Đối với những nước nghèo, tình trạng sức khoẻ của trẻ em thường được phản ánh qua mức độ suy dinh dưỡng, thiếu máu, nhiễm ký sinh trùng, mắc những bệnh nhiễm trùng phổ biến như nhiễm khu
Trang 110 Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2006, Số 6 (6)
Tình trạng sức khoẻ của trẻ em 6-30 tháng tuổi tại hai huyện miền núi Dakrong và Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị năm 2003
Văn Thị Mai Dung, Đặng Thị Hải Thơ, Nguyễn Thị Minh Hậu và cs
1 Đặt vấn đê
Việt Nam vẫn còn là một nước nghèo với
khoảng 75% dân số sống ở nông thôn và làm nghề
nông.1Nghèo đói được xem vừa là nguyên nhân,
vừa là hậu quả, trong vòng xoắn nghèo đói và bệnh
tật ở trẻ em và phụ nữ các nước đang phát triển 2,3
Đối với những nước nghèo, tình trạng sức khoẻ của
trẻ em thường được phản ánh qua mức độ suy dinh
dưỡng, thiếu máu, nhiễm ký sinh trùng, mắc những
bệnh nhiễm trùng phổ biến như nhiễm khuẩn hô
hấp cấp, tiêu chảy,… Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng
tác động qua lại duy trì tình trạng sức khoẻ kém ở
trẻ em những nước này, từ phía gia đình, người mẹ,
hệ thống chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, tình trạng
kinh tế của gia đình nói riêng và của cộng đồng nói
chung Sức khoẻ kém trong những năm đầu đã được chứng minh ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ khi lớn lên, cả về thể chất và tinh thần Đảm bảo cho trẻ phát triển tốt đòi hỏi không chỉ tập trung vào các yếu tố gia đình, mà cần thiết phải có các chương trình cộng đồng giúp trẻ tiếp cận được những dịch vụ chăm sóc y tế cơ bản.1
Nhằm đạt được mục tiêu công bằng trong chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em Việt Nam, những chương trình can thiệp sức khoẻ cộng đồng cần tập trung vào nhóm trẻ em sống ở những vùng miền núi và vùng khó khăn4 Tuy nhiên trên thực tế, số liệu khoa học phản ánh thực trạng sức khoẻ của trẻ
em nghèo tại các nơi này còn rất thiếu để có thể làm cơ sở xây dựng chiến lược can thiệp phù hợp
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích là đo lường một số các chỉ số sức khỏe chính của trẻ em 6-30 tháng tuổi tại hai huyện miền núi Dakrong và Hướng Hóa của tỉnh Quảng Trị Phương pháp nghiên cứu là điều tra cắt ngang với cỡ mẫu ngẫu nhiên là n=566 trẻ em trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2003 Kết quả cho thấy mọi chỉ số sức khỏe cơ bản của trẻ em 6-30 tháng tuổi ở hai huyện nói trên đều rất thấp, nhất là ở các hộ gia đình nghèo Các biện pháp cần tiến hành là giảm nghèo, tăng khẩu phần ăn và cải thiện chất lượng bữa ăn, tẩy giun, cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường, đầu tư nâng cao chất lượng các chương trình y tế quốc gia chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em ở các vùng nói trên Từ khóa: chỉ số sức khỏe, suy dinh dưỡng, thiếu máu.
This study aims at measuring some key health indicators of children in the age group of 6-30 months living in two mountainous districts - Dak Rong and Huong Hoa, Quang Tri province A cross-sectional survey was conducted between July - November, 2003 with a random sample of 566 children Results show that all basic health indicators of children between 6-30 months in two study districts are very poor, particularly children in poor households Measures to be carried out include: poverty reduction, improvement of ration and meal quality, deworming, environment hygiene as well as investment for improving the quality of national health programs for mothers and children in this area Key words: health indicator, malnutrition, anaemia.
