1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn: Việt Nam trong quan hệ quốc tế thời kì 1954 – 1975

126 3,3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1 1. Lý do chọn đề tài1 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề3 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu7 4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu7 5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu8 6. Đóng góp của luận văn8 7. Bố cục luận văn9 CHƯƠNG 1: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VỊ THẾ CỦA VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ10 1.1. Vị trí chiến lược của Việt Nam10 1.1.1. Vị trí địa chính trị10 1.1.2. Vị trí địa kinh tế13 1.2. Dân cư và truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam17 1.2.1. Dân cư17 1.2.2. Truyền thống lịch sử18 1.3. Bối cảnh lịch sử Việt Nam thời kì 1954-197520 1.4. Quan điểm của các nước lớn trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam trước năm 195421 1.4.1. Quan điểm của Pháp21 1.4.2. Quan điểm của Mỹ26 1.4.3. Quan điểm của Anh29 1.4.4. Quan điểm của Trung Quốc30 1.4.5. Quan điểm của Liên Xô35 Tiểu kết chương 138   CHƯƠNG 2: QUAN HỆ GIỮA CÁC NƯỚC LỚN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆT NAM THỜI KÌ 1954-197539 2.1. Quan hệ Mỹ - Anh – Pháp39 2.2. Quan hệ Mỹ - Xô43 2.3. Quan hệ Mỹ - Trung54 2.4. Quan hệ Xô – Trung61 2.5. Quan hệ Mỹ - Xô – Trung69 Tiểu kết chương 274 CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ GIỮA CÁC NƯỚC LỚN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆT NAM THỜI KÌ 1954 – 197575 3.1. Đặc điểm75 3.2. Tác động86 3.2.1. Đối với công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc86 3.2.2. Đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ ở Miền Nam92 3.2.3. Đối với tiến trình cách mạng Việt Nam sau năm 197599 Tiểu kết chương 3102 KẾT LUẬN103 TÀI LIỆU THAM KHẢO105 PHỤ LỤC

Trang 1

LUẬN VĂN: VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ THỜI

KÌ 1954 – 1975

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn phòng sau Đại học, TổLịch sử Việt Nam, Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử, các thầy cô giáo đã giúp đỡ emtrong quá trình học tập và làm luận văn

Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đối với TS Phạm Thị Tuyết,

người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để em hoàn thành đề tài nghiên cứu củamình

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ công tác tại thư viện Đại học sưphạm Hà Nội, thư viện Quốc gia Việt Nam, Học viện ngoại giao Việt Nam, thư việnQuân đội, Viện lịch sử quân sự đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình tìmkiếm, tổng hợp, nghiên cứu tài liệu phục vụ cho quá trình làm luận văn

Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những người thân trong giađình, bạn bè đã tạo điều kiện, khích lệ, động viên tác giả trong suốt thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2015

Học viên

Nguyễn thị Hương

2

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục luận văn 9

CHƯƠNG 1: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VỊ THẾ CỦA VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ 10

1.1 Vị trí chiến lược của Việt Nam 10

1.1.1 Vị trí địa chính trị 10

1.1.2 Vị trí địa kinh tế 13

1.2 Dân cư và truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam 17

1.2.1 Dân cư 17

1.2.2 Truyền thống lịch sử 18

1.3 Bối cảnh lịch sử Việt Nam thời kì 1954-1975 20

1.4 Quan điểm của các nước lớn trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam trước năm 1954 21

1.4.1 Quan điểm của Pháp 21

1.4.2 Quan điểm của Mỹ 26

1.4.3 Quan điểm của Anh 29

1.4.4 Quan điểm của Trung Quốc 30

1.4.5 Quan điểm của Liên Xô 35

Tiểu kết chương 1 38

Trang 6

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ GIỮA CÁC NƯỚC LỚN TRONG VIỆC GIẢI

QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆT NAM THỜI KÌ 1954-1975 39

2.1 Quan hệ Mỹ - Anh – Pháp 39

2.2 Quan hệ Mỹ - Xô 43

2.3 Quan hệ Mỹ - Trung 54

2.4 Quan hệ Xô – Trung 61

2.5 Quan hệ Mỹ - Xô – Trung 69

Tiểu kết chương 2 74

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ GIỮA CÁC NƯỚC LỚN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆT NAM THỜI KÌ 1954 – 1975 75

3.1 Đặc điểm 75

3.2 Tác động 86

3.2.1 Đối với công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc 86

3.2.2 Đối với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ ở Miền Nam 92

3.2.3 Đối với tiến trình cách mạng Việt Nam sau năm 1975 99

Tiểu kết chương 3 102

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Năm 1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève về chấmdứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết và có hiệu lực Tuynhiên, Hiệp định Genève ký chưa ráo mực, đế quốc Mỹ nhanh chóng tìm cách hấtcẳng Pháp, lập nên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam và thôngqua chính quyền đó để phá hoại sự nghiệp cách mạng, âm mưu chia cắt đất nướcViệt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự của

Mỹ - tiền đồn để ngăn chặn CNXH lan tràn ở khu vực Đông Nam Á Như vậy, vừakết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam đãphải bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược Đảng Lao động ViệtNam thời kì 1954 – 1975 phải tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cáchmạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.Nhân dân Việt Nam phải đương đầu với đế quốc hùng mạnh nhất, giàu có nhất, vớinhững âm mưu nham hiểm và thủ đoạn hết sức tàn bạo Cuộc chiến tranh kéo dàiqua năm đời tổng thống Mỹ với một tương quan lực lượng chênh lệch không có lợicho phía Việt Nam cả về tiềm lực kinh tế và quân sự Chiến tranh Việt Nam trởthành một bộ phận của chiến tranh lạnh, là nơi đọ sức điển hình và thu hút sự canthiệp của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các cường quốc Song bằng sự quyếttâm, lòng dũng cảm, tinh thần chiến đấu anh dũng và trí tuệ con người Việt Nam,nhân dân Việt Nam đã chiến đấu và chiến thắng thật oanh liệt khiến cả thế giới phảitrầm trồ thán phục Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 –1975) là thắng lợi không chỉ của riêng nhân dân Việt Nam mà là thắng lợi chungcủa các lực lượng tiến bộ, hòa bình, dân tộc, dân chủ trên toàn thế giới, cổ vũ mạnh

mẽ tinh thần đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc Thắnglợi đó có một phần công lao rất lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN.Song nguyên nhân trên hết là do sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, đường lốilãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam Việt Nam đã phát huytruyền thống dân tộc, thực hiện đường lối độc lập tự chủ, tận dụng cơ hội, giải quyết

Trang 8

khéo léo mối quan hệ với các nước lớn, hạn chế những tác động xấu từ các mốiquan hệ quốc tế, đặc biệt là trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Trung ngày càng lêncao, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước XHCN, của các lực lượng hòa bình, dân tộc,dân chủ, tiến bộ trên thế giới, vượt qua trở lực của những mối quan hệ quốc tế phứctạp, sự lệ thuộc, …chủ động phát huy những lợi thế, sức mạnh dân tộc để giànhthắng lợi Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam đã làmđảo lộn cục diện quan hệ quốc tế, phá vỡ ý đồ, âm mưu câu kết, dàn xếp của cácnước lớn với những toan tính riêng trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam.

Thực chất những toan tính của các nước lớn là gì? Sự dàn xếp hay mâu thuẫugiữa các nước lớn trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam, đặc biệt là cuộc chiếntranh Việt Nam thời kì 1954 – 1975 là gì? Mối quan hệ phức tạp giữa các nước lớn

đó có tác động như thế nào đến tình hình cách mạng Việt Nam? Đó là những vấn đềđặt ra rất cần được nghiên cứu và giải quyết một cách thỏa đáng, tạo cơ sở lý luậncho sự nhận thức đúng đắn về một số vấn đề của lịch sử cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước (1954-1975) của Việt Nam và về lịch sử quan hệ quốc tế thời kì này.Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế, đa phương hóa, đadạng hóa các quan hệ quốc tế trong bối cảnh quan hệ quốc tế có nhiều diễn biếnphức tạp Do đó, nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề trên sẽ rút ra được những bàihọc lớn trong công tác đối ngoại của Việt Nam hiện nay

Đặc biệt với vai trò là một giáo viên Lịch sử ở phổ thông, cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước (1954-1975) của dân tộc là một nội dung rất quan trọng trongchương trình lịch sử phổ thông nên việc nghiên cứu vấn đề này sẽ rất hữu ích chotác giả trong quá trình giảng dạy, góp phần nâng cao nhận thức về lịch sử cuộckháng chiến chống Mỹ và có thêm nhiều cơ sở tư liệu cung cấp cho bài giảng nhằmnâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn vấn đề “Việt Nam trong quan hệ quốc tế thời kì 1954 – 1975” để làm đề tài luận văn của mình.

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy đây là vấn đề thu hút sự quan tâmnghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước Đã có một số công trình nghiêncứu của các học giả trong và ngoài nước ít nhiều đề cập đến vấn đề này ở nhữngkhía cạnh và mức độ khác nhau

Trước hết phải kể đến một số cuốn sách chuyên khảo về lịch sử ngoại giaoViệt Nam như: “Mặt trận ngoại giao thời kì chống Mỹ cứu nước 1965 – 1975” củaNguyễn Duy Trinh (Nhà xuất bản Sự thật, 1979), “Năm mươi năm ngoại giao ViệtNam Tập I” của Lưu Văn Lợi (Nhà xuất bản Công an nhân dân, 1996), “Ngoại giaoViệt Nam 1945 – 2000” của Đại sứ Nguyễn Đình Bin (Nhà xuất bản Chính trị quốcgia, 2002), và nhiều cuốn sách viết về đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời

kì kháng chiến chống Mỹ Các cuốn sách này đã cho ta thấy cục diện quan hệ quốc

tế, đặc biệt là quan hệ giữa các nước lớn liên quan trực tiếp tới vấn đề Việt Nam vànghệ thuật đấu tranh ngoại giao của Việt Nam trong thời kì 1954 – 1975

Cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” của BộNgoại giao (Nhà xuất bản Sự thật, 1981) đã cho chúng ta hiểu sâu sắc về mối quan

hệ Việt Nam và Trung Quốc, Việt Nam trong con mắt của những nhà lãnh đạoTrung Quốc và chiến lược toàn cầu của Trung Quốc

Cuốn “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước” gồm chín tập của Viện Lịch

Sử Quân sự Việt Nam, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành lần lượt quacác năm 1995, 1996, 1997, 1999, 2001, 2002, 2007, 2008, 2009 đã cho chúng ta cáinhìn toàn diện về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phần nào giúp chúng tahiểu cục diện quốc tế sau năm 1954 và đường lối kháng chiến của Đảng trong tìnhhình quan hệ quốc tế có sự biến đổi

Cuốn “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, tác động củanhững nhân tố quốc tế” của Nguyễn Khắc Huỳnh do Nhà xuất bản Chính trị Quốcgia phát hành năm 2010 cũng đã cho chúng ta cái nhìn khái quát về quan hệ quốc tếsau chiến tranh thế giới thứ hai, và mối quan hệ giữa các nước lớn về vấn đề chiến

Trang 10

tranh Việt Nam Qua đó thấy được đường lối đối ngoại chủ động, linh hoạt, sáng tạocủa Việt Nam trước những mối quan hệ quốc tế phức tạp thời kì 1954 – 1975.

