1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động cầu mong và chúc (qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn việt nam hiện đại) luận văn thạc sỹ ngữ văn

118 879 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biểu Thức Ngữ Vi Thể Hiện Hành Động Cầu Mong Và Chúc (Qua Lời Thoại Nhân Vật Trong Truyện Ngắn Việt Nam Hiện Đại)
Tác giả Lê Thị Hoài Mai
Người hướng dẫn GS. TS. Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 796 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi nghiên cứu tác phẩm của Hồ AnhThái nhận thấy chưa có một tác giả nào nghiên cứu các hành động ngôn ngữqua lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn của ông.. 22] Ngoài ra còn phải kể đ

Trang 1

Lê thị hoài mai

Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động cầu

trong truyện ngắn việt nam hiện đại)

Trang 2

Vinh, tháng 12 năm 2011

Tác giả

Lê Thị Hoài Mai

Trang 3

MỤC LỤC

Trang LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 6

7 Cấu trúc luận văn 7

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8

1.1 Xung quanh vấn đề hội thoại 8

1.1.1 Khái niệm hội thoại 8

1.1.2 Một số nhân tố chi phối hội thoại trong truyện ngắn Hồ Anh Thái 9

1.1.2.1 Nhân vật 9

1.1.2.2 Ngữ cảnh 10

1.1.2.3 Tương tác trong hội thoại 11

1.1.3 Các dạng hội thoại thường gặp trong truyện ngắn Hồ Anh Thái 13

1.2 Lý thuyết hành động ngôn ngữ 17

1.2.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ 17

1.2.2 Điều kiện sử dụng hành động ở lời 18

1.2.3 Phân loại các hành động ở lời 19

1.3 Vấn đề giới tính và hành động ngôn ngữ của nhân vật nữ (trong quan hệ với nhân vật nam) 20

1.3.1 Khái niệm về giới 20

Trang 4

1.5 Hồ Anh Thái - Cuộc đời và sự nghiệp văn chương 26

1.5.1 Cuộc đời 26

2 Sự nghiệp văn chương 28

1.6 Tiểu kết chương 1 30

Chương 2: CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN HỒ ANH THÁI 32

2.1 Thống kê và nhận xét tổng quát các hành động ngôn ngữ của nhân vật nữ 32

2.1.1 Hành động hỏi 35

2.1.1.1 Hỏi nhưng để tìm kiếm thông tin 38

2.1.1.2 Hỏi để bộc lộ tình cảm 40

2.1.1.3 Hỏi để ra lệnh, áp đặt 45

2.1.2 Hành động cầu khiến 46

2.1.2.1 Hành động mệnh lệnh, cầu khiến, yêu cầu, đề nghị, mời 48

2.1.2.2 Hành động khuyên răn, ngăn cản 52

2.1.2.3 Hành động đe dọa, cảnh báo, thách thức, cấm 55

2.1.2.4 Hành động trấn an, động viên, an ủi 58

2.1.2.5 Hành động nhờ vả, cầu xin 59

2.1.3 Hành động trần thuật 60

2.1.3.1.Trần thuật giải trình 63

2.1.3.2.Trần thuật thông báo 65

2.1.3.1 Trần thuật kể 70

2.2 Tiểu kết chương 2 74

Chương 3: NGỮ NGHĨA LỜI THOẠI QUA CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ CỦA NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN HỒ ANH THÁI 75

Trang 5

3.1.2.1 Nhân vật nữ chủ động trong cuộc sống 78

3.1.2.2 Nhân vật nữ với cá tính mạnh mẽ trong cuộc sống 80

3.1.3 Lời thoại thể hiện nét tính cách sắc sảo của người phụ nữ 81

3.1.4 Lời thoại thể hiện nét tính cách đỏng đảnh giả tạo 84

3.2 Lời thoại phản ánh những qua niệm về nhân sinh 85

3.2.1 Quan niệm về cuộc sống 86

3.2.2 Quan niệm về con người 87

3.2.3 Quan niệm về tình yêu 89

3.2.4 Quan niệm về vật chất - tinh thần 91

3.3 Lời thoại phản ánh nhu cầu được giải bày của người phụ nữ 93

3.3.1 Giải bày những kỷ niệm buồn trong quá khứ 94

3.3.2 Giải bày những bức xúc của người phụ nữ 95

3.4 Một số nhận xét về đặc điểm ngôn ngữ Hồ Anh Thái qua một số hành động ngôn ngữ của nhân vật nữ (trong sự đối sánh với nhân vật nam) 99

3.4.1 Đặc điểm ngôn ngữ thể hiện sự am hiểu sâu sắc ngôn ngữ nhân vật nữ 100

3.4.2 Đặc điểm ngôn ngữ thể hiện thái độ trân trọng nhân vật nữ 106

3.4.3 Đặc điểm ngôn ngữ thể hiện khát vọng giải phóng người phụ nữ về nhận thức 107

3.5 Tiểu kết chương 3 107

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hoà chung vào dòng chảy Văn học Việt Nam sau năm 1975, HồAnh Thái xuất hiện như một nhà văn trẻ đầy triển vọng Không tạo nên tiếngvang lớn ngay từ khi ra mắt truyện ngắn đầu tay nhưng Hồ Anh Thái đã dầndần từng bước tự khẳng định tên tuổi của mình trong lòng độc giả trong vàngoài nước Bước vào trang sách của Hồ Anh Thái, người đọc không bịchoáng ngợp bởi ngôn từ hình ảnh, màu mè lôi cuốn mà dường như mỗi trangvăn của anh chất chứa những suy nghĩ, nỗi niềm tâm sự về cuộc sống HồAnh Thái là nhà văn đi nhiều, biết nhiều, ở anh có một kiến thức sâu rộng vềvăn hoá xã hội, cộng với một trái tim nhạy cảm, đa mang Vì thế, sáng tác của

Hồ Anh Thái đậm tính triết lí sâu sắc trên tầng bề mặt của lớp ngôn từ tưởngnhư bông đùa nhẹ nhàng Có thể nói, chính những điều đó đã làm cho Hồ AnhThái có một vị trí riêng đặc biệt quan trọng trong lòng người đọc Vì vậy, việc

đi sâu tìm hiểu các hành động ngôn ngữ trong tác phẩm của Hồ Anh Thái làmột việc cần thiết, có giá trị hữu ích

1.2 Những năm gần đây, khi ngữ dụng học ra đời và phát triển ở nước

ta, việc vận dụng nó để đi vào tác phẩm văn chương đã đạt được những thànhcông đáng kể Chính điều đó đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhànghiên cứu và sinh viên trong cả nước Khi nghiên cứu tác phẩm của Hồ AnhThái nhận thấy chưa có một tác giả nào nghiên cứu các hành động ngôn ngữqua lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn của ông Vì vậy, chúng tôi mạnhdạn đi vào tìm hiểu các hành động ngôn ngữ qua lời thoại của nhân vật nữtrong truyện ngắn Hồ Anh Thái

Trang 7

2 Lịch sử vấn đề

Là nhà văn đang thu hút sự chú ý của người đọc trong và ngoài nướcnên xung quanh sáng tác của Hồ Anh Thái có khá nhiều bài viết khác nhau.Tuy nhiên nhìn một cách tổng quát, có thể chia những sáng tác của anh theohai giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Sáng tác Hồ Anh Thái mang tính suy tư, trăn trở về

kiếp người

Giai đoạn thứ hai: Sáng tác Hồ Anh Thái mang tính hài hước, châm

biếm sâu cay

Sau đây chúng tôi xin đưa ra các ý kiến đánh giá dưới góc độ truyệnngắn của Hồ Anh Thái

a Sáng tác Hồ Anh Thái mang tính suy tư trăn trở về kiếp người

Trong bài viết “Dòng chảy” Hồ Anh Thái, tác giả Võ Anh Minh ở phần lời bạt của truyện ngắn “Nói bằng lời của mình” đã trích dẫn lời của nhà văn Vũ Bão: “Anh không đứng xa nhìn vào từng mảnh đời với đôi mắt dửng dưng của

một du khách Anh hoà mình vào miền đất lạ theo dõi mạch đời, lần tìm nỗi niềm của từng số phận khác nhau Anh không chuộng lạ ghi chép những mảnh đời phương xa, anh đã suy nghĩ về lẽ đời” Từ đó Võ Anh Minh đưa ra nhận

xét: “Hồ Anh Thái viết về bi kịch, về nỗi đau bằng cái nhìn sắc sảo, trung thực

không phải của một kẻ dửng dưng ngoài cuộc mà anh đã viết bằng cả tấm lòng tràn ngập tình thương; Thế nên, qua mỗi thân phận, Hồ Anh Thái đã không chỉ thấy khổ đau mà anh còn tin tưởng để dựng lên trên nỗi đau đó một niềm tin,

Hồ Anh Thái không chỉ xót thương mà luôn luôn hi vọng” [32, tr.279]

