MỞ ĐẦU11.Lý do chọn đề tài12. Lịch sử nghiên cứu vấn đề33. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu74. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu75.Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu86.Đóng góp của luận văn97.Bố cục của luận văn9CHƯƠNG 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HOA KỲ VIỆT NAM DƯỚI THỜI KỲ CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (2009 52015)101.1Khái quát về quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam từ 1995 đến 2009101.2Những thay đổi lớn của tình hình thế giới161.2.1Sự trỗi dậy của Trung Quốc và vấn đề biển Đông161.2.2Sự vươn lên của “phần còn lại” của thế giới211.2.3Vai trò ngày càng lớn của ASEAN231.3. Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống B. Obama271.4Chính sách đối ngoại và vị thế mới của Việt Nam.31Tiểu kết chương 135CHƯƠNG 2. NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN HỆ HOA KỲ VIỆT NAM DƯỚI THỜI KỲ CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (2009 52015)362.1 Quan hệ chính trị ngoại giao362.2 Quan hệ kinh tế482.2.1 Quan hệ thương mại492.2.2 Quan hệ đầu tư52 2.3 Quan hệ an ninh quốc phòng552.3.1 Tiến trình hợp tác an ninh – quốc phòng Hoa Kỳ Việt Nam562.3.2 Một số lĩnh vực hợp tác cụ thể622.3.2.1 Vấn đề giải quyết hậu quả chiến tranh622.3.2.2 Hợp tác trong lĩnh vực đào tạo682.4 Quan hệ trên lĩnh vực văn hóa – xã hội692.4.1 Quan hệ trong lĩnh vực văn hóa – giáo dục692.4.2 Quan hệ trong lĩnh vực khoa học công nghệ752.4.3 Quan hệ trong lĩnh vực y tế môi trường77Tiểu kết chương 287CHƯƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ HOA KỲ VIỆT NAM DƯỚI THỜI KỲ CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (2009 52015)893.1 Đặc điểm của mối quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam893.2 Thành tựu và hạn chế trong quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam903.2.1 Thành tựu903.2.2 Hạn chế943.3 Triển vọng phát triển quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam100Tiểu kết chương 3107KẾT LUẬN108TÀI LIỆU THAM KHẢO111
Trang 1Luận văn: Quan hệ Mĩ - Việt Nam từ năm 2008 đến nay
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Bố cục của luận văn 9
CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM DƯỚI THỜI KỲ CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (2009 - 5/2015) 10
1.1 Khái quát về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ 1995 đến 2009 10
1.2 Những thay đổi lớn của tình hình thế giới 16
1.2.1 Sự trỗi dậy của Trung Quốc và vấn đề biển Đông 16
1.2.2 Sự vươn lên của “phần còn lại” của thế giới 21
1.2.3 Vai trò ngày càng lớn của ASEAN 23
1.3 Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống B Obama 27
1.4 Chính sách đối ngoại và vị thế mới của Việt Nam 31
Tiểu kết chương 1 35
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM DƯỚI THỜI KỲ CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (2009 - 5/2015) 36
2.1 Quan hệ chính trị - ngoại giao 36
2.2 Quan hệ kinh tế 48
2.2.1 Quan hệ thương mại 49
2.2.2 Quan hệ đầu tư 52
Trang 32.3 Quan hệ an ninh - quốc phòng 55
2.3.1 Tiến trình hợp tác an ninh – quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam 56
2.3.2 Một số lĩnh vực hợp tác cụ thể 62
2.3.2.1 Vấn đề giải quyết hậu quả chiến tranh 62
2.3.2.2 Hợp tác trong lĩnh vực đào tạo 68
2.4 Quan hệ trên lĩnh vực văn hóa – xã hội 69
2.4.1 Quan hệ trong lĩnh vực văn hóa – giáo dục 69
2.4.2 Quan hệ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ 75
2.4.3 Quan hệ trong lĩnh vực y tế - môi trường 77
Tiểu kết chương 2 87
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM DƯỚI THỜI KỲ CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (2009 - 5/2015) 89
3.1 Đặc điểm của mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam 89
3.2 Thành tựu và hạn chế trong quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam 90
3.2.1 Thành tựu 90
3.2.2 Hạn chế 94
3.3 Triển vọng phát triển quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam 100
Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ Tiếng Anh Tiếng Việt
ADMM+ ASEAN Defense Ministers
ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn Khu vực ASEAN
BTA Bilateral Trade Agreement-
United States Vietnam
Hiệp định thương mại song phươngHoa Kỳ - Việt Nam
DOC Declaration on Conduct of
the Parties in the East Sea
Tuyên bố về ứng xử của các bên tạiBiển Đông
EAS East Asia Summit Hội nghị cấp cao Đông Á
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FMF Foreign Military Financing Chương trình tài chính cho quân
đội nước ngoàiFETP Fulbright Economics
Viện giáo dục quốc tế
IMET International Military
Education and Training
Thỏa thuận huấn luyện đào tạo quân sự quốc tế
Trang 5LMI Lower Mekong Initiative Sáng kiến nguồn sông Mê KôngMIA Missing in action Tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất
tích trong chiến tranh Việt NamPEPFAR The U.S President's
Emergency Plan for AIDS Relief
Kế hoạch cứu trợ khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ về phòng, chống AIDS
TPP Trans - Pacific Strategic
Economic Partnership Agreement
Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương
USGS United states Geological
Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
USD United States dollar Đồng đô la Hoa Kỳ
Foundation
Quỹ giáo dục Việt Nam
Trang 6MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tháng 7/2015 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong tiến trình quan
hệ Hoa Kỳ - Việt Nam, đó là kỷ niệm 20 năm ngày bình thường hóa quan hệsong phương (11/7/1995) Hai mươi năm qua, quan hệ hai nước đã có bướcphát triển ngoạn mục, đặc biệt là dưới thời kỳ cầm quyền của Tổng thốngBarack Obama (B Obama)
Những năm gần đây, sự tương đồng trong lợi ích chiến lược đã thu hút
cả hai nước xích lại gần nhau hơn Bắt đầu từ năm 2010, hai nước đẩy nhanhquá trình này, hình thành quan hệ đối tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực khiChính quyền Obama xác định Việt Nam là một trong những đối tác mới cầnthiết lập mối quan hệ chiến lược và đạt được thành tựu lớn khi quan hệ đối táctoàn diện được thiết lập vào năm 2013 Do quan hệ đối địch trong quá khứ,nên những tiến triển nhanh chóng trong quan hệ hai nước trong những nămqua gây không ít ngạc nhiên đối với các nhà quan sát Như Đại sứ Hoa Kỳ tạiViệt Nam Ted Osiu trong buổi nói chuyện với sinh viên Trường Đại học
Quốc gia Hà Nội (ngày 06/3/2015) đã chia sẻ "Trong những năm 1990, liệu
có ai nghĩ là có thể có một quan hệ đối tác như vậy? Hồi đó tôi đã ở đây, và
dù tất cả chúng tôi đều hy vọng về những điều tốt nhất, tôi không nghĩ rằng ai lại dự đoán được chúng ta có thể tiến xa như hiện nay" [86]
Sự phát triển trong quan hệ hai nước dựa trên cơ sở những lợi íchchung mà cả hai nước có được trong mối quan hệ Đối với Hoa Kỳ, cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra vào năm 2008 và trước đó là cuộc chiếnchống khủng bố mà chính quyền G.W.Bush tiến hành đã để lại hậu quảnghiêm trọng cho Hoa Kỳ về cả sức mạnh và uy tín trên thế giới Mặc dù vẫn
là siêu cường, song sức mạnh của Hoa Kỳ đã bị suy giảm và phải chịu sự
Trang 7cạnh tranh gay gắt từ các cường quốc mới nổi, đặc biệt là sự “trỗi dậy” mạnh
mẽ của Trung Quốc Do đó, phát triển mối quan hệ với Việt Nam sẽ giúp Hoa
Kỳ đẩy nhanh nỗ lực hội nhập châu Á - Thái Bình Dương nhằm bảo vệ vàtăng cường lợi ích cũng như ảnh hưởng tại khu vực này Đối với Việt Nam,Hoa Kỳ có vai trò rất quan trọng trong các mục tiêu kinh tế và chiến lược: lợiích kinh tế hướng vào xuất khẩu và tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ nhằmthực hiện chủ trương đa dạng hóa quan hệ ngoại giao và cân bằng giữa cácnước lớn Đặc biệt, trong bối cảnh ngày nay khi mà tình hình khu vực cónhiều diễn biến phức tạp, nhất là sự quyết đoán của Trung Quốc trên BiểnĐông ngày một gia tăng, thì việc thúc đẩy và tăng cường quan hệ với Hoa Kỳngày càng có ý nghĩa chiến lược quan trọng không chỉ về kinh tế mà còn đốivới an ninh, quốc phòng của Việt Nam
Tuy mối quan hệ song phương đã đạt được bước tiến lớn, song nhìnchung vẫn còn trong giai đoạn sơ khởi, đã xây dựng được những nền tảng cănbản, nhưng vẫn còn nhiều dư địa, tiềm năng chưa được khai phá Chính vìvậy, việc đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm 2009đến nay thiết nghĩ là một việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất sâusắc Nhất là vào tháng 7/2015, hai nước sẽ kỷ niệm 20 năm bình thường hóaquan hệ Đây sẽ là dịp để cả Hoa Kỳ và Việt Nam cùng nhìn lại chặng đường
đã qua cùng với những gì đã đạt được, và những gì còn tồn tại, từ đó cùngnhau tiếp tục nỗ lực để quan hệ song phương đạt được những phát triển thựcchất và sâu sắc hơn, hướng tới xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược trongtương lai
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi quyết định chọn: " Quan hệ Hoa
Kỳ - Việt Nam trong thời kì cầm quyền của Tổng thống Barack Obama (2009 - 5/2015)” làm đề tài luận văn của mình.
