng Số từ Lợt dùng27

5,4%

108819%

6613,3%

362063%

40381,3%

105418%Qua bảng thống kê về số từ xuất hiện cũng nh tần số sử dụng thuộc cácnhóm từ dùng để xng hô, chúng tôi nhận thấy một đặc điểm nổi bật: từ xnghô do các danh từ thân tộc đảm nhiệm chỉ có 66 từ (bao gồm 21 từ đơn trong

số 25 danh từ thân tộc, 34 từ dùng theo dạng ghép để biểu thị số nhiều),những từ này tuy có số lợng không nhiều nhng lại có tần số sử dụng lớn hơncả với 3620 lợt dùng, chiếm tới 63% tổng số lần xuất hiện Ngợc lại các từ

Trang 23

xng hô lâm thời không thuộc danh từ thân tộc có tới 403 từ, chiếm 81,3%tổng số từ xng hô, nhng số lần xuất hiện thì chỉ chiếm 18% Nhóm từ xng hônày mặc dù có lợt dùng thấp so với hai nhóm từ xng hô còn lại nhng nó cócấu tạo khá phong phú, đa dạng: do các từ đơn, từ ghép, tổ hợp từ đảmnhiệm Trong đó từ đơn có 60 từ, chiếm 16,1%; từ ghép có 81 từ, chiếm21,7%; tổ hợp từ có 252 từ, chiếm 64,1% Các tổ hợp từ này đợc kết hợp mộtcách đa dạng, do đó chúng tôi chỉ đi vào tập trung miêu tả nhóm từ nàythông qua việc thiết lập một số mô hình thờng xuất hiện nhiều nhất trong lờithoại của nhân vật:

Mô hình 1: Danh từ chỉ loại + Danh từ chỉ ngời + Đại từ chỉ định

Tổ hợp từ này thờng dùng để chỉ vai giao tiếp nhằm thể hiện thái độthiếu tôn trọng

(25) Công an xã càng thét to hơn:

- Bắn! Các đồng chí bắn què cẳng thằng già này cho tôi (XX, tr.

444)

(26) - Anh rõ điều đó Thoa ạ Anh chỉ cân nhắc xem sự tận tâm của

chúng ta có nghĩa lý gì không, so với sự phá phách của thằng cha vô học

này Thôi đợc, chúng ta gắng làm phần việc của chúng ta (XX, tr 427).

Mô hình 2: Danh từ thân tộc + Danh từ nghề nghiệp

Tổ hợp từ đợc cấu tạo theo mô hình này thể hiện sự tôn trọng vaigiao tiếp của ngời đối thoại đối với đối tợng ở ngôi thứ hai hoặc ngôi thứ

ba vắng mặt nh: anh trởng tàu, anh chị em phục vụ, ông thuỷ lợi, ông bác

sĩ, anh trởng ga, ông chủ nhiệm, ông thầy thuốc, ông chủ tịch xã, anh đại

đội trởng, ông phó cạo, chú bộ đội

(27) - Sắp tới quê hơng chú chăng, chú trởng tầu? (VII, tr 118).

(28) - Ngời ta không phải con sâu, không rúc mãi vào tổ kén đ” ợc.

Tôi định làm lấy ba gian nhà tranh vách đất, muốn nhờ mấy chú bộ đội

một tay đây (XIII, tr 268).

Mô hình 3: Danh từ thân tộc + Đại từ chỉ định

Các tổ hợp từ đợc kết hợp theo mô hình này thờng dùng để chỉ ngôi

thứ ba, số ít nh: chị ấy, ông nọ, chú ấy, cô ấy, ông kia

(29) - Chị Nhuần vẫn đợi anh đấy Nhng chị ấy bảo anh phải chém“ ”

sạch bộ râu quai nón đi, không thì đừng hòng Chứ không à? Rậm chết ngời ta,

ai mà chịu đợc? L “ ớc Việt Lam chứ không phải l“ ớc Tây đâu nhé.” (III, tr.54)

(30) - Bác ấy đã bảo thế thì anh cứ bơi vào bờ đi (VIII, tr 137).

Mô hình 4: Danh từ thân tộc + Đại từ nhân xng

Kiểu kết hợp từ này xuất hiện khá nhiều trong lời thoại của nhân vật,

dùng để chỉ ngôi thứ ba số nhiều hoặc ngôi thứ hai số nhiều nh: anh em

ta, cha con nó, cha con ta, anh em mình, vợ chồng ta, bố con mình, bố con nó, chị em chúng em, vợ chồng họ, mẹ con mình, anh em chúng tôi

Trang 24

(31) - Vậy, nếu anh không chê em xấu xí nghèo hèn, thì vợ chồng ta

chui rúc nhờ vả ít năm, sau này hẵng hay (XV, tr 321).

(32) - Dạ, tha ngời - Anh em chúng tôi nối nghiệp cha ông chuyên

nghề đa chuyển lâm sản về đất Phòng Vừa rồi có neo thuyền tại bến nhà, vô ý, để lỡ chuyện làm vỡ đôi nồi hông của gia đình ta Nay xin đến tạ lỗi hai vị ạ (XIV, tr 308).

Mô hình 5: Danh từ thân tộc + Danh từ riêng

Tổ hợp từ đợc kết hợp theo mô hình này thờng dùng để gọi đối tợng

một cách cụ thể, tạo sự chú ý nh: em Ngọc ánh, cô Nhuần, bố Nhật, chú Súng, chị Thoa, em Lâm, bà Nén, anh Tâm, cô Hến, bà cháu Luân

(33) - Anh Mẫn Anh không còn nhận ra em nữa sao? Thời gian

khiến lòng ngời phôi phai đến nông nỗi này sao? (XVII, tr 358).

(34) - Về thôi, anh, cháu Quỳnh làm sao thế? (XI, tr 236).

Tóm lại từ xng hô đợc cấu tạo là tổ hợp từ nói chung, trong đó nhóm

từ xng hô lâm thời không bao hàm danh từ thân tộc nói riêng có số lợngnhiều hơn so với từ xng hô đợc cấu tạo là từ đơn, từ ghép Các tổ hợp từnày thờng có sự tham gia của các danh từ thân tộc Tuy có số lợt sử dụngkhông lớn nhng sự xuất hiện của các tổ hợp từ này đã tạo cho lời thoại khixuất hiện từ dùng để xng tên mình và gọi tên ngời khác, một tính chất đadạng, linh hoạt, tránh đợc sự nhàm chán cho ngời đọc

2.1.2 Đặc điểm về sự linh hoạt, sự vận động của từ xng hô trong quá trình hội thoại

Một tính chất quan trọng của cuộc thoại đó chính là sự vận động Sựvận động này là khái niệm nói chung, đó không chỉ là sự vận động theo h-ớng hài hòa tích cực mà còn bao gồm cả hớng bất hòa, tiêu cực Tính chấtnày của hội thoại đòi hỏi các nhân vật tham gia hội thoại luôn có sự tác

động, tơng tác lẫn nhau làm cho nội dung cuộc hội thoại thay đổi songsong với nó việc lựa chọn từ xng hô của các nhân vật cũng biến đổi mộtcách linh hoạt tùy thuộc vào chiến lợc giao tiếp, mục đích giao tiếp củamỗi nhân vật theo đó khoảng cách giữa những ngời tham gia hội thoạicũng có những thay đổi, điều chỉnh từ quan hệ bình thờng xã giao tới mức

độ thân mật gần gũi hơn hoặc ngợc lại

Trong truyện Chấm dứt kiếp hoang, cùng với sự diễn tiến của nộidung truyện cũng nh phụ thuộc vào chiến lợc giao tiếp trong từng thời

điểm, chúng tôi đã tiến hành xem xét đại từ nhân xng đã đợc các nhân vật

sử dụng ở mỗi cuộc thoại và nhận thấy chúng có một sự thay đổi thật lýthú

Trang 25

- Không ạ ! - Đứa trẻ thành thực đáp - Cháu mà lại dám " dạt

vòm" (lẻn vào nhà ) của bác

- Thế mày ngồi đây làm gì?

