1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn: Quan hệ giữa cộng hòa nhân dân Trung Hoa và cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 - 2014

169 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1 1.Lý do chọn đề tài1 2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề3 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:5 4.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài6 5.Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu7 6.Đóng góp của đề tài8 7. Bố cục của luận văn.8 Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ TRUNG - ẤN TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH9 1.1. Nhân tố lịch sử9 1.1.1.Quan hệ Trung - Ấn trong lịch sử đến trước khi đặt quan hệ ngoại giao 19509 1.1.2.Quan hệ Trung - Ấn từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến hết Chiến tranh lạnh14 1.1.2.1. Giai đoạn 1950 đến 196214 1.1.2.2. Giai đoạn từ 1962 đến cuối thập niên 8017 1.2. Nhân tố quốc tế21 1.2.1. Sự chuyển biến của môi trường khu vực và quốc tế sau Chiến tranh lạnh21 1.2.1.1. Sự tác động của nhân tố Pakistan26 1.2.1.2. Nhân tố Casơmia28 1.2.2. Sự tác động của xu hướng toàn cầu hoá29 1.2.3. Sự tác động của nhân tố Mỹ32 1.3 Nhân tố bên trong34 1.3.1. Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc.34 1.3.2.Trung Quốc trong “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ40 Tiểu kết chương 146 Chương 2: QUAN HỆ SONG PHƯƠNG TRUNG - ẤN TRÊN CÁC LĨNH VỰC TỪ 1991 ĐẾN 201448 2.1. Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao48 2.1.1Cơ sở của mối quan hệ chính trị - ngoại giao Trung - Ấn48 2.1.2.Các hoạt động cụ thể49 2.2. Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại59 2.2.1. Về hợp tác thương mại61 2.2.2. Về hợp tác đầu tư70 2.3. Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng75 2.4. Mối quan hệ trong vấn đề biên giới84 2.5. Trên lĩnh vực văn hoá - giáo dục, khoa học - kỹ thuật94 2.5.1.Hợp tác về văn hoá - giáo dục95 2.5.2.Hợp tác về khoa học - kỹ thuật97 Tiểu kết chương 2:100 Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ MỐI QUAN HỆ TRUNG QUỐC - ẤN ĐỘ101 3.1. Thành tựu và hạn chế của mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh 1991 đến 2014101 3.1.1.Thành tựu101 3.1.2.Hạn chế106 3.2.Đặc điểm, tính chất của mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh 1991 đến 2014111 3.2.1. Đặc điểm của mối quan hệ Trung - Ấn111 3.2.2. Tính chất của mối quan hệ Trung - Ấn trong tương lai.118 Tiểu kết chương 3125 KẾT LUẬN126 TÀI LIỆU THAM KHẢO130 PHỤ LỤC1

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Văn Ngọc Thành

Trang 2

Hà Nội - 2015

Trang 3

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

APEC: Asia- Pacific Economic Cooperation (Diễn đàn hợp tác kinh tế

châu Á - Thái Bình Dương)ARF: ASEAN Regional Forum (Diễn đàn an ninh khu vực)

ASEAN: Association of South- East Asian Nations (Hiệp hội các quốc gia

Đông Nam Á)ASEM: Asia - Europe Meeting (Hội nghị Á - Âu)

CNXH: Chủ nghĩa xã hội

CNTB: Chủ nghĩa tư bản

BCIM Nhóm các nước Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Mianmar

BRICS Nhóm các nước Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc

EU: Europan Union (Liên minh châu Âu)

FDI: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

GATT: General agreement on Tarifs and Trade

(Thỏa hiệp chung về thuế quan và mậu dịch)GDP: Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)

G.8: Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới và NgaIMF: International Monntary Fund (Quỹ tiền tệ quốc tế)

LAC: Giới tuyến kiểm soát biên giới thực tế Trung - Ấn

NAFTA: North American Free Trade agreement

(Khu vực tự do thương mại Bắc Mỹ)OPEC: Organization of Petroleum exporting Countries

(Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa)SCO: Tổ chức Hợp tác Thượng Hải

TLTKĐB: Tài liệu tham khảo đặc biệt

TTXVN: Thông tấn xã Việt Nam

WB: World Bank (Ngân hàng thế giới)

WTO: World Trade Organization (Tổ chức thương mại thế giới)

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 1

Trang 1

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3.2.Phạm vi nghiên cứu 6

4.Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 6

5.Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7

5.1.Nguồn tài liệu 7

5.2.Phương pháp nghiên cứu 8

6.Đóng góp của đề tài 8

1.1.2.2 Giai đoạn từ 1962 đến cuối thập niên 80 18

1.2 Nhân tố quốc tế 23

1.2.1 Sự chuyển biến của môi trường khu vực và quốc tế sau Chiến tranh lạnh 23 Casơmia vừa là nhân tố bên ngoài vừa là nhân tố bên trong có ảnh hưởng lớn tới quan hệ Trung Ấn Casơmia là vùng tranh chấp từ lâu chủ yếu giữa Ấn Độ và Pakistan Lãnh thổ Casơmia trở thành điểm nóng khi Ấn Độ và Pakistan được tự trị vào tháng 8 - 1947 Theo kế hoạch chia cắt lãnh thổ trong Luật Độc lập Ấn Độ năm 1947, Casơmia được tự

do lựa chọn hoặc sáp nhập vào lãnh thổ Ấn Độ hoặc Pakistan Sau một cuộc trưng cầu dân ý, Casơmia được sáp nhập vào lãnh thổ Ấn Độ Islamabad lại cho rằng Casơmia đáng lẽ phải thuộc về Pakistan vì người Hồi giáo chiếm đa số ở Casơmia Pakistan cũng cho rằng sau một loạt nghị quyết của Liên Hợp Quốc về vấn đề Casơmia, người dân ở đây cần được bỏ phiếu để quyết định tương lai chính trị của họ Tuy nhiên, Ấn Độ không chấp nhận và đã đưa nhiều dẫn chứng khẳng định việc sáp nhập Casơmia vào Ấn

Độ là phù hợp Kể từ đó, Casơmia trở thành một điểm nóng với hai cuộc chiến tranh lớn giữa Ấn Độ và Pakistan vào năm 1947 - 1948 và năm 1965 Sau cuộc chiến tranh đầu tiên kết thúc, một đường ranh giới đã được dựng lên chia cắt Casơmia thành hai vùng: Casơmia - Ấn Độ, Casơmia - Pakistan Tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong vấn đề Casơmia bởi vì dân số ở vùng đất này chủ yếu là người Hồi giáo (60% dân số, là bang

có đông người Hồi giáo nhất ở Ấn Độ) Hơn 60 năm qua, Quan hệ Pakistan và Ấn Độ luôn ở trong tình trạng thù địch Sự thù địch này bắt nguồn từ nguyên nhân tôn giáo và lịch sử, leo thang thành một cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm Cuộc tranh chấp này càng phức tạp hơn khi có thêm những thế lực bên ngoài tham gia Trung Quốc không chỉ chiếm 5.180 km2 ở Casơmia sau khi được Pakistan nhượng lại từ năm 1963, mà còn hậu thuẫn cho chính quyền Islamabad trong thế đối trọng với Niu Đê li Sự hậu thuẫn này là một trong những nguyên nhân khiến cho vấn đề Casơmia trở nên phức tạp Việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho vùng đất bạo lực này không thể thiếu sự tham gia của

Trang 5

Trung Quốc Có thể thấy, vấn đề Casơmia là một nhân tố quan trọng chi phối quan hệ

Trung - Ấn hiện nay 29

1.2.2 Sự tác động của xu hướng toàn cầu hoá 31

1.3.1 Ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc 36

Tiểu kết chương 1 49

Như vậy, quan hệ Trung - Ấn là mối quan hệ giữa hai cường quốc láng giềng đang trỗi dậy Vì thế, quan hệ này chịu nhiều tác động từ những chuyển biến mạnh mẽ của hoàn cảnh quốc tế như: toàn cầu hóa, khu vực hóa; cách mạng khoa học - công nghệ; nhân tố các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU, Nga và Pakixtan và tác động của những nhân tố bên trong như: vấn đề tranh chấp biên giới, lãnh thổ; vấn đề Casơmia Trong số đó thì những nhân tố bên trong, đặc biệt là những vấn đề lịch sử, luôn có tính quyết định nhất đối với mối quan hệ đặc biệt này Những nhân tố bên ngoài cũng hết sức quan trọng Sự tương tác giữa những nhân tố đó sẽ tạo ra những thuận lợi hoặc thách thức và quyết định đến chiều hướng phát triển của quan hệ Trung - Ấn trong tương lai Do đó, quan hệ Trung - Ấn vừa phát triển tích cực để tạo môi trường thuận lợi giải quyết tranh chấp, tránh sự lợi dụng của bên ngoài, vừa cạnh tranh để chiếm lợi thế trong việc giải quyết tranh chấp Điều này giải thích vì sao cả hai nước luôn nỗ lực cải thiện quan hệ, gia tăng ảnh hưởng với các quốc gia trong khu vực Đây vừa là cơ hội thuận lợi to lớn để các quốc gia trong khu vực tăng cường quan hệ sâu rộng hơn với cả hai bên, vừa là thách thức không nhỏ khi phải luôn tìm cách né tranh những nhân tố rủi ro của mối quan hệ này 49

Quan hệ chính trị - ngoại giao Ấn Độ - Trung Quốc trong nhiều thập kỷ vẫn bị hạn chế bởi tâm lý nghi ngờ lẫn nhau xuất phát từ cuộc Chiến tranh biên giới Trung - Ấn năm 1962 Chiến tranh lạnh kết thúc, “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ đã giao thoa với chính sách mở cửa của Trung Quốc làm cho quan hệ giữa “con rồng” và “con voi” ngày càng được cải thiện và xúc tiến mạnh mẽ trên hầu hết các lĩnh vực Quan hệ chính tri - ngoại giao Trung Quốc và Ấn Độ dựa trên các cơ sở chủ yếu sau: 51

2.1.2.Các hoạt động cụ thể 52

Sự kiện đánh dấu mở đầu quan hệ giữa hai nước trên lĩnh vực chính trị- ngoại giao là vào tháng 11/1991 Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng sang thăm Ấn Độ sau gần 30 năm kể từ cuộc chiến tranh biên giới, mở ra một chương mới trong quan hệ giữa hai nước Chính Thủ tướng N Rao cũng đã đánh giá cao chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Lý Bằng, coi đây sẽ là “cột mốc” trong sự phát triển của tình hữu nghị giữa hai nước và đánh giá đây là chuyến thăm “bổ ích nhất” và “hai nước đã có những bước đi đúng hướng” [ 27, tr 173] Cũng một

Trang 6

phần nhờ cải thiện quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ đã cắt giảm chi phí quân

sự từ 9,6 tỷ USD năm 1987 xuống khoảng 7,1 tỷ USD 1991 - 1992 Đồng thời, tỷ lệ chi phí quân sự trong ngân sách cũng giảm từ 20% xuống còn 16% [27, tr.173] Trung Quốc cũng có cơ hội tốt hơn để phát triển thương mại với quốc gia rộng lớn này 522.2.Trên lĩnh vực kinh tế - thương mại 62Trung Quốc và Ấn Độ đã chọn hai mô hình phát triển khác nhau, nên con đường phát triển kinh tế cũng không giống nhau Mô hình phát triển của