Trong một truyện ngắn khác của Hồ Anh Thái viết về Ấn Độ, nhà văn

Ngô Thị Kim Cúc viết: “Hành trình đi vào những thân phận người bất hạnh

luôn đưa tới những tiếng thở dài sâu tận bên trong nhất là khi những hình

Trang 8

ảnh được phản chiếu kia dường như thấy thấp thoáng gương mặt của chính mình, gương mặt Việt Nam”

Có lẽ Hồ Anh Thái là người đi nhiều, biết nhiều, hiểu nhiều nên dù ởđâu, mọi góc khuất trong cuộc sống cũng được anh phản ánh một cách sinhđộng để rồi người đọc cũng phải trăn trở, suy nghĩ cùng anh

b Sáng tác Hồ Anh Thái mang tính hài hước châm biếm sâu cay

Hồ Anh Thái là nhà văn tinh nhạy trong việc phát hiện ra những thói hưtật xấu, đáng cười, đáng chê của con người và vạch nó ra bằng cái nhìn hàihước Nhưng cái cười trong truyện ngắn Hồ Anh Thái thật sâu sắc, thâm thuýđến mức xót xa

Trong một bài phỏng vấn Hồ Anh Thái đã từng nói: “ Cuộc đời này

đúng là một nhà cười, chỉ có điều con người lại có xu hướng đi vào đó, đối diện với gương mặt mình và khóc…Tôi chỉ muốn đưa ra trước người đọc một tấm gương lồi để họ tự soi vào và tự hỏi: Đấy là ta hay không phải là ta? Tôi không muốn làm cho ai phải khóc Chỉ vì đối với tôi cuộc đời nhiều khi buồn quá, buồn quá thì phải cười” [32, tr.279]

Trong bài viết “Có ai chẳng muốn đùa” của Ngô Thị Kim Cúc đăng trên báo Thanh niên tháng 9 năm 2001 đánh giá: “Cười mà xót, cười mà đau,

cười mà chẳng thấy gì vui Đó là giọng điệu riêng của Hồ Anh Thái trong tập sách Tự sự 265 ngày Có một Hồ Anh Thái tinh quái đến suồng sã, khi vẽ nên một tập hợp chân dung kiểu như thế, khi bắt người đọc phải cười, phải đau như thế” [33, tr.233]

Trong phần dư luận của truyện ngắn Tự sự 265 ngày, Lê Quang Toản trong bài Che dấu sự cô đơn viết: Đọc lại tự sự 265 ngày tôi đã tự

hỏi, phải chăng sau khi đã nghiêm túc trong văn chương, triết học và trong nghề nghiệp, Hồ Anh Thái cần có nơi để đùa cợt, để xá sonpape hay là tác

Trang 9

giả đã quá khéo léo che giấu sự cô đơn của mình trong những tiếng cười rất đời? [33, tr.239]

Còn tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên trong bài “Giễu nhại ngôn ngữ thị

dân” lại viết về truyện ngắn “Bốn lối vào nhà cười” của Hồ Anh Thái đánh

giá: Người ta ấn tượng mạnh với ngôn từ nghệ thuật mà Hồ Anh Thái sử dụng

trong “Bốn lối vào nhà cười”, đây là nét đặc sắc của tập truyện (…) ngôn từ đối với anh như biểu tượng của nhịp sống gấp gáp đang từng giờ từng phút cuốn con người theo dòng xoáy của nó Cái cười, cái nghịch lý phải được phơi bày đến tận bản chất, từng ngóc ngách ở mọi dạng thái như người ta soi bằng kính hiển vi Do đó, chỉ dùng một chữ miêu tả với Hồ Anh Thái là không

đủ (…) Hồ Anh Thái đang đùa nghịch với ngôn ngữ [30, tr 22]

Ngoài ra còn phải kể đến một số luận văn thạc sĩ khoá luận tốt nghiệpkhác của các học viên, sinh viên khi nghiên cứu về truyện ngắn Hồ Anh Thái

như: Ngữ nghĩa lời chuyển thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái của Nguyễn Thị Diệp Anh (2009) Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái của Nguyễn Đình Thiện (2007), Những cách tân trong văn xuôi Hồ Anh Thái của

Hoàng Thuý Hằng (2007)…

Tóm lại, nhìn một cách tổng quát các ý kiến trên chúng tôi nhận thấychưa có bài viết nào đi sâu vào tìm hiểu các hành động ngôn ngữ qua lời thoạicủa nhân vật nữ trong truyện ngắn Hồ Anh Thái dưới góc độ ngữ học Chính

vì vậy, chúng tôi lựa chọn hướng tiếp cận này để làm rõ các hành động ngônngữ qua lời thoại của nhân vật nữ trong truyện ngắn Hồ Anh Thái

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chọn các câu chứa hành động nói qua

lời thoại nhân vật nữ trong tập truyện ngắn tiêu biểu Lũ con hoang của Hồ

Anh Thái, do Nxb Hội Nhà Văn Hà Nội tuyển chọn và giới thiệu, năm 1995làm đối tượng nghiên cứu

Trang 10

Để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi đánh số La mã theo thứ tự từ nhỏđến lớn tương ứng với các truyện trong tập truyện như sau:

I Gặp nhau có một lần

II Có cặp mắt nhìn theo

III Món tái dê

IV Chàng trai ở bến đợi xe

V Mảnh vỡ của đàn ông

VI Những cuộc kiếm tìm

VII Nằm ngủ trên ghế băng

VIII Ai là quỷ dữ

IX Nói bằng lời của mình

X Đi về phía mưa

XI Sao anh không đến

XII Cánh võng không người

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Đề tài này hướng đến hai mục đích chính

a Góp phần làm sáng rõ lý thuyết hành động ngôn ngữ biểu hiện qua

lời thoại của nhân vật nữ trong truyện ngắn Lũ con hoang của Hồ Anh Thái

b Góp phần giảng dạy, nghiên cứu tác phẩm của Hồ Anh Thái – mộttrong những nhà văn tiêu biểu sau 1975 trong tiến trình lịch sử văn học ViệtNam với sự đổi mới nghệ thuật của ông

4.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện đề tài này chúng tôi thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Đưa ra một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài này như lý thuyếthội thoại, lý thuyết hành động ngôn ngữ…

Trang 11

- Miêu tả các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật nữ đối sánhvới nhân vật nam trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, từ đó rút ra những nét khácbiệt về giới.

- Phân tích nội dung ngữ nghĩa của các hành động ngôn ngữ qua lờithoại của nhân vật nữ trong truyện ngắn Hồ Anh Thái

- Rút ra một số nhận xét về đặc điểm ngôn ngữ Hồ Anh Thái quamột số hành động ngôn ngữ khi xây dựng nhân vật nữ trong truyện ngắncủa mình

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê phân loại:

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để thống kê, phân loại các cuộcthoại và các nhóm hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật nữ trong 12

truyện ngắn của Hồ Anh Thái ở tập truyện Lũ con hoang.

- Phương pháp so sánh đối chiếu:

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để so sánh, đối chiếu lời thoại củanhân vật nữ với lời thoại của nhân vật nam trong truyện ngắn Hồ Anh Thái

- Phương pháp phân tích - tổng hợp:

Trên cơ sở thống kê so sánh, đối chiếu chúng tôi tiến hành phân tíchcác hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật nữ (trong sự đối sánh với hànhđộng ngôn ngữ của nhân vật nam); Phân tích nội dung ngữ nghĩa các hànhđộng ngôn ngữ qua lời thoại của nhân vật nữ trong truyện ngắn Hồ Anh Thái

6 Đóng góp của đề tài

Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu các hành động ngôn ngữ qua lời thoạinhân vật nữ trong truyện ngắn Hồ Anh Thái trên cơ sở lý thuyết ngữ dụng họcmột cách hệ thống, góp phần làm rõ hơn đặc điểm ngôn ngữ qua lời thoại củanhân vật nữ trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Trang 12

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn sẽ trình bàytrong 3 chương

Chương 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật nữ trongtruyện ngắn của Hồ Anh Thái

Chương 3: Ngữ nghĩa lời thoại qua các hành động ngôn ngữ của nhânvật nữ trong truyện ngắn Hồ Anh Thái

Trang 13

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Xung quanh vấn đề hội thoại

1.1.1 Khái niệm hội thoại

Giao tiếp là một trong những hoạt động xã hội thường xuyên của conngười, trong đó giao tiếp hội thoại là hoạt động căn bản, phổ biến nhất củangôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Hội thoại là một trong những khái niệm trung tâm của Ngữ dụng học.Cho đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đi sâu vào vấn đề hộithoại như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Thị KimLiên, Trần Thị Thìn… Song các tác giả đều thừa nhận: Hội thoại là hoạt độnggiao tiếp căn bản nhất, phổ biến nhất của sự hành chức ngôn ngữ Trên cơ sở