- Cháu đợi bác ! (VIII, tr 139).

Đây là cuộc thoại mở đầu cuộc gặp gỡ giữa Hùng “s cọ” một đứa trẻlang thang bụi đời sống quanh bờ hồ gơm và ông Dậu - bác phó cạo sốngtrong đền Ngọc Sơn Sở dĩ cuộc thoại này diễn ra bởi trớc đó Hùng “s cọ”

đã dùng chiêu giã vờ chết đuối để lột tiền của một anh thanh niên ngay

tr-ớc đền Ngọc Sơn chính vì thế cậu phải vào xin lỗi ông phó cạo, do đó cu

cậu đã khôn khéo sử dụng từ xng hô cháu / bác rất có lợi cho chiến lợc

giao tiếp Song nhân vật phó cạo lại không chấp nhận đáp lại bằng từ xng

hô tơng ứng mà dùng tao / mày bộc lộ thái độ bất hợp tác với sự thân

Đến đây nhân vật bác phó cạo đã bắt đầu có sự thay đổi trong việc sử

dụng từ xng hô từ chỗ tao / mày thể hiện thái độ bất hợp tác sang bác / cháu thân thiện hơn Sự thay đổi này không diễn ra một cách đột ngột mà

là kết quả của quá trình tiếp xúc với Hùng “s cọ”, bác phó cạo đã nhậnthấy đây là một cậu bé còn có thể uốn nắn đợc

(37) Cuộc thoại 3 :

- Cháu xin bác cái bánh mì.

- Đói à ?

- Vâng, hôm nay cháu đói, vì vì xui xẻo quá.

- Cháu có đói luôn không ?

- Nhiều ạ Có khi đói liền hai ba ngày.

Tôi ôm ghì thàng bé bụi đời vào lòng, áp má vào đầu trọc của nó rồi nó nhỏ:

- Hai bố con mình cùng đi ăn cơm bình dân, nhé! (VIII, tr 146)

Đây là đoạn thoại đánh dấu sự thay đổi trong cách xng hô giữa hai

nhân vật từ bác / cháu sang bố / con mật thiết Sự chuyển đổi từ xng hô

này không phải bắt đầu từ phía cậu bé Hùng vốn có vị thế vai giao tiếpthấp trong cuộc thoại mà bắt đầu từ bác phó cạo Đồng thời với việcchuyển đổi từ xng hô thì tình cảm giữa bác phó cạo và Hùng cũng thay

đổi theo chiều hớng tốt hơn, thân mật, gần gũi hơn lúc trớc rất nhiều

ở truyện Miệng na mô ta lại bắt gặp cách dùng từ xng hô chuyển đổitheo một chiều hớng khác rất đáng chú ý giữa hai nhân vật Lăn và “mụ”Lụy

(38) Cuộc thoại 1:

Trang 26

- Thôi thì chuyện đã chẵng may nh vậy, cô phải nghe chị Cha biết ngày nào công an mới tìm đợc cháu bé Cô mà về quê tay không, thì gia đình chồng cô họ sẽ chôn sống cô.

- Vâng ạ, tha bà đúng thế! Khốn khổ thân cháu, khốn khổ con tôi Con ơi …con của mẹ ơi… con của mẹ ơi …con của mẹ ơi… giờ này con ở đâu ?

- Này, khóc than chẳng ăn thua mẹ gì đâu Bây giờ chị mời em về nhà chị nghỉ tạm Nhà chị ở ngay xóm bãi gần đây thôi Phải tìm đợc con

rồi mới về đợc chứ (IX, tr 164).

Đoạn thoại đánh dấu mở đầu cuộc gặp gỡ giữa Lăn và mụ Lụy, lúc nàybản chất của bà Lụy cha đợc biểu hiện mặt khác để đạt đợc mục đích giao tiếp

là lừa Lăn về ở cùng thay mình khiếm tiền mụ Lụy cùng với giọng điệu ngọt

nhạt đã lựa chọn cách xng hô chị / cô, em rất khôn khéo hòng làm cho Lăn

phải tin tởng

(39) Cuộc thoại 2:

- Mỗi đêm cháu chỉ cần tiếp vài thằng chó dái , mỗi thằng chi“ ”

cho cháu năm chục ngàn, thế là đêm nào cháu cũng có vài trăm ngàn

- Nghĩa là cháu đánh đĩ! Ôi không thể …con của mẹ ơi… không đ ợc đâu, cô ơi Cháu là con nhà tử tế

- Thì mặc xác mày - mụ Lụy hằm hằm đổi nét mặt - nghe tao thì sớm đón đợc con về Còn không nghe tao thì từ mai cuốn xéo, đi đâu thì

đi, hoặc về quê cho chồng mày xé xác ra Tao không tốn gạo! (IX, tr.

167)

không thuyết phục đợc Lăn chấp nhận kế hoạch của mình, mụ Lụy

đã thay đổi ngay thái độ bộc lộ rõ bản chất điêu ngoa của các bà “cánhphản” đã hết thời Do vậy đến đây mụ không cần phải che đậy bộ mặt thậtcủa mình, ngôn ngữ chợ búa của những kẻ ăn sơng đợc mụ “sổ toẹt” ra

đầy đe dọa Từ chỗ chị / cô, em ngọt ngào, quan tâm, mụ Lụy đã chuyển thẳng sang tao / mày không chút ngợng ngập, rất đúng với thứ ngôn ngữ

vốn có của mụ

Hay ở truyện Gió núi mây ngàn, một câu chuyện cảm động về tình

“cha con” ta cũng có thể bắt gặp sự chuyển đổi từ xng hô theo diễn tiếncủa cuộc thoại, buộc ngời đọc khi tiếp nhận tác phẩm không thể khôngchú ý:

(40) Cuộc thoại 1:

- Chào bác !

- Chào cháu.

- Bác nhờ anh trởng tầu gọi cháu có việc gì ạ ?

( …con của mẹ ơi… )

- bác khỏi phải tự giới thiệu, cháu đã biết tên bác rồi.

- bằng cách nào ?

- Rất giản dị Hôm qua anh trởng ga Sài Gòn Hoàng Tuấn có gửi

bác cho cháu, nhờ trông nom săn sóc …con của mẹ ơi… Con cha kịp làm gì thì bác đã muốn gặp con, đủ hiểu lực ngoại cảm của bác rất dồi dào …con của mẹ ơi…

Trang 27

- Con thấy là thế à ? (XVI, tr 335 ).

Hai nhân vật do mới lần đầu gặp nhau lại cha biết về nhau, nguyễntầm t theo linh cảm của một ngời từng trải trớc ánh mắt kỳ lạ của một côgái chỉ mới thoáng qua nhng mong muốn gặp lại để tìm hiểu, còn cô gáiPhan Thị Tịnh T dù biết đó là nhà văn nguyễn tầm t nhng cha chắcchắn có phải là ngời bố của mình không Chính vì thế từ xng hô đợc hai

nhân vật sử dụng bác / cháu, con tuy tạo đợc cảm giác gần gũi, thân thiện

nhng không phải không có khoảng cách của những ngời mới lần đầu gặpnhau

(41) Cuộc thoại 2 :

Tịnh T nghiến răng, đôi mắt trở lại vẻ sầm tối, hờn hận và cay

độc

- Tôi không cân ai tội nghiệp Cho dù ổng là bố tôi hay không,

tôi đã nói là không quan trọng Điều cay đắng là mẹ tôi chết đã hai mơi sáu năm, giờ đây lại bị bội phản lần nữa Chính mẹ tôi mới lầm lẫn

nguyễn tầm t giàn giụa nớc mắt

- Nhng con ơi …con của mẹ ơi… Ta đã đợc biết mẹ con là ai đâu? Nhân danh nỗi đau của con, ta xin đợc biết rõ mẹ con là ai? Xin con hãy nén lòng

một chút.

- ở ngay sau ảnh của ngài ấy, tha ngài nhà văn nổi tiếng nhân

hậu và trong sáng nh pha lê …con của mẹ ơi… (XVI, tr 340 ).

