Chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vậnhành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;đã bước đầu giải phóng đượclực lượng sản xuất, tạo ra động lực phát tr
Trang 2MỤC LỤC
I LỜI MỞ ĐẦU 2
II HOÀN CẢNH 3
1 Kinh tế tăng trưởng thấp và thực chất không có phát triển 3
2 Làm không đủ ăn và dựa vào nguồn bên ngoài ngày càng lớn 3
3 Siêu lạm phát hoành hành và giá cả đuổi bắt cấp số nhân 4
III.GIAI ĐOẠN 1986 - 1990 THỜI KỲ BẮT ĐẦU CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI 5
1 Chương trình lương thực thực phẩm 5
2 Chương trình sản xuất hàng tiêu dùng 6
3 Chương trình sản xuất hàng xuất khẩu 6
IV GIAI ĐOẠN 1991-1995: 8
1 Đất nước ra khỏi tính trạng trì trệ, suy thoái 8
2 Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao 9
V GIAI ĐOẠN 1996 - 2000 10
VI GIAI ĐOẠN 2001_2005 19
VII GIAI ĐOẠN 2006-2007: 23
VIII KẾT LUẬN 29
IX TÀI LIỆU THAM KHẢO………33
Trang 3em xin giới thiệu khái quát về những thành tựu nổi bật trong nền kinh tế nước ta giaiđoạn 1986-2007.
Trang 4II HOÀN CẢNH
Sau ngày giải phóng đất nước, nhân dân Việt Nam đứng trước một cơ hội mới đểphát triển kinh tế vì có thuận lợi cơ bản là tiềm năng kinh tế của hai miền có thể bổ chonhau và quý báu hơn là có hòa bình Tuy nhiên, do xuất phát điểm của nền kinh tế thấpkém lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cùng với những vấp váp, sai lầm trong cán chínhsách kinh tế nên đến năm 1895, kinh tế Việt Nam đã hoàn toàn rơi vào khủng hoảng vàvòng xoáy của lạm phát, thể hiện trên những mặt chủ yếu sau đây :
1 Kinh tế tăng trưởng thấp và thực chất không có phát triển.
Nếu tính chung từ năm 1976 đến năm 1985 tổng sản phẩm xã hội tăng 50%, tức làbình quân mỗi năm trong giai đoạn 1976 – 1985 chỉ tăng 4,6% Đã thế, sản xuất kinhdoanh lại kém hiệu quả nên chi phí vật chất cao và không ngừng tăng lên Năm 1980 chiphí vật chất chiếm 44,1% Do vậy thu nhập quốc dân qua hai kế hoạch 5 năm tăng38,8%, bình quân mỗi năm tăng 3,7%
2 Làm không đủ ăn và dựa vào nguồn bên ngoài ngày càng lớn
Năm 1985, dân số cả nước gần 59,9 triệu người, tăng 25,7%so với năm 1975 nhưvậy trong 10 năm 1975 -1985 bình quân mỗi năm dân số tăng 2,3% Để đảm bảo đủ việclàm và thu nhập của dân cư không giảm thì ít nhất nền kinh tế phải tăng 7% mỗi năm.Nhưng trên thực tế nền kinh tế không đạt mức tăng đó nên sản xuất trong nước luônkhông đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tối thiểu
Thu nhập quốc dân sản xuất trong nước chỉ bằng 80 – 90% thu nhập quốc dân sửdụng Tích lũy tuy nhỏ bé, nhưng toàn bộ tích lũy và một phần quỹ tiêu dùng phải dựavào nguồn nước ngoài Trong những năm 1976 – 1986, thu vay nợ và viện trợ nướcngoài bằng 38,2% tổng thu ngân sách và bằng 61,9% tổng số thu trong nước Nếu so với
Trang 5lượt là 22,4%, 28,9%, và 18,6% Tính đến năm 1985 nợ nước ngoài đã lên tới 8,5 tỉ rúpvà 1,9 tỉ USD Tuy nguôn từ nước ngoài lớn như vậy nhưng ngân sách vẫn trong tìnhtrạng thâm hụt và phải bù đắp bằng phát hành Bộ chi ngân sách 1980 là 18,1% và năm
1985 là 36,6%
Trị giá xuất khẩu hàng năm có tăng lên nhưng vẫn còn thấp so với giá trị nhậpkhẩu Tỉ lệ xuất khẩu thường chỉ bằng 20 -40% nhập khẩu : 1976 bằng 21,7%, 1977bằng 26,5%, 1978 bằng 25,1%, 1979 bằng 21,0%, 1980 bằng 29,0%, 1982 bằng 35,8%,