Trang 82.1 Tài liệu nước ngoài
Cuốn “U.S – Vietnam Defense Relations: Investing in Strategic Alignment” (2012) của các tác giả Colonel William Jordan, Lewis M Stern,
Walter Lohman đi sâu phân tích ba giai đoạn phát triển của mối quan hệ quốcphòng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam từ sau khi bình thường hóa quan hệ đến năm
2012 Từ đó đưa ra những biện pháp để thúc đẩy quan hệ hai nước trên lĩnhvực quốc phòng tiến tới mối quan hệ chiến lược
Tác giả Mark E Manyin trong cuốn “U.S – Vietnam Relations in 2014: Current Issues and Implications for U.S Policy” (2014) trình bày các
vấn đề chính trong quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên các lĩnh vực như: chínhtrị - ngoại giao, kinh tế, quốc phòng, môi trường, hỗ trợ nhân đạo, nănglượng, hậu quả chiến tranh, các vấn đề nhân quyền…Tác giả cũng đi vàophân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách của Hoa Kỳđối với Việt Nam và tới quan hệ hai nước, trong đó nhấn mạnh đến nhữngcăng thẳng gần đây trên Biển Đông, mối quan hệ Việt – Trung, mục tiêu cũngnhư lợi ích của cả hai nước trong mối quan hệ với nhau
Các tác giả Murray Hiebert, Phuong Nguyen, Gregory B Poling trong công trình nghiên cứu “A new era in U.S - Vietnam relations” (2014) trình
bày những bước tiến dài trong lịch sử quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam kể từ khibình thường hóa và cung cấp các khuyến nghị cụ thể cho hoạch định chínhsách ở cả hai nước nhằm tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực chủ yếu như:
Trang 9chính trị - ngoại giao, an ninh – quốc phòng, kinh tế - thương mại, văn hóa –giáo dục…
2.2 Tài liệu trong nước
Cuốn “Hướng tới xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Hoa Kỳ”, Nxb Khoa học xã hội, 2014 của tác giả Ngô Xuân Bình (chủ biên) làm rõ
các yếu tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ kể từ khi hai nước thiết lậpquan hệ ngoại giao đến nay, đặc biệt là giai đoạn sau khi hai nước ký Hiệp địnhthương mại tự do song phương (BTA) Từ đó, tác giả đi vào phân tích nội dung
và ý nghĩa của quan hệ đối tác chiến lược giữa hai quốc gia, chỉ ra khả năngcũng như những thách thức, trở ngại đặc biệt trên phương diện chính trị mà hainước phải đối mặt và vượt qua để hướng tới xây dựng quan hệ đối tác chiến lượcViệt Nam – Hoa Kỳ trong bối mới Trình bày thực trạng quan hệ hai nước trêntất cả các lĩnh vực, qua đó có những đánh giá và dự báo về xu thế phát triển củaquan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong những năm tiếp theo
Tác giả Bùi Thị Phương Lan trong ấn phẩm “Quan hệ Việt Nam - Hoa
Kỳ 1994 - 2010”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2011, trình bày bối cảnh
trước bình thường hóa toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, làm rõ vị trí củaViệt Nam trong chính sách an ninh mới của Hoa Kỳ và tương quan quan hệcủa Hoa Kỳ với châu Á Từ góc nhìn đó, tác giả cho thấy sự chuyển động cơnăng mối quan hệ đang phát triển nhanh chóng giữa hai nước và chính sáchđối ngoại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sau khủng hoảng kinh tế năm 2008
Tác giả Cù Chí Lợi thuộc Viện nghiên cứu châu Mỹ, Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam trong công trình nghiên cứu cấp Bộ “Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Hoa Kỳ: Quan điểm tiếp cận và tính khả thi”, (2013) phân
tích quan hệ đối tác chiến lược trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ quaviệc xem xét một số cặp quan hệ đối tác chiến lược tiêu biểu của Hoa Kỳ đốivới Ấn Độ, Pakistan, Ai Cập và Singapore Từ đó,tập trung vào phân tích và
Trang 10đánh giá quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ hướng tới quan hệ đối tác chiến lược, cụthể là đánh giá sự phát triển của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ giai đoạn bìnhthường hóa quan hệ đến nay về các mặt ngoại giao, kinh tế, an ninh, quốcphòng… cũng như phân tích nhu cầu xây dựng đối tác chiến lược giữa ViệtNam và Hoa Kỳ mà các nhà hoạch định chính sách của hai nước đang hướngtới Ngoài ra, các tác giả còn phân tích những trở ngại bên trong và bên ngoàicũng như xu thế phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hiện nay và trongthời gian tới và quan điểm của Việt Nam trong việc xây dựng quan hệ đối tácchiến lược với Hoa Kỳ.
Trong chuyên đề “Hợp tác quốc phòng Việt Nam - Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Obama” (2012), Viện nghiên cứu châu Mỹ, Viện Khoa học Xã
hội Việt Nam, tác giả Lê Lan Anh đã trình bày tình hình hợp tác của hai nướctrên lĩnh vực quốc phòng, coi đó là một trong những biện pháp thúc đẩy việcxây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước Tác giả đưa ra nhữngđánh giá về triển vọng hợp tác cũng như những thách thức trong hợp tác quốcphòng giữa hai nước và trình bày những yếu tố tác động đến quan hệ quốcphòng Việt Nam - Hoa Kỳ
Tạp chí châu Mỹ ngày nay là tạp chí chuyên nghiên cứu về châu Mỹ,
tập hợp nhiều bài viết về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam như:
Đại sứ Ngô Quang Xuân trong “Hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ trong vấn
đề chất độc da cam”, số 7/2013, nêu lên các tác hại của chất độc da cam mà
quân đội Hoa Kỳ rải xuống Việt Nam trong chiến tranh cả về môi trường sinhthái và sức khỏe con người, cùng với những nỗ lực và cơ chế hợp tác của hainước trong việc giải quyết vấn đề chất độc da cam từ những năm 1990 đếnnăm 2012 và các kết quả tốt đẹp đã đạt được
Bài viết “Đối thoại chiến lược Việt Nam - Hoa Kỳ” của Trần Kim Chi,
số 7/2012, nêu tổng quan các cuộc đối thoại chiến lược giữa hai nước từ năm
Trang 112008 đến năm 2011, nội dung và kết quả của các cuộc đối thoại Ngoài ra, tácgiả cũng trình bày bối cảnh chiến lược của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, trong
đó có bối cảnh quốc tế, khu vực và sự phát triển của mối quan hệ songphương giữa hai nước thời gian qua
Bài viết “Viện trợ phát triển của Hoa Kỳ với Việt Nam” của Hoàng Thị
Lê Ngọc, số 7/2012 trình bày tình hình viện trợ của Hoa Kỳ đối với Việt Namtrên nhiều lĩnh vực: y tế, kinh tế, giáo dục và hỗ trợ phòng chống thảm họa
Nguyễn Tuấn Minh trong “Động thái điều chỉnh chiến lược của Hoa
Kỳ đối với Việt Nam kể từ khủng hoảng tài chính 2008”, số 8/2013, nêu khái
quát về chiến lược của Hoa Kỳ đối với Việt Nam trước khủng hoảng và tậptrung vào phân tích sự điều chỉnh chiến lược của Hoa Kỳ đối với Việt Nam từsau khủng hoảng và cả hai bên đều mong muốn đưa quan hệ hai nước lên tầmchiến lược và hợp tác toàn diện Ngoài ra, tác giả cũng phân tích những nhân
tố quan trọng tác động tới sự điều chỉnh chiến lược của Hoa Kỳ đối với ViệtNam, trong đó nhấn mạnh đến tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm
2008 cũng như sự vươn lên mạnh mẽ của các trung tâm kinh tế khác nhưTrung Quốc, Ấn Độ trở thành thách thức với vị trí số một của Hoa Kỳ
Ngoài ra, một số báo, tạp chí khác cũng đề cập đến quan hệ Hoa Kỳ - ViệtNam như: Tạp chí quan hệ quốc phòng, Tạp chí nghiên cứu quốc tế, Tạp chíNghiên cứu lịch sử, các bài tin của Thông tấn xã Việt Nam, Tạp chí Cộng sản…
Không chỉ có các tạp chí, mà quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam cũng luôn là
đề tài để các website khai thác, nhất là năm 2015 kỷ niệm 20 năm bìnhthường hóa quan hệ Các bài viết trên các website thể hiện những cách tiếpcận, phân tích, nhận xét, đánh giá từng vấn đề khác nhau trong quan hệ Hoa
Kỳ - Việt Nam
Nhìn chung, do nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu nên các nguồn tàiliệu trên chỉ đề cập đến quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên từng khía cạnh cụ
Trang 12thể, hoặc trong thời gian nhất định, chứ chưa có một công trình hay một bàiviết nào nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ về quan hệ Hoa Kỳ - ViệtNam từ năm 2009 đến tháng 5/2015 Tuy nhiên, các công trình nghiên cứutrên là những nguồn tài liệu quý giá và là cơ sở để chúng tôi hoàn thiện luậnvăn này.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam dướithời kỳ cầm quyền của Tổng thống B Obama (2009 - 5/2015)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung phân tích và tổng hợp một số vấn đề
chính, mấu chốt của quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trên các lĩnh vực: kinh tế,chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học
- kỹ thuật và môi trường
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu về mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt
Nam từ năm 2009 đến tháng 5/2015 Ngoài ra, luận văn cũng trình bày mộtcách khái quát về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trước năm 2009
4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ thực trạng mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm 2009 đếntháng 5/2015 trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị - ngoại giao, an ninh -quốc phòng, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ, môi trường, y tế
- Nhận thức được bản chất của mối quan hệ, đánh giá được nhữngthành tựu, hạn chế và nêu lên một số thách thức cũng như triển vọng của mốiquan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát mối quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trước năm 2009 và làm rõ
Trang 13các nhân tố quốc tế, khu vực và mỗi nước có tác động đến quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam.