Trong lần thoại này cả hai nhân vật đặc biệt là cô gái Phan Thị Tịnh

T đã nhận biết rõ ngời đang đối thoại với mình là ai, một “ngời cha” màsuốt hai mơi sáu năm ròng cô phải sống trong cô đơn, trơ trọi, bất hạnh

“nh một con chó câm ở Trờng sơn tây” Tịnh T thay đổi từ xng hô bộc lộ

rõ trạng thái tình cảm hờn hận rất hợp lôgic tâm lý của cô lúc đó: ông, ngài / tôi.

Sự thay đổi từ xng hô này ở Tịnh T đồng thời cũng kéo theo ở lời đápTầm T phải sử dụng từ xng hô khá trung tính tôi / con để đáp lại

(42) Cuộc thoại 3:

- Trời ơi, bố …con của mẹ ơi… bố không rõ thế nào là Trờng sơn Tây đâu, một

đứa bé vừa lọt lòng thì mẹ nó chết trong những trận tử chiến với bọn Rồng xanh và

cọp trắng ở Quảng nam từ đó, con bị quẳng sang Trờng sơn Tây, sống gửi ở nhà các tộc ngời chàm, Lào sủng, Ê đê và Gia rai,

suốt ngày ngồi im nh một con chó đá chẳng ai nói với con một câu và

con cũng chẳng nói với ai một câu, vì rằng đói khổ, vì rằng không biết

tiếng, vì rằng con là một đứa trẻ vô thừa nhận, mãi đến sau ngày giải

phóng mới đợc đa về Quảng nam để tập nói, tập học, tập viết, tập căm hận ngời cha tội lỗi …con của mẹ ơi… Thế, tha bố, bố định ra Hà nội hay đi đâu ?

- Bố định ra Huế Vừa để nghiên cứu mấy cơ sở đờng sắt vừa

thăm thú các lăng tẩm ở cố đô (XVI, tr 342).

Sự oán trách đã qua đi, nhân vật lại trở về với cảm xúc của một ngời

con sau bao nhiêu năm mới tìm đợc “bố” từ xng hô của cô thay đổi từ

Trang 28

chổ cặp xng hô ông, ngài / tôi đầy lạnh lùng, xa cách sang bố / con trìu

mến, thân thơng

Nh vậy có thể thấy từ xng hô trong lời thoại của các nhân vật trongtruyện ngắn nguyễn dậu không đơn giản chỉ là những từ dùng để xng gọinhau mà nó có sự vận động, biến đổi linh hoạt Qua từ xng hô chúng ta cóthể tìm thấy t tởng, tình cảm, chiến lợc giao tiếp cũng nh thái độ giữa cácnhân vật trong cuộc hội thoại

2.1.3 Đặc điểm về quan hệ liên nhân qua lớp từ xng hô

a, Quan hệ liên nhân

Theo định nghĩa của Đỗ Hữu Châu: “Quan hệ liên cá nhân là quan

hệ so sánh xét trong tơng quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhânvật giao tiếp với nhau Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp

có thể xét theo hai trục, trục tung là trục vị thế xã hội còn gọi là trụcquyền uy, trục hoành là trục của quan hệ khoảng cách, còn gọi là trụcthân cận” [6; 17]

Mỗi cá nhân tồn tại trong xã hội bao giờ cũng là một tập hợp của haihoặc hơn hai mối quan hệ, các mối quan hệ này tạo nên các vai khác nhautrong quá trình giao tiếp Chính các mối quan hệ này sẽ chi phối cả quátrình giao tiếp cùng các nhân tố tham gia vào cuộc giao tiếp, trong đó từxng hô đợc các nhân vật sử dụng là nhân tố chịu ảnh hởng rất lớn phản

ánh mối quan hệ liên cá nhân này

b, Các quan hệ liên nhân cụ thể trong truyện ngắn Nguyễn Dậu.Khảo sát hệ thống từ xng hô đợc các nhân vật sử dụng trong truyệnngắn Nguyễn Dậu, chúng tôi qui về các dạng quan hệ, phản ánh các quan

hệ liên cá nhân chủ yếu sau:

- Quan hệ thứ bậc, địa vị xã hội (vị thế):

Đây là quan hệ giữa những ngời có vị thế xã hội khác nhau do chứcquyền, tuổi tác, nghề nghiệp, thứ bậc tạo nên Quan hệ vị thế này thờngdiễn ra khi giữa hai nhân vật giao tiếp có sự khác nhau về địa vị xã hội tạonên mối quan hệ trên – dới, sang – hèn, tôn – khinh Mối quan hệ nàychi phối phần lớn việc sử dụng từ xng hô trong truyện ngắn Nguyễn Dậu:chị/em, bác/con, chú/cháu, anh/em, tôi/cậu, tôi/anh, bà/ cháu, chú/con, u/con, thủ trởng/em, quan Nghị/mày, tôi/cô

Quan hệ giữa cấp trên, cấp dới:

(43) - Tha thủ trởng, em có đợc phép ngồi để ghi chép không ạ?

Vừa bắt tay tôi , Đoàn Cơng vừa bảo cô th ký:

- Thôi, khỏi Bạn rất thân thiết của tôi đấy, cô hãy ra bàn giấy của tôi xem xét lại các bản hợp đồng của các mếch gửi tới, xem có sai“ ”

sót gì không Để chúng tôi nói chuyện riêng cùng nhau Khi nào cần tôi

sẽ dùng têlêphôn gọi (XVIII, tr 386).

Cặp từ xng hô “thủ trởng/em”, tôi/cô“ ” phản ánh mối quan hệ vị thế

về cấp bậc nghề nghiệp cùng sự chênh lệch về tuổi tác Theo đó ngời th

Trang 29

ký có vị thế thấp hơn sử dụng từ tự xng mang tính nhún nhờng em“ ”, và

hô gọi bằng cấp vị thủ trởng” Còn Đoàn Cơng, với địa vị của mình, nhân vật tự xng tôi”, gọi cô“ ” với ngời th ký nhằm tạo khoảng cách,khẳng định vị thế, đồng thời thể hiện sự trịch thợng của kẻ “bề trên” đốivới cấp dới

Quan hệ ngang hàng về cơng vị:

(44) - Nghe chị mời, tôi đến ngay, dù đang bận.

- Việc tôi nhờ anh hỏi gấp tối hôm qua thế nào rồi? (XIX, tr.

411)

Cặp từ xng hô đợc sử dụng ở đây vừa biểu thị thái độ khẳng định vị

thế của ngời nói tôi“ ”, nhng đồng thời cũng tôn trọng vị thế ngời đối thoại

(45) - Anh đã hứa với tôi là sẽ tuyệt đối thơng yêu em gái anh?

- Hứa cái con c Tao thì ghè vỡ răng mày ra, để cho mày hết quyến rũ con gái nhà ngời ta Em tao thì tao có quyền dạy bảo nó về cái tội này đấy Tý nữa thôi, không lâu đâu, sẽ có ngời nói chuyện với mày.

Mày sẽ đợc vào tù! (XX, tr 441).

Thể hiện thứ bậc trong quan hệ gia đình:

(46) - Tha anh làm cho cô gái ấy bị vấp ngã vỡ nồi là tội của em.

Ngời anh cời:

- Điều đó nếu đúng cũng chỉ là có lỗi, không phải là tội, và

theo chỗ anh hiểu, em quan tâm chi đến đôi nồi? Mà thực sự chăm chú

vào những dấu gót son đẫm nớc cơ (XIV, tr 305).

Cặp từ xng hô anh/em“ ” phản ánh mối quan hệ về vai vế giữa hai đốitợng giao tiếp trong quan hệ gia đình huyết thống, theo đó ngời anh xng

“anh ” hô em”, ngợc lại ngời em theo thứ bậc của mình xng em “ ” gọi

bằng anh “ ”

Quan hệ chênh lệch về vai trò, địa vị xã hội:

(47) - Trăm lạy ông, ông cố cứu cháu Hết bao nhiêu tiền, cháu cũng xin vâng Ông bắt cháu nhai cỏ, cắn c cháu cũng xin vâng Trăm lạy ông mở lợng từ bi cháu xin cúng lễ (IX, tr 172).

