Tục lệ là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được của nền văn hóa truyền thống. Nó chịu sự chi phối của yếu tố lịch sử và hoàn cảnh địa lý. Vì vậy, tục lệ không chỉ là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để phân loại dân tộc mà còn là một trong những nội dung cốt lõi của nền văn minh. Tục cưới hỏi là nghi thức của con người, vì cưới hỏi là chuyện trọng đại của đời người, cho nên nội dung của nó cũng vô cùng phong phú và luôn luôn thu hút được sự quan tâm của mọi tầng lớp, dân tộc. Đó là ý thức đối với gia đình, đối với dòng họ và đối với nam nữ thanh niên đến tuổi trưởng thành. Đó là niềm trân trọng đối với bước ngoặt quan trọng trong đời người. Từ một con người tự do bước sang một tư cách mới: thành vợ thành chồng. Những nghi lễ về cưới hỏi đánh dấu cho sự hệ trọng ấy. Việt Nam là một nước nhiều dân tộc với những bức tranh văn hóa khác nhau. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, các dân tộc đã kề vai, đoàn kết bên nhau đấu tranh giành độc lập dân tộc, tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Cả 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành một truyền thống tốt đẹp từ ngàn xưa, đó là xây dựng cuộc sống đan xen, hoà bình, trong đó mỗi dân tộc đều có tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán và văn hoá khác nhau góp phần tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử nghi lễ hôn nhân của các dân tộc đã có nhiều thay đổi, theo chiều hướng tiên tiến song vẫn giữ được nét đặc trưng truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi dân tộc đều có nét đẹp riêng trong phong tục cưới hỏi của mình. Vì dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam và dân tộc Choang ở Trung Quốc là ba dân tộc thiểu số có dân số khá lớn. Ba dân tộc này thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái với địa bàn cư trú chủ yếu là vùng Lưỡng Quảng (tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây)và một phần vùng đông nam tỉnh Vân Nam thuộc Trung Quốc và vùng đông bắc bắc bộ Việt Nam. Hiện nay, dân tộc Tày, Nùng cư trú tại Trung Quốc được xếp vào nhóm các dân tộc có nguồn gốc từ dân tộc Choang. Dân tộc Tày, Nùng xưa kia là những dân tộc có chung nguồc gốc lịch sử, ngày nay tuy tách thành hai dân tộc nhưng sự gần gũi về văn hóa, ngôn ngữ của họ vẫn còn rõ nét, điểm khác biệt của họ là do sự tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa trong quá trình phát triển lịch sử khác nhau. Người Nùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán nhiều hơn trong khi ngươi Tày chịu ảnh hưởng của văn hóa Việt. Người Tày, Nùng sống chủ yếu trong các bản ven đường, mỗi bản thường là sự quy tụ của nhiều dòng họ, có bản có đến 10 họ. Người Tày, Nùng đều theo gia đình phụ hệ, vai trò của người đàn ông được coi trọng, ý thức trọng nam khinh nữ thể hiện đậm nét từ gia đình đến cộng đồng. Cả ba dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam và Choang ở Trung Quốc đều có chữ viết từ rất sớm nên từ xa xưa, nền văn hóa của họ đã rất phong phú và đa dạng. Phong tục tập quán của ba dân tộc có nhiều nét tương đồng, nhưng theo sự phân bổ dân số trên những địa bàn khác nhau, mỗi dân tộc vẫn có những bản sắc riêng.
