1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

kế hoạch đánh giá tình hình sức khỏe và các biện pháp giảm tỉ mắc bệnh bướu cổ tại huyện phụng hiệp, hậu giang năm 2014

13 224 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 53,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT DỰ ÁNTừ năm 2005, Chương trình phòng chống các rối loạn do thiếu I-ốt không còn là chương trình mục tiêu quốc gia nữa, đồng nghĩa Việt Nam đã cơ bản khống chế được bệnh.Nhưng như

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG

***********

Giáo viên hướng dẫn:

Bs

Sinh viên thực hiện: NHÓM

Nguyễn Hữu Ngọc 1153010485 Huỳnh Nhật Thắng 1153010492 Nèang Kim Sen 1153010495 Sơn Thị Thảo 1153010416 Danh Thị Xa Ny 1153010487

BÁO CÁO LẬP KẾ HOẠCH Y TẾ MÔN:TỔ CHỨC QUẢN LÍ Y TẾ:

KẾ HOẠCH ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỨC KHỎE

VÀ CÁC BIỆN PHÁP GIẢM TỈ MẮC BỆNH BƯỚU

CỔ TẠI HUYỆN PHỤNG HIỆP, HẬU GIANG

NĂM 2014

Trang 2

TÓM TẮT DỰ ÁN

Từ năm 2005, Chương trình phòng chống các rối loạn do thiếu I-ốt không còn

là chương trình mục tiêu quốc gia nữa, đồng nghĩa Việt Nam đã cơ bản khống chế được bệnh.Nhưng những năm trở lại đây, tình hình bướu cổ – thiếu hụt i-ốt có nguy

tăng trở lại.Nguyên nhân chính là do cách chương trình y tế về đánh giá và nâng cao nhận thức của người dân về bệnh bướu cổ ngày càng hạn chế.Thêm vào đó một bộ phận người việt không có thói quen dùng muối I-ốt dẫn đến tình trạng bệnh bướu cổ đang có dấu hiệu trở lại, đe dọa sức khỏe của cộng đồng và xã hội Đặc biệt là nhưng nơi trước đây từng là vùng dịch tể của bệnh bướu cổ như đồng bằng SCL

“KẾ HOẠCH ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SỨC KHỎE VÀ CÁC BIỆN PHÁP GIẢM TỈ MẮC BỆNH BƯỚU CỔ TẠI HUYỆN PHỤNG HIỆP, HẬU GIANG NĂM 2014” được đưa

ra nhầm đánh giá thực trạng một số dịch bệnh tại địa phương,đặc biệt là bệnh bướu cổ Cũng như một số biện pháp giảm tỉ lệ bệnh bướu cổ tại địa phương và xa hơn tránh không cho bệnh quay lại cộng đồng

Mục tiêu chính của kế hoạch là giảm tỉ lệ bệnh bướu cổ tại địa phương xuống mức giới hạn như mong muốn

Trang 3

I PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH.

1 Đặc điểm chung của huyện Phụng Hiệp

a Qúa trình hình thành

Trước ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, Phụng Hiệp là một huyện của tỉnh Phong Dinh; Sau ngày giải phóng 30/04/1975 đến năm 1992, huyện Phụng Hiệp thuộc tỉnh Hậu Giang; Từ năm 1992 đến năm 2003, huyện Phụng Hiệp thuộc tỉnh Cần Thơ; Từ năm 2004 đến nay, huyện Phụng Hiệp thuộc tỉnh Hậu Giang (ngày 26/11/2003, Quốc hội có Nghị quyết số 22/2003/ QH11 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh trong đó có việc chia tỉnh Cần Thơ thành 2 đơn vị hành chính là thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang)

Ngày 26 tháng 07 năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2005/NĐ-CP, về việc thành lập thị xã Tân Hiệp, tỉnh Hậu Giang; thành lập phường, xã thuộc thị xã Tân Hiệp (nay đổi tên thành thị xã Ngã Bảy)

Thực hiện Nghị định này, huyện Phụng Hiệp tách ra thành 2 đơn vị hành chính mới là thị xã Ngã Bảy và huyện Phụng Hiệp

Huyện Phụng Hiệp tiến hành xây dựng trụ sở tạm tại thị trấn Cây Dương và

di dời về trụ sở mới vào cuối năm 2010

Trang 4

b Địa lý – Hành chính.