Trung Quốc là “hội nhập với việc thu hút mạnh FDI, tiếp nhận chuyển giao công nghệ nước ngoài, tận dụng nhân công giá rẻ để sản xuất và xuất khẩu, dần dần đi lên bằng nguôn vốn và công nghệ tích lũy được”[33, tr.11] Trong khi đó, Ấn Độ lại chọn hướng phát triển công nghệ tối ưu, đi lên chủ yếu bằng nội lực và chất xám Ấn Độ chọn hướng “đi tắt, đón đầu” để trở thành nền kinh tế tri thức với mục tiêu trở thành trung tâm công nghệ thế giới Mặc dù con đường phát triển của hai nước khác nhau, nhưng với “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ bắt nhịp với “Chính sách mở của” của Trung Quốc nên hai nước đã có điều kiện thuận lợi để hợp tác phát triển 622.2.1 Về hợp tác thương mại 65

Ấn Độ và Trung quốc là hai nước được đánh giá là động lực cho sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu cũng như làm thay đổi diện mạo kinh tế thế giới Không có quốc gia đang phát triển nào như Ấn Độ và Trung Quốc lại có tốc

độ tăng trưởng ấn tượng như vậy Hai nước đã tìm thấy lợi ích qua chính sách

mở cửa mà trao đổi thương mại là con đường ngắn nhất để đến với nhau Trung Quốc đã phấn đấu và hiện nay trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ Ấn Độ cũng đạt mục tiêu vươn lên thành bạn hàng thứ sáu (hiện nay là thứ 10) của Trung Quốc trong thời gian tới [130, tr.7] Quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ có không gian phát triển rất lớn, triển vọng tươi sáng

Trang 7

Nếu hai nước có thể hợp tác với tốc độ nhanh nhất thì điều này không chỉ có nghĩa là sự bắt đầu vươn lên của thế kỷ châu Á, mà có thể trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển của thế giới 652.3.Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng 79

Kể từ sau Chiến tranh lạnh, với việc điều chỉnh chính sách đối ngoại nhất là

“Chính sách hướng Đông”, không gian an ninh của Ấn Độ được mở rộng

“môi trường an ninh của Ấn Độ trải dài từ Vùng Vịnh tới eo biển Malacca ở phía Tây, Đông và Nam Trung Á, ở phía Bắc, Trung Quốc, ở phía Đông Bắc

và Đông Nam Á” Còn Trung Quốc với chính sách cải cách và mở cửa với chiến lược ngoại giao láng giềng cả hai đã giao thoa cùng nhau tạo nên những mối quan hệ hợp tác rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực 79

Từ ngày 11 đến 16/ 12/1991, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng đến thăm Ấn

Độ Hai bên đã bàn về vấn đề biên giới, hai bên tỏ ra thông cảm về lập trường của nhau, nhất trí giữ yên tĩnh vùng biên giới, không để nó cản trở quan hệ giữa hai nước, thỏa thuận giải quyết vấn đề Kashmir Trung Quốc lần đầu tiên ủng hộ quan điểm của Ấn Độ và Pakixtan cần giải quyết thương lượng song phương Ấn Độ cũng ủng hộ chủ quyền của Trung Quốc ở Tây Tạng, không

để người Tạng ở Ấn Độ hoạt động chống phá Trung Quốc [49,tr.5] 79Trên cơ sở những điều kiện thuận lợi bước đầu đó, hai nước tiến thêm một bước mới trong hợp tác an ninh quốc phòng Đó là sự kiện tháng 9/1993, nhân chuyến thăm Trung Quốc của Thủ tướng N Rao, hai bên đã ký Hiệp ước duy trì hòa bình và yên tĩnh dọc biên giới kiểm soát thực tế của LAC vào ngày 7/9/1993 Bản Hiệp định này đánh dấu việc đưa ra biện pháp bình thường hóa biên giới, điều này tạo điều kiện giảm bớt quân đội và chi phí quốc phòng cho

cả hai bên ở biên giới để tập trung nguồn lực phát triển kinh tế, đánh dấu bước cải thiện đáng kể trong quan hệ an ninh giữa hai nước Tuy nhiên, với

Trang 8

năm vụ thử hạt nhân của Ấn Độ từ ngày 11 đến 13/5/1998 tại sa mạc Hian đã

làm cho quan hệ hai nước chững lại 79

Từ năm 1999 trở đi, với việc quan hệ hai nước một lần nữa trở lại tốt đẹp hơn thì quan hệ an ninh - quốc phòng cũng có những bước tiến đáng kể Trên cơ sở đó, ngày 23/10/2003, Ấn Độ và Trung Quốc bắt đầu các cuộc tọa đàm có tính chất bước ngoặt, nỗ lực giải quyết tranh chấp biên giới vốn khúc mắc từ lâu [78, tr.3] Kế hoạch này nằm trong chiến lược hướng Đông của Ấn Độ và chiến lược ngoại giao láng giềng của Trung Quốc Mối quan hệ an ninh - quốc phòng giữa Ấn Độ và Trung Quốc được tăng cường và thể hiện rõ nhất trong thực tế, đó là ngày 14/11/2003, lần đầu tiên hải quân hai nước Trung Quốc - Ấn Độ đã tổ chức cuộc diễn tập chung trên biển [80, tr.1] Hai nước đều có vũ khí hạt nhân và thù địch với nhau trong một thời gian dài, do vậy cuộc diễn tập chung này, cho dù nội dung diễn tập không có gì đặc biệt, nhưng là cái mốc quan trọng đánh dấu quan hệ hai nước đã ấm lên rất nhiều Sự cải thiện quan hệ Trung - Ấn, nhất là thông qua cải thiện hợp tác quân sự, chứng tỏ Trung Quốc có bước điều chỉnh lớn nhằm làm cân bằng hơn trong quan hệ với hai nước láng giềng là Ấn Độ và Pakixtan, từ đó mục tiêu mà Trung Quốc vẫn luôn nêu ra là duy trì một trường hoà bình, ổn định xung quanh, có lợi cho công cuộc xây dựng kinh tế ở trong nước Đó cũng là chiến lược đối ngoại mới của Trung Quốc trong thế kỷ XXI này Từ năm 2006 trở đi, hầu như năm nào hai nước cũng tổ chức những cuộc tập trận chung 80

Về đoạn phía Đông: 89

2.5 Trên lĩnh vực văn hoá - giáo dục, khoa học - kỹ thuật 98

3.1.2.Hạn chế 110

43.TTXVN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, (29/3/1959), “Thông cáo tin tức của Tân Hoa Xã về vụ phiến loạn ở Tây Tạng” 137

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nếu thế kỷ XIX được đánh giá là thế kỷ phát triển của nước Anh, thế

kỷ XX là thế kỷ của Mỹ thì thế kỷ XXI được xem là "thế kỷ châu Á" với sự nổi lên của hai trung tâm lớn là Trung Quốc và Ấn Độ “Con rồng” và “con voi” này với vị trí chiến lược quan trọng, với tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, đang ngày càng tỏ rõ là hai cường quốc có ảnh hưởng sâu rộng ở châu Á

- Thái Bình Dương cũng như trên trường quốc tế Những thành tựu to lớn trong công cuộc cải cách, mở cửa nền kinh tế và những đặc trưng trong quá trình lựa chọn con đường phát triển của mình, đang đưa Trung Quốc và Ấn

Độ trở thành tâm điểm thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ở khắp các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Nhìn lại sự phát triển của lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ hơn sáu mươi năm qua cho thấy, những chính sách và bước đi nhằm thúc đẩy quan hệ song phương

là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách đối ngoại của cả hai nước Do vậy, tìm hiểu về mối quan hệ Trung - Ấn cũng là tìm hiểu một nội dung quan trọng của lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnh đến nay Đó cũng là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu hiện nay

Diễn tiến tốt đẹp của mối quan hệ Trung - Ấn có tác động tích cực rất lớn tới quan hệ quốc tế, đến hoà bình, ổn định ở châu Á và trên toàn thế giới Ngược lại, nếu quan hệ căng thẳng, phức tạp dẫn đến cuộc chiến tranh có thể

nổ ra sẽ tạo nên sự bất ổn lớn với an ninh khu vực Vì vậy, nghiên cứu quan

hệ Trung - Ấn là cần thiết không chỉ với bản thân hai nước, mà còn với nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới Đó là vấn đề có ý nghĩa khá lớn đối với việc xác định chiến lược của nhiều quốc gia trong khu vực

Mối quan hệ Trung - Ấn là một ví dụ, một sự khảo nghiệm điển hình đối với khái niệm “cùng tồn tại hoà bình” giữa các nước có thể chế chính trị

Trang 10

hoàn toàn khác nhau, hơn nữa lại là hai nước láng giềng Nghiên cứu vấn đề này còn có ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam trong quan hệ quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa hiện nay.

Quan hệ Trung - Ấn đã trải qua những bước thăng trầm đầy biến động Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, quan hệ hai nước tưởng chừng như sẽ trở thành một mẫu mực của quan hệ láng giềng tốt đẹp, nhưng cuộc chiến tranh biên giới năm 1962 đã phá tan tình hữu nghị đó và hai nước bước vào thời kỳ căng thẳng suốt những năm cuộc Chiến tranh lạnh nổ ra

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay, quan hệ Trung - Ấn đã và đang có những bước cải thiện rõ rệt, nhanh chóng, và trở thành vấn đề thời

sự nóng bỏng thu hút sự quan tâm của tất cả các nước trong khu vực và dư luận quốc tế Với những ký ức còn sống động về những bước chuyển ngược chiều của quan hệ Trung - Ấn trong quá khứ, người ta có lý do để thận trọng và chắc chắn hơn trước những diễn tiến đang xảy ra, đặc biệt khi

dự báo về những triển vọng của mối quan hệ này trong tương lai Điều đó càng thu hút sự quan tâm của chúng tôi khi nghiên cứu vấn đề này

Tìm hiểu về quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh về động cơ, phương pháp, bước đi có thể rút ra nhiều điều bổ ích, thậm chí có thể tìm hiểu rõ hơn một số điểm có tính quy luật hoặc phản ánh bản chất của các nhà nước châu Á Đặc biệt, nó còn có vai trò quan trọng đối với cục diện chính trị khu vực và những lợi ích cơ bản của nước ta Nhất là trong khi Việt Nam đang cố gắng làm bạn với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới

Một lý do nữa cũng rất thu hút sự quan tâm nghiên cứu của bản thân về

đề tài này, đó là trong quan hệ Trung - Ấn, hợp tác luôn đi kèm với cạnh tranh Các mối quan hệ song phương luôn song tồn, đan xen giữa lợi ích và

Trang 11

mâu thuẫn, nhưng lợi ích bao giờ cũng được đặt lên trên hết và trước hết

Vì vậy, dù còn tồn tại nhiều bất đồng do lịch sử để lại nhưng hai nước luôn khéo léo làm dịu nó đi, tận dụng hoà bình để gặt hái những thành tựu do hợp tác đưa lại Đó cũng là sự thể hiện rất rõ bản chất của các mối quan hệ quốc tế hiện nay

Vì những lý do khoa học và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài

“Quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trung Quốc và Ấn Độ không chỉ là hai nước láng giềng lớn, hai nền kinh tế lớn ở châu Á mà còn có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trên trường quốc tế Mối quan hệ của hai quốc gia này không chỉ là sự thể hiện của mối quan hệ láng giềng thân thiện mà còn là sự khảo nghiệm của tình hữu nghị giữa hai nước có hai nền kinh tế và hai thể chế chính trị hoàn toàn khác nhau Mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến nay đã thu hút khá nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là của các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Ấn Độ Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và khả năng, chúng tôi chỉ mới tiếp cận chủ yếu được với những công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí với dung lượng lớn, nhỏ khác nhau Có thể kể ra đây một số công trình chính sau:

* Cuốn “Sự điêu chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn Độ từ 1991 đến

2000” của các tác giả: Trần Thị Lý, Nguyễn Huy Hoàng, Bùi Minh Sơn, Đỗ

Đức Định, Nguyễn Công Khanh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2002 Trong

đó, các tác giả đề cập đến những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến' sự điều chỉnh chính sách của Cộng hoà Ấn Độ; chương trình cải cách kinh tế; sự điều chỉnh

Trang 12

chính sách đối ngoại và những thành tựu sau 10 năm điều chỉnh chính sách Đặc biệt trong phần “Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại”, tác giả đã trình bày một cách khái quát về chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với Trung Quốc từ

1991 đến 2001

* Năm 2000, tác giả Hồ Châu có bài viết với nhan đề: “50 năm quan

hệ Trung - Ấn” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 6 Bài viết đã

đề cập đến những nét cơ bản trong lịch sử quan hệ Trung - Ấn trong nửa thế

kỷ XX, một số bài học kinh nghiệm và triển vọng phát triển của mối quan hệ này

* Năm 2004, tác giả Phan Văn Rân có đăng bài: “Tam giác chiến

lược Nga - Trung - Ấn và những trở ngại trong việc hiện thực hoá ý tưởng trên” trên tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 1 Trong bài viết tác giả đã

đưa ra điều kiện khách quan cho việc thiết lập tam giác chiến lược Nga - Trung - Ấn, những khó khăn và dự báo triển vọng quan hệ Trung - Ấn trong thập kỷ tới

* Năm 2005, tác giả Nguyễn Huy Quý có bài viết: “Quan hệ Trung -

Ấn chuyển sang giai đoạn mới” trên tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 5

Trong đó tác giả đề cập đến sự chuyển hướng của quan hệ Trung - Ấn diễn

ra trong bối cảnh khu vực và tình hình quốc tế, và những “khởi điểm mới” của quan hệ Trung - Ấn sau chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo Đặc biệt tác giả đưa ra một số nhận xét về sự ảnh hưởng của mối quan hệ Trung - Ấn tới tình hình khu vực và quốc tế

* Trên tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2 - năm 2006, tác giả Võ

Xuân Vinh có bài: " Quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc từ sau Chiến tranh lạnh đến nay” Qua bài viết, tác giả đã trình bày một cách khái quát các nhân tố

tác động, hiện trạng và một số kết quả đạt được trong quan hệ Trung - Ấn

từ sau Chiến tranh lạnh đến 2006

Trang 13

* Trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 2 - tháng 6 năm 2006 có đăng

bài của tác giả Đặng Bảo Châu với nhan đề: “Liệu Ấn Độ có vượt qua Trung Quốc?” Trong bài viết này, tác giả đã phân tích khá kỹ về tiềm năng

và sức mạnh của “con rồng” và “con voi” châu Á, cũng như dự báo về khả năng phát triển kinh tế của hai “người khổng lồ” ở châu Á trong thời gian tới

* Năm 2006, tác giả Trần Văn Tùng có bài viết với nhan đề: “Con

đường phát triển kinh tế ở Trung Quốc và Ấn Độ” trên tạp chí Cộng sản,

số 13 - tháng 7 Bài viết đã phân tích chính sách, con đường phát triển kinh

tế của Trung Quốc và Ấn Độ trong thời gian qua Qua đó tác giả đưa ra những so sánh, đánh giá và dự báo vị trí của hai nước trên bản đồ thế giới trong thời gian tới

* Tại thư viện trường Đại học Vinh có lưu trữ luận văn Thạc sĩ của tác

giả Trịnh Thị Dung với đề tài “Quan hệ giữa CHND Trung Hoa và CH Ấn

Độ từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 2006’’ - Vinh, năm 2007 Trong công

trình của mình, tác giả đã trình bày những quan hệ Trung - Ấn trên các lĩnh vực từ 1991 đến 2006, nêu thực trạng cũng như dự đoán triển vọng của mối quan hệ Trung - Ấn

Viết về mối quan hệ Trung - Ấn không thể không nhắc đến nguồn tài liệu Tham khảo đặc biệt của TTXVN được đăng tải thường xuyên và cập

nhật Đây là nguồn tư liệu mang nhiều thông tin quan trọng và có tính thời

sự rất cao.

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết đề cập đến những khía cạnh khác nhau và có liên quan trực tiếp đến vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu Đó chính là nguồn tư liệu quý giá, bổ ích cho chúng tôi khi vận dụng để tiến hành thực hiện đề tài này

Tuy vậy, theo chúng tôi cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có một công

Trang 14

trình chuyên khảo nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về mối quan

hệ Trung - Ấn Thực hiện đề tài này tác giả mong muốn góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu một cách đầy đủ hơn, hệ thống hơn về mối quan hệ Trung Quốc

- Ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnh đến 2014 Từ đó đưa ra một số phân tích về đặc điểm và tính chất của mối quan hệ Trung - Ấn và mạnh dạn đưa ra một

số nhận định của bản thân về mối quan hệ Trung - Ấn trong tương lai

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng: Đối tượng mà đề tài nghiên cứu là mối quan hệ của

Trung Quốc và Ấn Độ từ 1991 đến 2014, trong đó trọng tâm là phân tích sự hợp tác của hai nước trên các lĩnh vực và một số kết quả đạt được, từ đó đưa

ra một vài nhận định về đặc điểm và tính chất của mối quan hệ này trong tương lai

3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Về mặt thời gian: Đề tài được giới hạn chủ yếu trong khoảng thời

gian từ sau Chiến tranh lanh 1991 đến 2014

* Về mặt nội dung: Đề tài chủ yếu nghiên cứu về mối quan hệ

song phương trên một số lĩnh vực: Chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại, an ninh – quốc phòng, vấn đề biên giới, văn hóa – khoa học – giáo dục trong phạm vi hai nước Trung Quốc và Ấn Độ

Tuy nhiên, do tính chất và nhiệm vụ của đề tài nên trong quá trình nghiên cứu về mối quan hệ Trung - Ấn từ năm 1991 đến năm 2014, chúng tôi không thể không tìm hiểu những nhân tố tác động và đưa ra một số nhận xét về tính tích cực, hạn chế cũng như nhận định về tính chất, đặc điểm của cặp quan hệ này

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

4.1 Mục đích: Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến mục tiêu

Trang 15

4.1.1 Nhằm làm rõ mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến 2014 một cách có hệ thống, đi từ phân tích các nhân tố tác động đến mối quan hệ, thực tiễn các mối quan hệ, hợp tác trên các lĩnh vực Từ đó rút ra mặt tích cực, hạn chế và một số kết quả đạt được cũng như tính chất, đặc điểm của mối quan hệ này Đồng thời chúng tôi muốn phân tích và làm rõ một số chính sách và biện pháp mà Trung Quốc và Ấn Độ đã áp dụng trong mối quan hệ song phương

4.1.2 Nghiên cứu về mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến 2014 nhằm góp phần tìm hiểu về chính sách đối nội, đối ngoại của Trung Quốc và Ấn Độ từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay Đó cũng là tìm hiểu một phần nội dung quan trọng của lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ hiện đại

4.1.3 Thông qua việc tìm hiểu về quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến 2014, đề tài còn nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề khu vực và quốc gia như việc giải quyết vấn đề biên giới

4.2 Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích của đề tài, nhiệm vụ mà chúng

tôi phải thực hiện đó là: Sưu tầm, tập hợp các nguồn tư liệu, trên cơ sở đó tổng hợp, phân tích, đánh giá các sự kiện nhằm xác minh và phân loại Từ

đó đi sâu làm rõ những nhân tố tác động đến mối quan hệ Trung - Ấn, phân tích một cách khách quan, khoa học những chủ trương, biện pháp mà hai nước Trung - Ấn thực hiện trong quá trình hợp tác trên các lĩnh vực Từ đó đánh giá được những tích cực, hạn chế và một số kết quả đạt được trong quan hệ từ sau Chiến tranh lạnh đến 2014 Đồng thời, tác giả đưa ra những nhận xét về đặc điểm và tính chất của mối quan hệ Trung - Ấn

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Trang 16

- Những nguồn tư liệu mang tính chất chung về lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của Trung Quốc và Ấn Độ Các công trình khoa học, đề tài cấp bộ, luận văn lịch sử, luận văn quan hệ quốc tế có đề cập đến mối quan hệ Trung - Ấn và những nguồn tư liệu về mối quan hệ Trung - Ấn được lưu giữ tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Quan hệ quốc tế.

- Các bài viết được đăng trên các báo, tạp chí khoa học như: Nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu Trung Quốc Nguồn tài liệu Tham khảo đặc biệt của TTXVN trong những năm từ

1950 đến 2014, các bài viết của các tác giả Trung Quốc và Ấn Độ về mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến nay

- Nguồn tư liệu khai thác từ internet

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Với đặc thù của bộ môn khoa học lịch sử, cũng như yêu cầu của một đề tài nghiên cứu khoa học, trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi đã

sử dụng các phương pháp như: phương pháp lịch sử và logic, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để dựng lại bức tranh về mối quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến 2014 Ngoài ra, để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai nước trên các mặt, các lĩnh vực chúng tôi còn sử dụng các phương pháp như so sánh, đối chiếu, tổng hợp

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập được, luận văn sẽ khắc hoạ lại mối

quan hệ Trung - Ấn từ đầu thập niên 90 đến 2014 một cách có hệ thống, giúp người đọc có cái nhìn tổng thể về thực tiễn mối quan hệ Trung - Ấn trong khoảng thời gian này

6.2 Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã đi sâu phân tích bối

Trang 17

cảnh quốc tế và khu vực, về những nhân tố tác động đến mối quan hệ Trung - Ấn Từ đó có cái nhìn tổng quan về chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Ấn Độ từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến 2014.

6.3 Từ những kết quả đạt được trong công trình nghiên cứu, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo về lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2014 Đồng thời luận văn góp phần tìm hiểu một mảng nhỏ của lịch sử quan hệ quốc tế, đặc biệt là mối quan hệ giữa các nước lớn

ở châu Á Từ đó rút ra bài bài học cho Việt Nam trong bối cảnh “Việt Nam

muốn là bạn với tất cả các nước trên thế giới”

7 Bố cục của luận văn.

Với đề tài này, ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Những nhân tố tác động đến quan hệ Trung - Ấn từ sau Chiến tranh lạnh

Chương 2 Quan hệ Trung - Ấn trên các lĩnh vực từ 1991 đến 2014.Chương 3 Một số nhận xét và đánh giá về mối quan hệ Trung - Ấn

Trang 18

Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ TRUNG - ẤN

TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH

1.1 Nhân tố lịch sử

1.1.1 Quan hệ Trung - Ấn trong lịch sử đến trước khi đặt quan hệ ngoại giao 1950

* Vài nét về Trung Quốc trước 1950

Trung Quốc là một nước lớn (với diện tích 9,6 triệu km 2, dân số gần 1,367 tỷ người (2014)), có vị thế quan trọng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên toàn thế giới

Trung Quốc nằm ở phần nửa phía Bắc của Đông bán cầu, phía Đông Nam của lục địa Á - Âu, phía Đông và giữa Châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương Phía bắc có chung biên giới với Nga, Mông Cổ; phía Tây

giáp Kazacstan, Kirghistan, Taghistan; phía Tây Nam giáp Apsganistan, Pakixtan, Ấn Độ, Nêpan, Butan; phía Nam giáp Lào, Mianma,Việt Nam; phía Đông giáp Triều Tiên

Ngoài phần đại lục, Trung Quốc còn có nhiều đảo, trong đó Đài Loan và Hải Nam là hai đảo lớn nhất Diện tích quá rộng lớn, tạo nên sự khác biệt rõ rệt về địa hình, khí hậu và văn hóa Trung Quốc là một quốc gia đa dân tộc (56 dân tộc) với ngôn ngữ chính là tiếng Hán Quốc gia này là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại với các nền văn minh cổ nổi tiếng Đây cũng là nơi sản sinh ra những con người vĩ đại, những triết gia nổi tiếng

mà tư tưởng của họ đến nay vẫn còn giá trị Trung Quốc còn là nơi có nền

văn hóa phong phú, độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc và có ảnh hưởng sâu rộng tới khu vực và thế giới.