Trang 1Luận văn: Phong tục cưới hỏi của dân tộc Tày, Nùng khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng, Việt Nam và dân tộc Choang khu vực biên giới phía
nam Quảng Tây, Trung Quốc
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tục lệ là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được của nền văn hóa truyềnthống Nó chịu sự chi phối của yếu tố lịch sử và hoàn cảnh địa lý Vì vậy, tục lệkhông chỉ là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để phân loại dân tộc mà còn làmột trong những nội dung cốt lõi của nền văn minh
Tục cưới hỏi là nghi thức của con người, vì cưới hỏi là chuyện trọng đại của đờingười, cho nên nội dung của nó cũng vô cùng phong phú và luôn luôn thu hút được sựquan tâm của mọi tầng lớp, dân tộc Đó là ý thức đối với gia đình, đối với dòng họ vàđối với nam nữ thanh niên đến tuổi trưởng thành Đó là niềm trân trọng đối với bướcngoặt quan trọng trong đời người Từ một con người tự do bước sang một tư cách mới:thành vợ thành chồng Những nghi lễ về cưới hỏi đánh dấu cho sự hệ trọng ấy
Việt Nam là một nước nhiều dân tộc với những bức tranh văn hóa khác nhau.Trong quá trình dựng nước và giữ nước, các dân tộc đã kề vai, đoàn kết bên nhau đấutranh giành độc lập dân tộc, tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổquốc Cả 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã hình thành mộttruyền thống tốt đẹp từ ngàn xưa, đó là xây dựng cuộc sống đan xen, hoà bình, trong
đó mỗi dân tộc đều có tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán và văn hoá khác nhaugóp phần tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử nghi lễ hôn nhân của các dân tộc đã cónhiều thay đổi, theo chiều hướng tiên tiến song vẫn giữ được nét đặc trưng truyềnthống, đậm đà bản sắc dân tộc Mỗi dân tộc đều có nét đẹp riêng trong phong tục cướihỏi của mình
Vì dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam và dân tộc Choang ở Trung Quốc là ba dântộc thiểu số có dân số khá lớn Ba dân tộc này thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái vớiđịa bàn cư trú chủ yếu là vùng Lưỡng Quảng (tỉnh Quảng Đông và tỉnh Quảng Tây)vàmột phần vùng đông nam tỉnh Vân Nam thuộc Trung Quốc và vùng đông bắc bắc bộViệt Nam Hiện nay, dân tộc Tày, Nùng cư trú tại Trung Quốc được xếp vào nhóm cácdân tộc có nguồn gốc từ dân tộc Choang
Dân tộc Tày, Nùng xưa kia là những dân tộc có chung nguồc gốc lịch sử, ngàynay tuy tách thành hai dân tộc nhưng sự gần gũi về văn hóa, ngôn ngữ của họ vẫn còn
rõ nét, điểm khác biệt của họ là do sự tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa trong quá trình
Trang 3phát triển lịch sử khác nhau Người Nùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán nhiềuhơn trong khi ngươi Tày chịu ảnh hưởng của văn hóa Việt Người Tày, Nùng sốngchủ yếu trong các bản ven đường, mỗi bản thường là sự qu y tụ của nhiều dòng họ,
có bản có đến 10 họ Người Tày, Nùng đều theo gia đình phụ hệ, vai trò của ngườiđàn ông được coi trọng, ý thức trọng nam khinh nữ thể hiện đậm nét từ gia đình đếncộng đồng
Cả ba dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam và Choang ở Trung Quốc đều có chữ viết
từ rất sớm nên từ xa xưa, nền văn hóa của họ đã rất phong phú và đa dạng Phong tụctập quán của ba dân tộc có nhiều nét tương đồng, nhưng theo sự phân bổ dân số trênnhững địa bàn khác nhau, mỗi dân tộc vẫn có những bản sắc riêng
Việc nghiên cứu và so sánh phong tục cưới hỏi của ba dân tộc Tày, Nùng vàChoang nhằm vào việc đưa ra những thông tin và phân tích khoa học dựa trênnhững đặc điểm đại đồng tiểu dị hay đại dị tiểu đồng
Do điều kiện địa lý tự nhiên và do những biến động lịch sử, địa bàn cư trú nêncác dân tộc Tày, Nùng và Choang chủ yếu phân bố ở biên giới Việt-Trung nhưng vẫn