Phụng hiệp là một huyện vùng nông nghiệp của tỉnh Hậu Giang, trung tâm huyện Phụng Hiệp nằm trên tỉnh lộ 927 cách trung tâm tỉnh Hậu Giang 37 Km có diện tích 483,66 Km2, dân số 193.704 người

Huyện Phụng Hiệp nằm ở phía Đông của tỉnh Hậu Giang, địa hình chạy theo sông, kênh, rạch và các đường Quốc lộ chính như; đường tỉnh 927,đường 928, Quốc lộ 61 tiếp giáp với các huyện, tỉnh khác như sau: Phía Bắc giáp huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang; Phía Đông giáp huyện Châu Thành và thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang; Phía Nam giáp huyện Châu Thành

và huyện Mỹ Tú tỉnh Sóc Trăng; Phía Tây giáp huyện Vị Thủy và huyện Long

Mỹ, tỉnh Hậu Giang Huyện chia thành 15 đơn vị hành chính gồm 03 thị trấn: Cây Dương, Kinh Cùng, Búng Tàu và 12 xã: Phụng Hiệp, Long Thạnh, Thạnh Hòa, Tân Bình, Hòa An, Hiệp Hưng, Tân Phước Hưng, Hòa Mỹ, Phương Bình, Phương Phú, Tân Long và Bình Thành

Có vị thế nằm gần với sông Hậu và nhiều kênh trục chạy qua, đồng thời quy

mô đất đai và dân số của huyện lớn là tiềm năng và lợi thế cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp

Trang 5

b Kinh tế

1 VỀ NÔNG NGHIỆP:

Nông nghiệp vẫn là thế mạnh của huyện, những năm qua, ngành nông nghiệp huyện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, trên cơ sở quy hoạch phát triển sản xuất hợp lý, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và sinh thái của từng vùng Năm 2012 toàn huyện gieo trồng được 52.035 ha lúa (3 vụ), sản lượng 295.543 tấn Nhiều vùng chuyên canh lúa, mía, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản, mang lại hiệu quả kinh tế cao đã đóng góp tích cực vào việc nâng cao mức sống người dân, xóa hộ đói, giảm hộ nghèo

Ngoài lúa và cây ăn trái, huyện Phụng Hiệp còn chú trọng phát triển cây mía, là vùng nguyên liệu mía của tỉnh Hậu Giang Niên vụ mía năm 2012, huyện Phụng Hiệp trồng được 9.705 ha, sản lượng 823.836 tấn, giá bán từ 780 – 960 đ/kg; gần trung tâm huyện Phụng Hiệp là Công ty Mía đường - cồn Long Mỹ Phát và nhà máy đường Phụng Hiệp đó là điều kiện thuận lợi để tiêu thụ mía trên địa bàn huyện Bên cạnh thế mạnh cây lúa và cây mía truyền thống, huyện Phụng Hiệp còn tận dụng lợi thế tự nhiên để đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản Phong trào chăn nuôi thủy sản ở huyện Phụng Hiệp nở rộ trong vài năm gần đây Bước đầu chăn nuôi theo hình thức bán công nghiệp, chủ yếu trong ao, vèo, lồng ven các tuyến kênh, rạch Mỗi khi mùa nước về, thay vì sản xuất lúa vụ 3 kém hiệu quả, người dân chuyển sang nuôi cá dưới ruộng

Tuy nhiên, do quy mô các mô hình sản xuất nhỏ, chỉ góp phần cải thiện cuộc sống cho nhiều hộ dân nông thôn, chứ chưa thể khai thác hết tiềm năng, thế mạnh nuôi trồng thủy sản tại địa phương Về thủy sản năm 2012 toàn huyện thả nuôi 3.999,05 ha cá các loại với sản lượng 30.694,5 tấn Dựa vào lợi thế tự nhiên của 2 xã Hiệp Hưng và Tân Phước Hưng có các tuyến kênh lớn như: kênh Quản lộ Phụng Hiệp, Lái Hiếu, Cây Dương , huyện Phụng Hiệp đã quy hoạch thành công vùng nuôi thủy sản có giá trị thương phẩm của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và phục vụ cho xuất khẩu