Cuốn “Các nước XHCN ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ” củaNguyễn Thị Mai Hoa (Nxb Chính trị quốc gia, 2013) đã phần nào cho chúng ta biết

rõ hơn sự ủng hộ về tinh thần, vật chất và mặt trái của sự ủng hộ đó của các nướcXHCN, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ củanhân dân Việt Nam và tác động của nó tới tiến trình cách mạng Việt Nam

Bên cạnh đó còn có một số các công trình khác dưới dạng luận văn, bài nghiêncứu đăng trên các tạp chí đề cập tới một vài khía cạnh của cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước (1954-1975) nói chung và vấn đề mà đề tài nghiên cứu nói riêng đãđược công bố Tiêu biểu như:

Luận văn thạc sĩ của tác giả Vũ Thị Hồng Chuyên về đề tài “Quan hệ Liên Xô– Việt Nam trong thời kì 1950 – 1975” (Trường ĐHSP Hà Nội, 2004) đã đề cậpđến quan hệ Liên Xô - Việt Nam qua từng giai đoạn của thời kì 1950 – 1975 trêncác lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa – giáo dục Qua đó giúp chúng ta cócái nhìn toàn diện hơn về quan hệ Xô – Việt trong thời kì kháng chiến chống Mỹcứu nước (1954-1975)

Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Thị Thiều Hoa với đề tài “Trung Quốc vớicuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của Việt Nam giai đoạn 1965 – 1975”(Trường ĐHSP Hà Nội, 2008) đề cập tới chiến lược toàn cầu của Trung Quốc ở khuvực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng, qua đó thấy được những toantính của Trung Quốc trong việc giúp đỡ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ giai đoạn1965-1975 và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trên các mặt chính trị, kinh tế, quân

sự, giáo dục – đào tạo thời kì này

Luận văn thạc sĩ của Bùi Thị Thùy Dương với đề tài “Vai trò của các nước lớntrong hội nghị Genève về Đông Dương 1954” (Trường ĐHSP Hà Nội, 2010) đãlàm sáng tỏ quan điểm của các nước lớn về vấn đề Đông Dương nói chung và ViệtNam nói riêng, sự tính toán, dàn xếp của các nước lớn tại Hội nghị Genève về vấn

đề Việt Nam và Đông Dương

Trang 11

Luận văn thạc sĩ của tác giả Khương Thị Hà với đề tài “Chính sách của Liên

Xô đối với Việt Nam (1950-1991)” (Trường ĐHSP Hà Nội, 2010) đã hệ thống cácchính sách của Liên Xô với Việt Nam qua từng giai đoạn trên các lĩnh vực kinh tế,chính trị, quân sự, văn hóa và lí giải tại sao Liên Xô lại đưa ra những chính sáchkhác nhau ở từng giai đoạn của thời kì 1950-1991

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Tuấn với đề tài “Mâu thuẫn Xô –Trung và đối sách của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”(Học viện Ngoại giao, 2014) đã đề cập một cách ngắn gọn quan hệ Việt – Xô, Việt– Trung qua từng giai đoạn của thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) và quan điểm của Liên Xô, Trung Quốc về vấn đề chiến tranh Việt Nam(1954 - 1975) Qua đó thấy được mâu thuẫn Xô – Trung về vấn đề Việt Nam thời

kì 1954 – 1975 và đối sách của Việt Nam trong bối cảnh mâu thuẫn Xô – Trungngày càng lên cao

Ngoài ra còn có rất nhiều các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyênngành như: “Âm mưu của Trung Quốc từ Điện Biên Phủ đến Genève” của NguyễnAnh Thái (tạp chí nghiên cứu Lịch sử số 6, năm 1983), “Một số tư liệu về cuộckháng chiến chống Mỹ” của Lưu Văn Trác (tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2, năm1985), “Bàn về quan hệ Việt – Trung” của Phan Doãn Nam (tạp chí Nghiên cứuQuốc tế, số 18, năm 1997), “Đấu tranh ngoại giao góp phần giải phóng hoàn toànmiền Nam, thống nhất đất nước” của Vũ Dương Huân (tạp chí Nghiên cứu Quốc tế

số 32, năm 2000), “Mặt trận ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunước” của Lương Viết Sang (tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 4, năm 2003), “Cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi vĩ đại của bản lĩnh trí tuệ Việt Nam” của

Võ Nguyên Giáp (tạp chí Cộng sản số 8, năm 2005, “Tác động của chiến tranh ViệtNam đối với việc Mỹ triển khai hoạt động “ngoại giao tam giác” với Liên Xô vàTrung Quốc giai đoạn 1969 – 1972” của Phạm Thị Thu Hương (tạp chí Nghiên cứuLịch sử số 2, năm 2011),…Các bài viết này giúp chúng ta nhận thức về cuộc khángchiến chống Mỹ, về hoạt động ngoại giao của Việt Nam trong thời kì 1954 – 1975,

Trang 12

đặc biệt là mối quan hệ Việt Nam với Trung Quốc, qua đó thấy được bản chất, âmmưu của Trung Quốc.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam không chỉđược các học giả trong nước quan tâm mà còn nhiều các học giả nước ngoài tìmhiểu và nghiên cứu Hầu hết họ đều muốn tìm ra câu trả lời: Tại sao Việt Nam lại cósức hút mạnh mẽ như vậy đối với các nước lớn? Tại sao Việt Nam – một dân tộcnhỏ bé nghèo nàn lại có thể đánh thắng một đế quốc sừng sỏ nhất thế giới lúc bấygiờ là Mỹ? Tiêu biểu trong số đó có tác phẩm: “Trung Quốc và việc giải quyết cuộcchiến tranh Đông Dương lần thứ nhất” (Nhà xuất bản Thông tin lý luận, 1981) củaFrancois Joyaux do Viện nghiên cứu Lịch sử những vấn đề quan hệ Quốc tế hiệnđại dịch Trên cơ sở tiếp cận nhiều tư liệu quý trong các cơ quan lưu trữ của Pháp,tác giả đã phân tích rất tỉ mỉ về chiến lược, âm mưu, thủ đoạn của Trung Quốc đốivới Việt Nam và vai trò vị trí của Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của TrungQuốc Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu khác như “Giải phẫu một cuộcchiến tranh” của Gbriel Konco do Nguyễn Tấn dịch ( Nhà xuất bản Quân đội nhândân, 2003) Dựa vào những tài liệu mới và sự quan sát thực tế ở Washington, Paris

và những chuyến thăm Việt Nam, Gbriel Konco đã phân tích chi tiết, sâu sắc cácđối tượng trong cuộc chiến tranh, đồng thời trình bày triển vọng của chiến lượcchiến tranh hạn chế của Mỹ trong thế kỉ XX và lập luận rằng mọi sự can thiệp của

Mỹ trong tương lai chắc chắn sẽ phải chịu kết quả tai hại như ở Việt Nam “Xungđột và mâu thuẫn của Trung Quốc – Liên Xô trong vấn đề viện trợ Việt Nam chốngMỹ” của Lý Đan Tuệ do Nguyễn Hữu Tâm (Viện Sử học) dịch (tạp chí Nghiên cứuLiên Xô – Trung Quốc đương đại số 3, năm 2000), “Liên bang Xô Viết và chiếntranh Việt Nam” của I.V Gaiduck do Trần Quý Thắng và Trần Văn Liên dịch ( Nhàxuất bản Khoa học và kĩ thuật, năm 1998),…

Nhìn chung đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề vị thếcủa Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của các nước lớn hay quan hệ giữa một sốcặp nước lớn trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam tại Hội nghị Genève (1954) vàtrong cả thời kì 1954 – 1975, hay tình hình cách mạng Việt Nam (1954 – 1975)

Trang 13

dưới tác động của quan hệ quốc tế thời kì này….Tuy nhiên cho đến nay chưa cócông trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống về vị thế của Việt Nam trong mốiquan hệ tổng thể, đa chiều, phức tạp giữa các nước lớn trên thế giới thời kì 1954 –

1975 và ảnh hưởng của mối quan hệ đó đối với tình hình cách mạng Việt Nam cũngnhư lập trường quan điểm của Việt Nam trong việc giải quyết các mối quan hệ đó

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Việt Nam trong ý đồ, chiến lược toàn cầucủa các nước lớn và mối quan hệ giữa các nước lớn trong việc giải quyết vấn đềViệt Nam thời kì 1954 – 1975

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài không có tham vọng đề cập đến quan hệ quốc tếcủa tất cả các nước, các tổ chức quốc tế thời kì 1954 – 1975 liên quan đến vấn đềViệt Nam mà chủ yếu tập trung đi sâu nghiên cứu về vị thế của Việt Nam trongquan hệ quốc tế chủ yếu là quan hệ giữa các nước lớn, quan điểm, thái độ và quan

hệ giữa năm nước lớn (Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc) trong việc giải quyếtvấn đề Việt Nam, và tác động của quan hệ quốc tế này tới cách mạng Việt Namtrong khoảng thời gian từ sau khi Hiệp định Genève được kí kết (21/7/1954) đếnngày miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975)

4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục tiêu: Thông qua nghiên cứu đề tài này, luận văn góp phần làm rõ bảnchất của quan hệ quốc tế (chủ yếu là quan hệ giữa các nước lớn) thời kì 1954 – 1975trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam chính là việc giải quyết các mối quan hệxung đột, mâu thuẫn, hòa hoãn, phức tạp giữa các nước lớn, làm rõ những toan tínhmang tính chiến lược của các nước lớn xung quanh việc giải quyết vấn đề ViệtNam Đồng thời qua đó, luận văn cũng góp phần làm rõ quan điểm, lập trường vàchính sách của Việt Nam trong việc xử lý mối quan hệ với các nước lớn thời kì này

* Nhiệm vụ nghiên cứu: Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn sẽtập trung giải quyết những vấn đề khoa học sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến vị thế của Việt Nam trongquan hệ quốc tế thời kì 1954 – 1975

Trang 14

Thứ hai, quan điểm, thái độ và quan hệ của các nước lớn trong việc giải quyếtvấn đề Việt Nam thời kì 1954 – 1975.

Thứ ba, đặc điểm của quan hệ quốc tế thời kì này và tác động của nó tới cáchmạng Việt Nam

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

* Nguồn tài liệu

Để giải quyết các nhiệm vụ, mục tiêu đề tài đặt ra, luận văn đã khai thác, sửdụng các nguồn tài liệu sau đây:

- Các sách chuyên khảo về lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử ngoại giao ViệtNam, về chiến tranh Việt Nam của các học giả trong và ngoài nước

- Các sách tham khảo, giáo trình về lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử thế giới, vàlịch sử Việt Nam hiện đại

- Các công trình nghiên cứu dưới dạng luận văn, luận án, các bài viết đăng trêncác báo, tạp chí như: Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu Đông Nam Á, Lý luậnChính trị, Châu Mỹ ngày nay, Thông tin tham khảo Quan hệ Quốc tế, Thông tinKhoa học xã hội, Cộng sản, Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Quốc tế, Tài liệu thamkhảo đặc biệt các vấn đề Quốc tế của Thông tấn xã Việt Nam…Ngoài ra, luận văncòn tham khảo một số tài liệu trên các trang web: http://www.chinhphu.vn,http://www.quansuvn.net

* Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả lấy quan điểm biện chứng và quanđiểm lịch sử chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở phương phápluận, đồng thời vận dụng chủ yếu hai phương pháp chuyên ngành là phương pháplịch sử và phương pháp logic kết hợp với các phương pháp tổng hợp, phân tích, sosánh để giải quyết những vấn đề khoa học của đề tài

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu một cách hệ thống và tương đối toàn diện

về vị thế, lập trường của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, các mối quan hệ phức tạpgiữa các nước lớn thời kì 1954 – 1975 trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam

Trang 15

Luận văn phần nào làm rõ những toan tính, ý đồ chiến lược của các nước lớntrong việc giải quyết vấn đề Việt Nam thời kì 1954 – 1975 và chủ trương, đối sáchcủa Việt Nam trong việc xử lý mối quan hệ với các nước lớn thời kì này.