1983 bằng 40,4%, 1984 bằng 32,2%, 1985 bằng 37,5% Hầu hết các loại hàng hóa thiếtyếu phục vụ cho sản xuất và đời sống đều phải nhập khẩu toàn bộ hay một phần do sảnxuất trong nước không đảm bảo được tiêu dùng Ngoài sắt, thép, xăng, dầu, máy móc,thiết bị còn nhập cả những loại hàng hóa lẽ ra sản xuất trong nước có thể đáp ứng đượcnhư gạo và vải mặc Trong những năm 1976 – 1980 đã phải nhập 60 triệu mét vải cácloại và 1,5 triệu tấn lương thực quy gạo Sau 10 năm đất nước thống nhất, việc xây dựngvà phát triển kinh tế cơ bản trong bối cảnh hòa bình mà cái gì cũng thiếu nên cái gì cũngquý Nhiều loại sản phẩm bình quân đầu người năm 1985 tính ra còn đạt thấp hơn năm1987
3 Siêu lạm phát hoành hành và giá cả đuổi bắt cấp số nhân.
Cơn sốt lạm phát không biết đã ra đời trong nền kinh tế từ bao giờ, nhưng chỉ biếtngay những năm 1976 nó đã từng tồn tại Cho dù người ta dấu diếm, che mắt và kiềmchế nó, nhưng nó cứ lớn dần lên ngoài ý muốn của con người Năm 1985, cuộc cải cáchgiá- lương –tiền theo giải pháp xốc đã thất bại làm cho cơn sốt lạm phát vụt lớn nhanh,hoành hành trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội Giá cả leo thang từng ngàyđã vô hiệu hóa tác dụng đổi tiền chỉ mới tiến hành vài tháng trước đó, làm rối loạn điềuhành kinh tế vĩ mô Giá cả không chỉ tăng ở kinh tế thị trường tự do mà còn tăng rấtnhanh trong thị trường tổ chức Về cơ bản giá cả đã tuột khỏi vòng tay bao cấp của NhàNước Siêu lạm phat đạt đỉnh cao vào năm 1986 với tốc độ tăng giá cả năm lên tới774,4%
Trang 6III GIAI ĐOẠN 1986 - 1990 THỜI KỲ BẮT ĐẦU CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm năm (1986-1990) đã cụ thể hóa đường lốiđổi mới của Đảng ta Nghị quyết Đại hội VI được quán triệt đến các ngàng, các cấp, các
cơ sớ sản xuất kinh doanh Chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vậnhành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;đã bước đầu giải phóng đượclực lượng sản xuất, tạo ra động lực phát triển mới; phát huy khả năng sáng tạo và nguồnlực trong các tầng lớp nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; bướcđầu huy động thên các nguồn vốn khác ngoài ngân sách để đầu tư, bố trí nguồn vốn tậptrung vào các công trình trọng điểm, các công trình phục vụ ba chương trình kinh tế lớn.nền kinh tế dần dần khắc phục những yếu kém và đã có bước phát triển
Kết thúc kế hoạch năm năm(1986-1990), công cuộc đổi mới đã đạt được nhữngthành tựu bước đầu rất quan trọng việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu phát triểnvề lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu được đánh giá là sự thànhcông bước đầu trong việc cụ thể hóa nội dung của quá trình công nghiệp hóa xã hội chủnghĩa trong chặng đường đầu tiên đã được Đại hội lần thứ VI thông qua
Có thể tóm tắt những kết quả đó như sau:
1 Chương trình lương thực thực phẩm
Đã được triển khai thực hiện khá tốt sản xuất lương thực đã cĩ bước phát triển đáng
kể, từ mức trên dưới 18 triệu tấn quy thĩc mỗi năm trong những năm 1984-1987 đã tăng lênđạt 21,5 triệu tấn trong năm 1989 va 1990.Tính chung năm năm 1986-1990, sản lượnglương thực tăng 13,5 triệu tấn so với năm năm 1981-1985 Do vậy, mặc dù số dân thườngxuyên tăng lên với tốc độ cao nhưng lương thực bình quân đầu người mỗi năm trong kếhoạch năm năm 1986-1990 vẫn đạt 310 kg/người Từ chỗ lương thực sản xuất khơng đủ tiêudùng, nước ta đã trở thành quốc gia xuất khẩu lương thực với mức tương đối khá (năm 1989
Trang 7xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, trị giá 290 triệu USD; năm 1990 xuất khẩu 1,5 triệu tấn gạo, trịgiá 304,6 triệu USD).