đó khi đi tìm hiểu về khái niệm hội thoại các tác giả đều nhấn mạnh tới ba đặcđiểm cơ bản của hội thoại

- Nhân vật giao tiếp

- Ngữ cảnh giao tiếp

- Sự tương tác trong hội thoại

Theo Đỗ Thị Kim Liên: "Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn

ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định" [19, tr.120]

Như vậy từ định nghĩa trên, chúng tôi thấy hội thoại là một trong nhữnghoạt động giao tiếp bằng lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong mộtngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữhay hành vi nhận thức, nhằm đi đến một đích nhất định

Trang 14

1.1.2 Một số nhân tố chi phối hội thoại trong truyện ngắn Hồ Anh Thái

1.1.2.1 Nhân vật

a Khái niệm

Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu: "Nhân vật trong hội thoại là những

người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng nhân vật để tạo ra các lời nói, qua đó mà tác động vào nhau Đó là sự tương tác bằng ngôn ngữ" [7, tr.116]

Nhân vật văn học chính là hình tượng nghệ thuật được tác giả xâydựng nên thông qua những cử chỉ, hành động, lời nói, đặt trong mộthoàn cảnh nhất định Trong văn học bao giờ cũng có sự tác động qua lạigiữa nhân vật này với nhân vật khác tạo nên các mối quan hệ đa chiều Vìvậy, hội thoại chính là hình thức, là phương tiện để nhân vật thể hiện cái tôiđậm nét của mình

Trong hội thoại các yếu tố như: thời gian, không gian, nội dung, tínhchất cuộc thoại, có ý nghĩa quan trọng nhưng nếu không có nhân vật thì sẽkhông có hội thoại Vì vậy, nhân vật chính là yếu tố quyết định có hội thoạihay không Tuy vậy, hội thoại trong tác phẩm văn học khác hội thoại trongđời sống ở tính chủ đích của nhà văn

b Nhân vật nữ trong truyện ngắn Hồ Anh Thái

Là nhà văn lớn lên và trưởng thành sau cuộc kháng chiến chống Mỹcứu nước của dân tộc, Hồ Anh Thái không đi sâu vào khai thác đề tài ngườiphụ nữ trước và ngay sau chiến tranh Thế giới nhân vật nữ trong truyệnngắn của anh phần lớn là những người phụ nữ hiện đại, trẻ trung xinh đẹp

Họ là những người phụ nữ có hoài bão, dám nghĩ, dám làm Tuy xuất thân

từ các vùng miền khác nhau, trình độ, tuổi tác, nghề nghiệp khác nhau,nhưng họ đều khát khao có một tình yêu trong sáng, chân thành Đó là

Trang 15

Hạnh (Những cuộc tìm kiếm), Tuấn (Sao anh không đến), chị Hảo (Cánh

võng không người), Duyên (Mảnh vỡ của đàn ông)…

Bên cạnh những vẻ đẹp duyên dáng đằm thắm kín đáo trong tình yêu

như Liên (Chàng trai ở bến đợi xe), Tuấn (Sao anh không đến) cũng phải kể

đến những tính cách mạnh mẽ quyết liệt trong cuộc sống đời thường cũng như

trong tình yêu, như Khoát (Chàng trai ở bến đợi xe), chị Thạch (Mảnh vỡ

của đàn ông) hay những mánh khoé của người đàn bà từng trải khi đã quá am

hiểu người đàn ông cần gì ở người đàn bà để có thể nương tựa mà sống dựa

vào nhau (Cô Ba - Gặp nhau có một lần) Song có thể nói, dù nhân vật nữ ở

nét tính cách nào, Hồ Anh Thái cũng nhìn thẳng nhìn đúng vào sự thật để soichiếu, để người đọc nhìn thấy những mảng màu khác nhau trong cuộc sống

Có như vậy văn chương mới chính là cuộc đời

1.1.2.2 Ngữ cảnh

Hội thoại giữa các nhân vật bao giờ cũng xảy ra trong một ngữ cảnh

nhất định, vì thế khi phân tích hội thoại không thể tách rời ngữ cảnh Theo Từ

điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, thì khái niệm “ngữ cảnh” được hiểu

theo nghĩa hẹp: “Ngữ cảnh là tổng thể nói chung những đơn vị đứng trước và

sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét, quy định ý nghĩa và giá trị cụ thể của đơn

vị đó trong chuỗi lời nói”[40, tr.135]

Ngữ cảnh bao gồm tình huống ngôn ngữ và ngữ cảnh tự nhiên xungquanh (như thời gian, không gian) đoạn thoại trước và sau đó, các quy tắc ứng

xử, các khía cạnh liên quan như, quan hệ, địa vị, trang phục của những ngườitham thoại, địa điểm, nội dung của cuộc thoại… Ngữ cảnh gắn chặt với quátrình hội thoại trong những trường hợp này, ngữ cảnh còn được gọi là ngôncảnh Ngôn cảnh chính là điều kiện trước và sau phát ngôn để cho phép hiểuđúng nghĩa của từ hay phát ngôn cụ thể Dù là ngôn cảnh hay cảnh huốngngoài ngôn ngữ thì cũng dễ can thiệp vào hành vi nói năng vì:

Trang 16

- Ngữ cảnh có tác dụng chế ước và “cưỡng chế” việc sử dụng ngôn ngữ

- Ngữ cảnh có tác dụng hỗ trợ việc lý giải hành vi ngôn ngữ

- Ngữ cảnh tạo cho lượng thông tin và ý nghĩa trở nên rõ ràng trongngữ cảnh

- Ngữ cảnh có yêu cầu và hạn chế đối với người nói

Quan tâm đến ngữ cảnh giao tiếp của nhân vật nữ trong tập truyện ngắn

Lũ con hoang của Hồ Anh Thái giúp chúng tôi giải nghĩa sâu sắc hơn chiến

lược giao tiếp của nhân vật nữ qua một số hành động ngôn ngữ

1.1.2.3 Tương tác trong hội thoại

Theo Đỗ Hữu Châu, tương tác hội thoại được hiểu là: “Các nhân vật

giao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau; tác động lẫn nhau đến cách ứng xử của từng người trong quá trình hội thoại"

{9, tr.42}Trước khi giao tiếp người nói và người nghe có thể có một khoảng cáchnhất định về mối quan hệ thân sơ, khác biệt về tính cách, quan điểm, địa vị…

Do đó, họ phải lựa chọn cho mình từ xưng hô phù hợp với vai giao tiếp Dầndần trong cuộc hội thoại nhân vật sẽ tự hòa phối với nhau, hiểu nhau hơn, trởnên thân mật hơn hoặc có thể đẩy cuộc thoại lên mức căng thẳng thù địchnhau Sự điều phối đó chính là tương tác trong hội thoại

Trong tác phẩm văn học, sự tương tác giữa các nhân vật khi tham giahội thoại sẽ xảy ra theo chiều hướng khác nhau

- Thứ nhất, sự tương tác giúp cho các nhân vật hiểu nhau hơn, trở nênthân mật hơn

Ví dụ như cuộc hội thoại giữa đôi thanh niên nam nữ (nữ đóng giả trai)tình cờ quen biết nhau trên tàu rồi lại cùng nhau đi tìm người thân để đến lúc

lỡ việc đi xem mặt bạn gái của chàng trai

[1] - Chỉ vì em mà anh lỡ làng hết cả.

- Mình quá lứa rồi hay sao?

Trang 17

- Em không nói thế Nếu như không vướng em, thì giờ này anh có thể gặp một tuyệt thế giai nhân nào đó Và biết đâu ông Tơ bà Nguyệt sẽ se duyên

- Nhưng cũng biết đâu nhờ thế mà mình thoát được một mụ sư tử Hà Đông nào đó

Cả hai cùng cười Chuyện coi như xong.

-Hết ý – tôi reo lên, trong đầu đã kịp phác ra một loạt dự định.

{IV, tr.60}

- Thứ ba tương tác làm cho hội thoại đi từ bất đồng dẫn đến xung đột,

ví dụ như trong đoạn hội thoại giữa đôi trai gái sau

[3] - Mẹ em không bị ung thư gan như chuẩn đoán, nhưng còn phải

nằm viện một thời gian nữa Những hôm nguy kịch, mấy thằng bạn trai ái mộ

em đều đến bê bô đổ chậu, chỉ có anh là không Chẳng biết anh nghĩ thế nào.

Tôi suy nghĩ trả lời:

- Vì tôi không phải là Vũ Tán Đường.

- Anh coi việc đó là xu nịnh, là hầu hạ hay sao? Anh là đồ vô nhân đạo Anh không yêu tôi.

Trang 18

- Tôi nói yêu cô bao giờ? – Tôi cộc cằn hỏi lại, đẩy trả cô ta chiếc xe đạp.