có những mối giao lưu về quan hệ nguồn gốc, quan hệ thương mại, văn hóa hầu nhưliên tục trong suốt chiều dài lịch sử hai đất nước.Vì thế, những điểm giống nhau haygiao thoa trong phong tục cưới hỏi vẫn có nhiều luật tục giống nhau được lưu giữ đếnnay Mặt khác, do sự tác động của bối cảnh kinh tế, xã hội phát triển, mức sống ngườidân ngày càng nâng cao, phương tiện giao thông, truyền thông ngày càng tiện lợi,phong tục cưới hỏi của cả ba dân tộc Tày, Nùng và Choang cũng chịu nhiều ảnhhưởng cả tích cực và tiêu cực Việc bảo tồn những nét đẹp văn hóa phong tục tậpquán này chưa hẳn lúc nào cũng tỏ ra có hiệu quả Bên cạnh đó, sự thay đổi trong lốisống hiện đại của lớp người trẻ cũng góp phần không nhỏ khiến việc bảo tồn trở nênkhó khăn hơn.Chính vì thế việc nghiên cứu về phong tục cưới hỏi còn góp phần sưutầm, bảo tồn và giới thiệu nét đẹp văn hóa của ba dân tộc, hai quốc gia Việt Nam vàTrung Quốc Đây là một việc làm quá cần thiết
Xuất phát từ những nhận thức trên, chúng tôi đã chọn đề tài: Phong tục cưới hỏi
của dân tộc Tày, Nùng khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng, Việt Nam và dân tộc Choang khu vực biên giới phía nam Quảng Tây, Trung Quốc làm đề tài nghiên cứu
luận văn của mình
Trang 42 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tuy vấn đề phong tục cưới hỏi đã được nhắc đến hoặc là đối tượng nghiên cứucủa nhiều công trình, luận văn nhưng nhìn chung, cho đến nay, chưa có một côngtrình nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện, hệ thống và chi tiết đến nội dung màchúng tôi dự định nghiên cứu Ở Việt Nam đã có nhiều công trình bàn về phong tụccưới hỏi của dân tộc Tày, Nùng; ở Trung Quốc cũng có nhiều nhà nghiên cứu đi sâuvào phong tục cưới hỏi của dân tộc Choang nhưng thiếu vắng những nghiên cứu trên
cả ba dân tộc cùng lúc với cái nhìn toàn cảnh
Dân tộc Tày, Nùng là dân tộc có dân số lớn ở vùng miền núi phía bắc Việt Nam(xếp thứ hai sau dân tộc Kinh) nên việc nghiên cứu và bảo tồn bản sắc của dân tộcTày, Nùng này là hết sức cần thiết Dân tộc Choang ở vùng nam và tây nam TrungQuốc cũng ở vị thế tương tự Các học giả nổi tiếng nghiên cứu văn hóa dân tộcChoang của Trung Quốc có thể kể tới Hoàng Hiện Phiền (黄现璠), Hà Chính Đình(何正婷), Phạm Hồng Quý (范宏贵), Phạm Hữu Thức (范有识) với những công
trình như: Tóm tắt lịch sử về dân tộc Choang Quảng Tây của Hoàng Hiện Phiền, Quế
Lâm, Nxb Nhân dân Quảng Tây, năm 1959 (“广西壮族简史” ,黄现璠,桂林: 广西人”
民出版社, 1959 年版), Lịch sử văn hóa dân tộc Choang của Phạm Hồng Quý,
Phạm Hữu Thức, Quế Lâm, Nxb Dân tộc Quảng Tây, năm 1997 (“壮族文化历史” ,”范宏贵,范有识,桂林:广西民族出版社, 1997 年版)… Tuy nhiên, thực trạng hiện nay
là có rất ít sách về dân tộc Choang Trung Quốc được dịch và xuất bản ở Việt Namcũng như rất hiếm sách về dân tộc Tày, Nùng của các tác giả Việt Nam được dịchsang tiếng Trung
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Cưới xin là phong tục, là nghi thức.Mỗi dân tộc hợp thành phong tục tập quánriêng về cưới xin Phong tục ấy truyền thống, xây dựng nền thuần phong mỹ tục Nó
là di sản văn hóa vô hình của mỗi dân tộc
Phong tục nghi thức cưới xin là biểu hiện văn hóa, văn minh của một dân tộc, ởmột đám cưới đã thể hiện rất rõ trình độ về đời sống văn hóa tinh thần và văn hóa vậtchất của dân tộc
Cho nên khảo cứu về tục cưới xin dân tộc Tày, Nùng là việc làm có nhiều ýnghĩa Nó là sự tìm hiểu,kế thừa,phát triển trong sự bảo tồn, tôn tạo,phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc
Trang 5Vì nhiều nguyên nhân,di sản văn hóa dân gian (trong đó có tục cưới xin) củanhiều dân tộc, nhiều vùng đang có nguy cơ mất dần hay “xuống cấp”.