Cặp từ xng hô ông/cháu“ ” cho thấy vị thế thấp kém của mụ Luỵ trớcNguyễn Tầm T Mụ Luỵ là ngời đàn bà sừng sỏ, giang hồ có máu mặt nh-

ng khi rơi vào tình thế bí bách đã buộc phải sử dụng từ xng là cháu“ ”, hạthấp mình gấp nhiều lần trớc ngời đối thoại, chủ ý bộc lộ vị thế thấp kémcủa bản thân nhằm tạo sự thơng cảm ở ngời bác sĩ già mà bà đang cố bấuvíu vào sự giúp đỡ của ông

Quan hệ về tuổi tác:

Trang 30

- Vậy, cô chỉ cần gọi tôi bằng chú - Tôi kém tuổi ông cụ Nào

mời cô vào nhà (IX, tr 160).

Ngay từ lúc mở đầu cuộc thoại nhân vật đã tự xác định vị thế về từ

x-ng hô theo quan hệ tuổi tác, cặp từ xx-ng hô chú/cháu“ ” thể hiện mối quan

hệ giữa hai nhân vật hội thoại mà tuổi tác của họ chênh lệch nhau khálớn

- Quan hệ kết liên, gần gũi, thân mật:

Quan hệ kết liên là quan hệ ngang bằng nhau, mang tính gần gũi,thân mật Ta có thể bất gặp những cặp từ xng hô thể hiện mối quan hệ này

nh: em/bác, bộ đội ta, mẹ con ta, vợ chồng ta, anh em mình, chúng ta, chúng mình, bác già, bố già, nhà ta

(49) - Thế này con ạ Hồi miền Nam cha giải phóng, mẹ bị vợ chồng tên

phản gián phát hiện Vợ chồng nó bắt mẹ tra tấn vô cùng man rợ Sau này bộ

đội ta tấn công vào thành phố X, vợ chồng tên phản gián đó đã bị trừng trị ( )

(X, tr 196)

Kết hợp từ bộ đội ta“ ” đợc nhân vật sử dụng ở đây để gọi khách thể giaotiếp không trực diện, thể hiện sự gần gũi, thân thuộc nh những ngời thân quen

(50) Họ lên tiếng trêu chọc ông:

- Bố già ơi, bố mất chỗ rồi Dân buôn hàng chuyến là ba bửa

lắm, có đuổi họ đi cũng còn mệt lắm đó (XVI, tr 331).

Ngời nói ở đây tuy còn trẻ tuổi, bằng việc sử dụng kết hợp từ bố

già” để hô gọi ngời lớn tuổi hơn mình , vừa thể hiện mình là vai dới nhng

quan trọng hơn trong cách gọi này còn nhằm biểu hiện một sự tạo lậpquan hệ theo chiều hớng gần gũi, có phần suồng sã

(51) Tôi ôm ghì thăng bé bụi đời vào lòng, áp má vào đầu trọc của

“bố con”

- Quan hệ bất đồng:

Quan hệ bất đồng này thờng đợc thể hiện qua những từ xng hô thuộcnhóm từ bình dân, nhằm bộc lộ thái độ khinh miệt khi mối quan hệ giữacác nhân vật giao tiếp đã trở nên căng thẳng, bất hợp tác Có thể thấy

Trang 31

trong các từ nh: thằng cha, thằng già, thằng anh trai, mụ ta, thằng chó, thằng cha vô học, hắn, nó

(52) Thằng Tắc gắt gỏng với Thoa:

- Chị đã rớc cái thằng cha thầy thuốc này về để chữa cho cô Sính chứ gì? Bây giờ nó tán em gái chị, đánh em trai chị, máu mủ họ

hàng chị không bênh, đi bênh ngời ngoài thế hử? (XX, tr 444).

Từ dùng để gọi “ngời thứ ba” đợc nhắc tới ở đây đã bị cào bằng vềvai vế, tuổi tác, nghề nghiệp, chủ ý hạ thấp vị thế Phản ánh mối quan hệbất đồng, mâu thuẫn giữa ngời nói với khách thể giao tiếp không trựcdiện

(53) - Thì mặc xác mày - mụ Luỵ hằm hằm đổi nét mặt - nghe tao thì sớm đón đợc con về Còn không nghe tao thì từ mai cuốn xéo, đi đâu thì

đi, hoặc về quê cho chồng mày nó xé xác ra Tao không tốn gạo! (IX, tr.

167)

Cặp từ xng hô đợc sử dụng trong lời nhân vật thể hiện rõ mối quan

hệ bất đồng giữa hai nhân vật tham gia hội thoại, mặc dù giữa hai nhânvật này vốn có sự chênh lệch về tuổi tác

Qua khảo sát lớp từ xng hô của các nhân vật, chúng tôi rút ra một sốkết luận về quan hệ liên nhân giữa các vai giao tiếp trong truyện ngắnNguyễn Dậu nh sau:

Nhìn chung, các nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu đều sử dụng từxng hô tuân theo quan hệ vị thế về tuổi tác, vai vế trong xã hội, nhng cũng cónhững lúc nhân vật chủ ý sử dụng từ xng hô mang tính chất cào bằng về vị thếnhằm phản ánh mối quan hệ có vấn đề Và tuy các từ dùng để xng hô đềutuân theo quan hệ vị thế nhng nh đã khảo sát ở trên, các từ xng hô này phầnlớn là các danh từ thân tộc dùng để xng hô không chỉ trong giao tiếp gia đình

mà còn ở giao tiếp xã hội, do đó bên cạnh tính chất quyền thế vẫn thể hiệntính thân mật, phản ánh phần nào bản sắc văn hoá trong giao tiếp của ngờiViệt

2.2 Đặc điểm sử dụng từ, tổ hợp từ tình thái

2.2.1 lời thoại sử dụng từ, các tiểu nhóm h từ

hội thoại nh chúng ta đã biết là “một trong những hoạt động ngônngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnhnhất định mà giữa họ có sự tơng tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành

vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [28; 18] Do đó hội thoại làmột quá trình vận động tơng tác lẫn nhau giữa các nhân vật tham gia,trong đó mỗi nhân vật có những trạng thái tâm lý cũng nh những chiến l-

ợc giao tiếp khác nhau, làm cho cuộc thoại biến đổi theo nhiều chiều ớng hoặc hợp tác, tích cực hoặc bất hợp tác, tiêu cực

h-Chính vì vậy, trong quá trình giao tiếp khi xuất hiện một phát ngônthì bên cạnh phần nghĩa miêu tả do các yếu tố từ vựng chân thực đảmnhận còn có các yếu tố thể hiện thái độ, sự đánh giá của ngời nói đối với

Trang 32

hiện thực đợc nói tới Nó thờng do các yếu tố tình thái đảm nhận đây là

bộ phận không thể thiếu trong lời hội thoại và chính là một trong những

đặc điểm tạo nên sự khác biệt về phong cách văn bản, giữa văn bản hộithoại và văn bản hành chính, khoa học, chính luận

Trong truyện ngắn nguyễn dậu lời thoại sử dụng yếu tố tình thái rấtphong phú và đa dạng

2.2.1.1 sử dụng trợ từ

trợ từ theo định nghĩa của từ điển tiếng việt đó là những từ:

“chuyên dùng để thêm vào cho câu, biểu thị thái độ của ngời nói nh: ngạcnhiên, nghi ngờ, mỉa mai, vui mừng” [44; 1045] Trong tập truyện ngắnnguyễn dậu đợc chúng tôi tiến hành khảo sát có 57 lần xuất hiện các trợ

từ trong lời thoại của các nhân vật, chiếm 5% Các trợ từ này xuất hiệntrong lời thoại nhằm thể hiện những tình thái khác nhau của ngời nói

a, thể hiện tình thái khẳng định với các trợ từ nh: độc, chính, chỉ,

đúng biểu lộ thái độ khẳng định một cách dứt khoát, chắc chắn của chủ

thể phát ngôn đối với vấn đề mà mình đề cập, nhằm hớng tới ngời đốithoại một cách thuyết phục nhất Các từ này xuất hiện trong truyện ngắnNguyễn Dậu đợc sử dụng ở nhiều trờng hợp khác nhau:

Chẳng hạn nh để giải toả sự băn khoăn:

(54) - không phải thế Năm nay đã hai mơi tám rồi, nó vẫn ở vậy chờ cậu Cậu phải nhớ rằng cứ một nghìn ngời thì có một nghìn lẻ một

ngời chẳng ai tin rằng cậu sẻ có lúc trở lại quê hơng chỉ riêng nó, độc

mình nó, là tin rằng cậu sẽ về Nó không căm ghét cậu, mà ngợc lại đấy

(III, tr 48)

Để trả lời cho câu hỏi tìm kiếm một sự xác nhận “có không”, ngời

đối thoại cũng sử dụng các trợ từ này nhằm khẳng định sự thực:

(55) - vâng, đúng là tôi, chính tôi, nhng sao nó lại có ở trong tay ni

s? Tôi dám cả quyết rằng tôi không hề đóng quân ở Tuyên quang (I, tr.