Làm rõ thực trạng của mối quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam trên tất cả cáclĩnh vực kinh tế, chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng, văn hóa, giáodục, khoa học - công nghệ, y tế, môi trường
- Đánh giá những thành tựu đã đạt được và chỉ ra những hạn chế trongquan hệ hai nước, trên cơ sở đó đưa ra một số nhận xét về triển vọng của quan
hệ Hoa Kỳ - Việt Nam
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Để phục vụ cho việc thực hiện đề tài, chúng tôi đã tham khảo và sửdụng nhiều nguồn tài liệu quan trọng, bao gồm:
- Nguồn tài liệu nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt hoặc đang ởdạng nguyên bản, gồm sách báo (đã được dịch), các công trình nghiên cứucủa Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), Dịch vụ Nghiêncứu Quốc hội Hoa Kỳ
- Nguồn tài liệu bằng tiếng Việt về quan hệ quốc tế, trong đó có quan
hệ Hoa Kỳ - Việt Nam Các đề tài nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu châu
Mỹ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam Luận văn và khóa luận tốt nghiệp củaHọc viện Ngoại giao
- Các bài viết liên quan trên các báo, tạp chí như: Tạp chí Việt Mỹ, Tạp chíchâu Mỹ ngày nay, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử…
- Các các tin tức, bình luận và một số nghiên cứu, đánh giá của các nhànghiên cứu trong và ngoài nước trong các tài liệu trên mạng Internet
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi dựa trên quan điểm của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét, đánh giá
Trang 14vấn đề Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp bổ trợ khác như:phân tích, đối chiếu, so sánh, thống kê, khái quát…để làm sáng tỏ vấn đề.
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống bức tranh toàn cảnh vềquan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm 2009 đến tháng 5/2015 trên tất cả các lĩnhvực kinh tế, chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh - quốc phòng, văn hóa - xãhội Do vậy, nội dung của luận văn cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có hệthống về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ năm 2009 đến tháng 5/2015, và cóthể dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập và là tài liệu hữu ích
để nghiên cứu về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ HOA KỲ - VIỆT NAM DƯỚI THỜI KỲ CẦM QUYỀN CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (2009 - 5/2015)
1.1 Khái quát về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam từ 1995 đến 2009
Trong lịch sử, quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam đã trải qua những bướcthăng trầm, phức tạp Việc hai nước đã từng là kẻ thù đối đầu một mất mộtcòn trên chiến trường, và sau đó là chính sách cấm vận về kinh tế, cô lập vềchính trị mà Hoa Kỳ thi hành đối với Việt Nam, đã dẫn đến quan hệ giữa hainước bị đóng băng trong một thời gian tương đối dài Sau nhiều cơ hội đểthiết lập và phát triển quan hệ hai nước bị bỏ lỡ Chỉ đến đầu những năm 90của thế kỷ XX, quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ mớiđược đẩy mạnh Đến năm 1995, hai nước chính thức bình thường hóa quan hệngoại giao
Kể từ khi bình thường hóa, quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển,
có những bước tiến dài và khá nhanh, đặc biệt tiến triển nhanh nhất khi bướcvào thế kỷ XXI
Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao: Những năm đầu sau khi bình
thường hóa quan hệ, chưa có các cuộc thăm viếng chính trị cấp cao nhất giữahai nước Vì vậy, chuyến thăm chính thức Việt Nam vào tháng 11/2000 củaTổng thống Bill Clinton là một sự kiện chính trị - ngoại giao có ý nghĩa vôcùng quan trọng trên nhiều mặt, mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ giữahai nước vốn là kẻ thù của nhau Trong những năm tiếp theo, hai nước thườngxuyên có các cuộc viếng thăm chính thức cấp Nhà nước
Tháng 11/2006 Tổng thống G W Bush sang Việt Nam tham dự Diễnđàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 14 được tổ
chức tại Hà Nội Tại cuộc họp báo ở Hà Nội, Tổng thống phát biểu: “Chúng
Trang 16tôi muốn nói rằng Việt Nam bây giờ là một đất nước hòa bình, ổn định và hữu nghị Nhân dân Việt Nam muốn đoàn kết, hữu nghị với nhân dân Hoa
Kỳ Hai dân tộc đều muốn hòa bình, đoàn kết, hữu nghị phải cùng nắm tay nhau đi tới tương lai” [16; tr.36] đã thể hiện mối quan hệ giữa hai nước dần
đi vào ổn định và phát triển
Trong năm 2006, nhiều đoàn đại biểu cấp cao Hoa Kỳ đã đến thăm ViệtNam: Chủ tịch Hạ viện D Hastert, Bộ trưởng Quốc phòng D Rumsfeld, Bộtrưởng Bộ tài chính H Paulson, Ngoại trưởng C Rice…
Phía Việt Nam, chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ thướng PhanVăn Khải (19 - 24/6/2005) đã tạo nên bước ngoặt lịch sử trong quan hệ hainước Đây là chuyến thăm Hoa Kỳ đầu tiên của người đứng đầu Chính phủViệt Nam, đánh dấu bước tiến lớn trong việc bình thường hóa quan hệ giữahai nước Lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ, hai nước đã ra Bản tuyên bốchung, tạo nền tảng vững chắc cho quan hệ hai nước, chứng tỏ mối quan hệHoa Kỳ - Việt Nam đang và sẽ phát triển theo đúng phương châm “khép lạiquá khứ, hướng tới tương lai”, cùng bắt tay vào xây dựng một trang mới trongquan hệ hai nước
Trong các chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Chủ tịch nước NguyễnMinh Triết (6/2007) và tiếp đó là chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn TấnDũng (25/6/2008), đã đánh dấu bước tiến lớn trong quan hệ chính trị - ngoạigiao hai nước Trong các chuyến thăm đó, cả Hoa Kỳ và Việt Nam đều thốngnhất rằng mối quan hệ song phương Hoa Kỳ - Việt Nam đang tiếp tục mởrộng và phát triển lên tầm cao mới Các nhà lãnh đạo của hai bên đều cam kếtcùng nhau tích cực đẩy mạnh mối quan hệ trên các lĩnh vực kinh tế - thươngmại, giáo dục - đào đạo, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác, nhất là
mở rộng và tăng cường hợp tác trên lĩnh vực chính trị và an ninh - quốcphòng Trong chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Hoa Kỳ và
Trang 17Việt Nam đã ra Tuyên bố chung, khẳng định hai nước sẽ nỗ lực hơn nữa đểtăng cường mối quan hệ song phương
Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại: Từ sau khi bình thường hóa, quan
hệ trong lĩnh vực kinh tế - thương mại giữa hai nước phát triển rất nhanh
Ngày 13/7/2000, hai nước chính thức ký “Hiệp định thương mại songphương” (BTA), tạo khung pháp lý và cơ sở, nền tảng để xúc tiến quan hệhợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước Từ khi BTA được ký kết, quan hệthương mại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam không ngừng tăng lên, kim ngạch hànghóa hai chiều năm 2001 đạt 1,5 tỷ USD, năm 2002 tăng lên 2,6 tỷ USD Kể từnăm 2005, Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam vàViệt Nam là đối tác buôn bán lớn thứ 38 của Hoa Kỳ, đạt 7,8 tỷ USD Quan
hệ thương mại hai nước tiếp tục tăng nhanh, năm 2006 đạt 9,7 tỷ USD, năm
2007 đạt 10,834 tỷ USD và năm 2008 đạt tới 14,364 tỷ USD [16; tr.46- 47]
Tháng 11/2006, Hoa Kỳ ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO và công bốcấp cho Việt Nam “Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn” (PNTR) tạotiền đề cho quan hệ hai nước tiến đến bình thường hóa đầy đủ
Tháng 6/2008, nhân chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Nguyễn TấnDũng tới Hoa Kỳ, hai nước nhất trí sẽ khởi động đàm phán “Hiệp định Đầu tưsong phương” nhằm cam kết về đối xử công bằng, không phân biệt và minhbạch đối với đầu tư nước ngoài Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng khẳng định sẽ xem xét
để Việt Nam được hưởng “Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập chung” và côngnhận Quy chế thị trường cho Việt Nam, đồng thời Hoa Kỳ cũng đề nghị đàmphán “Hiệp định thương mại tự do song phương” (FTA) với Việt Nam
Về đầu tư, tháng 6/2007 Hoa Kỳ và Việt Nam ký “Hiệp định khung vềthương mại và đầu tư” Đây là sự mở rộng của BTA, tạo môi trường thuận lợihơn cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ và tăng cường quan hệ thương mại hai nước.Nếu như năm 2000, các doanh nghiệp Hoa Kỳ chỉ có 101 dự án đầu tư ở Việt
Trang 18Nam với tổng số vốn là 1,1 tỷ USD, thì tới năm 2001 sau khi BTA được kýkết, FDI của Hoa Kỳ ở Việt Nam tăng lên nhanh chóng, nhất là từ sau khiViệt Nam gia nhập WTO (năm 2006), môi trường đầu tư được cải thiện, thuhút sự chú ý các doanh nghiệp Hoa Kỳ đối với thị trường Việt Nam Đến năm
2008, FDI của Hoa Kỳ tại Việt Nam đạt 2,6 tỷ USD, chiếm tới 45,6% tổng sốvốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam [16; tr.53]
Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng: Do tính chất nhạy cảm nên quan
hệ an ninh - quốc phòng giữa hai nước phát triển muộn hơn so với các quan
hệ khác Những năm đầu sau khi bình thường hóa, quan hệ hai nước chủ yếutập trung vào việc giải quyết các vấn đề nhân đạo như tìm kiếm quân nhânHoa Kỳ mất tích trong chiến tranh (POW/MIA)
Quan hệ quốc phòng giữa hai nước chính thức bắt đầu từ sau chuyếnthăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng W.Cohen (3/2000) Sau sự kiện11/9/2001, chống khủng bố trở thành mối quan tâm chung của cả hai nước
Từ năm 2001 đến 2004, Hoa Kỳ đã đề nghị Việt Nam đã kiểm tra tài khoản
và đưa vào danh sách cấm nhập cảnh vào Việt Nam những cá nhân, tổ chứcliên quan đến khủng bố Đồng thời, Việt Nam cũng yêu cầu Chính phủ Hoa
Kỳ hợp tác ngăn chặn các cá nhân, tổ chức có hành vi khủng bố, phá hoạiViệt Nam
Chuyến thăm Hoa Kỳ của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phạm VănTrà (tháng 11/2003) đã khai thông bế tắc trong quan hệ hai nước Đặc biệt, từnăm 2005, quan hệ quốc phòng Hoa Kỳ - Việt Nam có những chuyển biếnquan trọng, bắt đầu đề cập đến các vấn đề cốt lõi trong hợp tác an ninh, quân
sự Nhân chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải, hai nước đã kýmột thỏa thuận hợp tác về chia sẻ thông tin tình báo bằng việc thiết lập bộphận phụ trách chia sẻ thông tin về khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia và rửatiền tại Đại sứ quán của hai nước
Trang 19Quan hệ quốc phòng hai nước được nâng cao khi Bộ trưởng Quốcphòng Donal Rumsfeld trong chuyến thăm tới Việt Nam (tháng 6/2005) đãcam kết sẽ cung cấp một số phụ tùng và phụ kiện quân sự cho Việt Nam Haibên cũng đạt một số thỏa thuận hợp tác về quân sự và đồng ý hợp tác vớinhau trong khuôn khổ Interpol, hợp tác về chống buôn lậu, rửa tiền, tội phạmxuyên quốc gia, chống khủng bố…
Với những bước tiến lớn trong quan hệ hai nước, ngày 29/6/2006, Tổngthống G.W.Bush ra quyết định dỡ bỏ cấm vận đối với việc buôn bán vũ khíkhông sát thương với Việt Nam Đặc biệt, trong chuyến thăm Hoa Kỳ củaThủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 6/2008, hai bên đã đồng ý về việc tổchức đối thoại hàng năm về các vấn đề chính trị, quân sự và hoạch định chínhsách cho việc tham vấn lẫn nhau về an ninh khu vực và chiến lược, cuộc đốithoại đầu tiên được diễn ra vào tháng 10/2008 tại Hà Nội
Trên các lĩnh vực khác:
Giáo dục đào tạo: Quan hệ trên lĩnh vực giáo dục giữa Hoa Kỳ và ViệtNam bắt đầu khởi sắc khi Viện Giáo dục Quốc tế (IIE) thành lập văn phòngđại diện ở Việt Nam (năm 1997) IIE mở văn phòng đại diện ở Việt Nam đãtạo ra cơ sở cho việc thúc đẩy hơn nữa hợp tác giữa hai nước trong giáo dục,
số lượng sinh viên Việt Nam theo học tại Hoa Kỳ ngày càng tăng Nếu nhưnăm học 1998 - 1999 số du học sinh của Việt Nam còn tương đối ít, chỉkhoảng vài trăm sinh viên, thì tới năm học 2006 - 2007, con số này đã tănglên tới 6.063 sinh viên, đến năm học 2008- 2009 lần đầu tiên Việt Nam lọtvào top 10 nước có đông sinh viên du học tại Hoa Kỳ với khoảng 12.823 sinhviên [16; tr.60]
Trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (tháng6/2008), Báo cáo về tình hình hợp tác giáo dục song phương được ký kết,theo đó kiến nghị thành lập trường đại học theo mô hình đại học Hoa Kỳ, đưa
Trang 20vào triển khai các chương trình tiên tiến tại các trường đại học ở Việt Nam,đồng thời cam kết giúp Việt Nam đào tạo nghiên cứu sinh tại các trường đạihọc uy tín của Hoa Kỳ Ngoài ra, Hoa Kỳ còn hỗ trợ Việt Nam đào tạo tiếngAnh và giúp Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai hiệu quả công tác khảo thí,kiểm định và đảm bảo chất lượng.