Luận văn bước đầu rút ra những đặc điểm của quan hệ quốc tế thời kì

1954-1975 và đánh giá tác động ảnh hưởng của những mối quan hệ phức tạp này tới tiếntŕnh cách mạng Việt Nam thời kì 1954 – 1975 và những năm sau đó

Luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu vàgiảng dạy về lịch sử quan hệ quốc tế, lịch sử Việt Nam hiện đại nói chung và lịch sửcuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng cũng như thực tiễn công tác đối ngoại củaViệt Nam trong giai đoạn hiện nay

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc

tế thời kì 1954 – 1975 Chương này dài 29 trang, nội dung đề cập đến các yếu tốảnh hưởng tới vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế thời kì 1954 – 1975 như:

vị trí địa chính trị, địa kinh tế, yếu tố dân cư, truyền thống lịch sử của dân tộc ViệtNam và quan điểm của năm nước lớn (Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc, Liên Xô) vềviệc giải quyết vấn đề Việt Nam trước năm 1954

Chương 2: Quan hệ giữa các nước lớn trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam

thời kì 1954 – 1975 Chương này dài 28 trang, nội dung trình bày mối quan hệ giữacác nước lớn trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam thời kì 1954 – 1975 Cụ thể làquan hệ: Mỹ - Anh – Pháp, Mỹ - Xô, Mỹ - Trung, Xô – Trung, Mỹ - Xô – Trung

Chương 3: Đặc điểm của quan hệ quốc tế thời kì 1954 – 1975 và tác động của

quan hệ đó đối với tình hình cách mạng Việt Nam Chương này dài 28 trang, vớichương 3, tác giả đã rút ra những đặc điểm của quan hệ giữa các nước lớn trongviệc giải quyết vấn đề Việt Nam thời kì 1975, qua đó phân tích tác động của nhữngmối quan hệ này tới công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, tới cuộc kháng chiếnchống Mỹ của miền Nam và tới tiến trình cách mạng Việt Nam sau năm 1975

Trang 16

CHƯƠNG 1: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VỊ THẾ CỦA VIỆT NAM

TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

1.1 Vị trí chiến lược của Việt Nam

1.1.1 Vị trí địa chính trị

Trong suốt chiều dài lịch sử từ xa xưa cho đến tận những năm 70 của thế kỉ XX,Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộckhỏi các thế lực bành trướng xâm lược từ phương Bắc, phương Nam và phương Tây.Nếu như trước thế kỉ XIX, các thế lực ngoại xâm tiến hành các cuộc xâm lược chủyếu nhằm khuất phục Việt Nam để biến Việt Nam thành một nước phụ thuộc (nướcchư hầu) hoặc đơn giản hơn là để chiếm đất mở rộng lãnh thổ thì ở thế kỉ XIX, XX,mục đích xâm lược Việt Nam của các thế lực ngoại bang đã có nhiều thay đổi

Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật nổ ra vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đãlàm thay đổi căn bản lực lượng sản xuất, đưa chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự docạnh tranh sang một giai đoạn mới – giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Điều này quyđịnh mục tiêu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc vì lúc này các nước đế quốc đều cónhu cầu lớn về thuộc địa Đối với chủ nghĩa đế quốc, thuộc địa là thị trường tiêu thụhàng hóa, cung cấp nguồn nguyên liệu phục vụ nền công nghiệp chính quốc, nguồnnhân lực rẻ mạt trong các cơ sở đầu tư tại chỗ và nguồn của cải vơ vét qua thuếkhóa, cướp bóc Hơn nữa, thuộc địa còn là cơ sở để nâng cao vị thế của đế quốc trêntrường quốc tế Vì vậy các nước đế quốc đẩy mạnh quá trình xâm chiếm thuộc địa.Bên cạnh mục tiêu khai thác bóc lột tài nguyên thiên nhiên, sức người sức của ởnhững thuộc địa, còn có mục tiêu khác quan trọng hơn là giành lấy những vùng đất

có vị trí chiến lược quan trọng ở những châu lục, những khu vực và mục tiêu nàyngày càng chiếm vị trí chủ đạo vào nửa sau của thế kỉ XX, đồng thời có ảnh hưởngrất lớn đến tư tưởng chính trị của giới cầm quyền ở các cường quốc

Người Pháp khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam cuối thế kỉXIX ngoài mục đích khai thác, bóc lột tài nguyên thiên nhiên, sức người sức củaphục vụ cho nền công nghiệp chính quốc còn có mục đích khác cũng rất quan trọng

là tìm được một bàn đạp để tiến vào Trung Hoa lục địa Người Mỹ khi động viên

Trang 17

một lực lượng quân sự khổng lồ vào miền Nam Việt Nam cũng đưa ra lý do là nhằm

“ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản”, không cho phong trào cách

mạng “đe dọa thế giới tự do”, trước hết ở Đông Nam Á, sau là toàn bộ khu vực

châu Á Không phải ngẫu nhiên các nước đế quốc lại chọn Việt Nam là khu vực đểthực hiện mục tiêu chính trị, quân sự của mình mà do Việt Nam thực sự có một vịtrí chiến lược vô cùng quan trọng Thông thường, các yếu tố địa chiến lược bao gồm

vị trí địa lí và diện tích, dân cư, sức mạnh kinh tế, xã hội Trước hết xét đến yếu tốđịa chính trị

Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ở vị trí gần nhưtrung tâm của khu vực Đông Nam Á, giữa Trung Quốc ở phía Bắc và tiểu lục địa

Ấn Độ bên phía Tây, nằm ngay ven biển Thái Bình Dương và không xa lối thôngsang Ấn Độ Dương Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếpgiáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Cam-pu-chia ở phía Tây; phía Đônggiáp biển Đông Trên bản đồ, dải đất liền Việt Nam mang hình chữ S, kéo dài từ vĩ

độ 23o23’ Bắc đến 8o 27’ Bắc, dài 1.650 km theo hướng Bắc Nam, phần rộng nhấttrên đất liền khoảng 500 km; nơi hẹp nhất gần 50 km [92;tr.10]

Đối với toàn vùng Đông Nam Á, Việt Nam chiếm một vị trí đặc biệt ViệtNam nằm giữa một khu vực địa lý gọi là “Ấn Trung” bao gồm cả vùng rộng lớnMiến Điện, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, bán đảo Mã Lai và dẫy quầnđảo hợp thành các nước Philippin, Indonesia Ở vị trí đó, Việt Nam có ưu thế rõ rệt

là cái cầu nối liền Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo, cũng là nơi màcác dòng sông và các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam từ trung tâmlục địa đổ ra và chấm dứt trên biển cả Từ thời cổ đại, ở khu vực này được các nhàhàng hải, các thương nhân mô tả là một vùng đất cực kì giàu có Nhà văn và nhàkhoa học cổ La Mã Plinius đã viết rằng “đất ở đấy là đất vàng đất bạc” cònPtolemeus – nhà địa lí thành Alexandria – đã phác họa đồ Đông Nam Á như là mộtbán đảo rộng lớn thuộc “Ấn Độ ngoại sông Hằng” và đặt tên là “ Lục địa đảo vàng”[92;tr.10] Do đó khu vực này là cái đích hướng tới của các thương nhân trên thếgiới và Việt Nam là vị trí quan trọng Những di chỉ khảo cổ học ở Óc Eo đã chỉ rõ

Trang 18

điều đó Các thuyền buôn từ nước Trung Hoa cổ đại, từ Java (Indonesia), Mã Lai vàsau này là các thương nhân phương Tây đều tìm đến vùng đất này Việt Nam vì vậy

từ xa xưa đã là nơi giao lưu của các dân tộc, là trạm trung chuyển của các thuyềnbuôn tới Việt Nam rồi từ Việt nam tỏa đi khắp các nước, các vùng khác trong khuvực Đông Nam Á và đi theo đó là các nền văn hóa

Với vị trí ven biển, ba mặt Đông, Nam và Tây – Nam trông ra biển, Việt Namtrở thành cửa ngõ mở lối ra biển thuận lợi cho các nước Lào, Đông Bắc Thái Lan,Campuchia và khu vực Tây Nam Trung Quốc Cũng với vị trí ven biển, Việt Nam

án ngữ một phần quan trọng con đường thông thương chiến lược hàng hải từ ĐôngBắc Á xuống Đông Nam Á, từ Tây Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương và đườnghàng không trực tiếp giữa Thái Bình Dương và Nam Á Ngay từ thế kỉ XVI, XVII,XVIII…nhiều thương thuyền và hạm đội của Trung Quốc, Nga, Hà Lan, Anh, BồĐào Nha, Pháp…đã từng ra vào trú chân ở một số hải cảng Việt Nam

Vị trí địa chiến lược của Việt Nam còn tăng thêm tầm quan trọng do sở hữumột đường bờ biển dài trên 3200 km ở biển Đông, trên bờ có nhiều hải cảng nướcsâu, trước hết là cảng Cam Ranh thuận lợi cho việc di chuyển, cập bến của các loạitàu bè có diện tích và trọng lượng lớn Trong thời đại mà các cường quốc đua nhautranh giành ảnh hưởng trong khu vực Thái Bình Dương, cảng này đã và đang là mốiquan tâm của nhiều nước, đặc biệt là các nước lớn

Thiên nhiên phong phú và vị trí xung yếu của Việt Nam đã luôn luôn làm chocác đế quốc thèm muốn Lịch sử của dân tộc Việt Nam vì thế luôn gắn liền với lịch

sử chống ngoại xâm

Tháng 10 năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhândân Trung Hoa được thành lập, hệ thống XHCN được nối liền từ Âu sang Á Điềunày khiến Mỹ lo sợ chủ nghĩa Cộng sản sẽ lan tràn từ Trung Quốc sang Việt Nam

và các nước Đông Dương tràn sang khu vực Đông Nam Á và toàn bộ châu Á Theogiới cầm quyền Mỹ, nếu coi Đông Nam Á là cái ổ khóa để mở cửa đi vào lục địachâu Á từ phía Nam thì Việt Nam và Đông Dương là cái chìa khóa mở cửa vào gần

Trang 19

nhất Vì vậy, vị trí của Việt Nam càng trở nên quan trọng và trở thành tâm điểmtrong các vấn đề quốc tế lúc bấy giờ

Vì vậy, Mỹ ra sức trợ giúp, chia sẻ trách nhiệm với Pháp trong việc bảo vệ ViệtNam và Đông Dương trước nguy cơ của chủ nghĩa Cộng sản, biến cuộc chiến tranhĐông Dương của Pháp thành bộ phận của chiến tranh lạnh Chiến tranh Triều Tiên nổ

ra, Trung Quốc đưa quân chí nguyện sang tham chiến để chống lại Mỹ Ngay lập tức,

Mỹ xác định vấn đề Triều Tiên, Đài Loan và Đông Dương liên quan mật thiết vớinhau, tác động đến an ninh của Mỹ ở vùng Đông Á – Tây Thái Bình Dương Mỹ xemTrung Quốc là nguồn gốc đe dọa của chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Nam Á ThuyếtDomino đã xây dựng dựa trên quan điểm cho rằng do tác động của Trung Quốc, bất

kì nước nào ở Đông Nam Á rơi vào kiểm soát của cộng sản sẽ dẫn tới nước đó đổ và

đi theo chủ nghĩa Cộng sản Trong chiến lược của Mỹ, chiến tranh Đông Dương đãtrở thành một bộ phận của chiến tranh lạnh và Việt Nam trở thành tiêu điểm củachiến tranh lạnh, là nơi đối đầu của hai khối Đông – Tây thời kì 1954-1975

1.1.2 Vị trí địa kinh tế

Về mặt vị trí địa lý,Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm cónhiệt độ cao và độ ẩm lớn Phía Bắc chịu ảnh hưởng của lục địa Trung Hoa nên ítnhiều mang tính khí hậu lục địa Biển Đông ảnh hưởng sâu sắc đến tính chất nhiệtđới gió mùa ẩm của đất liền Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm không thuần nhất trêntoàn lãnh thổ Việt Nam, hình thành nên các miền và vùng khí hậu khác nhau rõ rệt.Khí hậu Việt Nam thay đổi theo mùa và theo vùng từ thấp lên cao, từ Bắc vào Nam

và từ Đông sang Tây Do chịu sự tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt

độ trung bình ở Việt Nam thấp hơn nhiệt độ trung bình nhiều nước khác cùng vĩ độ

ở Châu Á

Việt Nam có thể được chia ra làm hai đới khí hậu lớn: (1) Miền Bắc (từ đèoHải Vân trở ra) là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt (xuân-hạ-thu-đông),chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc (từ lục địa châu Á tới) và gió mùa ĐôngNam, có độ ẩm cao (2) Miền Nam (từ đèo Hải Vân trở vào) do ít chịu ảnh hưởng

Trang 20

của gió mùa nên khí hậu nhiệt đới khá điều hòa, nóng quanh năm và chia thành haimùa rõ rệt (mùa khô và mùa mưa) [92;tr.74]

Bên cạnh đó, do cấu tạo của địa hình, Việt Nam còn có những vùng tiểu khíhậu Có nơi có khí hậu ôn đới như tại Sa Pa, Đà Lạt; có nơi thuộc khí hậu lục địanhư Lai Châu, Sơn La

Địa hình Việt Nam đa dạng: đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa, phảnánh lịch sử phát triển địa chất, địa hình lâu dài trong môi trường gió mùa, nóng ẩm,phong hóa mạnh mẽ Địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, được thểhiện rõ qua hướng chảy của các dòng sông lớn

Đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ nhưng chủ yếu là đồi núi thấp Địahình thấp dưới 1.000 m chiếm tới 85% lãnh thổ Núi cao trên 2.000 m chỉ chiếm1% Đồi núi Việt Nam tạo thành một cánh cung lớn hướng ra Biển Đông, chạy dài

1400 km, từ Tây Bắc tới Đông Nam Bộ Những dãy núi đồ sộ nhất đều nằm ở phíaTây và Tây Bắc với đỉnh Phan-xi-phăng cao nhất bán đảo Đông Dương (3.143m).Càng ra phía đông, các dãy núi thấp dần và thường kết thúc bằng một dải đất thấpven biển Từ đèo Hải Vân vào Nam, địa hình đơn giản hơn Ở đây không có nhữngdãy núi đá vôi dài mà có những khối đá hoa cương rộng lớn, thỉnh thoảng nhô lênthành đỉnh cao; còn lại là những cao nguyên liên tiếp hợp thành Tây Nguyên, rìaphía Đông được nâng lên thành dãy Trường Sơn

Đồng bằng chỉ chiếm ¼ diện tích trên đất liền và bị đồi núi ngăn cách thànhnhiều khu vực Ở hai đầu đất nước có hai đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu là đồng bằngBắc Bộ (lưu vực sông Hồng, rộng 16.700 km2) và đồng bằng Nam Bộ (lưu vực sông

Mê Kông, rộng 40.000 km2) Nằm giữa hai châu thổ lớn đó là một chuỗi đồng bằngnhỏ hẹp, phân bố dọc theo duyên hải miền Trung, từ đồng bằng thuộc lưu vực sông

Mã (Thanh Hóa) đến Phan Thiết với tổng diện tích 15.000 km2 [92;tr.35]

Sông ngòi: Với khí hậu nhiệt đới mưa nhiều, Việt Nam có một mạng lưới sôngngòi dày đặc (2.360 con sông dài trên 10 km), chảy theo hai hướng chính là Tây Bắc-Đông Nam và vòng cung Hai sông lớn nhất là sông Hồng và sông Cửu Long tạo nênhai vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu Hệ thống các sông suối hàng năm được bổ

Trang 21

sung tới 310 tỷ m3 nước Chế độ nước của sông ngòi chia thành mùa lũ và mùa cạn.Mùa lũ chiếm tới 70-80% lượng nước cả năm và thường gây ra lũ lụt [92;tr.76]

Đất đai, thực vật, động vật:

Đất ở Việt Nam rất đa dạng, có tầng dày lớn, có độ phì cao, rất thuận lợi chophát triển nông, lâm nghiệp Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng đủ, mưa nhiềucộng với địa hình đa dạng như trên đã làm cho Việt Nam có hệ thực vật phong phú,các sản phẩm về nông, lâm, ngư nghiệp cũng hết sức đa dạng, đáp ứng được nhiềunhu cầu của con người (khoảng 14 600 loài thực vật) Lãnh thổ Việt Nam lại ở giữangã ba hội tụ của các hoàn lưu khí quyển, được nhiều hạt giống đưa từ Bắc xuống,Tây sang, Nam lên nên có nhiều loại thực vật, trong đó nhiều loại gỗ quý như lim,lát hoa, mun gụ, trai, cẩm lai, giáng hương…Sản phẩm phụ của rừng cũng rất phongphú, có nhiều loại làm thực phẩm (măng, củ mài, nấm hương, mộc nhĩ); nhiều loạilàm nguyên liệu cho công nghiệp (cọ, móc, song, mây, màng tang, tram) và nhất là

có nhiều loại dược liệu làm thuốc quý…

Nếu thảm thực vật đa dạng phong phú bao nhiêu thì quần thể động vật cũng đadạng bấy nhiêu Trong đó có nhiều loài thú quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ của thếgiới Hiện nay, đã liệt kê được 275 loài thú có vú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 80loài lưỡng thể, 2.400 loài cá, 5.000 loài sâu bọ (Các rừng rậm, rừng núi đá vôi,rừng nhiều tầng lá là nơi cư trú của nhiều loài khỉ, voọc, vượn, mèo rừng Các loàivoọc đặc hữu của Việt Nam là voọc đầu trắng, voọc quần đùi trắng, voọc đen Chimcũng có nhiều loài chim quý như trĩ cổ khoang, trĩ sao Núi cao miền Bắc có nhiềuthú lông dày như gấu ngựa, gấu chó, cáo, cầy ) [92;76]

Về khoáng sản và các tài nguyên trong lòng đất, dưới đáy biển, Việt Namcũng là một nước giàu có vô cùng Không kể dầu mỏ và khí tự nhiên được xếp vàoloại nước có trữ lượng trung bình và đang được các nước khu vực và trên thế giớichú ý tới, các khoáng sản trong lòng đất cũng khá phong phú Việt Nam có đủ loạikhoáng sản, trong đó có một số mỏ có trữ lượng lớn như than, quặng, sắt, bôxítv.v…[92;tr.50-51] Cần phải chú ý rằng, đây là những khoáng sản rất cần thiết đối

Trang 22

với ngành công nghiệp đang phát triển như vũ bão ở các nước trên thế giới từ thậpniên 50 của thế kỉ XX trở đi, đặc biệt là các nước đế quốc lớn.

Bên cạnh đó, Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông, có vùng biển rộng trên 1 triệu

km2 Bờ biển Việt Nam dài trên 3.260 km ở cả 3 hướng: Đông, Nam và Tây Nam,trung bình khoảng 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển (cao gấp 6 lần tỉ lệ này của thếgiới), không một nơi nào trên đất nước ta lại cách xa biển hơn 500 km Ven bờ cókhoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tíchkhoảng 1.700 km2, trong đó, có 3 đảo có diện tích lớn hơn 100 km2, 23 đảo có diệntích lớn hơn 10 km2, 82 đảo có diện tích lớn hơn 1 km2 và khoảng trên 1.400 đảochưa có tên Vì vậy, biển đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớn đến sự phát triểnkinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường

Biển Đông được bao bọc bởi 10 nước và vùng lãnh thổ là Việt Nam, TrungQuốc, Philippin, Inđônêxia, Brunây, Malaixia, Singapo, Thái Lan, Campuchia vàĐài Loan Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống củakhoảng 300 triệu dân của các nước Biển Đông được coi là con đường chiến lược vềgiao lưu và thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốnphía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển.Hầu hết các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đều có các hoạt độngthương mại hàng hải rất mạnh trên Biển Đông Trong tổng số 10 tuyến đường biểnlớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đếnBiển Đông Biển Đông (trong đó có vùng biển Việt Nam) có vị trí địa kinh tế vàchính trị quan trọng như vậy, nên từ lâu đã là nhân tố không thể thiếu trong chiếnlược phát triển không chỉ của các nước xung quanh Biển Đông mà còn của một sốcường quốc hàng hải khác trên thế giới Đó cũng là lý do quan trọng dẫn đến nhữngtranh chấp ở vùng biển này Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên cáctuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương vàThái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản vàcác nước trong khu vực Biển Đông đóng vai trò là chiếc “cầu nối” cực kỳ quantrọng, là điều kiện rất thuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa các

Trang 23

nước trên thế giới với nhau, đặc biệt là với các nước trong khu vực châu Á - TháiBình Dương Nắm được vị trí Việt Nam sẽ tạo cơ hội lớn để phát triển ngành kinh

tế biển – một ngành mang lại những lợi nhuận khổng lồ

Do vị trí địa lý và nguồn tài nguyên phong phú, trên bình diện chính trị, quân

sự và kinh tế, từ lâu Việt Nam ở vào một vị trí chiến lược quan trọng hàng đầu ởĐông Nam Á và trở thành mục tiêu trong chiến lược toàn cầu của các thế lực xâmlược bên ngoài

1.2 Dân cư và truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam

1.2.1 Dân cư

Việt Nam là một đất nước có diện tích nhỏ ở khu vực Đông Nam Á nhưng lại

là nước có dân số đông và ngày càng tăng nhanh qua các năm Năm 1945 có khoảng

23 triệu người, năm 1960: trên 30 triệu người, năm 1965 gần 40 triệu người[92;tr.109] Dân số Việt Nam vào loại trẻ và có sự biến đổi nhanh chóng về cơ cấudân số theo nhóm tuổi Số người trong độ tuổi lao động từ 15 – 59 tuổi chiếm tỉ lệcao (khoảng trên 50% tổng số dân) [92;tr.110] Dân số đông cùng với cơ cấu dân sốtrẻ tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế Việt Nam trở thành nước cónguồn lao động dồi dào và thị trường tiêu thụ lý tưởng Cuối thế kỉ XIX đầu XXcách mạng khoa học kĩ thuật nở rộ làm cho chủ nghĩa tư bản ngày càng phát triển.Nhu cầu về thị trường tiêu thụ và nguồn nhân công rẻ mạt ngày càng lớn và đóngvai trò quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Chính vì vậy, ViệtNam trở thành mục tiêu xâm chiếm của các nước đế quốc

Đặc biệt, do điều kiện tự nhiên đa dạng cũng đã quy định tính cách của conngười Việt Nam Người Việt Nam có sức chịu đựng tốt, cần cù, chịu khó, lao độngkhéo tay, ham học hỏi, tiếp thu nhanh Những đặc tính này đáp ứng được nhu cầukhai thác, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc

Việt Nam là một đất nước có nhiều dân tộc (54 dân tộc) trong đó dân tộc Kinhchiếm tỉ lệ lớn nhất (khoảng 84 % tổng dân số) [92;tr.104] Phân bố dân cư khôngđồng đều giữa các vùng miền, tập trung chủ yếu ở đồng bằng và châu thổ, ở miềnnúi tập trung chủ yếu là các dân tộc thiểu số ít người [92;tr.112] Sự phân bố dân cư

Trang 24

không đồng đều tạo ra sự phát triển không đồng đều về trình độ kinh tế, văn hóa,mức sống chênh lệch lớn giữa các vùng miền Cùng với đó, sự kết hợp của nhiềuthành phần dân tộc trong một quốc gia gây ra những khó khăn trong việc củng cố sựthống nhất, an ninh, chính trị Thêm vào đó, trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu

XX, trình độ dân trí của Việt Nam còn thấp (hơn 90% dân số mù chữ), dễ bị kíchđộng, bị lợi dụng về chính trị Các nước có ý đồ xâm chiếm Việt Nam luôn lợi dụngnhững yếu tố này để thực hiện âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc Việt Nam, dễ

bề xâm lược, cai trị và bóc lột

1.2.2 Truyền thống lịch sử

Lịch sử dân tộc Việt Nam trong quá khứ đầy những biến động, thăng trầm,gặp biết bao phong ba bão tố gắn liền với các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm Conngười Việt Nam đã được thử thách qua nhiều cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm,luôn có tinh thần chiến đấu anh dũng, sẵn sàng hi sinh vì đất nước, vì sự nghiệp giảiphóng dân tộc, giành độc lập tự do