Nghiên cứu tổng quan về Phong tục cưới hỏi cu ̉a dân tộc Tày, Nùng khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng, Việt Nam và dân tộc Choang khu vực biên giới phía nam Quảng Tây, Trung Quốc Ngoài ra, chúng tôi cũng tập trung vào các yếu tố tác động
đến phong tục của từng dân tộc để từ đó tìm ra sự giống nhau và sự khác nhau trongphong tục cưới hỏi của dân tộc Tày, Nùng và Choang
Trên cơ sở đó luận văn còn xác định các yếu tố tác động tích cực, tiêu cực nhằmtìm hiểu những nét đẹp cũng như những điều cần suy nghĩ, bổ sung về một di sản vănhóa dân gian, theo phương châm “vừa gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộcvừa tiếp thu văn hóa thế giới”
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phong tục cưới hỏi của dân tộc Tày, Nùngkhu vực biên giới tỉnh Cao Bằng,Việt Nam và dân tộc Choang khu vực biên giới phíanam Quảng Tây, Trung Quốc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là dân tộc Tày, Nùng sinh sống ở các địa phầnthuộc khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng, Việt Nam và dân tộc Choang khu vực biêngiới phía nam Quảng Tây, Trung Quốc
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, người nghiên cứu sử dụng kết hợp cácphương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là các phương pháp như:
- Phương pháp lịch sử: Để nghiên cứu về phong tục cưới hỏi dưới góc độ lịchsử
- Phương pháp khảo sát, điền dã thực tế: Người nghiên cứu thu thập thông tin, dữliệu thông qua bảng hỏi, phòng vấn hồi cố, trực tiếp, ghi chép thực tế
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Dựa trên các nguồn tài liệu và thông tin điền
dã để so sánh, đối chiếu các nét văn hóa tương đồng, khác biệt trong dân tộc Tày,Nùng và dân tộc Choang
- Phương pháp phân tích, lập luận: Nhằm tìm ra phương pháp, cách thức bảo tồn vàphát huy phong tục cưới hỏi của dân tộc Tày, Nùng và dân tộc Choang
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Cưới hỏi là một trong những nghi thức quan trọng của vòng đời mỗi người
Trang 6Nghiên cứu phong tục cưới hỏi đóng vai trò quan trọng trong việc khái quát về thuầnphong mỹ tục, đặc điểm, bản sắc của mỗi tộc người, mỗi vùng miền Thông qua việc
nghiên cứu phong tục cưới hỏi cu ̉a dân tộc Tày, Nùng khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng, Việt Nam và dân tộc Choang khu vực biên giới phía nam Quảng Tây, Trung Quốc, chúng tôi mong muốn được đóng góp một phần và công cuộc gìn giữ và phát
huy bản sắc của hai dân tộc nói trên Những thông tin và kết quả nghiên cứu có thểđưa ra một cái nhìn toàn cảnh về những điểm đặc sắc trên khoảng không gian phân
bổ địa bàn cư trú của ba dân tộc thuộc hai nước và theo suốt chiều dài hình thành vàphát triển phong tục cưới hỏi