Y tế: Từ năm 2000, quan hệ hợp tác giữa hai nước có nhiều bước tiến.Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao như: Bộ trưởng Y tế Hoa KỳD.Shalala và Michael O’Leavitt thăm Việt Nam vào các năm 2000, 2005,
2008 Bộ trưởng Trần Chung Chiến thăm Hoa Kỳ năm 2006 Hai nước đã kýkết nhiều văn bản hợp tác quan trọng: Tuyên bố chung về hợp tác y tế giữahai nước (năm 2000), Ý định thư về hợp tác y tế (năm 2005), Hiệp định vềhợp tác y tế và khoa học y học giữa Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ ViệtNam (năm 2006), Bản ghi nhớ về hợp tác giữa hai Bộ Y tế về thực phẩm,thức ăn chăn nuôi và sản phẩm y tế (năm 2008) Năm 2003, lần đầu tiênChính phủ hai nước ký văn bản thỏa thuận về chương trình dự phòng và chămsóc bệnh nhân HIV/AIDS tại Việt Nam giai đoạn 2003 – 2008 trị giá 20 triệuUSD Ngày 23/6/2004, Tổng thống Hoa Kỳ chọn Việt Nam là một trong 15quốc gia được ưu tiên tiếp nhận viện trợ từ “Kế hoạch Cứu trợ khẩn cấp AIDScủa Tổng thống” (PEPAR) trị giá 15 tỷ USD để chống lại đại dịch HIV/AIDStrên toàn cầu [16; tr.60]
Khoa học - công nghệ: Năm 2000, hai nước ký “Hiệp định về hợp táckhoa học - công nghệ” Đây là sự khẳng định cam kết của hai nước về việckhuyến khích và tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vựckhoa học và công nghệ Từ năm 2001, hai nước trao đổi nhiều đoàn cấp Bộ vàcấp chuyên gia để đẩy mạnh hợp tác trên lĩnh vực này Hai nước đã thành lập
Ủy ban hỗn hợp về khoa học - công nghệ Hoa Kỳ - Việt Nam, thành lập cơchế hợp tác trong việc nghiên cứu và ứng phó với biến đổi khí hậu và nước
Trang 21biển dâng, lập trung tâm nghiên cứu về vấn đề này ở Cần Thơ (gọi tắt làDRAGON) Năm 2005, trong chuyến thăm chính thức tới Hoa Kỳ của Thủtướng Phan Văn Khải, thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam với Tập đoànMicrsoft (về hỗ trợ đào tạo tin học trong các trường phổ thông ở Việt Nam),Viện Công nghệ Massachussette (MIT) và Tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDG)được ký kết
Trong giai đoạn này, công nghệ hạt nhân trở thành lĩnh vực hợp tác đầytiềm năng giữa hai nước Hai bên đã ký “Bản ghi nhớ về hợp tác năng lượnghạt nhân” Bản ghi nhớ đã mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Hoa Kỳquan tâm hợp tác, đầu tư vào Việt Nam trong lĩnh vực này, tạo đà cho hainước tiến tới các hoạt động đàm phán Hiệp định hợp tác hạt nhân dân sự giữahai nước
Sự phát triển của quan hệ hai nước trong thời gian qua cho thấy đã đếnlúc quan hệ hai nước cần được mở rộng và tăng cường hơn nữa theo hướng ổnđịnh lâu dài, không chỉ vì lợi ích của nhân dân hai nước mà còn vì hòa bình,hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.
1.2 Những thay đổi lớn của tình hình thế giới
1.2.1 Sự trỗi dậy của Trung Quốc và vấn đề biển Đông
Ở vị trí đầu tàu phát triển kinh tế của châu Á – Thái Bình Dương là mộtTrung Quốc đang trỗi dậy Sự nổi lên của Trung Quốc là nhân tố tác động rấtlớn đến việc điều chỉnh chính sách châu Á - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ vàquan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam
Từ sau khi đổi mới (năm 1979) đến nay, kinh tế Trung Quốc luôn duytrì đà tăng trưởng bình quân hàng năm trên 9% Tổng sản phẩm quốc nội tăng
từ 1,32 nghìn tỷ USD trong năm 2001 lên khoảng 5,87 nghìn tỷ USD vào năm
2011, tương ứng với hơn 400% [14; tr.137] Thu nhập bình quân đầu ngườikhông ngừng tăng lên đạt 4.428 USD năm 2010, 5.424 USD năm 2011 và
Trang 226.091 USD năm 2012 Sức mua tương đương của Trung Quốc cũng tăng liêntục và ổn định Nếu như năm 2011 là 11.54 tỷ USD, thì năm 2012 là 12.43 tỷUSD và năm 2013 là 13.37 tỷ USD [29; tr.12].
Trong phạm vi khu vực, Trung Quốc đã thay thế vị trí của Nhật Bảntrong một số lĩnh vực quan trọng Từ năm 2004, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản
về kim ngạch xuất khẩu, vượt về dự trữ ngoại tệ (2006) và đến năm 2010, vượtqua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới chỉ sau Hoa Kỳ
Trên phạm vi thế giới, Trung Quốc đứng đầu thế giới trong sản xuấtnguyên vật liệu cơ bản như sắt, thép, đồng, nhôm, xi măng, là cường quốc thứnhất thế giới trong xuất khẩu tàu biển và hàng điện tử, hàng tiêu dùng, đứngthứ hai sau Hoa Kỳ trong xuất khẩu ô tô Năm 2012 lần đầu tiên Trung Quốc
đã vượt Hoa Kỳ để trở thành nước có tổng kim ngạch thương mại lớn nhất thếgiới đạt 3.866,76 tỷ USD, tăng 6,2% so với năm 2011, trong khi tổng kimngạch thương mại của Hoa Kỳ chỉ đạt 3.862,86 tỷ USD, tăng 3,5% Cũngtrong năm 2012, Trung Quốc trở thành quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới
đạt 2.048,93 tỷ USD so với mức 1.563,58 tỷ USD của Hoa Kỳ [29; tr.13].
Trung Quốc cũng là nước nắm giữ tiền tệ lớn nhất thế giới Dự trữ tínhtheo tỉ giá ngoại tệ của Trung Quốc là 1500 tỉ USD, nhiều hơn 50% so vớiNhật Bản, lớn gấp 3 lần dự trữ của Liên minh châu Âu gộp lại, tất cả 20 đô thịphát triển nhanh nhất thế giới đều là của Trung Quốc Với những bước tiếnvượt bậc đó, Trung Quốc đang trở thành một thế lực thực sự lớn trên vũ đàichính trị và là một cực mới nổi trong trật tự kinh tế quốc tế
Đối với Đông Nam Á, quan hệ kinh tế, thương mại của Trung Quốc vớicác nước ASEAN tăng lên nhanh chóng Năm 2008, Trung Quốc bắt đầu trởthành thị trường lớn nhất của ASEAN (kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần
2311 tỉ USD, trong đó xuất khẩu từ Trung Quốc tăng gần 21% so với năm2007) [74; tr.99]
Trang 23Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, Trung Quốc là động lựcquan trọng của tăng trưởng kinh tế châu Á Hiện nay quan hệ kinh tế của cácnước châu Á với Trung Quốc nhiều hơn quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ TrungQuốc đã vượt Hoa Kỳ để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản,Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, trong khi những nước này là đồng minh truyềnthống của Hoa Kỳ.