Thời phong kiến, Trung Quốc là một quốc gia hùng mạnh vào bậc nhất thế giới nhưng đến cuối thời Mãn Thanh thì đất nước này khủng

Trang 19

hoảng suy yếu và bị thực dân phương Tây xâu xé, phải đến năm 1911 với sự bùng nổ của Cách mạng Tân Hợi, ngai vàng của chế độ phong kiến đã tồn tại trên 2000 năm ở Trung Quốc mới bị lật đổ Sau đó, đất nước lại bị các nước đế quốc, thực dân phương Tây xâm lược và đô hộ.

Ngày 1/10/1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa chính thức được thành lập, mở ra một kỷ nguyên mới- Trung Quốc tuyên bố phát triển theo con đường XHCN Đất nước thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (thành lập tháng 7/1921) và đây là Đảng cầm quyền duy nhất ở Trung Quốc lục địa

Từ khi giành được độc lập, Trung Quốc luôn ý thức được vai trò và tầm vóc của mình trên trường quốc tế Mọi bước đi của Trung Quốc đều nhằm vun đắp cho mục tiêu chiến lược ổn định và phát triển đất nước cũng như phát huy vai trò thế mạnh ra bên ngoài Trung Quốc đã nhiều lần điều chỉnh chiến lược và thay đổi bạn, thù Chính sách của Trung Quốc đối với các nước láng giềng tất nhiên cũng phải đựơc điều chỉnh cho phù hợp Điều

đó thể hiện rõ nét trong quan hệ Trung - Ấn

* Vài nét về Ấn Độ trước 1950

Ấn Độ là nước lớn thứ 2 ở châu Á, sau Trung Quốc Diện tích Ấn Độ là 3.28 triệu km2, đứng hàng thứ bảy thế giới và dân số khoảng 1,277 tỷ người (năm 2013), đứng thứ 2 thế giới

Ấn Độ nằm ở khu vực Nam Á, có biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc, Nepal, Butan; phía Đông giáp Bangladet, Miến Điện; Đông - Nam giáp Vịnh Bengan; Tây - Nam giáp Ấn Độ Dương; Tây và Tây - Bắc giáp Pakittan

Ấn Độ là nước đa chủng tộc và dân tộc với nhiều thứ tiếng, trong đó ngôn ngữ chính là tiếng Hin đu và tiếng Anh Ấn Độ cũng là một cái nôi của lịch sử văn minh nhân loại, là nơi sinh ra những nhà tư tưởng lớn, những vĩ

Trang 20

nhân của thời đại Nền văn hoá bản sắc của Ấn Độ có sức sống mãnh liệt

và có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội trong nước cũng như nhiều nước khác trên thế giới Người Ấn chủ yếu theo Ấn Độ giáo (chiếm khoảng 83% dân số), còn lại theo đạo Hồi, Cơ Đốc, đạo Phật

Cuối thế kỷ XV, người Bồ Đào Nha bắt đầu xâm nhập Ấn Độ và từ đầu thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII, Ấn Độ bị người Mô gôn (gốc Mông cổ) thống trị Từ năm 1746 đến 1763, Ấn Độ trở thành nơi tranh chấp giữa Anh

và Pháp, kết quả Anh đã chiếm được Ấn Độ, trừ 5 thành phố ven biển thuộc Pháp (mãi đến năm 1950 Pháp mới trao trả cho Ấn Độ)

Trong suốt thời gian bị thực dân Anh thống trị, nhân dân Ấn Độ dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc Đại đã đứng lên đấu tranh đòi độc lập dân tộc và kết quả đã buộc thực dân Anh phải trao trả độc lập cho nước này vào ngày 15/8/1947

Ngày 26/1/1950 Ấn Độ tuyên bố thành lập nước Cộng Hoà Ấn Độ gồm

22 bang và 9 lãnh địa trực thuộc trung ương

Ấn Độ là nước có nhiều đảng phái và tổ chức chính trị Đảng Quốc Đại thành lập năm 1885, Đảng BJP, Đảng Cộng sản Ấn Độ thành lập năm 1925

và đến năm 1964 thì tách thành hai Đảng là Đảng cộng sản Ấn Độ (CPI) và Đảng Cộng sản Ấn Độ - Macxit (CPI - M), Đảng B.Janata - Đảng Nhân dân hiện đang là đảng cầm quyền ở Ấn Độ

Xuất phát từ tầm vóc và tiềm năng to lớn của mình, nước Ấn Độ độc lập luôn có mục tiêu trở thành một nước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, có vai trò quan trọng không chỉ ở khu vực, ở châu Á mà trên toàn thế giới

Mục tiêu chiến lược này xuyên suốt đường lối đối nội cũng như đối ngoại của Ấn Độ Họ thực hiện mục tiêu này bằng những bước tiến đều đặn, vững chắc như “bước đi của con voi” Các nhà lãnh đạo Ấn Độ luôn cương quyết bảo vệ con đường đã chọn, coi các mục tiêu chiến lược của đất nước là mục đích và tiêu chuẩn cao nhất của chính sách đối ngoại Ấn Độ tin ở bản

Trang 21

chất của thế giới ngay cả trong những thập kỷ thế giới bị chia thành 2 phe đối lập và đắm chìm trong bầu không khí Chiến tranh lạnh Đó chính là thế giới quan dựa trên nền tảng triết học truyền thống của Ấn Độ, là nguồn gốc của chủ nghĩa nhân đạo, không bạo lực Tư tưởng “Không bạo lực” đã cắm rễ sâu trong con người Ấn Độ, trong các giáo điều tôn giáo, trong những di sản của nhiều thời đại, trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như trong suốt quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước từ khi thành lập đến nay.

* Quan hệ Trung - Ấn trong lịch sử đến trước khỉ đặt quan hệ ngoại giao 1950

Trung - Ấn là hai nước láng giềng gần gũi về địa lý, lại có nhiều điểm tương đồng trong quá trình phát triển lịch sử, vì thế, ngay từ rất sớm hai nước này đã xác lập được những mối quan hệ trên các lĩnh vực

Về chính trị: là hai trung tâm của văn minh nhân loại và được xem như những cái nôi của lịch sử loài người Đến thời trung đại, sự hùng mạnh của các nhà nước phong kiến của hai quốc gia này được coi là niềm tự hào của sức mạnh châu Á

Khi thực dân phương Tây vào xâm lược và thống trị, thì Trung và Ấn lại trở thành những đồng minh luôn sát cánh, hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc chiến chống kẻ thù chung, đấu tranh giành độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Hai bên đã ủng hộ nhau chống chính sách xâm lược của chủ nghĩa thực dân và khi hai nước giành được độc lập dân tộc thì họ chính là những người bạn đầu tiên công nhận chính quyền của nhau

Sau khi giành được độc lập (Ấn Độ năm 1947 và Trung Quốc năm 1949), dù mỗi nước đã lựa chọn cho mình một con đường và hướng đi riêng, nhưng mối quan hệ hợp tác song phương trong thời gian đầu là hết sức có hiệu quả Đó vừa là nhu cầu, vừa là nhận thức để củng cố và phát triển đất nước, cũng như thực hiện được mục tiêu chiến lược của giai đoạn đầu sau khi

Trang 22

giành độc lập.

Về kinh tế: từ thời phong kiến, hai nước đã hình thành Con đường tơ lụa, một đường giao thương quan trọng nối liền hai nước Trung - Ấn và từ

đó có thể đi nhiều trung tâm kinh tế lớn của thế giới Vào khoảng giữa thế

kỷ XVIII, quan hệ thương mại giữa hai nước đã phát triển thịnh đạt thông qua con đường thích hợp với những con la, con lạc đà này Chính Con đường tơ lụa lịch sử đã thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và

Ấn Độ phát triển thịnh đạt từ rất sớm Năm 1962, khi cuộc chiến tranh biên giới giữa Trung - Ấn nổ ra thì Con đường tơ lụa này bị cấm hoạt động Đến năm 2006, nó mới được Chính phủ hai bên cho mở cửa hoạt động trở lại và lại góp một phần không nhỏ vào việc nâng cao kim ngạch mậu dịch thương mại song phương

Về văn hoá, xã hội: Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước có nền văn hoá

văn minh phát triển rực rỡ, nơi sản sinh ra những vĩ nhân của mọi thời đại, những nhà tư tưởng kiệt xuất mà tư tưởng của họ trường tồn cùng nhân loại Tư tưởng nhân nghĩa trong đạo Khổng, hay lòng từ bi của đạo Phật không chỉ ăn sâu trong tâm linh mỗi người trong mỗi nước mà nó còn có sức lan toả tới nhiều nước trong khu vực, và như vậy cố nhiên hai trung tâm của văn minh nhân loại này không thể không lan toả ảnh hưởng đến nhau Văn hoá truyền thống của Ấn Độ đã trở thành món ăn tinh thần của nhiều người Trung Quốc và ngược lại Mối liên hệ, trao đổi văn hoá, xã hội của hai quốc gia này đã có từ thời cổ đại và nó đã tồn tại, phát triển tỷ lệ thuận với sự thăng trầm trong quan hệ hai nước từ trước đến nay

Có thể nói, mối liên hệ về kinh tế, chính trị, xã hội của hai nước Trung -

Ấn trong lịch sử đến trước khi đặt quan hệ ngoại giao (1950) tuy không mặn

mà như những quốc gia láng giềng ở khu vực Đông Nam Á, nhưng cũng đủ

Trang 23

để làm tiền đề cho một mối quan hệ láng giềng thân thiện, cùng có lợi về sau, đặc biệt đây lại là hai quốc gia láng giềng rộng lớn không chỉ trong khu vực

mà sự lớn mạnh của nó mang tầm vóc thế giới

1.1.2 Quan hệ Trung - Ấn từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến hết Chiến tranh lạnh

1.1.2.1 Giai đoạn 1950 đến 1962

Ấn Độ giành độc lập năm 1947 và Trung Quốc được giải phóng năm 1949 Hai nước lớn nhất châu Á này bắt đầu kỷ nguyên độc lập từ những điều kiện vật chất hầu như tương đương, cùng phải đứng trước những vấn đề lớn về kinh tế

và xã hội Gần 10 năm đầu sau khi giành độc lập (1950-1958) là “tuần trăng mật” của quan hệ hai nước Nhân dân hai nước cùng chung cảnh ngộ, vừa thoát khỏi sự áp bức, nô dịch của đế quốc thực dân, giành độc lập dân tộc, bắt đầu xây dựng cuộc sống mới Tuy có truyền thống văn hóa và chế độ chính trị khác nhau nhưng hai nước đều có mục tiêu chung là hòa bình, độc lập dân tộc

và cùng với nhân dân thế giới tiếp tục đấu tranh chống CNĐQ thực dân

Trên thế giới, giai đoạn này có nhiều chuyển biến phức tạp Tư duy Chiến tranh lạnh đã chi phối mọi quan hệ quốc tế Thế giới chia làm hai phe đối địch, CNXH đứng đầu là Liên Xô, CNTB do Mĩ cầm đầu Mĩ đã phát động cuộc Chiến tranh lạnh nhằm tiêu diệt Liên Xô và hệ thống XHCN và làm bá chủ thế giới Mỹ đã lập ra các liên minh quân sự thực hiện chiến lược toàn cầu ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, chống Liên Xô, bao vây và cô lập Trung Quốc, đồng thời chống phá điên cuồng phong trào giải phóng dân tộc

Trước tình hình đó, cả Trung Quốc và Ấn Độ mới độc lập đều có yêu cầu dựa vào Liên Xô, tập hợp lực lượng Á - Phi và thi hành chính sách chống chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ độc lập, chủ quyền, xây dựng kinh tế

Trang 24

và tăng cường vị trí, vai trò của mình trên trường quốc tế.