{IV, tr.70}Như vậy, trong hội thoại tuỳ theo từng mục đích khác nhau của nhânvật giao tiếp mà sự tương tác đó có thể diễn ra theo nhiều chiều hướng hoặctích cực, hoặc tiêu cực

1.1.3 Các dạng hội thoại thường gặp trong truyện ngắn Hồ Anh Thái

a Đơn thoại

Đơn thoại là một dạng hội thoại, trong đó lời thoại của nhân vật phát rahướng tới người nghe nhưng không có lời đáp trực tiếp Một điều dễ nhậnthấy trong đơn thoại là người nghe không đáp lại trực tiếp bằng ngôn ngữ màthông qua các hành động hoặc cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ

Trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, phần lớn dạng đơn thoại thể hiệntrong kiểu lời trần thuật của nhân vật, nghĩa là lời nói của nhân vật có xen mộtyếu tố kể của mình, của người

Chẳng hạn lời nói của Hoàn về Khải (anh trai của mình)

[4] -Em mới nghĩ ra điều này: Anh giống như cái đèn kia kìa

Tôi hơi chuyếnh choáng và vui, nên chẳng hiểu mình mày ngang mũi dọc ra làm sao mà lại giống cái đèn Kệ nó, cái thằng mới hăm tư hăm lăm tuổi mà nói câu nào cũng như cụ non

{IV, tr.65}

Ở cuộc thoại trên chỉ có nhân vật Hoàn phát ngôn Khi Hoàn nói Khảicũng giống như cây đèn kia, nghĩa là cái đèn ấy không tự sáng, nó chỉ sánglên khi có ánh sáng từ nơi khác chiếu vào

Trong truyện ngắn Mảnh vỡ của đàn ông có đoạn:

[5] Chị ghé lại gần nhìn đôi cẳng chân lông lá của tôi mà bảo:

Trang 19

" Phải biết chọn bạn mà chơi" Tôi ngừng đọc, nhìn chị như hỏi."Đừng chơi với những thằng không có lông chân" Tôi càng ngơ ngác:" Bọn ấy, rặt một lũ hèn" Rồi chị thở dài, mắt nhìn xa xăm: " Nói trộm vía, chồng tôi ngày trước cũng vậy"

{V, tr.79}

b Song thoại

Song thoại là dạng thoại chủ yếu và được quan tâm nhiều nhất của lýthuyết hội thoại

Theo Nguyễn Đức Dân: "Nếu không có chú thích gì đặc biệt thì thuật

ngữ hội thoại được hiểu là song thoại ”

[11, tr.77]Đây là dạng hội thoại diễn ra giữa hai nhân vật mà lời của người traohướng đến người nghe và có sự đáp lại bằng hành vi ngôn ngữ Trong đó giữangười trao lời và người đáp lời phải có sự luân phiên lượt lời

Song thoại gồm có 3 yếu tố: Lời trao, lời đáp và sự tương tác

Trong truyện ngắn Hồ Anh Thái chúng tôi nhận thấy lời thoại của cácnhân vật chủ yếu là ở dạng song thoại

Ví dụ:

[6] Cửa hé mở, gương mặt một cô gái nhuận hồng ánh đèn toả ra từ

ngọn đèn bão cầm tay.

- Anh đấy à! Ôi ban ngày thì em có thể mời anh vào nhà được

- Tại sao không phải bây giờ?

- Mẹ em cấm

- Cả gia đình em mà sợ một mình anh hay sao?

- Không, mẹ em sống ở cuối đường cơ Em chỉ có một mình {V, tr.86}

Trang 20

Ở đoạn thoại trên, qua lời dẫn là sự xuất hiện của hai nhân vật Bảo vàDuyên trong lần gặp gỡ đầu tiên tại nhà, mỗi lời trao đáp của hai nhân vật đềuhướng vào nội dung, không có hiện tượng bị dẫm đạp, chồng lên nhau.

Ở một đoạn thoại khác:

[7] - Em biết chiều nay anh đi đâu rồi – Hương nói giọng khô khan.

Tưởng anh sẽ làm ra vẻ ngạc nhiên, rồi dò hỏi Nhưng anh Tứ chỉ khẽ khàng gật đầu rất thành thực:

[8] - Ôi, anh diễn hay quá, anh nói được nhiều quá

- Nói? – Tôi sững sờ vì Lam nghĩ như mình

- Vâng, những tiếng nói không dùng đến lời – Lam nhắc lại

Long cười hồ hởi:

- Chưa hoàn toàn tốt đâu, cái đoạn bám tường trèo lên mình hồi hộp nên động tác hơi hấp tấp Lẽ ra phải thế này cơ – Long làm một vài động tác dứt khoát.

Trang 21

Em cũng nghĩ thế - Lam sung sướng kêu lên – nhưng nói chung là không hề gì phải không anh? Mai chủ nhật, thế nào anh Ký cũng đến nhà em chơi, cả anh nữa nhé

.{IX, tr.181}

Ví dụ trên cùng xuất hiện 3 nhân vật giao tiếp: Lam, Ký và Long

Cả 3 nhân vật đều trong tâm trạng vui sướng sau tiết mục kịch câm vừađược biểu diễn Vì vậy nội dung của cuộc hội thoại hướng vào đó là ngôn ngữcủa các động tác Ở ngoài đời, Lam thấy Long rất nghèo về ngôn ngữ, nhưngkhi lên sân khấu, Lam lại thấy điều đó ngược lại ở Long, chính suy nghĩ đó đãtạo cho ba người trở nên thân thiết hơn

[9] - Ối giời, sếp về, sếp mới đã về!

Mặc dù đã được biết trước là tiểu đội có mười bốn cô gái, Hoạt vẫn hoa cả mắt khi thấy các cô vứt rổ rá, xoang chảo, chạy ùa tới.

- Sếp mới đẹp trai ra trò.

- Cơ mà không cao dáng Mày trông, mắt kia là si phải biết.

- Niềm ao ước bấy lâu nay đã thoả nỗi chờ mong - Một cô hát.

{II, tr.25}

Trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, các dạng hội thoại trên nhiều khikhông xuất hiện độc lập mà đan cài vào nhau: Có khi đơn thoại xen songthoại, xen đa thoại Tuy nhiên trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy

Trang 22

song thoại là dạng hội thoại cơ bản trong đa số các cuộc thoại của truyện ngắn

Hồ Anh Thái

1.2 Lý thuyết hành động ngôn ngữ

1.2.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ

Ngôn ngữ ngay từ khi ra đời đã thực hiện một chức năng quan trọng,chức năng giao tiếp của cả xã hội loài người Khi chúng ta giao tiếp bằngngôn ngữ nghĩa là ngôn ngữ đang hành chức Vậy, nói năng cũng là mộtdạng hành động, hoạt động tác động đến người khác - được gọi là hànhđộng ngôn ngữ

Theo JL AuStin, có 3 loại hành động ngôn ngữ:

a Hành động tạo lời

Hành động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ nhưngữ âm, vốn từ, quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn hoàn chỉnh vềhình thức và nội dung

Ví dụ : - Anh mời cơm chưa ?

Phát ngôn trên do các từ: Anh / mời / cơm / chưa tạo nên phátngôn nghi vấn

- Đóng cửa lại cho tôi! Phát ngôn cầu khiến.

b Hành động mượn lời

Hành động mượn lời là hành động mượn phương tiện ngôn ngữ, haynói một cách khác là mượn các phát ngôn để gây ra sự tác động hay hiệu quảngoài ngôn ngữ đối với người nghe Hiệu quả này không đồng nhất ở nhữngngười nghe khác nhau

Ví dụ: Trên tờ báo thể thao đưa tin: 14h ngày mai trên sân vận động

Mỹ Đình diễn ra trận chung kết giữa 2 đội bóng Hoàng Anh Gia Lai gặp T &

T Hà Nội Khi đọc tin này người thì vui sướng vội vàng đi đặt vé để cổ vũ cho

Trang 23

đội bóng của mình, người thì thất vọng vì đội bóng yêu thích của mình không lọt vào vòng chung kết, người không thích bóng đá thì tỏ ra thờ ơ,

Như vậy, cùng đọc một thông tin nhưng hiệu quả đến tai người nghe làhoàn toàn khác nhau

c Hành động ở lời

Hành động ở lời là hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng.Hiệu quả của chúng gây những sự tác động trực tiếp về ngôn ngữ, gây phảnứng với người nghe Đặc trưng của hành động tại lời là vừa thể hiện ý địnhcủa người nói vừa có tính quy ước Nghĩa là người nghe khi nhận được phátngôn ở lời, dù thực hiện hay không thực hiện, người đó cũng không còn vôcan như trước khi chưa nghe câu nói đó