Cùng với sự trỗi dậy về kinh tế, Trung Quốc không ngừng khẳng địnhvai trò nước lớn của mình trong khu vực và trên thế giới Hiện nay, vai trò củaTrung Quốc đã tăng lên đáng kể do việc đẩy mạnh hợp tác khu vực trên cảbình diện song phương và đa phương
Trung Quốc ngày càng tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đềkhu vực và quốc tế, cam kết gánh vác các công việc của nước lớn, thể hiệnvăn hóa Trung Quốc, như chủ động tham gia giải quyết nhiều vấn đề nóngcủa khu vực và trên thế giới, cùng với Nga, Hoa Kỳ và các nước liên quan đạtđược nhất trí về việc thông qua nghị quyết của Hội đồng bảo an Liên HợpQuốc về vấn đề Syria hay cùng với các nước thuộc nhóm P5 + 1 đạt đượcthỏa thuận mang tính lịch sử với Iran về hạn chế chương trình hạt nhân củanước này Trung Quốc cũng là nước đóng vai trò chủ đạo trong việc thúc đẩyđàm phán nhằm giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên Ngoài ra,trong các vấn đề như Đài Loan, quan hệ Ấn Độ - Pakixtan, việc giải quyếtkhủng hoảng nợ công ở châu Âu, các diễn đàn quốc tế…Trung Quốc đều cótiếng nói và được xem như một nhân tố tích cực, thúc đẩy việc giải quyết cácvấn đề còn đang tranh cãi
Thông qua các hoạt động viện trợ nhân đạo, chính sách đầu tư ra nướcngoài, Trung Quốc đang trở thành đối tác kinh tế quan trọng của các nước châuPhi và Mỹ - Latinh, dần thay thế vai trò của Hoa Kỳ và châu Âu ở khu vực này.Với phương châm không can thiệp vào thể chế chính trị cũng như quá trình dân
Trang 24chủ hóa của các nước, nên sự có mặt của Trung Quốc được rất nhiều chính phủ
ủng hộ và mô hình phát triển “mang màu sắc Trung Quốc” ngày càng mang lại
cho Trung Quốc vị thế và tiếng nói quan trọng đối với nhiều nước Mỹ - Latinh,vốn từ lâu được Hoa Kỳ coi như là “sân sau” của mình
Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với thế giới còn thể hiện ở nhiều khíacạnh khác nhau Trong đó, sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang trở thànhmối lo ngại không chỉ của Hoa Kỳ mà còn của rất nhiều quốc gia khác trongkhu vực Trong “Báo cáo chiến lược an ninh châu Á - Thái Bình Dương”,Hoa Kỳ tỏ ra lo lắng trước sự “lớn mạnh không ngừng” của quân đội TrungQuốc và “sự không minh bạch” của quá trình phát triển quân sự, cũng như sự
“tăng lên nhanh chóng” của chi phí quân sự, và các “hoạt động liên tiếp” củahải quân Trung Quốc ở Biển Đông Chi phí quân sự của Trung Quốc chiếm tỉ
lệ rất lớn trong tổng thu nhập Năm 2007, ngân sách quốc phòng được chi ra
là 70 tỉ USD (theo thông tin của Chính phủ Trung Quốc) và khoảng 138 - 156
tỉ USD (theo đánh giá của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ) và năm 2014 tổng chi phí
ngân sách quốc phòng của Trung Quốc là 131.57 tỷ USD [29; tr.14] Như
vậy, Trung Quốc là nước đứng thứ hai sau Hoa Kỳ trong chi tiêu quốc phòng,vượt qua cả Nhật Bản và Nga Ngoài ra, Trung Quốc cũng là một trong nhữngcường quốc về vũ trụ, nắm giữ trong tay hầu hết các hệ thống vũ khí hiện đại,
số lượng quân đội đông, tinh nhuệ bậc nhất thế giới Tuy nhiên, sự thiếu minhbạch trong công khai chi tiêu quốc phòng của nước này đã trở thành lí dokhiến cho các nước lo ngại, nhất là các nước đang có tranh chấp lãnh thổ vàbiển đảo với Trung Quốc
Trong những năm gần đây, Biển Đông trở thành điểm nóng của khuvực với việc Trung Quốc gia tăng các tranh chấp với một số quốc gia ĐôngNam Á Trung Quốc thực hiện một loạt các hành động đơn phương để khẳngđịnh chủ quyền của mình như: công bố đường lưỡi bò, chiếm tới hơn 90%
Trang 25diện tích Biển Đông, tăng cường việc bắt giữ các tàu đánh cá của ngư dânViệt Nam, Philippin, thông báo kế hoạch phát triển các đảo tranh chấp, thànhlập thành phố Tam Sa, cắt cáp tàu ngầm, ngăn cản các công ty năng lượngphương Tây hợp tác với Việt Nam để thăm dò hoặc khai thác dầu khí trênvùng thềm lục địa Việt Nam Đặc biệt, ngày 2/5/2014 Tổng công ty dầu khíHải dương Trung Quốc (CNOOC) hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương
981 (HD – 981) (được hộ tống bởi hơn 80 tàu Trung Quốc, bao gồm ít nhất 7tàu hải quân) trong khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam đã đẩy sự căngthẳng trên Biển Đông lên mức độ chưa từng thấy kể từ vụ Trung Quốc chiếmđóng Bãi cạn Scarborough của Philippin hồi tháng 4/2012 Đây là nhân tốchính làm gia tăng căng thẳng trong khu vực, khiến các nước nghi ngờ về sự
“trỗi dậy hòa bình” mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc luôn khẳng định
Những hành động và thái độ của Trung Quốc trong những năm qua đãkhiến cho các nước Đông Nam Á lo ngại và tạo cơ hội cho Hoa Kỳ “trở lại”châu Á sau một thời gian dài “sao nhãng” khu vực này Biển Đông trở thànhđiểm đột phá cho sự trở lại của Hoa Kỳ, đây được coi là một cơ hội để khôiphục lại ảnh hưởng và giành lại vai trò chủ đạo ở Đông Á Tháng 5/2009, Trợ
lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ, ông Scot Marciel phát biểu: “Hoa Kỳ có lợi to lớn trong việc duy trì ổn định, quyền tự do hàng hải và quyền hoạt động thương
mại theo luật quốc tế ở các tuyến hàng hải ở Đông Á…” [14; tr.137]
Như vậy, sự lớn mạnh không ngừng cả về kinh tế, quân sự và ảnh hưởngcủa Trung Quốc trong những năm gần đây là nhân tố quan trọng cho việc Hoa
Kỳ đặt trọng tâm chiến lược tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là ởĐông Nam Á Trong gần 10 năm qua, Hoa Kỳ đã dần đánh mất vai trò của mìnhtại khu vực, thay vào đó là vai trò ngày càng tăng của Trung Quốc Điều này trởthành thách thức lớn của Hoa Kỳ khi muốn quay trở lại hiện diện tại khu vực.Đặc biệt, những bất ổn gần đây ở Biển Đông giữa Trung Quốc và một số quốc
Trang 26gia Đông Nam Á trở thành thách thức không nhỏ đối với sức mạnh của Hoa Kỳ.
Vì vậy, để duy trì vai trò và tăng cường sức mạnh tại khu vực này, Chính quyềnObama đã triển khai chiến lược “tái cân bằng”, tăng cường sự can dự của Hoa
Kỳ vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó tập trung nhiều vào khuvực Đông Nam Á, nơi Hoa Kỳ chưa phát triển quan hệ đầy đủ và tích cực đốivới một số nước, trong đó có Việt Nam
1.2.2 Sự vươn lên của “phần còn lại” của thế giới
Những năm đầu thế kỷ XXI, bên cạnh sự suy giảm sức mạnh của Hoa
Kỳ và sự trỗi dậy của Trung Quốc, thế giới còn chứng kiến sự vươn lên mạnh
mẽ của một số quốc gia trên thế giới, trong đó nổi bật nhất là các nước thuộcnhóm BRICS Sự vươn lên của các nước BRICS đang được ghi nhận là mộttrong những xu thế nổi bật của thế kỷ XXI
BRICS bao gồm các nước: Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và NamPhi, chiếm khoảng 30% diện tích thế giới, 42% dân số, gần 18% GDP,khoảng 15% kim ngạch thương mại toàn cầu Theo dự báo, tới năm 2050 tổngGDP của nhóm có thể sẽ đuổi kịp, rồi vượt GDP của nhóm G7 (gồm Mỹ,Anh, Pháp, Nhật Bản, Đức, Italia và Canađa) [68; tr.31]
Những năm gần đây, trong khi nhiều nước phương Tây, đặc biệt là Hoa
Kỳ, lún sâu vào cuộc khủng hoảng nợ công và thâm hụt ngân sách do tácđộng của cuộc khủng hoảng kinh tế, thì BRICS lại nhanh chóng thoát khỏikhủng hoảng, trở thành đầu tàu thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển Với mứctăng trưởng kinh tế khá ngoạn mục (trung bình hơn 6% mỗi năm), phần đónggóp của BRICS cho tăng trưởng kinh tế thế giới đã tăng từ 13,1% năm 2000lên hơn 60% trong vòng 10 năm (2003-2013) [80] Năm 2010, Trung Quốc đãchính thức vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, cácnước còn lại cũng đều nằm trong danh sách 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới.Trong đó, Brazil được coi là quốc gia đầu tàu của Khối thị trường chung Nam
Trang 27Mỹ (MERCOSUR), còn Nam Phi là quốc gia phát triển nhất châu Phi và làđầu tàu thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của 14 nước trong Cộng đồng pháttriển miền Nam châu Phi (SADC) Ngoài sức mạnh kinh tế, các nước BRICSđều là những nước có thực lực quân sự mạnh, có công nghệ sản xuất trangthiết bị quân sự hiện đại, trong đó Nga, Trung Quốc và Ấn Độ là cường quốchạt nhân.