17)

Ta còn có thể bắt gặp trong lời mời chào mang tính chất thuyết phục:

(56) - không, không Chú cứ bán rắn cho ngời ta đi tôi cũng là nhân thể xem qua thôi.

ngời bán rắn lắc đầu quầy quậy, cất giọng hóm hỉnh:

- ấy chớ! Bác đừng phụ em Hôm nay em bán rắn ở đây cốt chỉ để

bán cho một mình bác Em sinh ra ở trên đời này, rồi làm nghề bán lũ sinh linh nguy hiểm chết ngời này, cũng chỉ vì mình bác Sau khi bác mua rắn cho em, em sẽ giải nghệ Bác không tìm thấy em nữa đâu Bèo dạt mây trôi, bác ơi (XII, tr 238).

các trợ từ nhấn mạnh cốt chỉ , chỉ“ ” “ ” đợc sử dụng liên tiếp tronglời thoại của ngời bán rắn, hòng tạo cho đối tợng mà y đang tiếp xúc cáicảm giác tất cả những gì y nói đều là chân thành nhất

b, thể hiện tình thái đánh giá về phạm vi mức độ:

Trang 33

Ta bắt gặp trong lời thoại của nhân vật các trợ từ nh: những, mãi, mới, thôi, cả đây là những từ thể hiện những đánh giá chủ quan của chủ

thể phát ngôn về phạm vi, mức độ của điều đợc nói đến

Thái độ quyết tâm, khát vọng thay đổi:

(57) - ngời ta không phải con sâu, không rúc mãi vào tổ kén đ” ợc Tôi định làm lấy ba gian nhà tranh vách đất, muốn nhờ mấy chú bộ đội một tay đây.” (XIII, tr 268).

các trợ từ mức độ: mãi, mới đợc sử dụng trong lời thoại của nhân vậtthể hiện thái độ quyết tâm, niềm khát khao cháy bỏng của ngời đàn ôngmơ ớc về một mái ấm gia đình, về một cuộc sống có đôi có lứa nh bao ng-

ời đàn ông khác

Thái độ nhấn mạnh, ngạc nhiên:

(58) - vâng! em vừa đi phù dâu về Các bạn nó đỗ cho đầy đầu một thùng nớc hoa.

- điêu! Nớc lã không nhiều bằng lại có những một thùng cơ?

(XIII, tr 291)

Dùng để phủ định điều ngời khác dự đoán và thể hiện tình thái củamình về thực tế:

(59) - Phải? chết rồi! Say rợu chửi bố cả làng đứa nào bảo tao tậu

xe, xây nhà xây sân bằng thóc công quỹ? Thế, loạng choạng ngã xuống

ao còn anh, ăn diện thế kia, chắc là việt kiều yêu nớc chứ? ở nớc nào

về vậy?

Phạm Phớc tròn xoe mắt, cuống quýt lắc đầu:

- Tha bà không ạ Cháu ở miền nam ra thôi ạ (III, tr 45)

tơng tự nh vậy, nhân vật hùng cũng dùng trợ từ thôi“ ” trong lờithoại của mình để giải trình cách nhìn đơn giản của một cậu bé về việclàm của mình là chỉ nhằm mục đích phân chia lại của cải:

(60) - con không ăn cắp.

- Thế gọi cái việc ấy bằng cách gì bây giờ?

- Con chỉ phân chia lại của cải thôi ngời thì thừa mứa ra, ngời

khác lại ốm, đói (VIII, tr 48).

2.2.1.2 Sử dụng tình thái từ

a, dùng tình thái từ thể hiện các tình thái đa dạng của nhân vật:trong truyện ngắn nguyễn dậu đây là yếu tố tình thái đợc sử dụngvới tần số cao trong lời thoại của nhân vật, với 770 lần xuất hiện, chiếm

73% đó là các từ nh: à, cơ, ạ, chăng, hả, chứ, , cơ mà, đấy, hử Các tình

thái từ này đợc sử dụng nhằm biểu thị các tình thái đa dạng của nhân vật,

có thể quy về các nhóm chủ yếu sau:

- Yếu tố tình thái đợc thể hiện trong một câu hỏi dí dỏm buộc ngời

đối thoại không thể không cời xoà bỏ qua:

Trang 34

(61) - ôi cảm ơn tình bạn của anh Nhng tôi biết dùng nó vào việc gì? Chả lẽ để nó canh chừng những con sâu mọt đục phá cái bàn viết của

tôi à? (XI, tr 216).

- Thể hiện sự trách cứ, thắc mắc nhng đồng thời cũng bao hàm cảthái độ ngạc nhiên trớc hiện thực:

(62) - sao? Cởi à? Mày hạ lệnh cho tao đấy à? (XX, tr 442).

- Đợc dùng nhằm mục đích hỏi song bên cạnh đó còn hàm ẩn cả sự

đe nẹt qua cụm từ tình thái “hả”:

(63) - chúng mày có nể tao không đấy, hả?(VIII, tr 138).

- Sử dụng yếu tố tình thái “ , nhỉ” “ ” để biểu hiện thái độ băn khoăncủa bản thân:

(64) - ngày xa, ba mơi năm trớc, tôi đã làm hai câu văn vần để chế mấy

ông già chơi trống bỏi: “đêm mơ màng tởng gối bông Ngờ đâu gối phải râu chồng kề bên Chẳng lẽ, tôi lại tặng tôi hai câu đó ? ” (XX, tr 439)

(65) - Thế tôi đã đã tặng em bức ảnh này vào lúc nào nhỉ?

(I,tr.19)

- Thể hiện thái độ ngạc nhiên, bất ngờ của nhân vật trớc thông tinnào đó do phía ngời đối thoại đa ra:

(66) - phó tiến sĩ cơ à? (XVIII, tr 391) Câu hỏi này thể hiện thái độ

kinh ngạc của đoàn kiểm khi nghe tin đứa con trai rơi vãi của mình đã làmột phó tiến sĩ dân tộc học

- Thể hiện thái độ thăm dò tình hình của ngời đối thoại khi sử dụng

từ tình thái chứ“ ” nhằm mong muốn một lời hồi đáp chắc chắn có / không

từ đối tợng giao tiếp:

(67) - cho đến nay em vẫn còn tu hành chứ, thu viên? (I, tr 19).

- Thể hiện tình thái cầu khiến - đề nghị qua các từ nh: nhé, cái đã, nào, thôi

(68) - Nào! Bà thành thực đi! Nếu không tôi chẳng ở đây mà mất

thời giờ với bà đằng nào thì cũng đã lộ tẩy rồi ( ) (IX, tr 174)

(69) - Thôi, mẹ ạ, mẹ không phải nói gì nữa Bởi vì nếu nói ra mà

lòng mẹ tan nát và ánh mắt mẹ cứ xa xăm thế này, con không nỡ thấy mẹ

nh vậy (IV, tr.66)

(70) - em xin phép ra cho bác một vế đối Nếu bác đối đợc, em thề

có các vị thánh trong đền này, sẽ biếu không bác số mật rắn cha giao đủ.