Chăn nuơi gia súc, gia cầm và nghề đánh bắt, nuơi trồng thủy, hải sản được phát triểnkhá; mơ hình VAC (vườn –ao-chuồng) lần đầu được nhắc đến với ý nghĩa khuyến khíchkinh tế gia đình trong các hộ nơng dân và các nơi cĩ điều kiện trồng trọt, chăn nuơi…Sảnlượng thịt hơi các loại đạt 1 triệu tấn, trong đĩ thịt lợn hơi là 73 vạn tấn vào năm 1990;sảnlượng cá nuơi trồng và đánh bắt được khoảng 89 vạn tấn
Tổng giá trị sản xuất nơng nghiệp tăng bình quân 3,8-4%/năm
2 Chương trình sản xuất hàng tiêu dùng
Đã được tổ chức triển khai thực hiện trên diện rộng; được sự chỉ đạo sát sao của cácngành, các cấp từ trung ương đến địa phương Các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu phát triểntương đối khá Năm 1990, sản lượng vải đạt 380 triệu mét so với mục tiêu là 430-450 triệumét; giấy các loại đạt 78.000 tấn so với mục tiêu là 12.000 tấn; đường mật đạt 351.000 tấn
so với mục tiêu là 70.000 tấn các mặt hàng tiêu dùng thơng thường như xà phịng, thuốcchữa bệnh, đồ dùng sành sứ, thủy tinh, xe đạp và xăn lốp xe đạp, quạt điện, máy thu thanh,thu hình …đều vượt kế hoạch; thị trường tiêu thị đã bớt được phầ nào căng thẳng tổng giátrị sản xuất cơng nghiệp tăng bình quân 7,4%/năm, trong đĩ sản xuất hàng tiêu dùng tăng13-14%/năm
3 Chương trình sản xuất hàng xuất khẩu
Đã được triển khai thực hiện với những đổi mới cơ bản về cơ chế, chính sách khuyếnkhích xuất khẩu, khai thác nguồn hàng, mở rộng, tìm kiếm thị trường…nhờ vậy đã khơi dậykhả năng xuất khẩu của đất nước; giải quyết được phần nào khĩ khăn về ngoại tệ cho nềnkinh tế do bị Mỹ bao vây, cấm vận Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu trong năm năm (1986-1990) tăng 28%/năm Thị trường dần dần được mở rộng, nhất là thị trường khu vực 2 (khuvực trao đổi ngoại thương bằng đồng đơla Mỹ)
Thành cơng trong kế hoạch năm năm 1986-1990 khơng đơn thuần là phục hồi đượcsản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát…mà quan trọng hơn là đã chuyển đổi cơbản cơ chế quản lí cũ sang cơ chế quản lí mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đờisống kinh tế xã hội và giải phĩng sức lao động
Trang 8Tuy nhiên, các biện pháp đổi mới cơ chế quản lí phần lớn chỉ mới tác động trongnhững năm cuối kì kế hoạch năm năm 1986-1990, nên mức độ thực hiện các mục tiêu đề ratrong kế hoạch năm năm(1986-1990) đã bị hạn chế Đất nước vẫn chưa ra khỏi tình trạngkhủng hoảng kinh tế-xã hội kinh tể phát triển chậm và khơng ổn định:bình quân thời kỳ1986-1990, tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính theo thu nhập quốc dân) đạt 3,9 % Hầu hết cáccân đối lớn đều rất căng thẳng: thậm thụt ngân sách chiếm trên 8 %GDP Lạm phát phi mãtuy đã được đẩy lùi nhưng vẫn cịn rất cao, từ 774,7% năm 1986 cịn 67,5% năm 1990 Thunhập bình quân đầu người rất thấp, tỉ lệ tiết kiệm nội địa hầu như khơng đáng kể (2,9%GDP) Hàng hĩa thiếu, nhất là hàng tiêu dùng thiết yếu, thị trường khan hiếm; đời sốngnhân dân cịn gặp nhiều khĩ khăn Cơ sỏ vật chất, kỹ thuật phần lớn các ngành kinh tế-xãhội xuống cấp nghiêm trọng cả về chất lượng lẫn số lượng.