Với sức mạnh về kinh tế cũng như quân sự, các nước BRICS đều mongmuốn xếp đặt lại một trật tự kinh tế thế giới mới - thế giới đa cực (hay đatrung tâm), chia sẻ quyền lực và ảnh hưởng của các nước phát triển trêntrường quốc tế, bằng cách thành lập một hệ thống thanh toán tín dụng riêngbằng nội tệ của nhóm, không dùng đồng USD và EURO trong thương mại vàtín dụng nội nhóm nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào đồng tiền của Mỹ vàLiên minh châu Âu Đặc biệt, vào tháng 7/2014, BRICS thành lập Quỹ bình
ổn và Ngân hàng Phát triển mới (NDB), không những cung cấp vốn đầu tưcho các nước thuộc nhóm mà còn mở rộng ra cả các nước đang phát triển,giảm bớt sự phụ thuộc vào các định chế tài chính do Hoa Kỳ chi phối nhưNgân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Là những nước mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển, BRICS đangnổi lên như một tổ chức có ảnh hưởng lớn đối với đời sống chính trị và nềnkinh tế toàn cầu Trong số 5 thành viên, có hai nước là Ủy viên thường trựccủa Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, hai nước Ấn Độ và Brazil là những ứng
cử viên hàng đầu cho chiếc ghế Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an khi
tổ chức này cải cách và mở rộng Điều này đã làm giảm sút phần nào quyềnlực của Hoa Kỳ và các nước phương Tây trên các diễn đàn kinh tế - chính trị -
xã hội khu vực và toàn cầu, từ bước phá vỡ thế đơn cực trong kinh tế thế giới,tạo ra thế đa cực, mà mỗi nước trong BRICS là một cực ở trong đó và sự phát
Trang 28triển của BRICS là một đối thủ rất lớn của Mỹ cũng như tổ chức G7 do Hoa
Kỳ đứng đầu
Cùng với BRICS, Liên minh châu Âu (EU) cũng đang mở rộng vàkhẳng định vai trò của mình Về kinh tế, EU có sức mạnh và khả năng cạnhtranh với Hoa Kỳ Nhiều nước châu Âu đang muốn thực hiện vai trò ngoại
giao cân bằng toàn cầu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, theo tư tưởng “chủ nghĩa vị châu Âu” Sự vươn lên không ngừng của các nước châu Âu là một
thách thức lớn cho Hoa Kỳ ở phạm vi thế giới
Ngoài ra, các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, các nướcASEAN…cũng có nền kinh tế ngày càng phát triển, từng bước nâng cao vàkhẳng định vị thế của mình trên quốc tế, từng bước giảm bớt sự phụ thuộc củamình vào Hoa Kỳ và là những thách thức không nhỏ cho Hoa Kỳ ở phạm vikhu vực
1.2.3 Vai trò ngày càng lớn của ASEAN
Từ lâu, khu vực Đông Nam Á luôn là trọng tâm trong chiến lược toàncầu của Hoa Kỳ Đặc biệt từ khi tổ chức ASEAN được thành lập, Hoa Kỳluôn tìm cách nâng cao mối quan hệ với khu vực này Đối với Hoa Kỳ, mộtchiến lược tổng thể đối với châu Á là không thể đủ nếu thiếu đi một chínhsách bền vững và rõ ràng đối với ASEAN Bởi Hoa Kỳ nhận thức được rằngđây là một khu vực được nhiều quốc gia lớn trong khu vực châu Á - TháiBình Dương chú ý tới và cạnh tranh với nhau để có lợi ích cũng như đặt ảnhhưởng của mình Do đó, Hoa Kỳ không thể coi nhẹ những lợi ích của mình tạikhu vực có vị trí chiến lược này Cuối tháng 9/2013, bên lề cuộc họp của Đạihội đồng Liên Hợp Quốc (diễn ra tại New York - Mỹ), Ngoại trưởng JohnKerry trong cuộc gặp với các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã nhấn mạnh:
“Không nghi ngờ gì nữa, ASEAN là trung tâm của cấu trúc khu vực châu Á Thái Bình Dương Tổ chức này cũng là trung tâm của chiến lược tái cân bằng
Trang 29-mà Hoa Kỳ đang hướng tới khu vực này Đó luôn là ưu tiên của Tổng thống Barack Obama” [94].
Trong thương mại và đầu tư, ASEAN tham gia trực tiếp vào tự do
thương mại toàn cầu Đây có thể nói là một yếu tố vừa mang lại thuận lợinhưng cũng đầy rẫy thách thức đối với nền kinh tế của các nước trongASEAN Vì, các thành viên trong khối có sự phụ thuộc rất lớn vào nềnthương mại toàn cầu Chỉ riêng Singapo, lĩnh vực thương mại đã chiếm tỉ lệlớn trong GDP (gấp 3 lần), do đó nền kinh tế sẽ gặp khó khăn nếu thương mạiquốc tế bị cản trở
Đây cũng là khu vực có nhiều tuyến đường hàng hải quốc tế quantrọng, như eo biển Malacca, Biển Đông và là khu vực có trữ lượng dầu mỏ,khí đốt, nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn và nguồn tài nguyên sinh học đadạng nhất thế giới
Trong an ninh và ngoại giao, ASEAN liên quan rất nhiều đến cấu trúc
khu vực, là nhân tố chung trong chính sách cạnh tranh của các nước lớn nhưTrung Quốc, Nhật Bản, Australia và nhiều quốc gia khác trên thế giới ChínhNgoại trưởng Hillary Clinton đã nhấn mạnh đến “xu hướng trung tâm củaASEAN” trong thế kỉ XXI là một trong những nhân tố quan trọng để địnhhướng cấu trúc an ninh của khu vực châu Á - Thái Bình Dương Trên thực tế,liên kết ASEAN đã chuyển hướng hành động và thiết thực, đạt được nhiều tiếntriển quan trọng trong việc triển khai Hiến chương ASEAN và Lộ trình xâydựng Cộng đồng ASEAN trên cả ba trụ cột: chính trị - an ninh, kinh tế và vănhóa - xã hội
Ngoài ra, ASEAN còn có những cấu trúc hoạt động rất có hiệu quả đangtồn tại mà Mỹ tham gia như: Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị cấpcao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng với cácđối tác (ADMM+), các khuôn khổ hợp tác khu vực do ASEAN giữ vai trò chủ
Trang 30đạo như ASEAN+3, ASEAN+1 với nhiều đối tác là những nước lớn, trong đóbao gồm cả Hoa Kỳ Ngoài ra, ASEAN cũng có những đóng góp quan trọng tạicác diễn đàn quốc tế như APEC, ASEM, Liên hợp quốc… Hơn nữa, ASEANngày càng xích lại gần hơn với Trung Quốc, giữa ASEAN và Trung Quốc có
sự hợp tác ngày càng sâu rộng như: quan hệ đối tác chiến lược với ASEAN Trung Quốc, FTA ASEAN -Trung Quốc, sự ra đời của ASEAN+3… Điều nàykhiến cho ASEAN trở thành khu vực được Hoa Kỳ chú ý đến Ngoài Hoa Kỳ,các nước khác như Nga, Nhật Bản, Ấn Độ cũng luôn tìm mọi cách tiếp cận sâurộng với khu vực này bằng các chính sách ngoại giao rất hấp dẫn Những điềunày có ảnh hưởng rất lớn và đe dọa trực tiếp đến lợi ích của Hoa Kỳ tại khuvực được đánh giá là mô hình liên kết khu vực thành công nhất chỉ sau EU và
-là khu vực có nền kinh tế phát triển sôi động bậc nhất thế giới này
Do có vị trí địa - chiến lược quan trọng, vai trò của ASEAN ngày càngđược tăng cường trong bối cảnh mà khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngàycàng được nhiều nước lớn trên thế giới quan tâm và tăng cường sự hiện diện Sựphát triển mạnh mẽ cả về kinh tế và việc thiết lập, mở rộng các cơ chế hợp táctrong và ngoài khu vực đã tạo cho ASEAN có vai trò trung tâm và là nhân tốthúc đẩy hợp tác khu vực châu Á - Thái Bình Dương Ngoài ra, sự thành côngcủa từng nước ASEAN trong phát triển kinh tế và vai trò của khối trong việc duytrì nền hòa bình và ổn định trong khu vực, nhất là sau khi ASEAN đã mở rộnglên tới 10 thành viên càng làm cho tổ chức này ngày càng mạnh mẽ hơn
ASEAN là một trong những đối tác chủ yếu, hoạt động có hiệu quảtrong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu, như cuộc chiến chống khủng bố Vìđây là khu vực tập trung nhiều sắc tộc và tôn giáo, trong đó có quốc gia Hồigiáo lớn nhất là Indonesia Tuy tín đồ Hồi giáo ở đây rất ôn hòa, nhưng vẫnkhông tránh được tình trạng các nhóm li khai nhỏ tiến hành các cuộc bạođộng ở một số nước như Indonesia, Philippin, Thái Lan Thêm vào đó, các
Trang 31quốc gia ASEAN cũng là những thành viên rất tích cực trong việc giải quyếtcác vấn đề xuyên quốc gia như phổ biến vũ khí hạt nhân, biến đổi khí hậu,phát triển năng lượng, giải quyết nạn nghèo đói ở châu Phi, các đại dịch, hỗtrợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa…
Đối với Hoa Kỳ, Đông Nam Á nói chung và ASEAN nói riêng ngàycàng trở nên quan trọng về mặt chiến lược Thứ nhất, đây là một thị trường vànguồn cung cấp ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế Hoa Kỳ, khu vực này
là thị trường đầy tiềm năng với các doanh nghiệp Hoa Kỳ với hơn 600 triệudân và tổng GDP khoảng 1,3 nghìn tỷ USD Vì vậy, việc thúc đẩy quan hệ kinh
tế, đặc biệt là quan hệ thương mại với khu vực này sẽ giúp kế hoạch tăng gấpđôi xuất khẩu vào năm 2015 của Hoa Kỳ trở nên dễ dàng hơn; Thứ hai, là khuvực cạnh tranh mạnh mẽ cả về kinh tế lẫn chính trị giữa các nước lớn nhưTrung Quốc và Nhật Bản, vì vậy đây sẽ là một khu vực có tiềm năng gây mất
ổn định toàn cầu; Thứ ba, đây là vùng quá cảnh chiến lược của nguồn dầu mỏđến từ Trung Đông Trên thực tế, nền kinh tế ASEAN đã và đang là thị trườngthu hút nguồn đầu tư rất lớn từ Hoa Kỳ Số vốn mà Hoa Kỳ đầu tư vàoASEAN lớn gấp 3 lần so với đầu tư ở Trung Quốc và gấp 9 lần so với đầu tư ở
Ấn Độ, ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ tư của Hoa Kỳ Tuy nhiên, doviệc quá chú trọng vào các khu vực khác trên thế giới nên trong những nămqua, Hoa Kỳ đã đánh mất một thị phần đáng kể ở ASEAN từ 20,1% năm 1998
xuống còn khoảng 9,1% năm 2010 [14; tr.140].