Chỉ tính từ khi có sử liệu ghi chép rõ ràng thì từ cuộc kháng chiến chống quânTần xâm lược đến nay - 22 thế kỷ, dân tộcViệt Nam đã phải trực tiếp kháng chiếnsuốt 13 thế kỷ, trong đó có khoảng 100 cuộc khởi nghĩa quy mô lớn và hơn 10 cuộckháng chiến để giữ nước Trong thời cổ và trung đại, tất cả các triều đại phong kiếnthống trị ở phương Bắc (Tần, Hán, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh) Các

đế chế hùng mạnh lúc bấy giờ đều luôn tìm cách xâm lược và thống trị Việt Nam.Khi không trực tiếp gây chiến tranh xâm lược thì họ cũng thường xuyên nhòm ngó,khiêu khích, lấn chiếm, gây mất ổn định đối với Việt Nam Song không một thời kìnào nhân dân Việt Nam không vùng dậy đấu tranh để giành lấy độc lập tự do Từ

đó, hình thành nên nét văn hóa giữ nước trong từng người dân Việt, với suy nghĩ

“nước mất thì nhà tan” và hình thành quyết tâm đánh giặc giữ nước của mọi tầnglớp nhân dân, bất kể già, trẻ, gái, trai Sang đến thời cận hiện đại sau này, truyềnthống đó tiếp tục được hun đúc, thể hiện rất rõ trong phong trào cách mạng 1930 –

1945 dẫn tới sự ra đời của nhà nước VNDCCH, cuộc kháng chiến chống Pháp 1945

– 1954 với thắng lợi Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”, mở đầu quá trình sụp đổ

Trang 25

của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dântộc ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa ở châu Á, châu Phi, Mĩ Latinh, góp phầnlàm suy yếu lực lượng chủ nghĩa đế quốc.

Trong lịch sử đấu tranh chống xâm lược của dân tộc Việt Nam, các triều đạiphong kiến ở Việt Nam đã rất khéo léo trong việc xử lý mối quan hệ ngoại giao vớicác nước láng giềng, ngay cả thời bình và thời chiến, đặc biệt là đối với Trung Quốc

Do đối tượng đấu tranh của Việt Nam là một nước phong kiến lớn, nên muốn đạtthắng lợi, không chỉ cần sự cứng rắn mà còn cần phải có sách lược khôn khéo, mềmdẻo, hòa hảo Do đó, hai mặt “cương” và “nhu” phải đi liền với nhau Vì vậy, cáctriều đại phong kiến Việt Nam tuy “nuôi dân dựng nước có quy mô riêng, nhưng ởtrong thì xưng đế, mà đối với ngoài thì xưng vương”,bề ngoài tỏ ra “thần phục”, chịunộp cống, “phong hiệu” đều nhằm không để cho phong kiến phương Bắc kiếm cớxâm lược Nhất là sau khi thua trận, do muốn gỡ thể diện của nước lớn, phong kiếnTrung Quốc thường gây lại chiến tranh để phục thù Cho nên, sau mỗi lần chiếnthắng, các vị vua Việt Nam liền cử sứ sang cầu phong, xin nộp cống hoặc nêu vấn đềtrả tù binh…cốt xoa dịu sự căm tức, xấu hổ vì bại trận, mở đường thoát danh dự chovua Trung Quốc Đây là nghệ thuật ngoại giao, lấy chính nghĩa lên hàng đầu để thuphục nhân tâm, làm quân địch tâm phục, khẩu phục đúng như lời Nguyễn Trãi kết ra:

“ Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

Lấy chí nhân để thay cường bạo” (Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)

Những hành động ngoại giao của các nhà vua phong kiến Việt Nam lúc bấygiờ không hề làm tổn hại các quyền lợi tối cao của dân tộc, trái lại còn tạo điều kiệnthuận lợi cho nhân dân Việt Nam xây dựng lại đất nước, ổn định cuộc sống, tránhđược nạn binh lửa liên miên, khôi phục quan hệ hòa hiếu giữa hai nước Đây làtruyền thống ngoại giao hòa hảo của dân tộc Việt Nam từ bao đời nay, nhằm giữyên bờ cõi, nền độc lập tự chủ, chăm lo đời sống của nhân dân, tránh nạn binh đao,khói lửa Truyền thống này tiếp tục được phát huy ở những thế kỉ sau đó và cho đếntận ngày nay Điều này được biểu hiện rõ trong quá trình đấu tranh ngoại giao tronghai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thời kì hiện đại

Trang 26

1.3 Bối cảnh lịch sử Việt Nam thời kì 1954-1975

Việt Nam là cầu nối giữa hệ thống XHCN với vùng Đông Nam Á đang sôi sụccách mạng Sau khi đánh thắng thực dân Pháp, Việt Nam là ngọn cờ cổ vũ mạnh mẽphong trào giải phóng dân tộc trên khắp các lục địa Á, Phi, Mĩ Latinh

Trong lúc đó, cuộc Chiến tranh Lạnh đang lan rộng ra khắp châu Á, cuộc tranhgiành ảnh hưởng giữa hai phe XHCN và TBCN diễn ra gay go, ác liệt Các nước đếquốc thì lo sợ phong trào cách mạng Việt Nam phát triển mạnh sẽ ảnh hưởng đếnphong trào cách mạng ở châu Á và thế giới Còn các nước Liên Xô, Trung Quốc thìmuốn thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam phát triển để cổ vũ phong trào cáchmạng thế giới, tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc, mở rộng phạm vi của hệ thống XHCN.Như vậy Việt Nam trở thành nơi đọ sức giữa các cường quốc lớn Vấn đề Việt Namkhông còn của riêng nhân dân Việt Nam mà trở thành một vấn đề trung tâm trênbàn cờ chính trị thế giới Điều này càng trở nên quan trọng do Việt Nam có một vịtrí chiến lược quan trọng ở khu vực Đông Nam Á

Từ cách nhìn trên đây, ngay sau khi Hiệp định Genève được kí kết và đi vàothực thi, Mỹ đã thay chân Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam, dựng lên chínhquyền tay sai Ngô Đình Diệm Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là tiêu diệt bằngđược phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân Việt Nam, thôn tính miềnNam, chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới

và căn cứ quân sự của Mỹ, lập một phòng tuyến ngăn chặn CNXH lan xuống ĐôngNam châu Á, đồng thời lấy miền Nam làm căn cứ để tiến công miền Bắc, tiền đồncủa hệ thống XHCN ở Đông Nam Á, hòng đè bẹp và đẩy lùi CNXH ở vùng này,bao vây và uy hiếp các nước XHCN Năm đời tổng thống Mỹ kế tiếp nhau đã theođuổi âm mưu ấy bằng các chiến lược thực dân kiểu mới (1954-1960) và chiến lượcchiến tranh thực dân kiểu mới với các chiến lược (chiến tranh đặc biệt, chiến tranhcục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh), đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại miềnBắc làm dán đoạn và ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc ViệtNam (1961-1975) Chiến tranh Việt Nam lúc này trở thành tâm điểm của thế giới,của các quan hệ quốc tế, là nơi đọ sức điển hình của các lực lượng cách mạng và

Trang 27

phản cách mạng, là vấn đề thu hút quan tâm của toàn thể nhân loại, đặc biệt là cácnước lớn Mỗi bước phát triển của cách mạng Việt Nam đều ảnh hưởng đến cụcdiện quốc tế, đến phong trào cách mạng trên toàn thế giới Vì vậy, việc giải quyếtvấn đề Việt Nam được nhiều quốc gia chú ý tới, đặc biệt là các nước lớn và giữa haiphe XHCN và TBCN Các phe phái, các nước lớn đều muốn dùng Việt Nam làmcon bài để phục vụ cho lợi ích quốc gia, dân tộc mình Song dưới sự lãnh đạo sángsuốt, độc lập, tự chủ của Đảng Lao động Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã vượt quamọi khó khăn, ứng phó linh hoạt, sáng tạo trước những quan hệ phức tạp để đi đếnthắng lợi cuối cùng, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước trong năm 1975.

1.4 Quan điểm của các nước lớn trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam trước năm 1954

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, so sánh tương quan lực lượng trên thếgiới thay đổi, phá vỡ mối quan hệ quốc tế trong thời kì trước đó Tình hình lựclượng và khả năng của các nước lớn trên chiến trường cũng có những thay đổi, thểhiện trong phạm vi ảnh hưởng của các nước lớn trong quan hệ quốc tế

Cuộc chiến tranh ở Đông Dương lúc này không chỉ liên quan đến thực dânPháp và nhân dân ba nước Đông Dương mà nó còn chịu tác động và ảnh hưởng củacác mối quan hệ quốc tế chồng chéo Cuộc chiến tranh Đông Dương bị chi phối bởicuộc Chiến tranh Lạnh đang lan rộng toàn cầu Các nước lớn trên thế giới đều ítnhiều quan tâm đến khu vực này Quan điểm của các nước lớn trong việc giải quyếtvấn đề Đông Dương nói chung và vấn đề Việt Nam nói riêng vừa có điểm chung lại

có điểm riêng tùy thuộc vào khả năng và mức độ liên quan của từng nước

1.4.1 Quan điểm của Pháp

Chiến tranh thế giới thứ hai đã để lại cho nước Pháp một hậu quả nặng nề trêntất cả các mặt, đặc biệt là về kinh tế Tổn thất về kinh tế lên đến 1400 tỉ Phrăng,tương đương với tổng giá trị sản xuất của nước Pháp trong vòng ba năm trước chiếntranh Diện tích thuộc địa bị thu hẹp đáng kể Trong 5 năm đầu sau chiến tranh(1945-1950), nước Pháp đứng trước nhiều khó khăn Cũng như nhiều nước châu Âukhác, Pháp phải nhận viện trợ của Mỹ qua kế hoạch “phục hưng châu Âu” do

Trang 28

Macsan đề xuất với số tiền là 3,1 tỉ USD Cùng với đó là âm mưu tái chiếm lại cácvùng thuộc địa đã bị mất trong chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó có Việt Namvốn là vùng đất thuộc địa từ lâu của Pháp.

Trong thời gian diễn ra chiến tranh thế giới thứ hai, sau khi bị phát xít Đứcxâm lược, chiếm đóng miền Bắc nước Pháp và dựng lên chính quyền thân Đức ởphía Nam do Pétain cầm đầu (6/1940), chỉ có một bộ phận nhỏ trong chính phủPháp do De Gaule chỉ huy chạy ra nước ngoài tổ chức lực lượng, mua sắm vũ khí,tiếp tục chống phát xít Đức Trong khi đó, chủ nghĩa quân phiệt Nhật hướng tầmnhìn về khu vực Đông Nam Á – Thái Bình Dương Khi Nhật mở cuộc tiến côngxuống Đông Nam Á thì các nước thực dân da trắng đều bỏ chạy Cuộc “hành quânphương Nam” của quân đội Nhật hoàng giành thắng lợi chỉ trong vòng 3 tháng.Riêng Đông Dương là một trường hợp ngoại lệ Vì khi Đức chiếm đóng Pháp thìchính quyền thân Đức Pétain đương nhiên đứng về phe trục phát xít Viên đô đốcDecoux (chính quyền thân Đức) được cử sang làm Toàn quyền Đông Dương thaytướng Catroux (người đi theo xu hướng chống phát xít, sau khi tách rời ĐôngDương đã sang Anh để cộng tác với De Gaule) Vì vậy, quá trình chiếm đóng ĐôngDương của phát xít Nhật diễn ra không thuận lợi như các vùng khác ở Đông Nam

Á Bằng nhiều sức ép chính trị và quân sự, Nhật từng bước buộc chính quyềnDecoux phải biến Đông Dương thành căn cứ phục vụ chiến tranh của Nhật Tínhđến trước ngày 9/3/1945, chính quyền Decoux trên danh nghĩa vẫn cai trị ĐôngDương nhưng thực ra Pháp đã phải lùi bước và phục vụ các đòi hỏi của Nhật ĐôngDương năm 1940 rơi vào quỹ đạo của Nhật Bản trong khi vẫn nằm dưới sự quản líhành chính của Pháp

Như vậy, lợi dụng sự thất bại của Pháp ở châu Âu, phát xít Nhật từng bướcnhảy vào xâm lược Đông Dương, chính quyền Pháp từng bước bị hất cẳng ra khỏiĐông Dương Nhưng De Gaule không chấp nhận sự thực này Vì vậy, ngoài côngcuộc kháng chiến chống Hitler, De Gaule còn muốn xác định vai trò của Pháp nhưmột cường quốc trên thế giới bằng cách thâu hồi các thuộc địa cũ ở châu Á và châuPhi Để làm được điều đó, De Gaule phải tích cực tham gia chống phát xít, giải

Trang 29

phóng chính quốc và dùng nhiều thủ đoạn, những lời lẽ mị dân “giải phóng ĐôngDương” được tuyên truyền để che đậy âm mưu xâm lược của mình.