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn được cấu trúc theo quy định chung, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụlục và Tài liệu tham khảo sẽ bao gồm 3 chương sau đây:
Chương 1: Phong tục cưới hỏi của dân tộc Tày, Nùng khu vực biên giới tỉnh CaoBằng, Việt Nam
Chương 2: Phong tục cưới hỏi của dân tộc Choang khu vực biên giới phía namQuảng Tây, Trung Quốc
Chương 3: So sánh những tương đồng, khác biệt, và giải pháp nhằm bảo tồn vàphát triển nét văn hóa tốt đẹp trong phong tục cưới hỏi của dân tộc Tày, Nùng khuvực biên giới tỉnh Cao Bằng, Việt Nam và dân tộc Choang khu vực biên giới phíanam Quảng Tây, Trung Quốc
Trang 7Chương 1PHONG TỤC CƯỚI HỎI CỦA DÂN TỘC TÀY, NÙNG KHU VỰC BIÊN
GIỚI TỈNH CAO BẰNG, VIỆT NAM
1.1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC TÀY, NÙNG KHU VỰC BIÊN GIỚI TỈNH CAO BẰNG, VIỆT NAM
1.1.1 Lịch sử của dân tộc Tày, Nùng
Trong đại gia đình nước Việt Nam, dân tộc Tày, Nùng là nhánh phương Namcủa chủng tộc người Bách Việt, trước kia sinh sống trên thung lũng sông Tây Giangthuộc tỉnh Quảng Tây và Quảng Ðông, Trung Quốc Thời gian xuất hiện của cácnhóm này có lẽ cùng thời với các nhóm Lạc Việt cách đây trên 4,000 năm Ngôn ngữnói chung một ngôn ngữ, cùng một nguồn gốc lịch sử, nằm trong khối cộng đồng dântộc Việt Nam Đồng thời là hai dân tộc sống bên cạnh nhau, có những quan hệ mậtthiết về kinh tế, văn hóa và huyết thống Đồng bào Tày, Nùng sống rải rác ở hầu khắpcác tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, Hà Tuyên Đây cũng là hai dân tộc đôngngười ở miền Bắc
Sau khi người Pháp thiết lập bộ máy cai trị tại Việt Nam, đến năm 1979 ngườiTày, Nùng cũng như nhân dân Việt Bắc và Tây Bắc đã cùng nhau chiến đấu bảo vệbiên giới đất nước và kết quả họ đã vượt qua những khó khăn gian khổ Qua đó, cho
ta thấy trong thời kỳ lịch sử cận hiện đại, sự phát triển của tộc người Tày, Nùng đã ởnấc thang cao hơn nhiều so với trước đây trên nhiều phương diện
Như vậy lịch sử tộc người của cư dân Tày, Nùng là quá trình phát triển lâu dàitrong sự nghiệp xây dựng, và bảo vệ đất nước, mối quan hệ qua lại giữa họ luôn làmối quan hệ thường xuyên, chặt chẽ trong xã hội mới
1.1.2 Đời sống văn hóa vật chất
1.1.2.1 Nhà cửa
Người Tày, Nùng thường ở nhà sàn và nhà nửa sàn nửa đất, trong đó nhà sàn làkiểu nhà truyền thống ưa thích của họ Nhà của người Tày, Nùng có những đặc trưngriêng không giống các cư dân khác trong cùng nhóm ngôn ngữ Tày - Thái Bộ khungnhà Tày, Nùng cũng được hình thành trên cơ sở các kiểu vì kèo Chọn nền nhà vàchọn hướng nhà là một việc rất quan trọng, nên cần phải xem xét thận trọng, vì theoquan niệm của đồng bào việc đó có ảnh hưởng đến công việc làm ăn, sinh sống saunày của gia đình
Trang 8Mỗi ngôi nhà thường ở được vài chục năm, thậm chí hàng trăm năm Trong ngôinhà Nùng có thể nói bàn thờ là nơi tập trung trang trí của gia đình và chiếm hầu nhưgần trọn 1 đến 2 gian.