Em lấy việc bản thân em ra mà đối nhé? (XII, tr 248).

(71) - thôi đợc Việc đi chỗ nọ chỗ kia là chuyện sau này Bây giờ thì

em ráng học cho tốt cái đã Phải hứa với anh là học thật chăm đấy, phải

kính trọng yêu mến bà ngoại đấy, phải kết thân với những bạn tốt đấy.

(VIi, tr 127)

đây là chính lời đề nghị của nhân vật lu thanh sơn yêu cầu ngời

em kết nghĩa của mình trớc hết phải tập trung học tập thật tốt

Trang 35

- Thể hiện tình thái trách móc qua đó bộc lộ quan điểm cá nhân trớc sựviệc:

(72) - chị đã rớc cái thằng cha thầy thuốc này về để chữa cho cô sính chứ gì? Bây giờ nó tán em gái chị, đánh em trai chị, máu mủ họ

hàng chị không bênh, đi bênh ngời ngoài thế hử? (XX, tr 444).

- Thể hiện thái độ đe doạ, cảnh báo hớng tới đối tợng giao tiếp khi

sử dụng yếu tố tình thái đấy“ ” sau lời thoại:

(73) - tôi chấp thuận! Tôi sẽ tuyệt đối yêu thơng nhng phải có đi có lại nếu em tôi không khỏi bệnh thì sao? ông nhớ cho tên tôi là Súng

đấy” (Xx, tr 428)

b, dùng tình thái từ phản ánh quan hệ vị thế của nhân vật

quan hệ vị thế chính là quan hệ tôn ti xã hội, nó liên quan đến cácvấn đề nh tuổi tác, giới tính và địa vị xã hội Chính quan hệ này sẽ chiphối vai giao tiếp của các nhân vật tham gia hội thoại Ngoài hệ thống các

đại từ xng hô, cách tổ chức cuộc thoại nh ai mở thoại, ai hồi đáp, hay số

l-ợt lời trong một cuộc thoại thì những từ tình thái đi kèm trong phát ngôncũng thể hiện các quan hệ vị thế Nói cách khác “những vị thế này đã đợcngôn từ hoá thành những từ ngữ và cấu trúc ngôn ngữ” (11, tr 126)

Chẳng hạn nh cách sử dụng từ tình thái à, ạ trong câu hỏi của nhân

vật Phạm Phớc:

(74) - Tha bà ông chủ nhiệm chết rồi ạ? (III, tr 44).

(75) - Cả làng không ai nói năng gì à? (III, tr 53).

Từ tình thái mà nhân vật sử dụng trong hai câu hỏi này phần nào

cho chúng ta thấy vị thế thay đổi của nhân vật trong mỗi một cuộc giaotiếp với những đối tợng giao tiếp khác nhau Khi phạm phớc sử dụng từ

tình thái ạ“ ” để kết thúc câu hỏi thể hiện sự khiêm nhờng của mình chính

là lúc anh bị đặt trong một vị thế thấp so với đối tợng giao tiếp lúc này là

bà chủ tịch viện kiểm sát, ngời chuẩn bị ký quyết định miễn tội cho anh

Ngợc lại ở câu hỏi thứ hai, anh sử dụng tình thái à“ ” thể hiện sự bănkhoăn, ngạc nhiên, bởi lúc này anh ở vào vị thế cao hơn trong quan hệ với

ngời em Chính quan hệ này cho phép anh sử dụng từ tình thái à “ ” để thểhiện vị thế trong quan hệ anh - em Nh vậy cùng hình thức là một câu hỏihớng trực tiếp đến đối tợng đang giao tiếp song với cách sử dụng các yếu

tố tình thái “à, ạ ” khác nhau trong mỗi câu đã phần nào cho ta nhận biết

đợc vai giao tiếp của nhân vật tạo ra lời thoại đó

Tơng tự nh vậy ta có thể tìm thấy trong câu hỏi của bọn trẻ con bụi

đời đối với bác phó cạo - một ông lão nổi tiếng với món uyên ơng cớc

khiến bọn chúng phải kính sợ chính vì vậy, bọn trẻ dùng từ tình thái ạ“ ”thể hiện thái độ tôn trọng ông, đồng thời cho thấy vai phát ngôn ở vị tríthấp của chúng:

(76) - à, lan lột nhà ở phố hàng thớt phải không “ ” “ ” ? (II, tr.

31)

Trang 36

(77) - Không ạ, không ạ Có phải lan ngọc sơn không ạ?” (II, tr.

31)

Trờng hợp sự xuất hiện cũng của từ tình thái ạ“ ” trong câu trả lời củacác nhân vật vốn có vai giao tiếp thấp trong quan hệ với đối tợng giaotiếp:

(78) - chào chú, chào các anh, rợu đây ạ Cháu về ạ.(XiII,tr.270) (79) - để có tiền chuộc lại đứa con của con ạ ” (IX, tr 162)

đây cũng chính là yếu tố tình thái quen thuộc thờng xuất hiện trongngôn ngữ nói của ngời miền Bắc nhằm thể hiện thái độ lễ phép, tôn trọngkhi ngời nói vai dới giao tiếp với ngời nghe thuộc vai trên cao hơn mình

đặc điểm này không chỉ biểu hiện ở các từ tình thái dùng trong câuhỏi - đáp mà trong khi dùng từ tình thái để gọi - đáp, ta cũng thấy rõ điềunày:

(80) - tha ông ông là khách của em ngày x“ ” a ạ?

- Bà hiện giấu đứa con của cái Lăn ở đâu?

( )

- tha ông thằng bé ấy hiện do một bọn lu manh nuôi nấng giấu

giếm ở nơi nào, nhà em không rõ! (IX, tr 173).

Từ tình thái th “ a” thể hiện thái độ sợ hãi, e ngại của nhân vật Luỵ

cũng nh vị thế thấp kém của một kẻ chuyên đi lừa lọc ngời khác trớc vịthế đĩnh đạc ở ngời thầy thuốc Nguyễn Tầm T

Từ tình thái th “ a ” còn xuất hiện trong cả lời trao, lời đáp của cả hainhân vật tham gia cuộc thoại:

(81) - tha ông, hẳn là ông đa mađam nhà ta cùng đi chùa chứ ạ?

-ánh mắt của bà chăm chăm nhìn tôi với vẻ rất lạ.

Tôi định nói là tôi độc thân, nhng nghĩ sao tôi lại nói:

- Tha bà, tôi không đi cùng ai cả (VI, tr 99).

Cách sử dụng ở cuộc thoại này lại cho thấy vị thế ngang bằng giữa

hai nhân vật tham gia Chính vì thế khi ngời phụ nữ dùng từ th “ a ” để hôgọi, nhằm gây sự chú ý lúc bắt đầu lời thoại của mình thể hiện thái độkính trọng, đề cao ngời đối diện, thì nguyễn tầm t cũng đã đáp lại bằng

từ ngữ tơng ứng với lời trao ở trên

Từ tình thái dạ “ ” đợc biểu hiện trong lời đáp xác nhận của nhân vậtcũng thể hiện phần nào vị thế giao tiếp của ngời đối thoại:

Trang 37

dụng từ tình thái này đã có thể cho phép nhận biết đợc ngời đáp có vị thếgiao tiếp nh thế nào so với ngời trao.

Nhận xét: đây là hai lớp từ tình thái đợc sử dụng với số lợng lớn, thểhiện rõ dấu ấn lời nói cá nhân thuộc phơng ngữ Bắc Bộ

2.2.2 sử dụng tổ hợp từ tình thái

các tổ hợp từ tình thái xuất hiện khá nhiều trong lời thoại nhân vật,với 66 lần, chiếm 6% góp phần thể hiện khá đa dạng tâm trạng, thái độcủa chủ thể phát ngôn Có thể chia thành các nhóm tình thái sau:

a, thể hiện tình thái ngạc nhiên, vui mừng:

Thể hiện sự khen ngợi:

Đó là tổ hợp từ thốt lên đầy thích thú trớc một phát hiện mới:

(85) - khéo cha! Khéo cha! Các ông các bà xem này đàn ông đàn

ang ru nựng con, còn đàn bà đàn bẹt thì lại sửa chữa máy móc Thế này

mà giời cho thành một đôi thì tuyệt ơi là tuyệt nhỉ? (V, tr 90).