Ví dụ: - Bạn cầm cho tôi quyển sách nhé là hành động ở lời

1.2.2 Điều kiện sử dụng hành động ở lời

Theo Đỗ Hữu Châu: Điều kiện sử dụng hành vi ở lời là những điều

kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó [8, tr.111]

Theo Đỗ Thị Kim Liên: Điều kiện sử dụng hành vi ở lời là những nhân

tố cần thiết cho phép thực hiện hành động ở lời nhất định trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể [18, tr.82]

Theo J R Searle, có 4 điều kiện sử dụng hành động ở lời

Trang 24

a) Điều kiện nội dung mệnh đề: Chỉ ra bản chất nội dung của hànhđộng ngôn ngữ.

b) Điều kiện chuẩn bị: Bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn

về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nóivới người nghe

c) Điều kiện chân thành: Chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng củangười phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệgiữa người nói với người nghe như xác tín đòi hỏi niềm tin vào điều mình xáctín, mệnh lệnh đòi hỏi mong muốn, hứa hẹn đòi hỏi ý định người nói,

d) Điều kiện căn bản: Là điều kiện đưa ra trách nhiệm mà người nóihoặc người nghe bị ràng buộc khi hành động ở lời đó được phát ra

1.2.3 Phân loại các hành động ở lời

Việc phân loại hành động ngôn ngữ căn cứ vào phản ứng qua lại ảnhhưởng giữa những người tham gia giao tiếp

- Phân loại của J.L Austin

J.L Austin chia các loại hành động ngôn ngữ thành 5 phạm trù sau:(1) Phán xử: Là hành vi cuối cùng được đưa ra dựa trên một quá trìnhtính toán, phân tích, đánh giá để đi đến kết luận xử trắng án, nêu đặc điểm,phân loại

(2) Hành xử: Là những hành vi đưa ra để thực hiện mang tính chấtquyết định như: ra lệnh, bổ nhiệm, đặt tên, khai mạc, bế mạc,

(3) Cam kết: Là những hành vi mang tính chất ràng buộc như: Hứa hẹn,bày tỏ lòng mong muốn – không những thế còn đặt trong các quy ước, thamgia một phe nhóm

(4) Trình bày: Hành vi này dùng để trình bày những quan niệm, dẫndắt, lập luận như: Khẳng định, phủ định, phản bác,

Trang 25

(5) Ứng xử: Là hành vi cư xử thể hiện thái độ, tình cảm một cách trựctiếp như: Xin lỗi, cảm ơn, phê phán, chia buồn.

- J R Searle đưa ra 12 tiêu chí phân loại hành động ngôn ngữ, trong số

đó có 4 tiêu chí cơ bản nhất (Tiêu chí đích ở lời, tiêu chí hướng khớp ghép,tiêu chí trạng thái tâm lý và tiêu chí nội dung mệnh đề) để phân loại 5 phạmtrù hành động ở lời, đó là:

(1) Tái hiện: Thuộc nhóm này gồm các động từ: Kể, thông báo, giảitrình, giới thiệu,

(2) Điều khiển: Thuộc nhóm này gồm các động từ: Ra lệnh, yêu cầu,hỏi, cho phép, dặn dò, mời mọc,

(3) Cam kết: Thuộc nhóm này gồm các động từ như: Hứa hẹn, biếu,thoả thuận,

(4) Biểu cảm: Thuộc nhóm này gồm các động từ như: Vui thích, khóchịu, mong muốn, cảm ơn, xin lỗi, khen,

(5) Tuyên bố: Thuộc nhóm này gồm những động từ: Tuyên bố, buộctội, bác bỏ, từ chối

1.3 Vấn đề giới tính và hành động ngôn ngữ của nhân vật nữ (trong quan hệ với nhân vật nam)

1.3.1 Khái niệm về giới

Theo Từ điển tiếng việt [1999-2000 Nxb Văn Hóa thông tin, tr.341] thì giới tính chỉ "Đặc điểm cấu tạo cơ thể và của tâm lý làm cho có chỗ khác

nhau giữa nam và nữ, giữa giống đực và giống cái" Nói cách khác giới tính

là sự khác biệt giữa giống đực và giống cái trong việc duy trì và sinh sản cácyếu tố di truyền tự nhiên (mặt sinh học) nhưng giới tính cũng bao hàm trong

nó là "sự thay đổi về quan niệm và đời sống, vị thế ở cả gia đình cũng như ởngoài xã hội giữa nam và nữ (mặt xã hội)" [Nguyễn Văn Khang, 1999,

tr 144,145] Khi nói đến giới là nói đến điều kiện và xã hội quy định, vai trò

Trang 26

và hành vi xã hội của mỗi giới không phải là bất biến mà thay đổi khi các điềukiện quy định về chúng thay đổi.

Dưới đây là những kết quả trắc nghiệm khách quan về tần suất lời nói,

số lần ngắt lời, cách thức yêu cầu trong giao tiếp, đề tài lựa chọn trong hộithoại giữa nam và nữ

a Về tần suất lời nói giữa nam và nữ

Theo điều tra của Sheng Haibing thì số lời nói trung bình của 2 giớitrong vòng một phút có sự khác nhau

Số lời nói trung bình của 2 giới trong vòng một phút

(Trên cứ liệu băng ghi âm lời nói trong thời gian 10,5h) (p< 0,01)

Tổng số lời nói (Trong 1') Tần suất

(Dẫn theo 16, tr.25)Căn cứ vào bảng số liệu trên, cho chúng ta thấy trên thực tế nam nóinhiều hơn so với nữ tới hơn 100 lần trong một phút

b Số lần ngắt lời trong giao tiếp của 2 giới

Dưới đây l b ng th ng kê v t n su t ng t l i gi a 2 gi i nam và bảng thống kê về tần suất ngắt lời giữa 2 giới nam và ảng thống kê về tần suất ngắt lời giữa 2 giới nam và ống kê về tần suất ngắt lời giữa 2 giới nam và ề tần suất ngắt lời giữa 2 giới nam và ần suất ngắt lời giữa 2 giới nam và ất ngắt lời giữa 2 giới nam và ắt lời giữa 2 giới nam và ời giữa 2 giới nam và ữa 2 giới nam và ới nam và à bảng thống kê về tần suất ngắt lời giữa 2 giới nam và

n trong giao ti pữa 2 giới nam và ếp

c Cách thức yếu cầu của 2 giới trong giao tiếp

Trang 27

Trong khi giao tiếp mỗi giới có cách thức yêu cầu khác nhau, điều đóthể hiện tâm lý giới tính khác biệt giữa 2 giới.

Dưới đây là sự khảo sát của Sheng Haibing (1997) cho thấy cách thứcyêu cầu của 2 giới là hoàn toàn khác nhau:

Nữ giới thì thiên về yêu cầu gián tiếp trong khi đó nam gi i l i thíchới nam và ại thíchyêu c u m t cách tr c ti p.ần suất ngắt lời giữa 2 giới nam và ột cách trực tiếp ực tiếp ếp

Yêu cầu gián tiếp

Yều cầu trực tiếp Tổng cộng Nam giới 19 (37,25%) 32 (62,75%) 51

Nữ giới 28 (63,64%) 16 (36,36%) 44

Tổng cộng 47 (49,47%) 48 (50,53%) 95

[dẫn theo16,tr.22]

d Đề tài lựa chọn trong hội thoại của 2 giới

Kết quả trắc nghiệm của Sheng Haibing về các đ t i khác nhau trongề tần suất ngắt lời giữa 2 giới nam và à bảng thống kê về tần suất ngắt lời giữa 2 giới nam và

h i tho i c a 2 gi iột cách trực tiếp ại thích ủa 2 giới ới nam và

** Xác suất thống kê có ý nghĩa cao (p<0,01)

* Xác suất thống kê có ý nghĩa

[dẫn theo 16, tr.18]

Dựa vào kết quả trắc nghiệm của Sheng Haibing về lựa chọn đề tàitrong hội thoại của 2 giới chúng tôi nhận thấy, trên cùng một đề tài nhưnggiữa nam và nữ có sự quan tâm khác nhau Trong khi nam giới chủ yếu quantâm đến các đề tài chính trị, kinh tế, sức khoẻ thì nữ giới thiên về quan tâmđến gia đình và giáo dục và các bài hát

Trang 28

1.3.2 Biểu hiện ngôn ngữ nhân vật nữ trong quan hệ với nhân vật nam trong truyện ngắn Hồ Anh Thái

Khảo sát 12 truyện trong tập truyện ngắn Lũ con hoang của Hồ Anh

Thái chúng tôi thấy biểu hiện ngôn ngữ nhân vật nữ trong quan hệ với nhânvật nam như sau:

- Cùng một vấn đề nhưng cách diễn đạt của nam giới thường mạnh mẽhơn cách diễn đạt của nữ giới