Trang 6

2 CÔNG NGHIỆP:

Nằm trên địa bàn huyện là các Công ty: Công ty cổ phần Việt Long VDCO sản xuất thức ăn chăn nuôi thủy sản, Công ty TNHH hải sản Việt Hải và một số Hợp tác xã làm ăn có hiệu quả Nhằm phục vụ cho nhu cầu nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện cũng như các huyện khác trong tỉnh và các tỉnh lân cận Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: toàn huyện có 765 cơ sở CN-TTCN với trên 3.529 lao động Về hoạt động sản xuất tổng sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 1.182 tỷ đồng Về thương mại, dịch vụ: tổng giá trị đạt 3.172 tỷ đồng

Trang 7

c Xã hội

1 GIAO THÔNG:

Trong những năm gần đây, huyện Phụng Hiệp đã và đang tập trung đầu tư phát triển mạng lưới giao thông bộ đặt biệt là giao thông nông thôn

Hệ thống giao thông nông thôn đường bộ, về cơ bản, đã hoàn chỉnh Trước đây, phương tiện giao thông nông thôn chủ yếu là ghe, tàu, thì đến nay xe 2 bánh dễ dàng đi lại trong cả hai mùa mưa nắng, trên tất cả các tuyến đường nông thôn; xe ôtô con từ trung tâm huyện đến được tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn

2 DÂN CƯ:

Dân số trung bình của huyện: 193.704 người, dân cư phân bố không đều, tập trung nhiều ở nông thôn (170.496 người), ở thành thị (23.208 người)

3 GIÁO DỤC:

Hiện nay, huyện Phụng Hiệp hiện hơn 1.440 Giáo viên từ bậc tiểu học đến phổ thông trung học và số phòng học là 751 với 27.373 học sinh các cấp Toàn huyện có 55 điểm Trường trong đó: có 39 Trường Tiểu học, 12 Trường trung học cơ sở và 4 Trường phổ thông trung học

4 Y TẾ:

Do kinh tế phát triển nên huyện đã có điều kiện tập trung vốn đầu tư cho trường học, trạm y tế, giao thông, điện, nước sạch, vệ sinh môi trường… làm cho bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới

Trên địa bàn huyện có 01 Bệnh viện đa khoa, 14 trạm y tế xã thị trấn Công tác Y tế, nước sạch, vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được thực hiện khá tốt, thường xuyên tổ chức khám bệnh miễn phí cho bệnh nhân nghèo Công tác dân số, gia đình và trẻ em được các ngành, các cấp quan tâm phối hợp thực hiện Các chỉ tiêu về KHHGĐ hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch

5 VĂN HÓA THÔNG TIN :

Phụng Hiệp có 01 Trung tâm văn hóa, 11 nhà văn hóa với 12 thư viện, phòng đọc sách và 112 nhà thông tin, đáp ứng nhu cầu về văn hóa thông tin cho nhân dân trên địa bàn huyện Phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao được phát động rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân và được duy trì thường xuyên Hệ thống truyền thanh được bố trí đều khắp, 15 xã, thị trấn được phủ sóng phát thanh, chất lượng tin bài và thời lượng phát sóng được nâng lên, phát huy tốt vai trò cơ bản là cầu nối gắn liền giữa Đảng với dân, giữa dân với Đảng

Trang 8

Thuận lợi:

Được sự quan tâm chi đạo của Sở Y tế Hậu Giang, Huyện Ủy, Hội Đông Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân huyện Phụng Hiệp và sự giúp đỡ hỗ trợ của các đơn vị trực thuộc, Sở Y tế và các cấp Ủy đảng, ban, ngành, Mặt Trận Tổ Quốc, các đoàn thể, tạo mọi điều kiện cho ngành y tế huyện Phụng Hiệp từng bước cũng có và đi vào ổn định

Hiệu quả, chất lượng công tác khám chữa bệnh ngày càng được nâng lên

Công tác phòng chống dịch bệnh được củng cố, không để xảy ra dịch lớn

Sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ qua việc xây dựng các quy chế làm việc của Đảng Ủy, Công Đoàn, các đơn vị Y tế huyện

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt năng động, sáng tạo trong công tác quản lý ngành, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân

mà Đảng và Nhà nước giao

Đặc biệt là sự hiểu biết của người dân tự bảo vệ sức khỏe ngày càng được nâng cao, góp phần không nhỏ trong việc thực hiện tốt các chương trình

Y tế Quốc gia

Khó khăn:

Tình hình dịch bệnh có nhiều biến động trong năm 2013 và có xu hướng trở lại của nhiều dịch bệnh