Tuy một số chỉ tiêu định lượng đạt thấp so với mục tiêu đề ra, nhung nền kinh tế đãbắt đầu cĩ những chuyển biến tích cực; đã tạo ra một số nhân tố mới thúc đẩy sự chuyểnbiến bước đầu rất cĩ ý nghĩa trong những năm 1989-1990; mở đầu một thời kỳ phát triểnmới trong những kế hoạch năm năm sau
IV GIAI ĐOẠN 1991-1995:
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6/1991 đã đưa ra chiến lược “ ổn định vàphát triển kinh tế- xã hội đến nãm 2000 “ đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ chokế hoạch 5 nãm 1991-1995 Khó khãn lớn lúc này là nền kinh tế vẫn bị bao vây cấmvận trong hoàn cảnh các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô rơi vào khủng hoảngtrầm trọng Tổng mức lưu chuyển ngoại thương của Việt Nam giảm sút đột ngột, nãm
1991 chỉ bằng 15% năm 1990 Song thuận lợi lúc này là Đổi mới đã phát huy tác dụng,các cơ sở kinh tế thích nghi dần với cơ chế quản lí mới
1 Đất nước ra khỏi tính trạng trì trệ, suy thoái.
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hơi năm 1991-2000 với quyết tâm: “rakhỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân phấnđấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, củng cố quốc phịng và an ninh, tạođiều kiện đất nước phát triển nhanh hơn vào thế kỉ 21”
Trang 9( Đảng Cộng Sản Việt Nam: văn kiện đại hội đảng thời kì đổi mới, NXB Chính trị quốc gia,
Việc Việt Nam kí Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại với EU và gia nhập tổchức ASEAN đã tạo điều kiện cho nước ta giao lưu hợp tác với các nước và thu hútnguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế Thuận lợi đó đã góp phần đẩy nhanh kế hoạch 5năm 1991-1995
Thành tựu đầu tiên là cơ chế quản lí đã thay đổi căn bản: trong nền kinh tế xuấthiện nhiều thành phần Có kinh tế quốc doanh, tư bản nhà nước, tư bản tư doanh, hợptác xã, cá thể… trong đó kinh tế quốc doanh chiếm 60% tổng sản phẩm trong nước Cácthành phần kinh tế được chú trọng và giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
2 Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao.
