1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng nguyên tắc ngoại giao hồ chí minh trong bình thường hóa và phát triển quan hệ của việt nam với hoa kỳ

108 461 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công cuộc đổi mới, tư tưởng ngoại giao của Hồ Chí Minh đã cho Đảng Cộng sản Việt Nam những chỉ dẫn đúng đắn trong việc xác định mục tiêu, hoạch định đường lối, chủ trương chính sác

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ YẾN ( MÀU MẬN CHÍN, 3 QUYÊN,)

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH TRONG BÌNH THƯỜNG HÓA VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI HOA KỲ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ THỊ YẾN

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NGOẠI GIAO

HỒ CHÍ MINH TRONG BÌNH THƯỜNG HÓA VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ CỦA VIỆT NAM VỚI HOA KỲ

Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học

Mã số : 60.31.20.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN ANH CƯỜNG

Hà Nội – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan

Tác giả luận văn

Lê Thị Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện được luận văn của mình, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi

đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của thầy, cô giáo, gia đình và bạn bè

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy hướng dẫn Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường - Người thầy đã hết lòng giúp đỡ, động viên, chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Khoa học Chính trị

đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh/chị học viên cao học chuyên ngành Hồ Chí Minh học, khóa QH-2012 đã nhiệt tình giúp đỡ và luôn bên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình đã luôn sát cánh bên tôi để động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển châu Á

AFTA Khu vực thương mại tự do

APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEM Diễn đàn hợp tác Á - Âu

BTA Hiệp hội thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ BIT Hiệp hội đầu tư song phương

EU Liên minh châu Âu

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

GDP Tổng thu nhập quốc nội

IMF Tổ chức tiền tệ thế giới

NTR Quan hệ thương mại bình thường

ODA Viện trợ phát triển chính thức

OPIC Công ty đầu tư tư nhân hải ngoại

PNTR Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn

POW/ MIA Tù nhân chiến tranh/ Mất tích trong chiến tranh USAID Cơ quan viện trợ phát triển quốc tế Mỹ

USTDA Cơ quan thương mại và phát triển Hoa Kỳ

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

CHƯƠNG 1: NGUYÊN TẮC NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH 8

1.1 Giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, dựa vào sức mình là chính, đồng thời trên cơ sở tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau 8

1.2 Sẵn sàng mở rộng hợp tác với tất cả các nước trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi 14

1.3 Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ nghĩa yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế trong sáng 20

1.4 Kiên định về mục tiêu, linh hoạt về sách lược, luôn giữ thế tiến công nhưng biết nhân nhượng, thỏa hiệp đúng lúc, giữ vững nguyên tắc để giành thắng lợi 25

1.5 Tăng cường trao đổi, hợp tác cùng theo chính sách chung sống hòa bình với các nước trên thế giới 32

Tiểu kết chương 1 39

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH TRONG BÌNH THƯỜNG HÓA VÀ PHÁT TRIỂN QUAN HỆCỦA VIỆT NAM VỚI HOA KỲ 40

2.1 Những nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh được vận dụng trong bình thường hóa quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976-1995) 40

2.1.1 Giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, dựa vào sức mình là chính, đồng thời hợp tác trên cơ sở tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau 41

2.1.2 Sẵn sàng mở rộng hợp tác với tất cả các nước trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi 45

Trang 7

2.1.3 Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ nghĩa yêu nước chân

chính với tinh thần quốc tế trong sáng 49

2.1.4 Kiên định về mục tiêu, linh hoạt về sách lược, luôn giữ thế tiến công nhưng biết nhân nhượng, thỏa hiệp đúng lúc, giữ vững nguyên tắc để giành thắng lợi 53

2.1.5 Tăng cường trao đổi, hợp tác cùng theo chính sách chung sống hòa bình với các nước trên thế giới 57

2.2 Quá trình vận dụng những nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh trong phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1995-2013) 61

2.2.1 Quan hệ chính trị, ngoại giao 62

2.2.2 Quan hệ kinh tế 68

2.2.3 Quan hệ An ninh, Quốc phòng 74

2.2.4 Quan hệ giáo dục, y tế, văn hóa 78

2.3 Một số nhận xét và kinh nghiệm 84

2.3.1 Nhận xét 84

2.3.2 Kinh nghiệm 90

Tiểu kết chương 2 93

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước vĩ đại, nhà hoạt động quốc tế xuất sắc, chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc, sứ giả của hòa bình và hữu nghị Người vừa là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà chiến lược quân sự, nhà ngoại giao, đồng thời cũng là người sáng lập ra nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người đã để lại kho tàng lý luận, tư tưởng vô giá cho dân tộc Việt Nam Đó là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam nói chung và cho việc xây dựng nền ngoại giao nói riêng phát triển, từng bước đánh thắng kẻ thù xâm lược, khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời còn có giá trị to lớn đối với công cuộc đổi mới, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc trong giai đoạn hiện nay

Với các cương vị trong nước và hoạt động vô cùng phong phú của mình, Hồ Chí Minh tiếp cận thực tiễn Việt Nam và thế giới, phát triển và đề xuất nhiều nguyên lý, quan điểm, luận điểm về thời đại, về đường lối quốc tế, chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam Trong hệ thống quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao thì nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh là điểm nổi bật, đặc sắc, thể hiện rất rõ thiên tài ngoại giao của Hồ Chí Minh

Trong công cuộc đổi mới, tư tưởng ngoại giao của Hồ Chí Minh đã cho Đảng Cộng sản Việt Nam những chỉ dẫn đúng đắn trong việc xác định mục tiêu, hoạch định đường lối, chủ trương chính sách đối ngoại phù hợp với xu thế quốc tế, đáp ứng nhu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam đem lại những kết quả tốt đẹp mà trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về các văn kiện Đại hội X, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nêu rõ: “Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, sức mạnh tổng hợp của Quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp” [18, tr 17] Thực hiện đường lối ngoại giao hòa bình, hợp tác cùng phát triển, chính sách đối ngoại mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trên thế giới, tích cực tham gia vào tiến trình hợp tác khu vực và

Trang 9

quốc tế Công tác đối ngoại của nước ta trong những năm qua đã gặt hái được nhiều thành công

Hoa Kỳ là một quốc gia có sức mạnh tổng hợp vượt trội so với nhiều nước khác trên thế giới, là siêu cường quốc về kinh tế, quốc phòng, an ninh Hoa Kỳ là một nước bị ảnh hưởng nặng nề trong quá khứ với Việt Nam, do đó cuộc đấu tranh đi đến bình thường hóa và thúc đẩy quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ gặp rất nhiều khó khăn Hơn nữa, sự khác biệt về hệ thống chính trị, về văn hóa vẫn là yếu tố bất lợi với quan hệ hai nước Mặc dù vậy, dưới ánh sáng của nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có đường lối ngoại giao đúng đắn, đưa Việt Nam từng bước phá thế bao vây cấm vận của Hoa Kỳ và tích cực chủ động bình thường hóa, mở rộng phát triển quan hệ ngoại giao hai nước Ngày 11/7/1995 Việt Nam và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao Gần hai mươi năm quađã chứng kiến rất nhiều những tiến triển tích cực trong phát triển quan hệ hai nước theo khuôn khổ: “Đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau cùng có lợi”, đem lại nhiều lợi ích thiết thực, cho cả đôi bên góp phần gìn giữ hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

Để làm rõ hơn nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh được vận dụng vào quá trình đấu tranh bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, tác giả chọn

đề tài “Vận dụng nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh trong bình thường hóa và

phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên

ngành Hồ Chí Minh học

2 Tình hình nghiên cứu

Minh nói riêng cũng như sự vận dụng trong bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là mảng đề tài được nhiều nhà khoa học, nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu Đến nay có nhiều công trình với nhiều nhà khoa học, nhiều sách chuyên đề, bài viết có liên quan đến đề tài này Mỗi tác giả đều có cách tiếp cận, nhìn nhận vấn đề riêng, cụ thể như:

Về nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ,

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Bộ ngoại giao năm 2002 do Thứ trưởng Thường

trực Nguyễn Đình Bin làm chủ nhiệm Đề tài gồm một số đề tài nhánh, các tác giả

Trang 10

đã phân tích các nội dung: bối cảnh ra đời, quá trình phát triển, nguồn gốc, nội dung

cơ bản về phương pháp, nguyên tắc, phong cách, nghệ thuật của tư tưởng ngoại giao

Hồ Chí Minh

Cách tiếp cận của các tác giả trong nhóm đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Vận

dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thời kỳ hội nhập, Ban nghiên cứu

lịch sử ngoại giao, Bộ ngoại giao năm 2008 do PGS.TS.Vũ Dương Huân làm chủ nhiệm các tác giả đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản của phương pháp, nguyên tắc, nghệ thuật, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng đó vào trong thời kỳ hội nhập

Bên cạnh đó, nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Dy Niên với cuốn, tư

tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tác giả

cũng đã đi sâu vào việc phân tích một số vấn đề về nguồn gốc hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, lý giải những luận điểm và quan điểm của Hồ Chí Minh

về các vấn đề thế giới, thời đại, quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam Tác giả còn đưa ra một số nguyên tắc, phương pháp, phong cách và nghệ thuật đặc sắc trong hoạt động quốc tế và ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời đưa ra ý kiến về vận dụng tư tưởng, khẳng định sự cần thiết phải xây dựng hệ thống lý luận ngoại giao và trường phái ngoại giao Việt Nam đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đối ngoại ngày càng cao của đất nước

Ngoài ra, cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác ngoại giao (1999) của Vũ

Khoan, Nxb Sự thật, Hà Nội đã phân tích một cách sâu sắc hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh từ năm 1941-1969, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu trong hoạt động ngoại giao của Người khái quát về phong cách ngoại giao của Bác

Đến với cuốn, Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng lỗi lạc (2005), Nxb Lý luận chính trị,

GS.Song Thành đã bàn tới tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Ở chương XII, tác giả

đã tóm lược nguồn gốc hình thành, nội dung ngoại giao Hồ Chí Minh - nền tảng của đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời tác giả còn đề ra mấy vấn đề vận dụng và phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong bối cảnh quốc

tế hiện nay Ngoài ra, còn một số cuốn sách, luận án, luận văn, tạp chí khác cũng đã

bàn luận về ngoại giao như: Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945-1995 (1996) của Lưu Văn Lợi, Nxb Công an nhân dân; Phan Ngọc Liên (chủ biên): Tìm hiểu tư

Trang 11

tưởng Hồ Chí Minh với thời đại (2000); Hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh 1954-1969 (2005) của Trần Minh Trưởng, Nxb Công an nhân dân; Luận văn