Nhân lực y tế cũng là vấn đề đặt ra, mặc dù đã từng bước củng cố nhưng trước mắt vẫn còn gặp không ít khó khăn,tuy đã đưa Bác sỹ về công tác tại các trạm y tế, phòng khám đa khoa khu vực, nhưng đội ngũ cán bộ làm công tác lãnh đạo, quản lý đa phần còn trẻ, thiếu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chưa được đào tạo sâu

Cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, tiến độ xây dựng, nâng cấp còn chậm so với kế hoạch, trang thiết bị y tế có đầu tư nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu, đặc biệt đối với tuyến xã

Bên cạnh đó chất lượng các loại dịch vụ khám chữa bệnh chậm đổi mới – các trạm Y tế chưa được đầu tư trang tiết bị, các phương tiện cận lâm sàng hổ trợ cho chẩn đoán, cũng như chất lượng khám chữa bệnh, đồng thời luật bảo hiểm y tế có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2010 về việc điều trị, đăng

ký khám chữa bệnh ban đầu là một trong những nguyên nhân làm quá tải các bệnh viện tuyến trên, làm giảm chỉ số khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã, thị trấn, phòng khám đa khoa khu vực, do tâm lý người dân tin tưỡng những nơi khám chữa bệnh có trang thiết bị hiện đại

Trang 9

Việc áp dụng mức giá một số dịch vụ khám chữa bệnh trong các cơ sỡ khám chữa bệnh gặp nhiều khó khăn do mức giá tăng cao nên người dân hạn chế đến các cơ sở khám chữa bệnh, đặc biệt là những người dân nghèo

Một số cán bộ lãnh đạo Trạm còn yếu trong công tác lãnh đạo chỉ đạo

do chưa được tập huấn công tác quản lý, vai trò làm tham mưu cho các cấp Ủy Đảng, cũng như chính quyền trng nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của một số cán bộ chưa kịp thời chính xác

Trang 10

2 Tình hình các vấn đề sức khỏe tồn tại của huyện Phụng Hiệp năm 2013

Tình hình các vấn đề sức khỏe, dịch bệnh tại huyện trong năm 2013 có nhiều diễn biến phức tạp, mặc dù đang có nhiều biện pháp kiềm chế nhưng các dịch bệnh vẫn còn xảy ra khá nhiều, ví dụ:

 Số case mắc bệnh Sốt Xuất Huyết trong năm 2013 là 132 case, giảm

139 case so với cùng kỳ năm 2012 Không có case tử vong

 Các bệnh truyền nhiễm gây dịch: Thủy Đậu có 03 case (giảm 02 case), tiêu chảy và Tay – Chân – Miệng số case mắc còn cao ( tiêu chảy: 121 case, Tay – Chân – Miệng: 139 case )

 Lỵ trực trùng: 04 case ( tăng 04 case )

Đặc biệt trong năm vừa qua tại Huyện ghi nhận về tình hình người dân mắc bệnh bướu cổ – các rồi loạn do thiếu hụt i-ốt ghi nhận:

 Tỉ lệ bệnh bướu cổ khoảng 4% năm 2013

 Tổng số điểm bán muối i-ốt: 166 điểm

 Số lượng muối i-ốt tiêu thụ: 172.925/174.000 Kg đạt 99,38%

 Số lượt phát thanh tuyên truyền: 380 lượt trong năm

 Số mẫu muối được kiểm tra: 426/452 mẫu đạt 94,25% KHN

Trang 11

3 Mô tả vấn đề và lập kế hoạch.

Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới, có khoảng 200-300 triệu người

bị mắc bệnh bướu cổ do thiếu iốt Ở Việt Nam, Bệnh viện nội tiết Trung ương

đã tiến hành khảo sát cho thấy tỷ lệ bướu cổ ở Việt Nam còn khá cao, tỷ lệ trung bình của toàn quốc là 14,9%, nặng nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long với tỷ lệ bướu cổ từ 20%-40% Miền núi sau nhiều năm phòng bệnh, tỷ

lệ bướu cổ đã giảm đáng kể

Theo Tiến sĩ Nguyễn Vinh Quang, Phó giám đốc Bệtừnh viện Nội tiết trung ương cho biết, vào những năm 1993-1998, tỷ lệ người dân mắc bướu cổ ở nước ta rất cao, lên tới gần 23% do đa phần dân số nằm trong vùng thiếu hụt iốt