1.1.2.2 Trang phục
Trang phục truyền thống dân tộc Tày, Nùng thể hiện trí tuệ, sự sáng tạo, tínhthẩm mỹ của nghệ thuật tạo hình, trang trí Trang phục nam dân tộc Tày, Nùng, cơbản có điểm chung là áo chàm ngắn, cổ tròn cao, không cầu vai, xẻ tà, cài cúc vảikhuy ngang Trang phục phụ nữ dân tộc Tày, Nùng khác nhau độ ngắn dài của áo
và họa tiết, màu sắc thêu, hình khối trang trí Phụ nữ Tày, Nùng đầu vấn khănngang, ngoài trùm khăn vuông, có mỏ quạ Áo dài màu chàm, gài khuy bên phải,vạt áo dài quá đầu gối
1.1.3 Đời sống văn hóa tinh thần
1.1.3.1 Lễ hội
Lễ hội của cư dân Tày, Nùng rất phong phú tháng giêng ăn tết Nguyên Đán, tháng 2không tết, tháng 3 có tết Thanh Minh (3/3 âm lịch), tháng 5 ăn tết Đoan Ngọ (5/5 âm lịch),tháng 6 có tết cúng ruộng vừa cấy xong (6/6 âm lịch), tháng 7 âm lịch có tết trong hai ngày
14 và ngày 15, tháng 8 tết ăn cơm mới, và tết Trung Thu, tháng 9 có tết Trùng Dương (9/9
âm lịch), tháng 10 có tết cơm lam (10/10 âm lịch), tháng 11 và 12 làm bánh dầy, bánh trôi.Nhìn chung, tết của người Tày, Nùng ít mang màu sắc tôn giáo, đa số gắn chặt với vụ nông,những lễ này ít nhiều có quan hệ với những tết cổ truyền ở phía nam Trung Quốc
Cư dân Tày, Nùng Ở Cao Bằng có lễ hội phổ biến đó là: Lễ hội Lồng Tồng và
Lễ hội nàng Hai
1.1.3.2 Tôn giáo, tín ngưỡng
Đối với dân tộc Tày, Nùng, tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng dân gian hướngniềm tin của con người tới thần bản mệnh, trời - đất, tổ tiên Về cơ bản, tín ngưỡng
Trang 9tôn giáo của người Tày, Nùng là tín ngưỡng dân gian xây dựng trên quan niệm linhhồn và vạn vật hữu linh Đặc biệt, ở trong thôn bản có các thầy cúng mo, then, tảo,pụt là những người thực hành các nghi lễ tín ngưỡng chủ yếu, có vai trò lớn trong đờisống tâm linh của nhân dân Tín ngưỡng mo, then, tảo, pụt vừa có cái riêng, lại vừa
có nét chung, khiến người ta rất khó phân biệt Về bản chất, tín ngưỡng mo, then, tảo,pụt là sự pha trộn giữa tín ngưỡng bản địa với ảnh hưởng của Đạo giáo Trong đó,chất Đạo giáo thường thể hiện đậm hơn ở tào, còn chất dân gian lại đậm hơn ở then,pụt, mo Trái lại chất Shaman giáo với nghi thức nhập hồn và xuất hồn thì thể hiện rõhơn ở then
1.1.4 Tổ chức gia đình, xã hội
1.1.4.1 Các hình thức và mối quan hệ trong gia đình
Bản là đơn vị cơ sở nhỏ nhất Các gia đình trong bản và các thành viên hợp lạithành một cộng đồng dân cư và có tổ chức Đơn vị xã hội nhỏ nhất của người Tày,Nùng là gia đình (gọi là “Tu rườn”), trong gia đình Tày, Nùng tính chất gia trưởngphụ quyền rất cao, do vậy, ý thức trọng nam khinh nữ khá đậm trong cộng đồng, sựphân biệt đối xử còn thấy rõ trong việc phân chia mặt bằng sinh hoạt trong nhà
1.1.4.2 Hôn nhân trong xã hội Tày, Nùng
Người Tày, Nùng có quy định rất chặt chẽ trong hôn nhân gia đình, cấm lấyngười trong dòng tộc với nhau, trừ những người họ xa khác chi Hiện tượng ngoạitình, hoang thai cũng hiếm có Trong hôn nhân người Tày, Nùng có tập tục ở rể (ở rểtạm và ở rễ suốt đời)
1.2 PHONG TỤC CƯỚI HỎI CỦA DÂN TỘC TÀY, NÙNG KHU VỰC BIÊN GIỚI TỈNH CAO BẰNG, VIỆT NAM
1.2.1 Quan niệm về phong tục cưới hỏi của dân tộc Tày, Nùng