Thạc sĩ: Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao và sự vận dụng trong giai đoạn hiện

nay của Nguyễn Sĩ Hùng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, 2011

Phạm Hồng Chương- Phùng Đức Thắng: Tìm hiểu tư tưởng ngoại giao Hồ Chí

Minh, tạp chí Cộng sản, số 12-1999 Nguyễn Trọng Phúc: Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh

về ngoại giao từ sau hiệp định Giơwneviơ, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2 - 1995

Về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: Cuốn sách do Nguyễn Đình Bin chủ biên

Ngoại giao Việt Nam 1945-2000 (2000), Nxb Chính trị Quốc gia đã làm rõ giai

đoạn Đảng lãnh đạo chống chính sách cấm vận, đấu tranh phá bỏ cấm vận và bình thường hóa trong quan hệ với Hoa Kỳ

Cuốn sách“Việt Nam - Hoa Kỳ hướng về phía trước” do Nguyễn Mại chủ biên

(2008), Nxb Tri Thức, đã nói về thực trạng mối quan hệ hiện tại và xu hướng phát triển trong thời gian tới, trên cơ sở kiến nghị hệ thống các giải pháp cần thực hiện

để mở rộng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ

Hội thảo khoa học quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong bối cảnh quốc tế mới, do

Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Châu Mỹ tổ chức vào năm 2009,

đã đăng bài của giáo sư Nguyễn Quang Thái với tiêu đề “quan hệ với Hoa Kỳ cần

được là một trụ cột của chính sách đối ngoại” với mục đích ngoại giao thân thiện,

đa phương từ chỗ coi Hoa Kỳ là kẻ thù chuyển sang quan hệ đối tác cùng có lợi

Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ hợp tác và đấu tranh trong quan hệ đấu tranh

Việt Nam và Hoa Kỳ hiện nay của Viện Quan hệ quốc tế - Học viện Chính trị Quốc

gia Hồ Chí Minh do An Mạnh Tuấn chủ biên (1998), đã nói lên quan hệ hợp tác Việt Nam - Hoa Kỳ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, an ninh, quân sự, kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học, giáo dục

Luận án Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976 - 2006) (luận án tiến sĩ lịch sử) của tác giả Nguyễn Anh

Cường, đã trình bày và phân tích quá trình bình thường hóa quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976-1995) và quá trình phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1996 - 2006) phán ánh trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, an ninh, quốc phòng, kinh tế…Luận án đã giúp luận văn khai thác những thông tin nhằm làm rõ nguyên

Trang 12

tắc ngoại giao Hồ Chí Minh được vận dụng trong quá trình bình thường hóa của Việt Nam với Hoa Kỳ và phát triển quan hệ Việt Nam với Hoa Kỳ từ 1995 đến 2013 Các bài nói, bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ ngoại giao cũng

có nhiều giá trị trong việc khẳng định phát triển quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa

Kỳ như : Tuyên bố chung của thủ tướng Võ Văn Kiệt về việc Tổng thống Hoa Kỳ

Bin Clinton quyết định bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, thư của Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương gửi ngài George W.Bush - Tổng thống hợp chủng quốc Hoa Kỳ( 4/10/2001)

Ngoài ra còn có các tạp chí như: Quá trình bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ:

Kinh nghiệm và bài học của tác giả Lê Linh Lam, tạp chí nghiên cứu quốc tế, số

61-2009; Quan hệ Việt - Mỹ: 35 năm nhìn lại của Nguyễn Mạnh Hùng, tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 3-2010; Xác định nội hàm tầm cao mới trong quan hệ Việt - Mỹ của

Nhật Lâm, tạp chí Việt Mỹ, số 42- 2011

Về đường lối đối ngoại của Đảng: PGS.TS Đinh Xuân Lý với cuốn sách, tư

tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của Đảng trong thời kỳ đổi mới

(2007), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội đã khái quát bối cảnh ra đời, nguồn gốc, nội dung cơ bản của tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng của Người trong thời kỳ đổi mới

Mặt khác, Bộ ngoại giao, Ban nghiên cứu Lịch sử ngoại giao với cuốn sách Vận

dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập quốc tế (2009), Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, các tác giả đã đề cập đến những vấn đề đặt ra cho ngoại giao Việt Nam và vận dụng tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập

Bên cạnh đó còn có các bài viết trên những tạp chí như : Công tác đối ngoại hiện

nay trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, của tác giả Văn Tạo trong Tạp chí

Lịch sử Đảng, số 3 -1993 Tác giả Vũ Khoan với bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về

đối ngoại vẫn còn nguyên giá trị, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6 -1993

Mặc dù các công trình nghiên cứu với các cách tiếp cận khác nhau đã góp phần làm rõ hơn tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh cũng như những hoạt động ngoại giao của Người Tuy nhiên, chưa có công trình nào tập trung vào việc nghiên cứu một cách trọn vẹn nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh cũng như sự vận dụng trong bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ hiện nay Chính vì vậy, tác giả

Trang 13

chọn đề tài này để làm nổi bật hơn nữa giá trị lý luận cũng như thực tiễn của nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh, đồng thời góp phần làm rõ hơn sự bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Đề tài tập trung làm rõ nội dung nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh

- Tập trung làm rõ việc Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng những nguyên tắc ngoại giao của Hồ Chí Minh vào quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (1995-2013)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích, hệ thống hóa những quan điểm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc ngoại giao

- Tìm hiểu, phân tích, tổng hợp và đánh giá những nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh vào quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ giữa Việt Nam - Hoa Kỳ (1976-2013)

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh và quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam

- Nghiên cứu lịch sử quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ

- Nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình đi tới bình thường hóa và phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Những nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh

- Việc vận dụng nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (1976 - 2013)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn thực hiện trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, dựa vào những tư tưởng của Hồ Chí Minh về ngoại giao; những quan điểm

Trang 14

của Đảng Cộng sản Việt Nam; những quan điểm của các nhà khoa học trong nước

và nước ngoài về ngoại giao

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

- Sử dụng các phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích - tổng hợp, phương pháp

hệ thống, so sánh để làm rõ những nội dung chủ yếu của đề tài

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn góp phần tổng hợp, hệ thống và luận giải những nội dung và giá trị đặc sắc trong nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh

- Làm rõ hơn quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ

- Đưa ra một số hướng vận dụng nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh trong quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ

- Luận văn có thể là tài liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh trongquan hệ quốc tế và ngoại giao

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 5 tiết

Chương 1: Nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh

Chương 2: Vận dụng nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh trong bình thường hóa và phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ

Trang 15

CHƯƠNG 1 NGUYÊN TẮC NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Người đã rất quan tâm đến vấn đề ngoại giao Cũng chính vì vậy, Người không chỉ nêu những quan điểm chỉ đạo mà còn trực tiếp thực hiện vấn đề này ngay

từ khi đất nước chưa giành được chính quyền (trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945) nhằm mục tiêu: phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Quan điểm chỉ đạo của Người lúc này là: Tăng cường hợp tác, đoàn kết với giai cấp vô sản và các lực lượng cách mạng trên toàn thế giới không phân biệt màu da, không phân biệt dân tộc, cốt tập hợp được mọi lực lượng, nhằm đánh đổ chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc

Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đặt cơ sở, nền tảng cho nền ngoại giao cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh luôn hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết, hợp tác quốc tế Tư tưởng hợp tác, đoàn kết các lực lượng của dân tộc với lực lượng cách mạng thế giới đã từng bước được Người thực hiện trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Vấn đề hợp tác quốc tế là một trong những vấn đề quan trọng nhất được Hồ Chí Minh quan tâm và trực tiếp chỉ đạo với chủ trương, đường lối và xây dựng chính sách cụ thể Người đã đề ra một số quan điểm mang tính nguyên tắc chỉ đạo trong hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nước ta như sau:

1.1 Giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, dựa vào sức mình là chính, đồng thời trên cơ sở tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau

Độc lập, tự chủ, dựa vào sức mình là chính là đặc điểm nổi bật trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh Bằng lối tư duy độc lập, sáng tạo, Người đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc, hoạch định đường lối chiến lược cho mọi giai đoạn cách mạng Việt Nam, trong đó có đường lối ngoại giao của Đảng Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Người trong hoạt động ngoại giao thể hiện ở tính chủ động

và tự quyết trong việc xác định đúng vai trò, vị trí, lợi ích của Việt Nam trong quan

hệ quốc tế, đồng thời đánh giá khách quan môi trường quốc tế thực tại, xác định

Trang 16

đúng thời cơ và thách thức để từ đó hoạch định chính sách đối ngoại phù hợp, phục

vụ cho lợi ích chính đáng của dân tộc, đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia

Trong quan hệ quốc tế, đòi hỏi mỗi nước phải luôn giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ Độc lập, tự chủ tức là dựa vào sức mình là chính, có tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm, bài học của quốc tế nhưng phải tự mình suy nghĩ, tìm tòi, định ra những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm giải quyết công việc của đất nước, không chịu một sức ép nào từ bên ngoài, không thể biến thành một con bài trong tay người khác

Độc lập, tự chủ thể hiện trước hết ở tư duy nhận thức và hành động tự chủ, sáng tạo, không giáo điều và rập khuôn Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh vấn đề mà nhiều lần đồng chí Mác - Lênin nhắc đi nhắc lại rằng, lý luận cách mạng không phải giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng và lý luận không phải là cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo Những người cộng sản các nước phải

cụ thể hóa chủ nghĩa Mác - Lênin cho thích hợp với từng điều kiện hoàn cảnh, từng lúc, từng nơi Trong quan hệ quốc tế, Hồ Chí Minh khẳng định nguyên tắc “độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở nước ngoài” [36, tr 162]

Ngay từ khi thành lập Đảng và trong các văn kiện chỉ đạo hoạt động thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở tinh thần độc lập, tự chủ

“đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” Người còn nói: “sự giúp đỡ của các nước bạn

là quan trọng nhưng không được ỷ lại, không được ngồi mong chờ người khác Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập” [38, tr 445] Do hoàn cảnh cuộc đấu tranh cách mạng của nước

ta, sau khi nhân dân ta giành được chính quyền tháng 9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính và ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh Từ năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở có sự chi viện của Liên Xô và Trung Quốc về vật chất, vũ khí, trang bị, ta sẽ đỡ khó khăn hơn nhưng giành được thắng lợi phải do nỗ lực của chính bản thân ta quyết định Khi nước ta thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, tự lực cánh sinh là “cái gốc, điểm mấu chốt” của mọi thắng lợi trong sự nghiệp cách

Trang 17

mạng Người xác định tự lực cánh sinh là một truyền thống và Người đã nói lên mối liên hệ giữa tranh thủ viện trợ quốc tế và tự lực cánh sinh.