Khi nghiên cứu nguyên nhân bệnh bướu cổ vùng đồng bằng Cửu Long, Phan Văn Duyệt ( trong văn liệu Phan Văn Duyệt và nnk., 1990 Bệnh bướu

cổ ở Hậu Giang Báo cáo Hội thảo QG PCRLTHI, Hà Nội ) cho biết, tỷ lệ

người mắc bệnh bướu cổ ở ở Hậu Giang là 19,3% năm 1990

Từ năm 2005, Việt Nam đã chính thức thanh toán thành công bệnh bướu cổ Nhưng những năm trở lại đây, tình hình bướu cổ – thiếu hụt i-ốt có

nguy tăng trở lại Trong năm 2008, trên cả nước chỉ còn gần 70% hộ gia đình dùng muối iốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh, giảm hơn 20% so với năm 2005 Số bệnh nhân mắc bướu cổ đang tăng trở lại với tốc độ khá nhanh.Theo báo cáo của BV Nội tiết Trung ương, trong 1, 2 năm trở lại đây, số bệnh nhân bướu cổ vào khám và điều trị tại viện đang có xu hướng tăng và chiếm đến gần 50% tổng số bệnh nhân TS Nguyễn Vinh Quang - Phó Giám đốc BV cho biết, toàn

BV có 180 giường bệnh song đã phải dành riêng đến 2 khoa là Khoa Nội 1, Khoa Nội 2 để điều trị cho bệnh nhân bướu cổ Đấy là chưa kể đến những bệnh nhân bị bướu cổ nằm điều trị tại phòng yêu cầu hoặc ở Khoa Ngoại để chờ mổ

Năm 2013 tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang có tổng cộng 166 điểm bán muối trên địa bàn toàn huyện

Số lượng muối i-ốt tiêu thụ: 172.925/174.000 Kg đạt 99,38%

Số lượt phát thanh tuyên truyền: 380 lượt trong năm

Số mẫu muối được kiểm tra: 426/452 mẫu đạt 94,25% KHN

Trang 12

Nguyên nhân:

 Kể từ sau năm 2005, Việt Nam công bố thanh toán bướu cổ nên

chương trình quốc gia phòng chống bướu cổ và việc sử dụng muối iốt đang bị lãng quên ở nhiều địa phương do chương trình này được

chuyển sang thành hoạt động thường quy của ngành y tế, khiến sự đầu

tư về nhân lực, vật lực của Nhà nước cho hoạt động phòng chống thiếu hụt muối i-ốt bị cắt giảm mạnh

 Các cán bộ làm công tác này chủ quan vì cho rằng đã đạt mục tiêu

 Tỷ lệ sử dụng iốt sụt giảm cũng do nhận thức của người dân về tầm quan trọng của iốt với sức khỏe

 Thói quen sử dụng muối: cứ 10 người được hỏi thì có 4 người nghĩ sử dụng iốt có mùi vị khó chịu, trong khi thực tế thì iốt là lượng vi chất rất nhỏ, không màu, không mùi Bên cạnh đó, hơn 50% trong số họ vẫn có thói quen sử dụng muối thường

 Nhu cầu sử dụng muối của người dân thành phố có nhiều thay đổi, chuyển từ muối iốt sang các loại bột canh hay hạt nêm

 Hậu quả:

- Ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển nòi giống, sức khỏe người dân và sự phát triển của đất nước

- Các rối loạn do thiếu I-ốt:

I-ốt cần thiết để tuyến giáp tổng hợp hormon giáp giúp cho sự tăng

trưởng của cơ thể, sự hình thành và phát triển của não

Bào thai: Thiếu I-ốt gây sảy thai, tăng tử vong chu sinh, khuyết tật bẩm

sinh, đần độn thể thần kinh (thiểu năng trí tuệ, điếc, câm, liệt cứng 2 chi dưới), đần độn thể phù niêm (thiểu năng trí tuệ, lùn)

Sơ sinh: Thiếu I-ốt gây bướu cổ sơ sinh, thiểu năng tuyến giáp.

Trẻ em và thiếu niên: Thiếu I-ốt gây bướu cổ, thiểu năng tuyến giáp,

cơ thể chậm phát triển

Người lớn: Thiếu I-ốt gây bướu cổ và biến chứng, thiểu năng tuyến

giáp, trí tuệ kém phát triển, sức lao động kém

Ngày đăng: 28/08/2017, 23:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w