Ngay sau khi Nhật tấn công Pear Harbour (Trân Trâu Cảng) ngày 7 tháng 12năm 1941, Pháp cũng ra tuyên cáo khai chiến với Nhật cùng với Hoa Kỳ và Anhquốc, dù không được mời Đối với De Gaule, việc tham gia vào mặt trận Thái BìnhDương là một cơ hội để tái xác định vị trí cường quốc của Pháp Tháng 7 năm 1943,

De Gaule chủ trương rằng “chiến dịch có ưu tiên cao nhất sau khi giải phóng chínhquốc là giải phóng Đông Dương” [85;tr.21-22] Trong quan niệm của De Gaule vànhững người cộng sự, việc giải phóng nước Pháp khỏi chủ nghĩa phát xít đồngnghĩa với việc “giải phóng” toàn bộ đế quốc Pháp bao gồm nước Pháp và các thuộcđịa của Pháp Họ cho rằng Pháp là “mẫu quốc” có trách nhiệm đối với “các đứacon” thuộc địa của mình và các thuộc địa cũng có nghĩa vụ đối với “mẫu quốc”.Quan niệm “giải phóng” ở đây không bao hàm nội dung giải phóng thuộc địa khỏiách thống trị thực dân của Pháp Theo quan điểm của De Gaule, Đông Dương làmột bộ phận của nước Pháp và ông ta trước sau đều khẳng định sẽ tái lập nhữngquyền lợi của nước Pháp ở thuộc địa này

Từ giữa năm 1944, cùng với đà phản công của các lực lượng Đồng minh trênđất Châu Âu, De Gaule đưa quân đổ bộ về nước Pháp Tháng 8 năm 1944, Parisđược giải phóng, chính phủ lâm thời nước Pháp do De Gaule làm chủ tịch đượcthành lập Nhưng tình hình Đông Dương và Việt Nam không thuận lợi như DeGaule tính toán Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, Pháp bị hạ bệ, hất cẳng rakhỏi Đông Dương Chính phủ lâm thời Pháp thấy không thể không công bố chínhsách về Đông Dương và ra bản “Tuyên bố ngày 24/3/1945 về Đông Dương” Đây làbản tuyên bố cực kì quan trọng, cho thấy lập trường của họ về vấn đề Việt Nam vàĐông Dương Nội dung của bản Tuyên bố như sau: “Liên bang Đông Dương hợpvới nước Pháp và các bộ phận khác của cộng đồng thành một Liên hiệp Pháp màquyền lợi bên ngoài sẽ do Pháp đại diện Trong Liên hiệp đó Đông Dương sẽ đượchưởng nền tự do riêng Người dân Đông Dương sẽ là công dân Đông Dương vàcông dân Pháp…”[85;tr.53-54] Như vậy, Liên bang Đông Dương là “cái nút” thắt

Trang 30

chặt vận mệnh Đông Dương vào quyền lực của nước Pháp Liên bang đó bao gồmngười của 5 xứ Đông Dương và cả những người Pháp cư trú ở Đông Dương; chínhphủ do một toàn quyền người Pháp đứng đầu có vai trò “trọng tài” của tất cả các lợiích; một quốc hội chỉ có quyền biểu quyết về thuế khóa và những dự luật mà khôngbàn đến các vấn đề chính trị trọng đại của đất nước Các nước Đông Dương sẽ cùngnước Pháp và các thuộc địa Pháp lập nên khối Liên hiệp Pháp, ở đó Pháp là đại diệnquan hệ với bên ngoài Có nghĩa là các nước thuộc Liên bang Đông Dương không

có quyền đối ngoại, không có tiếng nói của mình trên trường quốc tế Chính phủlâm thời Pháp đã dùng những lời lẽ của triết lý thực dân hòng lý giải ý đồ “trở lạixâm lược Đông Dương” mà trọng tâm then chốt là Việt Nam, ngụy biện cho âmmưu xâm lược của mình

Ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, để bình thường hóa quan hệgiữa các nước thắng trận, một trong những vấn đề quan trọng là cần phải kí kết cáchòa ước giữa các nước với nhau Từ ngày 17/7 đến ngày 2/8/1945, những ngườiđứng đầu ba nước Trung Hoa Dân Quốc, Mỹ, Anh lại nhóm họp ở Potsdam Theotuyên bố Potsdam về Đông Dương, quân đội Trung Quốc giải giáp quân đội NhậtBản ở khu vực Bắc vĩ tuyến 16 và quân đội Anh giải giáp quân đội Nhật ở khu vựcNam vĩ tuyến 16 Về mặt pháp lý, Pháp không còn quyền lực gì ở khu vực ĐôngDương nhưng Pháp đã phản đối vấn đề này và được Anh ủng hộ Từ lâu Anh vẫnluôn ủng hộ Pháp trong vấn đề tái chiếm Đông Dương do Anh và Pháp có nhiềuđiểm tương đồng trong vấn đề thuộc địa và do sợ phong trào đòi độc lập ở đây lansang các thuộc địa của Anh ở Đông Nam Á và Nam Á Ngày 24/8/1945, Pháp vàAnh đạt được một thỏa thuận, theo đó Anh công nhận chủ quyền của Pháp ở ĐôngDương Một tháng rưỡi sau, Anh lại kí với Pháp thỏa ước khác, đồng ý nhườngquyền theo hiệp ước Potsdam ở miền Nam Đông Dương từ vĩ tuyến 16 cho Pháp

Từ đây Pháp ráo riết chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tái chiếm Đông Dương trong đóViệt Nam là trung tâm

Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Lao động Việt Nam, đứngđầu là chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam liên tiếp giành được thắng lợi lớn

Trang 31

trong các chiến dịch: Việt Bắc (1947), Biên giới thu đông (1950), chuyển từ thếphòng ngự sang thế tiến công Trái lại, thực dân Pháp ngày càng bị động đối phó,lún sâu vào thế phòng ngự, bị động Đặc biệt, các chiến dịch tiến công liên tiếp củaquân đội Việt Nam những năm 1951-1953 đã làm cho Pháp liên tiếp thất bại, tìnhthế chiến tranh ngày càng bế tắc, khiến chính phủ Pháp phải tính đến việc tìm cáchkết thúc, thoát ra khỏi cuộc chiến ở Đông Dương sao cho đỡ “mất mặt” nhất.

Để cứu vãn tình thế trên, với sự hậu thuẫn của Mỹ, chính phủ Pháp đã quyếtđịnh cử tướng Navarre sang chỉ huy quân viễn chinh Pháp, với hi vọng cứu vãn tìnhhình, tạo ra cục diện quân sự có lợi cho Pháp khi xúc tiến một giải pháp chính trị kếtthúc chiến tranh Kế hoạch Navarre được đưa ra trên cơ sở của sự cố gắng và nỗ lựclớn nhất của Pháp và sự viện trợ tối đa của Mỹ Nhưng những nỗ lực của Pháp cùngvới sự hậu thuẫn của Mỹ vẫn không thể cứu vãn được thế nguy cho thực dân Pháp.Các chiến dịch tấn công mạnh mẽ và liên tục của quân và dân Việt Nam trong Đông– Xuân 1953-1954 đã làm kế hoạch Navarre bước đầu bị phá sản Từ cuối năm

1953, Navarre tăng cường lực lượng lên Tây Bắc, tập trung xây dựng Điện BiênPhủ thành cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương Tuy nhiên, kế hoạch này cũngkhông đạt được kết quả Ngày 13/3/1954 quân dân Việt Nam bắt đầu chiến dịchĐiện Biên Phủ, để rồi kết thúc 56 ngày đêm với chiến thắng chấn động địa cầu, làmphá sản hoàn toàn kế hoạch Navarre, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranhngoại giao của phái đoàn VNDCCH tại Hội nghị Genève

Bước vào Hội nghị Genève, Pháp hi vọng rằng trong khuôn khổ một cuộc hộinghị quốc tế nhiều bên, Mỹ và Anh sẽ đứng về phía Pháp, tránh được đàm phán trựctiếp song phương với Chính phủ Hồ Chí Minh [19;tr.39-40] Mục tiêu của Pháp làmuốn đạt được một giải pháp đình chiến ít có hại nhất, làm sao không lập Chínhphủ liên hợp, chia cắt Việt Nam, giữ Lào và Campuchia càng nguyên vẹn càng tốt,trong khi hạn chế đến mức tối đa thắng lợi của cách mạng Việt Nam và ĐôngDương Bên cạnh đó Pháp còn có hai mục tiêu quan trọng là bảo toàn quân đội viễnchinh để tiếp tục giữ các thuộc địa còn lại, trấn an dư luận trong nước

Trang 32

Sau sự kiện thất bại ở Điện Biên Phủ, thực dân Pháp dường như vẫn chưa hếtbàng hoàng Nhưng với thái độ của một kẻ hiếu chiến, Pháp đã mở đầu trình bày lậptrường của mình tại Hội nghị Genève Quan điểm của Pháp tại Hội nghị Genève làchỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự mà không giải quyết vấn đề chính trị, tách vấn

đề Lào – Campuchia khỏi vấn đề Việt Nam Để cứu được quân đội viễn chinh, bảođảm sự tồn tại ở Đông Dương các lực lượng chính trị có thể ngăn chặn cộng sảnphát triển, Pháp tập trung vào ba vấn đề lớn và mong muốn:

+ Định giới tuyến ở Việt Nam càng xa về phía Bắc càng tốt;

+ Trì hoãn tối đa thời hạn tuyển cử;

+ Kéo dài thời hạn rút quân Pháp khỏi miền Bắc Việt Nam [44;tr.517]

Tại Hội nghị, Pháp tranh thủ sự ủng hộ của Anh để tạo thế mạnh cho Pháp vàlợi dụng cả sự đe dọa của Mỹ để gây áp lực với Việt Nam; tận dụng ý muốn hòabình của Liên Xô và Trung Quốc để đạt thỏa thuận Vì vậy, mặc dù thất bại trênchiến trường nhưng Pháp vẫn đạt được những thỏa thuận tương đối có lợi cho Pháptại Hội nghị Việt Nam phải chấp nhận vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời,cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức sau một năm và Việt Nam lúc này chỉ giải phóngđược một nửa đất nước, Lào chỉ còn lại hai tỉnh (Sầm Nưa, Phong Xalì) được giảiphóng, Campuchia không còn vùng giải phóng…Tuy nhiên, Pháp cũng phải rútquân đội ra khỏi lãnh thổ Cao Miên, Lào và Việt Nam theo yêu cầu của các Chínhphủ liên quan và trong một thời hạn do các bên thỏa thuận Như vậy, Hiệp địnhGenève đã không phản ánh đầy đủ những thắng lợi của nhân dân Việt Nam trênchiến trường và cũng không phản ánh đúng khả năng cách mạng ba nước ĐôngDương sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ Song đây cũng là thắng lợi ngoạigiao của Việt Nam, kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp có Mỹgiúp sức kéo dài gần 9 năm Thắng lợi và hạn chế của giải pháp Genève đối vớiViệt Nam phản ánh tương quan lực lượng giữa các nước lớn, phản ánh tính phức tạp

về ý đồ chiến lược của các nước đồng minh với Việt Nam trong quá trình đàm phán

1.4.2 Quan điểm của Mỹ

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là quốc gia tư bản duy nhất có thế lựckinh tế và quân sự mạnh mẽ Trong khoảng 15 năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ

Trang 33

hai, trên 2/3 năng lực sản xuất của thế giới tư bản đều tập trung vào Mỹ Tổng sảnphẩm quốc dân của Mỹ tăng đột biến từ 200 tỉ USD năm 1940 lên 300 tỉ USD năm

1950 và đạt 500 tỉ USD năm 1960 Mỹ nắm tới 50 % tàu bè đi lại trên biển và cólượng vàng dự trữ từ 12,79 tỉ USD (năm 1937) lên 24,56 tỉ USD (1949), chiếm 74,3

% trữ lượng vàng thế giới Trong những năm 50 ở Mỹ thường được mô tả là thờiưng ý Kinh tế Mỹ phát triển liên tục [6;tr.241-245]

Với tiềm lực quân sự và kinh tế to lớn, Mỹ đã triển khai chiến lược toàn cầuvới tham vọng chi phối và lãnh đạo thế giới Nhìn vào những hoạt động đối ngoạicủa Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là trong những năm 50, có thể thấy

rõ ba bộ phận cấu thành chính sách đối ngoại của Mỹ: chủ nghĩa chống cộng, sứcmạnh về kinh tế, chính trị, quân sự và chủ nghĩa thực dân kiểu mới Trong ba bộphận cấu thành đó, đế quốc Mỹ dựa rất nhiều vào ưu thế tuyệt đối trong thời gianđầu của Mỹ là sức mạnh của vũ khí nguyên tử và các vũ khí chiến lược khác Mỹ tựgiao cho mình trách nhiệm đảm đương vai trò xung kích trong cuộc đấu tranh chốngchủ nghĩa cộng sản quốc tế Tháng 3 năm 1947, trong bài đọc diễn văn tại Quốc hội

Mỹ, Tổng thống Truman đã công khai nêu lên “sứ mệnh lãnh đạo thế giới tự dochống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản” [6; tr.262-263]

Lúc đầu, mục tiêu hàng đầu của Mỹ trong chiến lược ngăn chặn và đẩy lùi chủnghĩa cộng sản ở châu Á là Trung Quốc Nhưng sau thất bại ở Trung Quốc lục địa

và nhất là sau khi phải chấp nhận ngừng bắn ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ càng chú ýđến vị trí xung yếu ở bán đảo Đông Dương trong việc thực hiện ý đồ chiến lượcnhằm ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc có khuynh hướng tiến lên CNXH ởkhu vực này Giới chiến lược quân sự Mỹ phát hiện thấy lúc này hướng yếu nhấttrong chiến lược của Mỹ ở châu Á là Đông Nam Á, một khu vực rộng lớn tiếp giápvới Trung Quốc ở phía Nam Đây là vùng kiểm soát cửa ngõ ra vào giữa hai biểnThái Bình Dương và Ấn Độ Dương Trong văn kiện NSC51 nhan đề “Chính sáchcủa Mỹ đối với Đông Nam Á” do Bộ ngoại giao Mỹ trình lên Hội đồng an ninh

quốc gia ngày 1/7/1949, có đánh giá: “ở Đông Dương, chính sách của Pháp là đánh

chiếm lại, v.v…nhưng Pháp không thể dùng biện pháp quân sự để tiêu diệt Việt

Trang 34

Minh, tình hình Đông Dương đang xấu đi rất nhiều Cộng sản chiếm vị trí khống chế trong phong trào dân tộc…” [8;tr.93] Sau đó, Tổng thống Truman đã phê chuẩn

một văn kiện của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ, trong đó nhấn mạnh “cần thiết

phải ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản ở Đông Dương” [8;tr.94]

Đông Nam Á trở thành chiến trường quan trọng trong chiến lược của Mỹ ởchâu Á Chiến lược ngăn chặn ở Đông Nam Á coi như chính thức bắt đầu từ đó vàĐông Dương trở thành trọng điểm của chiến lược Đông Nam Á của Mỹ Theo Mỹbảo vệ thành công Bắc Kì Việt Nam là chìa khóa để giữ cho lục địa Đông Nam Á ởtrong tay các lực lượng không cộng sản Vì vậy, Mỹ tăng cường viện trợ cho Pháptrong cuộc chiến tranh Đông Dương

Từ đầu năm 1954, tình hình quân sự của Pháp ở Đông Dương ngày càng xấu

đi thì Mỹ tích cực nghiên cứu vấn đề can thiệp vào Đông Dương Trong bản nghiêncứu của “Ủy ban đặc biệt về mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản” từ 30-1 đến ngày5-4-1954 ghi:

“1 Chính sách của Mỹ là không chấp nhận điều gì khác ngoài một thắng lợi

quân sự ở Đông Dương

2 Lập trường của Mỹ là tranh thủ sự ủng hộ của Pháp đối với lập trường này, nếu không được như vậy, thì Mỹ sẽ kiên quyết phản đối mọi thương lượng tại Genève

3 Trong trường hợp không thực hiện được hai điều nói trên thì Mỹ đề ra các biện pháp cấp bách với chính phủ các nước liên kết, nhằm tiếp tục cuộc chiến tranh ở Đông Dương mà không có sự ủng hộ của Pháp nếu cần thiết Giữa Mỹ và Pháp đã xuất hiện bất đồng, vì người Mỹ cảm thấy chua chát khi tiền và trang thiết bị mà họ cung cấp cho Pháp có nguy cơ mất trắng như đã xảy ra với Tưởng Giới Thạch Vì vậy giới cầm quyền Mỹ đến dự hội nghị Genève chủ yếu chỉ nhằm phá đám” [8;tr.162-

163].

Sau chiến tranh Triều Tiên, Mỹ lo sợ chạm trán với Trung Quốc ở ĐôngDương, Mỹ vận động thành lập khối quân sự Đông Nam Á nhưng cả Anh và Phápđều không đồng ý thành lập trước Hội nghị Genève Đến tháng 2-1954, Mỹ buộc

Trang 35

phải đồng ý triệu tập Hội nghị quốc tế ở Genève để giải quyết hòa bình vấn đề TriềuTiên và thảo luận vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Mỹ đến Hội nghị với thái độ chống đối việc giải quyết hòa bình về vấn đềĐông Dương Với Bản chỉ thị ngày 12/5/1954 của Chính phủ Mỹ cho phái đoàn đại

biểu của họ tại Hội nghị Genève ghi rõ: “Mỹ không sẵn sàng bày tỏ ý kiến tán

thành hoặc ngấm ngầm chấp nhận bất cứ sự đình chiến, sự ngừng bắn hay bất kì một giải pháp nào…”.[44;tr.494 - 495] Để mở đường cho Mỹ thay chân Pháp, phá

hoại hiệp định Genève, ngày 22/7/1954, Tổng thống Mỹ Eisenhower tuyên bố: Hoa

Kỳ không tham dự vào những nghị quyết của Hội nghị Genève và không bị ràngbuộc vào những quyết định ấy Vì vậy, sau thất bại của Pháp ở Đông Dương, Mỹráo riết tập hợp lực lượng nhằm thực thi chiến lược ngăn chặn ở Đông Nam Á Do

đó, Mỹ chỉ thay âm mưu đưa quân vào Đông Dương cứu nguy cho thực dân Phápbằng quyết định gạt Pháp sang một bên, trực tiếp nhảy vào miền Nam Việt Nam,thực thi chính sách xâm lược thực dân kiểu mới, dựng lên ở đây một chính quyền,một quân đội tay sai do tập đoàn Ngô Đình Diệm cầm đầu, hòng biến miền Namthành căn cứ quân sự để chống lại Liên Xô, Trung Quốc, chống nhân dân Việt Nam,

mà Mỹ cho là “sự bành trướng” của chủ nghĩa cộng sản

1.4.3 Quan điểm của Anh

Trước chiến tranh thế giới thứ hai, Anh là nước có nền kinh tế rất mạnh,nhưng vào những năm đầu sau chiến tranh không còn giữ được vai trò quốc tế củamình như trước nữa Hệ thống thuộc địa của Anh bị tan rã không cứu vãn được.Mặc dù Anh còn giữ được mức sản xuất công nghiệp trước chiến tranh, nhưng nềnkinh tế tài chính bị khủng hoảng nghiêm trọng Vì vậy, họ giống như các nước Tây

Âu lúc đó cần phải nhận viện trợ từ phía Mỹ qua kế hoạch “phục hưng châu Âu”.

Đối với Anh, họ có quan niệm giống như Pháp, vì vào thời điểm này (1945)chính họ cũng muốn phục hồi quyền lực của họ tại các thuộc địa ở Á châu như Ấn

Độ, Miến Điện, Mã Lai, Singgapo, Hồng Kông, v.v…Họ sợ rằng nếu để Việt Namđược độc lập, thì các thuộc địa này của họ ở châu Á cũng sẽ theo gương Việt Namvùng lên đòi độc lập, đe dọa nghiêm trọng tới quyền lợi của Anh Vì vậy Anh ủng

Trang 36

hộ Pháp trong cuộc tái chiếm Đông Dương và ngấm ngầm giúp đỡ Pháp tái chiếmĐông Dương dựa vào vai trò là người giải giáp quân đội Nhật ở Nam vĩ tuyến 16.

Đó chính là ý đồ của Anh Trong khi đó vấn đề lo duy trì quyền lợi của mình ởHồng Kông và Trung Hoa lục địa cũng được Anh khá quan tâm trong giai đoạn nàynên Anh đã công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngay từ 6/1/1950 Tuy nhiên,

4 năm sau quy chế đại diện Anh tại Trung Quốc vẫn chưa được quy định Xa hơnnữa, lợi ích của Anh còn là vấn đề “Khối thịnh vượng chung” ở châu Á

Vì vậy, mục tiêu của Anh trong Hội nghị Genève là ra sức ủng hộ Pháp trongkhả năng có thể nhằm ngăn chặn âm mưu mở rộng tầm ảnh hưởng của Mĩ ở khuvực Viễn Đông Việc Anh chấp nhận Trung Quốc tham dự Hội nghị xuất phát từ longại trong việc duy trì quyền lợi của Anh tại Hồng Kông, Trung Quốc lục địa và xahơn nữa là “Khối thịnh vượng chung” châu Á Anh nhận thấy đó là phương thứccần thiết để làm dịu tình hình Viễn Đông, bảo vệ lợi ích của mình trong vùng này vàgiúp Anh tập trung sức mạnh để đối phó các phong trào cộng sản tại các nước thuộcđịa châu Á

Tuy nhiên, trong trật tự thế giới hai cực và khuôn khổ của cuộc Chiến tranhlạnh, một trong những nền tảng cơ bản trong chính sách đối ngoại của Anh làliên minh và phụ thuộc chặt chẽ vào Mỹ trong nhiều vấn đề: mục tiêu chốngCNXH, chống phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhânquốc tế, chạy đua vũ trang, gây tình hình thế giới căng thẳng Anh tích cực thamgia kế hoạch Macsan, khối quân sự NATO, SEATO,… Mặc dù bị Mỹ chèn ép vềquyền lợi ở Trung Đông, châu Á nhưng lợi ích chiến lược của Anh về cơ bản gắnliền với lợi ích của Mỹ nên Anh luôn đứng về phía Mỹ trong mọi hành động,trong đó có việc ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương, tham gia chiếntranh Triều Tiên

1.4.4 Quan điểm của Trung Quốc

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ở Trung Quốc tồn tại hai Đảng: Trung Hoadân quốc và Đảng Cộng sản Trung Quốc Tuy nhiên trong giai đoạn đầu sau chiếntranh thế giới thứ hai (tính trước năm 1949), Đảng Cộng Sản Trung Quốc còn chưa