Thể hiện thái độ thán phục, ngạc nhiên, pha chút tếu táo:

(86) - Anh khinh phụ nữ quá đấy Nếu tôi chữa đợc thì sao nào?

- ái ui cha! Bà chị cứng cỏi gớm nhỉ Nếu bà chị chữa đợc cho

nó chạy từ đây vào đến núi bài thơ thôi, thằng em này xin tình nguyện giặt tã lót cho quý tiểu thơ liền một năm (V, tr 88)

Thể hiện niềm vui bất ngờ:

(87) - cha cha mừng cho con Bố mừng lắm (16, tr 344).

Thể hiện sự lý thú của bản thân biểu hiện qua lời chửi đổng:

(88) - con đĩ mẹ cái thằng bịp! Tha với ông rằng: lệ mật là quê

nhà tôi ạ Tôi về lệ mật lấy rắn, những con rắn vứt đi, ngời ta đã bỏ hết nanh liêm, rút hết nọc độc ấy mà, rồi bán lại cho nó, nó đem bán lại cho các ngời đấy Còn quê nó ấy ? Có quỷ biết ông còn hỏi gì thêm nữa không? (XII, tr 255) đây là lời chửi của cô vợ thứ hai về ngời chồng bán

rắn song không phải nhằm hớng thái độ chì chiết đối với ngời chồng, màthể hiện một sự ngạc nhiên, thích thú về cách thức lừa bịp của hắn ta.Thể hiện thái độ phản ứng bất ngờ:

(89) - ông hâm dở hơi ơi là ông hâm dở hơi thời đó ở nớc ta đã

xa tám mơi đời vơng bây giờ một số ngời miền núi và ngời pô ly nê diêng ở nam thái bình dơng vẫn đúng nh ông nói Có nơi một vợ hàng chục chồng, gọi là chế độ mẫu hệ”(XIII, tr 272) tổ hợp kết cấu “x ơi là

-x” xuất hiện trong lời thoại biểu thị thái độ ngạc nhiên, bất ngờ của nhânvật trớc lời lý giải kỳ cục của anh nhộng về cái sự không mặc quần củamình

Trang 38

b, thể hiện tình thái kêu ca, than phiền:

loại tình thái này đợc biểu hiện bằng những tổ hợp từ phong phú và

đa dạng nh: chao ôi, trời đất ơi, khốn khổ

Trong tác phẩm của Nguyễn Dậu, ta có thể gặp lời than phiền vềhoàn cảnh bi đát mà bản thân mắc phải:

(90) - vâng ạ, tha bà đúng thế Khốn khổ thân cháu, khốn khổ con

tôi Con ơi con của mẹ ơi giờ này con ở đâu? (IX, tr 164).

(91) - trời đất ơi, đã bở hơi tai ra, không thở đợc, còn đến quấy rầy.

ông có mắt không? (XII, tr 253) Là lời than phiền, ngán ngẫm của cô vợ

thứ hai đặng quân chi khi bị nguyễn tầm t làm phiền lúc đang tối mắttối mũi vì phải nhổ lông, mổ lòng cho hàng chục con ngan vịt

Thể hiện trong lời chê trách của ngời vợ khi nói về ngời chồng củamình:

(92) - mẫn ơi, dì đây, mẹ của con đây Tại bố con hết Bố con nhần tâm quá U đang thơng con U chẳng có tội gì cả? Chỉ vì bố con ruồng

rẫy chia rẽ mẹ con ta, để đời mẹ cực nhục, đời con cơ cực ôi ông bố bất

nhân bất nghĩa ơi là ông ơi tôi đã tha thứ cho ông, cầu trời phật cũng tha thứ cho ông! (XIII, tr 293).

Thể hiện qua lời than về sự vất vả mà bản thân đã phải trải qua, cùngniềm khao khát tình thơng yêu của bố ở nhân vật tuệ tâm:

(93) - chao ôi mấy chục năm nay con khao khát đợc có bố mẹ nh

thế nào Bố nghĩ gì khi biết rằng có lúc con rất căm thù bố? Bố có biết rằng đã hàng vạn lần con mơ ớc đợc bố thơng yêu, chở che bằng thân mình, bằng bàn tay, thậm chí bố chỉ giơ ra một ngón tay thôi, con cũng

đã sung sớng lắm rồi (XVI, tr 352) Có thể nói những vất vả của một cô

bé khi vừa sinh ra đã thiếu tình thơng yêu, chở che của mẹ, phải sống cô

đơn giữa những tộc ngời xa lạ, tất cả dờng nh đều chất chứa trong hai

tiếng chao ôi “ ” đầy than thở, trách cứ ấy

c, thể hiện tình thái e ngại, sợ hãi:

đó là khi anh kỳ chỉ mặc một rợ khố trớc mặt cái nén:

(94) - ừ chú xin Mày cầm vào đây hộ chú Chú đang chỉ một rợ

khố, đứng lên, ngợng bỏ mẹ (XIII, tr 279).

Hay sự e sợ vì việc phạm giới khiến cho thu viên phải thốt lên:

(95) - mô phật! Thu viên tái mặt, hụt hơi - anh nói gì vậy? Em đã

chót ô uế trong tâm trí rồi, giờ đã sắp đến lúc viên tịch, còn ô uế về thể xác làm gì? đời ngời sống gửi thác về còn bức ảnh, xin anh cứ để em giữ Nó nặng nề với em lắm ” (I, tr 22)

Có lúc, đó là cảm giác e ngại đầy chân thành trớc hành động thề độccủa đối tợng giao tiếp:

(96) - thủi thui! đừng thề nữa! Tôi tin em rồi ” (XV, tr 320)

Trang 39

Có khi, tổ hợp từ tình thái do hai yếu tố liên tiếp “chết! Chết” biểu

thị sự lo ngại của nhân vật trớc hành động bột phát nguy hiểm của đối ợng:

t-(97) - chết! Chết! Mang bành độc lắm Ngời ta có việc gì không?

(XII, tr 253)

Tổ hợp từ tình thái eo ôi“ ” thể hiện sự sợ hãi đầy tính chất nữ tính

trong lời thoại của nhân vật Hến khi bị anh Tâm doạ véo tai:

(98) - eo ôi, thôi em xin, để tai cho em đeo cuốn chiếu chứ (XIII, tr 276).

Thể hiện thái độ thảng thốt của nhân vật:

(99) - thôi chết cháu rồi Rơi hết cả kính bút và chiếc ví xuống hồ

rồi Trong ví của cháu có nhiều giấy tờ và tiền bạc Cháu phải bơi ra, lặn tìm (VIII, tr 138)

tổ hợp từ thôi chết“ ” đã phản ánh đợc trạng thái lo lắng của chàngtrai khi phát hiện ra mọi giấy tờ tiền bạc đều rơi hết xuống hồ

d, tình thái phủ định, mỉa mai:

Thái độ mỉa mai, giễu cợt:

(100) - úi giời Cứ đập mẹ nó vào mặt bọn lang bóp lang băm đi! (XX,

tr.440)

Yếu tố tình thái úi giời “ ” đợc sử dụng trong lời thoại biểu hiện mộtthái độ đầy tính chất mỉa mai, giễu cợt của những ngời dân làng khi gặpbác sĩ Nguyễn tầm T và y sĩ Thoa

Để thể hiện thái độ phủ định trớc sự phỏng đoán của ngời khác:

(101) - Thế thì chú cậu cũng nho.

- Nho nhoe gì ông chú em biết vài chữ đủ để đọc tên thuốc

bắc.

- đọc đợc tên thuốc bắc là khá.

- Khá cái ăn mày đọc đợc, không viết đợc, nh các bà nhớ

quân bài tam cúc thôi (XII, tr 242)

Có khi từ tình thái đợc sử dụng nh một lời thách thức, bất chấp:

(102) - sợ cái đếch! Tao cớp đợc vợ cho chú mày xem (XIII, tr 272).