Trong những năm đầu sau giải phóng, sự hợp tác chặt chẽ với Liên Xô đã đem lại cho cả Trung Quốc và Ấn Độ những lợi ích to lớn và thiết thực Trong những ngày tháng lịch sử ấy, cả hai cùng áp dụng chính sách láng giềng hữu nghị, nên quan hệ hữu nghị thân thiện song phương đã đạt đến đỉnh cao

Ngày 30/12/1949, Ấn Độ công nhận nước CHND Trung Hoa và thiết lập quan hệ ngoại giao Tháng 4/1950, hai nước Trung - Ấn thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ Ngay sau đó, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai

đã bày tỏ mong muốn giải quyết vấn đề Tây Tạng bằng thương lượng hoà bình Ấn Độ cam kết từ bỏ các đặc quyền ở Tây Tạng và sẽ công nhận Tây Tạng là của Trung Quốc

Từ 1950 đến 1959, Chu Ân Lai thăm Ấn Độ bốn lần, J.Nehru thăm Trung Quốc một lần Đỉnh cao của mối quan hệ hữu nghị được đánh dấu bằng việc năm 1956 tại Băngdung, hai nước đã ghi nhận 5 nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình

Sau hội nghị Bandung năm 1955, phong trào ở Á - Phi bắt đầu bị chia rẽ dần, xu hướng không liên kết hình thành và phát triển trong các nước mới giành độc lập, dẫn tới sự thành lập Phong trào Không liên kết năm 1961 mà

Ấn Độ là một trong những nước sáng lập và đóng vai trò to lớn trong quá trình phát triển

Trung Quốc nhờ sự giúp đỡ to lớn và hiệu quả của Liên Xô, nhờ tranh thủ các nước láng giềng ở châu Á và bước đầu với các nước châu Phi, nhờ sử dụng những chính sách phù hợp và sự nỗ lực của nhân dân trong nước đã đạt những thành tựu khá to lớn về mọi mặt, đặc biệt là về kinh tế và tăng cường được uy tín trên trường quốc tế Từ đó, Trung Quốc thực hiện điều chỉnh chiến lược Về đối nội, Trung Quốc đề cao tinh thần “Ngu công dời núi” và thực hiện đường lối “Ba ngọn cờ hồng” Về đối ngoại, Trung Quốc cho

Trang 25

rằng, từ đây họ có thể có đủ sức để tự đi con đường riêng của mình Trung Quốc bắt đầu tách khỏi Liên Xô, giương cao ngọn cờ chống chủ nghĩa xét lại (ám chỉ Liên Xô), chống hoà hoãn Xô - Mỹ và muốn chiếm vị trí lớn hơn trong vai trò lãnh đạo cách mạng thế giới.

Trái với Trung Quốc, Ấn Độ tiếp tục tăng cường mối quan hệ nhiều mặt với Liên Xô, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô để đối phó sức ép của chủ nghĩa đế quốc và giải quyết những vấn đề còn tồn đọng trong nước Năm

1955, Thủ tướng J.Nehru thăm Liên Xô và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Khơrutxốp cũng chính thức sang thăm Ấn Độ Liên Xô ủng hộ các mục tiêu dân tộc cơ bản của Ấn Độ, trong đó mục tiêu chủ yếu là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Liên Xô ủng hộ Ấn Độ trong vấn đề Casơmia, thỏa thuận giúp Ấn Độ xây dựng những ngành công nghiệp nặng, then chốt mà trước hết là ngành thép và cơ khí nặng sau khi Mỹ và phương Tây khước từ các

dự án công trình mà Ấn Độ đề nghị được giúp đỡ

Đến cuối những năm 50 của thế kỷ XX, do tư tưởng nước lớn của Trung Quốc đối lập với chủ nghĩa dân tộc của Ấn Độ, mầm mống của các bất đồng cơ bản Trung - Ấn đã xuất hiện như vấn đề biên giới, vấn đề Tây Tạng, vai trò trong phong trào Á - Phi những bất đồng đó đã dẫn đến tình trạng căng thẳng kéo dài trong quan hệ Trung - Ấn

Ngày 10/3/1959, ở thủ phủ Lasha (Tây Tạng) xảy ra phiến loạn của một số phần tử quá khích, Trung Quốc đưa quân đội vào trấn áp và ngay lập tức bị Ấn Độ phê phán là có hành động “can thiệp vũ trang” vào khu vực này

Ngày 31/3, Đatlai Latma (lãnh tụ tinh thần của Tây Tạng) trốn sang Ấn

Độ và được nước này bảo vệ Trung Quốc đã có phản ứng kịch liệt với việc này, làm quan hệ hai nước trở nên căng thẳng hơn Đỉnh cao là những vụ xung đột biên giới từ 1959 đến 1962

Trang 26

Ngày 17/3/1959, Ấn Độ tuyên bố khẳng đinh phần biên giới của mình, Trung Quốc kịch liệt phản đối Đến 25/8 và 20/10/1959 đã xảy ra hai cuộc xung đột vũ trang đẫm máu ở cả phần Đông và Tây biên giới hai nước Sau đó hai bên đã có nhiều cuộc gặp gỡ và dàn xếp nhưng không có hiệu quả Hậu quả là năm 1961 và 1962 xung đột vũ trang ác liệt lại xảy ra trên tuyến biên giới hai nước.

Trung Quốc cho rằng Ẩn Độ đã vi phạm biên giới của mình và việc “dạy cho Ấn Độ một bài học” là chính đáng Vì thế, chiến sự đã nổ ra trong vòng 1 tháng (từ 20/10 đến 21/11/1962) Ngày 21/11/1962, Trung Quốc mới đơn phương tuyên bố ngừng bắn và rút quân

Đến ngày 28/2/1963, Trung Quốc tuyên bố hoàn thành việc rút quân về nơi được gọi là “đường kiểm soát thực tế 7/11/1959” Đường biên giới tạo ra khi quân đội Trung Quốc rút quân và tập kết năm 1962 - 1963 vẫn tồn tại đến nay Từ đó, quan hệ Trung - Ấn chuyển sang giai đoạn mới, thời kỳ căng thẳng kéo dài

1.1.2.2 Giai đoạn từ 1962 đến cuối thập niên 80

Khủng hoảng biên giới năm 1962 đã đặt dấu chấm hết cho tình hữu nghị của hai người khổng lồ châu Á - Trung Quốc và Ấn Độ

Tháng 7/1961, Đại sứ Ấn Độ rời nhiệm sở và Đại sứ Trung Quốc về nước (15 năm sau quan hệ hai nước chỉ còn là cấp Đại biện lâm thời) Tháng 12/1962, Ấn Độ rút Tổng lãnh sự ở Lasha và Thượng Hải, Trung Quốc cũng rút hai Tổng lãnh sự ở Ấn Độ (mãi đến tháng 12/1991 mỗi bên mới khôi phục được một Tổng lãnh sự ở Thượng Hải và Bombay) Tháng

8/1960, Tân Hoa Xã ở Niu Đêli rút về nước, chi nhánh ngân hàng Trung

Quốc ở Ấn Độ cũng đình chỉ hoạt động Bưu kiện qua biên giới bị kiểm soát gắt gao, quan điểm về vấn đề Đài Loan cũng không được nhất trí như trước

Trang 27

Ngày 19/9/1963, tờ báo “Sự thật” của Liên Xô đã đăng bài phân tích cuộc xung đột biên giới Trung - Ấn và khẳng định rằng: “không có nguyên nhân để xảy ra cuộc xung đột biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ và hơn nữa không có nguyên nhân để đưa cuộc xung đột đó đến cuộc xung đột vũ trang’’ [21, tr.ll].

Với Trung Quốc, gây ra cuộc xung đột biên giới, nước này muốn hạ uy tín

và làm suy yếu Ấn Độ để tăng ảnh hưởng ở Nam Á và phong trào giải phóng dân tộc Chống Ấn Độ, Trung Quốc cũng muốn hạ thấp Liên Xô, cho rằng Liên Xô tiếp tay cho Ấn Độ chống lại Trung Quốc và Trung Quốc sẽ có cớ

để tách khỏi Liên Xô Ngoài ra, Trung Quốc cũng thực hiện được tham vọng lãnh thổ, sau chiến tranh 1962, Trung Quốc mở rộng đường biên giới ra hàng chục ngàn km2 Sau chiến tranh biên giới, ngày 8/11/1962, Quốc hội

Ấn Độ thông qua một nghị quyết như một lời nguyền của nhân dân Ấn Độ:

“tống cổ bọn xâm lược ra khỏi lãnh thổ thiêng liêng của Ấn, dù cuộc chiến đấu có kéo dài và gian khổ như thế nào đi chăng nữa” [42, tr.4].

Trong suốt thập kỷ 60 và đầu thập kỷ 70, quan hệ hai nước tiến triển chậm chạp có nguyên nhân chủ quan của hai nước, đồng thời còn chịu ảnh hưởng bởi bối cảnh quốc tế cũng như ở khu vực Nam Á tác động, như chiến tranh Ấn Độ- Pakittan, các sự kiện Xichkim, vấn đề Campuchia, Hiệp ước hợp tác hòa bình hữu nghị Ấn - Xô

Từ 1976 trở đi, quan hệ Trung - Ấn bắt đầu đi vào giai đoạn bình thường hoá Quá trình bình thường hoá có những bước chập chững, dè dặt, song nhìn chung là theo hướng đi lên, ngày càng được đẩy mạnh

Sở dĩ đến giai đoạn này Trung Quốc lại cải thiện quan hệ với Ấn Độ và quan hệ Trung - Ấn có biến chuyển là vì: Sau thất bại nặng nề trong “Đại nhảy vọt” và “Đại cách mạng văn hoá vô sản”, Trung Quốc nhận thấy cần

Trang 28

phải tranh thủ dựa vào Mỹ để phát triển đất nước Tuy nhiên, ngả sang phía

Mỹ, Trung Quốc phải chịu những bất lợi về chính trị Sự liên minh Mỹ - Trung, việc Trung Quốc bao vây, cô lập Ấn Độ và kiềm chế ảnh hưởng của