Trong thâm tâm người Tày, Nùng nào cũng mong muốn đã là gia đình thì cần cócon, có cháu chắt, coi đó là phúc đức Do đó vấn đề cưới gả con cái là việc hệ trọngcủa cả cuộc đời con người Đồng bào quan niệm rằng: con người ta sống ở đời có baviệc lớn và quan trọng nhất Lễ cưới càng linh đình, càng đông vui bao nhiêu, người
ta càng thấy vinh dự bấy nhiêu
1.2.2 Tục cưới hỏi của dân tộc Tày, Nùng
Việc mời khách của đồng bào Tày, Nùng có phân loại: có loại gửi thiếp mời, cóloại nhắn lời mời, có loại chủ nhân phải trực tiếp đến mời tận nhà cách xa nhau hànghai ngày đường (như thông gia, bạn kết tồng, anh em nhận họ, cơ sở cách mạng, thầy
Trang 10đồ…) Khi có việc (nhất là lễ cưới) đồng bào không muốn bỏ sót, bỏ quên ai Cũng vì
lẽ phải đón tiếp khách ở xa về dự, đám cưới càng phải linh đình, việc ăn uống tiếp đãiphải chú ý quan tâm chu đáo
Khi chuẩn bị làm lễ cưới, người ta phải tiến hành từng bước, từng khâu và từngnghĩ lễ theo phong tục tập quán cổ truyền một cách thận trọng
Ngày xưa, con trai người Tày, Nùng 15, 16 tuổi đã cưới vợ Con gái 13, 14 tuổi
đã gả chồng Những trường hợp người vợ hơn chồng 3, 4 tuổi được coi là chuyệnbình thường
Khi gia đình có con trai lớn (thường thường từ 12 tuổi) cha mẹ phải lo tính tìmcưới vợ cho con Việc chuẩn bị phải tiến hành nhiều mặt nhất là về vật chất Một đámcưới phải chi dùng rất tốn kém kể cả của cải và tiền bạc Cho nên cha mẹ phải lo liệusớm những vấn đề cần thiết như sau:
Tiền bạc:
Lợn cưới:
Tham gia phường họ bạn:
Gửi gom vật chất:
Tìm ướm chọn lựa con dâu tương lai:
Đưa con trai ra xã hội và chăm sóc dạy bảo con gái:
1.2.3 Nghi thức lễ cưới
Trong việc làm lễ cưới cho con cái, người Tày, Nùng có tục lệ khá câu nệ Nhànào có nhiều con trai thì bao giờ cũng thường cưới vợ cho người anh trước rồi mớicưới vợ cho người em Trường hợp người em đã có người yêu (và đã được cha mẹchấp thuận) nhưng nếu người anh chưa cưới vợ thì người em vẫn phải chờ Con gáikhông thuộc vào diện tục lệ này Gả chị gái trước hay em gái trước là tùy thuộc ở nhàtrai nọ yêu cầu
Như ở phần trên đã nói, khi đã ướm và nhắm được một cô gái nào ưng về mặt thểchất và phẩm hạnh, có thể chấp nhận được làm dâu nhà mình, cha mẹ nhà trai tiến hành(hoặc nhờ một người thân làm mai mối) gặp bên nhà gái bàn bạc các nghi lễ cụ thể
1.2.3.1 Buổi gặp gỡ đầu tiên
Trang 111.2.3.6 Ngày làm lễ cưới
1.2.3.7 Lễ đón dâu, đưa dâu
1.2.3.8 Tục căng dây chặn đường
1.2.3.18 Lễ nộp con dâu (nộp con rể) nạp tế
1.2.3.19 Vui bữa rượu cưới
1.2.3.20 Lễ ba buổi ( Lễ hỏi ròi)
1.2.3.21 Tục lệ con rể đối với gia đình bố mẹ vợ
1.2.3.22 Tục lệ con dâu ở nhà chồng
Tiểu kết Chương 1
Như vậy, trong Chương 1, chúng tôi đã cố gắng tổng hợp một số tư liệu của các nhà nghiên cứu đi trước, kết hợp với thực tế để chỉ ra một số nét khái quát nhất về lịch sử hình thành và phát triển, nội dung đời sống văn hóa vật chất và tinh thần, phong tục cưới hỏi của dân tộc Tày, Nùng khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng, Việt Nam Có thể đánh giá rằng phong tục cưới hỏi của dân tộc Tày , Nùng khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng Việt Nam là khá phong phú và đặc sắc.