Trang 2Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2006, Số 6 (6) 11
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích là đo
lường các chỉ số sức khoẻ chính của trẻ em 6 -30
tháng tuổi tại hai huyện miền núi Dakrong và
Hướng Hoá của tỉnh Quảng Trị, phục vụ chương
trình can thiệp cộng đồng cải thiện sức khoẻ cho
trẻ em
2 Phương pháp nghiên cứu
Điều tra cắt ngang tiến hành từ tháng 7 đến
tháng 12 năm 2003 với cỡ mẫu ngẫu nhiên n=566
trẻ, chiếm 20% tổng số trẻ 6-30 tháng tuổi của hai
huyện Dakrong và Hướng Hoá
Đo lường các chỉ số sức khoẻ chính
Các chỉ số sức khoẻ chính được đo lường bao gồm:
● Dinh dưỡng: hai chỉ số chiều cao theo tuổi, phản
ánh tình trạng suy dinh dưỡng mạn tính, và cân
nặng theo chiều cao, đánh giá suy dinh dưỡng
cấp tính
- Chiều cao của trẻ được đo bằng thước chuyên
dụng trong chương trình nghiên cứu quốc tế
VISION5 Với trẻ dưới 24 tháng đo chiều cao tư thế
nằm, và trẻ ≥24 tháng đo chiều cao tư thế đứng Với
mỗi đối tượng, tiến hành đo 2 lần cho mỗi chỉ số và
ghi lại kết quả của cả 2 lần đo trên thực địa Khi
phân tích kết quả, sử dụng giá trị trung bình
- Cân nặng của trẻ đo bằng cân điện tử chuyên
dụng của UNICEF dùng pin năng lượng mặt trời,
độ sai lệch ± 50 g
- Tuổi của trẻ được xác định kết hợp giữa lời kể
người mẹ, giấy khai sinh, sổ tiêm chủng, xác nhận
của nhân viên y tế cơ sở Trong một số truờng hợp
khó, xác định qua so sánh với trẻ hàng xóm có ngày
sinh đã biết chắc chắn
- Mức độ suy dinh dưỡng được xác định căn cứ
theo giá trị của hệ số Z tính cho từng trẻ khi so chỉ
số dinh dưỡng tính cụ thể cho trẻ với phân bố tương
ứng ở quần thể chuẩn quy định bởi tổ chức Y tế thế
giới Trẻ bị suy dinh dưỡng khi có chỉ số dinh dưỡng
thấp hơn giá trị - 2SD tương ứng
● Thiếu máu: sử dụng HemoCue đo nồng độ
Hemoglobin qua lấy máu đầu ngón tay Ngưỡng
phân loại thiếu máu của WHO cho trẻ em là
<110 gam/l (UNICEF 1998)
● Nhiễm ký sinh trùng sốt rét và ký sinh trùng
đường ruột: Ký sinh trùng sốt rét được xác định
qua tiêu bản mẫu máu đầu ngón tay soi trên kính
hiển vi Việc lấy mẫu và đọc kết quả thực hiện
bởi trung tâm phòng chống sốt rét,côn trùng, và ký sinh trùng tỉnh Quảng Trị Kết quả đọc hai lần, bởi hai cán bộ chuyên môn riêng biệt Với ký sinh trùng đường ruột, xác định qua soi mẫu phân, thực hiện bởi phòng xét nghiệm của Trung tâm y tế huyện, và kiểm tra lại bởi cán bộ phụ trách phòng xét nghiệm ký sinh trùng của tỉnh Khác với dinh dưỡng, thiếu máu, và nhiễm ký sinh trùng sốt rét được lấy trên toàn bộ 566 trẻ, mẫu phân chỉ được lấy trên 135 trẻ trong tổng số
566 trẻ nghiên cứu Trẻ lấy mẫu phân được chọn
ra theo tiêu chuẩn: tất cả trẻ thiếu máu nặng, và 20% số trẻ thuộc các nhóm không thiếu máu, thiếu máu nhẹ, thiếu máu vừa
● Tỷ lệ mắc các bệnh cấp tính phổ biến: Hai nhóm