Tổng sản phẩm trong nước ( GDP) tăng 8,2 % vượt mức kế hoạch đề ra
Sản xuất cơng nghiệp tăng bình quân hàng năm 13,3%, nơng nghiệp tăng 4,5%, cácngành dịch vụ tăng 12% Sản xuất cơng nghiệp đã thích ứng với cơ chế quản lí mới và đivào ổn định
Một số ngành cơng nghiệp quan trọng: dầu thơ, điện, xi măng, than sạch, giấy,đường, sản phẩm cơng nghiệp… đều tăng
Các ngành dịch vụ bắt đầu tăng nhanh chĩng, tiếp cận được với thị trường, đáp ứngyêu cầu của sản xuất và đời sống xã hội Giá trị ngành dịch vụ tăng 12%/năm và chiếmkhoảng 43% GDP
Sản xuất nơng nghiệp phát triển liên tục và tồn diện, đặc biệt là sản xuất lươngthực Tính đến năm 1991-1995, tổng sản lượng lương thực đạt 125,4 triệu tấn
Trang 10Những thành tựu đạt được trong thời kì phát triển kinh tế 5 năm 1991-1995 một phần
do huy động được kết quả đầu tư xây dựng cơ sở vật chất từ những năm trước, song yếu tốquyết định là đường lối, chính sách của Đảng đã tạo động lực thúc đẩy kinh tế, đã tạonhững tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kì mới- đẩy mạnh cơng nghiệp hĩa-hiện đại hĩađất nước
a Nông nghiệp:
Sản lượng lương thực bình quân đầu người từ 330 kg năm 1990 tăng lên 370 kg năm
1995 Từ tình trạng khan hiếm, sản xuất khơng đáp ứng được nhu cầu thiết yếu, nay đã đảmbảo đủ lương thực thực phẩm, nhiều loại hàng tiêu dùng, cĩ dự trữ và xuất khẩu
Cĩ mức tăng trưởng khá: giai đoạn 1991- 1994 tăng 4,2%, đặc biệt sản xuất lươngthực từ 17,56 triệu tấn năm 1987 lên 25,5 triệu tấn năm 1993 và năm 1994 đạt 26 triệu tấn
b Cơng nghiệp :
Sau một thời gian giảm sút từ năm 1991 bắt đẩu tăng 9% và tiếp tục tăng các nămsau : 1992 tăng 14%, 1993 tăng 13,1%, năm 1994 tăng 14%
Xuất khẩu: Năm 1993 đạt 2,98 tỷ đơla Năm 1994 đạt 3,6 tỷ đơla Đặc biệt, năm
1992 lần đầu tiên Việt Nam cân bằng được xuất nhập khẩu
BẢNG SỐ LIỆU
Trang 11TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC 1885-1999 THEO GIÁ SO SÁNH PHÂN
THEO KHU VỰC KINH TẾ(USD)
Nguồn :Niên giám thống kê
NĂM TỔNG SỐ KV
NÔNG-LÂM-NGƯ NGHIỆP
KV CÔNGNGHIỆP
Trang 12chuẩn bị tiền đề cho bước phát triển cao hơn sau năm 2000, chủ yếu là phát triển nguồnnhân lực, khoa học – công nghệ, kết cấu hạ tầng, hoàn thiện thể chế…kết hợp hài hòatăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa – xã hội, tập trung giải quyết những vấn đềbức xúc nhằm tạo được chuyển biến rõ nét về thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội.
Mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển của kế hoạch 5 năm (1996 - 2000) dã được xâydựng với mức phấn đấu rất cao, cả về tốc độ phát triển và hiệu quả tăng trưởng của nềnkinh tế átrong hoàn cảnh nhiều khó khăn, thách thức Qua 5 năm đầu thực hiện chiếnlược 1991-2000 chúng ta đã hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu của kế hoạch 1991-1995.Tại đại hội VIII đưa ra nhận định “ nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xãhội nhưng một số còn chưa vũng chắc Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kìquá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyểnsang thời kì mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Theo tinh thần đó ,phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 được đại hội VIII quyết định vớimức phấn đấu cao hơn 5 năm trước
Trong quá trình thực hiện kế hoạch, nhất là từ giữa năm 1997, tác động tiêu cựccủa cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính khu vực cùng với thiên tai nghiêm trọng liêntiếp xẩy ra đã đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách quyết liệt Trong bối cảnhđó, toàn đảng toàn dân ta đã nỗ lực phấn đấu, duy trì được nhịp độ tăng trưởng bìnhquân 6,7% trong 5 năm (1996-2000), công cuộc phát triển kinh tế – xã hội tiếp tục đạtđược những thành tựu quan trọng
KẾT QUẢ : Chúng ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn và rất quan trọng:
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) sau 10 năm tăng gấp đôi, giá trị sản lượng củacác ngành sản xuất đều đạt về chỉ tiêu phấn đấu, đặc biệt là nông nghiệp trong cả hai kìkế hoạch 5 năm 1990-1995 và 1996-2000, đều tăng trưởng cao hơn chỉ tiêu đề ra, sảnlượng lương thực bình quân đầu người từ 300 kg (1990) tăng 370 kg (1995) và 435 kg(2000), từ tình trạng khan hiếm, sản xuất không đáp ứng được nhu cầu thiết yếu, nay đã
Trang 13đảm bảo đủ lương thực thực phẩm, nhiều loại hàng tiêu dùng, có dự trữ và xuất khẩungày càng tăng.