Trang 12Chương 2 PHONG TỤC CƯỚI HỎI CỦA DÂN TỘC CHOANG KHU VỰC BIÊN GIỚI PHÍA NAM QUẢNG TÂY, TRUNG QUỐC
2.1 TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC CHOANG KHU VỰC BIÊN GIỚI PHÍA NAM QUẢNG TÂY, TRUNG QUỐC
2.1.1 Lịch sử của dân tộc Choang
Dân tộc Choang là một dân tộc có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số ởTrung Quốc Dân tộc Choang có lịch sử phát triển lâu đời, và có nguồn gốc từ cộngđồng dân cư thời cổ đại Bách Việt Choang là dân tộc sống chủ yếu ở khu tự trịQuảng Tây phía nam Trung Quốc Ngoài ra, một số sống ở các tỉnh Vân Nam, QuảngĐông, Quý Châu và Hồ Nam Dân số Choang trên toàn Trung Quốc có khoảng 15,5triệu, riêng người Choang ở Quảng Tây đã chiếm hơn 91,3% với dân số là 14,15triệu
Người Choang tiếng phổ thông là Zhuang(trước kia được đánh vần làChuang).Hơn nữa,còn có hơn 20 tên gọi khác nhau như Bố Choang,Bố Nùng,BốLiêu,Butu(Bố Thổ),Buna(BốNa),TuLao(Thổ Lão)
Ngôn ngữ dân tộc Choang thuộc ngữ hệ Hán Tạng, nhóm ngôn ngữ ChoangĐộng, chỉ tiếng Choang Thái, rất giống với tiếng dân tộc Tày, Nùng ở vùng núi phíabắc Việt Nam, tiếng Thái Lan, tiếng Lào và tiếng Shan ở Myanmar Dân tộc Choang
có chữ viết riêng của mình Từ thời Nam Tống đã xuất hiện một loại chữ được cấuthành trên cơ sở chữ Hán, gọi là “Thổ ngữ”, nhưng được sử dụng phố biến Năm
1955, dân tộc Choang tạo ra chữ viết phiên âm dùng chữ cái La tinh là cơ sở, đếntháng 11 năm 1957 được Viện quốc vụ Trung Quốc phê duyệt và lưu hành rộng rãiđến hôm nay
2.1.2 Đời sống văn hóa vật chất
2.1.2.1 Nhà cửa
Dân tộc Choang cũng giống như dân tộc Hán là một dân tộc đa nguyên hóa, dân tộcChoang mà ở các vùng khác nhau thì thói quen sinh hoạt và suy nghĩ cũng khác nhau.Nhà ở truyền thống của người dân tộc Choang là nhà sàn Thông qua sự phòngvấn thực tế đã tìm hiểu được dân tộc Choang ở huyện Na Pha vẫn còn bảo tồn đượcđặc sắc kiến trúc nhà sàn Loại nhà sàn khác nhau rõ rệt: dạng nhà phổ biến, nền nhàcủa loại nhà sàn phần lớn làm bằng hòn đó, còn nhà cửa đặt ở trên các mặt đất cao độ