Hiệp định Gơnevơ 1954 đã để lại bài học về độc lập, tự chủ và hợp tác sâu sắc Các nước lớn đã tác động đến tiến trình giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất Thế và lực của cách mạng Đông Dương lúc bấy giờ còn hạn chế nhưng đã phản ánh được tương quan lực lượng ở Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng Từ kinh nghiệm của Hội nghị này, ngoại giao Việt Nam đã có bước trưởng thành, trong thời kỳ tiếp theo, ta đàm phán trực tiếp với Mỹ Đường lối độc lập tự chủ, đoàn kết quốc tế được phát huy, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược

Để tăng cường thế và lực cho cách mạng nước ta trong thời kỳ cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược Ngay năm 1955, Việt Nam đã đồng thời triển khai hoạt động đối ngoại trên nhiều hướng: Đấu tranh thi hành hiệp định Gơnevơ; tăng cường củng cố quan hệ và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc

và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa; đóng góp tích cực vào việc củng cố đoàn kết giữa các đảng anh em, tăng cường sự thống nhất trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế; xây dựng quan hệ hữu nghị với chính phủ Khơme và Lào theo năm nguyên tắc chung sống hòa bình; tăng cường đoàn kết với phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ La tinh; tham gia vào phong trào hòa bình và dân chủ thế giới, chống đế quốc, thực dân, hiếu chiến

Chủ trương và những kết quả đạt được trong hoạt động đối ngoại của Đảng

ta giai đoạn này thực sự là những yếu tố khởi đầu của chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế mà nước ta có thể thực hiện được trong điều kiện thực tiễn quan hệ chính trị thế giới lúc bấy giờ Sau khi nước nhà giành được độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn mong muốn thực hiện một chính sách đa phương, đa dạng hóa quan hệ quốc tế Bởi vậy, trong nhiều bài phát biểu, trả lời phỏng vấn báo chí, Người khẳng định, Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ trên thế giới, hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam Việc ta triển khai quan hệ trên nhiều hướng đã góp phần mở rộng tập hợp lực lượng quốc tế, hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam

Trang 18

trong cuộc kháng chiến cứu nước và tạo thuận lợi để ta tiếp tục tranh thủ được sự ủng hộ và viện trợ quan trọng của cả Liên Xô và Trung Quốc

Trong hoạt động ngoại giao, độc lập tự chủ nhằm đảm bảo lợi ích dân tộc chính đáng, thực hiện các quyền dân tộc cơ bản trong lợi ích của các dân tộc đan xen, chồng chéo Độc lập tự chủ và tự lực, tự cường khác hẳn với chủ nghĩa biệt phái Để chiến thắng những kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần trong bối cảnh thời đại mới, Hồ Chí Minh luôn chủ trương tăng cường đoàn kết và tranh thủ sự hợp tác quốc tế, coi đây là một vấn đề có tầm chiến lược hàng đầu trong đường lối cách mạng Việt Nam Mục tiêu của đoàn kết và hợp tác quốc tế là tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ quốc tế, làm tăng thêm khả năng tự lực, tự cường, tạo điều kiện làm chuyển biến so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng Vì vậy, độc lập tự chủ, tự cường phải gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế, đồng thời kết hợp với đấu tranh kiên quyết và khôn khéo để thực hiện mục tiêu cách mạng và bảo vệ quyền lợi quốc gia Đó là một nguyên lý cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hoạt động quốc tế và ngoại giao Việt Nam, được Đảng ta nâng lên thành đường lối độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ nhận định, cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam vì độc lập và thống nhất Tổ quốc là sự nghiệp cao cả và chính nghĩa, đã trở thành lương tâm và vinh dự của thời đại, được cả loài người tiến bộ và nhân dân Mỹ đồng tình ủng hộ Bằng thiên tài trí tuệ, tình cảm quốc tế chân thành

và trong sáng, bằng nghệ thuật ứng xử ngoại giao tinh tế, có lý, có tình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vẫn kiên trì đường lối độc lập, tự chủ, kiên trì vận động thuyết phục làm cho bạn hiểu ta, tiếp tục ủng hộ, giúp đỡ ta cho đến khi sự nghiệp thống nhất đất nước ta hoàn toàn thắng lợi Như vậy, giữ vững độc lập, tự chủ trong đường lối cách mạng nói chung và đường lối đối ngoại nói riêng là một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của cách mạng Việt Nam

Hồ Chí Minh cho rằng, vấn đề hợp tác nói chung và nhất là vấn đề hợp tác quốc tế nói riêng chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau, nêu cao nhân nghĩa và đạo lý trong quan hệ quốc tế, trân trọng thành quả của

sự hợp tác Quan điểm và sự tự nguyện trong hợp tác quốc tế được Hồ Chí Minh nêu: “Lênin đã dạy rằng: Không có sự cố gắng tự nguyện của giai cấp vô sản và sau

Trang 19

đó là của toàn thể quần chúng lao động tất cả các nước và các dân tộc trên thế giới, hướng tới sự liên minh và thống nhất với nhau thì việc chiến thắng chủ nghĩa tư bản không thể nào hoàn thành có kết quả được” [42, tr 175]

Ngay sau khi đất nước giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã công bố những quan điểm lớn của chính phủ ta về ngoại giao Nguyên tắc chung được nêu lên là kiên trì ngoại giao với các tất cả các nước trên cơ sở của sự bình đẳng, tương trợ, tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau Mục đích của ngoại giao là làm sao đất nước ít kẻ thù hơn, nhiều bạn đồng minh hơn Người đã nhiều lần nói rõ với nhân dân và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”, “một khi đã độc lập, Việt Nam sẽ đứng với tất cả các nước bầu bạn” [37, tr 44] Từ nguyên tắc ngoại giao trên đây, chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, nhất là quan hệ kinh tế của các nước đã được khẳng định rõ: “Việt Nam sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thật thà” [37, tr 46]

Từ nguyên tắc ngoại giao tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau đã giúp Hồ Chí Minh xác định đối tượng trong hợp tác quốc tế Tuy nhiên, do những tác động của lịch sử và những điều kiện khách quan, Người đã có những chỉ đạo và xử lý mối quan hệ quốc tế đối với từng đối tượng cụ thể, tùy theo mối quan hệ về chính trị, lịch sử, địa lý Người đặc biệt coi trọng, mở rộng hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa anh em Quan điểm của Người trong các chuyến thăm hữu nghị, chính thức, các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thể hiện rõ điều này Khối lượng vật chất to lớn, các phương tiện, máy móc, việc đào tạo các chuyên gia, thợ kỹ thuật mà các nước xã hội chủ nghĩa đã giành cho Việt Nam trong những năm dân tộc ta đang tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã thể hiện hiệu quả, tính đúng đắn của đường lối đối ngoại toàn diện, tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau trong việc mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa anh em

Hồ Chí Minh hết sức coi trọng quan hệ với các nước láng giềng và khu vực Trước hết là với nước Lào và Campuchia cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, Hồ Chí Minh khẳng định tình đoàn kết, gắn bó thắm thiết Mối quan hệ gắn bó trong sáng, thân thiện với dân tộc anh em Lào, Hồ Chí Minh đã ca ngợi:

Trang 20

Thương nhau mấy núi cũng trèo

Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua

Việt - Lào hai nước chúng ta

Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long

Nhân dịp tết cổ truyền của Campuchia năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện chúc mừng tới Quốc trưởng Nôrôđôm Xihanúc, khẳng định lòng mong muốn của Việt Nam “xây dựng sự hợp tác bền vững và lâu dài giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Vương quốc Campuchia”

Với nước láng giềng Trung Quốc vốn có quan hệ lịch sử lâu đời với Việt Nam, bằng hoạt động liên tục, không mệt mỏi suốt nửa thế kỉ, Người đã xây đắp nên mối quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em” Hồ Chí Minh cũng hết sức coi trọng thiết lập mối quan hệ láng giềng tốt với các nước trong khu vực có chế độ chính trị khác nhau Miền Bắc được giải phóng, sau chuyến đi thăm cám ơn các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Người đã dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước

ta đi thăm Ấn Độ, Miến Điện, Inđônêxia, hình thành trục hữu nghị Hà Nội- Giacácta và từ cuối những năm 50 đầu 60, thế giới bắt đầu nói đến quan hệ “tam hùng” ở khu vực là Hồ Chí Minh - Nêru - Xucacnô Thực tế lịch sử cho thấy tại các diễn đàn quốc tế có liên quan, Hồ Chí Minh luôn khẳng định tình đoàn kết, hữu nghị và sự hợp tác với nhân dân các nước láng giềng trên bán đảo Đông Dương, với các nước Đông Nam Á và Nam Á Những mối quan hệ ngoại giao mà Nhà nước ta thực hiện trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sau này

Đêli-là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã thể hiện rõ chủ trương này Trong mối quan hệ đó, Hồ Chí Minh nhiều lần nói đến năm nguyên tắc chung sống hòa bình Người đặc biệt nhấn mạnh những nguyên tắc không xâm phạm đến nhau, bình đẳng

và cùng có lợi

Đối với những nước lớn có tiềm lực kinh tế và khoa học, kỹ thuật, có vị trí

và vai trò quan trọng trong các mối quan hệ quốc tế Ngay từ cuối những năm 20 của thế kỷ XX, sau đó là những năm trước Cách mạng Tháng Tám và đặc biệt là những ngày tháng đất nước ta mới giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã giao thiệp khá rộng rãi với chính giới các nước lớn như Mỹ, Anh, Ngay trong những ngày tháng quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người đã nêu quan

Trang 21

điểm, người Mỹ đến Việt Nam để bắn giết, để bị giết chết là điều sỉ nhục nhưng người Mỹ đến giúp đỡ Việt Nam với tư cách là nhà kinh doanh, chuyên gia kỹ thuật thì họ sẽ được nhân dân Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh Người bày tỏ tấm lòng sung sướng được đón tiếp Tổng thống Mỹ đến Việt Nam với ý nguyện ấy

Đối với những nước đã có mối quan hệ trong lịch sử, những nước có nhiều thuận lợi trong việc hiểu biết tâm lý con người Việt Nam, hiểu những điều kiện tự nhiên và xã hội của đất nước và con người Việt Nam Với nước Pháp trong nhiều lần tiếp xúc với chính giới và giới công thương Pháp trong chuyến thăm nước Pháp (1946), Người đã nói rõ, nếu cần chuyên gia kỹ thuật nước ngoài thì Chính Phủ Việt Nam sẽ mời người Pháp đầu tiên