Ấn Độ trong phong trào giải phóng dân tộc đã làm Ấn Độ càng tăng cường quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn với Liên Xô, tăng cường quan hệ với Việt Nam, tạo ra sự so sánh lực lượng không có lợi cho liên minh nói trên, điều

mà cả Mỹ và Trung Quốc đều không muốn

Phong trào Không liên kết bước vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX đã vượt qua khủng hoảng, trở thành một lực lượng quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế Ấn Độ ngày càng có vai trò to lớn trong Phong trào này mà Trung Quốc không thể không tính đến Vì vậy, cải thiện và tăng cường quan hệ với Ấn Độ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc trở lại với các nước đang phát triển Bình thường hoá quan hệ với Ấn Độ, Trung Quốc cũng có ý đồ làm cho Ấn Độ giảm bớt quan hệ chặt chẽ với Liên Xô, đồng thời tranh thủ Ấn Độ trong một số vấn đề quốc tế Ngoài ra, Trung Quốc có thể cứu vãn uy tín quốc tế đã bị giảm sút và tập hợp lực lượng thế giới thứ

3 vào tay mình

Phía Ấn Độ, xuất phát từ mục tiêu chiến lược lâu dài, Ấn Độ rất coi trọng bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, đưa Trung Quốc trở lại chính sách láng giềng thân thiện Trong quan hệ với Trung Quốc cũng như bất cứ nước nào, Ấn Độ đều cho rằng quan hệ thân thiện bao giờ cũng có lợi hơn là đối đầu Bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ còn nhằm thoát khỏi sức ép Mỹ - Trung - Pakixtan và thực hiện chính sách đa dạng hoá trong quan

hệ, cân bằng quan hệ với các nước lớn cho phù hợp với đường lối chung và lợi ích của quốc gia

Vì những lý do trên và sau những bước thăm dò ngoại giao, năm 1976

Ấn Độ và Trung Quốc đã trao đổi đại sứ trở lại Hai nước trở lại tăng cường

Trang 29

trao đổi các đoàn ngoại giao, qua đó tìm hiểu thiện chí và khả năng bình thường hoá quan hệ Ngoài các đoàn thương mại, kinh tế, văn hoá, thể thao, còn có các chuyến thăm, gặp gỡ hữu nghị Đáng chú ý nhất có chuyến thăm Ấn Độ của Chủ tịch Hội hữu nghị Trung Quốc Vương Bình Nam từ 7/5 đến 11/5/1978, cuộc gặp gỡ của Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa

và Ngoại trưởng Ấn Độ Vajpayee ở Liên Hợp Quốc (27/9/1978)

Tuy vậy, quá trình bình thường hoá diễn ra một cách chậm chạp, dè dặt Hai bên đều giữ lập trường nguyên tắc của mình về vấn đề biên giới và kịp thời lên tiếng mỗi khi đối phương có cử chỉ gì đụng chạm đến vấn đề tranh chấp Quan điểm và thái độ của hai bên trên nhiều vấn đề khu vực và quốc tế còn khác nhau rất xa

Năm 1977, liên minh các Đảng cách hữu (Liên minh Janata) lên cầm quyền ở Ấn Độ Chính quyền Janata tuy là phe đối lập với Đảng Quốc đại, song cũng không thể đi ngược lại lợi ích dân tộc Janata chủ trương thúc đẩy bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, song vẫn coi việc giải quyết vấn đề biên giới là không thể thiếu được để đi đến bình thường hoá quan hệ đầy đủ

và hoàn toàn Tháng 2/1979, lần đầu tiên sau 20 năm Ngoại trưởng Ấn Độ Vajpayee sang thăm Trung Quốc Đúng vào thời điểm đó, Trung Quốc lại xảy

ra việc đụng độ biên giới với Việt Nam vào 17/2/1979 Ngoại trưởng Vajpayee đã cắt ngắn chuyến thăm và coi sự kiện xảy ra là “sự thụt lùi” Dư luận Ấn Độ coi sự kiện xảy ra này là sự lặp lại cuộc chiến tranh biên giới

Ấn Độ năm 1962 và nhắc nhở ý thức cảnh giác của Ấn Độ đối với Trung Quốc

Bước sang thập niên 80, đứng trước những thay đổi của tình hình quốc

tế và trong nước, hai nước Trung - Ấn nhận thấy việc cải thiện mối quan hệ

sẽ rất có lợi cho cả đôi bên Trung Quốc xuất hiện mâu thuẫn với Mĩ và chiến lược đi với Mĩ chống Liên Xô đã lỗi thời Tình thế buộc Trung Quốc

Trang 30

vừa phải dựa vào Mĩ, vừa phải cải thiện quan hệ với Liên Xô và “thế giới thứ ba” để hiện đại hóa đất nước.

Tháng 3/1980, Indira Gandhi gặp Ngoại trưởng Hoàng Hoa ở Dimbabuê; tháng 5/1980, bà gặp Chủ tịch Hoa Quốc Phong tại Belgrade; tháng 6/1980, Ngoại trưởng Hoàng Hoa thăm Ấn Độ Tháng 10/1981, hai nước ký Hiệp định trao đổi phóng viên, Hiệp định thiết lập quan hệ hàng không Cuối tháng 9/1982, Trung Quốc đón hai đoàn đại biểu Công đoàn của Ấn Độ sang thăm Cuối tháng 10/1982, đoàn Hội đồng khoa học xã hội

Ấn Độ do cố vấn đối ngoại của bà Gandhi dẫn đầu đi thăm Trung Quốc Đầu năm 1983, Trung Quốc đã cử nhiều đoàn đối ngoại sang Ẩn Độ như: Đoàn luật gia (tháng 3), Đoàn phụ nữ (tháng 3) [21, tr.22]

Song song với các hoạt động trên, Trung Quốc và Ấn Độ đã tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề biên giới bắt đầu từ tháng 12/1981 Tại các vòng đàm phán về vấn đề biên giới, hai bên đã thảo luận những vấn đề cụ thể liên quan đến các khu vực từng xảy ra tranh chấp giữa hai bên Tại vòng đàm phán thứ 8, hai bên đã nhất trí cần tránh đối đầu và xung đột, duy trì hoà bình trên biên giới hai nước

Trên cơ sở những kết quả đạt được trong các vòng đàm phán và các hoạt động hữu nghị, Thủ tướng Ấn Độ R Gandhi đã sang thăm chính thức Trung Quốc sau 34 năm kể từ chuyến đi thăm Trung Quốc của cố Thủ tướng J Nehru Hai bên đã nhất trí tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học - kỹ thuật, lập

ra Uỷ ban hỗn hợp kinh tế và ký Hiệp định hợp tác quốc tế - khoa học kỹ thuật, Hiệp định hàng không dân dụng, Hiệp định thương mại [21, tr.29] Hai bên đã thỏa thuận được về thời gian, cấp bậc, phương thức đàm phán về Vấn đề biên giới Hai bên cũng cam kết duy trì hoà bình, ổn định dọc biên giới

Có thể nói, cho đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, tuy vấn đề biên

Trang 31

giới Trung - Ẩn vẫn chưa được giải quyết, quan điểm của hai nước vẫn còn khác xa nhau về một số vấn đề quốc tế và khu vực như việc giải quyết vấn

đề Campuchia, nhưng so với trước thì mối quan hệ hai nước đã được cải thiện một cách rõ rệt Chuyến đi thăm của Thủ tướng R Gandhi sang Trung Quốc có ý nghĩa hết sức quan trọng, là bước mở đầu một giai đoạn mới trong quan hệ Trung - Ấn Chấm dứt thòi kỳ đối đầu, căng thẳng, đi vào thời kỳ hoà hoãn, cùng tồn tại hoà bình và phát triển Đó cũng là sự phản ánh xu thế chung của thế giới trong thời kỳ mới là hoà hoãn để tập trung cho phát triển kinh tế Chuyến thăm này cũng thể hiện sự năng động, khéo léo của Thủ tướng R Gandhi trong vai trò đối nội và đối ngoại

ở Đông Âu, Liên Xô tan rã, SEV, Vacsava bị giải thể Thế giới bước vào thời

kì quá độ, từ cơ cấu quyền lực hai cực sang đa cực

Sự tan rã của Liên Xô - thành trì của hòa bình thế giới, một trong hai siêu cường của thế giới đã làm sụp đổ trật tự thế giới cũ: trật tự hai cực Ianta So sánh lực lượng trên toàn cầu từ chỗ tương đối cân bằng giữa hai hệ thống chính trị- xã hội đã chuyển sang có lợi cho Mĩ và các nước tư bản Mĩ không còn đối thủ cạnh tranh trên danh nghĩa đã ra sức củng cố địa vị siêu cường của mình Trong bối cảnh đó Trung Quốc cũng như Ấn Độ đều lo ngại về ý

đồ Mĩ thiết lập trật tự thế giới một cực do Mĩ chi phối

Sự vươn lên của ba trung tâm tư bản từ đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay tiếp tục diễn ra theo chiều hướng thay đổi tương quan lực lượng về kinh tế - chính trị đã gây nên sự bất lợi tương đối cho Mỹ Mỹ gặp phải một số khó khăn về kinh tế xã hội Nếu trong những năm 50 thu nhập quốc

Trang 32

dân (GDP) của Mỹ hơn GDP của tất cả các nước tư bản cộng lại, thì vào đầu thập kỷ 90, GDP của Mỹ chỉ chiếm khoảng 25% GDP của thế giới tư bản Do Liên Xô tan rã, cái ô hạt nhân của Mỹ cũng không còn cần thiết cho họ nữa, xu hướng li tâm phát triển Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền của các nước đang phát triển chống lại sự áp đặt và can thiệp của nước lớn đã trở thành xu thế đáng kể trên thế giới Trong hoàn cảnh đó, Mỹ

sẽ rất khó thiết lập được vai trò chủ đạo của mình trong trật tự thế giới mới.Chiến tranh lanh kết thúc, quan hệ quốc tế chuyển sang một thời kì mới- từ đối đầu chuyển sang đối thoại và hợp tác Liên Hợp Quốc ngày càng

có vai trò quan trọng hơn Khi thế giới phân chia thành hai phe, Liên Hợp Quốc thường bị lợi dụng làm diễn đàn của bên này chống bên kia, nên khó phát huy hết vai trò toàn cầu của mình Ngày nay, các nước lớn tìm cách nhân nhượng, thoả hiệp với nhau thông qua việc sử dụng Liên Hợp Quốc, chủ yếu là Hội đồng Bảo an làm cơ chế xử lý các vấn đề có tính toàn cầu hoặc các vấn đề khu vực có liên quan đến an ninh toàn cục Tuy nhiên, sự hạn chế của Liên Hợp Quốc đã thể hiện trong việc không ngăn chặn được cuộc chiến tranh Irăc năm 2003 Vì vậy, hiện đang diễn ra cuộc đấu tranh ngấm ngầm nhưng không kém phần gay gắt để cải tổ cơ chế và bộ máy của

Liên Hợp Quốc cho phù hợp với thực trạng thế giới mới Các nước đang

phát triển đòi được bảo vệ độc lập, chủ quyền của mỗi nước thành viên và đòi dân chủ hoá Liên Hợp Quốc [36, tr.17]

Để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, thời gian này các nước đang phát triển có nhu cầu tập hợp lại với nhau vào Phong trào Không liên kết Tuy nhiên, hiệu quả của Phong trào chưa thật sự cao Sau Chiến tranh lạnh, Trung Quốc, Ấn Độ, mà đặc biệt là Ấn Độ không mặn mà gì với Phong trào, nhưng

từ năm 1998 thì Ấn Độ bắt đẩu thay đổi lập trường này Đầu năm 2003,

Trang 33

Thủ tướng A.B Vajpayee tham gia Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 13 Phong trào Không liên kết đã đưa ra yêu cầu đổi mới để Phong trào phát triển hơn.Những diễn biến trên cho thấy tình hình thế giới đang có nhiều biến động, nhiều nước còn đang trong quá trình điều chỉnh chiến lược sao cho phù hợp với đặc điểm của thế giới mới Việc tập hợp lực lượng trên thế giới cũng như ở các khu vực đang chuyển biến khác trước, nhiều mối quan hệ đa phương cũng như song phương đang định hình và đan xen phức tạp.