Tích lũy nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể đã đạt 25% GDP, đầu tưphát triển, so với GDP tăng từ 1,2% (1990) lên 2,8% (2000)
Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được phát triển ngày càng rõ rệt Năng lực củahầu hết các ngành sản xuất – dịch vụ đều tăng Cơ cấu sản xuất hàng hóa trên hầu khắpcác vùng trong GDP, tỉ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm còn 25%, công nghiệp tăng từ22,7 % lên 34, 5% ; dịch vụ tăng từ 38,6% lên 40,5% Các vùng kinh tế trọng điểm, cáckhu vực công nghiệp bước đầu phát huy tác dụng
Quan hệ sản xuất có bước chuyển quan trọng trong quá trình phát triển nền kinhtế thị trường định hướng Xă Hội Chủ Nghĩa Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, doanhnghiệp nhà nước đã có bước sắp xếp, đổi mới và phát triển, hình thành các tổng công tylớn trong nhiều lĩnh vực then chốt, các thành phố kinh tế khác phát triển khá nhanh Thểchế quản lí và phân phối được chuyển đổi phù hợp hơn với trình độ lực lượng sản xuất
Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, nước ta đã chủ động tranh thủ thời cơ, từng bước hộinhập có hiệu quả với nền kinh tế thê giới, bình thường hóa và mở rộng quan hệ với cáctổ chức tài chính quốc tế Phát triển quan hệ kinh tế với hầu khắp các nước gia nhập vàcó vai trò ngày càng tích cực trong nhiều tổ chức quốc tế và khu vực
Kim ngạch xuất khẩu sau 10 năm tăng gấp 6 lần, nhanh gấp 3 tốc độ tăng trưởngGDP, một số sản phẩm như gạo, cà phê, thủy sản đã giành được thị phần đáng kể trênthị trường thế giới, đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã thực hiện trong 10 năm khoảng 15tỷ USD, chiếm 1/4 tổng đầu tư toàn xã hội, thu hút trên 30 vạn lao động trực tiếp , năm
2000 tạo 22% kim ngạch xuất khẩu, 10% GDP Trong 5 năm nguồn tài trợ của chính phủcác nước và các tổ chức quốc tế giải ngân được 6,1 tỉ, tập trung chủ yếu cho việc xâydựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội
Đánh giá tổng quát : phần lớn các mục tiêu chủ yếu đề ra trong chiến lược kinh
tế, xã hội (1991-2000) đã được thực hiện Nền kinh tế có bước phát triển mới về lực
Trang 14lượng sản xuất và hội nhập nền kinh tế thế giới, tăng được thế và lực hơn hẳn 10 nămtrước, khắc phục được một bước tình trạng nước nghèo và kém phát triển, nâng cao khảnăng độc lập, tự chủ, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh Chủ Nghĩa Xã Hội-Hiện Đại Hóacác ngành kinh tế.