Lịch sử đã qua nhưng lịch sử cũng cho chúng ta một độ lùi cần thiết đủ để khẳng định những quan điểm của Hồ Chí Minh về xác định nguyên tắc, tự nguyện

và tôn trọng lẫn nhau trong quan hệ quốc tế là những quan điểm đi trước thời đại và

có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong công cuộc xây dựng nền ngoại giao Việt Nam hiện nay Quan điểm tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau trong quan hệ hợp tác quốc tế trong điều kiện hiện nay cũng chính là việc giữ vững mục tiêu và nguyên tắc đã lựa chọn, thỏa thuận Không vì sức ép bên ngoài hay lợi ích trước mắt mà nhượng bộ, phá vỡ nguyên tắc, đi chệch hướng mục tiêu đã định trước Trong khi thực hiện lộ trình hội nhập theo xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa, phải biết tiếp thu có chọn lọc, chỉ mở cửa du nhập những gì phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nước ta Đặc biệt là đi tắt, đón đầu, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật, khoa học - công nghệ tiên tiến trên thế giới để rút ngắn thời gian, đẩy mạnh quá trình hội nhập Đồng thời phải tỉnh táo nhận ra và ngăn chặn kịp thời những mặt trái của cơ chế thị trường Đó là những vấn đề luôn luôn song hành với quá trình hội nhập

1.2 Sẵn sàng mở rộng hợp tác với tất cả các nước trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi

Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng đã bôn ba nhiều nước trên khắp thế giới

để tìm con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam Bởi vậy, trong tư tưởng của Người vấn đề mở rộng hợp tác với các nước trên thế giới đã sớm được hình thành Điều đó bắt nguồn trước hết từ tình đồng loại, từ sự xúc cảm thực sự về

Trang 22

số phận của những người lao động cùng khổ khắp năm châu Người nói: “Dù màu

da có khác nhau, trên thế giới này chỉ có hai giống người, giống người bóc lột và giống người bị bóc lột mà chỉ có một tình hữu ái mà thôi - tình hữu ái vô sản” [32,

tr 287] Nhận thức này của Người đã trở thành tiền đề của một tư tưởng lớn, đó là

sự cần thiết tất yếu phải liên minh đoàn kết chiến đấu giữa những người vô sản bị

áp bức ở tất cả các nước Do đó, phải gắn liền phong trào cách mạng trong nước với cách mạng thế giới, phối hợp ủng hộ lẫn nhau để đưa cách mạng thắng lợi ở các nước khác nhau

Ngay từ năm 1919, khi thực dân Pháp cấu kết với tư bản Nhật để cùng khai thác Đông Dương, Hồ Chí Minh đã nhận định, xét về nguyên tắc, sự tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế và văn minh chỉ tới khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường Trên quan điểm đó, một mặt Người tố cáo, phê phán bọn thực dân Pháp nhân nhượng cho bọn tư bản Nhật vào Đông Dương, làm người “dân bản xứ sẽ sống càng khốn đốn hơn” [32, tr 14] Mặt khác, Người khẳng định: “ là phi lý nếu nghĩ rằng hai dân tộc láng giềng như dân tộc An Nam

và dân tộc Nhật Bản lại có thể cứ tồn tại biệt lập với nhau” [32, tr 14] Như vậy, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có tư tưởng về việc các dân tộc phải mở rộng giao lưu, quan

hệ bình đẳng cùng có lợi và kịch liệt phê phán tư tưởng biệt lập giữa các dân tộc Nguyên tắc ngoại giao Hồ Chí Minh biểu hiện ở rất nhiều mặt, trong đó có tinh thần “bốn biển đều là anh em” Người cho rằng: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình, có nghĩa như thế Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà” [46, tr 668] Tư tưởng đó là cơ sở quan trọng để Hồ Chí Minh xây dựng nguyên tắc mở rộng hợp tác với tất cả các nước

Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” năm 1927, Người đã khẳng định: “Ai làm cách mạng trong thế giới đều là đồng chí của nhân dân An Nam cả” [33, tr 277] Khi Đảng ra đời, trong cương lĩnh đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo đã nói về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp Điều

đó thể hiện tư tưởng về đoàn kết, mở rộng quan hệ quốc tế và tư tưởng đó được

Trang 23

Đảng thể hiện bằng nguyên tắc ngoại giao “làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết”, đúng với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Mọi người yêu nước và tiến bộ đều là bạn của ta” [44, tr 453]

độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương thực hiện đường lối ngoại giao rộng mở, đa phương, đa dạng Trong nhiều bài phát biểu trả lời phỏng vấn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định là Việt Nam muốn làm bạn với các nước dân chủ, sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam Những tuyên bố này là sự khởi đầu của chính sách ngoại giao mở rộng hợp tác với các nước trên thế giới mà nước ta có thể thực hiện được trong điều kiện thực tiễn quan hệ chính trị thế giới lúc bấy giờ Việc nước

ta triển khai quan hệ đối ngoại trên nhiều hướng đã góp phần mở rộng tập hợp lực lượng quốc tế, hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam

Trong bản thông cáo về “Chính sách ngoại giao của Chính phủ lâm thời”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ vấn đề hợp tác với từng đối tượng Đối với các nước đồng minh chống phát xít “Việt Nam hết sức thân thiện và thành thực hợp tác trên lập trường bình đẳng, tương ái” Đối với kiều dân Pháp thực sự tôn trọng độc lập của Việt Nam thì tính mệnh và tài sản của họ được bảo vệ theo luật pháp quốc tế Còn “riêng với Chính phủ Pháp Đờ Gôn chủ trương thống trị Việt Nam thì cương quyết chống lại Đối với các nước láng giềng như Trung Hoa, vốn có quan hệ lâu đời thì: “thắt chặt tình thân ái, khiến hai dân tộc Việt - Hoa tương trợ mà cùng tiến hóa”; với các nước nhược tiểu dân tộc trên toàn cầu, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “sẵn sàng thân thiện, hợp tác chặt chẽ” trên nguyên tắc bình đẳng để ủng

hộ lẫn nhau trong xây dựng và giữ vững nền độc lập

Có thể coi Thông cáo chính sách ngoại giao (3/10/1945) như là một giác thư của Nhà nước Việt Nam gửi đến cộng đồng quốc tế, khẳng định những quan điểm dân chủ, tiến bộ, nhân đạo, hòa bình và sẵn sàng hợp tác của nhân dân ta với cộng đồng quốc tế Các quan điểm đó hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển của quan hệ quốc tế sau chiến tranh, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của nhân dân các nước trên thế giới Cũng trong thời gian này, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Hồ Chí Minh đã gửi hàng chục bức thông điệp, điện văn tới Chủ tịch

Trang 24

Hội đồng Liên hợp quốc, các vị đứng đầu nhà nước và ngoại trưởng các cường quốc, chính phủ một số nước Á, Phi cho các tổ chức Liên đoàn Ả Rập, Hội nghị Liên Phi yêu cầu các nước công nhận nền độc lập của Việt Nam, đồng thời ngỏ ý sẵn sàng hợp tác trên nhiều lĩnh vực

Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc (tháng 12/1946), Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đối với

các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà

kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình

b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế

c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế, quốc tế dưới

sự lãnh đạo của Liên hợp quốc

d) Nước Việt Nam sẵn sàng kí kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc, những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến sử dụng một vài căn cứ hải quân, không quân” [35, tr 523]

Hồ Chí Minh chủ trương ngoại giao rộng mở, tìm ra những điểm tương đồng, khai thác mọi khả năng có thể, nhằm tập hợp lực lượng, hình thành mặt trận đoàn kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều tầng, nhiều nấc Để thực hiện chủ trương này, theo

Hồ Chí Minh điều quan trọng là phải xác định được mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với các đối tác cụ thể, sắp xếp thứ bậc ưu tiên của các đối tác để tiến hành công tác ngoại giao đạt kết quả cao

Trong thư gửi đồng bào toàn quốc nhân kỉ niệm Cách mạng tháng Tám ngày 19/

8/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm điểm tương đồng của cách mạng Việt Nam với một số các cuộc cách mạng trên thế giới để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế Người viết:

“Noi gương Cách mạng 1776 của Mỹ, Cách mạng tháng Tám tranh tự chủ chống ngoại xâm

Cũng như Cách mạng 1789 của Pháp, Cách mạng tháng Tám thực hành lý tưởng: Bình đẳng, Tự do, Bác ái

Trang 25

Theo gót Cách mạng 1911 của Tàu, Cách mạng tháng Tám thực hiện chủ trương chủ nghĩa: Dân tộc, dân quyền, dân sinh” [36, tr 218]

Để thức tỉnh lương tri loài người tiến bộ, tăng cường sức mạnh của đoàn kết, của chính nghĩa, Hồ Chí Minh luôn lấy hòa bình, hữu nghị và đạo lý làm tiêu chí để phân biệt bạn - thù Người không bao giờ đánh đồng cả một dân tộc, một nước với những kẻ cầm quyền gây chiến tranh xâm lược của nước đó, đồng thời ra sức tranh thủ nhân dân đó đứng về phía nhân dân Việt Nam Người xem họ là bạn, là chiến sĩ trong mặt trận đấu tranh chống các thế lực hiếu chiến

Vào những năm 50 - 60 của thế kỷ XX, ưu tiên hàng đầu cho chính sách ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới; phong trào giải phóng dân tộc; phong trào cách mạng vô sản; phong trào hòa bình dân chủ và cách mạng trên thế giới Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng mối quan hệ gắn bó với các nước xã hội chủ nghĩa, với các “Đảng cộng sản anh em” theo tinh thần của “chủ nghĩa quốc tế cộng sản” và “chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa” Với mối quan hệ này, Người đặc biệt quan tâm đến việc góp phần xây dựng khối đoàn kết trong nội bộ và phong trào “trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản”

Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng cường tình đoàn kết, hợp tác giữa các nước láng giềng Người rất quan tâm phát triển quan

hệ ngoại giao với Trung Quốc, sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, hai nước cùng xây dựng chế độ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cống hiến to lớn xây dựng mối quan hệ mới, hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc Theo Người:

Mối tình thắm thiết Việt - Hoa

Vừa là đồng chí, vừa là anh em

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc đã vận dụng kinh nghiệm ngoại giao của ông cha, ứng xử phù hợp với truyền thống của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc,

am hiểu sâu sắc văn hóa Trung Hoa, kết nối mối thân tình với nhân dân và có quan

hệ hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau giữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc, đồng thời khéo

xử lý quan hệ Việt - Trung phù hợp với các mối quan hệ toàn cầu mới, trong sự tương tác với các nước lớn khác, đồng minh hay đối phương của Việt Nam Trong

Trang 26

toàn bộ bài phát biểu của Hồ Chí Minh về đất nước và nhân dân Trung Hoa toát lên

sự hiểu biết sâu sắc và đánh giá đúng đắn tầm vóc của dân tộc này Người từng nói:

“Trung Quốc là một nước vĩ đại hùng cường và đẹp đẽ Nền văn hóa lâu đời và ưu

tú của Trung Quốc đã có ảnh hưởng sâu xa ở Châu Á và trên thế giới” [41, tr 7] Người đã đề cao tình hữu nghị: “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước anh em Tình hữu nghị chân thành và sâu xa giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc đã

có từ lâu” [41, tr 7]

Bản Thông cáo chính sách đối ngoại đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (03/10/1945) nêu rõ: “Đặc biệt là đối với nhân dân bạn Khơme và Lào, nước Việt Nam đặt mối quan hệ dựa trên nguyên tắc tự quyết Đã từng chịu ách đô hộ của Pháp, nhân dân ba nước lẽ dĩ nhiên phải cùng nhau đấu tranh để cởi ách đô hộ đó, giúp đỡ lẫn nhau giành lại và duy tâm về nền độc lập của mình Ba nước sẽ giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc kiến thiết và cùng nhau tiến lên trên con đường tiến bộ” [48, tr 144]

Đoàn kết, hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng quyền tự quyết dân tộc và độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau là quan điểm ngoại giao căn bản của Chủ tịch

Hồ Chí Minh về quan hệ của Việt Nam với các nước Bởi vậy, với nước Pháp - một nước vốn cai trị, áp bức dân tộc Việt Nam trong gần một thế kỷ, Việt Nam vẫn sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác Tuy nhiên, sự hợp tác phải dựa trên những nguyên tắc nhất định Đó là nguyên tắc hợp tác một cách bình đẳng và cùng có lợi Trong muôn vàn khó khăn, cùng một lúc phải chống cả thù trong, giặc ngoài, Hồ Chí Minh vẫn rất coi trọng việc xây dựng mối quan hệ hợp tác Việt - Pháp, tỏ rõ thiện chí của Chính phủ và nhân dân Việt Nam mong muốn hòa bình, hữu nghị với tất cả các nước Trong bài phát biểu đáp từ Thủ tướng Pháp Biđôn (7/1946), cũng như những tuyên bố ngoại giao, trả lời phỏng vấn trong chuyến thăm với nước Pháp, Người luôn kiên định lập trường sẵn sàng hợp tác với Chính phủ và nhân dân Pháp Người tuyên bố, Việt và Pháp là hai dân tộc tự do, bình đẳng, đều có lý tưởng dân chủ, đều

có ham muốn tự do Chúng ta đã gạt bỏ chủ nghĩa đế quốc cường quyền và quốc gia chủ nghĩa chật hẹp, vì cả hai đều không hợp thời Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần, triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một

Trang 27

nguyên tắc đạo đức “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” “Việt Nam cần nước Pháp và nước Pháp cũng cần Việt Nam Chỉ có lòng tin cậy lẫn nhau và sự cộng tác thật thà, bình đẳng thì mới đi đến kết quả thân thiện giữa hai nước” [35, tr 417] “Tôi không muốn trở về Hà Nội tay không Tôi muốn trở về nước, sẽ đem về cho nhân dân Việt Nam những kết quả cụ thể với sự cộng tác chắc chắn mà chúng ta mong đợi ở nước Pháp” [35, tr 323]

Bằng những hoạt động tích cực đó, Hồ Chí Minh đã làm cho bạn bè trên thế giới biết đến khát vọng, ý chí độc lập dân tộc, tự do của nhân dân Việt Nam, bày tỏ quan điểm thiện chí, sẵn sàng hợp tác của Việt Nam với bạn bè thế giới Tuy lời kêu gọi hợp tác đầy thiện chí mà Hồ Chí Minh đưa ra không được Liên hợp quốc cũng như nhiều nước trong phe đồng minh hưởng ứng, song Người vẫn kiên trì giữ vững quan điểm đó Tháng 1 năm 1950 trong Tuyên bố khi đi thăm nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, thay mặt Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam để cùng nhau bảo vệ hòa bình

và xây đắp dân chủ thế giới” [37, tr 311] Quan điểm đó vừa phù hợp với thực tại lịch sử, vừa giữ bản sắc truyền thống Việt Nam, vừa đúng với luật pháp và quy định quốc tế Do đó, vừa phát huy được tiềm năng sức mạnh của dân tộc, vừa tận dụng được sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế

Ngày nay, quan điểm của Hồ Chí Minh về hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi vẫn là một trong những quan điểm mang tính quyết định đến kết quả của sự hợp tác, đồng thời đảm bảo sự bền vững trong quan hệ hợp tác lâu dài, không chỉ vận dụng trong phạm vi quốc gia mà còn trở thành điều kiện tiên quyết trong hợp tác quốc tế của các nước trên thế giới

1.3 Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ nghĩa yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế trong sáng

Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại là một tiêu chí quan trọng trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Xuất phát từ quan điểm Mácxít về giải quyết mâu thuẫn dựa trên vai trò quyết định của các yếu tố bên trong và tác động ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài cũng như từ tính chất cách mạng Việt Nam và

Trang 28

xu thế thời đại, cách mạng Việt Nam chính là một bộ phận của cách mạng thế giới Mỗi nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam không nằm ngoài quy luật vận động của cách mạng thế giới, sự biến động của cách mạng thế giới đều ảnh hưởng đến sự biến động của cách mạng Việt Nam

Sức mạnh dân tộc Việt Nam là sự tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần, truyền thống và hiện đại, là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, chính nghĩa dân tộc, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin Yếu tố quyết định để phát huy sức mạnh dân tộc là giữ vững tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường Sức mạnh dân tộc được phát huy ở mức cao trong thời đại Hồ Chí Minh đã đưa đất nước vượt qua những khó khăn thử thách hiểm nghèo Đó là nhờ phát huy nhân tố chính trị, tinh thần, truyền thống văn hóa dân tộc, truyền thống quân sự Việt Nam, truyền thống ngoại giao Việt Nam, phối hợp chặt chẽ các nhân tố chính trị, quân sự, kinh tế và ngoại giao dưới sự lãnh đạo của Đảng và được nhân dân ủng hộ Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, đồng thời Đảng

và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức chú trọng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại

Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên phá thế đơn độc của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Nhà nước Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho đường lối quốc tế đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam Đó là dựa vào thực lực dân tộc mình để tranh thủ hợp tác quốc tế và kết hợp sức mạnh thời đại với sức mạnh dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của nhân loại Cách mạng Việt Nam trong toàn bộ lịch sử của mình luôn được đặt trong trào lưu tiến bộ của thời đại và gắn kết với cuộc đấu tranh của nhân loại tiến

bộ Đó là một trong những bài học thành công nhất mang tính thời sự sâu sắc Trong chính sách đối ngoại, điểm then chốt nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh

là mở rộng quan hệ quốc tế với phương châm “làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết

và nhiều bạn đồng minh hơn hết” Để tập hợp lực lượng quốc tế, phải căn cứ vào mục tiêu cách mạng từng thời kỳ Trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền, Đảng chủ trương “ ai làm cách mệnh trên thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả” và

“ phải tìm kiếm bạn đồng minh dẫu rằng tạm thời bấp bênh, có điều kiện” Sau khi giành được chính quyền và tiến hành kháng chiến kiến quốc, Đảng xác định mục

Trang 29

tiêu của Đảng ta lúc này là tự do, độc lập bạn của ta trong giai đoạn này là tất cả những nước nào, những dân tộc hay lực lượng nào trên thế giới tán thành mục đích ấy Đứng trước nguy cơ thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, Người

đã viết lời kêu gọi gửi nhân dân thế giới: “Việt Nam là một bộ phận của đại gia đình châu Á Tranh đấu cho tự do, độc lập ở Việt Nam tức là tranh đấu cho tự do, độc lập của đại gia đình châu Á Trước kia, anh em đã đồng tình với chúng tôi Từ nay mong anh em càng ủng hộ nữa Với sự đồng tình và ủng hộ của anh em, cuộc kháng chiến cứu nước của Việt Nam nhất định thắng lợi” [36, tr 181] Người đã đặt sự nghiệp của cách mạng Việt Nam vào sự nghiệp của cách mạng trong khu vực nói riêng và sự nghiệp cách mạng thế giới nói chung Không có lý gì mà một cuộc cách mạng đi theo tiếng nói, nguyện vọng chung của nhân loại lại không được ủng hộ, giúp đỡ của cách mạng thế giới Và Người tin tưởng rằng: “Đấu tranh cho thống nhất là con đường sống của nhân dân Việt Nam Nó nhất định sẽ thắng lợi là nhờ truyền thống đoàn kết và tinh thần bất khuất của nhân dân Việt Nam, nhờ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước” [42, tr 272]

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao sự đoàn kết giữa các lực lượng tiến bộ trên thế giới: đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi Người nhấn mạnh, đoàn kết chặt chẽ với nhau thành một mặt trận thống nhất mạnh mẽ, tạo thành sức mạnh

để thực hiện các mục tiêu cách mạng của thời đại Kết hợp hài hòa sự nghiệp của nhân dân Việt Nam với sự nghiệp của nhân dân thế giới, tranh thủ mở rộng đoàn kết

và hợp tác quốc tế trong tình hình các phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh mẽ, sức mạnh của Việt Nam được nhân lên gấp bội

Sức mạnh của thời đại còn là những tiến bộ cách mạng khoa học kỹ thuật, sự phát triển của lực lượng sản xuất và cùng với nó là sự tăng cường mở rộng các quan

hệ kinh tế thương mại thế giới Trong phiên họp Chính phủ ngày 23/11/1945, khi bàn về chương trình kinh tế đối ngoại, lấy kinh tế phục vụ chính trị, dựa trên cơ sở hai bên cùng có lợi: “ngoại giao và kinh tế có ảnh hưởng lẫn nhau Nếu mình có một chương trình về kinh tế có lợi cho người ngoại quốc, họ có thể giúp mình” Ngay sau khi giành chính quyền, Hồ Chí Minh đã tính tới việc tranh thủ hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, kể cả của Pháp để xây dựng đất nước và từ

đó tranh thủ sự ủng hộ của bên ngoài đối với nền độc lập của Việt Nam Đầu tháng

Trang 30

12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho những người đứng đầu nước Anh, Trung Quốc, Mỹ, Liên Xô và Liên hợp quốc, nêu rõ chính sách của Việt Nam là mở cửa và hợp tác, mời các nhà đầu tư và công nghệ nước ngoài vào hoạt động kinh doanh ở Việt Nam