Trong bối cảnh trật tự hai cực tan rã, những cuộc xung đột khu vực hoặc giữa các quốc gia, hay các lực lượng trong cùng một quốc gia, các mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc và các lực lượng chính trị, xã hội, tôn giáo có xu hướng gia tăng Đặc biệt là sự phát triển của chủ nghĩa khủng bố quốc tế mà sự kiện 11/9/2001 ở Mỹ là một điển hình Trong giai đoạn quá độ đi đến hình thành các mối quan hệ quốc tế mới, tuy trên phạm vi toàn cầu hoà bình và

ổn định là chủ đạo nhưng ở nhiều khu vực đã và đang xuất hiện nhiều nhân

tố mới gây ra tình hình mất ổn đinh không lường trước được

Chiến tranh lạnh kết thúc đã tạo điều kiện cho quan hệ quốc tế trở nên năng động, linh hoạt nhưng cũng phức tạp hơn Trước đây, các mối quan hệ quốc tế bị chi phối bởi chuẩn mực cùng hay khác ý thức hệ Song, khi trật tự hai cực trên thế giới mất đi, trật tự thế giới mới còn đang trong quá trình hình thành Sự tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế diễn ra đa dạng và linh hoạt, chủ yếu dựa trên sự phù hợp về lợi ích dân tộc Quan hệ quốc tế có lợi ích đan xen nhau giữa các quốc gia trở nên phức tạp

Trước những đòi hỏi mới của môi trường quốc tế, các nước đều điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình theo chiều hướng tập trung cho yêu cầu phát triển kinh tế, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, vừa hợp tác vừa đấu tranh với các đối tượng nhằm mục đích tạo cho mình vị thế có lợi hơn

Trang 34

Sinh hoạt quốc tế ngày nay nổi lên các xu thế mới sau:

Thứ nhất: xu thế ưu tiên cho phát triển kinh tế đang lôi cuốn cả cộng đồng quốc tế, cả những nước công nghiệp phát triển cũng như những nước đang phát triển Với việc kết thúc Chiến tranh lạnh giữa các nước lớn, cuộc chạy đua về kinh tế trên phạm vi toàn cầu ở nhiều mặt đang thay thế cho cuộc chạy đua vũ trang Từ đầu thế kỷ XXI, diễn ra cuộc chạy đua toàn thế giới về kinh tế và khoa học - kỹ thuật trong bối cảnh các nước trên thế giới hợp tác và đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình Nhân tố kinh tế ngày càng giữ vị trí quan trọng chủ đạo trong quan hệ quốc tế ngày nay, có vai trò quyết định trong việc tăng cường sức manh tổng hợp của mỗi quốc gia

Thứ hai: xu thế đa dạng hoá quan hệ đối ngoại của tất cả các nước, kể cả các nước xưa nay hạn chế quan hệ đối ngoại ở một số đối tượng nhất định đang diễn ra Điều này trở thành một đòi hỏi khách quan, bức bách của môi trường toàn cầu mới dưới tác động của khoa học công nghệ đưa đến sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong nền sản xuất được quốc tế hoá Các nước ra sức mở rộng quan hệ quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, không câu nệ đối tượng Với tất cả những ai có khả năng hợp tác hiệu quả, việc xác định bạn, thù, hình thức và mức độ quan hệ trở nên rất linh hoạt và thực dụng Cách thức tập hợp lực lượng theo kiểu truyền thống

đã được thay bằng sự tập hợp lực lượng trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc,

cơ động và linh hoạt hơn

Thứ ba: xu thế tăng cường hợp tác khu vực đã nảy sinh từ cuộc chạy đua và cạnh tranh kinh tế quyết liệt toàn cầu Các nước đều coi trọng chính sách khu vực, ưu tiên phát triển quan hệ với các nước láng giềng, đẩy manh hợp tác và liên kết khu vực, nhất là về kinh tế Nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương khu vực đã hình thành, điển hình là các tổ chức khu vực như:

Trang 35

ASEAN, NAFTA, OPEC Tại châu Âu, các quốc gia châu Âu sau nhiều năm thương lượng đã tiến tới việc nhất thể hoá kinh tế và từng bước về chính trị với mục tiêu xây dụng một trung tâm thế giới mới hùng mạnh hơn trong cuộc cạnh tranh đối với các khu vực và quốc gia khác trên thế giới

Mỹ cũng xúc tiến thành lập “Khu vực tự do thương mại Bắc Mỹ” (NAFTA) gồm Mỹ, Canada, Mexicô và đang có ý đồ mở rộng ra cả vùng Tây Thái Bình Dương Nhật Bản cố gắng tập hợp lực lượng ở châu Á và đưa ra khái niệm đồng Yên ở châu Á - Thái Bình Dương Các nước ASEAN sau một quá trình tập hợp về chính trị, Hội nghị cấp cao ASEAN tháng 1/1992 đã thông qua quyết đinh thành lập “Khu vực mậu dịch tự do” (AFTA) vào năm 2013

Tóm lại, Chiến tranh lạnh giữa hai chiến tuyến Đông - Tây, giữa khối TBCN và XHCN đã chấm dứt, tạo điều kiện thúc đẩy hai quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá, trước hết là trên lĩnh vực kinh tế diễn ra nhanh hơn Xu thế này là tất yếu đưa thế giới bước vào một thời đại mới - thời đại của văn minh tri thức, đồng thời gây ra sự tác động to lớn tới mọi quốc gia không phân biệt trình độ phát triển, hệ thống chính trị, văn hoá Dù sức mạnh của

Mỹ có suy giảm tương đối, nhưng chưa thể có một siêu cường nào khác vươn lên thay thế độc tôn của Mỹ trong tương lai gần Các siêu cường đang lên của thế giới và khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ cạnh tranh ngày càng gay gắt trong tăng cường sức mạnh quốc gia cũng như ảnh hưởng đối với nhau và đối với các khu vực Xu thế tập trung phát triển kinh tế để tránh tụt hậu khiến tất

cả các nước phải cùng nhau hợp tác, từng nước đều thi hành chính sách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình này càng làm cho toàn cầu hoá và khu vực hoá diễn ra nhanh hơn, đồng thời thúc đẩy phụ thuộc lẫn nhau, đan xen lợi ích quốc gia của các nước với nhau Do đó, giảm thiểu nguy cơ chiến tranh

và xung đột, khiến xu hướng vừa hợp tác vừa đấu tranh một cách hoà bình

Trang 36

phát triển Tiến trình này mở ra thời kỳ mới với vai trò ngày càng quan trọng trong quan hệ quốc tế nói chung và trong quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng của các chủ thể phi nhà nước như các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế và đa phương như APEC, WTO, các tổ chức phi chính phủ, các công ty xuyên quốc gia Trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, dù là hai quốc gia lớn như Trung Quốc và Ấn Độ cũng không tránh khỏi sức ép, chính sách áp đặt của các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế khi ra nhập với tư cách thành viên.

Trung Quốc - Ấn Độ, là hai quốc gia lớn, đang trong quá trình phát triển cũng đã nhanh chóng điều chỉnh chính sách đối ngoại một cách toàn diện nhằm thích ứng với bối cảnh quốc tế mới, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Hai nước cũng nhận thấy sự đối đầu trong điều kiện là những nước láng giềng sẽ hết sức bất lợi trong quá trình phát triển đất nước Do vậy, họ đã từ từ thay đổi quan điểm và chính sách để cải thiện mối quan hệ ngày một tốt đẹp hơn, phục vụ cho yêu cầu số một là phát triển kinh tế

1.2.1.1 Sự tác động của nhân tố Pakistan

Pakistan là một nhân tố ảnh hưởng lớn tới quan hệ Trung - Ấn thời hiện đại Sau năm 1947, lãnh thổ Ấn Độ bị chia cắt thành hai nước Pakistan và Ấn Độ Chính sự chia cắt này là nguyên nhân dẫn đến các cuộc chiến tranh đẫm máu giữa Ấn Độ và Pakistan để giành giật vùng Casơmia Pakistan muốn thông qua phương thức liên minh với nước ngoài để đạt được vị trí ngang hàng với Ấn Độ Còn Ấn Độ thì cho rằng Pakistan luôn

là thách thức lớn nhất đối với Ấn Độ Từ đầu những năm 1990 của thế kỷ

XX đến nay, hai nước đã có những bước đi quan trọng để giải quyết tranh chấp, tuy nhiên một giải pháp làm hài lòng cả hai bên vẫn đang còn nằm ở phía trước Các vụ đánh bom do các phần tử ly khai thực hiện vẫn thường xuyên diễn ra ở vùng đất Casơmia do Ấn Độ kiểm soát Về phần mình, Ấn

Độ thường tố cáo Pakistan ngầm ủng hộ các lực lượng ly khai này

Trang 37

Vấn đề nảy sinh, cản trở quan hệ Trung Quốc - Ấn Độ là ở chỗ kể từ những năm 1950 của thế kỷ XX đến nay, Trung Quốc luôn là đồng minh của Pakistan càng làm cho quan hệ Trung - Ấn thêm căng thẳng Ấn Độ nghi ngờ Trung Quốc liên tục giúp đỡ chương trình vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo cho Pakistan nhằm đối trọng với chương trình chế tạo vũ khí mới của Ấn Độ Hiện nay Trung Quốc đang là đối tác thương mại lớn nhất của Pakistan Chính mối quan hệ Trung Quốc - Pakistan chặt chẽ cũng là một trong những

lý do cản trở tiến trình hoà bình Ân Độ - Pakistan Chừng nào Pakistan còn tin rằng nước này có được sự ủng hộ vô tận của Trung Quốc đối với các chính sách chống Ấn Độ, họ còn do dự trong việc thực hiện các biện pháp nhằm kiềm chế hoạt động khủng bố tại Casơmia, đồng thời gây căng thẳng trong quan hệ với người anh em Ấn Độ

Ngoài ra, quan hệ Mỹ - Pakistan cũng đang tiến triển tốt đẹp Pakistan

là đồng minh của Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố, đặc biệt là trong cuộc chiến ở Ápganixtan Trong tình hình mới hiện nay, quan hệ Trung -

Ấn, Mỹ - Ấn đang dần được cải thiện, Pakistan chính là “con bài” để Trung Quốc và Mỹ mặc cả với Ấn Độ Như vậy, có thể thấy Pakistan chính là một nhân tố không nhỏ chi phối mối quan hệ Trung - Ấn

Bên cạnh nhân tố Mỹ, Pakistan, còn các nhân tố như Nhật Bản, EU và Nga cũng tác động lớn tới quan hệ Trung - Ấn Sự trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế cùng những tiềm năng to lớn của Trung Quốc và Ấn Độ khiến cho nước nào cũng muốn là bạn hàng của hai nước này Các nước lớn đều ra sức đẩy mạnh quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc và Ấn Độ Do vậy, việc tăng cường quan hệ với các cường quốc như Nhật Bản, Nga và EU chắc chắn sẽ

có tác động tới quan hệ Trung - Ấn

1.2.1.2 Nhân tố Casơmia

Casơmia vừa là nhân tố bên ngoài vừa là nhân tố bên trong có ảnh

Trang 38

hưởng lớn tới quan hệ Trung Ấn Casơmia là vùng tranh chấp từ lâu chủ yếu giữa Ấn Độ và Pakistan Lãnh thổ Casơmia trở thành điểm nóng khi Ấn Độ và Pakistan được tự trị vào tháng 8 - 1947 Theo kế hoạch chia cắt lãnh thổ trong Luật Độc lập Ấn Độ năm 1947, Casơmia được tự do lựa chọn hoặc sáp nhập vào lãnh thổ Ấn Độ hoặc Pakistan Sau một cuộc trưng cầu dân ý, Casơmia được sáp nhập vào lãnh thổ Ấn