bệnh phổ biến: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp (ARI) và bệnh tiêu chảy được điều tra qua phỏng vấn người mẹ, sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán dịch tễ học đề xuất bởi chương trình ARI và chương trình CDD
Đo lường yếu tố nguy cơ
● Mức sống nghèo: Chỉ số mức sống (Wealth
index) của hộ gia đình được xây dựng trên cơ sở của 24 biến khảo sát về: đặc điểm nhà (4 biến), tài sản có giá trị (9 biến), vật nuôi (6 biến), cây trồng (2 biến), và tiện nghi sinh hoạt điện, nước, nhà vệ sinh (3 biến) Phương pháp phân tích cho điểm các yếu tố dựa theo giá trị định dạng thống kê (Principal component analysis - PCA) được sử dụng để xác định hệ số điểm mức sống cho từng gia đình Hai nhóm nghèo-không nghèo được xác định trên cơ sở phân loại bách phân vị về chỉ số mức sống của toàn bộ nhóm điều tra đi từ 0-100% Ngưỡng bách phân vị 60% được sử dụng làm điểm ngưỡng (cut-off) cho mức sống nghèo, căn cứ trên đánh giá so sánh giữa chỉ số nghèo trung bình của cả nước và ước tính chỉ số nghèo của đồng bào dân tộc miền núi vùng Trung Việt Nam
● Các yếu tố khác: Các yếu tố khác được đo lường
phục vụ cho phân tích đa biến bao gồm giới của trẻ, tuổi và trình độ giáo dục của mẹ, nghề nghiệp chính của gia đình, dân tộc
Nghiên cứu được thiết kế bởi Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo phát triển cộng đồng (RTCCD), đồng thực hiện bởi nhóm nghiên cứu của Trung tâm RTCCD, cán bộ y tế và phòng chống sốt rét tỉnh Quảng Trị
Trang 312 Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2006, Số 6 (6)
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Tình trạng sức khoẻ của trẻ
Bảng 1 Các chỉ số sức khỏe của trẻ 6-30 tháng của
các huyện Dakrong và Hướng Hoá (Quảng
trị), 2003
* 8 trẻ không lấy được máu ;
** chỉ lấy trên một mẫu 135 trẻ.
Bảng 1 trình bày kết quả các chỉ số chính phản
ánh tình trạng sức khoẻ của trẻ Tỷ lệ trẻ bị suy dinh
dưỡng cấp tính thể gầy còm (nhẹ cân so với chiều
cao) là 31% (178/566), với khoảng tin cậy 95%
(95% CI) đi từ 28% đến 35% Suy dinh dưỡng mạn
tính thể còi cọc (chiều cao thấp so với tuổi ) gặp ở
230 trẻ, chiếm tỷ lệ 41% (95%CI: 37% - 45%)
Số trẻ có mức hemoglobin dưới 110g/lít là 251
trên tổng số 558 trẻ được làm xét nghiệm
HemoCue, đưa lại tỷ lệ thiếu máu là 44% (95%CI:
40%-49%)
Nhiễm ký sinh trùng sốt rét ít gặp, mặc dù khu
vực nghiên cứu được phân loại là vùng có sốt rét lưu
hành Tỷ lệ tiêu bản dương tính chỉ là 1% (95%CI:
0.4% - 2.3%)
Ngược lại, nhiễm ký sinh trùng đường ruột là
phổ biến, với một phần ba số trẻ được xét nghiệm
phân có nhiễm giun đũa 33% (44/135) và cứ năm
trẻ có một trẻ nhiễm giun móc 21% (28/135)
Tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp, tiêu chảy
trong khoảng thời gian 2 tuần trước ngày điều tra
đều cao: 64% trẻ được báo cáo có triệu chứng sốt
kèm ho, và 65% trẻ có bị đi tiêu chảy (phân lỏng,
tối thiểu đi 3 lần/ngày)
3.2 Sự khác biệt về sức khoẻ của trẻ theo mức
sống
Bảng 2 so sánh các chỉ số sức khoẻ của trẻ theo