Ngày 5/10/1959, khi trả lời nhà báo Nhật Bản Sira Isi Bôn về quan hệ Nhật Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chính sách mở cửa của Việt Nam, sẵn sàng phát triển quan hệ kinh tế với Nhật Bản cũng như với các nước khác trên “tinh thần bình đẳng, hai bên cùng có lợi” Người nói rõ: “Chúng tôi cần nhiều dụng cụ, máy móc và hàng hóa của các nước, trong đó tất nhiên kể cả nước Nhật Bản Quan hệ buôn bán giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nhật, nếu được cải thiện sẽ có nhiều triển vọng tốt đẹp, có lợi cho nhân dân cả hai nước chúng ta” [43, tr 293]

Kết hợp lòng yêu nước chân chính và tinh thần quốc tế trong sáng, cao cả là một trong những biểu hiện đặc trưng của Hồ Chí Minh, trong tư tưởng của Người nói chung và trong tư tưởng về ngoại giao nói riêng Hồ Chí Minh đã khẳng định:

“Tinh thần yêu nước là kiên quyết gìn giữ quyền độc lập, tự do và đất đai, toàn vẹn của nước mình Tinh thần quốc tế là đoàn kết với các nước bạn nhân dân các nước khác để gìn giữ hòa bình thế giới, chống chính sách chiến tranh của đế quốc” [39,

tr 272] Tư tưởng ấy nằm trong tình cảm yêu thương con người ở khắp châu lục, đủ mọi màu da sắc tộc, đau xót khi phải chứng kiến bọn đế quốc bóc lột, đánh đập những người lao động nghèo khổ Người không chỉ thương yêu những con người cùng chung nòi giống Việt Nam, tình cảm của Người bao trùm khắp năm châu, bốn biển Người đau những nỗi đau chung của nhân loại, thương những em bé lang thang ở ngoại ô Pari, đau xót cho số phận của một phụ nữ Angiêri bị kết án tử hình Đó là tình yêu thương con người một cách đơn giản, mà nó xuất phát từ tấm lòng một chiến sĩ cộng sản, con người có tinh thần quốc tế cao cả Người mừng rỡ, vui vẻ gửi điện chúc mừng tới tất cả các quốc gia mừng độc lập, hay nhân ngày quốc khánh của họ, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn mà các quốc gia dân tộc khác phải trải qua

Tinh thần quốc tế trong sáng của Người còn thể hiện ở sự tự hào, vẻ vang khi

sự nghiệp cách mạng của nước nhà đã đóng góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp chung của cách mạng thế giới “Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

Trang 31

và đấu tranh thống nhất nước nhà, góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới hiện nay đang đặt ra trước mắt Đảng ta những nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang” [43, tr 676] Tinh thần ấy còn biểu hiện ở ý chí hòa bình, mưu cầu tiến bộ, thân ái đoàn kết với các nước láng giềng Trong Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao Động Việt Nam, Người khẳng định: “Trong cuộc đấu tranh chung để bảo vệ hòa bình và độc lập dân tộc ở Đông Dương, nhân dân Việt Nam ta kiên quyết ủng hộ cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Lào hiện nay nhằm chống đế quốc Mỹ, nhằm đưa Lào lên con đường hòa hợp dân tộc, độc lập, thống nhất và hòa bình trung lập Chúng ta thành tâm mong rằng quan hệ hữu nghị giữa nước ta với các nước láng giềng trước hết là Capuchia và Lào được xây dựng

và phát triển” [43, tr 676]

Hồ Chí Minh khẳng định: “Điều 9 và 10 gắn chặt tinh thần yêu nước với tinh thần quốc tế, gắn chặt công cuộc kháng chiến cứu nước với công cuộc giữ gìn hòa bình thế giới Ta kháng chiến thắng lợi tức là làm yếu một phần lực lượng của bọn đế quốc, tức là góp một phần thiết thực vào công cuộc giữ gìn hòa bình thế giới” [38,

tr 453] Sự lựa chọn đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, kháng chiến chống lại sự xâm lược, bành trướng, sen đầm quốc tế của các thế lực phản tiến bộ không chỉ xuất phát từ lòng yêu nước, mà nó đồng thời cũng là một trong những biểu hiện của tinh thần quốc tế trong sáng, cao cả Tuân theo xu hướng khách quan của lịch sử nhân loại, tiến dần lên một xã hội mang lại bình đẳng, ấm no, hạnh phúc thực sự cho nhân dân lao động Hồ Chí Minh không chỉ là biểu tượng của tinh thần quốc tế trong sáng, mà Người luôn chú ý nhắc nhở các đồng chí lãnh đạo, kêu gọi nhân dân cùng ra sức thực hiện tinh thần quốc tế ấy Người cho rằng tinh thần yêu nước của con người Việt Nam còn được thể hiện bằng tình yêu thương đồng loại, giúp đỡ những con người cùng chung khó khăn hoạn nạn Yêu nước là tôn trọng đạo lý, tình thương, sống có trước, có sau, trong khó khăn nhân dân các nước anh em đã không tiếc công sức xương máu để ủng hộ, giúp đỡ sự nghiệp cách mạng của dân tộc mình Do đó, chúng ta cần phải hết ủng hộ, giúp đỡ sự nghiệp cách mạng của nước bạn Người luôn nhắc nhở các đồng chí lãnh đạo, cán bộ Đảng, Nhà nước: “Đảng ta còn có trách nhiệm nặng nề đối với 30 triệu đồng bào cả nước ta và phải tích cực

Trang 32

gánh vác phần trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp cách mạng thế giới Những người cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình

là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới” [45, tr 467]

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta kiên trì, công phu thực hiện “ngoại giao tâm công”, đã quan tâm tổ chức vận động quốc tế, sử dụng và phối hợp các hình thức, các lực lượng ngoại giao khác nhau theo quan điểm ngoại giao toàn dân, ngoại giao Đảng, ngoại giao các lực lượng vũ trang, ngoại giao nhân dân, lấy ngoại giao Nhà nước là nòng cốt Việc kết hợp các lực lượng đối ngoại trên đã phát huy được sức mạnh tổng hợp, làm cho chính nghĩa của dân tộc càng thêm tỏa sáng, tiếp thêm sức mạnh cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta

1.4 Kiên định về mục tiêu, linh hoạt về sách lược, luôn giữ thế tiến công nhưng biết nhân nhượng, thỏa hiệp đúng lúc, giữ vững nguyên tắc để giành thắng lợi

Mục tiêu nhất quán của Hồ Chí Minh là phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới Kiên định mục tiêu đó, tuy nhiên trong quá trình phát triển của cách mạng, căn cứ vào tương quan lực lượng và tình hình quốc tế, mục tiêu chung đó thường được cụ thể hóa thành những mục tiêu cụ thể, thực hiện từng bước sao cho phù hợp với diễn biến tình hình Lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi

là cách giành được thắng lợi hữu hiệu nhất Trong quan hệ đối ngoại, cần nắm vững nguyên tắc kiên trì về mục tiêu, linh hoạt về sách lược theo tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”

“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là phương châm đối ngoại then chốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh Điều bất biến là mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội nhưng tùy từng điều kiện cụ thể trong quá trình đấu tranh cách mạng có sự điều chỉnh hợp lý đó là vạn biến Trong bối cảnh phức tạp của tình hình cách mạng sau tháng Tám năm 1945, nhận định âm mưu của từng kẻ thù trên đất nước ta, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã có những chính sách đối ngoại rất khôn khéo, mềm dẻo, phù hợp với điều kiện của một nhà nước mới ra đời với muôn vàn khó khăn, phức tạp Người đã chỉ rõ âm mưu của thực dân Pháp là quay trở lại Việt Nam, tuy nhiên với Pháp lúc đó, ta một mặt kiên quyết chủ trương “độc lập về chính trị” nhưng có thể

Trang 33

nhân nhượng về kinh tế Đối với Quốc dân Đảng Trung Hoa thì thực hiện chủ trương “Hoa - Việt thân thiện” Đó là sách lược ngoại giao mềm dẻo trong tình huống cách mạng lúc bấy giờ

Ngày 1 tháng 1 năm 1946, trong buổi ra mắt Chính phủ Liên hiệp lâm thời tại Quảng trường nhà hát thành phố Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Vì muốn tranh thủ hoàn toàn nền độc lập, muốn có sự hợp tác chặt chẽ giữa các đảng phái để làm cho Chính phủ mạnh mẽ thêm, nên nay đổi thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời Trong giai đoạn này, các đảng phái đoàn kết thì Chính phủ mới vượt qua được cơn sóng gió Chương trình đối ngoại: làm sao cho các nước công nhận nền độc lập của nước Việt Nam Thân thiện với các kiều dân ngoại quốc, nhất là Hoa Kiều Đối với Pháp, chỉ đánh bọn thực dân, còn đối với những kiều dân không làm được gì cho nền độc lập của ta, ta sẽ phải bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ” [35,

tr 173]Điều đó biểu hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược đối ngoại của Hồ Chí Minh Trước lúc lên đường sang Pháp để đàm phám (5/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng phải “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong xử lý việc nước Người chỉ rõ: “Mục đích bất di, bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ Nguyên tắc của ta thì vững chắc nhưng sách lược của ta thì phải linh hoạt” [39, tr 555]

Xác định đúng giới hạn của sự nhân nhượng, không thỏa hiệp vô nguyên tắc, không làm tổn hại đến quyền và lợi ích quốc gia Trước khi về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Bộ trưởng Pháp M.Mutê một bản tạm ước (14/9/1946), trong

đó Chính phủ Pháp đảm bảo quyền tự do và ngừng bắn Nam Bộ, ta nhân nhượng một số quyền lợi cho Pháp ở Việt Nam Đây là sách lược ngoại giao tài tình, tranh thủ thời cơ hòa hoãn với Pháp nhằm chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài Đó là chiến lược mềm dẻo, linh hoạt trong hoạt động đối ngoại Ngay trong những sự nhân nhượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên quyết khẳng định quyền tự chủ của Việt Nam trong vấn đề ngoại giao Người nói: “Nếu quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dưới quyền Pháp tức là Việt Nam chưa được độc lập hẳn và vẫn là thuộc địa của Pháp” [36, tr 494]

Mặc dù có nhiều ý kiến mong muốn tham gia giải quyết mối quan hệ giữa Chính phủ Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng Người khẳng

Trang 34

định: “Nếu có nước trung lập nào muốn cố gắng để xúc tiến việc chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam bằng cách thương lượng thì sẽ được hoan nghênh, nhưng việc thương lượng đình chiến chủ yếu là một việc giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp” [39, tr 341] Nhưng nếu như mọi biện pháp đều không giành được độc lập, tự do hạnh phúc cho nhân dân thì “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” Độc lập tự do là nguyên tắc bất biến “chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do” [46, tr 131]