Độ Islamabad lại cho rằng Casơmia đáng lẽ phải thuộc về Pakistan vì người Hồi giáo chiếm đa số ở Casơmia Pakistan cũng cho rằng sau một loạt nghị quyết của Liên Hợp Quốc về vấn đề Casơmia, người dân ở đây cần được bỏ phiếu để quyết định tương lai chính trị của họ Tuy nhiên,

Ấn Độ không chấp nhận và đã đưa nhiều dẫn chứng khẳng định việc sáp nhập Casơmia vào Ấn Độ là phù hợp Kể từ đó, Casơmia trở thành một điểm nóng với hai cuộc chiến tranh lớn giữa Ấn Độ và Pakistan vào năm 1947 - 1948 và năm 1965 Sau cuộc chiến tranh đầu tiên kết thúc, một đường ranh giới đã được dựng lên chia cắt Casơmia thành hai vùng: Casơmia - Ấn Độ, Casơmia - Pakistan Tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong vấn đề Casơmia bởi vì dân số ở vùng đất này chủ yếu là người Hồi giáo (60% dân số, là bang có đông người Hồi giáo nhất ở Ấn Độ) Hơn

60 năm qua, Quan hệ Pakistan và Ấn Độ luôn ở trong tình trạng thù địch Sự thù địch này bắt nguồn từ nguyên nhân tôn giáo và lịch sử, leo thang thành một cuộc chạy đua vũ trang nguy hiểm Cuộc tranh chấp này càng phức tạp hơn khi có thêm những thế lực bên ngoài tham gia Trung Quốc không chỉ chiếm 5.180 km 2 ở Casơmia sau khi được Pakistan nhượng lại từ năm 1963, mà còn hậu thuẫn cho chính quyền Islamabad trong thế đối trọng với Niu Đê li Sự hậu thuẫn này là một trong những nguyên nhân khiến cho vấn đề Casơmia trở nên phức tạp

Trang 39

Việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho vùng đất bạo lực này không thể

thiếu sự tham gia của Trung Quốc Có thể thấy, vấn đề Casơmia là một

nhân tố quan trọng chi phối quan hệ Trung - Ấn hiện nay

1.2.2 Sự tác động của xu hướng toàn cầu hoá

Thời đại ngày nay, loài người đang chứng kiến sự biến đổi diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong đời sống với quy mô rộng lớn Sự biến đổi đó trước hết diễn ra trong lĩnh vực kinh tế và theo đó bằng sự tác động lẫn nhau, tác động một cách sâu sắc tới các lĩnh vực văn hoá, chính trị, xã hội và cả ngoại giao

Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, làn sóng toàn cầu hóa (Globalisation), khu vực hóa ngày càng lan rộng và sâu sắc hơn Sự

tự do hoá thương mại, đầu tư, dịch vụ, chuyển giao công nghệ, phân công lao động quốc tế đã thúc đẩy các quan hệ song phương và đa phương, tăng cường

sự liên kết giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới Tự do hóa thương mại

và mở cửa thị trường tạo điều kiện cho những nước có năng lực sản xuất cao

mở rộng thị trường, đa dạng hóa các sản phẩm Thế giới đang tiến dần đến một nền kinh tế không biên giới Các quốc gia dù lớn hay nhỏ trong mối quan

hệ phụ thuộc lẫn nhau với mức độ và chiều hướng khác nhau Trung Quốc và

Ấn Độ là những nước có nền kinh tế đang phát triển, cần nhiều nguồn vốn, công nghệ kĩ thuật tiên tiến và phương thức quản lí hiện đại Do vậy, toàn cầu hóa tạo điều kiện cho các công ty của mỗi bên tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, thâm nhập vào thị trường của nhau Như vậy, quan hệ kinh tế giữa hai bên sẽ ngày càng chặt chẽ hơn, tạo điều kiện thúc đẩy quan

hệ chính trị - ngoại giao phát triển

Cùng với xu thế toàn cầu hóa là khu vực hóa (Regionnalisation) với nội

dung cốt lõi là hình thành các khu vực kinh tế, tăng cường sức mạnh và quyền

tự chủ cho các khu vực, xuất phát từ mục đích phát huy những lợi thế so sánh,

Trang 40

những nét tương đồng của các quốc gia trong mỗi nhóm khu vực, nâng cao trình độ hợp tác khu vực Từ chỗ thúc đẩy hợp tác kinh tế, các quốc gia đã chủ động hơn trong việc tìm kiếm sự hợp tác song phương và đa phương về chính trị, an ninh Trung Quốc và Ấn Độ cũng đang tích cực tham gia vào các

tổ chức khu vực Năm 2005, Trung Quốc trở thành quan sát viên của SAARC Tháng 5.2005, Ấn Độ cũng trở thành quan sát viên của SCO Đồng thời, cả hai đều là đối tác quan trọng của ASEAN Mặc dù tham gia vào các tổ chức này chủ yếu là để tăng cường và tranh giành phạm vi ảnh hưởng của mình, nhưng đây cũng là các diễn đàn giúp hai nước xích lại gần nhau, giảm thiểu những bất đồng Từ năm 2000 trở đi, vượt lên trên những nghi ngại về an ninh

- quốc phòng và tranh chấp biên giới, thương mại Ấn - Trung đã phát triển mạnh, tăng từ 3 tỷ USD năm 2000 lên 38,7 tỷ năm 2007, năm 2010 lên 61,74

tỷ USD, năm 2011 đạt 74 tỷ USD [ 133, tr.15] Trong chuyến thăm Ấn Độ

tháng 9 năm 2014, chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đặt mục tiêu sẽ nâng kim ngạch xuất khẩu song phương lên 100

tỷ USD vào năm 2015 [144, tr.7] Sự điều chỉnh này diễn ra trong bối cảnh quan hệ kinh tế - thương mại Trung - Ấn thời gian qua đã có sự tăng trưởng nhanh chóng Trung Quốc hiện đang là bạn hàng lớn nhất của Ấn Độ và Ấn Độ hiện đang là bạn hàng lớn thứ 10 của Trung Quốc Hai nước hiện đang xúc tiến cho việc thiết lập một khu vực tự do thương mại Nếu điều này trở thành hiện thực sẽ có tác động rất lớn tới nền kinh tế thế giới và thúc đẩy nhanh việc giải quyết những bất đồng về chính trị và tranh chấp biên giới giữa hai nước

Ngoài ra, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện nay với quá trình tin

học hóa sản xuất đã có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế và nhiều lĩnh vực khác của thế giới Trong nền kinh tế tri thức, các nước đang phát triển có

cơ hội tiếp cận với các công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin sẽ giúp cho việc điều chỉnh mô hình và cơ cấu kinh tế của mình Đồng thời, nó cũng

Ngày đăng: 05/09/2015, 10:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bàng Trung Anh (10/2001), “Trung Quốc với thuyết đa phương linh hoạt” , Tạp chí Kinh tế và chính trị thế giới, Viện khoa học xã hội Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc với thuyết đa phương linh hoạt"” , Tạp chí Kinh tế và chính trị thế giới
2. Phạm Tuấn Anh (2004) , Một góc nhìn phương Đông - phương Tây và cục diện thế giới, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một góc nhìn phương Đông - phương Tây và cục diện thế giới
Nhà XB: NXB Thanh Niên
3. Lý Thuyết Ánh (12/2001) , “Trung Quốc và thế giới trong đầu thế kỷ XXI: cơ hội và thách thức ", Tạp chí Cộng sản, Số 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc và thế giới trong đầu thế kỷ XXI: cơ hội và thách thức
4. Đỗ Thanh Bình - Văn Ngọc Thành (Đồng chủ biên 6/2012), Quan hệ quốc tế thời hiện đại những vấn đề mới đặt ra, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ quốc tế thời hiện đại những vấn đề mới đặt ra
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
5. Đặng Bảo Châu (6/2006), “Liệu Ấn Độ cổ vượt qua Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liệu Ấn Độ cổ vượt qua Trung Quốc”, "Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế
6. Hồ Châu (12/2000), "50 năm quan hệ Trung -Ấn”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm quan hệ Trung -Ấn
7. Hồ Châu (10/2003), "Ngoại giao đa phương của Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao đa phương của Trung Quốc
8. Vương Dật Châu (10/2000), “Trung Quốc và ngoại giao đa phương” - Tạp chí Kinh tế và chính trị thế giới, Viện KHXH Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc và ngoại giao đa phương” - "Tạp chí Kinh tế và chính trị thế giới
9. Trịnh Cường (4/2005), “Ấn Độ với mục tiêu trở thành cường quốc", Tạp chí Cộng sản, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ với mục tiêu trở thành cường quốc
10. Báo Nhân Dân (17/10/2004) , “Việt Nam trong chính sách đối ngoại hướng Đông của Ấn Độ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt "Nam trong chính sách đối ngoại hướng Đông của Ấn Độ
11. Nguyễn Ngọc Diên (9/1994) , “Những nhân tố làm quan hệ Ấn - Trung ấm lên trong thời kỳ sau Chiến tranh lạnh”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhân tố làm quan hệ Ấn - Trung ấm lên trong thời kỳ sau Chiến tranh lạnh”
12. Đỗ Đức Định (2001), “Mười năm cải cách kinh tế Ấn Độ” Tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Mười năm cải cách kinh tế Ấn Độ
Tác giả: Đỗ Đức Định
Năm: 2001
13. Trần Độ (2005), ‘Tin tức và sự kiện về quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc năm 2005”, Thư viện Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Tin tức và sự kiện về quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc năm 2005”
Tác giả: Trần Độ
Năm: 2005
14. Nguyên Tấn Đắc (2000), Văn hoá Ấn Độ, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Ấn Độ
Tác giả: Nguyên Tấn Đắc
Nhà XB: NXB Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
15. Inđira Gandhi (1987), Chân lý của tôi, NXB Phụ Nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân lý của tôi
Tác giả: Inđira Gandhi
Nhà XB: NXB Phụ Nữ
Năm: 1987
16. Lưu Kim Hâm (2004), Trung Quốc trước thách thức thế kỷ XXI, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc trước thách thức thế kỷ XXI
Tác giả: Lưu Kim Hâm
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2004
17. Hoàng Thị Minh Hoa (2009), “Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và tác động của nó tới quan hệ Trung - Ấn”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, Số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Chính sách hướng Đông của Ấn Độ và tác động của nó tới quan hệ Trung - Ấn"”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới
Tác giả: Hoàng Thị Minh Hoa
Năm: 2009
18. Nguyễn Cảnh Huệ (2002) , “Ấn Độ - những thành tựu nổi bật của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước từ 1947 đến nay”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ - những thành tựu nổi bật của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước từ 1947 đến nay”
19. Hà Mỹ Hương (6/2006) , "Quan hệ giữa các nước lớn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: một vài phân tích và dự báo”, Tạp chí Cộng sản, Số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa các nước lớn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: một vài phân tích và dự báo
20. Nguyễn Thu Hương (2001), “Vị trí của Ấn Độ trên trường quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của Ấn Độ trên trường quốc tế"”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Nguyễn Thu Hương
Năm: 2001

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w