nhóm mức sống Trẻ em nghèo có nguy cơ cao hơn
(khác biệt có ý nghĩa thống kê) bị suy dinh dưỡng
cấp tính (OR=1,6; 95%CI: 1.1-2.3); suy dinh dưỡng
mãn tính (OR=2.8; 95%CI: 1.9-4.1), thiếu máu (OR
=!Invalid Character Setting1; 95%CI: 1,5 - 3.0), mắc tiêu chảy (OR=2.7; 95%CI: 1.8-4.1), và cả nhiễm khuẩn hô hấp cấp (OR=1.5; 95%CI:1.02-2.2) Riêng về nhiễm ký sinh trùng, không có sự khác biệt thống kê giữa các nhóm trẻ phân theo mức sống
Bảng 2 Phân bố các chỉ số sức khoẻ của trẻ 6-30
tháng theo nhóm mức sống
4 Bàn luận
Một khó khăn trong so sánh giữa kết quả nghiên cứu này với các nghiên cứu khác về tình trạng sức khoẻ trẻ em Việt Nam, là rất hiếm các nghiên cứu báo cáo đầy đủ các kêt quả nghiên cứu
đi kèm khoảng tin cậy 95%, và không có báo cáo phản ánh chỉ số định lượng cả về dinh dưỡng, ký sinh trùng và các bệnh phổ biến của trẻ em Tuy vậy, với mức suy dinh dưỡng thể gầy còm và còi cọc như nêu trên, có thể nói, trẻ em 6-30 tháng tuổi
ở hai huyện miền núi Dakrong và Hướng Hoá có tình trạng dinh dưỡng kém hơn so với mức trung bình của toàn quốc
Về vấn đề thiếu máu ở trẻ em, tỷ lệ hiện mắc thiếu máu ở nhóm trẻ 6-30 tháng tại hai huyện nằm
ở mức cao theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (trên ngưỡng 40%) Tuy nhiên, so với nghiên cứu do RTCCD thực hiện tại Tam Nông, Phú Thọ6, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em của Hướng Hoá và Dakrong có thấp hơn (44% so với 68% của Tam Nông trước khi can thiệp) Mặc dù vậy, nghiên cứu này đưa thêm một bằng chứng khoa học nữa cùng với nghiên cứu
ở Tam Nông khẳng định thiếu máu ở trẻ em là một vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng trên phạm vi rộng ở Việt Nam, đòi hỏi cần có sự can thiệp nhanh chóng về y tế cộng đồng
Riêng với ký sinh trùng đường ruột, cho đến nay không có nghiên cứu tương tự nào báo cáo về nhiễm giun đũa và giun móc ở độ tuổi này của trẻ Mức độ gặp trong nghiên cứu này như vậy là rất
Chỉ số sức khoẻ đo lường n (%) Khoảng tin cậy 95%
Dinh dưỡng (n=566)
Nhiễm ký sinh trùng đường ruột (n=135**)
Mắc bệnh cấp tính trong hai tuần qua (n=566)
• Nhiễm khuẩn hô hấp cấp (ARI) 363 (64) [60 – 68]
Chỉ số sức khoẻ đo lường (n=340) Nghèo
N (%)
Không nghèo (n=226) N(%)
Tỷ suất chênh
OR & 95%CI Dinh dưỡng (n=566)
• SDD cân nặng/chiều cao 120 (35.3) 58 (25.7) 1.6 [1.1 – 2.3]
• SDD chiều cao theo tuổi 170 (50) 60 (26.6) 2.9 [1.9 – 4.1]
Thiếu máu (n=566) 175 (51.5) 76 (33.6) 2.1 [1.5 – 3.0]
Nhiễm ký sinh trùng sốt rét (n=558) 5 (1.5) 1 (0.5) 3.3 [0.4 –157] Nhiễm ký sinh trùng đường ruột (n=135)
• Giun đũa 36 (31.3) 8 (40.0) 0.7 [0.2 – 2.1]
• Giun móc 24 (20.9) 4 (20.0) 1.1 [0.3 – 4.7] Mắc bệnh cấp tính trong hai tuần qua
(n=566)
• Nhiễm khuẩn hô hấp cấp (ARI) 134 (39.4) 69 (30.5) 1.5 [1.02-2.2]
• Mắc tiêu chảy 150 (44) 50 (22) 2.7 [1.8 – 4.1]
Trang 4Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2006, Số 6 (6) 13