1 Nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam thường tạo ra trên dưới40% tổng sản phảm xã hội và khoảng 50% thu nhập quốc dân Nhưng trong những năm1976-1985, bình quân mỗi năm chỉ tăng 3,8%, sản xuất nông nghiệp hầu như vẫn giữnguyên đặc trưng độc canh cây lúa nước, mà sản lượng lương thực quy thóc năm 1985cũng chỉ đạt 18,2% triệu tấn, trong đó gần 15,9 triệu tấn thóc và trên 2,3 triệu tấn màulương thực quy thóc
Nông nghiệp là một trong những ngành đạt thành tựu to lớn trong những năm đổimới vừa qua Sự phát triển của ngành nông nghiệp tương đối ổn định và khá vững chắc,đặc biệt là sản xuất lương thực giá trị sản xuất nông nghiệp liên tục tăng qua các năm:
1991 tăng 2,9%, 1992 tăng 8,4%, 93- 6,7%, 94-4,9%, 3,9% và ước tính 1999 tăng 7,1%
9995-6,6%,96-5.1%,97-7,0%,98-Bình quân mỗi năm trong 9 năm 1991-1999 tăng 5,4% Đây là tốc độ tăng khácao vì sản xuất nông nghiệp có đối tượng là cây trồng, vật nuôi không thể có bước pháttriển đột biến được Tốc độ tăng này không chỉ cao hơn tốc độ tăng bình quân của kếhoạch 5 năm trước mà còn cao hơn mức kế hoạch 5 năm 1991-1995 và kế hoạch 5 năm1996-2000
Kết quả quan trọng nhất trong nông nghiệp là sản xuất lương thực Có thể nói saunhiều năm kiên trì phát triển lương thực nhưng chỉ đến những năm trong giai đoạn này,vấn đề an toàn lương thực mới dược khẳng định và sản lượng hàng năm không chỉ caohơn ước mơ 21,0 triêu tấn đề ra từ 1980 mà còn thường xuyên tăng lên với mức bìnhquân mỗi năm trên 1,2 triệu tấn trong suốt 9 năm 1991-1999
Trang 15Sản lượng lương thực từ mức bình quân:
Trên 13,3 triệu tấn /năm (1976-1980)Đạt 17,0 triệu tấn / năm (1981-1985)Đạt 19,7(1986-1990)
Đạt 34,2 (1991)Trong năm 1991 trở đi bình quân mỗi năm trong những năm 1991-1999 đạt gần27,1 triệu tấn /năm Đây là thời kì sản lượng lương thực tăng ổn định nhất, có mức tăngbình quân /năm và tốc độ tăng cao nhất kể từ năm 1975 đến nay
Sản lượng lương thực đạt được những năm qua cho phép khẳng định vấn đề antoàn lương thực đã được đảm bảo sản lương trên 30 triệu tấn / năm, không những đủ tiêudùng mà còn dành xuất khẩu, mỗi năm khoảng 3-4 triệu tấn gạo Nếu một năm nào đómất mùa thì chỉ giảm trên dưới 1 triệu tấn thóc, chỉ ảnh hưởng một phần gạo xuất khẩuchứ không gây ra thiếu hụt tiêu dùng trong nước Một khi sản lượng lương thực dư thừakhẳng định việc lưu thông thuận tiện thì vấn đề tự túc lương thực ở từng vùng, từng địaphương với bất cứ giá nào trở nên không cần thiết nữa
Với những chính sách cụ thể của chính phủ nhằm phát huy thế mạnh của khu vựckinh tế trang trại- kinh tế trang trại là bước phát triển mới của kinh tế hộ, gắn với mụctiêu sản xuất hàng hóa quy mô lớn Năm 1999, cả nước có khoảng 113000 trang trại,khai thác gần 30000000 ha đất trống đồi trọc và hoang hóa Số vốn các trang trại đầu tưtrên 20000 tỷ đồng, giải quyết việc làm hơn 40.000 lao động, kinh tế trang trại hàngnăm tạo ra giá trị tổng sản phẩm gần 12.000 tỷ đồng, chiếm 10% giá trị sản lượng nôngnghiệp
Tốc độ phát triển nông-lâm-ngư nghiệp tăng 4,1% trong đó nông nghiệp tăng5,6%, lâm nghiệp tăng 0,4 %, ngư nghiệp tăng 8,4%
2 Công nghiệp.