Trong đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên quyết đấu tranh để giữ vững mục tiêu độc lập và thống nhất Tổ quốc nhưng Người cũng là nhà ngoại giao biết thương lượng, có đầu óc thực tế, biết nhân nhượng thỏa hiệp có nguyên tắc tìm mẫu số chung cho mỗi cuộc đối thoại, để đạt mục tiêu Người nhắc nhở cán bộ làm công tác đối ngoại, ngoại giao, trong đấu tranh phải biết kiên trì, chớ có nôn nóng, muốn đạt ngay mục tiêu cuối cùng Kẻ thù dù có thất bại, buộc phải xuống thang nhưng vì thể diện, nó sẽ xuống thang dần dần Ta phải biết thắng từng bước Như vậy là trong hoạt động đối ngoại phải luôn thể hiện tinh thần chủ động, tính chiến đấu cao, phải “kiên quyết không ngừng thế tiến công” nhưng cũng phải biết chọn thời cơ để giành thắng lợi từng bước, từng bộ phận

Nhân nhượng và thỏa hiệp trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại Biết nhân nhượng lợi ích bộ phận, tạm thời, đúng lúc, căn cứ vào tương quan lực lượng để bảo

vệ lợi ích tối cao của dân tộc, từng bước tiến lên và đi tới mục đích cuối cùng Sự nhân nhượng có nguyên tắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh ngoại giao thể hiện ở chỗ trong hoàn cảnh phải thỏa hiệp để phá thế bế tắc, vượt qua khó khăn

và tạo điều kiện đạt tới mục tiêu đã định Trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ, chủ động, linh hoạt, đấu tranh kiên quyết và khéo léo bảo vệ lợi ích chính đáng của dân tộc, luôn hướng đích, việc nhân nhượng có nguyên tắc đã cho phép biến nghịch cảnh thành thuận cảnh, biến những khả năng mong manh thành hiện thực có lợi cho cách mạng vào những thời điểm nguy nan cấp bách đối với đất nước

Đảng ta khẳng định: “tạm ước ngày 14 tháng 9 năm 1946 là một bước nhân nhượng cuối cùng Nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của cả nước, là hại

Trang 35

quyền lợi cao trọng của dân tộc” [15, tr 148] Chủ quyền ngoại giao cũng là một yếu tố cấu thành của chủ quyền quốc gia, là một trong những đặc trưng cơ bản của một Nhà nước hợp hiến, tự do và độc lập Trong giai đoạn 1945-1946 đầy khó khăn, phức tạp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã kiên quyết đấu tranh để nước ta “có ngoại giao riêng” Đồng thời, Người luôn khẳng định chủ quyền ngoại giao trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến vận mệnh đất nước

Trong xử lý các vấn đề đối ngoại, các tình huống phức tạp, Người luôn nắm giữ nguyên tắc kiên định mục tiêu, mềm dẻo, linh hoạt về sách lược nhằm “thêm bạn, bớt thù” Tư tưởng “thêm bạn, bớt thù” chỉ có thể thực hiện trên cơ sở xác định đúng mâu thuẫn Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù, phải phân biệt thêm bầu bạn, bớt kẻ thù” [44, tr 453]Đó là nguyên tắc chung của mọi cuộc cách mạng, đối với một dân tộc nhỏ lại phải đối đầu với kẻ thù mạnh và thâm độc thì việc “làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết” càng trở nên cấp thiết Sau Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước muôn vàn khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất là “nguy cơ giặc ngoại xâm” khi trên mảnh đất nhỏ bé cùng hiện diện quân đội của các quốc gia hùng mạnh như Nhật, Anh, Pháp và quân đội Tưởng Giới Thạch Trong tình thế đó, Hồ Chí Minh khẳng định “Không nên cùng một lúc đánh tay 5, tay 6 với lũ cướp nước và bán nước Đấm bằng cả hai tay một lúc là không mạnh”.Chân lý hiển nhiên như một lẽ phải thông thường của cuộc sống đã được Hồ Chí Minh vận dụng, cụ thể hóa vào thực tiễn và trở thành “mẫu mực tuyệt vời của sách lược lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch” [19, tr 36]

Nhìn rõ mâu thuẫn giữa hai tập đoàn đế quốc là Anh - Pháp và Mỹ - Tưởng, chỉ trong vòng hơn một năm, nền ngoại giao non trẻ Việt Nam dưới sự chèo lái của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện các sách lược ngoại giao khác nhau, thậm chí trái ngược nhau như lúc thì hòa với Tưởng để tập trung chống Pháp ở miền Nam (8/1945- 3/1946), lúc thì hòa với Pháp để đuổi Tưởng về nước (3/1946 - 12/1946)

Sự linh hoạt đó đã giúp cách mạng Việt Nam thoát khỏi tình thế “bị kìm kẹp cả hai phía là bọn Pháp và bọn Quốc dân Đảng” Hồ Chí Minh thấu hiểu nghệ thuật ngoại giao là nghệ thuật làm cho mình ít kẻ thù nhất Vì vậy, Người không chỉ triệt để lợi

Trang 36

dụng mâu thuẫn giữa hai tập đoàn đế quốc là Anh - Pháp và Mỹ - Tưởng mà còn khơi sâu trong nội bộ quân Tưởng và quân Pháp để giảm sức mạnh của những đội quân đông đúc, hùng mạnh

Sau này, tại Đại hội III của Đảng (1960), Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định: Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù “là một nguyên tắc chiến lược chứ không phải là vấn đề sách lược” Từ đó, Đảng đưa ra chủ trương: “Đoàn kết bất cứ người nào có thể đoàn kết được, tranh thủ bất cứ người nào có thể tranh thủ được, trung lập bất cứ người nào có thể trung lập, cốt nhằm phân hóa kẻ thù đến cao độ và

cô lập chúng” [47, tr 75] Thực hiện chủ trương đó, Đảng ta đã có nhiều biện pháp khéo léo nhằm khoét sâu mâu thuẫn giữa đế quốc Mỹ và các nước đồng minh của

họ, giữa phái chủ chiến với phái chủ hòa, giữa Mỹ với các nước phụ thuộc; giữa Mỹ

và chính quyền tay sai ở Miền Nam, Việt Nam Kết quả là chiến tranh Việt Nam ngày càng trở thành gánh nặng cả về vật chất lẫn tinh thần đối với Mỹ khi bị nhân loại tiến bộ phản đối nên cuối cùng Mỹ đành chấp nhận xuống thang chiến tranh

Để thực hiện tư tưởng “thêm bạn, bớt thù” phải biết thỏa hiệp, biết nhân nhượng để bảo toàn lực lượng, để lôi kéo đồng minh, thấy cuộc đối đầu trực diện là không thể thắng do tương quan lực lượng bất lợi mà vẫn cứ đối đầu thì “đó là tội ác” Trong giai đoạn 1945 - 1946, để hòa hoãn với quân Tưởng ở miền Bắc khi cần tập trung chống Pháp ở miền Nam, Hồ Chí Minh đã sử dụng những biện pháp tổng hợp như tiến hành các cuộc tiếp xúc ngoại giao với tinh thần trọng thị và chấp nhận nhân nhượng cho quân Tưởng một số quyền lợi về kinh tế, chính trị và quân sự Chỉ 8 ngày sau khi quân Tưởng và Pháp kí Hiệp ước Trùng Khánh (28/2/1946), Hồ Chí Minh đã ký kết được Hiệp ước Sơ bộ 6/3/1946 với Pháp trên tinh thần “cương quyết giữ quyền độc lập” nhưng liên minh với Pháp, nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế, văn hóa để “Pháp phải thừa nhận quyền dân tộc tự quyết của ta” Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có lúc Hồ Chí Minh và Đảng ta phải chấp nhận những điểm dừng tạm thời, những khúc quanh mang tính chiến lược Kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ta đã chấp nhận đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền để đạt được mục đích quan trọng là buộc các nước tham gia Hiệp định Giơnevơ cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Pháp phải rút khỏi Đông Dương,

Trang 37

miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, đặt cơ sở pháp lý quốc tế cho cuộc thống nhất đất nước sau này Trong kháng chiến chống Mỹ, sau gần 5 năm đấu tranh tại Hội nghị Pari, cuối cùng ta và Mỹ đã cùng nhân nhượng để mỗi bên đạt được mục tiêu quan trọng Mục tiêu số một của Việt Nam lúc này là “ đánh cho Mỹ cút” để rồi sau đó sẽ tiến tới “đánh cho ngụy nhào” Sự thỏa hiệp đó đã có tác dụng thu hẹp lực lượng cần đánh đổ khi gạt ra khỏi miền Nam Việt Nam hàng chục vạn lính viễn chinh Mỹ và đồng minh Biết thỏa hiệp để bảo toàn lực lượng là sáng suốt, biết nhân nhượng đúng mức, không quá “tả” để phá vỡ đàm phán, không quá “hữu”

để tổn hại đến lợi ích cơ bản của dân tộc là khôn khéo

Để “thêm bạn, bớt thù”, Hồ Chí Minh phân biệt tường minh giữa nhân dân yêu chuộng hòa bình với bọn phản động, hiếu chiến trong chính phủ của nước đối phương Trả lời phỏng vấn của nhà báo Ôxtrâylia W.Bớcsét tháng 8 năm 1963 và tháng 4 năm 1964, Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước đây, chúng tôi đã chú ý phân biệt thực dân Pháp với thực dân Pháp yêu chuộng hòa bình, thì ngày nay chúng tôi cũng chú ý phân biệt nhân dân Mỹ vĩ đại có truyền thống tự do với bọn can thiệp

Mỹ và bọn quân phiệt ở Hoa Thịnh Đốn”, [45, tr 148] “ chúng tôi phân biệt nhân dân Mỹ với đế quốc Mỹ Chúng tôi muốn có những quan hệ hữu nghị và anh em với nhân dân Mỹ mà chúng tôi rất kính trọng…” [45, tr 148] Trong lực lượng của đối phương thì “thêm bạn” chính là “bớt thù”, vì khi đó nhân dân Việt Nam chỉ phải chống chính phủ hiếu chiến của Pháp và Mỹ chứ không phải chống toàn bộ nước Pháp và Mỹ Tương quan lực lượng vì thế đã xoay chuyển theo chiều hướng có lợi cho ta Chủ trương đó đã làm kẻ thù bị cô lập trên thế giới và đặc biệt là ngay trong nội bộ đất nước mình Làm cho cả nhân loại, kể cả nhân dân các nước đi xâm lược vượt lên tình cảm dân tộc thông thường, thuần túy để trở thành bạn và ủng hộ hết mình cho Việt Nam thì đó quả thật là kì tích mà Hồ Chí Minh và Đảng ta làm được Trong những năm 60 của thế kỷ XX, trước sự bất đồng, chia rẽ của các nước

xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh nêu quan điểm độc lập “có lý, có tình” và vì lợi ích cách mạng thế giới, vì lợi ích cách mạng Việt Nam Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 9, khóa III, năm 1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu quan điểm có tính nguyên tắc:

“Mục đích là vì đoàn kết Vì đoàn kết mà phải đấu tranh Đấu tranh để đi đến đoàn kết chứ không nói xấu ai Phải làm sao cho trong Đảng và trong nhân dân giữ được

Trang 38

lòng yêu mến và biết ơn các nước bạn anh em , đồng thời không nên coi sự bất đồng là chuyện lạ” [67, tr 490]Đứng vững trên lập trường nguyên tắc, chú trọng vận động, thuyết phục, kiên định chờ đợi đấu tranh có lý, có tình, cùng nghệ thuật ứng xử khôn khéo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng góp quan trọng vào việc giữ được quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam với hai nước lớn xã hội chủ nghĩa

Thực tế đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối quốc tế mà Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì thực hiện Đồng thời, nhờ am hiểu các nước bạn và quan hệ chính trị nước lớn nên Người đã xử lý khéo léo nhiều tình huống ngoại giao rất phức tạp, giữ vững nguyên tắc đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa

Trong chính sách đối ngoại với các nước lớn khác, Hồ Chí Minh đã tìm những điểm tương đồng giữa ta và họ, cũng như hiểu quan hệ giữa họ với nhau, không để Việt Nam “bị kẹp” trong xung đột nước lớn, tranh thủ nước lớn nào có thể tranh thủ được, hết sức tránh gây căng thẳng, đối đầu và không gây thù oán với một ai” Điều quan trọng nữa là phải tạo dựng được mối quan hệ thỏa đáng, không vì quan hệ với nước lớn này mà gây ra đối kháng với nước lớn khác, giải quyết mối quan hệ trước mắt phải tính đến hệ quả và chiều hướng phát triển lâu dài, đồng thời luôn đặt quan hệ này trong tổng thể các mối quan hệ khu vực và toàn cầu

Nhờ đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng ta, hoạt động ngoại giao của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta nói chung, đặc biệt là hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ta đã hạn chế ảnh hưởng xấu ở mức thấp nhất của những bất đồng giữa các nước anh em đối với sự nghiệp cách mạng lâu dài của nhân dân ta nói chung với cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng

Trong quá trình đi tới mục tiêu cuối cùng là độc lập, tự do, thống nhất đất nước, Hồ Chí Minh luôn đánh giá đúng tình hình quốc tế và so sánh lực lượng ở từng thời điểm cụ thể để vận dụng sách lược một cách linh hoạt, mềm dẻo, giành thắng lợi từng bước Với Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh giành độc lập, thống nhất cho Tổ quốc là mục tiêu nhất quán, để đạt được mục tiêu đó, Người đã linh hoạt trong cách tiếp cận vấn đề nhằm hạn chế đến mức tối đa sự khác biệt, tìm ra mẫu số chung cho các cuộc đàm phán Chính vì vậy, Người luôn nhắc nhở cán bộ ta: Trong vấn đề đối ngoại, ngoại giao và hợp tác quốc tế phải kiên trì, chớ nôn

Trang 39

nóng, muốn đạt ngay mục đích cuối cùng đôi khi phải biết nhân nhượng, phải biết thắng từng bước để đi đến thắng lợi hoàn toàn

Kiên định về nguyên tắc và đi đến mục tiêu cuối cùng, đi đôi với thực hiện mềm dẻo, linh hoạt trong ứng xử những vấn đề đặt ra trong đường lối đối ngoại cũng như trong quan hệ quốc tế là một đóng góp to lớn, có ý nghĩa trong hoạt động đối ngoại của Hồ Chí Minh Giành độc lập, thống nhất đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu

cơ bản, lâu dài của cách mạng nước ta

Đó là cái “bất biến” để hoạt động đối ngoại lấy đó mà “ứng vạn biến” bằng những chủ trương, đối sách khôn khéo, linh hoạt, phong phú, uyển chuyển, linh hoạt và chủ động, hợp với xu thế khách quan và những chuyển biến của nhân tố chủ quan, góp phần từng bước làm suy yếu kẻ thù, mở rộng lực lượng, tranh thủ thời cơ, tranh thủ lực lượng bên ngoài có lợi cho cách mạng nước ta Đúng như đồng chí Trường Chinh đã nhận định: “Luôn luôn phối hợp tính cứng rắn về nguyên tắc với tính mềm dẻo về sách lược, không vì lợi ích thiển cận nhất thời mà nhìn chệch định hướng cách mạng Người dạy chúng ta mỗi khi tình hình đổi mới, điều kiện mới của cuộc vận động cách mạng đã nảy sinh, hàng ngũ kẻ thù và hàng ngũ bạn đồng minh

đã biến hóa thì phải lập tức xem xét lại chủ trương, chính sách và khẩu hiệu cách mạng, căn cứ vào tình hình mới mà định phương châm, chiến lược và sách lược, không nên bám vào những khuôn khổ cũ kỹ và lỗi thời” [18, tr 174]

1.5 Tăng cường trao đổi, hợp tác cùng theo chính sách chung sống hòa bình với các nước trên thế giới

Hòa bình và chống chiến tranh xâm lược là một nội dung đặc trưng của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Quan điểm của Người về các vấn đề này được hình thành trong quá trình đấu tranh cho nền độc lập, tự do của dân tộc và vì các giá trị tiến bộ của nhân loại Đồng thời trong hành trình tìm đường cứu nước, Người tiếp nhận các quan điểm của Lênin về chiến tranh và hòa bình Đặc biệt, Người còn được tiếp nhận cội nguồn sâu xa từ tư tưởng hòa bình, hòa hiếu vốn là truyền thống nhân văn Việt Nam

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lấy hòa bình làm trọng nhưng không có nghĩa là nhượng bộ cho kẻ thù lấn tới, giải quyết các vấn đề bằng phương pháp hòa

Trang 40

bình nhưng không có nghĩa là không dùng vũ lực khi cần thiết, hòa bình không có nghĩa là vô nguyên tắc, hòa bình phải đảm bảo những nguyên tắc nhất định về lợi ích quốc gia và chủ quyền dân tộc Theo quan điểm cách mạng, hòa bình là thiêng liêng, song nó phải gắn liền với độc lập dân tộc, nếu chỉ vì hòa bình mà từ bỏ chiến tranh giải phóng dân tộc là một thứ chủ nghĩa hòa bình vô nguyên tắc Ngược lại, nếu chiến tranh giải phóng dân tộc ảnh hưởng đến hòa bình thế giới thì sẽ đi ngược lại xu thế của thời đại Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân

ta, điều cần nhấn mạnh là Việt Nam, một nước nhỏ luôn phải chiến đấu chống lại những kẻ thù lớn mạnh hơn nhiều Vì vậy, Đảng và Hồ Chí Minh chỉ tiến hành chiến tranh khi không còn khả năng hòa bình, tiến hành chiến tranh để đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù rồi áp dụng phương châm vừa đánh, vừa đàm khi có thời cơ Thật vậy, sau khi giành chính quyền, duy trì hòa bình, tránh không cho chiến tranh nổ ra và nếu có xung đột vũ trang thì không cho lan rộng, trong hai năm 1945

và 1946 là cả một nghệ thuật xử lý các mối quan hệ giữa chính quyền non trẻ của ta với bọn đế quốc và giữa các nước đế quốc với nhau Lịch sử đã chứng minh rằng chỉ có Hồ Chí Minh và các cộng sự của Người mới làm được điều đó

Trước hết, cần phải nói đến cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ nổ ra ngày 23/9/1945 Ngày 26/9/1945 qua Đài tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, khẳng định quyết tâm kháng chiến của dân tộc ta, “thà chết tự do hơn sống nô lệ” [35, tr 29] Song, Người cũng hiểu rõ lúc này

là lúc cần phải tranh thủ hòa bình Do vậy, một mặt ta đánh trả quyết liệt quân Pháp

và chi viện cả người lẫn của cho đồng bào Nam Bộ Mặt khác, ta đón tiếp quân đội Anh, Tưởng vào giải giáp quân Nhật và kiên trì thương lượng hòa bình với mọi đối tượng khi có thể

Đầu năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi muốn hòa bình ngay

để máu người Pháp và người Việt ngừng chảy Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau” [36, tr 24] Nhà ngoại giao Pháp, J Sainteny, ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Kỳ đã cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, sau này có những nhận xét về Người “những lời nói, những hành động, thái độ của Người, tất cả đều thuyết phục là Người không muốn dùng giải pháp bạo lực”

Ngày đăng: 27/10/2016, 14:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Lao động (2006), “Quan hệ Việt - Mỹ đầu thế kỷ XXI”, ngày 17/11/2006, tr. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt - Mỹ đầu thế kỷ XXI
Nhà XB: Báo Lao động
Năm: 2006
2. Nguyễn Đình Bin (2002), Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000
Tác giả: Nguyễn Đình Bin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
3. Bộ Ngoại giao (1995), Hội nhập và giữ vững bản sắc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 399-400 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập và giữ vững bản sắc
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
4. Bộ Ngoại giao (2008), Biên niên ngoại giao Việt Nam 20 năm đổi mới (1986- 2006), Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên ngoại giao Việt Nam 20 năm đổi mới (1986- 2006)
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2008
5. Nguyễn Anh Cường (2011), "Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ năm 1995 đến nay", Tạp chí Giáo dục Lý luận (4), tr 71-75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ năm 1995 đến nay
Tác giả: Nguyễn Anh Cường
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục Lý luận
Năm: 2011
6. Nguyễn Anh Cường (2012), Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976 - 2006), luận án tiến sỹ lịch sử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng lãnh đạo quá trình bình thường hóa và phát triển quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ (1976 - 2006)
Tác giả: Nguyễn Anh Cường
Năm: 2012
7. Nguyễn Anh Cường (2012), "Một số nhận thức lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thời kỳ đổi mới", Tạp chí Châu Mỹ ngày nay (1), tr. 54-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận thức lịch sử quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Anh Cường
Nhà XB: Tạp chí Châu Mỹ ngày nay
Năm: 2012
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V, tập 1
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết lần thứ Tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1990
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII), Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Lưu hành nội bộ
Năm: 1994
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1998
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Lê Duẩn (1970), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1970
20. Freymond Facques (1981), Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ giai đoạn 1976-1978, Thư viện quân đội sao lục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ giai đoạn 1976-1978
Tác giả: Freymond Facques
Nhà XB: Thư viện quân đội sao lục
Năm: 1981

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w