Với vai trò ngày càng lớn của ASEAN, việc Hoa Kỳ chuyển trọng tâmchiến lược sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó trọng tâm là khuvực Đông Nam Á là một chuyển hướng mang tính thời đại của Hoa Kỳ nhằmmục đích là duy trì vị trí cường quốc số một thế giới của mình, mở rộng thịtrường, giải quyết những khó khăn sau khủng hoảng, thúc đẩy nền kinh tế pháttriển…Đồng thời, Hoa Kỳ cũng nhằm giải quyết nhiều vấn đề quan trọng khác
Trang 32trong chính sách đối ngoại của mình như vấn đề Iran, Iraq, Bắc Triều Tiên,Afganixtan…Đặc biệt là mối quan hệ phức tạp với Nga và với một TrungQuốc đang “trỗi dậy” mạnh mẽ
Việc Hoa Kỳ tập trung chiến lược vào khu vực Đông Nam Á, trong đóViệt Nam là một thành viên quan trọng của ASEAN đã tạo ra bối cảnh mớicho quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam, tạo điều kiện và môi trường thúc đẩy hợptác giữa hai nước, đưa quan hệ giữa hai nước phát triển hơn nữa
1.3 Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống B Obama
Ngày 20/1/2009, Tổng thống B Obama chính thức tuyên thệ và trởthành Tổng thống thứ 44 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Sau khi lên cầmquyền, Tổng thống B Obama đã phải đối mặt với những khó khăn cả về đốinội và đối ngoại mà chính quyền G.W Bush sau 8 năm cầm quyền để lại
Về đối nội: Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ đã có
những tác động sâu sắc tới Hoa Kỳ Sức mạnh kinh tế, một trong những nhân
tố vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh tổng thể của nước này bị suy giảmmạnh mẽ
Cuộc khủng hoảng làm cho thị trường chứng khoán và ngành công nghiệp
ô tô - niềm tự hào của Hoa Kỳ tụt dốc, giá nhà đất giảm 1/3 giá trị, các ngânhàng phải hạ mức đầu tư và giá trị cổ phiếu trên thị trường phố Wall sụt giảmnghiêm trọng Với ngành sản xuất ô tô, các tập đoàn lớn như Ford, GM phải cắtgiảm lao động và đệ đơn xin Chính phủ tài trợ hoặc nộp đơn xin phá sản
Cùng với sự suy giảm của toàn bộ nền kinh tế, GDP của Hoa Kỳ cũngsụt giảm xuống mức thấp nhất trong ba thập kỷ trở lại đây, xuống -2,6% vàonăm 2009 Thâm hụt ngân sách lên mức kỷ lục 1.750 tỷ USD trong năm 2009,
do phải thực hiện các chương trình cứu trợ và kích thích tăng trưởng kinh tế[58; tr.4] Cùng với đó có khoảng 4,4 triệu người mất việc trong cuộc khủnghoảng Vào tháng 11/2009, tỷ lệ thất nghiệp ở Hoa Kỳ đã vượt qua con số
Trang 3310%, mức cao nhất kể từ năm 1945, sáu tháng đầu năm 2010, tỷ lệ thất
nghiệp vẫn ở mức 9,7% [58; tr.36] Đây là một vấn đề lớn đặt ra cho các nhà
lãnh đạo Hoa Kỳ phải tìm ra biện pháp để giải quyết
Cho đến nay, nền kinh tế Hoa Kỳ mặc dù đã phục hồi, song vẫn tăngtrưởng rất chậm chạp, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn ở mức cao khoảng 7,4%(tháng 7/2013) cao hơn so với hai năm trước khủng hoảng Tình trạng nợcông và thâm hụt ngân sách tiếp tục là gánh nặng cho Chính phủ Hoa Kỳ, lầnđầu tiên Hoa Kỳ bị tổ chức đánh giá tín nhiệm Standard & Poor hạ mức tíndụng vào tháng 8/2011 từ AAA xuống AA+
Năm 2013, sự bất đồng về việc thông qua ngân sách cho năm tài khóatiếp theo giữa hai Đảng cầm quyền đã gây ra ra cuộc khủng hoảng trong hệthống chính quyền Hoa Kỳ, mà nguyên chính xuất phát từ chính sách chămsóc y tế do Tổng thống B Obama đề xuất (được quốc hội thông qua vào năm2009) Lần đầu tiên trong 17 năm, một số cơ quan thuộc Chính phủ Hoa Kỳ
đã buộc phải đóng cửa (từ ngày 1 – 16/10/2013), gây thiệt hại hàng chục tỷUSD cho nền kinh tế và gây xáo trộn cho nền chính trị Hoa Kỳ
Để vực dậy nền kinh tế, Tổng thống B Obama đã đưa ra một trong nhữnggiải pháp là tăng cường xuất khẩu với mục tiêu tăng đôi xuất khẩu vào năm
2015, ông nhấn mạnh: “kế hoạch tăng cường xuất khẩu của Hoa Kỳ sẽ giúp củng cố đà phát triển nền kinh tế và hỗ trợ hàng triệu việc làm” [14; tr.133] Để
làm được điều này, Hoa Kỳ buộc phải mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, đa dạnghóa các đối tác xuất khẩu, hướng ra nhiều khu vực khác ngoài các khu vựctruyền thống để phục hồi và đưa nền kinh tế phát triển trở lại, trong đó có việcthúc đẩy và mở rộng các mối quan hệ kinh tế quốc tế, bao gồm cả song phương
và đa phương, trong đó có quan hệ với ASEAN và Việt Nam
Về đối ngoại: Chính sách toàn cầu chống khủng bố mà chính quyền
G.W Bush thi hành đã đẩy Hoa Kỳ lún sâu vào các cuộc chiến ở Trung
Trang 34Đông, phải đối mặt với nguy cơ khủng bố ở khắp nơi trên thế giới và sự mởrộng ảnh hưởng ngày càng rõ nét của Trung Quốc.
Trước sự suy giảm nghiêm trọng của vị thế và ảnh hưởng trên phạm vitoàn cầu, Tổng thống B Obama đã thi hành chính sách ngoại giao mềm dẻohơn chính quyền tiền nhiệm, theo hướng giảm đơn phương, tăng mặt hòa giải
và hợp tác đa phương, với phương châm "sức mạnh thông minh" trong đốingoại, kết hợp tất cả các yếu tố, từ quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao.Trong đó quyết định rút quân khỏi hai chiến trường Iraq và Afghanistan đãnhận được sự ủng hộ của người dân Hoa Kỳ và dư luận thế giới
Trong những năm gần đây, châu Á - Thái Bình Dương ngày càng nổilên như một khu vực quan trọng mang tính chiến lược bậc nhất thế giới Do
đó, bất kì cường quốc nào cũng muốn sự hiện diện của mình tại khu vực, Hoa
Kỳ cũng không nằm ngoài mục tiêu đó Đối với khu vực châu Á - Thái BìnhDương, Hoa Kỳ có mối quan hệ lợi ích không thể loại bỏ, cùng với đó là sựxuất hiện của nhiều thách thức mới đe dọa đến lợi ích và vị thế của Hoa Kỳtại khu vực này Trong hoàn cảnh như vậy, sau khi lên cầm quyền, Tổngthống B Obama đã thiết lập một chiến lược toàn diện đối với khu vực châu Á
Trang 35Chính sách hướng về châu Á của Hoa Kỳ dựa trên 6 trụ cột: i) Tăngcường các mối quan hệ đồng minh an ninh song phương với các đồng minhtruyền thống trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan…; ii) Tăngcường quan hệ với các quốc gia mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia,Việt Nam…Nhận định quan hệ với Trung Quốc là mối quan hệ song phương
có nhiều thách thức nhất và có tính hệ lụy nhất đối với Hoa Kỳ; iii) Tăngcường can dự vào các thể chế khu vực như ASEAN, APEC, LMI…; iv) Mởrộng quan hệ thương mại, đầu tư với khu vực, nhằm thực hiện mục tiêu tănggấp đôi xuất khẩu của Hoa Kỳ vào năm 2015; v) Tăng cường sự hiện diệnquân sự của Hoa Kỳ tại khu vực: một mặt, tiến hành “hiện đại hóa” các mốiquan hệ quân sự với các đồng minh truyền thống, mặt khác tăng cường hiệndiện tại Đông Nam Á và Ấn Độ Dương; vi) Thúc đẩy dân chủ và nhân quyền
ở khu vực
Sang nhiệm kỳ thứ hai, chính sách châu Á - Thái Bình Dương củaChính quyền Obama không thay đổi Tuy nhiên, với những vấn đề mới nổi tạikhu vực, nhất là căng thẳng xung quanh vấn đề tranh chấp lãnh thổ và phảnứng gay gắt của Trung Quốc ở Biển Đông, chính sách của Hoa Kỳ đã có sựđiều chỉnh nhất định Với sự chuyển dịch này, Hoa Kỳ tập trung vào việc xâydựng cho mình một hình ảnh tích cực ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương,thông qua việc củng cố quan hệ đối tác với các đồng minh cũ và tìm kiếm cácđồng minh mới ở châu Á trong những thập kỷ tới Các trụ cột của chiến lược
là xây dựng một “châu Á mở” tại Đông Á, Đông Nam Á và Đông Bắc Á vàonăm 2050, bao gồm tự do và công bằng thương mại, mở rộng sự thịnh vượng,
du lịch mở, giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp lãnh thổ và hàng hải,
sự tham gia của một châu Á đang phát triển trong các tổ chức toàn cầu vànhững cơ chế mới cho các cán bộ cấp cao để giải quyết các tranh chấp phátsinh [4; tr.121-122]
Trang 36Đối với khu vực Đông Nam Á, sự trỗi dậy của Trung Quốc và tình hìnhcăng thẳng trên Biển Đông, khiến cho Đông Nam Á trở thành đối tác chiếnlược không thể thiếu trong chính sách “trở lại châu Á” của Hoa Kỳ Chínhquyền Obama đã thể hiện mức độ quan tâm cao hơn đối với khu vực này sovới chính quyền tiền nhiệm Tại Diễn đàn khu vực ASEAN lần thứ 16 (ARF-16), Ngoại trưởng Hillary Clinton đã tuyên bố “Hoa Kỳ đang trở lại ĐôngNam Á” Bên cạnh đó, Chính quyền Obama có những động thái tích cực đểcủng cố quan hệ với khu vực như: ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác vớiASEAN (TAC); tham dự các diễn đàn của ASEAN (ARF, ADMM+); tổ chứcHội nghị cấp cao Hoa Kỳ - ASEAN; ra Tuyên bố chung Hoa Kỳ - ASEAN…
Có thể nói rằng, châu Á - Thái Bình Dương nói chung, Đông Nam Ánói riêng là nơi mà có các cơ hội lớn nhất và những lợi ích lớn nhất dành choHoa Kỳ Do vậy, một chính sách đầy đủ đối với khu vực này là lựa chọn tốtnhất dành cho Hoa Kỳ Bối cảnh đó mang lại nhiều cơ hội hơn cho việc nângcấp quan hệ song phương Hoa Kỳ - Việt Nam