phổ biến Tỷ lệ mắc giun móc cao đến 21% cần
được xem là một yếu tố góp phần tạo nên tỷ lệ cao
về thiếu máu Tẩy giun và cải thiện vệ sinh cá
nhân, vệ sinh gia đình, và môi trường cộng đồng
cần được đưa vào trong chương trình can thiệp tới
đây tại hai huyện này
Nhiễm ký sinh trùng sốt rét hiện tại được xem
là thấp, với tỷ lệ tiêu bản có ký sinh trùng sốt rét ở
mức xấp xỉ 1% Điều này phù hợp với các nghiên
cứu và nhận định của cả các tác giả trong nước và
quốc tế, về thành tích tốt trong phòng chống sốt rét
của Việt Nam trong 10 năm qua
Tình trạng sức khoẻ kém ở nhóm trẻ em có mức
sống thấp hơn, cả về dinh dưỡng, mắc bệnh cấp tính
phổ biến, và thiếu máu nói lên các hoạt động cải
thiện hệ thống y tế phải đi đôi với can thiệp giảm
đói nghèo Nghiên cứu của Văn Mai Dung6về khẩu
phần ăn của 881 phụ nữ có thai của hai huyện này,
ở cùng vào thời điểm năm 2003, cho thấy khẩu phần
ăn thiếu không chỉ về năng lượng và protein, mà cả
các vi chất như sắt, vitamin C Như vậy, phòng
chống suy dinh dưỡng cho trẻ em ở các huyện này
cần xuất phát từ hoạt động nâng mức kinh tế để
khẩu phần ăn tối thiểu đạt đủ về năng lượng, tiếp
đến là chấât lượng bữa ăn đủ protein và vi chất
Thêm vào đó, không thể hạ thấp tỷ lệ thiếu máu ở
trẻ em, nếu vấn đề nhiễm ký sinh trùng còn tồn tại
phổ biến như đã nêu Sự tồn tại phổ biến của nhiễm
ký sinh trùng đường ruột phản ánh vệ sinh môi
trường Điểm lưu ý ở đây là khác với suy dinh
dưỡng, thiếu máu, tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp, kết quả nêu trong bảng 2 cho thấy nhiễm ký sinh trùng không khác biệt theo nhóm mức sống Điều đó có ý nghĩa, việc phòng chống nhiễm ký sinh trùng cho trẻ cần được đề cập ở góc độ vệ sinh hơn là kinh tế Chính từ môi trường sống thuận lợi cho nhiễm ký sinh trùng đường ruột và suy dinh dưỡng cao, thiếu máu chắc chắn xẩy ra ở mức độ phổ biến Vì vậy, công tác phòng chống thiếu máu không chỉ dựa đơn thuần vào chiến lược bồi phụ sắt, mà cần thiết phải can thiệp cải thiện vệ sinh môi trường đi kèm hoạt động giảm nghèo cải thiện chế độ ăn8,9,10
Kết luận
Tóm lại, nghiên cứu cho thấy sức khoẻ thể chất của trẻ em 6-30 tháng tuổi tại hai huyện miền núi Hướng Hóa và Dakrong ở vào mức thấp hơn so với nền chung toàn quốc, phản ánh qua tỉ lệ cao về suy dinh dưỡng thể gầy còm và thể còi cọc; thiếu máu và nhiễm ký sinh trùng (nhiễm giun đũa và giun móc) Chúng tôi đề nghị ưu tiên can thiệp cải thiện sức khoẻ cho trẻ em ở nơi này cần bắt đầu bằng các hoạt động giảm nghèo, tăng khẩu phần ăn và cải thiện chất lượng bữa ăn, tẩy giun, kèm theo cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường chống nhiễm ký sinh trùng, song song với đầu tư nâng cao chất lượng các chương trình y tế quốc gia chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, trong đó có chống thiếu máu thiếu sắt, tiêu chảy, và nhiễm khuẩn hô hấp cấp