+ Nam giới thường dùng cách nói khẳng định/phủ định một cách dứtkhoát, còn nữ giới lại diễn đạt bằng cụm từ đồng nghĩa, trái nghĩa (với những

từ khẳng định - phủ định) các từ biểu thị “khả năng” (tức là không dứt khoát)hoặc bằng cách uyển chuyển hơn

+ Mệnh lệnh của nam giới, thường chứa đựng cả quyền lực và sự bắtbuộc, phục tùng Trong khi đó nữ giới ít ra lệnh thẳng thắn như nam giới mà

ra lệnh một cách lịch sự, không yêu cầu công khai mà yêu cầu một cách kínđáo, nhưng cũng không kém phần mãnh liệt và kiên quyết

- Nữ sử dụng đối thoại ngôn ngữ nhiều hơn nam giới

Từ các kết quả ở khảo sát trên trong mối quan hệ về hành động củanhân vật nam và nhân vật nữ, chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt là do cácnguyên nhân sau:

- Do đặc trưng thiên bẩm sinh học của giới

- Do sự phân bố quyền lực khác nhau trong xã hội

- Do ảnh hưởng của xã hội và những nét văn hoá khác biệt về giới

1.4 Phân biệt tiểu thuyết và truyện ngắn

Trong các thể loại của văn học, truyện ngắn là thể loại thu hút được sựchú ý đông đảo của người đọc, người nghe nhờ dung lượng, tính hàm xúc côđọng và sự cập nhật nhanh chóng trong đời sống hàng ngày Chính vì thế,khái niệm truyện ngắn được các nhà nghiên cứu phê bình bàn đến với nhiều

Trang 29

cách nhìn đa dạng khác nhau, sau đây là những ý kiến được đông đảo mọingười thừa nhận:

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện ngắn là “tác phẩm tự sự cỡ

nhỏ, nội dung của thể loại bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống, đời tư thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu một mạch, đọc một hơi không nghỉ ” {13, tr.370}

Từ điển Tiếng Việt giải thích: "Truyện ngắn là chuyện bằng văn xuôi có dung lượng nhỏ, số trang ít, miêu tả một khía cạnh, một mẫu trong cuộc đời của nhân vật {22, tr.1054}

Còn sách Lý luận văn học viết : " Truyện ngắn là hình thức ngắn của

tự sự Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười hoặc gần với những bài ký ngắn Nhưng thực ra không phải, nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời Nội dung thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: Đời tư, thế sự, hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn Truyện ngắn có thể kể về một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một chốc lát trong cuộc sống nhân vật nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện

mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời.”

Trong 150 thuật ngữ Văn học, Lại Nguyên Ân viết: Truyện ngắn là một

thể loại của tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thời gian được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các vấn đề trong cuộc sống {2, tr.87}

Một điều dễ nhận thấy là truyện ngắn trung đại cũng là truyện ngắnnhưng nó gần với truyện vừa, còn truyện ngắn hiện đại với đặc điểm thể tàiriêng biệt, nó gắn với sự xuất hiện và phát triển của báo chí, vì vậy truyệnngắn đích thực xuất hiện muộn hơn trong lịch sử văn học

Trang 30

Theo Lại Nguyên Ân: Với tư cách là một thể tài tự sự, truyện ngắn

hiện đại cũng như truyện vừa, truyện dài hiện đại đều ít nhiều mang những đặc tính của tư duy tiểu thuyết [2, tr.87] Tuy nhiên, nếu tiểu thuyết là hình

thức tự sự cỡ lớn, miêu tả cuộc sống trong quá trình phát triển, với một cấutrúc phức tạp, với nhiều tính cách đan xen thì truyện ngắn là một hình thức tự

sự cỡ nhỏ chỉ thể hiện một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm trạngnhân vật Truyện ngắn nói chung không phải vì "truyện của nó ngắn" mà vìcách nắm bắt cuộc sống của thể loại

Nếu tiểu thuyết là một thế giới nhân vật với nhiều biến cố, sự kiện thìnhân vật trong truyện ngắn ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tínhcác đầy đặn, thường thì là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức

xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người

Mặt khác so với tiểu thuyết, truyện ngắn có dung lượng nhỏ, nhưng làthể loại có cách phát hiện nghệ thuật đời sống theo chiều sâu, cho nên sứcchứa của truyện ngắn vẫn rất lớn Chính sự cô đọng súc tích đó khiến chotruyện ngắn có những ưu thế đặc biệt, và là sợi dây gắn kết giữa tác giả -người đọc - hiện thực cuộc sống được gần nhất

Như vậy, ngắn gọn chính là đặc điểm cơ bản nhất của truyện ngắn, tuynhiên ngắn gọn mà vẫn chứa đựng một dung lượng lớn những tầng bậc ýnghĩa mà nhà văn muốn truyền tải tới công chúng

Một đặc điểm nữa dễ nhận thấy là "Tiểu thuyết phát triển trong nhữngkết cấu cốt truyện rất đa dạng”, thậm chí người ta cho rằng: "Về nguyên tắc,tiểu thuyết không có một hình thức thể loại hoàn kết, bởi vì nó là "Sử thi củathời đại chúng ta"

Trong khi đó cốt truyện của truyện ngắn thường tự giới hạn về thờigian, không gian để làm nổi bật một giá trị sâu sắc trong cuộc đời con người

Trang 31

Đồng thời kết cấu của nó cũng không nhiều tầng, nhiều tuyến mà thườngđược dựng theo kiểu tương phản hoặc liên tưởng.

Từ những ý kiến trên của các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình vănhọc trong và ngoài nước, chúng tôi tóm lược lại những đặc điểm chính củatruyện ngắn như sau:

- Truyện ngắn là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, có thể từ vài trang đến vàichục trang

- Nhân vật trong truyện ngắn thường không nhiều nhưng họ rất đa dạng

về ngành nghề, tuổi tác, hoàn cảnh sống, Họ đại diện cho một tư tưởng,quan điểm, lập trường nào đó trong xã hội

- Cốt truyện của truyện ngắn thường tự giới hạn về thời gian, khônggian, chức năng của nó là để nhận một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời

- Tính ngắn gọn cô đọng, dung lượng lớn và mang nhiều tầng ý nghĩatạo nên cho tác phẩm một chiều sâu chưa nói hết

1.5 Hồ Anh Thái - Cuộc đời và sự nghiệp văn chương

1.5.1 Cuộc đời

Hồ Anh Thái sinh ngày 18/10/1960, quê gốc ở xã Quỳnh Đôi, huyệnQuỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nhưng ông sinh ra và lớn ở Hà Nội, nay trú quántại phường Đồng Tâm quận 2 Bà Trưng - Hà Nội

Năm 1977, Hồ Anh Thái tốt nghiệp phổ thông trung học với niềm mơước trở thành một nhà ngoại giao xuất sắc nên ông đã lựa chọn trường Đạihọc ngoại giao như một bước ngoặt trong cuộc đời của mình Sau khi tốtnghiệp Đại học Hồ Anh Thái làm việc tại bộ Ngoại giao và hoàn thành nghĩa

vụ quân sự trong 2 năm

Năm 1988, Bộ Ngoại giao cử Hồ Anh Thái sang làm thư ký Đại sứquán Việt Nam tại Ấn Độ Trong thời gian sống và làm việc tại Ấn Độ, HồAnh Thái đã thể hiện niềm đam mê của mình với Văn học, khi ông bảo vệ

Trang 32

thành công luận án tiến sỹ văn hoá Phương Đông tại trường Đại học Tổnghợp WASINGTON Hoa Kỳ năm 1995 Với tài năng ấy năm 1998, Hồ AnhThái được mời đến trường Đại học Tổng hợp WASINGTON làm giáo viênthỉnh giảng.