1.4 Chính sách đối ngoại và vị thế mới của Việt Nam.
Năm 1990 đánh dấu nhiều sự kiện lớn trên thế giới và khu vực Liên
Xô tan rã đánh dấu sự kết thúc của chiến tranh lạnh và đối đầu Đông - Tây,toàn cầu hóa trở thành xu thế chủ đạo trên thế giới, lợi ích quốc gia được đặtlên hàng đầu Từ những thay đổi của tình hình thế giới, Đại hội lần thứ VII(6/1991) của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đối ngoại độc lập,
tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, với
phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” Trên cơ sở đó, Đảng ta
xác định bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ là một chủ trương đối ngoạiquan trọng, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình,
ổn định và phát triển ở khu vực
Trang 37Đường lối đối ngoại được đề ra từ Đại hội lần thứ VII trở thành đườnglối xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam Đại hội lần thứ IX(2000), X (2006) và XI (2011) đã đánh dấu thêm một cột mốc mới trong tư
duy đối ngoại đổi mới Đó là chủ trương “chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”, đồng thời “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [4; tr.77]
Từ đường lối trên, việc mở rộng quan hệ với tất cả các quốc gia trên thếgiới, đặc biệt là các nước phát triển trong đó có Hoa Kỳ, là một trong những
ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Việt Nam Việc tăng cường hơn nữaquan hệ với Hoa Kỳ có ý nghĩa rất lớn đối với chiến lược phát triển của ViệtNam Xét về chính trị, Hoa Kỳ là cường quốc có uy tín lớn, đóng vai trò chiphối nhiều tổ chức quốc tế và trong quan hệ với các nước, nên việc phát triểnquan hệ với Hoa Kỳ sẽ tạo điều kiện để Việt Nam hội nhập sâu hơn vào cộngđồng quốc tế và giúp Việt Nam duy trì sự ổn định, hòa bình và thịnh vượngkhông chỉ trong nước mà còn cho cả khu vực Xét về kinh tế, Hoa Kỳ là nềnkinh tế lớn nhất và có vai trò chi phối nền kinh tế thế giới, do vậy phát triểnquan hệ với Hoa Kỳ giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hútnguồn vốn đầu tư, kỹ thuật, công nghệ hiện đại…của Hoa Kỳ để phục vụcông cuộc xây dựng và phát triển đất nước Trên cơ sở đó, Việt Nam chủtrương thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ, đưa quan hệ hai nước đi vào chiều sâu
Trang 38Nga, Ấn Độ …Với vị trí như vậy, Việt Nam là một mắt xích quan trọng trongbàn cờ chính trị tại khu vực, phục vụ lợi ích chiến lược lâu dài của Hoa Kỳ tạikhu vực Đông Nam Á nói riêng và châu Á – Thái Bình Dương nói chung
Từ sau khi đổi mới, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng, tốc
độ tăng trưởng luôn ở mức cao Cơ cấu nền kinh tế đang dịch chuyển mạnh
mẽ theo hướng tăng nhanh tỷ trọng trong khu vực dịch vụ và công nghiệp,giảm dần trong khu vực nông nghiệp Việt Nam là nước xuất khẩu hàng đầuthế giới về gạo, cà phê, hạt điều, hạt tiêu…Với những thay đổi lớn của nềnkinh tế, Việt Nam đang là thị trường có sức hút mạnh mẽ đối với các nhà đầu
tư nước ngoài và trở thành địa chỉ hàng đầu cho các dịch vụ gia công và thuêngoài, với sự có mặt của các tập đoàn hàng đầu thế giới như Samsung,Microsoft, Intel…
Trong những năm qua, Việt Nam ngày càng có uy tín cao và có vai tròtrọng yếu được cộng đồng khu vực công nhận Vai trò tích cực và sự đónggóp quan trọng của Việt Nam trong ASEAN được thể hiện rõ trong quá trìnhhình thành ý tưởng, hoạch định chính sách và triển khai các văn kiện cơ bảncủa ASEAN, như “Tuyên bố hòa hợp ASEAN” (2003), “Hiến chươngASEAN” (2007), “Lộ trình xây dựng cộng đồng cùng với các Kế hoạch tổngthể xây dựng ba trụ cột Cộng đồng, Kế hoạch công tác IAI về Thu hẹpkhoảng cách phát triển” (2009)… cũng như trong việc hình thành các khuônkhổ hợp tác giữa ASEAN với các đối tác Đặc biệt, sau khi Việt Nam hoànthành nhiệm vụ trên cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2010, đã nhận được sựđánh giá tích cực của các quốc gia thành viên ASEAN Tổng thống Indonesia
(Chủ tịch kế nhiệm của ASEAN năm 2011) đã nhận xét “Năm Chủ tịch ASEAN của Việt Nam đã tạo đà mới cho ASEAN cả về đoàn kết, cũng như tiến tới xây dựng Cộng đồng ASEAN và phát huy vai trò của khu vực” hay như Đại sứ Singapore tại Việt Nam khẳng định “Việt Nam đã thể hiện là đại diện có uy tín của ASEAN” [4; tr.85-86].
Trang 39Không chỉ có uy tín cao trong khu vực, vị thế của Việt Nam ngày càngđược nâng cao trên quốc tế, thể hiện qua các mối quan hệ ngày càng đa dạng
và sâu sắc giữa Việt Nam và các tổ chức và các nước lớn trên thế giới Đếnnay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước (đã thiết lập quan
hệ đối tác chiến lược với 12 nước lớn trong đó có 4 nước thuộc Hội đồng Bảo
an là Trung Quốc, Nga, Anh, Pháp), quan hệ buôn bán với hơn 200 quốc gia
và vùng lãnh thổ, là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn
500 tổ chức phi chính phủ trên thế giới
Với vị thế ngày càng cao, Việt Nam trở thành nhân tố then chốt trongASEAN và được nhiều quốc gia trên thế giới đánh giá cao Do đó, việc pháttriển quan hệ với Việt Nam sẽ đem lại cho Hoa Kỳ nhiều lợi ích chính trị,chiến lược và kinh tế Có thể thấy rằng, Việt Nam đang trở thành quốc giatrọng điểm của Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm các đối tác mới ở khu vực ĐôngNam Á Do đó, Việt Nam chắc chắn sẽ là một đối tác đầy tiềm năng đối vớiHoa Kỳ không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn trong các lĩnh vực khác.Việc tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ là một bộ phận trong chiến lược đổimới, với đường lối độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa và tích cựchội nhập quốc tế, đưa các mối quan hệ với các đối tác quan trọng đi vào chiềusâu, ổn định, đồng thời thực hiện chủ trương cân bằng quan hệ với các nướclớn của Việt Nam
Trang 40Tiểu kết chương 1
Bước vào thế kỷ XXI, trong khi Hoa Kỳ và châu Âu bị tổn thương nặng
nề do khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng nợ công, thì châu Á – Thái BìnhDương nổi lên là động lực chính của tăng trưởng kinh tế thế giới Tuy vẫn làsiêu cường song Hoa Kỳ đang suy giảm, đã và đang gặp phải những thách thức
vô cùng to lớn cả trong nước và trên quốc tế Trong đó, sự vươn lên mạnh mẽcủa các nước BRICS, ASEAN, mà đặc biệt là Trung Quốc đã và đang trở thànhmột thế lực mới thách thức vị thế của Hoa Kỳ và các thể chế quốc tế do Hoa
Kỳ chi phối Do đó, để duy trì và gia tăng lợi ích, sau một thời gian “bê trễ”,Hoa Kỳ đã chuyển hướng chú ý sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương –động lực tăng trưởng kinh tế của thế giới
Những năm gần đây, sự “trỗi dậy” và mở rộng ảnh hưởng của TrungQuốc, nhất là tình hình căng thẳng trên Biển Đông làm khu vực châu Á - TháiBình Dương nói chung và khu vực Đông Nam Á nói riêng trở nên quan trọng
và bất ổn, đe dọa đến hòa bình, ổn định và an toàn hàng hải trên Biển Đông Do
đó, Đông Nam Á trở thành đối tác chiến lược không thể thiếu được trong chínhsách “trở lại châu Á” của Hoa Kỳ nhằm tăng cường sức ảnh hưởng và lợi íchcủa Hoa Kỳ tại khu vực
Là một quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam cũng chịu những tác độngkhông nhỏ từ sự điều chỉnh trong chính sách của Hoa Kỳ Với vị trí chiến lượctrọng yếu, vị thế và uy tín ngày càng cao trong khu vực, Việt Nam là một nhân
tố không thể thiếu trong chiến lược của Hoa Kỳ ở châu Á – Thái Bình Dương.Với Việt Nam, Hoa Kỳ cũng là một trong những ưu tiên trong chính sách đốingoại, thực hiện chủ trương cân bằng giữa các nước lớn và duy trì sự ổn định,hòa bình, phát triển của đất nước Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, cảHoa Kỳ và Việt Nam đang cùng nỗ lực để vượt qua những di sản nặng nề củacuộc chiến tranh, khắc phục những khác biệt và xây dựng lòng tin để tạo ranhững bước tiến dài và vững chắc trong quan hệ hai nước