đây chính là lời phủ nhận nỗi sợ hãi của anh nhộng khi nói về hành

động thề sẽ đánh chìm 13 cái xóm trại xuống nớc sâu nếu không lấy đợc

vợ với Nguyễn Tầm T

Xuất hiện trong lời phủ định thể hiện thái độ đầy bất cần trong chuỗitoan tính thiệt hơn:

(103) - vợ tôi là chuyện nhỏ tôi có thể vợt qua đợc cửa ải ấy Nhng

còn toàn cơ quan? Còn trung ơng? xét cho cùng thì cơ quan tôi cũng cóc

cần , nhng đối với trên nữa thì thật đáng ngại lắm bạn ạ Tôi đã đợc ngời ta ngầm thông báo cho biết tôi sắp sửa đợc đề bạt chính thức là thứ trởng thứ nhất của một bộ tối quan trọng nay mai Chuyện này xảy ra, vở lở om sòm thì sẽ có biết bao kẻ nhảy ra công kích Không! không thể! Tôi không thể nhận mình có con rơi con vãi Tôi không thể vì một đứa con cha chắc đã là

Trang 40

con tôi mà làm sập đổ hết cả sự nghiệp đang thăng tiến của tôi đợc

(XVIII, tr 392)

đ, sử dụng hình thức tách + đay

hình thức tách đay xuất hiện trong lời thoại cũng là một hình thức

đợc dùng để biểu thị thái độ đối với ngời đối thoại hay đối với sự việc đợcnói tới Hình thức này xuất hiện 7 lần trong các lợt thoại, chiếm 1% biểuhiện những nội dung tình thái khác nhau của nhân vật nh:

- để thể hiện thái độ đau đớn:

(104) - anh ơi mẹ chết khổ chết sở lắm ” (III, tr 53) Thể hiện nỗiuất ức của phạm lộc khi mẹ bị chết vì dã tâm của Tuần xã đội trởng trớcngời anh của mình

- Dùng để bác bỏ, từ chối:

(105) - Tôi chẳng biết Ngọc Sơn, Ngọc Thuỷ nào cả! (IX, tr 155) (106) - Không, con không đi thiếu sinh thiếu sủng nào cả Con ở

với bố suốt đời (VIII, tr 150)

- Có lúc lại dùng để giễu cợt, cạnh khoé:

(107) - úi giời Cứ đập mẹ nó vào mặt bọn lang bóp lang băm đi! (XX,

tr.440)

- Thể hiện thái độ bổ bã, thân mật:

(108) - Khéo cha! khéo cha! Các ông các bà xem này đàn ông đàn

ang ru nựng con, còn đàn bà đàn bẹt thì lại sữa chữa máy móc Thế này

mà giời cho thành một đôi thì tuyệt ơi là tuyệt nhỉ? (V, tr 90)

2.2.3 Sử dụng các thành ngữ, tục ngữ để biểu hiện tình thái

2.2.3.1 Sử dụng linh hoạt về cấu trúc

thành ngữ, tục ngữ là những cụm từ cố định hay những câu hoànchỉnh do dân gian sáng tạo nên, nhằm đúc kết tri thức, thể hiện nhữngkinh nghiệm sống về tự nhiên, xã hội, đạo đức đây là những tổ hợp từmang nhiều màu sắc, nhiều hình tợng sinh động, đợc sử dụng nhiều tronglời thoại tạo nên những giá trị biểu cảm với nhiều sắc thái và hình ảnh.Trong tổng số 20 truyện ngắn đợc khảo sát có tới 16 truyện, với 62lần xuất hiện các thành ngữ, tục ngữ trong lời thoại của các nhân vật,chiếm 6% tần số sử dụng các yếu tố tình thái không chỉ nhiều về số lần

sử dụng mà ngay trong cách vận dụng cũng cho thấy sự linh hoạt, tinh tếcủa tác giả:

- Sử dụng nguyên câu tục ngữ hoặc thành ngữ: 49/ 62 câu

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. diệp quang ban, giao tiếp văn bản, mạch lạc, liên kết đoạn văn, nxbkhxh, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: giao tiếp văn bản, mạch lạc, liên kết đoạn văn
Nhà XB: nxbkhxh
2. m.bakhtin, những vấn đề thi pháp đôxtôiepxki, nxbgd, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: những vấn đề thi pháp đôxtôiepxki
Nhà XB: nxbgd
3. lê huy bắc, truyện ngắn: Lý luận tác giả và tác phẩm, tập 1, nxbgd, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: truyện ngắn: Lý luận tác giả và tác phẩm
Nhà XB: nxbgd
4. Phan Mậu Cảnh, Ngữ pháp Tiếng Việt các phát ngôn đơn phần, NXB§HSP, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt các phát ngôn đơn phần
Nhà XB: NXB§HSP
5. đỗ hữu châu, cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, nxbgd, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Nhà XB: nxbgd
6. đỗ hữu châu, đại cơng ngôn ngữ học, tập 2, ngữ dụng học, nxbgd, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: đại cơng ngôn ngữ học
Nhà XB: nxbgd
7. anh chi, nhà văn nguyễn dậu, báo văn nghệ, số 34, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: nhà văn nguyễn dậu
8. lê thị sao chi, ngôn ngữ độc thoại của nhân vật trong truyện ngắn nguyễn minh châu, luận văn thạc sĩ ngữ văn, đại học vinh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngôn ngữ độc thoại của nhân vật trong truyệnngắn nguyễn minh châu
9. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXBGD, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngônngữ học và tiếng Việt
Nhà XB: NXBGD
10.nguyễn đức dân, ngữ dụng học, tập 1, nxbgd, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngữ dụng học
Nhà XB: nxbgd
11. Nguyễn Dậu, Bảng lảng hoàng hôn, NXBVH, HN, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng lảng hoàng hôn
Nhà XB: NXBVH
12.phan c đệ, tiểu thuyết việt nam hiện đại, tái bản lần 3, nxbgd, hn, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tiểu thuyết việt nam hiện đại
Nhà XB: nxbgd
13. edward sapir, ngôn ngữ dẫn luận vào việc nghiên cứu tiếng nói, nxb®hkhxh - nv, tp hcm,2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngôn ngữ dẫn luận vào việc nghiên cứu tiếng nói
Nhà XB: nxb®hkhxh - nv
14. ferdinand de sausure, giáo trình ngôn ngữ học đại cơng, nxbkhxh, hn, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình ngôn ngữ học đại cơng
Nhà XB: nxbkhxh
15. georg yule, dụng học, một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ,®hth oxford, nxb®hqg, hn, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: dụng học, một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ
Nhà XB: nxb®hqg
16. nguyễn thiện giáp, dụng học việt ngữ, nxbđhqg, hn, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: dụng học việt ngữ
Nhà XB: nxbđhqg
17. Nguyễn Phan Hách, Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX, Tập 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Việt Nam thế kỷ XX
18. cao xuân hạo, tiếng việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, nxbgd, hn, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tiếng việt sơ thảo ngữ pháp chức năng
Nhà XB: nxbgd
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, NXBGD, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ vănhọc
Nhà XB: NXBGD
20. nguyễn thái hoà, những vấn đề thi pháp của truyện, nxbgd, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: những vấn đề thi pháp của truyện
Nhà XB: nxbgd

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu và tỷ lệ phần trăm của các dạng thức hội thoại trong truyện ngắn Nguyễn Dậu: - Đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa lời thoại nhân vật trong truyện ngắn nguyễn dậu
Bảng s ố liệu và tỷ lệ phần trăm của các dạng thức hội thoại trong truyện ngắn Nguyễn Dậu: (Trang 24)
Bảng thống kê, tính tỷ lệ câu trong lời thoại dài (phân loại theo cấu tạo ngữ pháp): - Đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa lời thoại nhân vật trong truyện ngắn nguyễn dậu
Bảng th ống kê, tính tỷ lệ câu trong lời thoại dài (phân loại theo cấu tạo ngữ pháp): (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w