Hiện nay Hồ Anh Thái vừa là nhà văn, nhà báo, nhà Ngoại giao, Uỷviên BCH Hội nhà văn Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệthuật Hà Nội, đồng thời còn là Chủ tịch hội Nhà văn Hà Nội

Hồ Anh Thái đến với nghề văn khá sớm và thành đạt trên cả 2 thể loại:

Truyện ngắn và tiểu thuyết 17 tuổi với truyện ngắn đầu tay " Bụi phấn" in trên

báo Văn nghệ đã gây nên một ấn tượng lớn cho người đọc bởi sự từng trải của

nó Năm 24 tuổi đạt giải thưởng Văn xuôi 1983 – 1984 của báo văn nghệ với

truyện ngắn" Chàng trai ở bến đợi xe" Năm 1986, khi 26 tuổi nhận giải thưởng

Văn xuôi của Hội nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết" Người và xe chạy dưới ánh trăng" Năm 1995, Hồ Anh Thái đạt giải thưởng của Hội liên hiệp Văn

học nghệ thuật Việt Nam với truyện ngắn "Người đứng một chân" Năm

1996, ông đạt giải thưởng của hội nhà văn Hà Nội với tiểu thuyết " Mười lẻ

một đêm" , tiểu thuyết " Vẫn chưa tới mùa đông" (1986), tiểu thuyết “Trong

sương hồng hiện ra" (1987), " Người đàn bà trên đảo" (1988), tập truyện ngắn

"

Mảnh vỡ của đàn ông" (1993), tập truyện ngắn "Lũ con hoang" (1995), Là

những tác phẩm tạo nên tên tuổi Hồ Anh Thái trong lòng độc giả trong vàngoài nước Không dừng lại ở đó, vốn là người luôn luôn tìm tòi và sáng tạo,

Hồ Anh Thái đã làm mới mình khi lựa chọn một phong cách khác, phong

cách châm biếm hài hước trong các tác phẩm như tập truyện ngắn " Tự sự hai trăm sáu lăm ngày" năm 2001, tiểu thuyết " Cõi người rung chuông tận thế"

năm 2002, tập truyện ngắn " Bốn lối vào nhà cười" năm 2004, tiểu thuyết " Đức phật, Nàng Savitri và tôi" năm 2007, tập truyện ngắn" Sắp đặt và diễn" năm

2007

Trang 33

Với những đóng góp và thành công đó Hồ Anh Thái xứng đáng là mộttrong những nhà văn tiêu biểu của nền Văn học Việt Nam hậu hiện đại.

2 Sự nghiệp văn chương

a Quan niệm nghệ thuật

Cho đến nay sau gần 30 năm cầm bút sáng tác, Hồ Anh Thái đã để lạinhững dấu ấn sâu đậm khó phai trong lòng người đọc Với những giải thưởng vinh

dự của Hội nhà văn Việt Nam, hội nhà văn Hà Nội, báo văn nghệ và cả những lờiđánh giá khen ngợi của các nhà chuyên môn văn học nước ngoài, Hồ Anh Thái

thực sự đã tạo cho mình một dòng chảy riêng " Dòng chảy Hồ Anh Thái"

Khi được phỏng vấn về quan điểm nghệ thuật trong văn chương của

mình, Hồ Anh Thái đã không ngần ngại trả lời: " Tôi quan niệm người viết

văn phải là người vất vả trên từng con chữ, mà là chữ sáng tạo Nếu không thì nhiều nghề khác cũng viết được ra chữ đâu cần đến nghề văn” Ông cũng

cho rằng một nhà văn thực sự có phong cách là có nhiều phong cách và cầnthay đổi phong cách của mình cho phù hợp với từng đề tài, từng tác phẩm.Với quan điểm rõ ràng tiến bộ đó, người đọc thực sự thưởng thức món ăn tinhthần giàu giá trị nghệ thuật trên từng con chữ Quả thật nếu không có sự sángtạo, nếu không có sự đa dạng trong phong cách thì nhà văn cũng chỉ là ngườisao chép lại cái đã có sẵn mà thôi Và điều quan trọng là Hồ Anh Thái dù ởgóc độ suy tư trăn trở về kiếp người hay góc độ hài hước, châm biếm sâu caythì chúng ta vẫn thấy được tính nghiêm túc của anh với nghề

Tận tụy trong văn chương, nhưng không vì thế mà các sáng tác của anh

trở nên quá cầu kỳ bóng bẩy mà ngược lại, Hồ Anh Thái đã nói: Tôi không

đặt văn chương vào tháp ngà mà để cho nó chung sống với những vấn đề nhạy cảm của xã hội [32, tr.276] Trong những vấn đề nhạy cảm đó Hồ Anh

Thái đã đề cập đến bi kịch của đời người Dù ở Việt Nam hay Ấn Độ xa xôi tavẫn thấy những bi kịch rất đời thường của con người đặc biệt là người phụ nữ

Trang 34

trong sáng tác của anh Không phải là nhân vật chính trong hầu hết các truyệnngắn nhưng Hồ Anh Thái luôn dành cho nhân vật nữ của mình một vị thếriêng bằng tình yêu, sự cảm thông sâu sắc.

Với quan điểm nghệ thuật đó, Hồ Anh Thái đã góp phần không nhỏtrên tiến trình của dòng văn học Việt Nam hiện đại bên cạnh các nhà văn têntuổi như: Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư,

b Đề tài

b1 Đề tài trong nước

Viết văn từ khi 17 tuổi nhưng đề tài trong sáng tác của Hồ Anh Tháikhông phải là những cô cậu thanh niên lãng mạn, bay bổng trong tình yêu thơngây tuổi học trò mà là đời sống của những người tuổi trẻ trước ngưỡng cửa

vào đời Đó là Kim trong Những cuộc tìm kiếm, Hiếu trong Nằm ngủ trên

ghế băng, Khải trong Chàng trai ở bến đợi xe, Toàn và Khắc trong tiểu

thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng, thông qua đó Hồ Anh Thái muốn

nói rằng: Cho dù có lầm lỡ, nếu ý thức được con người hoàn toàn có thể sửachữa vươn tới hoàn thiện mình

Ở một chừng mực nhất định khi đã sống quá nhiều cho niềm tin, khi đãhiểu được bể khổ cuộc đời, khi đã đạt đến độ chín chắn trong suy nghĩ, cũng

là lúc Hồ Anh Thái nhìn cuộc đời dưới một góc độ khác: Góc độ hài hước

thâm thuý Đọc Tự sự 265 ngày, Bốn lối vào nhà cười, và một số truyện

ngắn, tiểu thuyết khác mới thấy hết sự sâu sắc ẩn trong nụ cười Hồ Anh Thái

Có lẽ vì thế mà nhiều người sau khi đọc xong không khỏi giật mình: Khéo tavừa cười chính ta Đó cũng là cái tài của nhà văn khi đứng giữa cuộc đời

b2 Đề tài viết về nước Ấn Độ

Trong chặng đường sáng tác của mình, Ấn Độ trở thành một dấu mốcquan trọng trong Đời và Văn của Hồ Anh Thái Không phải là người con của

xứ sở Ấn Độ cũng chẳng phải vì mối quan hệ quốc gia dân tộc, xong Hồ Anh

Trang 35

Thái đã thực sự hoà mình vào miền đất lạ để thấy hết những mảnh đời, cảnhđời cơ cực đang còn hằn trong tâm trí của bao người dân Thật khó tưởngtượng khi nhân loại đã bước sang thế kỉ 21 mà Ấn Độ vẫn còn những tập quán

nặng nề như: Bắt người con gái khi về nhà chồng phải có của hồi môn (Tiếng

thở dài qua rừng Kim Tước), hay bi kịch của Nữ Thần Đồng Trinh khi bị phế

truất phải trở về với cuộc đời thực trong sự xa lánh của gia đình, sự sợ hãi của

mọi người, không ai giám lấy Nữ Thần vì sợ bị chết trẻ (Đi khỏi thung lũng

mới đến nhà) Đó còn là sự mộ đạo của Ananda để rồi phải trả giá bằng cái

chết (Người đứng một chân) Tất cả chỉ là tấm màn của sự ngu muội về mê

tín dị đoan trên đất nước "Thừa thánh thần mà thiếu người sung túc" Nhưngkhông vì thế mà Hồ Anh Thái mất đi niềm tin ở cuộc đời dù biết rằng cuộcđời này vẫn còn nhiều những đau thương mất mát

Cuối cùng, xin được lấy ý kiến của phó giáo sư Nguyễn Đăng Điệpthay cho lời kết của mình: Anh Thái đã lao động cật lực trên từng con chữ,như một nhà văn chuyên nghiệp và với một vốn văn dày dặn, anh không rơivào tình trạng tự thoả mãn mà luôn tìm cách bứt phá trên cơ sở kiến tạonhững kiến trúc mới mẽ, táo bạo

- 4 Phân biệt tiểu thuyết và truyện ngắn

- 5 Hồ Anh Thái – cuộc đời và sự nghiệp văn chương

Trang 36

Trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, thế giới nhân vật nữ khá phong phú

và đa dạng với nhiều loại người, nhiều loại ngành nghề, nhiều tính cách khác nhau Bối cảnh để lời thoại nhân vật nữ xuất hiện thường là những không gianthời gian hiện tại trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người

Khi đi vào nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đặc biệt chú ý tới đặc trưng

về giới tính thông qua các hành động ngôn ngữ để từ đó làm bật lên nét tính cách đa dạng, phong phú của nhân vật nữ trong giao tiếp

Trang 37

Chương 2 CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT NỮ

TRONG TRUYỆN NGẮN HỒ ANH THÁI

2.1 Thống kê và nhận xét tổng quát các hành động ngôn ngữ của nhân vật nữ

Tập truyện ngắn Lũ con hoang là một thành công vang dội tiêu biểu

cho phong cách riêng của Hồ Anh Thái khi thể hiện những suy tư trăn trở vềkiếp người Gồm 16 truyện ngắn với gần 100 nhân vật xuất hiện trong tácphẩm ở mọi lứa tuổi, ngành nghề, địa vị khác nhau, những đặc thù riêng biệtkhác nhau, những mâu thuẫn xung đột giữa họ đều xuất hiện thông qua ngônngữ hội thoại Đây chính là một lợi thế để Hồ Anh Thái khai thác một cáchtriệt để tính cách của từng nhân vật thể hiện đúng bản chất của họ thông quahội thoại