Trang 37

nắm được chính quyền và đang phải chiến đấu sống còn với lực lượng của TưởngGiới Thạch cho nên quan điểm của Trung Quốc được thể hiện qua hai thời kì: thời

kì chính phủ Trung Hoa dân quốc và thời kì Chính phủ CHDCND Trung Hoa.Theo Hội nghị Potsdam, quân Trung Hoa dân quốc được giao cho trọng tráchgiải giới quân đội Nhật ở Đông Dương trong phạm vi phía Bắc vĩ tuyến 16, chínhphủ Trùng Khánh quyết định nhân cơ hội này ngăn chặn Pháp tái chiếm thuộc địa

cũ và giúp cho các nước Đông Dương trở thành những quốc gia độc lập thân TrungHoa chống cộng sản Lúc đó, mối quan tâm lớn nhất của chính quyền Tưởng GiớiThạch ngoài cuộc đấu tranh chống Nhật là nguy cơ cộng sản Trung Quốc Bởi thế,Tưởng Giới Thạch muốn lấy cảm tình của các nước Đông Dương để được yên tâm

về biên giới phía Nam Tuy nhiên, sau khi được Pháp điều đình với ý định trả lạicho Trung Hoa các nhượng địa và sẵn sàng dành cho một số đặc quyền kinh tế ởViệt Nam thì chính phủ Trùng Khánh lập tức đồng ý để cho Pháp trở lại ĐôngDương Ngoài ra, Tưởng Giới Thạch lúc này cũng nghĩ rằng sự hiện diện của Pháp

ở vùng này, với sự giúp đỡ của Anh và Mỹ, có thể giúp Trung Hoa ngăn chặn được

sự đe dọa của cộng sản

Với dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam và thành lập một chính quyền taysai chống cộng ở Việt Nam, khi kéo quân vào Việt Nam, quân Trung Hoa lúc đầukhông thừa nhận Chính phủ lâm thời của nước VNDCCH Quân Trung Hoa liên tụcgây sức ép với Chính phủ VNDCCH bằng những yêu sách ngang ngược và đe dọadùng vũ lực nếu không được đáp ứng Cụ thể là: yêu cầu kiểm soát lực lượng vũtrang và tự vệ của VNDCCH, yêu cầu cho đặt một sĩ quan chuyên môn của TrungHoa dân quốc tại các Bộ của Chính phủ lâm thời để làm liên lạc mà thực chất làgiám sát các hoạt động của Chính phủ; đòi cung cấp lương thực, thực phẩm, nhà ởcho đội quân chiếm đóng; độc đoán định giá đồng Quan kim bắt Chính phủVNDCCH phải chấp nhận; đòi cho đại diện của Việt Quốc, Việt Cách nhiều chức

vụ quan trọng trong thành phần chính phủ

Như vậy, chính phủ Trung Hoa dân quốc đã lợi dụng cơ hội vào giải giáp quânđội Nhật để thực hiện mục đích riêng của mình Vì vậy, họ đã không có động thái

Trang 38

nào mang tính thiện chí nhằm ngăn cản hành động tái chiếm Đông Dương của thựcdân Pháp Thậm chí, họ còn tiếp tay cho Thực dân Pháp thông qua hiệp ước Pháp –Hoa ngày 28/2/1946.

Tháng 10 năm 1949, cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa nhândân Trung Hoa được thành lập, mở ra một thời kì mới trong lịch sử Trung Quốc Bước vào những năm 50, hoàn cảnh quốc tế trở nên hết sức khó khăn phức tạp

đối với Trung Quốc Để trả đũa việc Trung Quốc kí kết với Liên Xô “Hiệp ước hữu

nghị liên minh Trung – Xô” (2/1950) và đưa quân chí nguyện Trung Quốc vào

Triều Tiên, Mỹ đã kí kết với Nhật Bản “Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật” (9/1951) và

sau đó thiết lập một hệ thống những liên minh quân sự nhiều nước hoặc tay đôi ởchâu Á Thái Bình Dương để bao vây, chĩa mũi nhọn vào Trung Quốc Ở phía Bắc,

Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược Triều Tiên, thúc đẩy Đài Loan chuẩn bị kế

hoạch “phản công lục địa” nhằm thực hiện chính sách “đẩy lùi chủ nghĩa cộng

sản” do tổng thống Eisenhower vạch ra Ở phía Nam, từ năm 1950, Mỹ tăng cường

can thiệp vào chiến tranh Đông Dương với âm mưu biến chiến tranh Đông Dươngthành một cuộc “chiến tranh cục bộ” như kiểu Triều Tiên

Như vậy, từ năm 1950, Trung Quốc ở vào thế bị bao vây cô lập và nền an ninhTrung Quốc bị đe dọa từ nhiều phía nhất là từ phía Bắc và phía Nam Việt Nam donhững biến động của tình hình Triều Tiên và cuộc chiến tranh xâm lược ĐôngDương của Pháp

Ở trong nước, cũng trong thời gian này, Trung Quốc đẩy mạnh phục hồi kinh

tế sau chiến tranh và chuẩn bị bước vào xây dựng đất nước theo những kế hoạchkinh tế dài hạn Tuy nhiên, tình hình xây dựng kinh tế của Trung Quốc lúc này gặpnhiều khó khăn về vốn, kĩ thuật, nhất là những mâu thuẫn tranh chấp quyền lựctrong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc Ngoài ra, với mưu đồ nhanh chóng đưa

Trung Quốc trở thành “phú quốc, cường binh”, những người lãnh đạo Trung Quốc

thấy rằng chỉ dựa vào một mình Liên Xô thì không đủ, mà muốn công nghiệp hóađất nước, giải quyết những khó khăn về kinh tế, tài chính thì chỉ có thể là đi theo

Trang 39

con đường “mở cửa” sang phương Tây, buôn bán và dựa vào sự giúp đỡ vốn, kĩthuật của các nước phương Tây, nhất là sự giúp đỡ của Mỹ

Tóm lại, phá vỡ thế bao vây cô lập và thiết lập các mối quan hệ bình thườngvới các nước phương Tây, giành lại địa vị cường quốc thứ năm trên trường quốc tế,thiết lập vành đai an toàn cho Trung Quốc và tạo cho Trung Quốc một vị thế hòahoãn, ổn định, để tập trung sức lực vào xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng làmục tiêu, đường lối đối ngoại của Trung Quốc lúc này

Cho nên khi Mỹ tấn công Triều Tiên, việc Trung Quốc đưa người sang thamchiến ở Triều Tiên là điều vạn bất đắc dĩ chỉ nhằm bảo vệ an ninh biên giới phíaBắc Điều này trái với ý đồ “bắt tay” với Mỹ từ lâu năm của Trung Quốc

Ở phía Nam, Trung Quốc chủ trương không đưa quân sang tham chiến trựctiếp ở Việt Nam (vì biên giới phía Nam Trung Quốc lúc này chưa bị đe dọa trực tiếp

và Pháp lúc này không phải là kẻ thù của họ) mà chỉ tiến hành giúp vũ khí, trang bịquân sự cho Việt Nam nhưng chỉ trong một khuôn khổ hạn chế vì theo các nhànghiên cứu quân sự Mỹ “Bắc Kinh có vẻ sợ Mỹ có thể trả đũa nếu viện trợ củaTrung Quốc trở nên có hiệu lực và thực ra Bắc Kinh không bao giờ toàn tâm, toàn ýgiúp đỡ Việt Nam cả”[91;tr.29] Trước tình hình Mỹ lăm le trực tiếp nhảy vào ĐôngDương nhằm “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh Đông Dương, khép chặt thêm vòng vâyđối với Trung Quốc, yêu cầu chiến lược của giới cầm quyền Bắc Kinh lúc đó làthông qua viện trợ cho Việt Nam để đẩy lùi nguy cơ đế quốc Mỹ ra xa biên giớiphía Nam Trung Quốc và nắm lấy vấn đề Việt Nam để khi có điều kiện sẽ hướnggiải quyết vấn đề này có lợi cho Trung Quốc, chuẩn bị điều kiện nắm toàn bộ bánđảo Đông Dương, mở đường tiến xuống Đông Nam Á sau này

Bước vào Đông – Xuân 1953-1954, cục diện chiến tranh ở Đông Dương đã đivào giai đoạn quyết định Tình hình so sánh lực lượng trên chiến trường ngày càngtrở nên bất lợi cho Pháp, những khó khăn nghiêm trọng ở trong nước về kinh tế,chính trị, xã hội, phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp chống lại “cuộc chiếntranh bẩn thỉu” ở Đông Dương đã buộc Chính phủ Pháp phải tính đến một giải phápthương lượng để cứu vãn đội quân viễn chinh Pháp thoát khỏi nguy cơ bị tiêu diệt

Trang 40

và rút nước Pháp ra khỏi cuộc sa lầy ở Đông Dương một cách có danh dự Lợi dụng

cơ hội này, tháng 6-1953, Trung Quốc gợi ý với phái đoàn Pháp do Bernard DeBlas dẫn đầu đến thăm Bắc Kinh là cần phải tìm một giải pháp cho cuộc chiến tranh

ở Đông Dương để “trước hết bảo vệ tình hữu nghị Trung – Pháp”[22;tr.19] Ngaysau khi Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được kí kết (27/7/1953), để bật tín hiệu

cho Pháp, Mỹ, xã luận Nhân dân Nhật báo Trung Quốc viết: “không có cuộc xung

đột quốc tế nào không thể giải quyết được bằng thương lượng” Ngày 24/8/1953,

thủ tướng Chu Ân Lai công khai tuyên bố “Các vấn đề khác có thể thảo luận tiếp

sau việc giải quyết vấn đề Triều Tiên” Từ đó cho đến cuối năm 1953, trên đài phát

thanh, báo chí Trung Quốc, cũng như trong tất cả các hội nghị quốc tế, giới lãnh đạoTrung Quốc đã dấy lên một chiến dịch tuyên truyền kêu gọi thương lượng giảiquyết hòa bình ở Đông Dương và cũng qua đó tự “khẳng định” lấy vai trò quantrọng của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề này Trung Quốc công khai

những ý đồ của họ: “không có sự tham gia của CHND Trung Hoa thì không thể

dàn xếp được những vấn đề quốc tế quan trọng nhất là những vấn đề của châu Á.

Do đó, Liên hợp quốc trước hết phải trả lại các quyền lợi chính đáng của CHND Trung Hoa luôn luôn tìm kiếm cách thức khiến cho các căng thẳng quốc tế được giảm bớt nhằm củng cố hòa bình ở viễn Đông và trên thế giới” [91;tr.30] Thừa dịp

này Thủ tướng Pháp Laniel tuyên bố sẵn sàng nắm mọi cơ hội đi đến hòa bình ởĐông Dương và Quốc hội Pháp đã biểu quyết ủng hộ Chính phủ trong việc đi tìmgiải pháp thương lượng

Được sự giúp đỡ, ủng hộ của Liên Xô, Pháp, Trung Quốc được mời tới Hộinghị Genève để bàn về một giải pháp cho chiến tranh Đông Dương, mặc dù chưachính thức nhưng đã ngang hàng với các nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp trêncương vị là một cường quốc Tới đây, Trung Quốc đã từng bước thực hiện được ý

đồ của mình – giành lại vị trí trên trường quốc tế Để củng cố địa vị của mình,cách tốt nhất là tăng cường viện trợ cho Việt Nam, giúp Việt Nam chiến thắng đếquốc Pháp ở Điện Biên Phủ trước khi bước vào Hội nghị Genève với mưu đồ lợidụng Việt Nam như một “con bài” để mặc cả với chủ nghĩa đế quốc, phục vụ cho

Ngày đăng: 05/09/2015, 10:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh cô gái người Mỹ cắm hoa vào nòng súng như một biểu tượng mong - Luận văn: Việt Nam trong quan hệ quốc tế thời kì 1954 – 1975
nh ảnh cô gái người Mỹ cắm hoa vào nòng súng như một biểu tượng mong (Trang 123)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w