Qua khảo sát 12 truyện trong tập truyện ngắn Lũ con hoang, chúng tôi

nhận thấy hầu hết nhân vật nữ không phải là nhân vật chính của truyện, sốlượng không nhiều, tần số xuất hiện thấp, nhưng lời thoại của họ để lại nhiều

ấn tượng sâu sắc

Khảo sát sự tương quan giữa nhân vật nữ và nhân vật nam về số lượngnhân vật, số lượt lời, số phát ngôn, chúng tôi có kết quả như sau:

Trang 38

Bảng 1: Bảng tổng hợp số lượng nhân vật, s lống kê về tần suất ngắt lời giữa 2 giới nam và ượt lời, số phát ngôn của ời giữa 2 giới nam vàt l i, s phát ngôn c aống kê về tần suất ngắt lời giữa 2 giới nam và ủa 2 giớinhân v t n v nhân v t nam trong truy n ng n H Anh Tháiật nữ và nhân vật nam trong truyện ngắn Hồ Anh Thái ữa 2 giới nam và à bảng thống kê về tần suất ngắt lời giữa 2 giới nam và ật nữ và nhân vật nam trong truyện ngắn Hồ Anh Thái ện ngắn Hồ Anh Thái ắt lời giữa 2 giới nam và ồ Anh Thái

TT Tổng số

Truyện

Nhân vật Lượt lời Phát ngôn

Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam

43 55,8%

97 46,9%

110 53,1%

179 48,2%

192 51,8%

Qua khảo sát ở bảng 1, chúng tôi nhận thấy tuy nhân vật nam đóng vaitrò chủ yếu là nhân vật chính trong tác phẩm, số lượng nhiều hơn nhân vật nữ(nam 43, nữ 34), thế nhưng bình quân số phát ngôn trên một nhân vật thì sốphát ngôn của nhân vật nữ lại cao hơn nhân vật nam (nữ 179/ 34 = 5,26 phátngôn / 1 nhân vật; nam 192/ 43 =4,46 phát ngôn /1 nhân vật ) Điều đó chothấy nữ nói nhiều hơn nam và thường có nhu cầu thổ lộ nhiều hơn nam Mặc

dù không phải là nhân vật chính trong các truyện ngắn, nhưng các cuộc thoạicủa nhân vật nữ lại đóng vai trò vô cùng quan trọng, đôi khi họ là nhữngngười điều chỉnh chủ đề giao tiếp, định hướng và nội dung giao tiếp Chính sự

đa dạng phong phú về ngôn ngữ qua lời thoại của nhân vật nữ tạo nên sự khácbiệt rõ rệt với lời thoại của nhân vật nam

Khảo sát các tiểu nhóm hành động ngôn ngữ qua lời thoại của nhân vật

nữ trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, chúng tôi thu được kết quả sau:

Trang 39

Bảng 2: Bảng thống kê hành động ngôn ngữ qua lời thoại

của nhân vật nữ trong truyện ngắn Hồ Anh Thái

Nhóm hành động cầu khiến

Nhóm hành động trần thuật

Nhóm hành động nhận xét

Nhóm hành động ứng xử

Nhóm hành động thách thức, chửi bới, đe doạ

63 24%

57 21,7%

27 10,3%

23 8,7%

14 5,3%

Qua số liệu thống kê, chúng tôi nhận thấy: nhóm hành động hỏi có tỉ lệcao nhất (30%), tiếp đó là nhóm cầu khiến (24%), nhóm trần thuật (21,7%),nhóm nhận xét (10,3%), nhóm hành động thách thức, đe dọa chiếm tỉ lệ thấpnhất (5,3%)

Trên thực tế mỗi hành động ngôn ngữ qua lời thoại của nhân vật nữtrong truyện ngắn Hồ Anh Thái đều có những nét riêng góp phần tạo nên cátính của từng nhân vật nhưng trong khuôn khổ luận văn chúng tôi không thể

đi sâu vào hết các nhóm hành động ngôn ngữ qua lời thoại của nhân vật nữ Ởđây, chúng tôi sẽ tập chung vào tìm hiểu những nhóm hành động nào mà theo

Trang 40

chúng tôi, chúng là hành động quan trọng nhất tạo nên nét đặc sắc trongphong cách truyện ngắn Hồ Anh Thái Đó là:

Theo Bách khoa ngôn ngữ học do William Bright chủ biên, thì câu hỏi

là một loại câu có cấu trúc phổ quát, và có ít nhất một chức năng phổ quát, đó

là nhằm cung cấp một lượng thông tin nào đó Xét về mặt ngữ nghĩa câu hỏikhác câu tường thuật ở chỗ chúng không thể là chân thực hay không chânthực, là hành động ngôn ngữ, câu hỏi giống với câu mệnh lệnh là chúng cầnphải có phản ứng đáp lại nào đó Ngoài yêu cầu cung cấp lượng thông tin, câuhỏi có thể có một số chức năng khác nữa, câu hỏi có thể dùng như những yêucầu gián tiếp mà không cần câu trả lời

Một số tác giả ở Việt Nam thường nhận diện câu hỏi theo mục đích nói

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên cho rằng: Câu hỏi dùng để thể hiện sự nghi vấn của

người nói về một điều gì đó mà mong muốn người nghe đáp lời Cuối câu nghi vấn thường có dấu chấm hỏi (?) {20, tr.134} Tác giả Nguyễn Kim Thản

viết: "Câu nghi vấn nhằm mục đích nêu lên sự hoài nghi của người nói và nói

Ngày đăng: 14/12/2013, 00:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Diệp Anh (2009), Ngữ nghĩa lời chuyển thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, Luận văn Thạc sỹ Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa lời chuyển thuật trongtruyện ngắn Hồ Anh Thái
Tác giả: Nguyễn Thị Diệp Anh
Năm: 2009
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia
Năm: 1999
3. M.Bakhtin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1993
4. Diệp Quang Ban (1992), Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 2
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
5. Nguyễn Nhã Bản (2004), Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2004
6. Phan Mậu Cảnh (2006), Ngữ pháp tiếng Việt và các phát ngôn đơn thuần, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt và các phát ngônđơn thuần
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
7. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1987
8. Đỗ Hữu Châu (2003), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2003
9. Đỗ Hữu Châu (1996), Giản yếu về ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu về ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
10. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2003), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơsở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
11. Nguyễn Đức Dân (1999), Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
12. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
13. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1998), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnthuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1998
14. Nguyễn Thái Hoà (2005), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
15. Hoàng Thị Thuý Hằng (2007) Những cách tân trong văn xuôi Hồ Anh Thái , Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cách tân trong văn xuôiHồ Anh Thái
16. Đỗ Thu Lan (2006), Tác động của nhân tố giới tính đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, Luận văn Thạc sĩ. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của nhân tố giới tính đối với việcsử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp
Tác giả: Đỗ Thu Lan
Năm: 2006
17. Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
18. Đỗ Thị Kim Liên (2005), Giáo trình ngữ dụng học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: Nxb Đại họcQuốc gia
Năm: 2005
19. Đỗ Thị Kim Liên (2002), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
20. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ nghĩa lời hội thoại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa lời hội thoại
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng tổng hợp số lượng nhân vật, số lượt lời, số phát ngôn của - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động cầu mong và chúc (qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn việt nam hiện đại) luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 1 Bảng tổng hợp số lượng nhân vật, số lượt lời, số phát ngôn của (Trang 37)
Bảng 2: Bảng thống kê hành động ngôn ngữ qua lời thoại - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động cầu mong và chúc (qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn việt nam hiện đại) luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 2 Bảng thống kê hành động ngôn ngữ qua lời thoại (Trang 38)
Bảng 3: Bảng thống kê hành động hỏi qua lời của nhân vật nữ - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động cầu mong và chúc (qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn việt nam hiện đại) luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 3 Bảng thống kê hành động hỏi qua lời của nhân vật nữ (Trang 40)
Bảng 4: Bảng thống kê hành động cầu khiến qua lời thoại nhân vật nữ - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động cầu mong và chúc (qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn việt nam hiện đại) luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 4 Bảng thống kê hành động cầu khiến qua lời thoại nhân vật nữ (Trang 51)
Bảng 5: Bảng thống kê hành động trần thuật qua lời thoại của nhân vật nữ - Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động cầu mong và chúc (qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn việt nam hiện đại) luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 5 Bảng thống kê hành động trần thuật qua lời thoại của nhân vật nữ (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w